Trong 2 module vừa qua – module Quản lý bệnh viện và module Kinh tế y tế có rất nhiều vấn đề được đặt ra, hầu hết đều là những vấn đề nổi bật, trọng yếu trong ngành y tế. Tuy nhiên với thời lượng nội dung cho phép của bài thu hoạch em xin được trình bày về vấn đề “Giải pháp nào cho thực trạng quá tải bệnh viện”. Một vấn đề khá nổi cộm và luôn được quan tâm chú ý những năm gần đây.Trong giới hạn bài viết em sẽ cố gắng nêu bật lên những vấn đề trọng điểm trong nội dung này dẫn chứng bằng cái bài báo cụ thể, phân tích từng trường hợp, tìm cách lý giải, tìm ra nguyên nhân vì sao như vậy. Có các yếu tố nào ảnh hưởng, tác động đến hay không? Nếu có thì những yếu tố nào có thể can thiệp được, khắc phục được để từ đó tìm ra và nêu lên ý kiến của bản thân em về giải pháp cho các vấn đề nêu trên.
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
KHOA Y
BÀI THU HOẠCH MODULE QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
VÀ MODULE KINH TẾ Y TẾ GIẢI PHÁP NÀO CHO THỰC TRẠNG QUÁ
TẢI BỆNH VIỆN
Tp HCM, 08/2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến các thầy, các cô trong
bộ môn Quản lý bệnh viện và bộ môn Kinh tế y tế Khoa Y - Đại học quốc gia TP.Hồ ChíMinh Tuy đều bận rộn với công việc của mình nhưng các thầy các cô vẫn cố gắng sắpxếp thời gian đến với chúng em, tận tình hướng dẫn chúng em trong từng buổi học Cácthầy, các cô không chỉ cung cấp kiến thức, những vấn đề mới nhất, tiến bộ nhất cả ở trongnước và quốc tế mà còn giúp chúng em nhìn nhận lại vấn đề Quản lý bệnh viện và Kinh tế
y tế nước ta hiện nay Tấm lòng nhiệt tình và tri thức quý báu ấy đã góp phần động viên,
cổ vũ ngọn lửa đam mê, tiếp thêm sức mạnh cho chúng em trên con đường học vấn bao
la
Với lòng biết ơn sâu sắc, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Thầy Nguyễn Thế Dũng,người chủ nhiệm bộ môn tận tình, người Thầy đã dìu dắt chúng em từ những ngày đầubước vào giảng đường đại học, người không tiếc thời gian, không ngại mưa gió, để đếnlớp giảng dạy, hướng dẫn chúng em từng chút một, từ những vấn đề nhỏ nhất cho đếnnhững vấn đề mang tầm vĩ mô Thầy cũng là người luôn rèn giũa, nhắc nhở chúng em đạođức con người, cái tâm của cuộc đời hành nghề y Lớp bác sĩ mới hôm nay, xuất sắc lànhờ ơn Thầy
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới đã tạođiều kiện, hỗ trợ cho chúng em nơi học tập
Cuối cùng em xin gửi lời cám ơn đến Ban Chủ nhiệm Khoa Y - Đại học quốc giaTP.Hồ Chí Minh và Ban điều phối module đã thiết kế chương trình, môn học này Bởi lẽnhững kiến thức chúng em thu thập được từ đây không chỉ đơn giản là lý thuyết suông màchúng còn là hành trang quý báu trong suốt cuộc đời hành nghề y của mình, với mục đíchcuối cùng là để nâng cao chất lượng y tế nói chung và hướng đến sự nghiệp chăm sóc sứckhỏe cho toàn xã hội phát triển bền vững
Với vốn kiến thức bản thân còn hạn chế và nhận thức chưa đạt đến độ sâu sắc nhấtđịnh, chắc chắn khó tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình làm bài thu hoạch này.Kính mong nhận được sự cảm thông cùng những ý kiến đóng góp quý báu từ các thầy, cáccô
Xin cảm ơn vì tất cả!
Bình Phước, ngày 01 tháng 08 năm 2017
ABC
Trang 4TÓM TẮT
Trong 2 module vừa qua – module Quản lý bệnh viện và module Kinh tế y tế có rấtnhiều vấn đề được đặt ra, hầu hết đều là những vấn đề nổi bật, trọng yếu trong ngành y tế.Tuy nhiên với thời lượng nội dung cho phép của bài thu hoạch em xin được trình bày vềvấn đề “Giải pháp nào cho thực trạng quá tải bệnh viện” Một vấn đề khá nổi cộm và luônđược quan tâm chú ý những năm gần đây
Trong giới hạn bài viết em sẽ cố gắng nêu bật lên những vấn đề trọng điểm trongnội dung này dẫn chứng bằng cái bài báo cụ thể, phân tích từng trường hợp, tìm cách lýgiải, tìm ra nguyên nhân vì sao như vậy Có các yếu tố nào ảnh hưởng, tác động đến haykhông? Nếu có thì những yếu tố nào có thể can thiệp được, khắc phục được để từ đó tìm
ra và nêu lên ý kiến của bản thân em về giải pháp cho các vấn đề nêu trên
Trang 53.1/ Thực trạng quá tải bệnh viện những năm gần đây 9
3.2/ Ảnh hưởng của tình trạng quá tải bệnh viện 11
Trang 6DANH SÁCH HÌNH ẢNH
Danh sách hình
Hình ảnh 01 Kết quả tìm kiếm qua website www.google.com với từ
khóa “quá tải bệnh viện”
3
Hình ảnh 02 Bệnh nhân nằm hành lang là chuyện thường thấy ở các
bệnh viện lớn
10
Hình ảnh 03 Phòng cấp cứu Khoa Huyết học và Sốt xuất huyết bệnh
viện Nhi Đồng 1 luôn chật kín, bệnh nhi phải nằm ghép giường
Trang 7DANH SÁCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT BHYT: Bảo hiểm y tế
Trang 8CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU
Như chúng ta đã biết, bệnh viện đóng một vai trò rất quan trọng, là nhân tố khôngthể thiếu trong hệ thống chăm sóc sức khỏe
Bệnh viện có rất nhiều chức năng nhiệm vụ có thể kể đến như: khám bệnh, chữabệnh; đào tạo đội ngũ cán bộ y tế; nghiên cứu khoa học; chỉ đạo tuyến; phòng bệnh;hợp tác quốc tế…Vậy trong các chức năng nhiệm vụ ấy thì chức năng nhiệm vụ nào làquan trọng hàng đầu? Câu trả lời có thể chưa đạt được sự đồng thuận chung nhưngchắc chắn rằng không ai có thể phủ nhận được việc khám chữa bệnh luôn chiếm tỷtrọng cao trong các công việc tại bệnh viện Bởi lẽ nhu cầu được chăm sóc sức khỏecủa người dân là nhu cầu cấp thiết hàng đầu hiện nay khi họ đến một cơ sở y tế bất kỳnói chung hay một bệnh viện nói riêng
Trong những năm qua, dưới sự Lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm chỉ đạo trực tiếpcủa Chính phủ, sự ủng hộ của các Bộ, Ban, Ngành, sự kết hợp của các địa phương, với
sự nỗ lực cố gắng vươn lên của đội ngũ các thày thuốc, các nhà khoa học, các nhà quản
lý trong ngành Y tế, công tác khám bệnh, chữa bệnh đã đạt được nhiều thành tựu quantrọng, đáng ghi nhận, như: cơ sở hạ tầng, trang thiết bị của mạng lưới bệnh viện đượcxây dựng, cải tạo, nâng cấp; khả năng tiếp cận của người dân với dịch vụ y tế thuận lợihơn; nhiều công nghệ, kỹ thuật y học mới ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực
và trên thế giới được triển khai, áp dụng thành công, một số kỹ thuật công nghệ y họccao như: ghép tạng (bao gồm ghép đa tạng, ghép tim, ghép gan, ghép thận ), mổ tim
hở và các kỹ thuật tim mạch can thiệp, ứng dụng tế bào gốc trong điều trị, ứng dụng kỹthuật sinh học phân tử (ADN) trong chẩn đoán và điều trị một số bệnh; các kỹ thuật nộisoi trong chẩn đoán và điều trị, các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh hiện đại, các phươngpháp điều trị ung thư tiên tiến,…
Các chính sách về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân ngày càngđược hoàn thiện, người bệnh nghèo, bệnh nhi dưới 6 tuổi, người bệnh trong diện chínhsách tiếp tục nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của Chính phủ nhiều hơn và được tiếp cậnvới các dịch vụ y tế có chất lượng thuận lợi hơn Hệ thống y tế tư nhân được khuyếnkhích và tạo điều kiện để phát triển, nhiều bệnh viện tư nhân đã ứng dụng các kỹ thuậtcao trong điều trị Bộ Y tế tiếp tục tăng cường công tác quản lý Nhà nước, đẩy mạnhcông tác chỉ đạo chuyên môn, kỹ thuật, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ khámbệnh, chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh
Tuy nhiên, cùng với những thành tựu đã đạt được, công tác khám bệnh, chữabệnh cũng còn nhiều tồn tại và không ít khó khăn, bất cập cần phải khắc phục Đặc biệt
là trong những năm gần đây tình trạng quá tải bệnh viện trở nên ngày càng trầm trọng,người bệnh điều trị nội trú phải nằm ghép đôi, thậm chí 3 đến 4 người trên một giườngbệnh ở nhiều bệnh viện tuyến trung ương, bệnh viện tuyến cuối của các thành phố lớn
Trang 9thuộc các chuyên khoa như: ung bướu, tim mạch, nhi, sản, chấn thương chỉnh hình.Tình trạng này đã gây khó khăn, bức xúc cho người bệnh, cán bộ y tế và xã hội và tácđộng tiêu cực tới chất lượng khám bệnh, chữa bệnh Việc giải quyết tình trạng quá tảinày đã trở thành mối quan tâm của toàn xã hội và là ưu tiên hàng đầu của ngành y tế.Vậy liệu có giải pháp nào cho ngành y tế thực trạng quá tải bệnh viện này?
Trang 10
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
2.1/ Khái niệm quá tải bệnh viện:
Tình trạng quá tải bệnh viện, mặc dù chưa có định nghĩa chính xác, nhưng quá tải bệnh viện được xem như là một hiện tượng quá đông người bệnh đến khám và/hoặc điều trị tại cùng một thời điểm, vượt quá khả năng đáp ứng và sức chứa của một bệnh viện hoặc khoa trong bệnh viện, vượt khả năng phục vụ dịch vụ của đội ngũ nhân viên
Quá tải bệnh viện được chứng minh là nguyên nhân dẫn tới: gia tăng tai biến trong điều trị, giảm chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh, chăm sóc người bệnh; gia tăng chi phí điềutrị cho người bệnh, bệnh viện và xã hội; gây những tổn hại về sức khỏe, tâm thần của bác
sĩ và nhân viên y tế
Hình ảnh 01: Kết quả tìm kiếm qua website www.google.com với từ khóa “quá tải
bệnh viện”.
Trang 11Trong đó, tình trạng quá đông người bệnh điều trị nội trú được xác định thông qua chỉ số đánh giá công suất sử dụng giườ1ing bệnh Công suất sử dụng giường bệnh là tỷ lệ phần trăm sử dụng giường bệnh so với kế hoạch được giao của một bệnh viện, một tuyến trong một năm xác định Tỷ lệ này được xác định bằng tỷ lệ phần trăm của tổng số ngày điều trịnội trú trong năm/ tích của tổng số giường bệnh của bệnh viện nhân với số ngày trong năm (365 ngày)
Để bảo đảm hiệu quả, chất lượng của dịch vụ trong hoạt động của hệ thống khám, chữa bệnh, Tổ chức y tế thế giới và nhiều bằng chứng khoa học khuyến cáo công suất sử dụng giường bệnh không nên vượt quá 85% Khi công suất sử dụng giường bệnh vượt quá ngưỡng trên, đặc biệt khi công suất vượt trên 95% sẽ thường xuyên xảy ra tình trạng không đủ giường bệnh để tiếp nhận thêm người bệnh, xuất hiện tình trạng quá tải về sức chứa của bệnh viện
Bộ Y tế xác định quá tải bệnh viện thông qua chỉ số công suất sử dụng giường bệnh đối với bệnh viện của Việt Nam như sau:
- Tình trạng ổn định khi công suất sử dụng giường bệnh: 85%-100%
- Tình trạng quá tải khi công suất sử dụng giường bệnh ≥ 120%
- Tình trạng quá tải khi công suất sử dụng giường bệnh ≥ 100%
- Tình trạng dưới tải khi công suất sử dụng giường bệnh < 85%
2.2/ Nguyên nhân quá tải bệnh viện:
Với mục tiêu “hạ nhiệt” tình trạng quá tải bệnh viện hiện nay, Bộ Y tế đã có nhiều nghiên cứu đánh giá để từ đó đưa ra các giải pháp cả về trước mắt lẫn lâu dài nhằm từng bước đẩy lùi và xóa bỏ tình trạng quá tải bệnh viện hiện nay Theo đó, Ban xây dựng Đề án giảm quá tải bệnh viện của Bộ Y tế đã phác thảo 5 nhóm nguyên nhân chính gây quá tải bệnh viện hiện nay gồm [1]:
1 Đầu tư cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng với nhu cầu và tốc độ phát triển dân số:
- Tỷ lệ số giường bệnh/1 vạn dân còn rất hạn chế, tính đến hết năm 2011 là 21,1 giường/1 vạn dân (không kể giường bệnh tuyến xã) Hiện đứng thứ 99 trên 142 nước theo số liệu thống kê năm 2009 của Tổ chức y tế thế giới Trong khi tỷ lệ trung bình của các nước trong khu vực Tây Thái Bình Dương là 47 giường/1 vạn dân, Hàn Quốc là 86 giường/1 vạn dân, Nhật Bản là 140 giường/1 vạn dân
- Số giường bệnh trong khoảng năm 2004-2010 tăng trung bình khoảng 10.000 giường bệnh tương ứng với khoảng 6% mỗi năm Tuy nhiên, mức tăng này vẫn không tương ứng và đáp ứng được tỷ lệ tăng của nhu cầu khám chữa bệnh và mức
độ gia tăng dân số cơ học hàng năm, đặc biệt ở các thành phố lớn
- Tỷ lệ chi cho y tế từ ngân sách Nhà nước còn thấp Trung bình giai đoạn
2006-2010 chi y tế chiếm từ 6,9-7,5% tổng chi ngân sách Nhà nước, đạt dưới 5% GDP, trong khi các nước phát triển tỷ lệ này là > 10% Tính trên đầu người đạt 31 USD, đứng thứ 138 trên tổng số 191 quốc gia theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới
1 Đề án giảm quá tải bệnh viện giai đoạn 2012-2020, Bộ Y tế, tháng 7-2012.
Trang 12năm 2009 Thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới, thấp hơn so với Trung quốc: 85 USD; Thái Lan: 127 USD và Malaysia: 151 USD.
- Đầu tư hạn chế, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị tại các bệnh viện tuyến dưới chưa đáp ứng được nhu cầu Bệnh viện tuyến tỉnh, gần như chưa có bệnh viện nào xây dựng được khoa, phòng hoàn chỉnh theo tiêu chuẩn quốc tế Bệnh viện tuyến huyện, nhìn chung mới đạt từ 30 – 50% số trang thiết bị so với danh mục trang thiết bị theo yêu cầu Trạm y tế xã, đặc biệt là ở khu vực Miền Núi chỉ có 25,9% số trạm được đánh giá là đủ trang thiết bị cơ bản5
- Dịch vụ khám chữa bệnh chưa đáp ứng nhu cầu khám bệnh và điều trị nội trú Hiệnnay cơ số giường bệnh mới chỉ đáp ứng được 80-85% nhu cầu điều trị nội trú của nhân dân
2 Năng lực về công tác khám chữa bệnh tuyến dưới còn nhiều hạn chế:
- Năng lực quản lý của cán bộ lãnh đạo bệnh viện còn chưa đồng bộ, chủ yếu là đội ngũ bác sĩ và chưa qua đào tạo về công tác quản lý, lãnh đạo
- Cán bộ y tế phân bổ không hợp lý giữa các tuyến, cán bộ có năng lực chuyên môn cao chủ yếu làm việc ở bệnh viện lớn và ở các thành phố lớn
- Trình độ chuyên môn của tuyến dưới đặc biệt là tuyến huyện còn nhiều hạn chế, nhiều cơ sở không đủ bác sĩ, đặc biệt thiếu các bác sĩ chuyên khoa và bác sĩ có trình độ tay nghề cao, nhân lực y tế nhìn chung chưa đáp ứng về số lượng và chất lượng
- Cán bộ được đào tạo có trình độ tay nghề cao không muốn về công tác tại tuyến dưới, hoặc từ tuyến dưới có xu hướng chuyển về làm việc tại các bệnh viện tuyến trên
- Bệnh viện tuyến tỉnh cũng còn nhiều hạn chế, đặc biệt là khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa Trung bình bệnh viện tuyến tỉnh còn từ 3,2%-24,1% tổng số dịch vụ
kỹ thuật chuyên môn theo quy định phân tuyến kỹ thuật chưa thực hiện được
- Bệnh viện tuyến huyện về cơ bản vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ các kỹ thuật theo quy định phân tuyến kỹ thuật, trung bình các bệnh viện huyện còn 27,9% (dao động từ 12,2%-31,5%) số dịch vụ kỹ thuật theo phân tuyến chưa được thực hiện, trong đó số kỹ thuật chưa thực hiện được thuộc lĩnh vực nội khoa, nhi khoa có tỷ lệcao hơn cả
- Trạm y tế xã đóng vai trò quan trọng trong công tác khám chữa bệnh, giải quyết khoảng 35% tổng số lượt khám bệnh Tuy nhiên, tình trạng thiếu trang thiết bị y tế
cơ bản xảy ra ở phần lớn các trạm y tế xã thuộc khu vực miền núi, chỉ 25,9% số trạm được đánh giá là đủ trạng thiết bị cơ bản theo danh mục quy định của Bộ Y tế;31,2% số trạm là thiếu trang thiết bị cơ bản theo yêu cầu6
- Bổ sung các hướng dẫn điều trị, quy trình kỹ thuật, phân tuyến kỹ thuật; thuốc bảo hiểm y tế chưa tương ứng với phân tuyến kỹ thuật; quy định chuyển tuyến từ tuyếndưới lên tuyến trên và tuyến trên xuống tuyến dưới chưa được cập nhật thường xuyên Trong bệnh viện, sắp xếp, bố trí khoa phòng nhiều nơi còn chưa hợp lý Phân hạng bệnh viện chưa hợp lý, chưa gắn với phân tuyến chuyên môn, kỹ thuật
Trang 13- Chưa có cơ chế giám sát và chế tài đối với các bệnh viện duy trì quá tải, hoặc không có giải pháp giảm tải
- Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện, trong quy trình khám chữa bệnh, chẩn đoán, điều trị, hẹn khám
3 Cơ chế tài chính và tác động không mong muốn của một số chính sách
- Cơ chế phân bổ ngân sách Nhà nước chưa khuyến khích phát triển chuyên môn bệnh viện và phần nào hạn chế trong việc tăng giường bệnh đặc biệt ở các tỉnh nghèo, khó khăn, do vẫn chủ yếu dựa vào các chỉ số mang tính hành chính như quy
mô giường bệnh và hạng bệnh viện mà chưa dựa vào chỉ số hoạt động bệnh viện
- Cơ chế giao quyền tự chủ và thu viện phí theo dịch vụ y tế trong bệnh viện, đã bộc
lộ một số mặt trái như tăng cung, kích cầu đối với dịch vụ khám chữa bệnh, gây nguy cơ lạm dụng xét nghiệm, dịch vụ kỹ thuật cao, kéo dài ngày điều trị7 Trong khi, bệnh viện lại hạn chế tuyển dụng lao động, tạo gánh nặng công việc lớn hơn cho cán bộ y tế
- Giá viện phí chậm thay đổi để phù hợp với giá thị trường, giá dịch vụ cùng một kỹ thuật thì tại bệnh viện các tuyến trung ương và các tuyến tỉnh, huyện không chênh lệch, hoặc chênh lệch không đáng kể, phần nào đã thúc đẩy việc tự vượt tuyến của người bệnh
- Chính sách bảo hiểm y tế không hợp lý, việc mở rộng quyền lợi của người được bảo hiểm y tế, được thanh toán viện phí cả khi tự ý vượt tuyến với tỷ lệ mức thanh toán 70% (lên tuyến huyện); 50% (lên tuyến tỉnh) và 30% (lên tuyến trung ương), cũng làm tăng nhu cầu điều trị dồn về bệnh viện tuyến trên
4 Tăng gánh nặng bệnh tật và nhu cầu khám chữa bệnh
- Bệnh lây nhiễm đã và đang được khống chế ổn định Tuy nhiên sự xuất hiện của một số bệnh dịch lây nhiễm (cúm A H1N1, cúm A H5N1, sốt xuất huyết Dangue, bệnh tay-chân-miệng ) trong những năm qua đã làm cho lượng bệnh tăng dồn dậptheo từng thời điểm nhất định Gây nên tình trạng quá tải trầm trọng ở các bệnh viện, chuyên khoa truyền nhiễm như bệnh viện Nhi trung ương, bệnh viện bệnh nhiệt đới Trung ương, bệnh viện Nhi đồng 1, bệnh viện Nhi đồng 2…
- Bệnh không lây nhiễm điển hình là bệnh lý tim mạch, đột quỵ, ung thư, đái tháo đường, bệnh phổi mạn tính gia tăng mạnh, từ 39% tổng số lượt điều trị năm 1986 tăng lên đến 50% năm 1996 và 66,3% năm 2009 Chỉ tính riêng bệnh ung thư, tỷ lệmắc mới so với 10 năm trước tăng khoảng 6% đối với nam và 35% đối với nữ Mỗi năm ước tính có khoảng 150.000 trường hợp ung thư mắc mới Bệnh không lây nhiễm chủ yếu là những bệnh mạn tính, cần sự chăm sóc và theo dõi lâu dài, nhưng công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu và quản lý bệnh mạn tính/ bệnh không lây nhiễm tại tuyến cơ sở còn hạn chế
- Nhu cầu sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tăng còn do sự gia tăng dân số cơ học, gia tăng tai nạn giao thông, thay đổi mô hình bệnh tật do sự biến đổi khí hậu, gánh nặng bệnh tật gia tăng và do sự gia tăng của tuổi thọ trung bình Mặt khác, độ bao phủ của Bảo hiểm y tế tăng trong thời gian qua từ 44,6% năm 2008 lên 63% năm
Trang 142011 đã xóa bớt rào cản tài chính, giúp người dân tiếp cận dễ dàng hơn với dịch vụ
y tế cũng là yếu tố tác động làm tăng nhu cầu khám chữa bệnh
5 Tâm lý lựa chọn dịch vụ khám chữa bệnh của người dân
- Đời sống của nhân dân được nâng cao, người dân có nhận thức cao hơn về nhu cầuchăm sóc sức khỏe, có xu hướng lựa chọn dịch vụ tốt nhất Đồng thời điều kiện giao thông đi lại, thông tin thuận tiện, người dân có xu hướng tìm nơi cung cấp dịch vụ có chất lượng tốt hơn 75% người bệnh đến khám tại các bệnh 15
- viện tuyến trên là người bệnh vượt tuyến, trong khi 56% số người bệnh đó là hoàn toàn có thể khám chữa bệnh tại tuyến dưới; 50% số người bệnh điều trị nội trú ở tuyến trên là người bệnh tự vượt tuyến
- Tâm lý của người bệnh luôn coi trọng uy tín, chuyên môn, kỹ thuật của tuyến trên; 50-80% người bệnh vượt tuyến ở các bệnh viện tuyến trên là do người bệnh tin tưởng vào uy tín của bệnh viện tuyến trên
- Người dân chưa quen với việc đặt lịch hẹn khám chữa bệnh
2.3/ Nghiên cứu về quá tải bệnh viện:
“Nghiên cứu thực trạng quá tải, dưới tải của hệ thống bệnh viện các tuyến và đề xuất giải pháp khắc phục” của các tác giả Lê Quang Cường, Lý Ngọc Kính, Khương Anh Tuấn,
Trần Thị Mai Oanh, Trịnh Ngọc Thành, Nguyễn Thị Minh Hiếu, Dương Huy Lương, Nguyễn Thị Thắng và cộng sự thuộc Cục Quản lý Khám chữa bệnh, Bộ Y tế được công
bố năm 2011 [2]
Nghiên cứu được thực hiện từ năm 2008-2009, điều tra thực tế tại 3 miền trên toàn quốc với 27 bệnh viện bao gồm 5 bệnh viện tuyến Trung ương, 10 bệnh viện tuyến tỉnh bao gồm cả bệnh viện đa khoa và chuyên khoa, 12 bệnh viện tuyến huyện ở 6 tỉnh/thành phố Tiêu chí đánh giá quá tải bệnh viện dựa vào chỉ số tỉ lệ sử dụng giường và số lượng bệnh nhân mà bác sĩ khám/ngày, trong đó tỉ lệ sử dụng giường > 85% được coi là quá tải và < 65% được coi là dưới tải
Kết quả nghiên cứu:
- Tình trạng quá tải tại các bệnh viện: Tình trạng quá tải là phổ biến tại hầu hết các bệnh viện ở các tuyến, đặc biệt quá tải trầm trọng ở tuyến trung ương và tuyến tỉnh
Tỉ lệ sử dụng giường thường xuyên trên 100% và dao động từ 120% đến 150%, thậm chí tới 200% ở một số bệnh viện lớn như bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện K vàbệnh viện Ung Bướu thành phố Hồ Chí Minh Tình trạng quá đông bệnh nhân xuất hiện cả ở khu vực phòng khám lẫn khu vực điều trị nội trú: 2-3 bệnh nhân nội trú/giường, 1 bác sĩ phòng khám phải khám 60-100 bệnh nhân/ngày là phổ biến.2
2 Nghiên cứu thực trạng quá tải, dưới tải của hệ thống bệnh viện các tuyến và đề xuất giải pháp khắc phục, Bộ Y tế, 2011.
Trang 15Nghiên cứu này cũng phác họa một số yếu tố được cho là nguyên nhân quá tải bệnh viện:
- Nhu cầu khám chữa bệnh của người dân ngày càng tăng trong khi chỉ tiêu giường bệnh thấp và tăng không tương xứng với nhu cầu khám chữa bệnh
- Chất lượng khám chữa bệnh tại tuyến dưới không đảm bảo dẫn tới mất lòng tin của bệnh nhân và sự thiếu tuân thủ quy định chuyển tuyến, chuyển tuyến ngược: 80% bệnh nhân đến khám chữa bệnh tại tuyến Trung ương là do họ tin tưởng vào dịch vụ
ở tuyến Trung ương; tỉ lệ bệnh nhân vượt tuyến ở bệnh viện tuyến Trung ương là 75%; 90% bệnh nhân khám chữa bệnh ở Khoa khám bệnh bệnh viện Nhi Trung ương có thể khám chữa bệnh tại tuyến dưới; 56% bệnh nhân nội trú ở bệnh viện Phụ sản là đẻ thường hoặc viêm nhiễm nội khoa có thể chữa tại tuyến dưới, thậm chí tại trạm y tế xã; 58% bệnh nhân ở bệnh viện tuyến tỉnh và 20,7% bệnh nhân ở bệnh viện tuyến huyện có thể xử lý tại cơ sở y tế tuyến dưới
Trang 16CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG
3.1/ Thực trạng quá tải bệnh viện những năm gần đây:
Tình trạng các bệnh viện công quá tải bệnh nhân diễn ra đã nhiều năm nay Nhiều người bệnh nằm ghép một giường là chuyện khá phổ biến và phải chấp nhận
“Thử hỏi các bác sĩ! Bắt các anh 4 người ngồi trên 1 giường bệnh có chịu được không ?!”
Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đã hỏi lãnh đạo bệnh viện K Tân Triều khi bà tận mắt chứng kiến 4 bệnh nhân nằm truyền trên 1 giường bệnh Bệnh viện K Tân Triều vốn là bệnh viện mới, được xây dựng trong lộ trình giảm tải cho bệnh viện K Hà Nội mà còn xảy ra tình trạng như thế, huống chi là những bệnh viện tuyến Trung ương khác.Báo điện tử Công Luận ngày 15-12-2016 có bài viết “Qúa tải bệnh viện: Căn bệnh vẫn trầm kha!” ghi nhận: Toàn bệnh viện Bạch Mai có 2300 giường bệnh thực kê nhưng thường xuyên có 4000 bệnh nhân điều trị nội trú, 6000 bệnh nhân khám ngoại trú/ngày Tại Viện Tim mạch Quốc gia, số bệnh nhân điều trị nội trú luôn gấp đôi số giường thực kê(525 bệnh nhân/278 giường bệnh), nghĩa là hầu như giường bệnh nào cũng phải nằm ghép Không riêng bệnh viện Bạch Mai, một số bệnh viện lớn trên địa bàn Hà Nội, tình trạng quá tải cũng diễn ra khá trầm trọng ở các bệnh viện như Phụ sản Trung ương, K Trung ương, Đặc biệt tại bệnh viện K Trung ương cơ sở 1, tình trạng nằm ghép 2-3 bệnhnhân/giường bệnh vẫn phổ biến ở hầu hết ở các khoa điều trị, xạ trị Tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh, tình trạng quá tải tại một số bệnh viện lớn như Chợ Rẫy, Ung bướu, Nhi đồng 1 còn diễn ra trầm trọng hơn
Trang 17Hình ảnh 02: Bệnh nhân nằm hành lang là chuyện thường thấy ở các bệnh viện lớn.
(Ảnh: Zing.vn)
Quá tải bệnh viện đã trở thành hiện tượng phổ biến, là tình trạng chung của tất cả các bệnh viện lớn, vào bất cứ thời điểm nào trong năm Vậy hãy thử tưởng tượng xem, một khi xảy ra tình huống khẩn cấp mà nhiều người phải nhập viện như có dịch bệnh xảy ra, công nhân ngộ độc thực phẩm, tai nạn liên hoàn, hay thảm họa thiên nhiên, thì chúng ta lấy đâu ra chỗ để khám chữa bệnh? Đó là tất cả các tình huống có thể xảy ra bất cứ lúc nào, thậm chí là đã xảy ra rất nhiều, nếu chúng ta không có một biện pháp triệt để, hiệu quả, thì chúng ta sẽ mãi chỉ là tạm bợ, được tới đâu hay tới đó khi đối mặt Lúc đó, quá tảibệnh viện sẽ như một quả bóng bay, bị bơm hơi quá mức chịu đựng, để rồi nổ tung
Dịch sốt xuất huyết bùng nổ hè năm nay 2017 ở Hà Nội đã trở thành tin nóng trên khắp các đài báo Báo điện tử Vietnamnet có nhiều bài viết như “Sốt xuất huyết: Nhà giàu cũng
bị từ chối nhập viện vì quá tải”, “Sốt xuất huyết 19 người chết: Trưng dụng hội trường, bác sĩ ngồi hành lang”, Tại bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương, mỗi ngày có tới 800-
1000 bệnh nhân sốt xuất huyết đến khám, nhưng số nhập viện chỉ chiếm 5-8% Để tránh quá tải, các bệnh viện quán triệt chỉ cho nhập viện những trường hợp nặng, nguy cơ sốc
Có nhiều bệnh nhân đi tới 4 bệnh viện nhưng đều bị từ chối nhập viện
Sốt xuất huyết leo thang như vậy đã khiến Hà Nội sắp dẫn đầu cả nước về số bệnh nhân mắc Theo thống kê của Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội, các năm trước, mỗi năm trung bình Hà Nội chỉ có từ 5000-6000 trường hợp mắc sốt xuất huyết, chỉ riêng năm 2009 là
16000 ca mắc và 4 ca tử vong, hay gần 15500 ca vào năm 2015 Năm nay chưa vào dịch