1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá nội bộ rừng trồng tiểu điền tại các tỉnh miền trung, tiến tới cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn FSC

92 100 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích đánh giá việc thiết lập và quản lý rừng trồng tiểu điền trồng rừng sản xuất với quy mô nhỏ của dự án sau 6 năm thực hiện theo phương pháp thâm canh, năng suất cao, nâng cao khả

Trang 1

VŨ XUÂN THÔN

ĐÁNH GIÁ NỘI BỘ RỪNG TRÔNG TIỂU ĐIỀN

TẠI CÁC TỈNH MIỀN TRUNG, TIẾN TỚI CẤP CHỨNG CHỈ

RỪNG THEO TIÊU CHUẨN FSC

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Hà Nội, 2011

Trang 2

Mã số: 60.31.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS LÊ MINH CHÍNH

Hà Nội, 2011

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngành lâm nghiệp có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của xã hội đối với rừng và vai trò của xã hội đối với rừng thông qua chức năng quản lý, gìn giữ và phát triển rừng Đặc biệt, nước ta với ¾ diện tích là đồi núi thì rừng càng có vai trò quan trọng trong đời sống của người dân Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân và gắn liền với đời sống của nhân dân

Việc xây dựng và quản lý rừng bền vững càng cần được quan tâm trong bối cảnh hiện nay, khi ngành xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam ngày càng tăng trưởng và đã đạt được những thành tựu nhất định Trong khi xuất khẩu sản phẩm gỗ tăng trưởng nhanh thì đến 80% lượng nguyên liệu phải nhập khẩu, đây là một bất cập đối ngành xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam Cùng với đó, người tiêu dùng trên thế giới ngày càng quan tâm đến các mặt hàng đồ

gỗ được cấp chứng chỉ rừng (FSC: Forest Stewardship Council), thậm chí hội người tiêu dùng tại Anh, Hà Lan còn có xu hướng tẩy chay sử dụng các loại hàng không có nguồn gốc xuất xứ Nhu cầu đối với gỗ nhiệt đới đã được cấp chứng chỉ ở thị trường châu Âu và Mỹ đã vượt quá cung Hiện có hơn 8.000 sản phẩm trên khắp thế giới có mang Bảng trưng của chứng chỉ rừng FSC Theo kết quả thống kê nhu cầu sử dụng hàng có chứng chỉ rừng đã gia tăng với tỉ lệ 2-3% mỗi năm ở Anh Ở Hà Lan có 500 công ty cùng với nhà nhập khẩu gỗ nhiệt đới lớn nhất ở châu Âu và lớn thứ 2 trên toàn thế giới, hiện đã cam kết chỉ mua sản phẩm đã có FSC Các mạng lưới bán lẻ rất lớn từ Anh và

Mỹ cũng hoạt động với vai trò xúc tác cho những thay đổi bởi họ đang gia tăng yêu cầu cung cấp gỗ đã được chứng chỉ Do đó, việc nhanh chóng xây dựng hệ thống rừng có chứng chỉ FSC là vô cùng cấp thiết

Trang 4

Chứng chỉ rừng (Forest Certification) chính là sự xác nhận bằng văn bản - giấy chứng chỉ rằng một đơn vị quản lý rừng được cấp chứng chỉ đã được sản xuất trên cơ sở rừng được tái tạo lâu dài, không ảnh hưởng đến các chức năng sinh thái của rừng và môi trường xung quanh và không làm suy giảm tính đa dạng sinh học

Dự án Phát triển Ngành Lâm nghiệp là dự án sử dụng vốn vay của Ngân hàng thế giới (WB) cho Hợp phần Trồng rừng sản xuất và vốn viện trợ không hoàn lại của Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) cho Hợp phần Quỹ Bảo tồn Việt Nam và vốn hỗ trợ kỹ thuật không hoàn lại của Chính phủ Hà Lan, Chính phủ Phần Lan, vốn đối ứng trong nước (từ ngân sách Trung ương, đóng góp của các địa phương và người dân địa phương,.v.v.)

Phân tích đánh giá việc thiết lập và quản lý rừng trồng tiểu điền (trồng rừng sản xuất với quy mô nhỏ) của dự án sau 6 năm thực hiện theo phương pháp thâm canh, năng suất cao, nâng cao khả năng đóng góp của ngành Lâm nghiệp cho công cuộc xoá đói, giảm nghèo và bảo vệ môi trường sinh thái để tiến tới cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn FSC là cần thiết Do đó, tác giả đã

chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá nội bộ rừng trồng tiểu điền tại các tỉnh

Miền Trung, tiến tới cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn FSC”

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU

1.1 Đánh giá dự án

Đánh giá là một công việc thường xuyên diễn ra trong các hoạt động của dự án, đó là khâu then chốt trong một chu trình dự án nhằm đưa ra những nhận xét theo định kỳ về kết quả thực hiện các hoạt động của dự án trên cơ sở

so sánh một số chỉ tiêu đã lập trước hay nói cách khác, đánh giá là quá trình xem xét một cách có hệ thống và khách quan nhằm cố gắng xác định tính phù hợp, tính hiệu quả và tác động của các hoạt động ứng với mục tiêu đã vạch ra [14], [16], [24]

Quá trình đánh giá dự án được chia làm 3 giai đoạn chủ yếu:

- Đánh giá sơ bộ (đánh giá ban đầu): Đây là giai đoạn đánh giá nhằm

kiểm tra dự án trước khi dự án được thực thi Đánh giá sơ bộ thường do chủ

dự án tiến hành trước khi thực hiện Việc đánh giá sơ bộ phải bao gồm toàn

bộ những yếu tố chủ yếu của dự án, nhằm tìm xem dự án có đủ hấp dẫn để đầu tư hay không

- Đánh giá tạm thời (đánh giá giữa kỳ): Nhằm kiểm tra dự án trong

quá trình thực thi dự án, thường sau một khoảng thời gian nhất định thì tổ chức đánh giá dự án nhằm kiểm tra dự án có thực hiện đúng kế hoạch xây dựng hay không

- Đánh giá cuối cùng (đánh giá hoàn thành): Giai đoạn đánh giá cuối

cùng nhằm kiểm tra dự án sau khi đã được thực thi và kết thúc Được tiến hành sau khi dự án đã hoàn thành để đưa ra những thông tin về kế hoạch đã được

thực hiện, xác định những thành quả và bài học để cho các dự án tương lai

Mục đích của việc đánh giá dự án là để đúc rút các bài học kinh nghiệm

Trang 6

về giá trị và hiệu quả, tính phù hợp của các hoạt động nhằm triển khai các hoạt động tương tự trong tương lai

Đánh giá để so sánh những gì đã xảy ra với những điều đã được dự kiến từ trước Kết quả đánh giá được dùng để xem xét lại các chủ trương, phương hướng phát triển từ đó có thể thay đổi điều chỉnh lại các mục tiêu và cải thiện việc thực thi dự án

Việc đánh giá không phải là để tìm kiếm các khuyết điểm của các nhà quản lý mà để cải thiện các công việc của họ sắp làm Thông qua việc đánh giá nhằm giúp cho các nhà quản lý dự án nhìn nhận xem xét bằng cách nào để

có thể thu được kết quả tốt hơn hoặc xem xét lại trách nhiệm của họ trong việc quản lý dự án

Đánh giá dự án là nhằm mục đích thực hiện tốt hơn các công việc và đề phòng sự cố bất trắc có thể xảy ra chứ không phải đề ra các hoạt động cứng nhắc Qua đánh giá dự án đưa ra những thông tin ý kiến để cải tiến quá trình quản lý dự án đang thực thi

Đề xuất các giải pháp về hành động thực thi, cơ cấu và sự thích hợp cho các dự án đang thực thi không có hiệu quả Đánh giá giúp cho các nhà quản lý nâng cao được trách nhiệm từ đó giúp cho công tác quản lý dự án có hiệu quả hơn Thông qua đánh giá sẽ xác định và áp dụng các hoạt động cần thiết cho dự án, đưa ra các tính toán, hạch toán tài chính hiện tại của dự án Đánh giá để đưa ra được những thông tin để cải tiến kế hoạch của dự án trong

tương lai và phát triển các chính sách [16]

1.1.1 Trên thế giới

Các lý thuyết và hướng dẫn về đánh giá Dự án được đề cập chi tiết trong các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới [8]

Trang 7

Trước những năm 1990, thuật ngữ “đánh giá dự án” mới chỉ giới hạn ở đánh giá hiệu quả bao gồm hiệu lực thực thi (efficiency) và hiệu quả (effectiveness) Đến những năm 90 thì các hoạt động đánh giá bao gồm cả đánh giá tác động (impact assessment), tức là xem xét xem các hoạt động của

dự án đó có bền vững sau khi dự án kết thúc không (John et al, 2000) Việc đánh giá tác động được coi như bắt buộc đối với tất cả các hoạt động đánh giá hiện nay [14]

Năm 1980 Cục Nông nghiệp Mỹ công bố phần mềm có tên là EVALUE Đây là phần mềm cho phép người sử dụng đánh giá được hiệu quả đầu tư cho các dự án rừng trồng (Peter J.Ince và cộng sự, 1980) Tuy nhiên, chương trình máy tính này chỉ dừng lại ở mức đánh giá hiệu quả tài chính thông qua các chỉ tiêu NPV, IRR, Báo cáo đánh giá của Winconsin Woodland, Micheal Luedeke và Jeff Martin (1996) cũng có kết luận tương tự Theo các tác giả, hoạt động đánh giá tài chính đơn thuần chỉ nên sử dụng cho các công ty kinh doanh mà lợi nhuận kinh tế là yếu tố hàng đầu, còn đối với các dự án đầu tư mang nhiều yếu tố xã hội thì nên cân nhắc việc đánh giá hiệu quả cả xã hội và môi trường [13], [15], [18]

Các tác giả trên thế giới như Jim Woodhill, Lisa Robins, Joachim Theis, Heather M Grady đã chia đánh giá dự án thành hai loại là đánh giá mục tiêu và đánh giá tiến trình Đánh giá mục tiêu là xem xét khả năng đạt được mục tiêu đặt ra của dự án, vì vậy nó tập trung vào việc phân tích các chỉ

số đo đạc về hiệu quả thu được Đánh giá tiến trình là mở rộng diện đánh giá hơn so với đánh giá mục tiêu, sử dụng tri thức và hiểu biết của nhiều người để xem xét nhiều khía cạnh của dự án [32], [36]

FAO (1990, 1997) nhấn mạnh việc đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường khi đưa ra các báo cáo tham luận về lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp

Trang 8

cộng đồng Cũng theo tổ chức này, một dự án lâm nghiệp dù có đạt được hiệu quả tài chính cao (NPV, IRR, BCR,…) nhưng chưa đạt được hiệu quả xã hội

là (giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, nâng cao trình độ dân trí,…), và hiệu quả môi trường (không gây ô nhiễm môi trường, xói mòn đất,…) thì không được coi là một dự án bền vững [15], [23]

Việc ký kết Nghị định thư Kyoto cũng như việc thành lập Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) càng đề cao vai trò của việc đánh giá hiệu quả xã hội

và hiệu quả môi trường Theo khuyến nghị của nhiều chuyên gia thì cần phải

có hoạt động đánh giá môi trường riêng rẽ bao gồm tất cả các chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực của các dự án đến môi trường như mức

độ xói mòn đất, khả năng ngăn ngừa thiên tai, độ che phủ rừng, sự hấp thụ và phát thải CO2…[1], [16], [20], [22], [24]

Tổ chức nghiên cứu cao cấp về phát triển quốc tế Nhật Bản (2003) đã

đề xuất việc đánh giá tác động không chỉ tập trung so sánh kết quả đầu ra với đầu vào của dự án mà còn phải xem xét những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực, hiện tại và tương lai, thậm chí là những ảnh hưởng gián tiếp phát sinh từ những ảnh hưởng trực tiếp Vì vậy trong quá trình đánh giá dự án, việc thiết

kế phương pháp và câu hỏi nên chia thành 2 nhóm vấn đề chính: Các vấn đề đan xen (chính sách, kỹ thuật, môi trường, văn hóa - xã hội, thể chế - quản lý

và kinh tế - tài chính) và phân loại tác động thành 4 nhóm: tích cực tiêu cực

và mong đợi/không mong đợi

Theo FAO (1987), hướng dẫn đánh giá kinh tế các dự án quản lý lưu vực thì đánh giá về mặt kinh tế thường được dùng để phân tích các lợi ích và chi phí của xã hội, nên các lợi ích và chi phí đó phải được tính cho suốt thời gian mà chúng còn có tác dụng, nhất là đối với dự án trồng rừng, phải sau khoảng thời gian dài thì chúng mới cho sản phẩm, đồng thời lại có những tác

Trang 9

động về mặt môi trường có thể còn có tác dụng trong một thời gian dài sau khi kết thúc dự án Vậy cần vận dụng khoảng thời gian nào để đánh giá thì thích hợp là câu hỏi đang được đặt ra

Đứng về phương diện các phương thức canh tác, hay sử dụng các phương án sử dụng đất khác nhau, Walfredo đã cho rằng: Phương thức canh tác sẽ có những tác động tới kinh tế, sinh thái và xã hội từ đó sẽ có ảnh hưởng lần lượt tới tăng trưởng kinh tế, cân bằng sinh thái và phát triển xã hội Tất cả các mối quan hệ ảnh hưởng này sẽ tác động toàn diện về kinh tế - xã hội - bảo

vệ môi trường sinh thái

Theo Lyn Squire trong tài liệu “Phân tích kinh tế dự án” đã chỉ ra rằng, trong trường hợp các chi phí hoặc lợi ích môi trường kéo dài trong tương lai thì các lợi ích và chi phí đó phải được đưa vào phân tích Không phải là dự án

đã kết thúc về mặt hành chính mà chúng ta bỏ qua các lợi ích và chi phí về môi trường Tuy nhiên trên thực tế, vấn đề tỷ suất chiết khấu và lý do muốn giản đơn việc tính toán đã làm cho nhiều người chọn thời hạn phân tích và đánh giá ngắn hơn nhiều Đối với các dự án quản lý rừng đầu nguồn hoặc trồng rừng thì thời hạn đánh giá phải đủ lớn (chừng khoảng 15-20 năm) để thấy đầy đủ và rõ ràng các lợi ích và chi phí kinh tế [34]

1.1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, hiệu quả dự án được nhắc đến nhiều từ thập kỷ 80 Việc tiếp cận muộn hơn so với nhiều nước trên thế giới đã tạo ra những cơ hội tốt trong việc tiếp cận phương pháp mới trong đánh giá Đặc biệt, trong các dự án lâm nghiệp thì hiệu quả đầu tư không chỉ được đánh giá qua các chỉ tiêu kinh

tế mà hiệu quả về mặt xã hội và môi trường cũng được quan tâm Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi sang kinh tế thị trường, các nghiên cứu trong thời gian qua đang tập trung chủ yếu vào đánh giá hiệu quả kinh tế dự

Trang 10

án trồng rừng để giúp cho việc lựa chọn phương án đầu tư có hiệu quả nhất về mặt tài chính

Những nghiên cứu về rừng phòng hộ của nhiều tác giả gần đây như Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn (TS Phạm Văn Điển, TS Nguyễn Thế Đồi

và PGS.TS Phạm Xuân Hoàn) - 2009, đã chỉ ra những vấn đề về phát triển rừng phòng hộ nhưng dưới nghiên cứu nhìn từ góc độ quản lý kỹ thuật

Nghiên cứu về rừng phòng hộ đầu nguồn và rừng phòng hộ ven biển do tập thể nhiều tác giả đã biên soạn và chỉnh lý đánh giá chủ yếu là hướng dẫn

tổ chức quản lý về rừng và rừng phòng hộ ở Việt Nam (Cẩm nang ngành Lâm

nghiệp - 2006) [7]

Theo Vũ Nhâm có 10 bước công việc tiến hành trước khi đánh giá dự

án và một số công trình nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế cho các dự

án trồng rừng gỗ nguyên liệu được tiến hành vào thập kỷ 90 như: Per H Stahl

và Heine Krekula (1990) với công trình “Đánh giá hiệu quả kinh tế cho hoạt động kinh doanh rừng trồng Bạch đàn tại vùng nguyên liệu giấy Phú Thọ” Các chỉ tiêu NPV, IRR được dùng chủ yếu để đánh giá hiệu quả kinh tế Một

số chỉ tiêu về hiệu quả xã hội và môi trường cũng đã được nhắc đến nhưng nhìn chung còn rất hạn chế và chưa rõ ràng, đặc biệt những ảnh hưởng của cây Bạch đàn đến môi trường đất, nước chưa được chú ý đến [19]

Một chương trình máy tính đã được Heine Krekula xây dựng nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế cho một số loài cây trồng rừng chủ yếu trên một số vùng sinh thái như: Bạch đàn ở Măng Yang (Gia Lai), Mỡ ở Vĩnh Phúc và Phú Thọ, Bồ đề ở Tuyên Quang Kết quả nghiên cứu này là cơ sở quan trọng cho việc lựa chọn các loài cây trồng rừng cung cấp gỗ nguyên liệu giấy của các tỉnh vùng Đông Bắc Bộ nhưng chưa đề cấp đến cơ chế đầu tư và cơ chế quản lý cụ thể từng loại rừng này

Trang 11

Andrew ewing, Henning Hamiton và Lars Heikensten với công trình nghiên cứu “Phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội của công trình nhà máy giấy Bãi Bằng” Các tác giả đã thông qua việc phân tích chi phí và lợi nhuận để đánh giá hiệu quả đầu tư của nhà máy trong thời gian hoạt động nhằm xem xét mức độ phù hợp với điều kiện Việt Nam trong thời điểm hiện tại Tuy nhiên vào thời điểm đó, nền kinh tế của Việt Nam đang trong thời kỳ bao cấp, mọi hoạt động sản xuất đều thực hiện theo kế hoạch, do đó những tác động của nhà máy đến môi trường xung quanh chưa được đề cập

Sau thập kỷ 90, vấn đề hiệu quả xã hội và môi trường đã được nhiều tác giả quan tâm trong nghiên cứu đánh giá hiệu quả của dự án Các nghiên cứu tập trung xác định rõ nguyên nhân của sự thay đổi về mặt kinh tế, xã hội và môi trường ở thời điểm trước và sau khi dự án được triển khai Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc ứng dụng các phương pháp và xây dựng lý thuyết đánh giá Nổi bật trong số các công trình nghiên cứu đó là:

Lê Thạc Cán (1994) với công trình nghiên cứu “Đánh giá tác động môi trường - phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn” Kết quả nghiên cứu đã tạo ra một hướng mới và một tiền đề về phương pháp luận, cơ sở khoa học định hướng cho việc nghiên cứu về môi trường trong giai đoạn tiếp theo [8]

Trần Hữu Dào (1995) đã đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình trồng Quế thâm canh, thuần loài, quy mô hộ gia đình tại huyện Văn Yên - Yên Bái Tuy nhiên, việc nghiên cứu về cơ chế đầu tư và quản lý chưa làm sáng tỏ và các chỉ tiêu xã hội và môi trường những năm đó còn để ngỏ cần nghiên cứu tiếp [9]

Đoàn Hoài Nam (1996) với công trình “Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế, sinh thái của một số mô hình rừng trồng tại Yên Hưng - Hàm Yên - Tuyên Quang” đã đề cập đến hiệu quả tổng hợp về mặt kinh tế, sinh thái, tuy nhiên hiệu quả xã hội vẫn chưa được đánh giá [17]

Trang 12

Đỗ Doãn Triệu (1997) đã đề cập đến phương pháp phân tích hiệu quả đầu tư các dự án trồng rừng và phân biệt được sự khác nhau giữa phân tích tài chính và kinh tế của dự án Toàn bộ nội dung này được giới thiệu trong bài giảng “Đánh giá kinh tế các dự án đầu tư trồng rừng trong cơ chế thị trường” do chính tác giả biên soạn [26]

Cao Danh Thịnh (1998) đã đề cập đến vấn đề định lượng các chỉ tiêu đánh giá thông qua các trọng số trong việc tính toán hiệu quả tổng hợp kinh tế

- môi trường Theo tác giả thì phương pháp tính trọng số bằng tương quan cho độ chính xác cao nhất [23]

Đỗ Đức Bảo và cộng sự (2001) đã sử dụng phương pháp ma trận môi trường để đánh giá tác động của các loại hình canh tác và phương án canh tác lâm nghiệp ở khu vực lòng hồ huyện Mộc Châu Sơn La Các loại hình canh tác được đánh giá bao gồm: Vườn tạp, nông lâm kết hợp và rừng tự nhiên,… Theo phương pháp này, việc phân tích được phân theo hàng và cột, chúng ta

có thể đưa ra hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau thuộc các lĩnh vực chịu tác động như kinh tế, xã hội và môi trường Phương án được đánh giá cuối cùng thông qua tổng số điểm đạt được Tuy nhiên, theo phương pháp này có một hạn chế là việc cho điểm phụ thuộc vào ý muốn chủ quan, kinh nghiệm và trình độ của người chấm điểm nên độ chính xác không cao [2]

Gần đây, Phạm Xuân Thịnh (2002) nghiên cứu “Đánh giá tác động của

dự án KFW1 tại vùng dự án xã Tân Hoa, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang” Công trình đã đánh giá tác động của dự án trên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Quá trình đánh giá đã sử dụng các chỉ tiêu, chỉ báo có sự so sánh các lĩnh vực trước và sau dự án Tuy nhiên, việc đánh giá mới chỉ dừng lại ở mặt tích cực, còn mặt tiêu cực của dự án chưa thấy tác giả đề cập đến [24]

Việc đánh giá tác động của dự án trên cả 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường cũng được các tác giả Nguyễn Đình Sơn (2003), Đàm Đình Hùng (2003),

Trang 13

Lại Thị Nhu (2004), Hoàng Phú Mỹ (2008), Nguyễn Hoàng Linh (2008), thực hiện Trong quá trình đánh giá, các tác giả này đã sử dụng các chỉ tiêu, chỉ báo

có sự so sánh các lĩnh vực trước và sau dự án Nhìn chung những nghiên cứu này

đã đánh giá được tác động tổng hợp của một số dự án trên cả 3 lĩnh vực kinh tế,

xã hội và môi trường, tuy nhiên phạm vi đánh giá của các tác giả cũng có sự khác nhau và đều chưa làm rõ những ảnh hưởng của cơ chế đầu tư và cơ chế quản lý [14], [16], [20]

Nguyễn Xuân Sơn (2005) với công trình “Đánh giá tác động của dự án lâm nghiệp xã hội và bảo tồn thiên nhiên tỉnh Nghệ An đến vùng đệm Vườn Quốc gia Pù Mát” Ngoài việc đánh giá tác động của dự án trên 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, tác giả còn phân tích được hiệu quả kinh tế của một số cây trồng dài ngày, tuy nhiên tác giả chỉ đánh giá với chu kỳ 5 năm là chưa hợp lý, chưa thấy hết được những tác động mà các loài cây trồng có thể mang lại [22]

Cao Lâm Anh (2007) đã đánh giá tác động của dự án trồng rừng KFW4, đến sinh kế của người dân vùng dự án huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa Nghiên cứu này đã đề cập đến lý thuyết tác động trên cơ sở đưa ra các giả thuyết tác động cùng các chỉ số, chỉ báo tác động Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá tác động của dự án đến sinh kế của người dân mà chưa đề cập đến việc đánh giá hiệu quả, hiệu suất, tính thích hợp và khả năng duy trì dự án, mặt khác việc đánh giá mới chỉ ở giai đoạn trước mắt mà chưa phân tích được những tác động lâu dài trong cả chu kỳ của dự án [1]

Trương Tất Đơ (2009) đã tiến hành đánh giá tác động xã hội của công tác quản lý rừng tại lâm trường Văn Chấn tỉnh Yên Bái, đây có thể xem là công trình đầu tiên đi sâu về đánh giá tác động xã hội trong công tác quản lý rừng, tác giả đã phân tích kỹ mối quan hệ tác động qua lại giữa cộng đồng, địa phương với hoạt động sản xuất kinh doanh của Lâm trường; chỉ ra sự phù hợp

Trang 14

và chưa phù hợp của từng tiêu chí, chỉ số về mặt xã hội theo tiêu chuẩn trong

bộ tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hoàn chỉnh các tiêu chí về mặt xã hội để tiến tới QLRBV và cấp chứng chỉ rừng cho Lâm trường trên cơ sở những dự báo về sự biến đổi của kinh tế -

xã hội Tuy nhiên, những tác động về mặt kinh tế, môi trường có ảnh hưởng qua lại đến những tác động về mặt xã hội nhưng chưa được tác giả quan tâm, đánh giá [12]

Đinh Đức Thuận (2006) đã chỉ ra rằng, khi xem xét tác động của các dự

án lâm nghiệp đến đói nghèo và sinh kế thì phương thức lập kế hoạch hoạt động có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế và tối ưu hóa hiệu quả đầu tư của nguồn vốn [25]

là thúc đẩy việc quản lý rừng trên thế giới một cách hợp lý về mặt môi trường,

có lợi ích về mặt xã hội và kinh tế [7]

Chứng chỉ nhóm: Là một quá trình theo đó nhiều chủ rừng hoặc các

nhà quản lý rừng được cấp chung một chứng chỉ FSC Một chủ thể nhóm là đơn vị đại diện giữ chứng chỉ cho một nhóm gồm các chủ rừng hoặc các nhà quản lý rừng cùng đồng ý tham gia vào nhóm Các khu rừng của từng thành viên được áp dụng hệ thống quản lý rừng đã được chứng chỉ của chủ thể nhóm Chủ thể nhóm phải đáp ứng được tất cả các yêu cầu về quy định và thủ tục của FSC và tất cả các chủ rừng/nhà quản lý rừng phải đáp ứng được Bộ

Trang 15

tiêu chuẩn P&C FSC Chứng chỉ nhóm khác với chứng chỉ quản lý rừng truyền thống ở khía cạnh là chủ thể nhóm thường không có quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp đối với tài nguyên rừng [6], [11]

1.2.2 Trên thế giới

Năm 1992 lần đầu tiên Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO) đề ra những tiêu chí cho quản lý bền vững rừng nhiệt đới Hiện nay trên thế giới có một số quy trình cấp chứng chỉ rừng đang hoạt động như Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC), Chương trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng (PEFC) của Châu Âu, Sáng kiến lâm nghiệp bền vững (SFI) của Bắc Mỹ, Hội tiêu chuẩn Canada (CSA), Quy trình chứng chỉ quốc gia CertforChile của Chile, Viện nhãn sinh thái Indonesia (LEI), và Hội đồng chứng chỉ gỗ Mã Lai (MTCC) Hai quy trình đang hoạt động ở cấp toàn cầu là FSC và PEFS, trong khi đó các quy trình khác chỉ hoạt động ở cấp vùng hoặc quốc gia

Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC) là một mạng lưới toàn cầu,

được thành lập vào tháng 10 năm 1993 tại Toronto, Canada với 130 thành viên đến từ 26 quốc gia Trong những ngày đầu, tổ chức đặt trụ sở tại Oaxaca, Mehico, sau này và cho đến tận bây giờ trụ sở chính được đặt tại thành phố Bonn của Đức [4], [5], [11], [18]

FSC khuyến khích các quốc gia có bộ tiêu chuẩn riêng của mình dựa trên bộ tiêu chuẩn của FSC quốc tế Hiện nay, có khoảng 26 bộ tiêu chuẩn quốc gia đang được sử dụng Cho đến nay, diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC đã xuất hiện khắp thế giới [30], [37], [38], [39], [40], [41] Trong đó:

- Châu Âu: Hiện diện tích rừng do FSC cấp chứng chỉ ở Châu Âu đã lên đến 59.057.416 ha, chủ yếu là rừng trồng và rừng nửa tự nhiên, trong đó Nga, Thuỵ Điển, Đức, Lít-va, Thụy sỹ, Anh, Thụy điển là những nước đứng đầu về số diện tích được cấp chứng chỉ

Trang 16

- Bắc Mỹ: diện tích rừng được FSC cấp chứng chỉ rừng của khu vực hiện đạt 55.254.176 ha, trong số này Canada dẫn đầu với 41.018.228 ha, tiếp theo là Mỹ với 13.684.834 ha và Mêhicô 551.114 ha Các diện tích được cấp chứng chỉ cũng chủ yếu là rừng trồng và rừng nửa tự nhiên

- Nam Mỹ: Có tổng số hơn 12.004.316 ha rừng được cấp chứng chỉ FSC, trong đó Braxin, Bolivia và Urugoay là 3 quốc gia có diện tích rừng được cấp chứng chỉ rừng lớn nhất, chủ yếu là rừng trồng và rừng nửa tự nhiên Hiện nay Braxin, Bolivia, Costa Rica, Uruguay, Guatêmala là các quốc gia xuất khẩu một khối lượng lớn nhất thế giới gỗ có chứng chỉ FSC và là một trong những thị trường cung cấp gỗ nguyên liệu lớn cho Việt Nam

- Châu Á - Thái Bình Dương: Hiện có 6.539.558 ha rừng được cấp chứng chỉ FSC, trong số đó Trung Quốc, New Zealand, Malaysia, Australia là những quốc gia dẫn đầu về diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC

- Châu Phi: hiện mới có 7.448.796 ha được cấp chứng chỉ FSC, chiếm

5,2% tổng số diện tích rừng được FSC cấp chứng chỉ trên thế giới Trong đó Congo đứng đầu với 2.430.996 ha, tiếp theo là Gabon với diện tích 1.873.505 ha

1.2.3 Tại Việt Nam

Từ năm 1998, Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (World Wide Fund for Nature - WWF) đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cục Phát triển Lâm nghiệp, Cục Kiểm lâm và một số cơ quan trong ngành lâm nghiệp trong việc tổ chức các hội thảo quốc gia về quản lý rừng bền vững Từ đó đến nay, WWF Đông dương là tổ chức giúp đỡ chủ yếu

về tài chính và kỹ thuật cho Tổ công tác quốc gia Việt Nam trong việc xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia về quản lý rừng bền vững dựa theo các nguyên tắc và tiêu chuẩn của FSC [7], [11], [39]

Giai đoạn 1998 - 2003 hoạt động thúc đẩy Quản lý Bảo vệ rừng chủ yếu là do NWG cùng với sự phối hợp của các tổ chức khác như TFT, dự án REFAS, WWF Đông Dương góp phần đẩy mạnh quá trình cải thiện quản lý

Trang 17

rừng thông qua các dự án hỗ trợ kỹ thuật cho một số chủ rừng xây dựng mô hình Chứng chỉ rừng Từ năm 2004, các tổ chức này đã đẩy mạnh các hoạt đông theo từng chương trình riêng trong việc hỗ trợ các đơn vị quản lý rừng (thường là đơn vị lâm trường) tiếp cận các tiêu chuẩn Quản lý bảo vệ rừng của FSC

Năm 2002, FSC đã khởi xướng một chương trình gọi là “Tăng khả năng tiếp cận tới chứng chỉ FSC cho các khu rừng quản lý quy mô nhỏ và kém tập trung”, được biết như là “Sáng kiến SLIMF” Và chứng chỉ nhóm được thiết kế nhằm giảm bớt các chi phí và tăng cơ hội cho các chủ rừng tham gia vào chứng chỉ FSC thông qua việc đóng góp các chi phí chứng chỉ giữa các chủ rừng

Đến nay, diện tích rừng được cấp chứng chỉ tại Việt Nam mới chỉ đạt 15,6 nghìn ha, trong khi Việt Nam đã có chỗ đứng khá vững chắc trên thị trường sản phẩm gỗ thế giới

Tóm lại, cho đến nay đã có những công trình đánh giá hiệu quả dự án

Tuy nhiên, chưa có công trình nào đánh giá việc thiết lập và quản lý rừng trồng tiểu điền để tiến tới cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn FSC Vì vậy, lựa chọn đề tài Đánh giá nội bộ rừng trồng tiểu điền tại các tỉnh Miền Trung, tiến tới cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn FSC là vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa nghiên cứu khoa học và thực tiễn

Trang 18

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu nhằm thiết lập và quản lý rừng trồng tiểu điền theo phương pháp thâm canh, năng suất cao, nhằm nâng cao khả năng đóng góp của ngành Lâm nghiệp cho công cuộc xoá đói, giảm nghèo và bảo vệ môi trường sinh thái

hỗ trợ cho nông dân trồng rừng tiểu điền theo chuỗi bền vững

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Rừng trồng tiểu điền mô hình hộ gia đình của dự án Phát triển ngành Lâm nghiệp

2.3 Địa điểm, thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: tại 2 tỉnh Thừa Thiên Huế và tỉnh Bình Định

- Thời gian nghiên cứu: từ quý I năm 2010 đến quý III năm 2011

Trang 19

2.4 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu, đánh giá khái quát về việc cấp chứng chỉ rừng (FSC) của dự

án tại khu vực nghiên cứu

- Nghiên cứu đánh giá sơ bộ chất lượng rừng trồng của dự án tại khu vực nghiên cứu

- Đánh giá nội bộ rừng trồng tiểu điền của dự án dựa trên việc đánh giá mức độ tuân thủ nguyên tắc FSC của các hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu

- Đề xuất giải pháp: khắc phục tồn tại trong việc thiết lập và quản lý rừng trồng tiểu điền đang được áp dụng tại dự án, tiến tới cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn FSC ; về cơ chế đầu tư hỗ trợ cho nông dân trồng rừng tiểu điền theo chuỗi bền vững

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Thu thập số liệu

- Thu thập và tìm hiểu về dự án thông qua các tài liệu: Thông tin chung về

dự án Phát triển ngành Lâm nghiệp; Các văn bản pháp luật; Cơ chế đầu tư và

cơ chế quản lý của dự án; Các báo cáo; các bản đồ; hồ sơ thiết kế liên quan

- Kế thừa số liệu về điều kiện cơ bản của các khu vực nghiên cứu

- Kế thừa các nguyên tắc, tiêu chí đánh giá, các số liệu đã được thu thập của dự án và Báo cáo đánh giá nội bộ đã được tổng hợp

+ Sự tuân thủ theo các yêu cầu chứng chỉ rừng được đánh giá dựa trên các nguyên tắc và Tiêu chí FSC gồm: 10 Nguyên tắc đang được áp dụng tại

Trang 20

(1) Dùng thước dây (20m) kéo theo chiều hàng cây 10m

(2) Dùng địa bàn cầm tay lấy góc vuông so với chiều vừa đo,

(3) Dùng thước dây đo 10m

(4) Tiếp tục bước (2) và đo 10m

(5) Tiếp tục bước (2) và đo 10m để khép góc

Chú ý: sai số khép góc không được quá 1m

+ Đo đếm ô tiêu chuẩn

Các thông tin cần thu thập trên ô tiêu chuẩn được điền vào phiếu đo đếm ô tiêu chuẩn:

PHIẾU THU THẬP SỐ LIỆU TRÊN Ô TIÊU CHUẨN

Tên chủ hộ: Hướng phơi:

1 Loài: ghi đến loài, mỗi cây ghi 1 hàng

2 cvcây: chu vi cây rừng ở vị trí 1,3m (ngang ngực)

3 hvn: chiều cao vút ngọn;

4.hdc: chiều cao dưới cành;

5 Kccây bên phải: khoảng cách đến cây hàng bên phải;

Trang 21

6 Phẩm chất: ghi theo 3 cấp: a, b, c, trong đó:

- a: cây khỏe mạnh, không cong keo, sâu bệnh;

- b: Cây cong keo, sâu bệnh;

- c: Cụt ngọn và cong keo sâu bệnh

7 Đường kính tán: đo 2 hướng Đông - Tây và Nam - Bắc (chỉ đo khoảng 1/3 số cây có trên ô) ;

8 Ghi chú: đơn thân, hay nhiều thân, tình trạng thân cây vv…

- Thu thập thông tin (Sử dụng các công cụ phỏng vấn bán định hướng): Thông qua phiếu phỏng vấn bán định hướng đã được thiết kế (phụ lục) Các thông tin này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc mô tả bức tranh chung nhất về những ảnh hưởng của dự án đến sinh kế người dân tại vùng dự án

Công cụ chọn mẫu ngẫu nhiên được sử dụng để chọn ra mỗi tỉnh 60 nông dân chủ rừng từ danh sách do Tổ công tác xã cung cấp, và thực hiện đối với tất cả các xã của mỗi huyện Số lượng chọn mẫu này đã dự trù trường hợp nhóm đánh giá có thể không tiếp cận được một vài nông dân đã chọn hoặc trường hợp rừng của nông dân được chọn đánh giá đã bị thiệt hại hoàn toàn

do các trận bão

Phỏng vấn cán bộ kỹ thuật của Ban quản lý tỉnh, cán bộ Ban quản lý dự

án các huyện và cán bộ Uỷ ban nhân dân các xã đánh giá các yếu tố: Chất lượng cây giống, giám sát kỹ thuật, suất đầu tư và chất lượng rừng như thế nào

2.5.2 Xử lý và phân tích số liệu

- Kết hợp giữa kết quả đánh giá tại hiện trường và phỏng vấn nông dân trồng rừng, các hồ sơ lưu trữ tại các nhóm hộ, chủ hộ để đánh giá: (1) sự tuân thủ về kỹ thuật theo sổ tay thực hiện dự án; (2) tuân thủ theo nguyên tắc và tiêu chí FSC; (3) sự hiện diện của các giá trị bảo tồn và tác động của rừng

Trang 22

trồng dự án Phát triển ngành lâm nghiệp (FSDP) đối với các giá trị bảo tồn cao này; (4) đánh giá sự quản lý chung của các rừng trồng và (5) nhận thức chung của nông dân về các loài nằm trong danh mục CITES

- Phân tích, tổng hợp kết quả đánh giá thông qua hội thảo với địa phương vùng dự án và các chuyên gia đầu ngành

cơ chế đầu tư, quản lý và phát hiện những lỗi tuân thủ và không tuân theo các nguyên tắc FSC từ đó đưa ra những đề xuất sửa các lỗi không tuân thủ và hoàn thiện cơ chế đầu tư, quản lý

+ Phân tích, xử lý số liệu dự kiến sẽ dùng chương trình Microsoft Excel

và SPSS để tổng hợp, tính toán số liệu nghiên cứu

- Tính trữ lượng trên ô điều tra và trữ lươ ̣ng trên ha bằng cách: Sử dụng công thức: M = G.H.f Trong đó: M là trữ lượng (m3/ha); G là tổng tiết diện ngang (л x Ƌ)/4 (m2/ha); H vn (là chiều cao vút ngọn bình quân (m); f : Là hình số bình quân (thường bằng 0,45 đến 0,5), Ƌ: Đường kính bình quân

Trang 23

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI

KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Một số đặc điểm cơ bản của tỉnh Thừa Thiên Huế

3.1.1 Vị trí địa lý

Thừa Thiên Huế là tỉnh ven biển nằm ở vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam

có tọa độ ở 16-16,8 độ vĩ Bắc và 107,8-108,2 độ kinh Đông Diện tích của tỉnh là 5.053,99 km² Thừa Thiên Huế giáp tỉnh Quảng Trị về phía Bắc, phía Đông giáp biển Đông, phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam, phía Tây giáp dãy Trường Sơn và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Thừa Thiên Huế cách Hà Nội 654 km, Nha Trang 627 km và Thành phố Hồ Chí Minh 1.071 km

3.1.2 Khí hậu

Thừa Thiên Huế có khí hậu nhiệt đới gió mùa Vùng duyên hải đồng bằng có hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8, trời nóng oi bức, có khi lên tới gần 40 0C Từ tháng 8 đến tháng 2 là mùa mưa, bão, lụt, nhiệt độ thường dao động quanh 19,7 0C, lạnh nhất là 8,8 0C Vùng núi mưa nhiều, khí hậu mát, nhiệt độ thấp nhất là 9 0C và cao nhất là 29 0C

3.1.3 Đặc điểm địa hình

Dưới tác động của các quá trình hình thành địa hình nội sinh và ngoại sinh đối lập nhau, địa hình Thừa Thiên Huế bị biến đổi không ngừng trong lịch sử tồn tại và phát triển kéo dài hàng trăm triệu năm, đặc biệt là trong giai đoạn tân kiến tạo cho đến hiện tại Địa hình tại đây được chia làm 4 loại:

Trang 24

Địa hình khu vực núi trung bình: khu vực núi trung bình chủ yếu phân

bố ở phía Tây, Tây Nam và Nam lãnh thổ, chiếm khoảng trên 25% lãnh thổ của tỉnh

Địa hình khu vực núi thấp và gò đồi: núi thấp và đồi phân bố trên diện tích rộng nhất của khu vực địa hình đồi núi (trên 65%) và chiếm khoảng 50% lãnh thổ toàn tỉnh

Địa hình khu vực đồng bằng duyên hải: chiếm khoảng 16% diện tích tự nhiên của tỉnh Đồng bằng duyên hải Thừa Thiên Huế trải dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam trên 100km

Địa hình khu vực đầm phá và biển ven bờ: Đầm phá, cồn cát chắn bờ

và biển ven bờ tuy khác nhau về hình thái và vị trí phân bố, nhưng lại có quan

hệ tương hỗ, quyết định lẫn nhau trong suốt quá trình hình thành toàn bộ hệ thống lãnh thổ này

3.1.4 Dân số và dân tộc

Tính đến năm 2007, dân số tỉnh Thừa Thiên Huế có 1.145.259 người (563.613 nam, 581.646 nữ) Về phân bố, có 397.328 người sinh sống ở thành thị, 747.931 người sinh sống ở vùng nông thôn

Trong các dân tộc thiểu số sinh sống ở Thừa Thiên Huế thì các dân tộc Cơtu, Tà Ôi, Bru-Vân Kiều được xem là người bản địa sinh sống ở phía Tây của tỉnh Trải qua quá trình sinh sống lâu dài, các dân tộc này đã tạo cho mình bản lĩnh dân tộc và nét văn hóa đặc trưng, thống nhất trong đa dạng, làm nên một tiểu vùng văn hoá ở phía Tây tỉnh Thừa Thiên Huế

3.1.5 Tài nguyên thiên nhiên

3.1.5.1 Tài nguyên đất : Thừa Thiên Huế có tổng diện tích tự nhiên là

Trang 25

505.399 ha, trong đó diện tích đất là 468.275 ha; hồ, ao, đầm, sông suối, núi

đá là 37.124 ha Đất đồi núi chiếm trên 3/4 tổng diện tích tự nhiên, còn đất

đồng bằng duyên hải chỉ dưới 1/5 tổng diện tích tự nhiên của tỉnh

Đất đai tại đây khá đa dạng, được hình thành từ 10 nhóm đất khác nhau Nhóm đất đỏ vàng có diện tích lớn nhất với 347.431ha, chiếm 68,7% tổng diện tích tự nhiên Diện tích đất bằng bao gồm đất thung lũng chỉ có 98.882 ha, chiếm 19,5% diện tích tự nhiên của tỉnh Trong đó diện tích đất cần cải tạo bao gồm: đất cồn cát, bãi cát và đất cát biển; nhóm đất phèn ít và trung bình, mặn nhiều; nhóm đất mặn; nhóm đất phù sa úng nước, đất lầy và đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ có đến 59.440 ha, chiếm 60% diện tích đất bằng Diện tích đất phân bố ở địa hình dốc có 369.393 ha (kể cả đất sói mòn trơ sỏi đá)

3.1.5.2 Tài nguyên nước

Tài nguyên nước dưới đất tại Thừa Thiên Huế khá phong phú, bao gồm

cả nước nhạt và nước khoáng nóng, được phân bố tương đối đều trên địa bàn toàn tỉnh Các khu vực kéo từ các xã Phong Chương, Phong Hiền của huyện Phong Điền đến xã Quảng Lợi, của huyện Quảng Điền, từ xã Phong Sơn của huyện Phong Điền đến thị trấn Tứ Hạ của huyện Hương Trà, khu vực thị trấn Phú Bài của huyện Hương Thủy là những vùng chứa nước dưới đất có triển vọng nhất cho khai thác và sử dụng của Thừa Thiên Huế

Phần lớn núi rừng tại Thừa Thiên Huế nằm ở phía tây Vùng núi rừng thuộc vùng núi có độ cao từ 250m trở lên, chủ yếu phân bố ở phía Tây của tỉnh và kéo dài từ ranh giới Quảng Trị ở phía Bắc đến ranh giới tỉnh Quảng Nam về phía Nam Địa hình phức tạp, dãy Trường Sơn Bắc thuộc núi cao trung bình và núi thấp với đỉnh cao nhất là động Ngại 1.774m Tổng diện tích

Trang 26

vùng núi rừng chiếm khoảng 308.825ha

3.1.5.3 Tài nguyên khoáng sản

Nhóm khoáng sản nhiên liệu chủ yếu là than bùn, phân bố từ huyện Phong Điền ở phía Bắc đến huyện Phú Lộc ở phía Nam, với các mỏ có trữ lượng lớn (khoảng 5 triệu m3), chất lượng tốt và điều kiện khai thác thuận lợi tập trung ở khu vực xã Phong Chương của huyện Phong Điền

Nhóm khoáng sản kim loại có sắt, titan, chì, kẽm, vàng, thiếc, với trữ lượng nói chung không lớn, trừ sa khoáng titan Nhóm khoáng sản phi kim loại và nhóm vật liệu xây dựng là các nhóm có triển vọng lớn nhất của Thừa Thiên Huế, bao gồm pyrit, phosphorit, kaolin, sét, đá granit, đá gabro, đá vôi,

cuội sỏi và cát xây dựng

3.1.5.4 Tài nguyên rừng: Tổng diện tích rừng của tỉnh Thừa Thiên Huế

là 227.184 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 175.644 ha và diện tích rừng trồng 51.514 ha

3.1.6 Một số đặc điểm của các xã nghiên cứu

3.1.6.1 Đặc điểm tự nhiên

Tỉnh Thừa Thiên Huế có 6 xã tham gia dự án có EMDP đó là các xã: Thượng Lộ, Thượng Quảng, Thượng Long, Thượng Nhật (huyện Nam Đông), Xuân Lộc (huyện Phú Lộc), và Hồng Tiến (huyện Hương Trà); Các xã này đều là các xã miền núi của tỉnh Thừa Thiên Huế với địa hình tương đối phức tạp Đồi núi chiếm phần lớn diện tích của các xã, độ cao trung bình so với mực nước biển từ 350m đến 450 m Loại đất chủ yếu của vùng là đất Feralit vàng đỏ phát triển trên nền đá phiến thạch sét Đất có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, hữu cơ trung bình Thích hợp trồng các loài cây lâm

Trang 27

nghiệp, cây công nghiệp

3.1.6.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

Bảng 3.2 Số liệu kinh tế xã hội của các xã nghiên cứu

tại tỉnh Thừa Thiên Huế

Xã Số hộ Nhân khẩu động Lao

Tỷ lệ

hộ nghèo (%)

Thu nhập

BQ đầu người (Tr đ/năm)

DTTS

% người DTTS so với tổng dân số

Nhìn chung cộng đồng DTTS của các xã từ lâu quen với phát rừng làm

Trang 28

nương rẫy, trồng khoai sắn, sống tự cung tự cấp Trong những năm gần đây Chính phủ đã có chương trình quốc gia xoá đói, giảm nghèo, nhiều dự án được đầu tư tại địa phương; vì vậy đời của đồng bào về kinh tế và văn hoá từng bước được cải thiện Tuy nhiên, do có những mặt hạn chế về giới, về ngôn ngữ, trình dộ dân trí nên khả năng tiếp cận của người dân đối với các vấn đề khoa học, kỹ thuật - xã hội còn nhiều hạn chế, đặc biệt là các vấn đề về chính sách pháp luật của Nhà nước

3.2 Một số đặc điểm cơ bản của tỉnh Bình Định

3.2.1 Vị trí địa lý

Tỉnh Bình Định có tọa độ 14°42'10 Bắc và 108°55'4 Đông, là tỉnh duyên hải miền Trung của Việt Nam, trải dài theo hướng Bắc - Nam, có chiều ngang với độ hẹp trung bình 55 km Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai và phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 134 km Bình Định được xem là một trong những cửa

ngõ ra biển của các tỉnh Tây Nguyên và vùng Nam Lào

3.2.2 Khí hậu

Khí hậu Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa Do sự phức tạp của địa hình nên gió mùa khi vào đất liền đã thay đổi hướng và cường độ khá nhiều Nhiệt độ không khí trung bình năm ở khu vực miền núi biến đổi trung bình từ 20,1 đến 26,1°C, cao nhất là 31,7°C và thấp nhất là 16,5°C Tại vùng duyên hải, nhiệt độ không khí trung bình năm là 27,0°C, cao nhất 39,9°C và thấp nhất 15,8°C.s

Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12, riêng đối với khu vực miền núi có thêm một mùa mưa phụ từ tháng 5 đến tháng 8 do ảnh hưởng của mùa mưa Tây Nguyên Mùa khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 8 Ngoài ra Bình

Trang 29

Định còn nằm ở khu vực thường có bão đổ bộ vào đất liền do nằm trong đoạn

bờ biển từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến Khánh Hòa Tần suất xuất hiện bão lớn nhất từ tháng 9 đến tháng 11

3.2.3 Đặc điểm địa hình

Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông, phía Tây của tỉnh là vùng núi rìa phía đông của dãy Trường Sơn Nam, kế tiếp là vùng trung du và tiếp theo là vùng ven biển Các dạng địa hình phổ biến là các dãy núi cao, đồi thấp xen lẫn thung lũng hẹp độ cao trên dưới 100 mét, hướng vuông góc với dãy Trường Sơn, các đồng bằng lòng chảo, các đồng bằng duyên hải bị chia nhỏ do các nhánh núi đâm ra biển Ngoài cùng là cồn vát ven biển có độ dốc không đối xứng giữa 2 hướng sườn đông và tây Các dạng địa hình chủ yếu của tỉnh là:

Vùng núi: nằm về phía tây bắc và phía tây của tỉnh có diện tích khoảng 249.866 ha, phân bố ở các huyện An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh, Tây Sơn và Hoài Ân Địa hình khu vực này phân cắt mạnh, sông suối có độ dốc lớn, là nơi phát nguồn của các sông trong tỉnh Nhiều khu vực núi ăn ra sát biển tạo thành các mỏm núi đá dọc theo bờ, vách núi dốc đứng và dưới chân là các dải cát hẹp Đặc tính này đã làm cho địa hình ven biển trở thành một hệ thống các dãy núi thấp xen lẫn với các cồn cát và đầm phá

Vùng đồi: nằm tiếp giáp giữa miền núi phía tây và đồng bằng phía đông, có diện tích khoảng 159.276 ha (chiếm khoảng 10% diện tích), có độ cao dưới 100 m, độ dốc tương đối lớn từ 10° đến 15° Phân bố ở các huyện Hoài Nhơn, An Lão và Vân Canh

Vùng đồng bằng: Tỉnh Bình Định không có dạng đồng bằng châu thổ

mà phần lớn là các đồng bằng nhỏ được tạo thành do các yếu tố địa hình và khí hậu, các đồng bằng này thường nằm trên lưu vực của các con sông hoặc ven

Trang 30

biển và được ngăn cách với biển bởi các đầm phá, các đồi cát hay các dãy núi

Vùng ven biển: Bao gồm các cồn cát, đụn cát tạo thành một dãy hẹp chạy dọc ven biển với chiều rộng trung bình khoảng 2 km, hình dạng và quy

mô biến đổi theo thời gian Trong tỉnh có các dải cát lớn là: dải cát từ Hà Ra đến Tân Phụng, dải cát từ Tân Phụng đến vĩnh Lợi, dải cát từ Đề Gi đến Tân Thắng, dải cát từ Trung Lương đến Lý Hưng

3.2.4 Dân số và dân tộc

Theo số liệu niên giám thống kê năm 2005, toàn tỉnh có 1.562.400 người, trong đó nam là 761.000 người (chiếm 48,7%), nữ là 801.400 người (chiếm 51,3%) Mật độ dân số là 259,4 người/km2 và dân số trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 50,8% dân số toàn tỉnh Ngoài dân tộc Kinh, còn có các dân tộc khác nhưng chủ yếu là Chăm, Ba Na và Hrê, bao gồm khoảng 2,5 vạn dân Theo kết quả điều tra chính thức ngày 01/04/2009, dân số tỉnh Bình Định chỉ còn 1.485.943 người, như vậy dân số tỉnh đang có xu hướng giảm cơ học

3.2.5 Tài nguyên thiên nhiên

3.2.5.2 Tài nguyên rừng

Trang 31

Bình Định hiện có khoảng 196.000 ha đất lâm nghiệp, trong đó trên 151.500 ha rừng tự nhiên và hơn 44.300 ha rừng trồng Rừng hiện nay còn tập trung chủ yếu ở những vùng xa đường giao thông nên chỉ có ý nghĩa lớn về phòng hộ và bảo vệ môi trường Xét theo mục đích kinh tế thì rừng sản xuất

có 65,5 nghìn ha, rừng phòng hộ có gần 128 nghìn ha Rừng Bình Định có hơn 40 loài cây có giá trị dược liệu, phân bố hầu khắp ở các huyện như: ngũ gia bì, sa nhân, thiên niên kiện, bách bộ, thổ phục linh, hoàng đằng, thiên môn, phong kỷ, kim ngân Vùng trung du, ven biển có cây dừa, trám, đặc biệt cây mai gừng có giá trị dược liệu cao, nhưng chủ yếu phân bố ở vài vùng đất hẹp tại huyện Vĩnh Thạnh Cây sa nhân cũng có giá trị xuất khẩu cao

3.2.5.3 Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản ở Bình Định khá đa dạng, đáng chú ý nhất là đá granít có trữ lượng khoảng 500 triệu m3, với nhiều màu sắc đỏ, đen, vàng…

là vật liệu xây dựng cao cấp được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng;

sa khoáng titan tập trung ở mỏ Đề Gi (Phù Cát) trữ lượng khoảng 1,5 triệu m3; cát trắng ở Hoài Nhơn, trữ lượng khoảng 90.000 m3 Nhiều nguồn nước khoáng được đánh giá có chất lượng cao đã và đang được đưa vào khai thác sản xuất nước giải khát, chữa bệnh Toàn tỉnh có 4 nguồn nước khoáng là Hội Vân, Chánh Thắng (Phù Cát), Bình Quang (Vĩnh Thạnh), Long Mỹ (Tuy Phước), riêng nguồn nước khoáng nóng Hội Vân đảm bảo các tiêu chuẩn chữa bệnh và có thể xây dựng nhà máy điện địa nhiệt Ngoài ra, còn có các khoáng sản khác như cao lanh, đất sét và đặc biệt là các quặng vàng ở Hoài

Ân, Vĩnh Thạnh, Tây Sơn

3.2.6 Một số đặc điểm của các xã nghiên cứu

3.2.6.1 Đặc điểm tự nhiên

Tỉnh Bình Định có 4 xã xây dựng kế hoạch phát triển DTTS đó là các xã: Canh Hiệp; Canh Hòa; Canh Thuận của huyện Vân Canh và xã Vĩnh An huyện Tây Sơn Tất cả các xã này đều là các xã thuộc vùng Trung Du miền núi nằm về phía Tây Nam của tỉnh Bình Định, địa hình địa thế tương đối phức

Trang 32

tạp, đồi núi chiếm phần lớn diện tích của các xã, độ cao tuyệt đối trung bình

từ 250 đến 300m độ dốc bình quân từ 80 - 300 Đất đai chủ yếu là đất feralit màu xám vàng phát triển trên đá mẹ granite có thành phần cơ giới thịt trung bình, ngoài ra còn có một số ít diện tích là đất đỏ bazan loại đất này có thành phần cơ giới nặng Riêng xã Vĩnh An có loại đất chủ yếu là Feralit màu xám vàng, thành phần cơ giới sét pha cát, độ dày tầng đất mặt khoảng 20cm, tỷ lệ

đá lộ đầu cao Các loại đất này đều phù hợp để trồng cây ăn quả, cây công nghiệp và cây lâm nghiệp

3.2.6.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

Bảng 3.2: Số liệu kinh tế xã hội của các xã nghiên cứu tại tỉnh Bình Định

Xã Số hộ Nhân khẩu động Lao

Tỷ lệ

hộ nghèo (%)

Thu nhập

BQ đầu người (Tr đ/năm)

DTTS

%người DTTS so với tổng dân số

Canh Thuận 565 2659 1105 85 2,1 BaNa 44,5

Nguồn: EMDP của tỉnh Bình Định

Qua số liệu tại Bảng 3.2 ta thấy tổng số hộ của 4 xã tại tỉnh Bình Định

là 1.619 hộ với 7.266 nhân khẩu Số lao động là 3.416 lao động chiếm 47 % tổng dân số Cộng đồng DTTS ở đây chủ yếu là đồng bào Chăm và BaNa Nhìn chung đời sống của đồng bào DTTS tại các xã này còn rất khó khăn với

Trang 33

tỷ lệ hộ nghèo ở mức cao (trên 80%) Thu nhập bình quân đầu người thấp chỉ đạt trên 2 triệu đồng /người/năm Cũng như các tỉnh khác trong vùng dự án, cộng đồng Dân tộc thiểu số của tỉnh Bình Định cũng rất cần sự hỗ trợ của các chương trình dự án nhằm tăng cường năng lực cho đồng bào để vươn lên thoát khỏi nghèo đói, bắt kịp nhịp phát triển chung của xã hội

3.3 Đánh giá chung điều kiện kinh tế xã hội vùng dự án

+ Nằm trong vùng chuyển tiếp về khí hậu, ngoài số ít cây bản địa tại địa phương, có thể dẫn trồng nhiều loài khác từ luồng thực vật miền Bắc và cây họ Dầu miền Nam Đối với các loài nhập nội, biên độ sinh thái rộng cũng là địa bàn phù hợp cho nhiều loài, nhất là Keo và Bạch đàn hoặc một số loài cây khác

+ Diện tích đất lâm nghiệp có rừng ở cả 2 tỉnh vào năm 2002 có 741.632 ha Trên địa bàn còn nhiều khu rừng có tính đa dạng sinh học cao

+ Còn khoảng 445.910 ha đất chưa sử dụng Phần lớn diện tích đất đó thích hợp với mục đích trồng rừng, có một diện tích đáng kể thích hợp để trồng rừng sản xuất Diện tích đất lâm nghiệp có tiềm năng trồng rừng sản xuất đủ đáp ứng yêu cầu xây dựng hệ thống rừng nguyên liệu công nghiệp cung ứng cho hệ thống chế biến gỗ trên địa bàn và xuất khẩu

Trang 34

+ Khoảng cách từ các vùng trồng rừng sản xuất đến các cảng biển, các

cơ sở chế biến gỗ tương đối gần (trung bình khoảng 60-70 km, nơi xa nhất cũng chỉ khoảng 130 km)

+ Mật độ dân số tương đối hợp lý: Chỉ tiêu này ở tỉnh Thừa Thiên-Huế

là 213 người/km2, ở tỉnh Bình Định là 247 người/km2

+ Thị trường tiêu thụ sản phẩm rừng trồng như gỗ bột giấy, ván dăm,

gỗ xẻ và thị trường xuất khẩu qua các cảng biển trong vùng (Đà Nẵng, Quy Nhơn, Dung Quất) đang phát triển mạnh

+ Đã có nhiều điển hình tốt về kết quả trồng rừng sản xuất ở các mặt: qui mô, sản lượng, năng suất Nhiều công ty trồng rừng (VIJACHIP, VINAFOR ) liên doanh với các công ty địa phương đã đứng vững nhiều năm trên địa bàn Điều này đã "đánh thức" được tiềm năng sử dụng các điều kiện lập địa không mấy thuận lợi trong vùng để tham gia vào chương trình phát triển rừng sản xuất

3.3.2 Khó khăn

- Ngoài điều kiện khí hậu thất thường, mưa bão tập trung cao trong mùa mưa ngắn, số giờ nắng cao trên những vùng địa hình dốc, tỷ lệ che phủ của rừng giảm đã biến những yếu tố khí hậu vốn thuận lợi này thành những khó khăn, thúc đẩy sự phong hoá không hoàn toàn các loại khoáng chất và gây nên sự xói mòn đất làm nghèo kiệt nhanh chóng tầng đất mặt

- Các tỉnh có tới 30-60% diện tích đất không có rừng nằm ở độ cao > 300m và 30-40% ở độ dốc > 150 thuộc địa hình dễ gây xói mòn đất

- Tỷ trọng sản xuất nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của Thừa Thiên Huế và Bình Định vẫn còn cao (chỉ tiêu này ở tỉnh Thừa Thiên-Huế là 28,21% và ở Bình Định là trên 45%)

Trang 35

- Tốc độ tăng trưởng của sản xuất nông, lâm, thuỷ sản còn thấp hơn các vùng khác

- Tỷ lệ dân cư nông thôn còn khá cao: 72% ở Thừa Thiên Huế, 76% ở Bình Định) Tỷ lệ các hộ đói nghèo ở nông thôn còn khá cao

- Tỷ lệ dân số là đồng bào dân tộc ít người tuy thấp (khoảng 5%), nhưng đời sống còn phụ thuộc rất lớn vào rừng theo phương thức khai thác tài nguyên không bền vững, du canh, du cư, đốt nương làm rẫy nên đã tàn phá nhiều diện tích rừng ở vùng miền núi, nhất là ở vùng đầu nguồn của các con sông quan trọng

- Là vùng thường phải chịu tác động của thiên tai, nhất là lũ lụt, gió bão, dễ gây nên những ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống

Hiện nay hướng phát triển kinh tế-xã hội, qui hoạch sử dụng đất đai của

2 tỉnh đều đang tập trung vào những nội dung chủ yếu sau đây: Tập trung phát triển bền vững ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, chuyển đổi

cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp hướng tới thị trường xuất khẩu; Đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế; Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần; Phát triển nguồn nhân lực; Xoá đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng

Trang 36

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Đánh giá khái quát về việc cấp chứng chỉ rừng (FSC) của dự án

4.1.1 Giới thiệu khái quát dự án Phát triển ngành Lâm nghiệp (FSDP)

Dự án Phát triển ngành Lâm nghiệp được thực hiện theo hiệp định tín dụng được ký kết giữa chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Thế giới Dự án chính thức hoạt động từ tháng 8 năm 2005

Cơ quan chủ quản dự án: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thời gian hoạt động dự án từ năm 2005 đến tháng 3 năm 2011 Hiện đã được Ngân hàng Thế giới và Chính phủ đồng ý gia hạn dự án (Pha1) đến hết 31/3/2012

Mục tiêu của dự án là quản lý rừng bền vững (bao gồm cả rừng trồng)

và bảo tồn đa dạng sinh học rừng đặc dụng nhằm nâng cao khả năng đóng góp của ngành lâm nghiệp cho công cuộc xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường toàn cầu Mục tiêu này sẽ đạt được thông qua các hoạt động cải tiến điều kiện phát triển rừng bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học

Địa bàn triển khai dự án: Dự án được thực hiện ở bốn tỉnh miền Trung: Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam và Thừa Thiên Huế Dự kiến có khoảng 66.000 ha đất sẽ được sử dụng để trồng rừng nằm ở 120 xã của 21 huyện, trong đó có ít nhất 56.000 ha sẽ được các hộ gia đình trồng Dự án sẽ đầu tư vào 50 khu rừng đặc dụng trên toàn quốc

Tổng vốn đầu tư: 76,5 triệu USD, trong đó:

- Vốn vay từ Ngân hàng Thế giới: 39,6 triệu USD

- Vốn viện trợ của EC: 2 triệu USD

- Vốn viện trợ từ GEF: (chính phủ Phần Lan, Hà Lan): 19,6 triệu USD

- Vốn trong nước: 15,3 triệu USD

Trang 37

Hình 4.1 Bản đồ vùng dự án FSDP và khu vực nghiên cứu

Trang 38

Dự án gồm có bốn hợp phần sau đây:

Hợp phần 1: Phát triển Thể chế

Đây là một hợp phần sẽ thực hiện trên phạm vi toàn quốc Hợp phần sẽ: giúp xây dựng các khung hỗ trợ cho trồng rừng quy mô nhỏ và xây dựng cơ chế tài chính bền vững cho rừng đặc dụng thông qua các hoạt động xây dựng

và thực hiện chính sách; giúp đưa ra khung thể chế để hỗ trợ; và thực hiện các hoạt động phát triển thị trường Có ba tiểu hợp phần: (a) Kết hợp giữa thực thi chính sách ở thực địa và phát triển chính sách; b) Xây dựng các nhóm lâm nghiệp trang trại; c)Xúc tiến quá trình cấp chứng chỉ quản lý rừng trồng bền vững

Hợp phần 2: Rừng trồng quy mô nhỏ

Hợp phần này tiến hành xây dựng thí điểm các khu rừng trồng sản xuất quy mô nhỏ ở 4 tỉnh miền Trung Việt Nam Hợp phần này sẽ cấp tín dụng ưu đãi cho các chủ rừng quy mô nhỏ để trồng rừng sản xuất sử dụng một số mô hình trồng rừng và nông lâm kết hợp Khoản tín dụng này có thể được kết hợp với khoản hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ giao đất lâm nghiệp và tiến hành các hoạt động khuyến lâm hay dịch vụ kỹ thuật khác Hợp phần này cũng sẽ hỗ trợ tăng cường năng lực cho các Chi cục lâm nghiệp, các cơ quan tín dụng, các huyện và hộ gia đình để xây dựng, thực hiện và giám sát chương trình trồng rừng sản xuất trên cơ sở các khoản tín dụng được cấp cho các chủ rừng nhỏ

Sự tham gia và vay vốn tín dụng sẽ dưạ trên cơ sở tự nguyện Vốn tín dụng và các dịch vụ khác sẽ được cung cấp trên cơ sở nhu cầu thực tế Hợp phần này bao gồm 5 tiểu hợp phần: (i) Lựa chọn địa bàn có sự tham gia; (ii) Giao đất/cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; (iii) Cung cấp dịch vụ và khuyến lâm; (iv) Thiết kế và quản lý rừng trồng; và (v) Đầu tư trồng rừng

Trang 39

Hợp phần 3: Rừng đặc dụng

Hợp phần này sẽ nhằm cải thiện công tác bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên đa dạng sinh học của rừng đặc dụng và nâng cao độ tin cậy trong tài trợ vốn cho rừng đặc dụng thông qua việc thử nghiệm một cơ chế tài chính mới có tính sáng tạo ở cấp quốc gia tài trợ cho rừng đặc dụng Cơ chế tài chính này là một quỹ hỗ trợ cho các khu rừng đặc dụng nằm trong danh sách

ưu tiên các khoản tài trợ nhỏ theo nguyên tắc cạnh tranh để hỗ trợ cho các hoạt động liên quan tới bảo tồn ở thực địa Một cơ chế tài chính như vậy sẽ đáp ứng được nhu cầu cấp thiết để cải tiến việc quản lý và bảo vệ rừng đặc dụng then chốt Bằng cách cung cấp các nguồn tài chính nhỏ nhưng đáng tin cậy cho nhiều khu rừng đặc dụng trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam, quỹ bảo tồn có tác dụng tương hỗ cho các đầu tư quy mô lớn hiện nay của chính phủ và nhà tài trợ khác

Hợp phần này sẽ được thực hiện trên phạm vi cả nước và gồm hai tiểu hợp phần : (i) Thiết lập và Hoạt động của Quỹ Bảo tồn; (ii) Lập và Thực hiện

kế hoạch cho rừng đặc dụng

Hợp phần 4: Quản lý giám sát và đánh giá dự án

Hợp phần này sẽ bao gồm hai tiểu hợp phần: (a) Quản lý Dự án, b) Đánh giá và Giám sát

Trang 40

Giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền

sử dụng dất

Cung cấp dịch

vụ khuyến lâm

Thiết kế trồng rừng

Đầu tư trồng rừng

Kiểm tra, đánh giá

Thành lập Quỹ bảo tồn và đưa vào hoạt động

Quản lý Dự

án

Lập kế hoạch cho Rừng Đặc Rụng và thực hiện kế hoạch

Giám sát và đánh giá

Dự án

Ngày đăng: 28/09/2017, 11:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2: Số liệu kinh tế xã hội   của các xã nghiên cứu tại tỉnh Bình Định - Đánh giá nội bộ rừng trồng tiểu điền tại các tỉnh miền trung, tiến tới cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn FSC
Bảng 3.2 Số liệu kinh tế xã hội của các xã nghiên cứu tại tỉnh Bình Định (Trang 32)
Hình 4.1. Bản đồ vùng dự án FSDP và khu vực nghiên cứu - Đánh giá nội bộ rừng trồng tiểu điền tại các tỉnh miền trung, tiến tới cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn FSC
Hình 4.1. Bản đồ vùng dự án FSDP và khu vực nghiên cứu (Trang 37)
Sơ đồ 4.1. Tóm tắt các hợp phần Dự án - Đánh giá nội bộ rừng trồng tiểu điền tại các tỉnh miền trung, tiến tới cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn FSC
Sơ đồ 4.1. Tóm tắt các hợp phần Dự án (Trang 40)
Bảng 4.1. Kết quả giải ngân các nguồn vốn - Đánh giá nội bộ rừng trồng tiểu điền tại các tỉnh miền trung, tiến tới cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn FSC
Bảng 4.1. Kết quả giải ngân các nguồn vốn (Trang 43)
Bảng 4.3. Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng rừng - Đánh giá nội bộ rừng trồng tiểu điền tại các tỉnh miền trung, tiến tới cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn FSC
Bảng 4.3. Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng rừng (Trang 57)
Bảng 4.4. Tổng hợp số liê ̣u phỏng vấn - Đánh giá nội bộ rừng trồng tiểu điền tại các tỉnh miền trung, tiến tới cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn FSC
Bảng 4.4. Tổng hợp số liê ̣u phỏng vấn (Trang 59)
Bảng 4.5. Mức độ tuân thủ nguyên tắc FSC - Đánh giá nội bộ rừng trồng tiểu điền tại các tỉnh miền trung, tiến tới cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn FSC
Bảng 4.5. Mức độ tuân thủ nguyên tắc FSC (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w