1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp góp phần hoàn thiện tổ chức quản lý của tổng công ty lâm nghiệp việt nam theo mô hình công ty mẹ công ty con

104 211 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở liên kết về vốn, một doanh nghiệp với tư cách là CTM thực hiện đầu tư về vốn ở mức độ chi phối để nắm quyền lãnh đạo và kiểm soát các CTC, do đó nắm quyền lãnh đạo và chi phối

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

PHAN THỊ THANH HẰNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA TỔNG CÔNG TY LÂM NGHIỆP VIỆT NAM

THEO MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 60.31.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN VĂN TUẤN

Hà Nội, 2011

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Qua hơn hai mươi năm hình thành và phát triển, các Tổng công ty trong

cả nước đã có những bước phát triển mạnh Đến nay, các Tổng công ty nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, nắm giữ một số ngành, lĩnh vực trọng yếu của đất nước như điện, than, xăng dầu, nông lâm nghiệp , cùng với quá trình đổi mới căn bản các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), các Tổng công ty cũng được đổi mới trên nhiều mặt: từ cơ chế quản lý đến mô hình tổ chức Bên cạnh đó, nhiều TCty không phát huy được vai trò của mình, hiệu quả kinh doanh thấp, chưa tương xứng với vốn đầu tư

và chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra của Nhà nước khi tiến hành chuyển đổi sắp xếp lại DNNN

Cũng như tình trạng chung của các TCty trong cả nước, các TCty thuộc

Bộ Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã trải qua quá trình hình thành, phát triển và đổi mới trên nhiều mặt Tính đến thời điểm 30/6/2010, Bộ NN & PTNT có 112 doanh nghiệp (DN); trong đó:

- Công ty độc lập trực thuộc Bộ có 5 DN,

- Số DN thành viên của 4 TCTy thành lập theo Quyết định 91: 68 DN;

- Số DN thành viên của 15 Tcty thành lập theo Quyết định 90: 39 DN Vốn nhà nước tại các doanh nghiệp này là 14.054,5 tỷ đồng tăng 186%

so với thời điểm 1/2/2001 Số lượng lao động là 107.207 người (giảm 23%); doanh thu: 24.885,7 tỷ đồng; lãi 2.905,1 tỷ đồng; nộp ngân sách 1.374.575 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu 20,7%, tăng 3 lần so với năm đầu thành lập vào 1995

Cơ cấu ngành nghề chính của các doanh nghiệp trong ngành NN & PTNT chủ yếu là sản xuất và chế biến các sản phẩm nông, lâm nghiệp, thủy hải sản…vv, kinh doanh XNK các mặt hàng lương thực, thực phẩm, nông sản, thủy sản, vật tư nông nghiệp, máy móc thiết bị, xây dựng hạ tầng kỹ thuật

Trang 3

cho nông nghiệp và PTNT và một số ngành dịch vụ khác, đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế chung cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Tuy nhiên, các TCty thuộc Bộ NN và PTNT hiện còn hạn chế trong mô hình tổ chức, cơ chế quản lý, năng lực và hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh (SX-KD) Hầu hết các TCty của Bộ được hình thành trên cơ sở sắp xếp lại các liên hiệp xí nghiệp, các tổng công ty kiểu cũ và các xí nghiệp quốc doanh trước những năm 1990 bằng phương pháp lắp ghép mang tính "cơ học", thông qua các quyết định hành chính

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9, khoá IX, 10 năm qua Bộ NN & PTNT đã tích cực đẩy mạnh tiến độ sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN thuộc Bộ, đến nay đã thu được những kết quả quan trọng Trong các giải pháp đổi mới các TCTy, việc chuyển sang hoạt động theo mô hình công

ty mẹ - công ty con (CTM - CTC) được chú trọng đặc biệt

Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam là DNNN hạng đặc biệt thuộc Bộ

NN và PTNT, được thành lập theo quyết định 90/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ ; trên cơ sở sắp xếp lại 10 TCty và liên hiệp trực thuộc Bộ Lâm nghiệp (cũ) Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam hiện đang quản lý và tham gia đầu tư trên 60 DN, đa số hoạt động trong các lĩnh vực của ngành lâm nghiệp Những năm gần đây Tổng công ty đã đạt được những thành tựu trong sản xuất kinh doanh (SXKD), đặc biệt trong 3 năm gần đây từ 2008 đến năm 2010 doanh

số và lợi nhuận của TCty tăng đều hàng năm đạt từ 20 đến trên 30%

Trong điều kiện hội nhập và phát triển, Tổng công ty đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tổ chức quản lý vừa linh hoạt, vừa đạt được hiệu quả kinh tế và nâng cao sức cạnh tranh trong các hoạt động kinh doanh Nhằm giải quyết được yêu cầu trên, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, của Bộ

NN và PTNT, trong năm 2009 TCTy đã chọn mô hình tổ chức quản lý của Vinafor và tiến hành sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con

Trang 4

làm giải pháp phù hợp với định hướng phát triển lâu dài của TCTy

Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên, việc nghiên cứu đề tài “Một

số giải pháp góp phần hoàn thiện tổ chức quản lý của Tổng công ty lâm nghiệp Việt nam theo mô hình công ty mẹ-công ty con.” là vấn đề có ý

nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở làm rõ thêm những vấn đề

lý luận cơ bản về mô hình và việc chuyển đổi hình thức tổ chức quản lý của Vinafor sang mô hình CTM-CTC; Qua đó đánh giá thực trạng đổi mới và sắp xếp ở Vinafor sau khi chuyển sang mô hình CTM-CTC để đề xuất các giải pháp phù hợp đem lại hiệu quả hơn trong SXKD

Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn đặt ra là:

- Làm rõ cơ sở lý luận về mô hình công ty mẹ - công ty con và việc chuyển đổi các TCTy nhà nước sang mô hình này, bao gồm từ khái niệm, nguyên tắc, điều kiện và các biện pháp chuyển đổi

- Đánh giá thực trạng mô hình TCTy nhà nước và tình hình hoạt động của Vinafor trước khi chuyển đổi, qua đó đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện việc đổi mới, chuyển đổi Vinafor theo mô hình CTM-CTC

3 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 phần, gồm:

Chương 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2 Mục tiêu, đối tượng, phương pháp và nội dung nghiên cứu

Chương 3 Kết quả nghiên cứu

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Để chuyển đổi một TCty là DNNN sang hoạt động theo mô hình CTM - CTC, cần làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề, từ khái niệm, nguyên tắc tổ chức - hoạt động, cơ chế vận hành và những điều kiện chuyển đổi sang mô hình CTM -CTC trong điều kiện kinh tế thị trường nước ta hiện nay

Mô hình Tổng công ty, liên hiệp các xí nghiệp xuất hiện từ lâu trong cả nước cũng như trong ngành NN và PTNT Các TCty được hình thành, phát triển mạnh và phát huy được vai trò ở mức độ nhất định trong nền kinh tế Đến nay, việc chuyển đổi các TCty sang mô hình CTM-CTC đã và đang được tiến hành trong phạm vi cả nước, ở một số bộ ngành, một số địa phương, một

số DNNN Các công trình nghiên cứu về vấn đề này dưới các hình thức chủ yếu như: báo cáo chuyên đề, Bài luận văn thạc sĩ kinh tế, bài viết đăng tạp chí, sách tham khảo Dưới đây là một số công trình tiêu biểu:

- Tổng công ty nhà nước hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty

con (tài liệu hội thảo) của Ban chỉ đạo và đổi mới phát triển doanh nghiệp

Trung ương năm 2003 - 2004

- Mô hình tập đoàn kinh tế công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tác giả Vũ

Huy Từ (2002), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

- Đánh giá tổng kết 10 năm thực hiện sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN, của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh

nghiệp nhà nước Bộ NN và PTNT, 2010 của Ông Hoàng Hữu Điệp

- Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế về “ Đổi mới, sắp xếp lại các Tổng

công ty của Bộ giao thông vận tải theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con” tháng 10 năm 2006 của học viên Trần Thị Hạnh

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã làm rõ được một số vấn đề lý

Trang 6

luận và thực tiễn như: lịch sử và cơ sở hình thành, các nguyên tắc xây dựng

mô hình, đánh giá thực trạng chuyển đổi (thử nghiệm) và hoạt động, rút ra một số bài học và đề xuất một số phương hướng đổi mới quy trình chuyển đổi TCty sang mô hình công ty mẹ - con

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về vấn đề này chưa nhiều Đặc biệt

là đối với các TCty thuộc Bộ NN và PTNT, hiện chưa có công trình nghiên cứu hoàn chỉnh về vấn đề đổi mới, sắp xếp lại các tổng công ty theo mô hình công ty mẹ - công ty con một cách cơ bản, hệ thống

Do vậy, nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp góp phần hoàn thiện tổ chức quản lý của Tổng công ty lâm nghiệp Việt nam theo mô hình công ty mẹ - Công

ty con.” không trùng lặp với các công trình và các đề tài đã nghiên cứu

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn chuyển đổi các Tổng công ty Nhà nước sang mô hình CTM – CTC

1.2.1 Cơ sở lý luận về mô hình doanh nghiệp CTM-CTC

1.2.1.1 Khái niệm mô hình doanh nghiệp CTM – CTC

Mô hình CTM - CTC là một loại hình tập đoàn kinh tế (TĐKT) trong đó

liên kết về vốn là mối liên kết chủ đạo Trên cơ sở liên kết về vốn, một doanh nghiệp với tư cách là CTM thực hiện đầu tư về vốn ở mức độ chi phối để nắm quyền lãnh đạo và kiểm soát các CTC, do đó nắm quyền lãnh đạo và chi phối

cả tập đoàn về vốn, lao động, công nghệ, chiến lược phát triển…

Lịch sử hình thành mô hình CTM - CTC trên thế giới xuất phát từ việc các công ty lớn bỏ vốn thành lập các CTC để thực hiện các dự án có độ rủi ro cao hay thâm nhập thị trường mới, mở rộng hoạt động sang ngành lĩnh vực mới hoặc tạo sức ép và động lực cạnh tranh trong nội bộ Công ty lớn có quyền chi phối các CTC với vai trò là chủ sở hữu và trở thành CTM

Sở dĩ các TCty được hình thành và hoạt động theo mô hình CTM – CTC đều có sức sống mãnh liệt và phát triển không ngừng là do bốn nguyên nhân chính:

Trang 7

Thứ nhất: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ

của lực lượng sản xuất

Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dưới tác động của tiến bộ khoa học và công nghệ và liên kết quốc tế đã dẫn đến sự phát triển sâu rộng của phân công lao động xã hội, đến quy mô sản xuất và tiêu thụ; SXKD không còn mang tính chất manh mún, rời rạc và sở hữu không còn là sở hữu

cá thể mà di sâu vào xã hội hóa, vào hợp tác, phân công và sở hữu hỗn hợp TCty với tư cách là một loại hình tổ chức kinh doanh, tổ chức liên kết kinh tế, là hình thức biểu hiện của quy luật sản xuất cần phải ra đời để đáp ứng nhu cầu và thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất

Thứ hai: Quy luật tích tụ và tập trung vốn, sản phẩm

Mỗi loại DN trong cơ chế thị trường là một tế bào của nền kinh tế Để tồn tại, phát triển trong quy luật cạnh tranh đòi hỏi DN phải tái sản xuất mở rộng không ngừng, đó là quá trình tích tụ, tập trung vốn vào sản xuất Trong quá trình này DN phải tích lũy vốn từ lợi nhuận đem lại và tăng thêm từ nguồn vốn khác (đi vay, liên doanh, liên kết, gọi vốn cổ phần vv) Do đó, vốn và khả năng sản xuất liên kết tạo nên sức mạnh mới trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được nâng lên Trong quá trình vận động kinh doanh như vậy TCty là CTM sẽ được ra đời và phát triển

Thứ ba: Quy luật cạnh tranh, liên kết và tối đa hóa lợi nhuận

Quá trình cạnh tranh giữa các DN trong cơ chế thị trường đã dẫn đến hai

xu hướng chính: Các DN chiến thắng trong cạnh tranh sẽ thôn tính sát nhập các DN bị đánh bại, do vậy trình độ tập trung hóa sản xuất và vốn được nâng lên Nếu cạnh tranh qua nhiều năm mà vẫn không phân thắng bại thì trong số các DN đó sẽ có sự liên kết nhằm tăng khả năng cạnh tranh hơn nữa

Thứ 4: Tiến bộ khoa học công nghệ, thị trường

Yếu tố quyết định cho các DN thắng lợi trong cạnh tranh và đạt lợi nhuận cao là việc nghiên cứu và áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ và

Trang 8

khả năng chiếm lĩnh thị trường Muốn đổi mới công nghệ cần phải có nhiều vốn, tiến hành trong thời gian nhiều năm nhưng độ rủi ro rất cao và phải có lực lượng cán bộ khoa học và công nghệ đủ mạnh Một DN nhỏ, manh mún, biệt lập không đủ sức làm được việc nêu trên, điều này đòi hỏi phải có doanh nghiệp lớn và TCty mẹ sẽ là loại hình tiêu biểu, phù hợp và cần thiết

Mô hình CTM-CTC là mô hình tổ chức SXKD được thực hiện bởi sự liên kết nhiều pháp nhân DN độc lập, hoạt động trong một hoặc nhiều lĩnh vực để tạo thế mạnh chung Tổ chức của mô hình này theo cơ cấu của “tập đoàn cứng” khá phổ biến như ở nhiều nước trên thế giới CTM trở thành công

ty chủ (Holding Company), xét theo khía cạnh sở hữu vốn và đóng vai trò

“trục kinh doanh”

CTM hiểu theo nghĩa chung nhất là công ty có quyền kiểm soát các công

ty khác, làm chủ sở hữu một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ hoặc có vốn đầu

tư, vốn cố phần ở các công ty khác đủ để chi phối các quyết định quan trọng đối với các công ty khác đó

CTM có tư cách pháp nhân, có tài sản riêng CTM có thể trực tiếp sản xuất

và kinh doanh; nhưng cũng có loại CTM không trực tiếp sản xuất, kinh doanh

mà chỉ giữ chức năng quản lý chung, nghiên cứu, phát triển, định ra chiến lược kinh doanh, kiểm toán …; còn các chức năng trực tiếp như sản xuất, tiêu thụ, vận chuyển được chuyển giao cho các CTC Hiện nay, CTM - CTC được hiểu

là một mô hình liên kết và chi phối lẫn nhau bằng đầu tư, góp vốn, bí quyết công nghệ, thương hiệu hoặc thị trường giữa các công ty có tư cách pháp nhân, trong

đó có một công ty giữ phần chí phối các công ty thành viên khác - được gọi là CTM và các công ty khác bị CTM chi phối - gọi là CTC

Như vậy, mô hình DN CTM - CTC gồm ba yếu tố cơ bản: CTM, CTC và

sự liên kết giữa CTM và các CTC Trong đó, CTM và CTC đều là những pháp nhân kinh tế độc lập hoàn toàn về mặt pháp lý Yếu tố then chốt trong

mô hình CTM - CTC là các mối quan hệ về vốn, về quyền, nghĩa vụ và lợi ích

Trang 9

giữa CTM và CTC được xác định rõ ràng trên cơ sở vốn đầu tư

CTC cũng là một pháp nhân độc lập do CTM đầu tư toàn bộ vốn điều lệ hoặc nắm giữ một số cổ phần đủ để chi phối các quyết định quan trọng của các CTC này CTC có tài sản riêng, có tên gọi, con dấu riêng và độc lập với CTM về quyền và nghĩa vụ trước pháp luật CTC có thể được tổ chức theo loại hình DN khác nhau như công ty TNHH, công ty CP, công ty liên doanh, CTC có quyền chủ động bố trí tổ chức, tiến hành hoạt động kinh doanh, quyết định chiến lược kinh doanh và các quyền, nghĩa vụ theo luật định đối với loại hình DN theo đăng ký kinh doanh

Ngoài ra, tuy CTM và các CTC đều là những pháp nhân có quyền và nghĩa

vụ độc lập, nhưng tổ hợp CTM - CTC lại không có tư cách pháp nhân Điều này cũng phù hợp với những quy định pháp luật của Việt Nam Theo Nghị định 153/2004/NĐ-CP của Chính phủ thì tổ hợp CTM và các CTC không có tư cách pháp nhân

Các TCT đã và đang giữ một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của nhiều nước cũng như trong nền kinh tế toàn cầu Việc chuyển các TCty Nhà nước theo mô hình CTM - CTC có ý nghĩa trên các mặt chủ yếu sau:

Làm tăng sức mạnh kinh tế và khả năng cạnh tranh của cả TCty mẹ cũng

như từng công ty thành viên TCty mẹ cho phép các nhà kinh doanh huy động được nguồn lực vật chất, con người và nguồn vốn to lớn trong xã hội vào quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra sự hỗ trợ trong việc cải tổ cơ cấu sản xuất, hình thành những công ty hiện đại có quy mô và tiềm lực kinh tế lớn Việc hình thành các TCty mẹ mạnh cho phép hạn chế đến mức tối đa sự cạnh tranh giữa các công ty thành viên, mặt khác nhờ mối liên hệ chặt chẽ giữa các công

ty sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thống nhất phương hướng chiến lược phát triển kinh doanh, đồng thời chống lại cạnh tranh của các ngành nghề chính khác trong nền kinh tế

Đối với các nước đang tiến hành công nghiệp hóa như nước ta, TCty có

Trang 10

ý nghĩa hết sức to lớn Là giải pháp chiến lược để bảo vệ sản xuất trong nước, chống lại sự thâm nhập của các công ty khổng lồ trên thế giới Với sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và những định hướng chiến lược đúng đắn, các TCty nhà nước ở các nước công nghiệp mới có thể vươn ra và không ngừng mở rộng thị trường trên thế giới, kể cả thị trường các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp …Thể hiện trong việc:

* Tập trung điều hòa vốn

Thành lập TCty mẹ nhà nước là một đòi hỏi thực tế và khách quan nhằm khắc phục khả năng hạn chế về vốn của từng công ty riêng biệt Nguồn vốn của CTM được huy động từ các công ty con và được tập trung đầu tư vào những công ty, những dự án có hiệu quả nhất, khắc phục tình trạng vốn bị phân tán trong từng công ty nhỏ

Với nguồn vốn được tập trung sẽ làm cơ sở cho việc thành lập các Holding Company Thực chất các Holding Company không phải là ngân hàng

vì nó không nhận tiền gửi của công chúng nhưng holding Company huy động vốn từ các công ty thành viên để điều hòa vốn đầu tư vào nhũng lĩnh vực cần phát triển, các công ty thành viên sẽ được chia lãi theo cổ phần mà nó đóng góp Holding company còn có thể huy động nguồn vốn bằng cách vay từ các công ty thành viên với lãi suất thỏa thuận

Do có việc huy động vốn giữa các công ty với nhau, vốn của công ty này được huy động vào công ty khác và ngược lại đã giúp cho các công ty liên kết với nhau chặt chẽ hơn, quan tâm tới hiệu quả hơn từ đó mà phát huy được hiệu quả nguồn vốn của công ty và cả TCty

Thành lập TCty mẹ là giải pháp hữu hiệu cho việc tích cực đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai ứng dụng khoa học công nghệ mới vào SXKD của các công ty thành viên Bởi vì:

Hoạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ mới đòi hỏi khối lượng vốn rất lớn mà mỗi công ty riêng rẽ không có khả năng huy động được

Trang 11

tập trung điều hòa sẽ có tác động tích cực trong việc tao điều kiện triển khai, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất

Các đề tài nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ lớn đòi hỏi phải có

sự hợp tác của đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học và các phòng thí nghiệm, các thiết bị nghiên cứu khác Chỉ có trên cơ sở liên kết các công ty mới tạo được tiềm năng nghiên cứu khoa học to lớn đó

TCty mẹ có tác dụng to lớn trong việc cung cấp trao đổi thông tin và những kinh nghiệm quan trọng trong việc tổ chức nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ giữa các công ty thành viên

Sự hợp tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong toàn TCty cho phép các công ty thành viên có khả năng đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào thực tiễn trên quy mô rộng lớn, nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu ứng dụng và thu hồi vốn nhanh, giảm được các tác động xấu do hao mòn vô tình gây ra

TCty với hình thức là các công ty đa quốc gia có ý nghĩa rất lớn, được coi như là một giải pháp quan trọng giúp các nước công nghiệp hóa đi sau thực hiện chiến lược chuyển giao công nghệ nước ngoài một cách hiệu quả nhất Tránh việc nhập cùng một loại công nghệ trùng lặp trong nhiều công ty thành viên, nhờ

đó mà cơ cấu nhập công nghệ trong tập đoàn đa dạng, hợp lý, có hiệu qủa hơn và khắc phục được tình trạng công nghệ nhập bị nước ngoài áp giá cao

Các thông tin và kinh nghiệm trong chuyển giao công nghệ từ các công

ty thành viên được phổ biến rộng rãi trong tập đoàn, do đó tránh được những sai lầm do thiếu hiểu biết cơ bản trong chuyển giao công nghệ nước ngoài Sự phối hợp thống nhất giữa các công ty thành viên trong thực hiện chiến lược công nghệ chung thông qua sự chỉ đạo của một trung tâm thống nhất, tạo điều kiện cho việc lựa chọn khâu quan trọng có ý nghĩa đột phá trong chuyển giao công nghệ với chi phí thấp nhất, giảm lãng phí về vốn, tập trung được nguồn lực vào thực hiện những mục tiêu chiến lược có lợi cho tất cả các công ty

Trang 12

thành viên và cả TCty

1.2.1.2 Các loại hình doanh nghiệp CTM – CTC trên thế giới và ở Việt nam

- Các loại hình DN CTM – CTC trên thế giới

Trên thế giới mô hình tổ chức của TĐKT hoạt động theo mô hình CTM – CTC không giống nhau và mang tên gọi khác nhau: Consortium, Combine Holding Company, Cartel, Incorporation … Tuy vậy, các TĐKT có chung các đặc điểm sau:

- Có quy mô rất lớn về vốn, lao động, doanh thu và thị trường Nhiều TĐKT có phạm vi hoạt động, có chi nhánh hoạt động trên nhiều quốc gia

- TĐKT là tổ chức các công ty gồm “công ty mẹ” và các “công ty con, cháu” phần lớn mang họ (thương hiệu) của “công ty mẹ” CTM sở hữu vốn cổ phần trong các công ty con, cháu Nó chi phối các công ty con, cháu về mặt tài chính và chiến lược phát triển Do vậy, sở hữu vốn trong TĐKT là sở hữu hỗn hợp (nhiều chủ) nhưng có một chủ (công ty mẹ) đóng vai trò khống chế chi phối về vốn

- TĐKT hoạt động kinh doanh chuyên ngành hoặc đa ngành, đa lĩnh vực Mỗi TĐKT đều có định hướng ngành chủ đạo, lĩnh vực kinh doanh đặc thù, mũi nhọn TĐKT tiến hành hoạt động và quản lý tập trung một số mặt như: huy động, điều hòa, quản lý vốn, nghiên cứu triển khai, đào tạo, xây dựng chiến lược phát triển, chiến lược thị trường, chiến lược sản phẩm, chiến lược đầu tư

Như vậy TĐKT làm cả hai chức năng cơ bản là kinh doanh như một doanh nghiệp và liên kết kinh tế

- Các loại mô hình DN CTM – CTC ở Việt nam:

Hiện nay ở Việt Nam có nhiều loại hình TCty khác nhau đang hoạt động trong nhiều ngành kinh tế khác nhau Tuy nhiên, nếu căn cứ vào phương thức hình thành và các nguyên tắc tổ chức của các TCty có thể khái quát hóa thành

ba loại hình tổ chức sau:

+ TCty được thành lập theo nguyên tắc kết hợp chặt chẽ trong một tổ

Trang 13

chức kinh tế (hay còn gọi là các TCty “cứng”) trong các TCty này, các công

ty thành viên kết hợp trong một tổ chức thống nhất và mất tính độc lập về tài chính, sản xuất và thương mại Những tập đoàn này được cấu tạo dưới dạng

đa sở hữu theo kiểu công ty cổ phần với sự góp vốn của nhiều chủ sở hữu khác nhau

+ TCty được hình thành theo nguyên tắc: “liên kết kinh tế” Thông qua những thỏa ước và hợp đồng hợp tác sản xuất kinh doanh, hợp đồng kinh tế các công ty thành viên ký kết hợp đồng thỏa thuận với nhau về nguyên tắc chung trong hợp đồng sản xuất kinh doanh như xác định quy mô sản xuất, hợp tác nghiên cứu và trao đổi bằng phát minh sáng chế kỹ thuật, quy định giá

cả, thị trường tiêu thụ … Về tổ chức thường có ban quản trị chung điều hành các hoạt động phối hợp của tập đoàn theo một đường lối chung thống nhất nhưng các công ty thành viên vẫn giữ tính độc lập về tổ chức sản xuất và thương mại của mình

+ TCty được hình thành trên cơ sở xác lập sự thống nhất về tài chính và kiểm soát tài chính Các công ty thành viên ký kết các hiệp định về tài chính hình thành một công ty tài chính chung Công ty này là “công ty mẹ” Trong TCty không chỉ còn thống nhất hạn chế các hoạt động mà lúc này đã mở rộng ra nhiều lĩnh vực từ tài chính đến các hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ vv

Hiện nay, việc liên kết, chi phối giữa CTM với CTC rất đa dạng theo nhiều phương thức khác nhau Trên thực tế, có một số hình thức liên kết như:

Trang 14

cung ứng, tiêu thụ, biến chúng thành những doanh nghiệp cấp dưới trực tiếp (CTC) Những CTC này vẫn bảo lưu tư cách pháp nhân của mình, tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh một cách độc lập tương đối

- Liên kết theo dây chuyền sản xuất - kinh doanh:

Mô hình liên kết này thường áp dụng đối với những sản phẩm có cơ cấu nhiều cấp Trong đó CTM có tiềm năng rất lớn, thực hiện các chức năng trung tâm như xây dựng chiến lược, nghiên cứu phát triển, huy động và phân bổ vốn đầu tư, đào tạo nhân lực, lắp ráp những sản phẩm nổi tiếng độc đáo, phát triển mối quan hệ đối ngoại Trong trường hợp này CTM có hai chức năng: vừa đầu tư kinh doanh vốn vừa tự mình sản xuất kinh doanh CTM kiểm soát một mạng lưới các CTC Sự phối hợp và kiểm soát hoạt động đối với các CTC theo mô hình liên kết này đòi hỏi rất chặt chẽ, được thực hiện thông qua các

kế hoạch chiến lược đồng bộ từ trên xuống dưới, tham gia cổ phần, trợ giúp

về kỹ thuật, tài chính và cán bộ, hệ thống hợp đồng nhận thầu

- Liên kết nghiên cứu khoa học với sản xuất - kinh doanh:

Theo mô hình liên kết này, CTM thường là các trung tâm nghiên cứu khoa học, lấy liên kết phát triển công nghệ mới làm đầu mối liên kết Các CTC là các đơn vị sản xuất - kinh doanh có nhiệm vụ ứng dụng nhanh kết quả nghiên cứu các công nghệ mới của CTM để biến các kết quả nghiên cứu thành lực lượng sản xuất, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của các CTC Mặc dù sự chi phối của CTM đối với các CTC được phân chia theo các

mô hình liên kết nêu trên, nhưng suy cho cùng đều là sự chi phối bằng yếu tố tài sản, trong đó bao gồm cả tài sản vô hình, có thể định giá được như: Quyền

sở hữu công nghiệp, uy tín, thị trường, phát minh khoa học, nhãn hiệu hàng hoá và trong quá trình hoạt động, việc sử dụng những tài sản vô hình này có tác dụng tích cực trong việc bổ sung, điều chỉnh mối liên kết, chi phối của CTM đối với các CTC

1.2.1.3 Ưu thế của mô hình doanh nghiệp CTM-CTC

Sở dĩ, mô hình CTM – CTC được áp dụng phổ biến ở các nước trên thế

Trang 15

giới và được chủ trương xây dựng và phát triển ở Việt Nam vì mô hình CTM

- CTC có một số ưu thế hơn so với mô hình TCty hiện nay Các ưu thế này xuất phát từ cấu trúc và bản chất của mô hình này Các ưu thế chủ yếu của mô hình này gồm:

Thứ nhất, yếu tố quyết định để kiểm soát một DN là quyền sở hữu tư liệu

sản xuất của DN đó, quyền sở hữu này biểu hiện thành quyền sở hữu về vốn Nếu CTM không có quyền sở hữu về vốn thì không thể kiểm soát tài chính dẫn đến không thể quản lý được các DN thành viên Do đó thông qua việc nắm quyền sở hữu vốn cổ phần của các CTC, CTM có thể kiểm soát từng đơn vị thành viên và toàn bộ tập đoàn Đa dạng hoá sở hữu là một ưu thế của mô hình CTM - CTC Khác với các TCty nhà nước hiện nay, sở hữu chủ yếu thuộc nhà nước và trong một số trường hợp trở thành vô chủ vì quyền sở hữu của Nhà nước không được thực hiện đúng, CTM - CTC thuộc sở hữu của cả nhà nước,

tổ chức, cá nhân cả trong nước và ngoài nước Tính đa dạng sở hữu không chỉ tăng khả năng huy động vốn và tăng tính kiểm soát đối với doanh nghiệp và do

đó là động lực và tăng tính hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Thứ hai, về mặt lợi ích, cơ chế kiểm soát hoạt động kinh doanh trong tập

đoàn thông qua kiểm soát về vốn là phương thức có hiệu quả và chắc chắn nhất Nếu so sánh với kiểm soát bằng hành chính thì rõ ràng sự kiểm soát thông qua quyền sở hữu vốn có tính bền vững và ưu việt hơn Hơn nữa, qua kinh nghiệm của các tập đoàn đa quốc gia cho thấy: cấu trúc CTM – CTC tạo

ra sự linh hoạt để điều chỉnh quy mô của tập đoàn, phù hợp với điều kiện thị trường và cạnh tranh trrong từng thời kỳ

Thứ ba, Phát triển được lợi thế kinh doanh đa nghề trên nhiều địa bàn

cũng là một lợi thế quan trọng Một trong những mục đích khi thành lập CTM

- CTC là mở rộng ngành, lĩnh vực, địa bàn, thị trường Do đó, việc kinh doanh đa ngành, lĩnh vực, khu vực vừa mở rộng quy mô và địa bàn, vừa chia sẻ bớt rủi ro và tăng hiệu quả kinh doanh của DN nói chung và CTM, CTC nói riêng

Trang 16

Thứ tư: khắc phục tình trạng không rõ ràng về pháp nhân của các TCT

hiện nay bằng việc tách bạch rõ tư cách pháp nhân của CTM và các CTC, quan hệ giữa CTM và các CTC là quan hệ của các pháp nhân độc lập Các đơn vị thành viên của TCT khi chuyển thành CTC sẽ có các quyền, trách nhiệm và lợi ích rõ ràng đối với vốn, tài sản cũng như quan hệ với các đối tác trên thị trường - Tạo động lực kinh tế mạnh mẽ cho cả CTM và CTC dựa trên lợi ích kinh tế rõ ràng của các bên tham gia liên kết Do các CTC có quyền và nghĩa vụ độc lập với CTM, tự chủ và tự chịu trách nhiệm cao nên phát huy được tính năng động, sáng tạo của CTC, hạn chế tối đa sự dựa dẫm, ỉ lại như nhiều thành viên trong các TCty hiện nay Đồng thời, hạn chế được những quyết định phi kinh tế của CTM, vì trong trường hợp can thiệp không đúng chức năng và thẩm quyền, CTM phải liên đới chịu trách nhiệm về vật chất

Thứ năm, nâng cao tính chặt chẽ trong liên kết và phát huy quyền tự chủ

cho các DN Khi chuyển sang mô hình CTM – CTC, quan hệ giữa CTM – CTC trở thành quan hệ của một DN đầu tư với một DN tiêp nhận đầu tư, và vì vậy vừa tạo cho các đơn vị thành viên các động lực cần thiết trong kinh doanh, vừa đảm bảo được sự chi phối của CTM Sự thay đổi cơ bản này sẽ tạo điều kiện nâng cao quyền tự chủ của các DN khi chuyển sang mô hình CTM – CTC vì bản thân họ là các pháp nhân độc lập, có các quyền và nghĩa vụ bình đẳng với CTM, chỉ quan hệ với CTM với tư cách là người được đầu tư vốn

Thứ sáu:, chuyển đổi sang mô hình CTM – CTC có tác dụng thúc đẩy

cải cách và chuyển đổi cơ cấu khu vực DNNN, bởi vì để đạt được mục tiêu hình thành CTC có pháp nhân độc lập từ các đơn vị thành viên đòi hỏi phải tổ chức lại những đơn vị này thành các công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty liên doanh Điều này đồng nghĩa với việc thúc đẩy cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu, chuyển đổi các đơn vị thành viên thành công ty TNHH một thành viên - điều mà trước đây các TCT không mấy mặn mà

Thứ bẩy, Việt Nam đang trong hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế khu

vực và thế giới, đặc biệt là việc vừa gia nhập tổ chức thương mại lớn nhất

Trang 17

toàn cầu WTO Quá trình này đồng nghĩa với việc Việt Nam phải mở cửa thị trường trong nước, chấp nhận sự cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài.Việc chuyển đổi hoạt động của các TCT nhà nước sang mô hình CTM – CTC, từng bước hình thành một số Tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các TCty nhà nước là bước đi phù hợp nhằm tăng cường tiềm lực, khả năng cạnh tranh của các DN trong nước, phát huy vai trò chủ đạo, định hướng của thành phần kinh tế nhà nước, sẵn sàng cạnh tranh và từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và nền kinh tế thế giới

Ngoài những ưu điểm đã nêu, việc chuyển đổi mô hình TCT sang hoạt động theo mô hình CTM – CTC còn nhằm mục tiêu tổ chức lại TCT theo hướng chuyên môn hóa, hợp tác hóa trong sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện

để bộ máy quản lý tập trung vào các vấn đề mang tính chiến lược, vấn đề quan trọng của toàn tổ hợp liên kết Đây cũng là cơ hội để TCT phát triển thành tập đoàn kinh doanh thông qua chuyên môn hóa, hợp tác hóa, dựa trên trục liên kết bằng tài chính giữa CTM – CTC

1.2.1.4 Cơ cấu tổ chức quản lý của mô hình DN CTM - CTC

Cơ cấu tổ chức và cơ chế tác động giữa CTM và CTC phụ thuộc vào vị thế và vai trò của CTM đối với CTC, cụ thể là phụ thuộc vào tỷ lệ vốn tài chính và phi tài chính mà CTM nắm giữ trong các CTC Về cơ bản, đó là mối quan hệ kinh tế thông qua quyền về tài sản (hữu hình và vô hình) Mối quan

hệ và cơ chế tác động qua các hình thức quan hệ cụ thể như sau:

- CTM nắm 100% vốn của CTC: các CTC được thành lập hoàn toàn bằng

nguồn vốn của CTM nhằm thực hiện một mảng kinh doanh theo định hướng của CTM Trong trường hợp này, tuy CTC là pháp nhân độc lập nhưng bị CTM chi phối thông qua việc thực hiện quyền của chủ sở hữu CTM chi phối trực tiếp thông qua việc thực hiện hầu hết các vấn đề quan trọng về tổ chức, nhân sự, đầu tư, tài chính đối với CTC như: quyết định cơ cấu tổ chức quản lý, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật các chức danh quản lý chủ yếu; quyết định điều chỉnh vốn điều lệ; phê duyệt phương án đầu tư; quyết định nội dung, sửa đổi, bổ sung điều lệ

Trang 18

công ty; tổ chức giám sát, theo dõi, đánh giá hoạt động kinh doanh; thông qua báo cáo tài chính hàng năm, phương án sử dụng và phân chia lợi nhuận

Với cấu trúc và cơ chế vận hành như vậy cho phép CTM phối hợp giữa các CTC và đạt được lợi thế về qui mô (ví dụ như đàm phán tập trung giá hàng hoá và dịch vụ) CTM có thể cung cấp các hỗ trợ kỹ thuật kể cả các thủ tục, qui trình marketing và hệ thống thông tin chuẩn cho các CTC thông qua các phòng chức năng Những lợi ích thực sự sẽ thu được từ các khoản vay tập đoàn mà CTM đứng ra ký kết thay mặt cho các CTC Các CTC có thể tham gia góp tài sản để hình thành các CTC của mình, nhưng phải được sự cho phép của CTM và các CTC đó được gọi là các công ty cháu

- CTM nắm tỷ lệ cổ phần khống chế chi phối đối với CTC: Trong trường

hợp này, CTM cùng tham gia tổ chức quản lý CTC thông qua HĐQT của CTC và quyết định những vấn đề quan trọng như định hướng sản xuất - kinh doanh, và được hưởng lợi theo tỷ lệ góp vốn vào CTC Như vậy, mối liên kết giữa CTM với CTC được hình thành tuỳ thuộc vào sự tham gia góp vốn của CTM theo nguyên tắc: CTC nào được CTM góp vốn nhiều hơn thì có mối liên kết chặt chẽ hơn từ đó tạo ra được nhiều tầng liên kết với nhiều mức độ khác nhau: Chặt chẽ, nửa chặt chẽ và lỏng lẻo

- CTM nắm tỷ lệ cổ phần dưới mức khống chế, không chi phối của CTC:

trong trường hợp này, CTM tham gia tổ chức, quản lý điều hành và tác động đến CTC tuỳ thuộc vào tỷ lệ vốn góp của mình trong CTC Việc nắm một tỷ

lệ vốn thấp trong CTC chủ yếu để góp phần định hướng, nắm thông tin và chi phối phần nào hoạt động của các CTC Các CTC thuộc loại này thường không thuộc ngành, lĩnh vực hay khâu sản xuất có tính quyết định đối với CTM

- CTM không nắm vốn CTC mà chỉ liên kết về kỹ thuật, công nghệ, thị

trường Đây là hình thức liên kết lỏng lẻo CTM không có quyền quyết định

về tổ chức, nhân sự, tài chính, điều hành của CTC nhưng có ảnh hưởng đến các công ty này thông qua việc chia sẻ công nghệ, thông tin, thị trường

Có thể mô tả cơ cấu tổ chức và mối liên kết giữa CTM và các CTC như sau:

Trang 19

C«ng ty con cã cæ phÇn

kh«ng chi phèi

C«ng ty mÑ

C«ng ty con 100% vèn cña c«ng ty mÑ

C«ng ty con cã cæ phÇn kh«ng chi phèi

C«ng ty ch¸u

C«ng ty con 100% vèn cña c«ng ty mÑ

Hình 1.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức và liên kết trong mô hình CTM – CTC [01]

Tuy nhiên, có một số điểm khác biệt trong các quy định pháp luật Việt Nam Theo đó, chỉ khi CTM nắm tỷ lệ vốn ở mức khống chế (chi phối-trên 50% vốn điều lệ) đối với một công ty thì công ty đó mới được coi là CTC (subsidiary company) Trong trường hợp, CTM nắm cổ phần hay vốn góp dưới mức khống chế (không chi phối) đối với một công ty thì công ty đó được gọi là công ty liên kết (cooparated company)

1.2.2 Chuyển đổi các TCTy nhà nước sang mô hình DN CTM-CTC

Việc chuyển đổi các TCty nhà nước hiện nay sang mô hình CTM - CTC xuất phát từ những yếu tố khách quan và giải quyết được những hạn chế của các Tổng công ty là DNNN trước đây

1.2.2.1 Tổng Công ty Nhà nước

- Khái niệm, các loại Tổng Công ty Nhà nước

Các TCT nhà nước ở Việt Nam được hình thành từ những năm 1990,

Trang 20

theo Quyết định số 90 và 91/TTg ngày 07/03/1994 của Thủ tướng Chính phủ, thay thế cho mô hình liên hiệp xí nghiệp trước đây TCT Nhà nước là một hình thức tổ chức và liên kết kinh tế trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn, hoạt động trong những ngành nghề, lĩnh vực

có vị trí quan trọng trong nền kinh tế Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ hiện nay ở Việt Nam có khoảng 18 TCty 91 và 74 TCty 90

Hầu hết việc thành lập các tổng công ty đều trên cơ sở tập hợp các DNNN theo Nghị định 388/HDBT (1991), với các quyết định hành chính theo kiểu gom đầu mối, liên kết ngang Một trong những nguyên nhân khiến cho

mô hình tổng công ty 90 và tổng công ty 91 không thể quản lý tốt các doanh nghiệp thành viên là địa vị pháp lý không rõ ràng Quyền giao không đúng mức, trách nhiệm chung chung, lợi ích không có dẫn đến vai trò của TCty mờ nhạt Hơn nữa, quá trình cổ phần hóa DNNN sẽ làm cho ngày càng nhiều doanh nghiệp không còn là thành viên của tổng công ty nữa, phạm vi quản lý của TCty 90 và TCty 91 đã hẹp lại càng hẹp hơn

- Đặc điểm chủ yếu của các TCT nhà nước

- Về sở hữu và lĩnh vực hoạt động: Các TCty nhà nước ở Việt Nam đều

thuộc cùng một lĩnh vực kinh doanh (kinh doanh đơn ngành), trong khi ở các nước Tập đoàn kinh tế phổ biến là dạng sở hữu hỗn hợp và về thực chất dựa trên chế độ sở hữu tư nhân, hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực Do hình thức

sở hữu đơn nhất của nhà nước, phần lớn các Tcty ở nước ta chưa thực sự phát huy được sức mạnh, tăng cường tích tụ, tập trung và chuyên môn hóa sản xuất

- Phương thức hình thành: Việc hình thành các TCty chủ yếu từ yêu cầu tổ

chức, sắp xếp lại các DNNN trong quá trình chuyển đổi theo hướng kinh tế thị trường; do nhà nước tổ chức thành lập bằng quyết định hành chính, chưa phải là nhu cầu tự thân, xuất phát từ sự phát triển bên trong của các doanh nghiệp

- Cơ cấu tổ chức và quan hệ nội bộ: Các TCty thường có cấu trúc 2 cấp

(TCty và các DN thành viên hạch toán độc lập và phụ thuộc) trong khi các

Trang 21

Tập đoàn kinh tế của các nước có thể có các cấp khác nhau (CTM, CTC, công

ty cháu ) Mối quan hệ giữa các TCty và các đơn vị thành viên nước ta còn mang nặng tính chất hành chính, giữa cấp trên và cấp dưới, thiếu sự gắn kết

về lợi ích kinh tế TCty như một cấp quản lý hành chính trung gian đối với các doanh nghiệp thành viên, chưa đóng vai trò tích cực trong việc tạo ra cơ hội hợp tác, phân công chuyên môn hóa giữa các đơn vị thành viên TCty cơ bản mới chỉ là sự gom các doanh nghiệp cùng ngành nghề lại với nhau, mà chưa phải là quan hệ kinh tế chặt chẽ Ngược lại, trong mô hình CTM-CTC,

sự phối hợp chủ yếu dựa trên cơ sở đầu tư vốn và chi phối lẫn nhau

- Hình thức pháp lý: DNNN là một pháp nhân kinh tế, hoạt động theo

Luật DNNN Một đặc điểm nổi bật trong các TCty nhà nước ở Việt Nam là tình trạng pháp nhân nằm trong pháp nhân, Các TCty là một pháp nhân độc lập hoạt động theo luật DNNN, các công ty thành viên thuộc TCty cũng là một pháp nhân độc lập hoạt động theo luật DNNN Nhưng DNNN là công ty thành viên lại trực thuộc DNNN là TCT, Tông giám đốc TCT điều hành giám đốc các DN thành viên, và chịu trách nhiệm cuối cùng về kết quả hoạt động của các DN thành viên mối quan hệ ở đây là mối quan hệ trên – dưới, không phải là mối quan hệ giữa hai DN có tư cách pháp nhân ngang nhau, không bình đẳng với nhau trong kinh doanh và trước pháp luật

- Về cơ chế chính sách: Cơ chế chính sách cũ còn thiếu đồng bộ, chồng

chéo, chưa có quy định rõ ràng về quản lý nhà nước đối với TCty Cơ chế tài chính chưa tạo điều kiện để sử dụng tối đa các nguồn vốn, nên các TCty rất thiếu vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh, chậm đổi mới công nghệ, sản phẩm kém khả năng cạnh tranh, hạn chế khả năng liên kết, liên doanh để mở rộng khả năng sản xuất

Thực trạng hoạt động của mô hình tổng công ty những năm qua cho thấy: Cùng với quá trình đổi mới các DNNN, cần thiết phải đổi mới và chấn chỉnh lại tổ chức, cơ chế hoạt động của các tổng công ty với mục tiêu đưa các

Trang 22

doanh nghiệp này trở thành đầu tàu cho sự phát triển, là nòng cốt và động lực cho công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, tiên phong đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động để cạnh tranh tốt với các tập đoàn lớn của nước ngoài không chỉ tại Việt Nam, mà còn trên thị trường quốc tế

1.2.2.2 Chuyển đổi TCTy NN sang mô hình doanh nghiệp CTM-CTC

- Mục đích và đối tượng chuyển đổi

Mục đích chủ yếu của việc chuyển đổi, tổ chức lại TCTy nhà nước sang

mô hình CTM - CTC nhằm chuyển từ liên kết theo kiểu hành chính với cơ chế giao vốn sang liên kết bền chặt bằng cơ chế đầu tư tài chính là chủ yếu; xác định rõ quyền lợi, trách nhiệm về vốn và lợi ích kinh tế giữa CTM với các CTC và công ty liên kết;

Việc chuyển đổi, tổ chức lại TCTy nhà nước, công ty thành viên hạch toán độc lập của TCTy theo mô hình CTM - CTC nhằm tạo điều kiện phát triển năng lực, quy mô và phạm vi kinh doanh của công ty, thúc đẩy việc tích

tụ vốn, sử dụng tiềm lực tài chính và các nguồn lực khác của công ty để đầu

tư, tích tụ vốn và tham gia liên kết với các doanh nghiệp khác, đẩy mạnh việc

cổ phần hoá các đơn vị thành viên của TCTy

Đối tượng chuyển đổi sang mô hình DN CTM - CTC gồm:

- Tổng công ty nhà nước thành lập theo Luật DNNN năm 1995

- Tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập được thành lập mới theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003

- Công ty thành viên hạch toán độc lập của Tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập

- Công ty nhà nước độc lập và phụ thuộc

- Các nguyên tắc chuyển đổi

Việc hình thành mô hình DN CTM - CTC cần dựa trên những nguyên tắc cơ bản như: tất yếu kinh tế, tự nguyện và chi phối theo sức mạnh kinh tế

Trang 23

Các nguyên tắc này được thể hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, việc hình thành hình thức CTM - CTC cần phải dựa trên tất

yếu kinh tế, do nhu cầu thực sự phải liên kết với nhau để mở rộng quy mô, nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường, phát triển sang lĩnh vực mới v.v Điều này khác với các TCty nhà nước hiện nay - chủ yếu dựa trên sự ghép nối mang tính cơ học theo mệnh lệnh hành chính là chủ yếu

Thứ hai, nguyên tắc cơ bản hình thành mô hình CTM - CTC là liên kết

tự nguyện giữa các DN độc lập với nhau theo những phương thức khác nhau Cho dù CTC do CTM thành lập với 100% vốn của CTC thì CTC vẫn có tính độc lập tương đối trong kinh doanh và bình đẳng với CTC trước pháp luật

Thứ ba, mối quan hệ giữa CTM và CTC cũng như sự chi phối hay tác

động của CTM đối với CTC chủ yếu thông qua thực lực kinh tế của CTM, tỷ

lệ vốn góp của CTM trong CTC, thương hiệu, uy tín kinh doanh, thị trường của CTM Điều này khác căn bản với các TCty hiện nay- chủ yếu thông qua quyết định hành chính

Thứ tư, CTM - CTC dựa trên nguyên tắc đa dạng sở hữu CTM cũng như

CTC có thể do nhiều chủ sở hữu khác nhau Thực tế cho thấy, nếu chỉ do một chủ sở hữu thì không cần thiết phải hình thành loại hình này mà là loại hình doanh nghiệp một chủ tư nhân (ở Việt Nam gọi là DN tư nhân)

Thứ năm, nguyên tắc tách bạch rõ ràng giữa quyền sở hữu vốn và quyền

kinh doanh Cho dù CTM nắm giữ 100% vốn của CTC thì CTC vẫn có quyền chủ động kinh doanh theo quy định của pháp luật CTM không được can thiệp sâu vào hoạt động của các CTN quá giới hạn theo luật định Luật Doanh nghiệp năm 2005 của Việt Nam quy định: "Tuỳ thuộc và loại hình pháp lý của CTC, CTM thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình với tư cách là thành viên, chủ sở hữu hoặc cổ đông trong quan hệ với CTC" Luật này còn quy định rõ: "Hợp đồng, giao dịch và quan

hệ khác giữa CTM và CTC đều phải được thiết lập và thực hiện độc lập, bình đẳng theo điều kiện áp dụng đối với các chủ thể pháp lý độc lập"

Trang 24

- Các điều kiện chuyển đổi

Đối với các TCty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập, khi chuyển đổi theo mô hình CTM - CTC phải đáp ứng đủ những điều kiện sau:

- Tất cả các đơn vị thành viên đã, đang chuyển đổi hoặc đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt danh sách và kế hoạch cổ phần hoá hoặc chuyển đổi sang công ty TNHH một thành viên để hình thành cơ cấu gồm CTM, các CTC, công ty liên kết

- CTM thuộc danh sách được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tiếp tục do nhà nước nắm giữ 100% vốn hoặc vốn chi phối điều lệ và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp

- CTM có quy mô vốn lớn, có khả năng sử dụng nguồn vốn thực có của công ty hoặc có các phương án khả thi để huy động vốn, đầu tư đủ vốn vào các CTC, công ty liên kết để chi phối các CTC, công ty liên kết; sử dụng bí quyết công nghệ, thương hiệu, thị trường để chi phối các CTC, công ty liên kết

- CTM có khả năng phát triển kinh doanh đa ngành nghề, trong đó có một ngành kinh doanh chính, có nhiều đơn vị phụ thuộc ở trong và ngoài nước

- Đang có cổ phần, vốn góp chi phối ở nhiều doanh nghiệp khác hoặc được Thủ tướng Chính phủ (nếu là doanh nghiệp thành viên của tổng công ty

do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư), Bộ trưởng, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (nếu là Tổng công ty, Công ty nhà nước độc lập) phê duyệt kế hoạch cổ phần hoá các bộ phận của công ty (trừ các bộ phận hình thành CTM), hoặc được phê duyệt kế hoạch đầu tư, góp trên 50% số vốn điều lệ của công ty vào các công ty khác để nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối tại công ty này

- Phương thức chuyển đổi

- Tổng công ty nhà nước được thành lập theo Luật DNNN năm 1995, TCty do nhà nước quyết định đầu tư và thành lập được thành lập mới theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003, tuỳ thuộc vào tính chất ngành nghề, công nghệ, mối quan hệ về kinh doanh, đầu tư vốn và tính chất

Trang 25

phụ thuộc lẫn nhau giữa tổng công ty với các đơn vị thành viên và giữa các đơn vị thành viên, có thể được tổ chức lại theo các phương thức sau:

+ Văn phòng, cơ quan quản lý của tổng công ty, các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc, đơn vị sự nghiệp cùng với một hoặc một số công ty thành viên hạch toán độc lập có vị trí then chốt trong tổng công ty hoặc hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chính của tổng công ty được tổ chức lại thành CTM

+ Các doanh nghiệp đã có vốn góp chi phối của tổng công ty và các đơn

vị thành viên do tổng công ty đầu tư toàn bộ vốn điều lệ sau khi chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc công ty có vốn góp chi phối của tổng công ty thì các đơn vị này trở thành các CTC; các doanh nghiệp có một phần vốn của tổng công ty thì trở thành công ty liên kết của CTM

+ Trường hợp chuyển đổi tổng công ty hạch toán toàn ngành thì văn phòng, cơ quan quản lý của TCty và các công ty thành viên hạch toán phụ thuộc có vị trí then chốt trong tổng công ty hoặc hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chính của tổng công ty được tổ chức lại thành CTM

Các doanh nghiệp đã có vốn góp chi phối của TCty và các đơn vị thành viên do tổng công ty đầu tư toàn bộ vốn điều lệ thì sau khi chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc công ty có vốn góp chi phối của tổng công ty (CTM) trở thành các CTC; các DN có một phần vốn góp của TCty thì trở thành công ty liên kết của CTM

1.2.3 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi các Tổng Công ty Nhà nước sang mô hình DN CTM – CTC

Từ những phân tích về đặc điểm hạn chế của các TCT nhà nước ở Việt Nam cho thấy mô hình này chưa thực sự đáp ứng được những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường Các TCT trên thực tế vẫn là các DNNN thuần túy Mối liên

hệ chủ yếu giữa các TCT và các cơ quan chủ quản và giữa TCT với các DN thành viên tuy có một số cải thiện nhất định, song cơ bản vẫn là mối quan hệ thiên về quản lý hành chính Chính vì vậy, tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý,

Trang 26

hình thức liên kết của DNNN nói chung, TCT NN nói riêng vẫn đang là một yêu cầu đặt ra trong quá trình đổi mới các DNNN ở Việt Nam

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã nhấn mạnh phải tiếp tục thực hiện đổi mới, hoàn thiện cơ chế quản lý đối với các DNNN theo hướng chuyển sang hoạt động mô hình CTM – CTC Nghị quyết Trung ương lần thứ 9 khóa IX đã khẳng định lại chủ trương này:

“Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các TCty nhà nước Tổng kết thí điểm việc chuyển sang hoạt động theo mô hình CTM – CTC; tích cực chuẩn bị để hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh do TCty nhà nước làm nòng cốt”

Mô hình này cũng được định hình rõ về mặt pháp luật: từ Luật Doanh nghiệp năm 2005; Việc chuyển TCTy nhà nước theo mô hình CTM-CTC với CTM là Công ty TNHH 1 thành viên NN, căn cứ Nghị định 111/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007, Nghị định số 95/2006/NĐ-CP và Nghị định số 25/2010/NĐ-

CP ngày 19/3/2010 của Chính phủ về chuyển đổi mô hình tổ chức quản lý TCTy nhà nước theo mô hình CTM-CTC và một số văn bản liên quan khác Việt chuyển đổi tổ chức lại TCty nhà nước sang hoạt động theo mô hình CTM – CTC nhằm chuyển từ liên kết theo kiểu hành chính với cơ chế giao vốn sang liên kết bền chặt bằng cơ chế quản lý đầu tư tài chính là chủ yếu; xác định rõ quyền lợi, trách nhiệm về vốn và lợi ích giữa CTM – CTC; tăng cường năng lực kinh doanh cho các đơn vị tham gia liên kết, tạo điều kiện để phát triển, hình thành các TCT mạnh ở Việt Nam

Việc chuyển đổi, tổ chức lại TCty nhà nước theo mô hình CTM – CTC nhằm tạo điều kiện phát triển năng lực, quy mô và phạm vi kinh doanh của Công ty, thúc đẩy việc tích tụ, sử dụng tiềm lực tài chính và các nguồn lực khác của công ty để đầu tư, góp vốn và tham gia liên kết với các DN khác, đẩy mạnh việc cổ phần hóa các đơn vị thành viên của TCty

Việc chuyển các TCty sang mô CTM - CTC còn do tính tương thích của

Trang 27

mô hình này đối với các TCty Thực tế đổi mới, sắp xếp các TCty ở Việt Nam

đã áp dụng nhiều biện pháp như cổ phần hoá, giảm bớt phần vốn của NN, chuyển đổi sang các mô hình khác và thậm chí cả giải thể một số TCty Tuy nhiên, các biện pháp đó cũng không thể thực hiện giúp đổi mới toàn bộ các TCty hiện nay một cách hiệu quả Do vậy, việc chuyển sang mô hình CTM - CTC như một giải pháp với tính tương thích cao và có hiệu quả trên thực tế Điều này thể hiện cụ thể như sau:

- Với mô hình CTM - CTC, các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa vẫn

có thể nằm trong vòng kiểm soát, điều tiết trực tiếp của Nhà nước thông qua CTM là các công ty nhà nước, điều mà TCty 90, TCty 91 không làm được khi các DNNN chuyển đổi sở hữu không của nhà nước 100% như đã và đang làm CTM với danh nghĩa cổ đông sẽ can thiệp vào CTC Còn TCty bằng quan hệ hành chính không thể can thiệp vào các CTC được khi các CTC không còn là DNNN nữa

- Với chức trách, thẩm quyền quản lý vốn nhà nước theo kiểu công ty, các CTM sẽ chủ động tích cực chi phối các DNNN được giao quản lý, từ đó, quá trình cổ phần hóa DNNN sẽ tích cực hơn, nhanh chóng hơn do khắc phục được hai nguyên nhân cản trở cổ phần hoá là: sự không mong muốn của chính các nhà quản lý trực tiếp DNNN và sự thờ ơ của các TCty 90, TCty 91 Một bên bị mất quyền lợi do quá trình cổ phần hóa, một bên thì chẳng nhận được

gì, thậm chí cũng bị mất quyền lợi ở mức độ nhất định Nhưng khi chuyển thành CTM, nhà nước sẽ giao vốn của tất cả các doanh nghiệp nhà nước thành viên, trao quyền và trách nhiệm bảo toàn, sinh lợi số vốn này cho CTM Các CTM sẽ tìm mọi biện pháp để thực hiện nghĩa vụ bảo toàn và sinh lời vốn trước nhà nước Cơ chế quản lý nhà nước đối với CTM cũng là cơ chế tự hoạch toán Với quyền hành mới, vì trách nhiệm và lợi ích của chính mình, các CTM sẽ không thờ ơ với tình trạng yếu kém của nhiều DNNN thành viên

Họ sẽ cổ phần các DN này, biến chúng thành công ty con Với những DNNN

Trang 28

không thể hoặc chưa thể cổ phần hóa, CTM sẽ biến chúng thành công ty TNHH một thành viên CTM là chủ sở hữu trực tiếp các DNNN này, buộc chúng phải hoạt động theo định hướng của mình

- Với mô hình CTM- CTC, mà cụ thể là cơ chế cổ đông, các CTM chắc chắn sẽ quản lý các CTC một cách thường xuyên, sâu sát hơn các TCty 90, TCty 91 Thông qua người đại diện của mình tại các CTC, CTM có thể nắm bắt chính xác, kịp thời tình hình sản xuất - kinh doanh tại đây Bằng sự chỉ đạo của tập thể đứng đằng sau người đại diện CTM tại CTC, CTM có nhiều khả năng ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của CTC Nhờ đó mà nâng cao được hiệu quả hoạt động của các CTC và cả bản thân CTM Đó là điều khó thực hiện trong các TCty hiện nay

Như vậy, mô hình CTM - CTC có nhiều ưu điểm hơn mô hình TCty Đó

là mô hình liên kết đa chiều, đa sở hữu dựa trên tất yếu kinh tế

Trang 29

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP

VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp góp phần

hoàn thiện tổ chức quản lý của Tổng công ty lâm nghiệp Việt nam theo mô hình công ty mẹ - Công ty con

* Mục tiêu cụ thể:

- Hệ thống hóa được những lý luận chủ yếu về mô hình CTM - CTC và

cơ cấu tổ chức quản lý của mô hình này

- Đánh giá được thực trạng quá trình chuyển đổi của Tổng công ty lâm nghiệp Việt nam (Vinafor) sang mô hình DN CTM - CTC

- Đề xuất được phương hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức quản lý

tại Vinafor theo mô hình CTM – CTC

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình chuyển đổi tổ chức, quản lý

sản xuất kinh doanh của Tổng công ty lâm nghiệp Việt nam theo mô hình CTM – CTC

2.1.3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các số liệu và tình hình hoạt động của TCty Lâm nghiệp Việt Nam trong giai đoạn từ 2008 đến 2010, là giai đoạn Tổng công ty lâm nghiệp Việt nam bắt đầu quá trình chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp CTM - CTC

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình chuyển đổi các TCTy NN sang mô hình doanh nghiệp CTM-CTC

Trang 30

- Tình hình và kết quả SXKD của Tổng công ty lâm nghiệp Việt nam

- Thực tiễn quá trình chuyển đổi Tổng công ty lâm nghiệp Việt nam sang mô hình DN CTM-CTC

- Những giải pháp góp phần hoàn thiện tổ chức quản lý của Tổng công

ty lâm nghiệp Việt nam theo mô hình DN CTM-CTC

Kết cấu luận văn bao gồm những phần nội dung sau:

- Tổng quan nghiên cứu;

- Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu;

- Kết quả nghiên cứu;

- Kết luận và kiến nghị;

2.3 Phương pháp nghiên cứu

- Việc nghiên cứu luận văn dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, trên cơ sở quan điểm và đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, trong đó có các TCTy và của Tổng công ty lâm nghiệp Việt nam

- Quá trình nghiên cứu luận văn dựa trên việc sử dụng và kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như: Phương pháp thống kê, phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp xã hội học

- Kế thừa số liệu, tài liệu các công trình đã nghiên cứu;

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn; hiện trạng tổ chức quản lý, hiện trạng chuyển đổi;

- Phương pháp thống kê kinh tế, phân tích kinh doanh, phân tích Swat

- Phương pháp chuyên gia

Trong đó, một số phương pháp cụ thể được chú trọng như: phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chứng, mô hình hoá

Trang 31

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm cơ bản và tình hình sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam (Vinafor) trước chuyển đổi

3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Vinafor

Được sự uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ, ngày 4/10/1995 Bộ trưởng

Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) đã ký Quyết định số 667/TCLĐ thành lập TCty Lâm sản Việt nam (đến ngày 18/12/1997 được đổi tên là TCty Lâm nghiệp Việt Nam), trên cơ sở sáp nhập 10 TCty và liên hiệp thuộc Bộ Lâm nghiệp (cũ) nay là Bộ NN &PTNT

Tổng công ty lâm nghiệp Việt nam là DNNN có tên giao dịch quốc tế : Việt nam Forest Products Corporation (Tên viết tắt: VINAFOR) Trụ sở chính của Tổng công ty tại: 127 phố Lò Đúc – Quận Hai Bà Trưng – TP Hà Nội Chi nhánh và Văn phòng đại diện của TCty được đặt tại 3 thành phố chính là

TP Đà Nẵng, TP Quy Nhơn (Tỉnh Bình Định); TP.Hồ Chí Minh

Nhiệm vụ, mục tiêu kinh doanh chủ yếu của TCty thời điểm đầu được quy định như sau:

- Tham gia xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành nghề, công nghiệp khai thác, chế biến lâm sản, cơ khi lâm nghiệp, xây dựng công trình lâm nghiệp, kinh doanh lâm sản trong nước, xuất nhập khẩu lâm sản, trồng rừng nguyên liệu công nghiệp

- Trực tiếp tổ chức sản xuất kinh doanh các ngành nghề sau: Trồng rừng nguyên liệu công nghiệp; khai thác, vận tải lâm sản; Chế biến gỗ và nông lâm sản, kinh doanh và XNK nông - lâm sản;

- Kinh doanh XNK thiết bị, vật tư kỹ thuật phục vụ sản xuất và đời sống; chế tạo sủa chữa cơ khí;

- Xây dựng công trình công nghiệp và dân dụng; sản xuất và kinh doanh

Trang 32

vật liệu xây dựng, dịch vụ du lịch lâm nghiệp…vv Tận dụng các năng lực hiện có của TCty để thực hiện kinh doanh nhiều ngành nghề phải theo đúng quy định của pháp luật

- Thực hiện nghiên cứu khoa học và công nghệ có liên quan;

- Đào tạo công nhân kỹ thuật theo kế hoạch được nhà nước giao;

- Liên doanh, liên kết với các đơn vị kinh tế trong và ngoài nước để phát triển các ngành nghề được giao kinh doanh

Các đơn vị thành viên của Vinafor tại thời điểm thành lập như sau:

+ Có 97 đơn vị đơn vị thành viên hạch toán độc lập đã đăng ký theo Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991;

+ Có 09 đơn vị thành viên là đơn vị hạch toán phụ thuộc Vinafor;

+ Có 03 đơn vị thành viên là đơn vị sự nghiệp thuộc Vinafor ;

+ Có 06 doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài có vốn của đơn vị thành viên là đơn vị trực thuộc Vinafor;

Bộ máy quản lý Vinafor được quy định:

+ Hội đồng quản trị (HĐQT): Hội đồng quản trị có 5 thành viên do Bộ trưởng

Bộ Lâm nghiệp bổ nhiệm, miễn nhiệm, trong đó có Chủ tịch Hội đồng quản trị, 1 thành viên kiêm Tổng giám đốc, 1 thành viên kiêm trưởng ban kiểm soát

+ Tổng công ty chịu sự quản lý nhà nước của Bộ NN &PTNT với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước; đồng thời chịu sự quản lý của cơ quan này với tư cách là cơ quan thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại Luật DNNN và các quy định khác của pháp luật

3.1.2 Quá trình đổi mới doanh nghiệp tại Tổng công ty lâm nghiệp Việt nam

Từ năm 2000 cho đến cuối năm 2009, Tổng công ty lâm nghiệp Việt nam đã tiến hành sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị thành viên làm cơ sở cho Tổng công ty tiến hành triển khai chuyển đổi hoạt động theo mô hình công ty

mẹ - công ty con năm 2009 và 2010

Qua thực tế quá trình triển khai sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp là các

Trang 33

đơn vị thành viên của Tổng công ty lâm nghiệp Việt nam Tổng công ty trong

nhiều năm qua để tiến đến việc chuyển đổi, Tổng công ty lâm nghiệp Việt

nam đã gặp không ít khó khăn, thuận lợi như:

Những mặt làm được: Tổng công ty được sự quan tâm, chỉ đạo và tạo

điều kiện giúp đỡ về mọi mặt của Bộ NN và PTNT, của các bộ, ngành có liên

quan Qua thời gian này, Tổng công ty lâm nghiệp Việt nam đã chuyển đổi 7

Công ty thành viên lâm nghiệp sang thành Công ty TNHH một thành viên nhà

nước và 11 Công ty cổ phần chi phối và 21 Công ty không chi phối theo chính

sách nhà nước đã đi vào hoạt động ổn định; Chức năng, nhiệm vụ của Tổng

công ty rất đa dạng, đáp ứng được nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau; Tổng

công ty tạo được quan hệ tốt với địa phương nơi trú đóng nhờ vậy địa phương

đã có những đóng góp hỗ trợ tốt cho Tổng công ty hoàn thành nhiệm vụ kinh

tế - xã hội hàng năm

Những tồn tại, khó khăn: Cạnh tranh trên thị trường ngày càng quyết

liệt giữa các thành phần kinh tế trên mọi lĩnh vực; Biến động về giá nguyên

nhiên vật liệu dẫn đến chi phí tăng dẫn đến lợi nhuận giảm; tồn tại từ trước

đây về lao động, về tài chính, về đầu tư, kinh doanh….vv đang trong tình

trạng dở dang khi tiến hành việc thay đổi về tổ chức, mô hình hoạt động của

các đơn vị này là sức ép lên TCTy phải tập trung giải quyết

3.1.3 Tổ chức quản lý của Vinafor trước chuyển sang mô hình CTM –CTC

3.1.3.1.Cơ cấu tổ chức quản lý của Vinafor trước chuyển đổi

TCty lấy chiến lược trọng tâm là: “Từ trồng rừng đến sản phẩm” Thực

hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học và công nghệ về những ngành nghề có liên

quan đến SXKD của TCty Thời điểm này sản phẩm chính của Tcty vẫn là các sản

phẩm từ kinh doanh trồng rừng nguyên liệu trên nhiều địa phương gắn với nhà

máy chế biến gỗ nhân tạo; nguyên liệu cho ngành chế biến lâm sản như gỗ rừng tự

nhiên nhập khẩu, gỗ rừng trồng cho chế biến hàng đồ mộc trong nước và xuất

khẩu, hàng mộc ngoài trời và hàng mộc nội thất trong nước và xuất khẩu, với thị

Trang 34

trường chính của Tcty là thị trường châu âu, châu á và nội địa

Mô hình TCty Lâm nghiệp Việt Nam vẫn duy trì hoạt động theo mô hình TCty Nhà nước có Hội đồng quản trị và bộ máy điều hành cụ thể:

Ghi chú:

Hình 3.1 Sơ đồ mô hình tổ chức hoạt động của tổng công ty lâm nghiệp

Việt Nam trước khi chuyển đổi

Cty cổ phần Tcty chi phối (11 DN)

Cty cổ phần Tcty không chi phối (12 DN)

Công ty liên doanh (8 DN)

Chỉ huy trực tuyến Tham mưu giúp việc Kiểm tra, giám sát và phục vụ sản xuất

Trang 35

Bảng 3.1 Danh sách các doanh nghiêp hạch toán phụ thuộc

Chế biến và xuất nhẩp khẩu hàng đồ gỗ

6 TT nghiên cứu lâm

nghiệp Vinafor Hoà Bình

Công ty nghiên cứu giống cây trồng lâm nghiệp

7 Chi nhánh Vinafor

TP HCM TP Hồ Chí Minh Văn phòng quản lý vốn của

Tổng công ty trên địa bàn

Bảng 3.2 Danh sách các doanh nghiệp hạch toán độc lập

6 Cty MDF Gia Lai Gia Lai Trồng rừng và chế biến ván MDF

7 Cty TNHH 1TV Sóc Trăng Sóc Trăng Trồng rừng và chế biến các sản

phẩm từ rừng

Trang 36

Bảng 3.3 Danh sách các công ty cổ phần do Vinafor chi phối

khẩu hàng mộc

Nam

Chế biến và xuất nhập khẩu hàng mộc

Chế biến và xuất nhập khẩu hàng mộc, kinh doanh gỗ giấy

Trang 37

Bảng 3.4 Danh sách các công ty cổ phần do Vinafor không chi phối

Địa điểm doanh nghiệp

4 Công ty CP SX và XNK lâm sản Hà Nội

hàng lâm đặc sản và hàng mộc

10 Công ty CP xây lắp đầu tư phát triển lâm

Xây dựng cơ sở hạ tầng xây lắp công trình lâm nghiệp

Trang 38

Bảng 3.5 Danh sách các công ty liên doanh với Vinafor

Liên doanh với nước ngoài

Liên doanh trong nước

- Hội đồng quản trị (gồm 5 thành viên), giám sát bởi Ban kiểm soát (gồm

3 thành viên - 01 UV HĐQT kiêm trưởng ban kiểm soát)

- Bộ máy điều hành gồm: Tổng giám đốc và 5 Phó Tổng giám đốc, 12 phòng ban chuyên môn nghiệp vụ, 2 Chi nhánh và 5 đơn vị phụ thuộc, 7 đơn

vị thành viên hạch toán độc lập; 11 công ty cổ phần có vốn góp chi phối; 21 công ty cổ phần có vốn góp không chi phối; 6 công ty liên doanh với nước ngoài và 2 Công ty liên doanh trong nước

Đăc điểm của mô hình tổ chức quản lý của TCty Lâm nghiệp Việt Nam trước chuyển đổi bộc lộ những hạn chế trên các mặt chủ yếu sau:

- Mối quan hệ giữa HĐQT và tổng giám đốc

Về thực chất trong hoạt động trước đây, HĐQT tổng công ty là cấp trung gian giữa tổng giám đốc tổng công ty với Bộ NN và PTNT và các cơ quan quản lý nhà nước khác Đặc biệt HĐQT chưa phải là bộ máy hoạch định chiến lược do chưa có đủ quyền chủ động và năng lực về nhân sự và chuyên môn

Trang 39

Ngoài ra HĐQT và tổng giám đốc các tổng công ty còn có những vướng mắc nhất định trong quan hệ quản lý và điều hành HĐQT của tổng công ty chưa thực sự có đủ quyền quyết định mọi vấn đề của tổng công ty HĐQT và tổng giám đốc đều do một cơ quan xem xét bổ nhiệm, cùng ký nhận vốn với Nhà nước Điều này đã làm lẫn lộn giữa quản lý và điều hành của HĐQT và tổng giám đốc, phát sinh lúng túng, chồng chéo, đặc biệt là đã không xác định được rành mạch quyền hạn, trách nhiệm cũng như địa vị pháp lý của các chức danh này

Một vấn đề bất cập quan trọng khác trong quan hệ giữa HĐQT và tổng giám đốc tổng công ty, đó là: HĐQT là cơ quan hoạch định chiến, thực hiện chức năng quản lý, là người được giao trực tiếp quản lý phần vốn nhà nước tại TCty hay nói cách khác là thực hiện chức năng quản lý nhà nước tại TCty về phương diện sở hữu vốn, hiệu quả SXKD, còn tổng giám đốc là người điều hành SXKD hay nói cách khác là người quản lý SXKD, nhưng hai chủ thể này lại dùng chung một bộ máy tham mưu đó là các phòng ban của TCty Quan hệ giữa HĐQT với tổng giám đốc còn chưa thật sự rành mạch và rõ ràng

Như vậy, tại chính doanh nghiệp vẫn chưa chưa thực hiện triệt để việc thực hiện chủ trương của Nhà nước là tách chức năng quản lý hành chính của Nhà nước và chức năng quản lý SXKD của doanh nghiệp

- Quan hệ giữa tổng công ty với các đơn vị thành viên

Quan hệ giữa tổng công ty với các doanh nghiệp thành viên thực chất là quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, là mối quan hệ hành chính, chưa dựa trên

sự ràng buộc về trách nhiệm và quyền lợi Ví dụ như về cơ chế quản lý vốn và tài sản thì bản chất hiện nay vẫn theo hướng cấp phát vốn, giám đốc doanh nghiệp hạch toán độc lập chịu trách nhiệm tiếp nhận vốn và bảo toàn, phát triển số vốn đó Việc nhà nước giao vốn cho TCty rồi TCty lại giao lại vốn cho các DN thành viên, nên thực tế là tính hình thức, giao chính số vốn hiện

có trên sổ sách của DN, TCty không có công cụ để chi phối các DN thành

Trang 40

viên Việc điều hòa một phần khấu hao cơ bản, vốn tích lũy để tập trung đầu

tư vào một số dự án trọng điểm hoặc hỗ trợ cho một số DN gặp khó khăn là hoàn toàn mang tính thương lượng, thỏa hiệp với các DN thành viên, làm ảnh hưởng đến sức mạnh tổng hợp của toàn TCty

Các DN thành viên hàng năm nộp kinh phí đài thọ cho TCTy Quan hệ này chưa phải là quan hệ giữa người đầu tư và DN được đầu tư, chưa dựa trên quan hệ phân phối lợi ích kinh tế TCTy chưa thực sự là một thực thể kinh tế thống nhất và chưa phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn TCTy Sự chi phối

và giúp đỡ của TCTy đối với các đơn vị thành viên rất hạn chế, chủ yếu chỉ là giải quyết các thủ tục đầu tư, vay vốn tín dụng Trong SXKD, TCty còn khó thực hiện phân công sản xuất giữa các DN thành viên vì các DN thành viên hoàn toàn độc lập về tài chính, tự nộp thuế

Trên thực tế, TCty chưa thực hiện hết các quyền và nghĩa vụ đối với các doanh nghiệp thành viên, mà chủ yếu chỉ tập trung vào chức năng hỗ trợ các thủ tục đầu tư, vay vốn Các TCty hầu như chưa làm tốt vai trò phân công sản xuất và điều phối tài chính giữa các doanh nghiệp thành viên Các DN thành viên tự thực hiện nghĩa vụ tài chính với nhà nước, tự phân chia lợi nhuận, không thực hiện điều phối chung trong toàn TCty TCty chưa đảm nhận được khả năng tập trung vốn nhàn rỗi của các DN thành viên cho các

DN thành viên khác khi có nhu cầu

- Quan hệ giữa tổng công ty với sở hữu nhà nước:

Quan hệ giữa TCty với sở hữu nhà nước cũng chưa rõ ràng điều đó thể hiện trên các điểm cụ thể như sau:

+ Chưa thực sự đóng vai trò là chủ sở hữu đối với TCty nên đã dẫn đến các tổng công ty còn gặp những khó khăn trong SXKD, nhất là việc đầu tư vốn ra bên ngoài;

+ Quyền của sở hữu còn lẫn với quyền kinh doanh của DN;

+ Nhà nước còn thực hiện bảo trợ đối với các TCty Nhà nước với tư cách

Ngày đăng: 28/09/2017, 11:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w