1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá kết quả thực hiện dự án KFW3 pha 2 trên địa bàn huyện tiên yên, tỉnh quảng ninh

95 248 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thế giới Theo lý thuyết về đánh giá dự án thì tại các công trình nghiên cứu của một số tác giả như: L.Therse Barker, Who, Jim Woodhill Gittinger, Dixon và Hufschmidt…, đã thể hiện

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

-

PHAN THỊ PHƯƠNG DUNG

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN KFW3 PHA 2 TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

-

PHAN THỊ PHƯƠNG DUNG

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN KFW3 PHA 2 TRÊN

ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiê ̣p

Mã số: 60.31.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHẠM XUÂN PHƯƠNG

Hà Nội, 2011

Trang 3

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, trong nền kinh tế quốc dân, rừng có vai trò đặc biệt quan trọng Rừng không chỉ là nguồn tài nguyên cung cấp các sản phẩm từ gỗ, lâm đặc sản mà còn có vai trò bảo vệ môi trường, duy trì cân bằng sinh thái, bảo tồn nguồn gen cũng như các tác dụng khác nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người

Dù có vai trò to lớn trong đời sống, nhưng do nhiều nguyên nhân, rừng Việt Nam đang dần bị suy giảm cả về diện tích và chất lượng Vào giữa thế kỷ

XX diện tích rừng khoảng 14 triệu ha chiếm 43% diện tích đất tự nhiên Sau 30 năm chiến tranh, diện tích rừng bị thu hẹp khá nhanh, năm 1976 chỉ còn 11,17 triệu ha (33,8%) Thêm vào đó là sự khó khăn, thiếu thốn về điều kiện vật chất,

cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế, trình độ dân trí của người dân vùng rừng núi chưa được quan tâm kịp thời cũng góp phần làm cho rừng bị suy kiệt do phá rừng bừa bãi, đốt nương làm rẫy Đầu thập kỷ 90 đã giảm đến mức thấp nhất là 9,1 triệu ha chiếm 27,8% diện tích cả nước Hậu quả là làm mất cân bằng sinh thái, đất bị xói mòn, bạc màu, hạn hán, lũ lụt, úng ngập lan tràn nhiều nơi

Với tiềm năng to lớn về tài nguyên rừng và nguy cơ suy giảm rừng ngày càng hiện hữu, ngành Lâm nghiệp Việt Nam đã và đang nhận được sự

hỗ trợ phát triển từ chính phủ các nước thông qua các chương trình dự án Các

dự án đều hướng đến mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng, từ đó nâng cao mức sống của người dân Cùng với đó, các dự án được thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng, điều hoà nguồn nước tại các vùng được phục hồi rừng và các khu vực lân cận, điều hoà tiểu khí hậu vùng và tăng tính

đa dạng sinh học

Tuy nhiên, hiệu quả đạt được của từng dự án là rất khác nhau Các yếu

tố tác động đến hiệu quả của từng dự án phụ thuộc vào thể chế, chính sách

Trang 4

2

của Việt Nam và chính sách của các nhà tài trợ, từ những văn bản đầu vào của từng dự án đến sự chuẩn bị, thực thi, giám sát và đánh giá trong quá trình thực hiện dự án Để nâng cao hiệu quả dự án, công tác đánh giá là một khâu quan trọng trong chu trình quản lý dự án Các tiêu chí đánh giá hiệu quả được xác định bao gồm tất cả các thay đổi về sinh thái, văn hoá xã hội, kinh tế, kỹ thuật, thể chế và chính sách đem lại bởi các hoạt động của dự án Việc tìm kiếm nguyên nhân dẫn đến tình trạng kém hiệu quả của các dự án để khắc phục trong quản lý các dự án là rất cần thiết

Chính phủ Cộng hòa liên bang Đức là một trong các nhà tài trợ có uy

tín đối với dự án đầu tư phát triển ngành lâm nghiệp Việt Nam Dự án “Trồng

rừng tại các tỉnh Bắc Giang, Quảng Ninh và Lạng Sơn”, gọi tắt là KFW3 Pha

2 là một trong các dự án được sự tài trợ của Chính phủ Cộng hòa liên bang

Đức thông qua Ngân hàng tái thiết Đức (KfW) Dự án được thực hiện với

mục tiêu góp phần vào chương trình trồng rừng và bảo vệ đất ở các tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh thông qua việc giúp người dân sử dụng đất có hiệu quả

và đảm bảo tính bền vững về sinh thái, đồng thời tạo việc làm và nâng cao mức sống cho người dân trong vùng dự án Tiên Yên là huyện miền núi của tỉnh Quảng Ninh được hưởng lợi từ dự án KFW3 Pha 2

Để góp phần vào việc tìm giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư của dự án

KFW3 Pha 2, tôi đã nghiên cứu đề tài "Đánh giá kết quả thực hiện dự án KfW3 pha 2 trên địa bàn huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh”

Trang 5

3

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Khái niệm về dự án đầu tư

Trong lý thuyết cũng như trong quản lý kinh tế hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về dự án Tùy mục đích nghiên cứu, mỗi quan điểm về dự án xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau

1.1.1 Trên thế giới

Theo từ điển tiếng Anh Oxford: “Dự án là một chuỗi các sự việc tiếp nối được thực hiện trong khoảng thời gian giới hạn và ngân sách xác định nhằm xác định mục tiêu là đạt được kết quả duy nhất nhưng được xác định rõ”

Theo Ngân hàng thế giới - World Bank: Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một khoảng thời gian nhất định;

Định nghĩa về dự án của David Jary và Julia Jury trong từ điển xã hội học như sau: Những kế hoạch của địa phương được thiết lập với mục đích hỗ trợ các hành động cộng đồng và phát triển cộng đồng Theo định nghĩa này có thể hiểu Dự án là một kế hoạch can thiệp có mục tiêu, nội dung, thời gian, nhân lực và tài chính cụ thể Dự án là sự hợp tác của các lực lượng xã hội bên ngoài và bên trong cộng đồng Với cách hiểu như trên thì thước đo sự thành công của dự án không chỉ là việc hoàn thành các hoạt động có tính kỹ thuật (đầu tư cái gì, cho ai, bao nhiêu, như thế nào) mà nó có góp phần gì vào quá trình chuyển biến xã hội tại cộng đồng

Theo J Price Gittinger (1982) trong nghiên cứu “Phân tích kinh tế các

dự án nông nghiệp”, khái niệm dự án được đặt trong một hệ thống quản lý nguồn lực đầu vào và giám sát đánh giá kết quả đầu ra theo một trình tự và

Trang 6

4

không gian hoạt động nhất định Từ đó dự án được định nghĩa theo ba quan điểm: (1) Dự án là sự sắp xếp có hệ thống các nguồn dự trữ cho đầu tư, các nguồn dự trữ đó được lập kế hoạch, phân tích, đánh giá, thực thi và tiến hành như một đơn vị độc lập; (2) Dự án được coi như một đơn vị tác nghiệp nhỏ nhất trong một kế hoạch hay một chương trình, được chuẩn bị và thực thi như một thể độc lập và thống nhất; (3) Dự án là một hoạt động trong đó các nguồn dự trữ được sử dụng tốt nhất với khả năng thu hồi và có lãi khi dự án kết thúc [27]

Theo Viện quản trị Dự án: Dự án là một nỗ lực nhất thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm hay một dịch vụ độc nhất vô nhị

Trong một số tài liệu và các tác phẩm của các tác giả Nguyễn Thị Oanh, Tô Huy Hợp, Lương Hồng Quang, tài liệu hướng dẫn đánh giá tác động môi trường (Nhà xuất bản Xây Dựng - 2008), đều đưa ra các định nghĩa

về dự án Nhìn chung, các khái niệm đều mang những nét chung là thể hiện thống nhất về sự can thiệp của con người trong tổ chức, kế hoạch dự án để có được những mục tiêu mong muốn

Trang 7

5

Theo Quy chế quản lý đầu tư, xây dựng và đấu thầu - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) thì “Dự án là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới,

mở rộng hay cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng

về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào

đó trong một khoảng thời gian xác định” Cũng theo MPI thì “Dự án đầu tư là một hệ thống các thuyết minh được trình bày một cách chi tiết, có luận cứ các giải pháp sử dụng nguồn lực để đạt tới mục tiêu cao nhất của chủ trương đầu tư”

Mặc dù có sự khác nhau về cách định nghĩa Dự án, nhưng các tác giả đều thống nhất cho rằng: Dự án là một tập hợp các hoạt động có kế hoạch định trước với một nguồn tài lực dự kiến trước nhằm đạt được một hoặc một

số mục tiêu định trước trong phạm vi không gian và thời gian nhất định Mục tiêu của Dự án đều là tạo sự thay đổi trong nhận thức và hành động, thay đổi điều kiện sống của cộng đồng trên cả ba mặt kinh tế - xã hội và môi trường

1.2 Đánh giá kết quả, hiệu quả dự án

Đánh giá dự án là một nhiệm vụ nằm trong các chuỗi hoạt động của dự

án Tùy thuộc mục tiêu đánh giá mà có quy mô thực hiện đánh giá khác nhau Đánh giá giai đoạn hoặc là đánh giá định kỳ là nhằm rà soát, so sánh nhiệm

vụ, mục tiêu theo một kế hoạch nào đó đồng thời dự đoán hiệu quả trong tương lai

Tất cả các giai đoạn trong chu trình dự án đều có mối liên quan chặt chẽ với nhau để tạo thành một chu trình hoàn chỉnh Do đó các bài học kinh nghiệm từ những dự án đã thực hiện trước đây có thể được áp dụng cho các

dự án sắp tới, ngay từ giai đoạn lập kế hoạch

Đánh giá là giai đoạn cuối cùng của chu kỳ dự án, được tiến hành sau khi thực hiện dự án, nhằm đánh giá làm rõ những thành công, thất bại và rút

Trang 8

6

ra những bài học kinh nghiệm để quản lý các dự án khác trong tương lai Cần phải tiến hành đánh giá dựa trên các nét cơ bản sau:

(i) Dự án có đạt được mục tiêu trực tiếp đề ra hay không?

(ii) Dự án có góp phần vào tăng trưởng và phát triển nền kinh tế quốc dân hay không? Mức độ đóng góp là bao nhiêu?

(iii) Hiệu quả của việc đạt được các mục tiêu đó ra sao?

(iv) Những bài học cần rút ra?

"Pha ́ t triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn mọi nhu cầu của thế hê ̣ hiê ̣n tại mà không làm tổn hại đến những khả năng phát triển để thoả

ma ̃n mọi nhu cầu của những thế hê ̣ tiếp theo", (WCED, 1987)

Phát triển bền vững phải đảm bảo sử du ̣ng đúng mức và ổn đi ̣nh các nguồ n tài nguyên thiên nhiên và bảo vê ̣ đươ ̣c môi trường số ng Đó không chỉ

là sự phát triển nền kinh tế, văn hoá, xã hô ̣i mô ̣t cách vững chắc nhờ khoa ho ̣c công nghê ̣ tiên tiến mà còn đảm bảo ổn đi ̣nh, cải thiê ̣n những điều kiê ̣n tự nhiên mà con người đang sống trong đó và chính sự phát triển đang dựa vào đó để ổn đi ̣nh bền vững Do đó, trong mỗi hoàn cảnh môi trường và nguồn tài nguyên cu ̣ thể, con người phải tìm ra các hướng phát triển tối ưu của mình Trong những hướng đó bao gồ m sự phối hơ ̣p chă ̣t chẽ các chính sách kinh tế,

xã hô ̣i và môi trường, sự hiểu biết các hê ̣ thống kinh tế, xã hô ̣i và sinh thái

cũng như quan hê ̣ phức ta ̣p giữa các hê ̣ thống đó, nhằm bảo đảm mo ̣i lơ ̣i ích

xã hô ̣i không bi ̣ suy giảm Để đạt được điều đó, cách tiếp cận phổ biến và

khoa học nhất hiện nay là: tiếp cận sinh thái, tiếp cận kinh tế và tiếp cận mang ti ́nh đạo đức xã hội

Đố i với các nguồn tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái ta ̣o - trong đó

có tài nguyên sinh vật rừng và đất rừng, khái niê ̣m sử du ̣ng bền vững bao gồm

Trang 9

sự phát triển bền vững của chính dự án và đối tượng của dự án [12]

1.2.1 Trên thế giới

Theo lý thuyết về đánh giá dự án thì tại các công trình nghiên cứu của một số tác giả như: L.Therse Barker, Who, Jim Woodhill Gittinger, Dixon và Hufschmidt…, đã thể hiện đánh giá liên quan đến việc đo lường, so sánh và đưa ra những nhận định về kết quả của hệ thống các hoạt động dự án, so sánh kết quả với mục tiêu đề ra ban đầu Đối với một dự án, đánh giá còn là xem xét một cách logic có hệ thống nhằm xác định tính hiệu quả, mức độ thành công của dự án, tác động đến các mặt của đời sống xã hội và tự nhiên Hoạt động đánh giá là một công tác được triển khai khi đã có một số các hoạt động chính của dự án diễn ra theo định kỳ hay gọi cách khác là đánh giá giai đoạn, hoặc khi tổng thể các hoạt động của dự án đã chấm dứt [32]

Joachimtheis, Heather, M.Grady đã phân loại đánh giá dự án bao gồm đánh giá tiến trình và đánh giá mục tiêu Đánh giá mục tiêu là xem xét, so sánh tính hiệu quả của dự án có đạt được mục tiêu hay không Đánh giá tiến trình là công việc ngoài sự xem xét các nội dung của dự án để đạt được mục tiêu thì còn xem xét tiến độ thực hiện dự án theo từng công đoạn của thời gian [28]

Để đánh giá dự án, người ta sử dụng nhiều phương pháp thực hiện như

Trang 10

8

group), phương pháp phỏng vấn, phương pháp động não… tất cả các nội dung của hoạt động đánh giá có ý nghĩa quan trọng nhằm điều chỉnh, sửa đổi để phù hợp khách quan với tình hình thực tế trong quá trình thực hiện dự án

Đánh giá tác động của dự án là những việc làm để xem xét một cách toàn diện về các tác động của nó làm ảnh hưởng đến các lĩnh vực của đời sống xã hội và tự nhiên mà cụ thể là kinh tế, xã hội và môi trường đã định trước ở mục tiêu của dự án Về phương pháp đánh giá tác động dự án tùy thuộc loại dự án mà có phương pháp phù hợp Theo FAO thì đánh giá tác động của dự án về mặt kinh tế thường tập trung phân tích lợi ích và chi phí xã hội nên các lợi ích và các chi phí xã hội phải tính suốt cả thời gian mà sản phẩm dự án chưa có đoạn kết như dự án trồng rừng phải sau một thời gian nhất định mới có sản phẩm của rừng [12]

Nhưng nhìn chung, để đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế của dự án thì tổng mức đầu tư khi bắt đầu triển khai dự án đến khi có sản phẩm đầu ra ở điểm kết thúc dự án và mức chiết khấu nguồn đầu tư

Đánh giá tác động liên quan về xã hội, H.M Gregersen và Brooks nêu rằng: bất cứ khi nào có một sự thay đổi phát sinh qua một dự án như tạo việc làm mới, tăng diện tích canh tác, năng suất sản xuất, chất lượng sản phẩm tăng lên… thì quá trình đánh giá không những phải xác định phần lợi ích gia tăng mà còn xác định các yếu tố lợi ích liên quan xã hội, nếu chỉ căn cứ vào tiền mặt luân chuyển trong quá trình thực hiện dự án thì đây là một phân tích đánh giá tài chính đơn thuần chứ không phải một đánh giá kinh tế mang tính

xã hội

Về môi trường UNEP, đã xây dựng bản hướng đánh giá tác động môi trường của các dự án phát triển Đây là phương pháp nghiên cứu nhằm dự báo

Trang 11

9

các tác động môi trường của một dự án, thể hiện sự ảnh hưởng của kết quả về các hoạt động của dự án đối với môi trường

1.2.2 Ở Việt Nam

Hàng loạt các công trình về đánh giá hiệu quả và tác động của các dự

án, đặc biệt là các dự án trong lĩnh vực lâm nghiệp của Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu thực hiện trong những năm qua, nhất là trong thời gian gần đây khi mà xu thế quản lý rừng bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu đòi hỏi tất cả các nước phải giám sát chặt chẽ các tác động từ các hoạt động dự án mang lại

Nhóm chuyên gia của chương trình phát triển Nông thôn miền núi Việt Nam - Thụy Điển (MRDP - Mountainous Rrural Devenlopment Programe) và viện điều tra quy hoạch rừng đã nghiên cứu sự thay đổi của thảm thực vật và

độ che phủ rừng trong giai đoạn 10 năm (1989 - 1998), trên địa bàn 5 tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang và Hà Giang” Nghiên cứu đã đánh giá

sự thay đổi chung của 5 tỉnh và đánh giá chi tiết sự thay đổi của 20 xã trong đó

có 10 xã được sự hỗ trợ của chương trình Hợp tác xã Lâm nghiệp (FCP - Forestry Cooperation Program) và 10 xã ngoài 2 chương trình đó

Trong báo cáo đánh giá tác động “Dự án lâm nghiệp xã hội sông Đà trong chương trình hợp tác kỹ thuật Việt Đức đối với hệ thống canh tác trên địa bàn các huyện Yên châu Tỉnh Sơn La và huyện Tủa Chùa tỉnh Lai Châu”,

do Annette Luibrand (2000), thông qua phương pháp điều tra hộ gia đình đã tiến hành đánh giá tác động của Dự án đến phương pháp canh tác của các hộ nông dân trên các loại hình sử dụng đất mà gia đình hiện có

Nghiên cứu tác động “Công tác giao đất đến một số yếu tố kinh tế, xã hội ở cấp gia đình” thuộc Dự án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà - chương trình

Trang 12

10

Yên Châu tỉnh Sơn La và huyện Tủa Chùa tỉnh Lai Châu” Scott Fritzen đã đi sâu vào việc phân tích một số mô hình sử dụng đất cấp thôn và hộ gia đình, phân tích hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp và lâm nghiệp của các hộ gia đình, đánh giá chiến lược phát triển kinh tế hộ, sản xuất cấp thôn và tác động của công tác giao đất do Dự án thực hiện đến đời sống kinh tế xã hội của các

hộ gia đình về các mặt chủ yếu như cơ cấu thu nhập, chi phí, khả năng tiếp cận thị trường

Đoàn Hoài Nam (1996) với công trình “Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế, sinh thái của một số mô hình rừng trồng tại Yên Hưng - Hàm Yên - Tuyên Quang” đã đề cập đến hiệu quả tổng hợp về mặt kinh tế, sinh thái, tuy nhiên hiệu quả xã hội vẫn chưa được đánh giá

Đỗ Doãn Triệu (1997) đã đề cập đến phương pháp phân tích hiệu quả đầu tư các dự án trồng rừng và phân biệt được sự khác nhau giữa phân tích tài chính và kinh tế của dự án Toàn bộ nội dung này được giới thiệu trong bài giảng “Đánh giá kinh tế các dự án đầu tư trồng rừng trong cơ chế thị trường” do chính tác giả biên soạn [24]

Cao Danh Thịnh (1998) đã đề cập đến vấn đề định lượng các chỉ tiêu đánh giá thông qua các trọng số trong việc tính toán hiệu quả tổng hợp kinh tế

- môi trường Theo tác giả thì phương pháp tính trọng số bằng tương quan cho độ chính xác cao nhất [22]

Trong báo cáo tổng kết đề án “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp kinh tế xã hội nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở vùng lòng hồ huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La”, Đỗ Đức Bảo và cộng sự đã sử dụng phương pháp ma trận môi trường để đánh giá tác động của các loại hình canh tác và phương án canh tác lâm nghiệp ở vùng lòng hồ Huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La Các loại hình canh tác được đánh giá bao gồm: vườn tạp, cây ăn quả, Nông lâm kết hợp, rừng tự nhiên Trong phương pháp ma trận môi trường, việc phân tích

Trang 13

11

số liệu dược thể hiện thông qua các hàng và các cột (hàng - các chỉ tiêu đánh giá; cột - trị số của chỉ tiêu đánh giá) Bằng phương pháp này có thể đưa ra hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau thuộc các lĩnh vực chịu tác động như: kinh tế,

xã hội và môi trường Những tác động cụ thể của từng hoạt động của từng phương án được đánh giá qua tổng điểm, mức tổng điểm càng cao thì dự án càng có hiệu quả Tuy nhiên, chính tác giả cũng thừa nhận rằng phương pháp

ma trận môi trường là phương pháp “bán định hướng” và chỉ mang tính tương đối bởi vì việc cho điểm phụ thuộc nhiều vào yếu tố chủ quan Yếu tố này chủ yếu dựa vào trình độ và kinh nghiệm của nhóm nghiên cứu Mặc dù vậy đây

là phương pháp đơn giản dễ vận dụng nên cho đến nay nó vẫn được sử dụng phổ biến trong nhiều nghiên cứu đánh giá tác động môi trường

Khi nghiên cứu “Đánh giá và kiến nghị hoàn thiện mô hình trang trại lâm nghiệp hộ gia đình tại Lục Ngạn - Bắc Giang”, Trần Ngọc Bình đã phân tích đánh giá hiệu quả của các mô hình trang trại đến việc phát triển kinh tế,

xã hội và môi trường sinh thái trong khu vực Nhưng để đánh giá, tác giả chỉ

sử dụng một chỉ tiêu phân loại kinh tế hộ gia đình nên tính mức độ thuyết phục của đề tài còn chưa cao

Tháng 5/1997 Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ đã đưa ra “Báo cáo nghiên cứu ban đầu về tác động kinh tế xã hội trực tiếp của Dự án khu Công nghiệp cao Hà Nội tại 5 xã thuộc tỉnh Hà Tây”, Báo cáo nghiên cứu đề cập chủ yếu đến việc khảo sát hiện trạng và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương đến năm 2010, đồng thời dự kiến một

số tác động chính khi dự án triển khai trên địa bàn Báo cáo nghiên cứu cũng đưa ra một số khuyến nghị trong quá trình thực hiện để phát huy tối đa các tác động tích cực, hạn chế tối thiểu các tác động tiêu cực của Dự án đến đời sống kinh tế xã hội trong vùng

Trang 14

12 Trong nghiên cứu “Đánh giá tác động Dự án hồ chứa nước Nàng Hươm

- Xã Mường Nhà huyện Điện Biên tỉnh Lai Châu”, Vũ Thị Lộc, đã tiến hành phân tích những ảnh hưởng của Dự án đến khả năng mở rộng diện tích, thay đổi hệ số sử dụng đất nông nghiệp và vấn đề ổn định dân cư vùng dự án

Theo Vũ Nhâm có 10 bước công việc tiến hành trước khi đánh giá dự

án và một số công trình nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế cho các dự

án trồng rừng gỗ nguyên liệu được tiến hành vào thập kỷ 90 như: Năm 1990, Per - H Stahl, chuyên gia về lâm sinh học cùng với nhà kinh tế học Heime Krekula, đã tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế cho hoạt động kinh doanh rừng bạch đàn trồng làm nguyên liệu giấy tại khu Công nghiệp giấy Bãi Bằng

- Phú Thọ Trong công trình này, các tác giả nói trên chủ yếu đề cập đến các chỉ tiêu NPV, IRR còn các chỉ tiêu về môi trường - sinh thái và xã hội thì mới được đề cập một cách sơ bộ, chưa đi sâu phân tích kỹ nên cuối cùng trong kết quả các tác giả chỉ mới đưa ra những dự đoán chung chung [18]

“Đánh giá tác động môi trường - Phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn” (Năm 1994), Lê Thạc Cán, đã có công trình tạo cơ sở khoa học cho các nhà nghiên cứu về môi trường thực hiện những nghiên cứu tiếp theo

Trần Hữu Dào (1995) đã đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình trồng Quế thâm canh, thuần loài, quy mô hộ gia đình tại huyện Văn Yên - Yên Bái Tuy nhiên, việc nghiên cứu về cơ chế đầu tư và quản lý chưa làm sáng tỏ và các chỉ tiêu xã hội và môi trường những năm đó còn để ngỏ cần nghiên cứu tiếp [9]

“Bảo vệ đất và đa dạng sinh học trong các Dự án trồng rừng bảo vệ môi trường” (1994) Hoàng Xuân Tý, đã tiến hành những nghiên cứu về kinh tế, môi trường Tuy nhiên trong các phân tích và đánh giá, tác giả thường thiên

về một mặt hoặc là kinh tế hoặc là môi trường hay xã hội mà không đánh giá một cách toàn diện các mặt trên

Trang 15

13

Năm 2000, Hubertus Kraienhorst, TS Ulrich Apel và các cộng sự đã nghiên cứu đánh giá Dự án KfW1, thông qua kết quả khảo sát tại hiện trường, nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá kết quả thực hiện các Dự án, phân tích

ưu nhược điểm của các hoạt động, đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Dự án Báo cáo đánh giá cũng đã nêu bật những thành công của dự án tại 2 tỉnh Bắc Giang và Lạng Sơn, trong đó nhấn mạnh: i) Đã góp phần đưa độ che phủ bình quân của các xã vùng dự án từ 15% đến 36%; ii) Tạo công ăn việc làm và phát triển kinh tế hộ cho một bộ phận dân

cư miền núi; iii) Mô hình hỗ trợ công lao động thông qua tài khoản tiền gửi (TKTG) tỏ ra rất hữu hiệu trong việc quản lý nguồn vốn của dự án đúng mục tiêu và là đòn bẩy kinh tế quan trọng trong việc thúc đẩy các hộ nông dân tham gia trồng rừng; iv) Nhận thức của nông dân cũng được thay đổi khi được tiếp cận với những kiến thức về một nền lâm nghiệp bền vững; v) Về môi trường còn quá sớm để đưa ra nhận định một cách chính xác và có định lượng, tuy nhiên đã nhận thấy những dấu hiệu tích cực trong cải thiện môi trường tại khu vực: nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất dồi dào hơn, chim

và thú nhỏ đã xuất hiện trở lại trong các khu rừng trồng, cây tái sinh đã bắt đầu xuất hiện trên các lập địa xấu mà trước khi trồng rừng không có… Đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh tính rủi ro cao khi mà 84% diện tích rừng trồng (lập địa D) của dự án là cây thông Mã vĩ, sẽ vấp phải những vấn đề: cháy, sâu bệnh, đơn điệu về sản phẩm, cần phải có những biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp

Gần đây, Phạm Xuân Thịnh (2002) nghiên cứu “Đánh giá tác động của

dự án KFW1 tại vùng dự án xã Tân Hoa, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang” Công trình đã đánh giá tác động của dự án trên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Quá trình đánh giá đã sử dụng các chỉ tiêu, chỉ báo có sự so sánh các lĩnh vực trước và sau dự án Tuy nhiên, việc đánh giá mới chỉ dừng lại ở mặt

Trang 16

14 tích cực, còn mặt tiêu cực của dự án chưa thấy tác giả đề cập đến [23]

Việc đánh giá tác động của dự án trên cả 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường cũng được các tác giả Đàm Đình Hùng (2003), Lại Thị Nhu (2004), Nguyễn Xuân Sơn (2005), Hoàng Phú Mỹ (2008), Nguyễn Hoàng Linh (2008), thực hiện Trong quá trình đánh giá, các tác giả này đã sử dụng các chỉ tiêu, chỉ báo có sự so sánh các lĩnh vực trước và sau dự án Nhìn chung những nghiên cứu này đã đánh giá được tác động tổng hợp của một số dự án trên cả 3 lĩnh vực kinh

tế, xã hội và môi trường, tuy nhiên phạm vi đánh giá của các tác giả cũng có sự khác nhau và đều chưa làm rõ những ảnh hưởng của cơ chế đầu tư và cơ chế quản lý [13], [14], [17], [19], [21]

Nguyễn Xuân Sơn (2005) với công trình “Đánh giá tác động của dự án lâm nghiệp xã hội và bảo tồn thiên nhiên tỉnh Nghệ An đến vùng đệm Vườn Quốc gia Pù Mát” Ngoài việc đánh giá tác động của dự án trên 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, tác giả còn phân tích được hiệu quả kinh tế của một số cây trồng dài ngày, tuy nhiên tác giả chỉ đánh giá với chu kỳ 5 năm là chưa hợp lý, chưa thấy hết được những tác động mà các loài cây trồng có thể mang lại [21]

Cao Lâm Anh (2007) đã đánh giá tác động của dự án trồng rừng KFW4, đến sinh kế của người dân vùng dự án huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa Nghiên cứu này đã đề cập đến lý thuyết tác động trên cơ sở đưa ra các giả thuyết tác động cùng các chỉ số, chỉ báo tác động Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá tác động của dự án đến sinh kế của người dân mà chưa đề cập đến việc đánh giá hiệu quả, hiệu suất, tính thích hợp và khả năng duy trì dự án, mặt khác việc đánh giá mới chỉ ở giai đoạn trước mắt mà chưa phân tích được những tác động lâu dài trong cả chu kỳ của dự án [1], [15]

Trang 17

15

Trương Tất Đơ (2009) đã tiến hành đánh giá tác động xã hội của công tác quản lý rừng tại lâm trường Văn Chấn tỉnh Yên Bái, đây có thể xem là công trình đầu tiên đi sâu về đánh giá tác động xã hội trong công tác quản lý rừng, tác giả đã phân tích kỹ mối quan hệ tác động qua lại giữa cộng đồng, địa phương với hoạt động sản xuất kinh doanh của Lâm trường; chỉ ra sự phù hợp

và chưa phù hợp của từng tiêu chí, chỉ số về mặt xã hội theo tiêu chuẩn trong

bộ tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hoàn chỉnh các tiêu chí về mặt xã hội để tiến tới QLRBV và cấp chứng chỉ rừng cho Lâm trường trên cơ sở những dự báo về sự biến đổi của kinh tế -

xã hội Tuy nhiên, những tác động về mặt kinh tế, môi trường có ảnh hưởng qua lại đến những tác động về mặt xã hội nhưng chưa được tác giả quan tâm, đánh giá [11]

Vào năm 2004 và 2007, TS Ulrich Apel và các cộng sự đã thực hiện cuộc đánh giá cuối kỳ đối với 2 dự án “Trồng rừng ở các tỉnh Bắc Giang, Quảng Ninh và Lạng Sơn - KfW3” và “Trồng rừng ở các tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh - KfW3 pha 2” Trong các báo cáo đã nêu rõ: Ngoài những thành quả nổi bật đã đạt được giống như dự án KfW1 trước đây về: độ che phủ, bảo

vệ nguồn nước va chống xói mòn, góp phần phát triển kinh tế xã hội; báo cáo cũng nhận định: ở cả 2 dự án tính chất phát triển bền vững của các dự án KfW được củng cố hơn; những tác động tích cực tới môi trường, tới sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội đã thể hiện ngày rõ nét bởi các tác động của dự án

đã mang lại Những tiềm năng rủi ro đã nêu trong các báo cáo đánh giá về dự

án KfW1 và KfW2 (Trồng rừng tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị” đã được 2 dự án KfW3 và KfW3 pha 2 cải thiện hoặc hạn chế như: Tăng cường diện tích trồng cây bản địa trong cơ cấu cây trồng, cải thiện việc kiểm soát trong lập và quản lý TKCN, cải thiện và phân cấp trách nhiệm trong hệ

Trang 18

tế, xã hội và môi trường; chỉ có như vậy mới có đủ cơ sở đề xuất những giải pháp cho quá trình phát triển bền vững của đất nước nói chung và của ngành lâm nghiệp nói riêng theo tinh thần của Hội nghị quốc tế về môi trường năm

1992, tại Rio de Janeiro (Braxin) đã đi đến tiếng nói chung là: “Phải kết hợp hài hoà giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội, hướng tới một

sự phát triển bền vững trong phạm vi từng nước và trên toàn thế giới”

Mặc dù khác với những nước đang phát triển, Việt Nam trong những năm gần đây mới chú trọng đến công tác nghiên cứu đánh giá tác động của các dự án Tuy nhiên cũng đã đạt được những kết quả nhất định góp phần tạo tiền đề để hoạt động này phát triển hơn, hệ thống hơn là thước đo đánh giá hiệu quả của công tác đầu tư

1.3 Phân loại dự án và dự án ODA

Tùy vào cách tiếp cận mà dự án được phân loại như sau:

- Theo quy mô và tính chất: dự án quốc gia do Quốc hội xem xét, quyết định về chủ trương đầu tư; các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B, C tùy theo mức độ vốn và quy mô đầu tư

- Theo nguồn vốn đầu tư:

+ Dự án sử dụng vốn Ngân sách nhà nước

Trang 19

17

+ Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu

tư phát triển của Nhà nước

+ Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước + Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn

Trong các loại hình dự án còn có một loại dự án đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân nói chung, đó là dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Chính sách ODA với mục đích chính nhằm thúc đẩy sự phát triển ổn định nền kinh tế quốc tế chủ yếu thông qua hỗ trợ cho sự phát triển bền vững các nguồn tài nguyên, kinh tế và cơ sở hạ tầng ở các nước đang phát triển, đặc biệt là để giúp các nước này giải quyết những khó khăn kinh tế phải đối mặt Các dự án ODA có được phụ thuộc nhiều vào các đối tác hợp tác phát triển

Tại Việt Nam, ODA là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, các tổ chức song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ ODA là nguồn vốn quan trọng của ngân sách nhà nước, được sử dụng để hỗ trợ thực hiện các chương trình, dự án ưu tiên về phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ, trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp và nông thôn (nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, thủy sản) kết hợp xóa đói giảm nghèo; xây dựng hạ tầng cơ sở, bảo vệ môi trường,

Các hình thức cung cấp ODA bao gồm:

+ ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn trả cho nhà tài trợ

+ ODA vay ưu đãi (tín dụng ưu đãi): là khoản vay với các ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ

Trang 20

Vốn ODA đã được sử dụng để phục hồi, nâng cấp và phát triển kết cấu

hạ tầng kinh tế - xã hội, giải quyết một số vấn đề xã hội như xoá đói, giảm nghèo, phát triển y tế, giáo dục và khoa học công nghệ; bảo vệ môi trường; cải cách hành chính, pháp luật; hỗ trợ một số lĩnh vực sản xuất Nhiều công trình đầu tư bằng nguồn vốn ODA (đặc biệt trong các lĩnh vực giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, công nghiệp năng lượng, nông nghiệp và phát triển nông thôn, cấp thoát nước và phát triển đô thị, y tế và giáo dục) đã được đưa vào sử dụng, góp phần tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân Tuy nhiên, khối lượng vốn ODA được giải ngân trong thời gian qua mới chỉ đạt khoảng 70 - 80% kế hoạch đề ra

Thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa của Đảng và Nhà nước, trong vài thập kỷ qua nguồn vốn ODA đầu tư vào lĩnh vực Lâm nghiệp ngày càng tăng Các dự án ODA lâm nghiệp có cách tiếp cận liên ngành, đa lĩnh vực, phát triển nông thôn tổng hợp và mang tính chất của dự án phát triển kinh tế

xã hội nông thôn miền núi Đến nay các dự án đã trồng được 270.000 ha rừng, trồng nông lâm kết hợp 12.000 ha; đã hoàn thành 50 công trình thủy lợi vừa

và nhỏ; đầu tư cơ sở hạ tầng cho nông thôn gồm 647km đường, 21.000 m2trường học và trạm y tế; nâng cao một bước đời sống và dân trí cho người dân

Trang 22

20

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá kết quả thực hiện dự án KfW3 pha 2 trên địa bàn huyện Tiên Yên - tỉnh Quảng Ninh làm cơ sở đề xuất giải pháp duy trì, phát huy hiệu quả của dự án, góp phần vào việc bảo vệ và phát triển rừng tại tỉnh Quảng Ninh

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá kết quả thực hiện của dự án KfW3 pha 2 tại huyện Tiên Yên

- tỉnh Quảng Ninh; làm rõ kết quả, tồn tại hạn chế và bài học kinh nghiệm

- Đề xuất giải pháp nhằm duy trì, phát huy kết quả của dự án, góp phần vào việc bảo vệ và phát triển rừng tại tỉnh Quảng Ninh

2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: các hoạt động, các kết quả thực hiện dự án

KfW3 pha 2 tại huyện Tiên Yên - tỉnh Quảng Ninh

- Phạm vi nghiên cứu: xã Hà Lâu và Phong Dụ - huyện Tiên Yên -

tỉnh Quảng Ninh

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Tình hình thực hiện các hoạt động của dự án KfW3 pha 2 tại khu vực nghiên cứu

- Đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu cơ bản của dự án KfW3 pha

2 tại huyện Tiên Yên - tỉnh Quảng Ninh

- Đánh giá hiệu quả của dự án KfW3 pha 2 tại huyện Tiên Yên - tỉnh Quảng Ninh

Trang 23

21

- Đề xuất giải pháp nhằm duy trì, phát huy kết quả của dự án, góp phần bảo vệ và phát triển rừng tại tỉnh Quảng Ninh

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

2.4.1.1 Thông tin thứ cấp: Phương pháp kế thừa kết quả nghiên cứu

- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến dự án (giáo trình, bài giảng, báo cáo khoa học…)

- Nghiên cứu các báo cáo, tài liệu liên quan đến đánh giá dự án tại tỉnh Quảng Ninh

- Thông tin chung về dự án đầu tư của KfW tại Việt Nam

- Các văn bản luật pháp, các chương trình và dự án khác có liên quan đến quản lý và thực hiện dự án tại khu vực

- Tài liệu về tình hình tự nhiên, dân sinh kinh tế tại huyện Tiên Yên - Tỉnh Quảng Ninh tại các thời điểm trước, trong và sau khi thực hiện dự án

- Các tài liệu về quá trình thực hiện dự án trên khu vực

- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất, tài nguyên rừng… tại các thời điểm trước, trong và sau khi kết thúc dự án

- Phương án quy hoạch tổng thể, quy hoạch lâm nông nghiệp của vùng trong thời gian thực hiện dự án

- Các nghiên cứu, đánh giá về môi trường, kinh tế, xã hội tại khu vực Các tài liệu thu thập tại các nguồn đáng tin cậy và cần được xác định, kiểm tra về tính xác thực, tính cập nhật

2.4.1.2 Thông tin sơ cấp

Áp dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA):

Trang 24

22

- Phỏng vấn bán cấu trúc: Phỏng vấn bán cấu trúc là phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân, giúp xác định nguyên nhân thay đổi và thu được nhiều dữ liệu để giải thích kết quả đạt được từ phương pháp quan sát trực tiếp Phương pháp này đặc biệt hữu ích khi khuyến khích sự tham gia của các cá nhân thuộc các cơ quan hay các hộ gia đình do linh hoạt và được thực hiện thông qua các cuộc nói chuyện

- Chọn mẫu ngẫu nhiên và chọn mẫu không ngẫu nhiên: lựa chọn các đối tượng phỏng vấn (người tham gia) đảm bảo đại diện cho một nhóm nào

đó (không ngẫu nhiên), trong nhóm này lại tiếp tục chọn ra một số đối tượng ngẫu nhiên để phỏng vấn Phương pháp này đảm bảo dữ liệu thu thập được đầy đủ để có thể phân tích khách quan và có nghĩa

- Nhóm trọng tâm là phương pháp để đánh giá những thay đổi định tính tại hiện trường và kiểm chứng tiến độ thực hiện cũng như những thay đổi định lượng khi xem xét lại tài liệu đã thu thập dựa trên việc tổng hợp ý kiến của một số người theo các vấn đề đã đặt ra trước theo các tiêu chí đánh giá Phiếu tổng hợp thảo luận nhóm nông dân về các mục tiêu đánh giá, phiếu tổng hợp thảo luận nhóm cán bộ

- Thực hiện phỏng vấn các đối tượng với dung lượng: Tại mỗi xã phỏng vấn 10 cán bộ, 30 hộ dân trong đó 15 hộ tham gia dự án và 15 hộ không tham gia dự án có sự tương đồng nhất định về các điều kiện: kinh tế, xã hội…

- Thảo luận, trao đổi thông tin

2.4.2 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu và viết báo cáo

- Phương pháp thống kê, phân tích kinh tế

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp khái quát hoá

Trang 25

23

- Sử dụng sơ đồ, đồ thị, bảng biểu…

2.4.3 Phương pháp đánh giá tác động của dự án

2.5.3.1 Phương pháp đánh giá tác động dự án

* Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình rừng dự án

Dự án KfW3 pha 2 là dự án sử dụng kinh phí tài trợ không hoàn lại Tuy nhiên, do đặc thù chu kỳ kinh doanh (CKKD) cây lâm nghiệp thường dài nên phương pháp tính toán hiệu quả kinh tế ở đây được tính theo phương pháp động với giả thiết là phải chịu lãi suất tín dụng theo quy định được áp dụng cho các chương trình và dự án khác Cách làm này tuy làm giảm về hiệu quả kinh tế của dự án song lại phù hợp với thực tế sản xuất hiện nay khi phải

vay vốn đầu tư và chịu lãi suất tiết kiệm, các chỉ tiêu kinh tế ở đây được tính

t

r 1

Ct - Bt

Trong đó: NPV: là giá trị hiện tại thuần tuý

Bt: Tổng các khoản thu nhập của năm thứ t

Ct: Tổng các khoản chi của năm thứ t

r: Tỷ lệ lãi suất

t: thời gian (chỉ số năm t = 0 – n)

Nếu NPV > 0 kinh doanh đảm bảo có lãi, phương án được chấp nhận Nếu NPV < 0 kinh doanh bị thua lỗ, phương án không được chấp nhận Nếu NPV = 0 kinh doanh hoà vốn

Trang 26

24

BCR: Tỷ lệ thu nhập/chi phí: (Theo công thức của J.E.Gunter), BCR là

thương số của toàn bộ thu nhập so với chi phí sau khi chiết khấu đưa về hiện tại Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lãi thực tế của các mô hình

0

0

) 1

) 1 (

(

(2.2)

Trong đó: + BPV là giá trị hiện tại của thu nhập (đồng)

+ CPV là giá trị hiện tại của chi phí (đồng)

Chỉ tiêu này chính là hệ số sinh lãi thực tế nó phản ánh về mặt chất lượng đầu tư tức là cho ta biết được mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất Nó cho phép ta so sánh và lựa chọn các phương án có qui mô và kết cấu đầu tư khác nhau, phương án nào có BCR lớn thì được lựa chọn BCR > 1 kinh doanh có lãi, BCR < 1 kinh doanh bị thua lỗ;

IRR(%): Tỷ lệ thu hồi nội bộ: là chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời tối

đa của một mô hình rừng trồng, nếu mô hình nào vay vốn với lãi suất IRR thì

mô hình đó sẽ hoà vốn nghĩa là NPV = 0 thì r = IRR

Tiêu chuẩn đánh giá: IRR: IRR> r, mô hình có lãi;

IRR = r, mô hình hoà vốn;

IRR< r, mô hình bị thua lỗ

Phân tích kinh tế hộ gia đình (HGĐ) của các hộ tham gia Dự án:

Tính toán, phân tích, tổng hợp cho các nhóm hộ đã khảo sát theo phương pháp lấy giá trị số bình quân ở từng chỉ tiêu cụ thể để so sánh giá trị tuyệt đối và tỷ trọng (cơ cấu) tại các thời điểm trước và sau dự án như:

- Sự thay đổi cơ cấu thu nhập của các HGĐ: Làm rõ phần thu nhập từ sản xuất lâm nghiệp và từ dự án;

Trang 27

- Sự thay đổi về phân loại kinh tế HGĐ

* Phương pháp đánh giá tác động xã hội

Tác động xã hội được đánh giá chủ yếu vào phương pháp đánh giá có

sự tham gia của người dân kết hợp với việc kế thừa, tổng hợp từ một số báo cáo kết quả dự án, thông qua các chỉ tiêu sau:

- Đánh giá mức độ chấp nhận của người dân được thể hiện qua số hộ gia đình tham gia các hoạt động dự án;

- Tác động của dự án đến việc thu hút lao động và cơ cấu sử dụng thời gian của các hộ tham gia dự án;

- Tác động của dự án đến việc nâng cao ý thức và vai trò của người dân trong việc chăm sóc, quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng;

- Tác động của dự án về việc tạo công ăn việc làm phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân;

- Nhận thức của cộng đồng về bình đẳng giới, về phát triển rừng bền vững;

- Tác động lan tỏa của dự án

* Phương pháp đánh giá các tác động của môi trường;

- Đánh giá sự thay đổi về diện tích rừng, độ che phủ rừng

Kế thừa từ tổng hợp kết quả trồng rừng của dự án, số liệu hiện trạng rừng vào các thời điểm trước và sau khi thực hiện dự án

- Đánh giá tác động của dự án đến khả năng chống xói mòn

Trang 28

26

Kế thừa từ tổng hợp kết quả trồng rừng của dự án, số liệu hiện trạng khả năng chống xói mòn vào các thời điểm trước và sau khi thực hiện dự án

- Đánh giá về mức độ cải thiện nguồn nước trong khu vực

Xây dựng các chỉ tiêu đánh giá nguồn nước địa phương tại hai thời điểm trước và sau dự án rồi tiến hành đánh giá theo phương pháp cho điểm từng chỉ tiêu (tối đa là 10 điểm)

2.4.4 Phương pháp xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu, thông tin

2.4.4.1 Loại hình các thông tin về kinh tế - xã hội

Số liệu thu thập được tổng hợp theo các chủ đề, tổng hợp thành các dạng bảng theo không gian, thời gian và thể hiện trên các dạng biểu đồ, đồ thị phù hợp

2.4.4.2 Chỉnh lý và xử lý các số liệu điều tra và phỏng vấn

Các số liệu điều tra hiện trường được chỉnh lý và xử lý bằng các phần mềm thống kê chuyên dụng: Excel, SPSS,…

* Phương pháp so sánh 2 mẫu với số mẫu n ≥ 30

Sử dụng tiêu chuẩn U của phân bố chuẩn tiêu chuẩn:

2

2 2 1

2 1

2 1

n

S n S

X X U

nếu U ≤ 1,96 thì H0+ => không có sự khác biệt giữa 2 nhóm so sánh

U tính toán > 1,96 tức là 2 nhóm được coi là có sự khác biệt (độ tin cậy 99.5%)

2.4.4.3 Các phương pháp phân tích và đánh giá

- Phương pháp so sánh: đánh giá những thay đổi của các điều kiện tại khu vực trước và sau khi dự án được thực hiện; đối với các bên tham gia dự án và không tham gia dự án để rút ra những kết luận về ảnh hưởng của các hoạt động đầu tư của dự án tới các mặt kinh tế, xã hội, môi trường, đồng thời tìm

ra nguyên nhân dẫn tới sự biến đổi này

Trang 29

27 + Nhóm các chỉ tiêu đánh giá về kinh tế: đánh giá hiệu quả sử dụng đất; phát triển kinh tế toàn khu vực; biến đổi về kinh tế hộ gia đình (gồm thu nhập,

cơ cấu thu nhập, mức sống…)

+ Nhóm các chỉ tiêu đánh giá về xã hội: sự tham gia của người dân; sử dụng lao động của xã và hộ gia đình; nhận thức của người dân về quản lý bảo

vệ tài nguyên thiên nhiên; ứng dụng kiến thức bản địa kết hợp với kỹ thuật tiến

bộ trong sản xuất và đời sống; giảm thiểu bất bình đẳng giới, tỷ lệ hộ nghèo + Nhóm các chỉ tiêu đánh giá về môi trường: đánh giá khả năng phòng hộ của rừng qua đánh giá số lượng, chất lượng rừng; mức độ xói mòn và độ phì của đất; đảm bảo số lượng và chất lượng các nguồn nước; cải thiện về điều kiện khí hậu tại xã, tỷ lệ che phủ rừng

- Phương pháp chuyên gia (phương pháp Delphy): Luận văn đã tiến hành tham vấn ý kiến trực tiếp với một số chuyên gia kinh tế, xã hội, môi trường có liên quan và tham vấn ý kiến đóng góp bằng phiếu tham vấn đối với các đối tượng hưởng lợi từ dự án

- Dự báo xu thế diễn biến: Căn cứ vào những quy luật biến đổi và tình hình thực tế tại khu vực, kết hợp ý kiến chuyên gia có thể dự báo xu thế ảnh hưởng của dự án trong tương lai

Trang 30

28

Chương 3 KHÁI QUÁT VỀ DỰ ÁN VÀ ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN

VÙNG NGHIÊN CỨU 3.1 Khái quát về Dự án Trồng rừng tại các tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh - KfW3 pha 2

3.1.1 Thông tin chung về dự án

Dự án trồng rừng ở các tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh (Dự án KfW3 pha 2) do Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức viện trợ không hoàn lại được thực hiện theo Quyết định số 5165/QĐ/BNN/HTQT ngày 25 tháng 11 năm

2002 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc Phê duyệt Dự án trồng rừng KfW3 pha 2 ở các tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh do Chính phủ cộng hòa Liên ban Đức viện trợ không hoàn lại và Quyết định số 813/QĐ-BNN-HTQT ngày 27 tháng 3 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT về việc Phê duyệt điều chỉnh bổ sung nội dung dự án Trồng rừng ở các tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh

Trang 31

29

các hộ nông dân trồng và quản lý bền vững Trồng rừng sẽ được tiến hành trên diện tích đất trống - đồi núi trọc ở những nơi đất quá xấu, không sử dụng vào các mục đích khác được, cho phép có thể duy trì được rừng sản xuất

Dự án được thực hiện tại 14 xã thuộc 4 huyện của hai tỉnh Bắc Giang

và Quảng Ninh Dự án được triển khai từ năm 2001 và kéo dài đến hết năm 2008

Mức độ thành công sẽ được đánh giá bằng diện tích rừng được trồng trong khuôn khổ dự án, cũng như số hộ nông dân tham gia thực hiện dự án

Sự phát triển rừng của dự án sẽ góp phần đáng kể vào việc tăng độ che phủ của rừng tại các tỉnh, huyện và xã vùng dự án Quy hoạch sử dụng đất thôn bản sẽ đảm bảo trồng rừng trên diện tích liền khoảnh và do vậy sẽ tạo ra hiệu quả sinh thái như mong muốn Về lâu dài, kế hoạch quản lý rừng thôn bản do các nhóm hỗ trợ thôn bản xây dựng và quản lý sẽ đảm bảo duy trì được diện tích rừng trồng này

Lâm sản từ rừng trồng sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân địa phương về gỗ xây dựng, sản xuất nguyên liệu cho bột gỗ, gỗ lớn, củi đun và lâm sản ngoài gỗ như nhựa thông

Khí hậu vùng dự án sẽ được cải thiện và khả năng giữ nước sẽ tăng lên Điều kiện và hiệu quả của hệ thống thủy lợi trong các xã thuộc dự án cũng có liên quan mật thiết đến trạng thái tài nguyên rừng Do đó, trồng rừng ở các vùng đầu nguồn sẽ góp phần:

- Làm giảm quá trình bồi tụ tại các hồ chứa nước;

- Làm giảm xói mòn đất và giảm tác động tiêu cực đối với sản xuất nông nghiệp;

- Cải thiện dòng chảy trong năm và nâng cao hiệu quả của các hệ thống thủy lợi;

- Làm tăng chất lượng nước và giảm ô nhiễm nước;

- Làm giảm quy mô các công trình chống lũ

Trang 32

30

Trang 33

Tại cấp tỉnh cũng thành lập Ban điều hành dự án cấp tỉnh do một phó chủ tịch UBND tỉnh phụ trách về Nông nghiệp & PTNT làm trưởng ban Các thành viên của Ban điều hành dự án tỉnh là các Phó chủ tịch UBND huyện phụ trách về Nông nghiệp & PTNT Các đại diện của các Sở Kế hoạch và Đầu

tư, Tài chính, Nông nghiệp & PTNT, Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT tỉnh

Ở cấp Trung ương thành lập Ban quản lý dự án Trung ương thuộc Ban quản lý các dự án lâm nghiệp để quản lý và chỉ đạo chung các hoạt động dự án

Ở cấp tỉnh, cơ quan thực hiện dự án là các cơ quan chuyên ngành của

Trang 34

32 Lãnh đạo cơ quan chuyên ngành có khả năng am hiểu về quản lý lâm nghiệp

và kỹ thuật lâm sinh

Ở cấp huyện, Giám đốc dự án huyện là Phó chủ tịch UBND huyện phụ trách Nông nghiệp & PTNT vì các hoạt động ở cấp cơ sở này có liên quan nhiều đến chính quyền địa phương Phó giám đốc dự án huyện là lãnh đạo của đơn vị triển khai cấp huyện (tốt nhất là lâm trường, nếu nơi nào không có lâm trường thì mới dùng Phòng Nông nghiệp hoặc Hạt kiểm lâm)

Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT Việt Nam là ngân hàng có mạng lưới chi nhánh tới cấp huyện, có đầy đủ khả năng làm dịch vụ mở và quản lý các tài khoản tiền gửi cá nhân cho các hộ tham gia dự án Bộ Nông nghiệp & PTNT ký hợp đồng với Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT để triển khai mở và quản lý các TKTG cho dự án

Như vậy, dự án được tổ chức, điều hành và quản lý thống nhất từ cấp Trung ương đến cấp tỉnh và huyện với nhiệm vụ và trách nhiệm rõ ràng, cụ thể Tổ chức dự án đặc biệt quan tâm tới sự tham gia của người dân, họ đóng vai trò là chủ rừng Dự án sẽ khuyến khích thành lập các nhóm nông dân trồng rừng để đại diện cho người dân trồng rừng thôn bản và đóng vai trò là những đối tác liên hệ với cán bộ dự án Các nhóm tự quản lý này có thể có chức năng phổ cập để hỗ trợ cho các thành viên của nhóm Việc tăng cường các tổ chức thôn bản đã gắn chặt hơn sự cam kết của nông dân trồng rừng và giảm bớt được những ảnh hưởng của quản lý Nhà nước

Trang 35

33

Trong những năm đầu triển khai dự án, Bộ Nông nghiệp & PTNT sẽ ký hợp đồng với Công ty tư vấn tuyển chọn một cố vấn trưởng, một số chuyên gia quốc tế ngắn hạn và đặc biệt là một số chuyên gia Việt Nam tham gia tư vấn thực thi dự án Chuyên gia quốc tế sẽ cũng phối hợp với chuyên gia trong nước cũng như với Ban QLDA tỉnh và huyện để cùng thực hiện dự án Hầu hết những tháng làm việc của chuyên gia tư vấn quốc tế do Cố vấn trưởng kỹ thuật điều phối và quyết định vì hầu hết những kỹ thuật cơ bản được áp dụng cho dự án đã được phát triển trong các dự án khác Cố vấn trưởng kỹ thuật của dự án được các chuyên gia trong nước, chuyên gia tư vấn ngắn hạn hỗ trợ

về mặt kỹ thuật

3.1.7 Cơ quan thực thi

Cơ quan thực thi dự án ở cấp trung ương là Ban quản lý các dự án lâm nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp & PTNT

Ở cấp tỉnh, Ban quản lý dự án tỉnh thuộc Chi cục lâm nghiệp ở cả hai tỉnh của dự án

Ở cấp huyện, việc thực hiện dự án được Ban quản lý dự án huyện tiến hành thuộc Văn phòng của Phòng nông lâm hay Lâm trường quốc doanh Trong một số trường hợp, cả hai cơ quan cùng sát nhập với nhau, thuộc một Ban quản lý dự án huyện

3.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Tiên Yên - tỉnh

Trang 36

34

- Từ 21o11’ - 21o33’ vĩ độ Bắc

- Từ 107o13’ - 107o32’ kinh độ Đông

Phía Đông giáp huyện Đầm Hà;

Phía Tây giáp huyện Ba Chẽ và huyện Đình Lập - Lạng Sơn;

Phía Nam giáp xã Cộng Hoà - thị xã Cẩm Phả;

Phía Bắc giáp huyện Bình Liêu

3.2.1.2 Địa hình, địa thế

Tiên Yên có địa hình dốc, độ cao trung bình 300 - 500m, đỉnh núi cao nhất là đỉnh núi Vân Mây cao tới 689,5m và đỉnh Nà Hắc cao 633,5 m so với mặt nước biển Độ dốc các sườn núi tập trung từ 20 - 25o và trên 25o, vì thế tiềm năng của Tiên Yên chủ yếu là nghề rừng và là điều kiện tốt để phát triển chăn nuôi đại gia súc, ít có đất nông nghiệp canh tác

Địa hình Tiên Yên bị chia cắt bởi các dãy núi và các sông suối tạo thành những thung lũng nhỏ hẹp vì thế đất canh tác bị hạn chế Do địa hình phức tạp chủ yếu là đồi núi, nên việc bố trí hệ thống tưới tiêu cho sản xuất, khả năng thâm canh, tăng vụ, bố trí phát triển hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng không những gặp nhiều khó khăn trong quá trình thiết kế mà còn tốn kém trong chi phí Một hạn chế khó khăn nữa là hạn hán kéo dài vào mùa khô, mùa mưa thường xảy ra lũ quét làm cho đất bị xói mòn, rửa trôi, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của nhân dân trong huyện

3.2.1.3 Khí hậu, thủy văn

Tiên Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió ẩm, gió mùa vùng núi nên nóng ẩm, mưa nhiều Theo số liệu của trạm dự báo và phục vụ khí tượng thuỷ văn Quảng Ninh thì khí hậu Tiên Yên có những đặc trưng như sau:

Trang 37

35

- Nhiệt độ không khí trung bình năm 21 - 23oC, về mùa hè nhiệt độ trung bình giao động từ 26 - 28oC, nhiệt độ tối cao tuyệt đối đạt tới 37,6oC vào tháng 6, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 1oC vào tháng 1;

- Độ ẩm không khí tương đối trung bình hàng năm là 83%, cao nhất vào tháng 3, tháng 4 đạt 88%; thấp nhất vào tháng 11, 12 đạt 76%;

- Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.285 mm Lượng mưa phân

bố không đều trong năm, phân hoá theo mùa tạo ra hai mùa rõ rệt, mùa mưa nóng ẩm bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10; mùa khô hanh, lạnh ít mưa có rét kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau;

- Lượng nước bốc hơi trung bình hàng năm 868 mm Lượng bốc hơi tăng mạnh vào mùa khô hanh, các đợt gió mùa Đông Bắc thổi mạnh;

- Tiên Yên thịnh hành 2 loại gió chính là gió đông bắc và gió đông nam: + Gió Đông Bắc: thịnh hành từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau là gió bắc

ẩm độ cao Khí hậu thích hợp với nhiều loại cây trồng;

Các chỉ tiêu khí hậu bình quân các tháng (Giai đoạn 1998 - 2008) tại khu vực nghiên cứu được thể hiện ở bảng 3.1

Trang 38

Nhiệt độ không khí ( 0 C)

Độ ẩm không khí (%)

Từ số liệu tại bảng 3.1 cho thấy: do địa hình chia cắt bởi các dãy núi,

độ dốc lớn tạo thành các thung lũng, khe suối chằng chịt chảy tập chung chia thành 2 nhánh (sông Tiên Yên và sông Phố Cũ); Sông Tiên Yên bắt nguồn từ Đồng Tông - Trung Quốc chảy qua huyện Bình Liêu và vào Tiên Yên có chiều dài 21,5km, lưu vực 520 km2 và sông Phố Cũ bắc nguồn từ Bản Chắt huyện Đình Lập chảy vào Tiên Yên có chiều dài là 30,1 km, lưu vực 687 km2, chảy qua nhiều

Trang 39

3.2.1.4 Địa chất, đất đai;

Theo kết quả điều tra của Viện điều tra quy hoạch rừng mà trực tiếp là phân viện điều tra quy hoạch rừng Tây bắc bộ và một số tài liệu của Đoàn điều tra 3, thì địa chất trên địa bàn huyện Tiên Yên chủ yếu là các sản phẩm trầm tích trên biển tạo lên các loại đá mẹ như Phiến thạch sét, Phấn sa thuộc nhóm đá sét và Sa thạch, cuội kết thuộc nhóm đá cát, trên núi cao có đá Trầm tích và Mắc ma a xít;

Quá trình hình thành đất chủ yếu là quá trình Feralít hình thành lên các loại đất chính sau:

- Đất lúa nước vùng đồi:

+ Đất feralit biến đổi do trồng lúa: phân bố ở hầu hết các xã trong huyện; + Đất dốc tụ trồng lúa nước: phân bố rải rác ở một số xã nhưng tập trung chủ yếu ở xã Đồn Đạc;

+ Đất phù sa ngòi suối: phân bố hầu hết ở các xã vùng thấp;

- Đất feralits điển hình nhiệt đới ẩm:

Trang 40

38

+ Đất feralits phát triển trên sa thạch;

+ Đất feralits đỏ vàng phát triển trên đá Mácma axít;

- Đất feralits trên núi: Phân bố ở độ cao từ 175 - 689,5m, phát triển trên các loại đá trầm tích và Mácma Axít

3.2.1.5 Hiện trạng tài nguyên, thiên nhiên;

- Tài nguyên đất

Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện: 64.789,74 ha trong đó:

+ Đất lâm nghiệp: 53.240,4 ha chiếm 82,1 %;

+ Đất sản xuất nông nghiệp: 2.477,56 ha chiếm 3,8%;

+ Đất nuôi trồng thuỷ sản: 1.838,36 ha chiếm 2,8%;

+ Đất phi nông nghiệp: 2.799,61 ha chiếm 4,3%;

+ Đất chưa sử dụng: 4.433,81 ha chiếm 6,9%;

- Tài nguyên nước

Với hệ thống sông, suối dày đặc nhiều ao hồ nhỏ vì vậy nguồn nước nơi đây khá dồi dào, đặc biệt có 2 con sông với tồng chiều dài > 51,5 km, lưu vực 1.207km2, chảy qua nhiều xã đáp ứng được nhu cầu nước sinh hoạt và sản xuất nông lâm nghiệp cho nhân dân trong vùng, tuy nhiên nguồn nước sạch tích lũy còn thiếu;

Tổng số công trình đầu tư xây dựng phục vụ nước sinh hoạt hiện có là

54 công trình gồm các đập nước và bể chứa Trong đó tại thị trấn có 1 nhà máy nước, lấy nguồn nước từ sông Tiên Yên qua xử lý cấp cho người tiêu dùng, công xuất 2.000m3/ngày đêm Tuy nhiên, hiện nay mới chỉ cấp được cho khoảng 85% số hộ dân trên địa bàn thị trấn, số còn lại chủ yếu dùng nước giếng đào và nước sông Các xã chủ yếu sử dụng nước sinh hoạt thông qua hệ thống nước tự chảy dẫn từ đầu nguồn các khe, suối;

Ngày đăng: 28/09/2017, 11:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm