Mối liên hệ giữa độ chặt với một số tính chất vật lý của lớp đất mặt dưới các trạng thái rừng trồng Thông mã vĩ, Keo tai tượng, Keo lá tràm tại Núi Luốt .... Mối liên hệ giữa độ chặt với
Trang 1-
LÊ KHẢ QUYẾT
NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĐỘ CHẶT VÀ MỘT SỐ TÍNH CHẤT VẬT LÝ CỦA ĐẤT DƯỚI TÁN 3 LOẠI RỪNG: THÔNG MÃ VĨ (PINUS MASSONIANA LAMB), KEO TAI TƯỢNG (ACACIA MANGIUM WILD), KEO LÁ TRÀM (ACACIA AURICULIFORMIS A.CUNN) TẠI NÚI LUỐT, TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP, THỊ TRẤN XUÂN MAI, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI – 2011
Trang 2LÊ KHẢ QUYẾT
NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĐỘ CHẶT VÀ MỘT SỐ TÍNH CHẤT VẬT LÝ CỦA ĐẤT DƯỚI TÁN 3 LOẠI RỪNG: THÔNG MÃ VĨ (PINUS MASSONIANA LAMB), KEO TAI TƯỢNG (ACACIA MANGIUM WILD), KEO LÁ TRÀM (ACACIA AURICULIFORMIS A.CUNN) TẠI NÚI LUỐT, TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP, THỊ TRẤN XUÂN MAI, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: QUẢN LÝ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG
Mã số: 60.62.68
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHÙNG VĂN KHOA
HÀ NỘI – 2011
Trang 3thành đề tài tôi xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp, Khoa sau đại học, các thầy cô giáo, đặc biệt là TS Phùng Văn Khoa, người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn
Mặc dù đã làm việc với tất cả nỗ lực, nhưng vì trình độ và thời gian hạn chế cho nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng quý báu của các thầy cô giáo và bạn
bè đồng nghiệp
Tôi xin cam đoan các số liệu thu thập, kết quả xử lý, tính toán là trung thực và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2011
Tác giả
Lê Khả Quyết
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cám ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt và ký hiệu i
Danh mục các bảng ii
Danh mục các hình iii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về đánh giá phân hạng đất đai trên thế giới 3
1.1.2 Nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc tính của đất và sinh trưởng cây trồng 5
1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 8
1.2.1 Những nghiên cứu về đánh giá phân hạng đất đai 8
1.2.2 Một số mối liên hệ giữa thực vật và đất 10
1.2.3 Một số nghiên cứu về đất dưới các trạng thái rừng trồng 11
1.2.4 Một số nghiên cứu về khu vực Núi Luốt – Đại học Lâm nghiệp 12 1.2.5 Những nghiên cứu về mối liên hệ giữa độ chặt với độ xốp đất 13
Chương 2 MỤC TIÊU , NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 15
2.1.1 Mục tiêu chung 15
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 15
2.2 Phạm vi, giới hạn và đối tượng nghiên cứu của đề tài 15
2.3 Nội dung nghiên cứu 15
2.4 Phương pháp nghiên cứu 16
Trang 52.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 16
2.4.2 Phương pháp điều tra thực nghiệm 16
2.4.3 Nghiên cứu một số tính chất vật lý của đất 18
2.4.4 Phương pháp xử lý nội nghiệp 2120
2.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 22
Chương 3 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 23
3.1 Điều kiện tự nhiên 23
3.1.1 Vị trí địa lý 23
3.1.2 Địa hình 24
3.1.3 Địa chất thổ nhưỡng 24
3.1.4 Khí hậu thuỷ văn 25
3.1.5 Tình hình thực vật 27
3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 27
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Đặc điểm cấu trúc của các trạng thái rừng trồng Thông mã vĩ, Keo tai tượng và Keo lá tràm tại Núi Luốt 29
4.1.1 Mật độ rừng N (cây/ha) 30
4.1.2 Đường kính cây rừng D1.3 (cm) 30
4.1.3 Đường kính tán (Dt) của tầng cây cao 31
4.1.4 Chiều cao vút ngọn (Hvn) của cây rừng 32
4.1.5 Độ tàn che (TC), che phủ (CP), thảm khô (TK) dưới trạng thái rừng 34
4.1.6 Đặc điểm thực vật tầng thấp 35
4.2 Đặc điểm một số tính chất vật lý của lớp đất mặt dưới các trạng thái rừng trồng Thông mã vĩ, Keo tai tượng, Keo lá tràm tại Núi Luốt 36
4.2.1 Tỷ trọng lớp đất mặt dưới các trạng thái rừng 37
4.2.2 Dung trọng lớp đất mặt dưới các trạng thái rừng 38
Trang 64.2.3 Độ xốp lớp đất mặt dưới các trạng thái rừng 39 4.2.4 Độ chặt lớp đất mặt dưới các trạng thái rừng 4141 4.2.5 Đánh giá sự tương đồng và khác biệt của các tính chất vật lý cơ bản lớp đất mặt giữa các trạng thái rừng nghiên cứu 424 3
4.3 Mối liên hệ giữa độ chặt với một số tính chất vật lý của lớp đất mặt dưới các trạng thái rừng trồng Thông mã vĩ, Keo tai tượng, Keo lá tràm tại Núi Luốt 4444
4.3.1 Mối liên hệ giữa độ chặt với một số tính chất vật lý của lớp đất mặt dưới rừng trồng Keo lá tràm 4444 4.3.2 Mối liên hệ giữa độ chặt với một số tính chất vật lý của lớp đất mặt dưới rừng trồng Keo tai tượng 46 4.3.3 Mối liên hệ giữa độ chặt với một số tính chất vật lý của lớp đất mặt dưới rừng trồng Thông mã vĩ 48 4.3.4 Mối liên hệ giữa độ chặt với một số tính chất vật lý của lớp đất mặt dưới các trạng thái rừng trồng tại Núi Luốt trường Đại học Lâm nghiệp 5050 4.3.5 Xây dựng bảng tra các tính chất vật lý của lớp đất mặt theo độ chặt lớp đất mặt dưới các trạng thái rừng nghiên cứu 5252
4.4 Một số đề xuất để góp phần hoàn thiện hướng nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn 5454
KẾT LUẬN , TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 5 566
1 Kết luận 56
2 Tồn tại 57
3 Khuyến nghị 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
Hvn Chiều cao vút ngọn (m) Hdc Chiều cao dưới cành (m) D1.3 Đường kính tại vị trí 1.3m (cm)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Một số chỉ tiêu Khí hậu - Thuỷ văn khu vực Xuân Mai (1996-2007) 26
4.1 Đặc điểm cấu trúc của các trạng thái rừng nghiên cứu 29 4.2 Đặc điểm của lớp cây bụi, thảm tươi dưới các trạng thái rừng 35 4.3 Đánh giá sự đồng nhất các tính chất vật lý lớp đất mặt dưới các
trạng thái rừng nghiên cứu
42
4.4 Liên hệ giữa dung trọng, độ xốp với độ chặt lớp đất mặt dưới rừng
trồng Keo lá tràm
45
4.5 Liên hệ giữa dung trọng, độ xốp với độ chặt lớp đất mặt dưới rừng
trồng Keo tai tượng
47
4.6 Liên hệ giữa dung trọng, độ xốp với độ chặt lớp đất mặt dưới rừng
trồng Thông mã vĩ
49
4.7 Liên hệ giữa dung trọng, độ xốp với độ chặt lớp đất mặt dưới rừng
trồng tại Núi Luốt
5151
4.8 Liên hệ giữa dung trọng, độ xốp với độ chặt lớp đất mặt dưới rừng
tại địa điểm nghiên cứu
5252
4.9 Bảng tra dung trọng, tỷ trọng, độ xốp lớp đất mặt dưới các trạng
thái rừng nghiên cứu theo độ chặt lớp đất mặt
53
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
4.1 Mật độ cây N (cây/ha) của các trạng thái rừng nghiên cứu 30
4.2 Đường kính D1.3 (cm) của các trạng thái rừng nghiên cứu 31 4.3 Đường kính tán Dt (cm) của các trạng thái rừng nghiên cứu 31 4.4 Liên hệ giữa đường kính (D1.3) với đường kính tán (Dt) dưới các
trạng thái rừng nghiên cứu
4.7 Độ tàn che, che phủ, thảm khô của các trạng thái rừng nghiên cứu
tại Núi Luốt
34
4.8 Số loài cây bụi, thảm tươi dưới các trạng thái rừng 35
4.9 Tỷ trọng đất dưới các trạng thái rừng nghiên cứu tại Núi Luốt 37
4.10 Hệ số biến động tỷ trọng lớp đất mặt dưới các trạng thái rừng
nghiên cứu tại Núi Luốt
4.13 Độ xốp đất dưới các trạng thái rừng nghiên cứu tại Núi Luốt 4040
4.14 Hệ số biến động độ xốp lớp đất mặt dưới các trạng thái rừng
nghiên cứu tại Núi Luốt
4040
4.15 Độ chặt đất dưới các trạng thái rừng nghiên cứu tại Núi Luốt 4141
4.16 Hệ số biến động độ chặt lớp đất mặt dưới các trạng thái rừng
nghiên cứu tại Núi Luốt
42
Trang 10TT Tên hình Trang
4.17 Liên hệ giữa dung trọng với độ chặt dưới rừng Keo lá tràm 4444
4.18 Liên hệ giữa tỷ trọng với độ chặt dưới rừng Keo lá tràm 4444
4.19 Liên hệ giữa độ xốp với độ chặt dưới rừng Keo lá tràm 45 4.20 Liên hệ giữa dung trọng với độ chặt dưới rừng Keo tai tượng 46 4.21 Liên hệ giữa tỷ trọng với độ chặt dưới rừng Keo tai tượng 46 4.22 Liên hệ giữa độ xốp với độ chặt dưới rừng Keo tai tượng 47 4.23 Liên hệ giữa dung trọng với độ chặt dưới rừng Thông mã vĩ 48 4.24 Liên hệ giữa tỷ trọng với độ chặt dưới rừng Thông mã vĩ 48 4.25 Liên hệ giữa độ xốp với độ chặt dưới rừng Thông mã vĩ 49 4.26 Liên hệ giữa dung trọng với độ chặt dưới rừng tại Núi Luốt 5050
4.27 Liên hệ giữa tỷ trọng với độ chặt dưới rừng tại Núi Luốt 5050
4.28 Liên hệ giữa độ xốp với độ chặt dưới rừng tại Núi Luốt 5151
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ lâu, mối quan hệ giữa cây rừng và đất luôn là chủ đề quan tâm của các nhà lâm học Trong lâm nghiệp, đất là một trong những nhân tố sinh thái quan trọng quyết định đến sự thành bại của công tác trồng rừng Đất và cây luôn có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít, tính chất của đất ảnh hưởng đến tính chất của cây và ngược lại cây trong quá trình sinh trưởng sẽ làm thay đổi những tính chất của đất Một loại đất có thể thích hợp với nhiều loại cây nhưng không phải là tất cả Một loài cây trồng có thể sinh trưởng, phát triển tốt trên đất này nhưng trồng trên đất khác có thể không đạt hiệu quả như mong muốn Bởi vậy, việc tìm hiểu các tính chất vật lý (dung trọng, tỷ trọng,
độ xốp, tính trương co, tính dính, tính dẻo, tính cản) và hóa học (hàm lượng các nguyên tố trong đất) của từng vùng mang ý nghĩa to lớn nó làm cơ sở cho công tác chỉ đạo sản xuất và chọn loại cây trồng thích hợp, nhất là trong công cuộc phủ xanh đất trống, đồi núi trọc của nước ta hiện nay
Khác với các tính chất hóa học có thể thay đổi khá lớn khi có tác động của con người như bón phân, các tính chất vật lý của đất hầu như không thể thay đổi được dưới tác động của con người Chính vì vậy, có thể xem các tính chất vật lý đất là những tính chất mang tính bản chất của đất Chúng quyết đi ̣nh nhiều đến độ phì nhiêu của đất, khả năng tiếp nhâ ̣n, lưu giữ các chất dinh dưỡng đất, cũng như điều kiê ̣n môi trường cho viê ̣c sử du ̣ng chất dinh dưỡng
củ a cây Các tính chất hóa ho ̣c đất cũng phu ̣ thuô ̣c lớn vào các tính chất vâ ̣t lý,
cơ lý đất Mặc dù các tính chất này ít chịu tác động bên ngoài, tuy nhiên, theo thời gian, chúng vẫn có những thay đổi đáng kể, nhất là khi có các hoạt động canh tác lâu dài của con người
Canh tác hợp lý sẽ giúp đất ngày càng thuần thục, ổn định và nâng cao
độ phì đất, duy trì và tăng cao năng suất, chất lượng các sản phẩm nông lâm
Trang 12nghiệp Ngược lại, canh tác không hợp lý trong thời gian tương đối dài cũng dẫn đến những thay đổi, chủ yếu là theo chiều hướng bất lợi cho sử dụng đất, của các tính chất vật lý đất như hiện tượng đất bị chai cứng Độ cứng của đất thay đổi sẽ ảnh hưởng tới khả năng canh tác của đất Sự khác biệt này sẽ được thể hiện khác nhau đối với mỗi loài cây, mỗi độ tuổi và trong những điều kiện lập địa khác nhau
Đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này nhưng đa phần những nghiên cứu đó mất nhiều thời gian, tốn nhiều công sức, tiền bạc, yêu cầu người thực hiện phải có trình độ cao do vậy việc thực hiện chỉ diễn ra trong quy mô nhỏ
và người thực hiện cũng hạn chế trong khi thực tiễn đòi hỏi xác định nhanh, chính xác tính chất của các loại đất với chi phí không cao, không đòi hỏi nhiều công sức cũng như yêu cầu về người thực hiện không quá khắt khe
Trước thực tế đó, với sự định hướng củ thầy giáo hướng dẫn TS Phùng Văn Khoa tôi đã quyết định lựa chọn và thực hiện luận văn tốt nghiệp
với đề tài: “Nghiên cứu mối liên hệ giữa độ chặt và một số tính chất vật lí của đất dưới tán 3 loại rừng: Thông Mã vĩ (Pinus massoniana Lamb), Keo tai tượng (Acacia mangium Wild), Keo lá tràm (Acacia auriculiformis A.Cunn) tại Núi Luốt, trường Đại học Lâm nghiệp, thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội”
Đây là hướng nghiên cứu mới dựa vào mối liên hệ giữa độ chặt với một số tính chất vật lí của đất từ đó có thể thực hiện thao tác đơn giản với
dụng cụ đo Daiki push - cone tiện dụng chính xác lại không yêu cầu khắt khe
về người sử dụng để xác định được độ chặt của đất từ đó tính ra được các chỉ tiêu vật lí cơ bản của đất Hướng nghiên cứu này không những mang tính khoa học mà còn góp phần xác định nhanh tính chất của đất, tiết kiệm thời gian, công sức đáp ứng yêu cầu thực tế
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Đất là bộ phận quan trọng của hệ sinh thái rừng, là tấm gương phản ánh các hoạt động sống của rừng như trao đổi chất, tích lũy, chuyển hóa năng lượng, sinh trưởng, phát triển, tái sinh rừng Việc nghiên cứu đất rừng luôn được đặt nằm trong mối quan hệ: ảnh hưởng của đất tới quần xã thực vật rừng
và ảnh hưởng ngược lại của quần xã thực vật đối với đất
Đây là lĩnh vực nghiên cứu thu hút được nhiều nhà khoa học Vì vậy, những nghiên cứu này được thực hiện ở gần như tất cả các nước, các vùng có kinh doanh rừng
1.1 Trên thế giới
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về đánh giá phân hạng đất đai trên thế giới
Đánh giá đất đai đóng góp vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xác định độ phì nhiêu của đất và là cơ sở cho việc đề xuất cây trồng cũng như các giải pháp duy trì và bảo vệ độ phì của đất
Đánh giá đất đai như một khoa học đã được hình thành hàng trăm năm, hiện nay tồn tại nhiều quan điểm với nhiều phương pháp đánh giá đất khác nhau
Vào những thập niên 60, ở Liên Xô và các nước Đông Âu việc đánh giá phân hạng đất đai được thực hiện qua ba bước:
1 So sánh các hệ thổ nhưỡng theo tính chất tự nhiên (đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng)
2 Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai
3 Đánh giá kinh tế đất (chủ yếu là đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của đất) Phương pháp này mới chỉ thuần túy quan tâm tới khía cạnh tự nhiên của đất đai mà chưa xem xét đầy đủ khía cạnh kinh tế, xã hội của việc sử dụng đất đai
Trang 14Ở Hoa Kỳ đánh giá phân hạng đất đai được ứng dụng rộng rãi theo hai phương pháp:
1 Phương pháp tổng hợp: lấy năng suất cây trồng trong nhiều năm làm tiêu chuẩn và chú ý đi vào phân hạng đất đai cho từng loại cây trồng chính
2 Phương pháp yếu tố: bằng cách thống kê các yếu tố tự nhiên và kinh tế
để so sánh, lấy lợi nhận tối đa là 100 điểm để làm mốc so sánh với các đất khác
Ở Ấn Độ và các vùng nhiệt đới ẩm châu Phi thường áp dụng phương pháp biến thiên biểu thị mối quan hệ của các yếu tố dưới dạng các phương trình toán học Kết quả phân hạng đất cũng được thể hiện dưới dạng phần trăm hay cho điểm
Thấy rõ vai trò quan trọng của phân hạng đánh giá đất đai làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất, tổ chức Nông - Lương Liên hiệp quốc (FAO) đã tập hợp trí tuệ của các nhà khoa học đất và chuyên gia đầu ngành về nông nghiệp của FAO và Hà Lan để tổng hợp nên kinh nghiệm của nhiều nước xây dựng nên tài liệu “Đề cương đánh giá đất đai“ (FAO - 1976) Tài liệu này được các nước trên thế giới quan tâm, thử nghiệm và vân dụng vào công tác đánh giá đất đai ở nước mình và đều chấp nhận là phương tiện tốt nhất để đánh giá đất Đến năm 1983 đề cương này được bổ sung, chỉnh sửa cùng với hàng loạt các tài liệu hướng dẫn đánh giá đất chi tiết hơn cho các vùng sản xuất khác nhau như:
- Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp nhờ mưa (Land Evaluation for Rainfed Agriculture - FAO, 1983)
- Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp có tưới (Land Evaluation for Irrigated Agriculture - FAO, 1980)
- Đánh giá đất đai cho trồng trọt có quảng canh (Land Evaluation for Extensive grazing - FAO, 1990)
Trang 15- Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất (Land evaluation and farming system analysis for land use planning
- FAO, 1992)
Các phương pháp đánh giá đất của FAO dựa trên cơ sở phân loại đất thích hợp (Land suitability Classification) Cơ sở của phương pháp này là dựa trên sự so sánh giữa yêu cầu sử dụng đất với chất lượng của đất, gắn với phân tích các khía cạnh kinh tế xã hội, môi trường để lựa chọn phương pháp phân tích tối ưu
Các phương pháp đánh giá đất đai đã được FAO đề cập khá đầy đủ và được ứng dụng rộng khắp các quốc gia trên thế giới, đây chính là cơ sở để đưa ra các quyết định cho việc quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, một dạng tài nguyên mà tự nhiên không thể tái tạo được
1.1.2 Nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc tính của đất và sinh trưởng cây trồng
Độ phì của đất đóng vai trò cực kỳ quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và năng suất cây trồng, ngược lại các loài cây khác nhau cũng ảnh hưởng khác nhau tới tính chất của đất
Trên thế giới, nhiều tác giả đã tập trung vào nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc tính của đất và sinh trưởng của cây trồng Nhiều quan điểm cho rằng đối với vùng ôn đới phản ứng của đất (pH), hàm lượng CaCO3 và các chất bazơ khác, thành phần cấp hạt và điện thế oxy hóa khử của đất là những yếu
tố quan trọng nhất Có nghĩa là yếu tố hóa học quan trọng hơn yếu tố vật lý Còn ở vùng nhiệt đới các nghiên cứu lại cho rằng các yếu tố như: khả năng giữ nước, độ dày của tầng đất, độ thông khí của đất là những yếu tố giữa vai trò chủ đạo, hay yếu tố vật lý quan trọng hơn yếu tố hóa học (Chakraborty.R.N và Chakraborty (1989), Ohhta (1993), Marquez.O, Torr.A
và Franco.W (1993))
Trang 16Vấn đề nghiên cứu về vật rơi rụng và sự hình thành thảm mục, mùn cũng đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu Một số nghiên cứu đã cho rằng, nguồn chất hữu cơ chính trong đất rừng là từ các rễ thực vật chết cung cấp, nhất là vùng đồng cỏ thì rõ rệt Như vậy, lượng rơi rụng từ rễ cây cũng rất lớn và không phải lúc nào cũng bổ sung cho phần trên lớp đất mặt Vai trò của hệ thống rễ cây rừng trong việc hình thành chất hữu cơ của đất ít hơn so với lượng rễ cây chết hàng năm của thực vật thân cỏ Nhưng nó vẫn được tồn tại không chỉ bằng lượng rễ cây mà còn bằng sự ảnh hưởng của nhiều mặt của
hệ thống rễ đến đất khi còn sống cũng như khi đã chết
Theo nghiên cứu của viện sỹ Mê-lê-khốp (1982), thì trữ lượng thảm mục cao thường xuất hiện ở các quần xã thực vật rừng vùng phía bắc hoặc trên núi cao ở các khu rừng hỗn giao (nơi có đến 100 tấn/ha và có nơi chỉ đạt
Khi nghiên cứu về đặc điểm phân giải chất hữu cơ ở rừng nhiệt đới, Baur (1960), David/Richas đã khẳng định rất chính xác rằng, chất hữu cơ ở các mô sống của rừng chiếm từ 80 - 90% tổng lượng chất hữu cơ, còn lại 10 - 20% chất hữu cơ tồn tại ở vật rơi rụng và ở trong đất, khi lớp phủ thực vật mất đi, đồng thời với điều kiện nhiệt ẩm cao ở vùng nhiệt đới làm cho vật rơi rụng bị phân giải nhanh chóng thì đất rừng sẽ bị thoái hóa mạnh và không thể phục hồi lại được Vì vậy, có thể nói “Rừng nhiệt đới nuôi đất”
Vấn đề ảnh hưởng của cây mọc nhanh và trồng thuần loài đến đất rừng nhiệt đới đang là chủ đề được nhiều người chú ý Trong những năm gần đây,
Trang 17do nhu cầu cao về gỗ giấy, gỗ củi các loài cây mọc nhanh như Bạch đàn, Lõi thọ, Thông đã được gây trồng trên những diện tích lớn ở các nước nhiệt đới Việc thay thế các rừng rậm nhiệt đới bằng rừng trồng thuần loài, mọc nhanh với chu kỳ khai thác ngắn đã gây ra những lo ngại về sự thoái hóa đất
và giảm năng suất ở các luân kỳ sau Đây là vấn đề lâm học có ý nghĩa lớn trong lâm nghiệp nhưng đến nay còn ít được nghiên cứu
Một số nghiên cứu đã xác nhận rằng, các cây gỗ mọc nhanh tiêu thụ một lượng dinh dưỡng rất lớn ở giai đoạn đầu và giảm dần ở các tuổi già hơn
Vì vậy việc trồng cây mọc nhanh với chu kỳ khai thác ngắn ở nhiệt đới sẽ làm cho đất chóng kiệt quệ hơn so với các loài cây lá nhọn có chu kỳ dài (80 - 100 năm) ở ôn đới (Chijiok (1980), Ghosh (1978), Smith.C.T (1994))
Các nhà khoa học Ấn Độ Chandran.P, Dutt.D.R và Banejee.S.K (1988)
đã nghiên cứu về đặc điểm đất đai dưới ba loại rừng trồng lá kim khác nhau: Cryptomelia Japonica, Pinus, Cupressos Torulosa và rừng lá rộng ở phía đông dãy Hymalaya cho thấy sự tích lũy thảm mục ở rừng lá kim là cao hơn so với rừng lá rộng Đất ở các khu này đều chua và độ chua cao nhất ở tầng đất mặt dưới rừng thông Pinus phtula Rừng Cryptomelia japonica có lượng canxi trao đổi lớn nhất
Nghiên cứu của Reynolds.B, Neals.C và Hornung.M (1988) đã xem xét đất ở hai trạng thái: đất được che phủ bởi trảng cỏ cây bụi và đất được che phủ bởi rừng lá kim ở khu vực đất dốc xứ Wales Nghiên cứu đã xác nhận rằng việc trồng rừng lá kim làm cho nồng độ anion trong đất thay đổi từ 1.5 -
3 lần trong khi nồng độ H+ chỉ biến đổi rất ít
Phần lớn các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, thực sự tồn tại mối quan hệ qua lại giữa thực vật và đất Công trình nghiên cứu của Sain.SH, Rangas wamy.C.R (1988) đã đề cập đến mối quan hệ giữa sinh trưởng của cây rừng
tự nhiên và rừng Phi lao với một số tính chất đất Kết quả nghiên cứu cho thấy
Trang 18tính chất của đất liên quan trực tiếp đến lượng tăng trưởng hàng năm (tăng trưởng về chiều cao và đường kính) Tuy nhiên, mối quan hệ giữa tính chất đất và tăng trưởng chiều cao là chặt chẽ hơn so với tăng trưởng đường kính
Trong những năm gần đây Trung tâm Lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR) đã tiến hành nghiên cứu về quản lý lập địa và sản lượng rừng cho rừng trồng ở các nước nhiệt đới CIFOR đã tiến hành nghiên cứu trên các đối tượng là Bạch đàn, Thông, Keo trồng thuần loài trên các lập địa khác nhau ở các nước Brazil, Nam Phi, Trung Quốc Kết quả nghiên cứu cho thấy các biện pháp xử lý lập địa khác nhau và các loài cây trồng khác nhau đã có ảnh hưởng khác nhau đến độ phì nhiêu của đất, cân bằng nước, sự phân hủy thảm mục và chu trình dinh dưỡng khoáng Tuy nhiên, trong cùng một loại rừng thì các nghiên cứu trên chưa đề cập đến vai trò của cấu trúc rừng đối với tính chất đất
1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1 Những nghiên cứu về đánh giá phân hạng đất đai
Từ những năm 1980 trở lại đây đã có một số công trình nghiên cứu đặt nền móng cho việc nghiên cứu và đánh giá đất
- “Đánh giá phân hạng đất đai khái quát toàn quốc” của Tôn Thất Chiểu và các cộng sự được thực hiện năm 1984 ở tỉ lệ bản đồ 1/500000 Phương pháp đánh giá ở đây là dựa vào nguyên tắc phân loại khả năng đất đai (Land Capabiliti Classification) của bộ nông nghiệp Hoa Kỳ Chỉ tiêu sử dụng
là đặc điểm thổ nhưỡng và địa hình nhằm mục đích sử dụng đất đai tổng hợp, gồm 7 nhóm đất đai được phân lập cho sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp và mục đích khác
- Đỗ Đình Sâm (1990) trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm sinh khí hậu ở Việt Nam, đặc biệt chế độ khô hạn mùa khô cùng mức độ thoát nước để xác định các nhóm lập địa ở Việt Nam Mức độ khô hạn được chia làm 4 cấp: rất
Trang 19khô, khô, ẩm, và ẩm thường xuyên dựa trên chế độ nhiệt ẩm, đai cao so với mặt biển, đặc điểm đất địa hình
- Đánh giá tiềm năng sử dụng đất lâm nghiệp ở từng vùng sinh thái và trong toàn quốc của Đỗ Đình Sâm và các cộng sự là phương pháp ứng dụng phần mềm GIS trên máy tính để xây dựng các bản đồ đánh giá tiềm năng sử dụng đất trong lâm nghiệp Phương pháp này cho phép lợi dụng các thông tin sẵn có và có ý nghĩa mang tính chiến lược và dự báo
- Năm 1996 Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng thuộc Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã tiến hành điều tra khảo sát vùng dự
án Việt Đức (KfW1) tại Bắc Giang và Lạng Sơn và đề xuất phương pháp ứng dụng điều tra lập địa phục vụ trồng rừng Phương pháp này đã được sử dụng
và được đánh giá có hiệu quả tại các dự án trồng rừng quốc tế ở Việt Nam Các yếu tố chủ đạo được xác định là: loại đất và đá mẹ, độ dốc, độ dày tầng đất, thực bì chỉ thị để phân chia lập địa
- Từ năm 1998 - 2000 trong khuôn khổ đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu những vấn đề kỹ thuật lâm sinh nhằm thực hiện có hiệu quả dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và hướng tới đóng cửa rừng tự nhiên” Ngô Đình Quế, Đỗ Đình Sâm và cộng sự đã nghiên cứu xác định tiêu chuẩn phân chia lập địa (vi mô) cho rừng trồng công nghiệp tại một số vùng sinh thái ở Việt Nam Tác giả đã lựa chọn các yếu tố chủ đạo trong mỗi vùng cụ thể Tuy nhiên việc ứng dụng phương pháp điều tra lập địa phụ thuộc vào điều kiện đặc thù của từng vùng, từng loài cây và yêu cầu của dự án
- Phân hạng đất cho các loại rừng trồng chủ yếu và ảnh hưởng của các loại rừng trồng tới các tính chất và độ phì của đất như rừng Bạch đàn (Đỗ Đình Sâm 1968, 1990, Hoàng Xuân Tý, 1975), rừng Thông nhựa (Ngô Đình Quế, 1987), rừng Thông ba lá (Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế, 1983, 1990), rừng tre luồng (Nguyễn Ngọc Bình, Đàm Danh Liêm, 1975 - 1980), rừng Bồ
Trang 20đề (Nguyễn Ngọc Bình 1968, Hoàng Xuân Tý, Nguyễn Đức Minh, 1980), rừng Hồi (Nguyễn Ngọc Bình, 1980)
1.2.2 Một số mối liên hệ giữa thực vật và đất
Trong những thập kỷ gần đây, các công trình khoa học nghiên cứu về mối quan hệ giữa cây và đất được quan tâm Những kết quả nghiên cứu ở các vùng khác nhau với các loài cây khác nhau thường không thống nhất Vấn đề này cũng tương tự như các nước khác trên thế giới
Hoàng Xuân Tý (1973), Nguyễn Ngọc Bình (1981) đã khẳng định,
có sự thoái hóa lý tính và chất hữu cơ ở tầng mặt nếu phá các rừng gỗ tự nhiên để trồng luồng
Đỗ Đình Sâm (1984) khi nghiên cứu về độ phì đất rừng và vấn đề thâm canh rừng trồng và cho rằng nơi đất còn rừng, độ phì đất được duy trì chủ yếu qua con đường sinh học Các trạng thái rừng khác nhau, các biện pháp kỹ thuật tác động khác nhau cho thấy sự biến đổi về hóa tính đất không
rõ nét
Kết quả nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm (1985) đối với đất có độ phì tương đối, thành phần cơ giới nhẹ, độ dốc lớn như ở Qùy Châu thì sau 20 năm chặt trắng, độ phì giảm đi rõ rệt Đối với đất có thành phần cơ giới nặng hơn,
độ dốc lớn, phát triển trên phiến thạch sét ở Hương Sơn, qua một năm chặt cường độ 40% cho thấy độ phì giảm so với đối chứng 15%
Ngô Đình Quế (1991) nghiên cứu về đất rừng Thông ba lá (Pinus keysia) có tuổi từ 5 - 40 ở Lâm Đồng cho thấy mối quan hệ giữa chiều cao trội (Hdom) của Thông ba lá với một số yếu tố sinh thái của các lâm phần có tuổi từ 5 – 30 dưới dạng phương trình mũ :
Hdom = 0.99659 x A0.859 x TB0.3218 x D0.5011
Trong đó:
A: Tuổi của cây
Trang 21D: Độ dày tầng đất
TB: Nhóm thực bì dưới tán rừng thông ba lá
Đề tài tốt nghiệp của Vũ Văn Thuận (2002) cho thấy rằng tương quan giữa sinh trưởng D1.3, Hvn của Chiêu Liêu ở vùng Cầu Hai Phú Thọ với tổng hợp các tính chất của đất là chặt chẽ hơn so với từng tính chất đất riêng lẻ Hai chỉ tiêu sinh trưởng trên có mối quan hệ tổng hợp 4 chỉ tiêu của đất là độ no bazơ, tổng bazơ trao đổi, độ xốp và hàm lượng P2O5 trong đất
1.2.3 Một số nghiên cứu về đất dưới các trạng thái rừng trồng
- Theo nghiên cứu của Hà Quang Khải (1999) cho thấy tính chất đất ở xung quanh rễ vùng gần gốc và xa gốc của rừng trồng Thông mã vĩ và Keo tai tượng thể hiện tương đối rõ, nhất là các tính chất về lý học Mối quan hệ giữa sinh trưởng với tính chất đất là không rõ ràng Tuy nhiên, sự tương quan này tương đối chặt chẽ giữa sinh trưởng của cây với tổng hợp một số chỉ tiêu độ phì đất Mối tương quan giữa D1.3 của cả Thông và Keo với tổng hợp một số tính chất đất chặt chẽ hơn so với mối tương quan giữa Hvn với các tính chất đất
- Lê Đình Khả, Ngô Đình Quế, Nguyễn Đình Hải (2000) nghiên cứu về
“Nốt sần và khả năng cải tạo đất của Keo lai và các loài Keo bố mẹ” cho thấy ảnh hưởng của Keo lai đến độ phí đất là rõ so với Keo lá tràm và Keo tai tượng Đất dưới rừng trồng Keo lai 5 tuổi đã có những biến đổi rõ nét về lý hóa tính và sinh vật đất so với đất dưới rừng Keo lá tràm, rừng Keo tai tượng
và đất trống
- Theo Vũ Tấn Phương độ phì nhiêu của đất dưới tán rừng Keo lai tuổi
2 - 6 có sự cải thiện rõ rệt so với đối chứng, độ phì nhiêu của đất tăng khi tuổi rừng tăng Lý tính của đất (hai yếu tố dung trọng và độ ẩm đất thay đổi theo hướng tích cực khi tuổi rừng tăng và càng rõ nét so với đối chứng đặc biệt ở tầng đất 0 - 20cm) Hóa tính chưa có sự thay đổi rõ nét khi tuổi rừng tăng và giữa nơi có rừng và nơi không có rừng trừ yếu tố mùn và đạm tổng số Tuy
Trang 22nhiên yếu tố mùn tổng số lại cho thấy có sự biến động mạnh hơn so với yếu tố đạm và tỷ lệ thuận với tuổi rừng Yếu tố mùn và đạm tổng số có quan hệ chặt chẽ với nhau
1.2.4 Một số nghiên cứu về khu vực Núi Luốt – Đại học Lâm nghiệp
Khu nghiên cứu thực nghiệm Núi Luốt Trường Đại học Lâm nghiệp có diện tích là 130 ha Trước kia, thảm thực vật nơi đây chủ yếu là Sim, Mua, Cỏ tranh, Cỏ lào và cây bụi nhỏ Từ năm 1985 - 1986 trường Đại học Lâm nghiệp
đã triển khai trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc bằng các loài cây: Thông, Keo tai tượng, Keo lá tràm Bạch đàn,… Đến những năm 1995 - 1996 Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm và phát triển rừng đã sưu tầm các loài cây bản địa ở nhiều nơi trên đất nước ta trồng dưới tán tầng cây cao Hiện nay các loài cây bản địa này đang sinh trưởng tương đối tốt dưới tán rừng
Như vậy, với đặc thù của rừng Núi Luốt, là rừng trồng ở hai giai đoạn khác nhau, giai đoạn đầu là giai đoạn phủ xanh đất trống đồi núi trọc, giai đoạn sau là giai đoạn trồng các loài cây bản địa dưới tán Từ năm 1998 đến nay, rất nhiều đề tài đã triển khai tại khu vực với những nội dung khác nhau
Năm 1998, trong đề tài: “Bước đầu nghiên cứu một số quy luật cấu trúc rừng thực nghiệm Núi Luốt”, các tác giả Phạm Ngọc Giao, Lê Sỹ Việt đã phát hiện ra quy luật câu trúc và tăng trưởng của các loại rừng tại khu vực Núi Luốt Cũng trong năm 1998, Trần Thanh Bình, Hà Quang Khải đã “Nghiên cứu động thái đất khu vực Núi Luốt”
Năm 1999, Hoàng Kim Ngũ đã nghiên cứu ảnh hưởng của chặt nuôi dưỡng đến tiểu hoàn cảnh và sinh trưởng của lâm phần Thông mã vĩ tại Núi Luốt, Trường Đại học Lâm nghiệp, có kết luận: Do ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ
có quan hệ với nhau và quan hệ với độ tàn che, nên ở mỗi độ tàn che sẽ có một chế độ tiểu khí hậu riêng do đó có thể dùng chỉ tiêu độ tàn che để đánh giá, so sánh về sinh trưởng, tăng trưởng của lâm phần
Trang 23Năm 2003, đã có hàng loạt các công trình nghiên cứu về khu vực được công bố, Hà Quang Khải: “Nghiên cứu động thái một số tính chất đất Núi Luốt giai đoạn 1986 – 2003”; Bùi Thị Huế: “Nghiên cứu một số tính chất đất dưới các mô hình chủ yếu khu vực rừng đào tạo và nghiên cứu thực nghiệm Núi Luốt, Trường Đại học Lâm nghiệp”; Đỗ Quang Huy: “Nghiên cứu đánh giá khu hệ động vật, hệ thực vật ở khu rừng thực nghiệm Núi Luốt”; Trần Tuyết Hằng: “Nghiên cứu hiện trạng tài nguyên khí hậu thuỷ văn khu vực rừng đào tạo và nghiên cứu thực nghiệm Núi Luốt”; Nguyễn Thế Nhã: “Đánh giá diễn biến khu hệ côn trùng và nấm ở khu vực Núi Luốt, Đại học Lâm nghiệp” Những nghiên cứu trên đã cung cấp một cách tương đối đầy đủ và toàn diện về điều kiện cơ bản, hiện trạng tài nguyên rừng, đất rừng, khí hậu thuỷ văn, côn trùng rừng… cũng như diễn biến tài nguyên rừng của khu thực nghiệm Núi Luốt
Từ năm 2001 - 2005, Phạm Xuân Hoàn, Phạm Văn Điển cùng các cộng sự đã triển khai đề tài nghiên cứu: “Thực nghiệm tỉa thưa rừng Thông đuôi ngựa và Keo lá tràm kết hợp nuôi dưỡng cây bản địa trồng dưới tán rừng thực nghiệm Núi Luốt, trường Đại học Lâm nghiệp” Những giải pháp của đề tài đã và đang được áp dụng để tác động vào từng mô hình và từng trạng thái rừng khu vực Núi Luốt
1.2.5 Những nghiên cứu về mối liên hệ giữa độ chặt với độ xốp đất
Những nghiên cứu về mối liên hệ giữa độ chặt với độ xốp đất không nhiều Tại trường Đại học Lâm nghiệp có công trình nghiên cứu của PGS.TS Vương Văn Quỳnh về mối lên hệ giữa độ chặt và độ xốp ở tầng đất mặt Trong công trình nghiên cứu của mình, để tính chỉ tiêu về độ xốp tác giả đã tiến hành nghiên cứu thông qua mối liên hệ với độ chặt lớp đất mặt Độ chặt đất mặt được xác định theo phương pháp trọng lực Dụng cụ là một thanh sắt
có đường kính 10mm dài 1m, một đầu được mài nhọn, trên thân thanh sắt có
Trang 24chia vạch, dụng cụ có tên gọi là thước đo độ xuyên thấu Khi đo độ chặt, thanh sắt được nâng cao lên khỏi mặt đất 50 cm rồi thả cho rơi tự do, độ chặt được tính trực tiếp bằng độ dài xuyên ngập vào đất của thanh sắt Để tìm mối liên hệ thầy đã tiến hành lập nhiều ÔTC, mỗi ÔTC có diện tích 100m2, sử dụng thước đo độ xuyên thấu tại 10 điểm trong ô theo phương pháp ngẫu nhiên, lấy giá trị trung bình về độ xuyên thấu của 10 điểm đó làm độ xuyên thấu của ÔTC Thầy đã tìm ra công thức để quy đổi ra độ xốp là:
X = 0.7731 x ST + 1.52
Trong đó:
X: là độ xốp của ÔTC (%)
ST: là độ xuyên thấu của ÔTC (cm)
Phương pháp này đã mở ra một hướng mới trong việc nghiên cứu về độ xốp đất
Qua nghiên cứu tổng quan cho thấy, các nghiên cứu về tính chất đất đã được tiến hành đều tốn nhiều thời gian công sức và tiền bạc, đòi hỏi yêu cầu
kỹ thuật cao, những phân tích phức tạp trong phòng thí nghiệm Còn phương pháp thực hiện đơn giản hơn thì dụng cụ còn thô sơ, chưa gọn nhẹ nên không thật thuận tiện cho công tác điều tra nhanh tại những hiện trường nghiên cứu phức tạp Vì vậy tôi mạnh dạn thử nghiệm áp dụng phương pháp nghiên cứu mới mong góp phần tìm ra hướng giải quyết các vấn đề trên
Trang 25Chương 2 MỤC TIÊU , NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất được một số giải pháp góp phần hoàn thiện hướng nghiên cứu
và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn
2.2 Phạm vi, giới hạn và đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tính chất vật lý của lớp đất mặt dưới các trạng thái rừng trồng Thông mã vĩ, Keo tai tượng, Keo lá tràm tại khu nghiên cứu thực nghiệm Núi Luốt trường Đại học Lâm nghiệp
Trong đề tài sử dụng chỉ số mức độ lún sâu (mm) của thiết bị đo xuống
lớp đất mặt để phản ánh độ chặt của lớp đất mặt trong các phân tích về mối liên hệ giữa độ chặt với các tính chất vật lý: dung trọng, tỷ trọng, độ xốp của lớp đất mặt
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu đề ra, đề tài tiến hành nghiên cứu các nội dung sau:
- Đặc điểm cấu trúc của các trạng thái rừng trồng Thông mã vĩ, Keo tai tượng và Keo lá tràm tại Núi Luốt
Trang 26- Đặc điểm một số tính chất vật lý của lớp đất mặt dưới các trạng thái rừng trồng Thông mã vĩ, Keo tai tượng, Keo lá tràm tại Núi Luốt
- Mối liên hệ giữa độ chặt với một số tính chất vật lý của lớp đất mặt dưới các trạng thái rừng trồng Thông mã vĩ, Keo tai tượng, Keo lá tràm tại Núi Luốt
- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện hướng nghiên cứu và
ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã tham khảo các tài liệu chuyên khảo
về đất, các công trình nghiên cứu đã được công bố, các bài báo, các khóa luận, luận văn thạc sỹ, tiến sỹ tại thư viện của trường Đại học Lâm nghiệp
Một kênh thông tin quan trọng được đề tài khai thác đó là các thông tin được công bố trên mạng Internet dưới dạng các bài báo, tham luận khoa học, tóm tắt kết quả nghiên cứu
Đồng thời đề tài cũng tiến hành tham khảo và tổng quan lại các công trình nghiên cứu đã được thực hiện tại khu rừng thực nghiệm Núi Luốt trường Đại học Lâm nghiệp trong những năm vừa qua
2.4.2 Phương pháp điều tra thực nghiệm
Trong quá trình thu thập thông tin nhóm nghiên cứu đã tiến hành lập 3 OTC điển hình đại diện cho 3 trạng thái rừng trồng Thông mã vĩ, Keo tai tượng, Keo lá tram tại Núi Luốt Kích thước mỗi OTC là 400 m2 (20×20 m), trong mỗi OTC tiến hành điều tra các thông tin sau:
a Điều tra đặc điểm tầng cây cao
Các chỉ tiêu điều tra tầng cây cao trên các ô tiêu chuẩn (OTC) gồm: tên cây, chiều cao vút ngọn (Hvn), chiều cao dưới cành (Hdc), đường kính 1.3 m
Trang 27(D1.3), đường kính tán (Dt) theo 2 hướng Đông Tây (Dt1) và Nam Bắc (Dt2),
độ tàn che (TC)
+ Xác định đường kính 1.3 m (D1.3): Đường kính ngang ngực được xác định bằng phương pháp đo chu vi thân cây tại vị trí 1.3 m bằng thước dây chính xác đến cm, chỉ đo các cây có D1.3 ≥ 6cm (cây có D1.3 < 6 cm được coi là cây tái sinh)
+ Điều tra chiều cao vút ngọn (Hvn), chiều cao dưới cành (Hdc) bằng thước đo cao Vertex
+ Xác định đường kính tán được đo bằng thước dây theo 2 hướng Đông Tây, Nam Bắc
Kết quả thu được ghi vào mẫu biểu 01
Mẫu biểu 01: Phiếu điều tra tầng cây cao trên ô tiêu chuẩn
Ô tiêu chuẩn số: Loại rừng: Ngày điều tra: Người điều tra: Diện tích ÔTC: Độ dốc: Hướng dốc:
Chu vi D Hvn (m) Hdc(m) §T NB TB
Điều tra độ tàn che của tầng cây cao, độ che phủ của cây bụi thảm tươi
và thảm khô theo hệ thống các điểm điều tra Trong mỗi ô tiêu chuẩn lập các tuyến song song cách đều nhau sau đó dùng thước ngắm cứ đi một khoảng 3
m ngắm lên nếu trùng vào tán cây thì lấy giá trị tàn che bằng 1, nếu không vào tán cây thì lấy giá trị là 0, tương tự nhìn xuống dưới nếu chạm cây bụi
Trang 28thảm tươi (thảm khô) thì lấy giá trị độ che phủ (thảm khô) bằng 1, không chạm cây bụi thảm tươi thì lấy bằng 0 Số liệu đo được ghi vào mẫu biểu 02
Mẫu biểu 02: Phiếu điều tra độ tàn che, độ che phủ của tầng cây cao,
thảm tươi cây bụi và thảm khô
Ô tiêu chuẩn số: Loại rừng: Ngày điều tra: Người điều tra: Diện tích ÔTC: Độ dốc: Hướng dốc:
b Điều tra đặc điểm cây bụi, thảm tươi
Các chỉ tiêu điều tra tầng cây bụi, thảm tươi được thu thập trên 5 ô dạng bản (ODB) 4 m2 ở mỗi ô tiêu chuẩn (4 ODB nằm ở 4 góc OTC và 1 ODB nằm chính giữa OTC), gồm: tên cây, chiều cao trung bình (Htb), đường kính tán (Dt), độ che phủ, cấp sinh trưởng từng loài Số liệu điều tra được ghi vào mẫu biểu 03
Mẫu biểu 03: Phiếu điều tra cây bụi, thảm tươi
Ô tiêu chuẩn số: Loại rừng: Ngày điều tra: Người điều tra: Diện tích ÔTC: Độ dốc: Hướng dốc:
ODB TT Loài Htb (m) Dt (m) CP (%) Sinh trưởng
2.4.3 Nghiên cứu một số tính chất vật lý của đất
Dưới mỗi trạng thái rừng Thông mã vĩ, Keo tai trượng, Keo lá tràm tiến hành lập 1 ÔTC có diện tích 400 m2, trong mỗi ô tiêu chuẩn lập 3 ô dạng bản
có diện tích 9 m2 như hình 1 Trong mỗi ô dạng bản tiến hành thu thập 10
Trang 29mẫu như hình 2 Mẫu được lấy bằng ống dung trọng hình trụ bằng sắt có kích thước: cao 5 cm, tiết diện có đường kính 5,05 cm, chu vi 20 cm2, thể tích 100
m3 Như vậy, tại mỗi ô tiêu chuẩn tiến hành lấy 30 mẫu đất ở độ sâu 5 cm để phân tích các chỉ tiêu vật lý lớp đất mặt; các chỉ tiêu được phân tích bao gồm: dung trọng, tỷ trọng, độ xốp, độ chặt Hình ảnh phương pháp lấy mẫu:
+ Mẫu xác định dung trọng, tỷ trọng, độ xốp:
Dùng ống dung trọng (V = 100 cm3) kê lên lớp đất mặt, dùng búa đóng vào đầu đậy nắp sao cho ống thẳng đứng và lún sâu vào đất, tránh nứt nẻ và vỡ; dùng xẻng đào nhấc ống ra, gọt đất cho bằng phẳng ở 2 đầu và gọt sạch đất bám xung quanh thành ống; sau đó dùng xén cậy đất trong ống cho vào túi nilon 2 lớp, ghi số hiệu và được chuyển về phòng phân tích Mẫu được lấy trong 3 ngày trong điều kiện thời tiết khô ráo và cách trận mưa cuối ít nhất 7 ngày
+ Xác định độ chặt của lớp đất mặt:
Các bước lấy mẫu được tiến hành như sau: Dùng thiết bị đo độ chặt
Daiki push-cone đo độ chặt tại điểm cách vị trí lấy mẫu 10 cm về phía tay
phải rồi ghi lại kết quả Khi đọc phải đặt mắt ngang với bảng chỉ số của thiết
bị
Trang 30Hình 2 Thiết bị đo độ chặt Daiki push-cone 5553
Các chỉ số kỹ thuật cơ bản:
- Phạm vi đo: 0 - 49kPa (0 - 40cm)
- Sức mạnh: 7.84N/40mm
- Góc : 250
- Mô-men xoắn khoảng: 3 ~ 23N/m × 40mm
- Chiều dài chân : L225 mm × 40 mm
- Tổng trọng lượng trong khoảng: 370g
- Nơi sản xuất: Nhật Bản
Kết quả được ghi vào mẫu biểu 05:
Mẫu biểu 04: Kết quả đo độ chặt của đất T
T
Trạng
thái
Vị trí
Kí hiệu mẫu
Độ dốc (độ)
Độ chặt (mm)
Ghi chú
Trang 312.4.4 Phương pháp xử lý nội nghiệp
2.4.4.1 Đối với số liệu lâm học
Trong quá trình nghiên cứu đề tài sử dụng các hàm thống kê với sự trợ
giúp của phần mềm Excel, SPSS để phân tích và xử lý số liệu đặc điểm lâm
học của các trạng thái rừng nghiên cứu, phân tích mối liên hệ giữa các đại
lượng điều tra
2.4.4.2 Đối với số liệu thổ nhưỡng
a Xử lý đất
Để xác định tỷ trọng, mẫu đất lấy về phải được hong khô kịp thời, băm
nhỏ (cỡ 1 - 1,5 cm) rồi nhặt hết xác thực vật, côn trùng, sỏi đá, kết von sau
đó dàn mỏng trên giấy sạch và phơi khô trong râm Đất sau khi đã hong khô
được giã trong cối và rây qua rây đường kính 1 mm khi nào đến đá hoặc kết
von thì dừng, bỏ phần kết von và đá, trộn đều cho vào túi nilon có ghi nhãn
b Phân tích đất
Các tính chất vật lý đất được phân tích tại Trung tâm thí nghiệm thực hành
Khoa Quản lý Tài nguyên rừng và Môi trường
Xác định độ ẩm của đất (sức hút ẩm) bằng phương pháp cân sấy ở 1090C
Công thức tính:
Trong đó: W% là độ ẩm tương đối (%)
M1 là trọng lượng của đất tươi (gam)
M2 là trọng lượng của đất khô kiệt (gam)
M2-M1W%
Trang 32Xác định tỷ trọng (d) bằng phương pháp picnômet (bình tỷ trọng)
Công thức tính:
2 1 2
2 2
P P M
M Pn
M d
Pn là khối lượng của thể tích nước bị đất chiếm chỗ trong bình (g)
P1 là khối lượng của bình và nước (g)
P2 là khối lượng bình chứa nước và đất (g)
M2 là khối lượng đất khô kiệt (g)
Độ xốp: Được xác định thông qua dung trọng và tỷ trọng của đất
Công thức tính: % * 100
d
D d
Các số liệu phục vụ nghiên cứu, sau khi đã được thu thập hoàn thiện sẽ
được phân tích, xử lý và tổng hợp thông qua các hàm thống kê toán học trong
Excell và SPSS
Đề tài vận dụng các nguyên lý và kỹ thuật trong thống kê toán học để
mô hình hóa các mối liên hệ giữa độ chặt với các tính chất vật lý đất quan
tâm: dung trọng, tỷ trọng, độ xốp từ đó làm căn cứ để phát hiện các dạng
phương trình liên hệ giữa các đại lượng nghiên cứu Với sự hỗ trợ của phần
mềm Excell và SPSS, đề tài tiến hành phần tích phương sai để kiểm tra sự tồn
tại của các mối liên hệ và xây dựng các phương trình tương quan để mô
phỏng các mối liên hệ đó Sự tồn tại của các phương trình trương quan trong
thực tế được kiểm tra thông qua tiêu chuẩn t của student
Trang 33Chương 3 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Núi Luốt, trường Đại học Lâm nghiệp thuộc thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, cách Hà Đông 22km về phía Đông Nam, cách thị xã Hoà Bình 40km về phía Tây Bắc
Toạ độ địa lý: 20050’30’’ vĩ độ Bắc; 105030’45’’ kinh độ Đông
Phía Tây và Tây Bắc giáp xã Hoà Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình
Phía Nam giáp thị trấn Xuân Mai và quốc lộ 6
Phía Đông giáp quốc lộ 21A
Phía Bắc giáp đội 6 nông trường chè Cửu Long
Hình 3.1 Hiện trạng rừng khu vực Núi Luốt trường Đại học Lâm nghiệp
Trang 343.1.2 Địa hình
Khu thực nghiệm Núi Luốt nằm trên khu vực chuyển tiếp giữa một bên
là đồng bằng ở phía Đông và một bên là đồi núi ở phía Tây, nên có địa hình tương đối đơn giản và đồng nhất Gồm hai quả đồi nối tiếp nhau tạo thành một dải dài Đỉnh cao nhất có độ cao tuyệt đối (so với mặt nước biển) là 133
m và đỉnh cao thứ hai có độ cao tuyệt đối là 90 m Độ dốc trung bình của khu vực nghiên cứu là 150
và sườn đỉnh của đỉnh 133m, rất ít gặp ở đỉnh 90m
Nhìn chung đất ở khu vực nghiên cứu tương đối thuần nhất bởi được phát triển trên cùng một loại đá mẹ, cùng điều kiện, hoàn cảnh Cũng theo kết quả nghiên cứu của bộ môn Đất trường Đại học Lâm nghiệp, đất Núi Luốt là đất Feralit nâu vàng phát triển trên đá mẹ Poocfiarit Đất có màu sắc từ vàng nâu tới nâu vàng, tầng đất từ trung bình đến dày, diện tích đất có tầng đất mỏng rất ít, những nơi tầng đất dày tập trung chủ yếu ở chân hai quả đồi, sườn Đông Nam quả đồi thấp (90m so với mặt nước biển) và sườn Tây Nam quả đồi cao (133m so với mặt nước biển), tầng đất mỏng tập trung ở đỉnh đồi, sườn phía Đông Bắc quả đồi thấp và sườn Tây Bắc quả đồi cao
Đất trong khu vực khá chặt, đặc biệt là những lớp đất mặt ở khu vực chân đồi và những lớp đất sâu ở khu vực đỉnh yên ngựa Kết von thật và giả
Trang 35được tìm thấy ở khắp nơi trong khu vực, có những nơi kết von thật chiếm tới
60 - 70% trọng lượng đất Điều này chứng tỏ sự tích luỹ sắt khá phổ biến và trầm trọng trong đất, ở một số nơi đá ong được phát hiện với mức độ nhiều hoặc ít Đá ong tập trung chủ yếu ở chân đồi phía Tây Nam, Đông Nam đồi cao Hàm lượng mùn trong đất nhìn chung thấp, điều đó chứng tỏ quá trình tích lũy mùn kém
Những đặc điểm trên phần nào nói lên mức độ Feralít khá mạnh trong khu vực Núi Luốt
Trong những năm trước đây, quá trình xói mòn và rửa trôi khá nghiêm trọng Điều đó được thể hiện qua kết cấu phẫu diện đất: Tầng A thường mỏng có
tỷ lệ sét cao nên khi mưa rất dính Tầng B nằm trong khoảng từ 10 - 110 cm có
tỷ lệ sét 25 -26% Tầng C thường dày và một số đá lẫn đã bị phong hoá tạo ra tầng BC xen kẽ Đất có hàm lượng chất dinh dưỡng cao, hàm lượng mùn từ 2 - 4%, độ ẩm của đất từ 6-9% Tỷ lệ đá lẫn trong đất ở mức độ trung bình
3.1.4 Khí hậu thuỷ văn
Theo kết quả nghiên cứu của trạm thuỷ văn Đại học Lâm nghiệp từ năm 1996 đến năm 2007 (Bảng 3.1) cho thấy, khu vực Xuân Mai thuộc tiểu vùng khí hậu 3 của miền Bắc Việt Nam, hàng năm có hai mùa rõ rệt
- Mùa mưa bắt đầu từ giữa tháng 4 đến tháng 10
- Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Trong thời gian này lượng mưa nhỏ hơn lượng bốc hơi
* Chế độ nhiệt:
- Nhiệt độ trung bình năm là 23,90C
- Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất (tháng 6): 28,50C
- Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất (tháng 1):15,70C