Vì vậy thuế tài nguyên tính theo lợi nhuận sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho các công ty duy trì hoạt động và nhân lực trong các giai đoạn khó khăn Vai trò của Thuế tài nguyên: Thuế tài nguy
Trang 1CHU THỊ THU
BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ TÀI NGUYÊN
VÀ NHỮNG CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI NGÀNH CÔNG NGHIỆP THAN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.31.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN QUANG HÀ
Hà Nội, 2011
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Tài nguyên và môi trường có vai trò thiết yếu đối với con người là nền tảng tồn tại và phát triển của xã hội, đóng góp quan trọng cho ngân sách Nhà nước và tăng trưởng của mọi nền kinh tế Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tài nguyên trở thành nguồn lực khan hiếm, là đối tượng tranh chấp quyết liệt giữa các nước, môi trường
bị ô nhiễm, suy thoái nhanh, trở thành vấn đề toàn cầu và mối lo chung của toàn nhân loại Vì vậy công tác quản lý và bảo vệ môi trường được coi trọng và có vị trí đặc biệt trong chiến lược phát triển bền vững của các quốc gia trên thế giới
Quản lý Nhà nước về Tài nguyên và Môi trường hiện nay trên thế giới về cơ bản có hai cách tiếp cận; một là cách tiếp cận dựa trên cơ sở điều hành và kiểm soát (Comment and Control - CAC); hai là cách tiếp cận dựa trên thị trường (Market Approach – MA), cách tiếp cận này thường được gọi là sử dụng công cụ kinh tế (Economic Intruments - EIs) cho quản lý Tài nguyên và Môi trường Thực tế những nước có nền kinh tế thị trường phát triển, cách tiếp cận MA đã chứng tỏ tính hiệu quả, linh hoạt và sự phù hợp với xu thế vận hành của nền kinh tế Xét về mặt học thuật, lý thuyết kinh tế thị trường đã chỉ ra rằng mọi hoạt động trong nền kinh tế
đó đều phải dựa trên quy luật cung-cầu, nếu làm trái quy luật sẽ gây ra những tổn thất cho xã hội về mặt phúc lợi Tuy nhiên trong nền Kinh tế thị trường vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng, Nhà nước giữ vai trò điều tiết để quy luật cung-cầu vận hành đúng hướng và ổn định cho phát triển, không để xảy ra khủng hoảng thừa hay khủng hoảng thiếu
Thuế là một trong những công cụ của Nhà nước, không ngoài mục đích tạo hành lang pháp lý với những chuẩn mực chung phù hợp với nền kinh tế thế giới, là
cơ sở để xây dựng môi trường kinh doanh thông thoáng, thu hút vốn đầu tư để phát triển kinh tế quốc gia Qua các tài liệu nghiên cứu cho thấy, Chính phủ các nước đã xây dựng chính sách thuế của quốc gia mình gắn chặt với lợi ích quốc gia
Trang 3Thuế tài nguyên là loại thuế thu vào hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên của tổ chức, cá nhân Hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên là sự kiện pháp lý làm phát sinh thuế tài nguyên (không phải hành vi sử dụng tài nguyên thiên nhiên)
Ngành công nghiệp Than là một ngành công nghiệp khai thác tài nguyên thiên nhiên không tái tạo của quốc gia Nó đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước đặc biệt là đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia Theo EIA sản lượng Than Việt nam năm 2007 là 49,14 triệu tấn, với sản lượng này Việt nam đứng thứ 6 trong các nước Châu Á, thứ 17 trên thế giới chiếm khoảng 0,69% sản lượng than trên thế giới Mặt khác Than còn là đầu vào cho rất nhiều các ngành sản xuất công nghiệp trọng yếu của đất nước như: ngành Điện lực, ngành Phân bón, ngành công nghiệp xi măng và công nghiệp Giấy Trong đó, than chiếm tới 6% chi phí giá thành của xi măng lò quay, 12% của xi măng lò đứng, 44% đạm urê của Nhà máy đạm Hà Bắc Với ngành điện, tiêu chuẩn áp dụng cho nhiệt điện là 390g cho 1 kWh điện (Theo Bộ Tài Chính, năm 2007)
Tuy nhiên, công nghiệp khai thác Than gây tác động bất lợi lớn đến vấn đề bảo vệ môi trường thiên nhiên cũng như môi trường sống của con người Chẳng hạn khai thác Than sẽ gây ra vấn đề bụi mỏ, nước thải mỏ, bụi mỏ trong quá trình vận chuyển than, vấn đề đất đá thải…Than còn là nguồn năng lượng gây nhiều tác hại cho môi trường, là thủ phạm chính tạo ra hiệu ứng nhà kính (than thải ra lượng khí
CO2, cao gấp hai lần so với gas)
Xuất phát từ xu hướng phát triển chung của nền kinh tế và vai trò chủ đạo của ngành công nghiệp khai thác Than Việt nam hiện nay đặt ra cho Chính phủ phải
có những can thiệp cần thiết nhằm hướng việc sử dụng tài nguyên Than hiệu quả, tiết kiệm, bền vững và đảm bảo các vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay Trên cơ sở những lý do trên tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“Bước đầu đánh giá tác động của Thuế tài nguyên và những can thiệp của Chính phủ đối với ngành công nghiệp Than ở Việt Nam”
Để đạt được những nội dung cơ bản, mục tiêu tổng quát của luận văn: Nghiên cứu tác động của Thuế tài nguyên và các can thiệp của Chính phủ đối với
Trang 4sản lượng và cơ chế xác định giá bán sản phẩm của ngành công nghiệp Than ở Việt nam trong thời gian qua Từ đó nhằm đề xuất một số giải pháp góp phần quản lý và
sử dụng tài nguyên than đá ở Việt Nam hiệu quả và bền vững
Ngoài phần Đặt vấn đề và Kết luận luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chương 1 Cơ sở lý luận và tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2 Mục tiêu, Đối tượng, Nội dung, Phương pháp nghiên cứu
Chương 2 Kết quả nghiên cứu
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về thuế
Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước Thuế đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối lại thu nhập xã hội từ khu vực kinh tế thị trường sang khu vực kinh tế cộng cộng Chính sách thuế gắn liền với chính sách phát triển của mọi quốc gia
Tính cưỡng chế là đặc tính cơ bản nhất của thuế
Tại sao thuế lại có tính cưỡng chế? Câu trả lời rất đơn giản: không ai muốn nộp thuế dù cho họ có rất nhiều tiền đi chăng nữa Trong khi đó bất cứ nhà nước nào cũng phải cần có ngân sách để tối thiểu là duy trì bộ máy hoạt động của bản thân nhà nước Tính “cưỡng chế”, do đó, trở thành điều kiện cần và đủ của bất kỳ
hệ thống nào trên thế giới Không chỉ các nhà kinh tế học tư sản mà ngay cả K Marx cũng phải thừa nhận rằng: Thuế, đó là “Nghĩa vụ cần thiết để nuôi dưỡng nhà nước pháp quyền, thuế là nguồn sống … đối với nhà nước hành pháp Chính phủ mạnh và thuế cao là hai khái niệm đồng nhất.”[8]
Không có sự tương thích giữa việc nộp thuế và lợi ích nhận được từ việc nộp thuế
Xét cho cùng thì việc nộp thuế là tập trung một phần nguồn lực vào tay nhà nước để sau đó chúng được chi tiêu vào các hoạt động công ích (nói cách khác là để tài trợ cho hàng hóa công cộng) Một mặt, mọi người đều nhận được hàng hóa công cộng như nhau (không có sự định suất, hoặc sự định suất là vô ích), nhưng mặt khác, khối lượng thuế phải nộp của những người khác nhau là không giống nhau Mọi người đều sử dụng chung một hệ thống an sinh xã hội, một con đường … nhưng người giàu hơn lại phải nộp thuế nhiều hơn Điều này tạo nên sự khác biệt giữa thuế và giá cả Trong khi việc nộp thuế được xem như một nghĩa vụ không thể thoái thác và khối lượng các lợi ích mà người nộp thuế nhận được từ nhà nước không liên quan gì đến khối lượng thuế đã chi trả, thì việc trả tiền để nhận được một món hàng hoặc dịch vụ (qua giá) hoàn toàn mang tính chất tự nguyện và thường có
Trang 6sự tương xứng về mặt giá trị Kết quả là thuế thường được xem như là nặng nề hơn
là giá cho dù người nộp thuế có tán thành các chi tiêu của nhà nước, anh ta có thể không nhận thức được mối quan hệ trực tiếp nào giữa khối lượng thuế đã nộp và lợi ích cá nhân nhận được từ các hoạt động chung của nhà nước Mặt khác, người tiêu dùng tuy có phàn nàn về giá cả tăng cao nhưng lại nhận thức được một cái gì đó
mình mong muốn
1.1.2 Chức năng của thuế
Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là loại chức năng cơ bản,
đặc thù nhất thông qua chức năng này, các quỹ bằng tiền của nhà nước được hình thành Đây chính là sức mạnh cơ sở vật chất đảm bảo cho sự hoạt động và tồn t ại của nhà nước Mặc dù nhà nước có nhiều phương pháp mở rộng hay thu hẹp quy
mô ngân sách nhưng việc sử dụng công cụ thuế tỏ ra là có ưu thế hơn cả Điều đó được phản ánh bằng tỷ trọng thu từ thuế trong tổng thu ngân sách của các nước luôn
ở mức cao nhất, ở hầu hết các nước, con số này lên đến 90%
Bảng 1.1 Tỉ trọng thuế trong tổng thu ngân sách Nhà nước một số các
quốc gia trên thế giới
TT Quốc gia Tỉ trọng thu từ thuế trong tổng thu ngân sách (%)
Trang 7Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là sự huy động một bộ phân thu nhập quốc dân dưới hình thức tiền tệ vào NSNN Phần lớn thuế là đánh trên hàng hóa và thu nhập Người có thu nhập cao và có tiền chi tiêu cho nhiều hàng hóa hơn là người nộp thuế nhiều hơn; nói cách khác là những người giàu có là những người phải chịu nhiều thuế (tính về số tuyệt đối) hơn Số tiền này sau đó lại được nhà nước chi tiêu vào hàng hóa công cộng, trợ cấp hưu trí, bệnh tật, … tạo ra tính công bằng tương đối cho xã hội Đây chính là chức năng phân phối và phân phối lại của thuế Cũng theo các suy luận trên, trong một chừng mực đáng kể, chức năng phân phối và phân phối lại đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát huy tác dụng chức năng điều tiết kinh tế của thuế
Chức năng phân phối và phân phối lại có vị trí ngày càng tăng Điều này được giải thích bởi sự mở rộng các chức năng của nhà nước và việc thực hiện nhiều chính sách khác nhau, trong đó có việc can thiệp của nhà nước vào các quá trình kinh tế
Chức năng điều tiết kinh tế của thuế có nghĩa là phải xem thuế như là một
tác nhân tích cực của quá trình tái phân phối và thông qua đó tác động đến qua trình tái sản xuất của doanh nghiệp
Chức năng này không tách rời khỏi chức năng phân phối và phân phối lại của thuế mà cả hai chức năng đều có quan hệ tác động hỗ tương rất chặt chẽ Tại các nước tư bản công nghiệp phát triển và ngày nay, kể cả tại các nước đang phát triển, chức năng điều tiết kinh tế của thuế ngày càng được chú ý và được tăng cường đáng
kể
Giữa hai chức năng (chức năng phân phối và phân phối lại và chức năng điều tiết kinh tế) của thuế tồn tại mối quan hệ chặt chẽ Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của chức năng điều tiết kinh tế Nhưng chức năng điều tiết kinh tế của thuế cũng có tác động ngược lại đến chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập Nguồn tài chính mà nhà nước tập trung được dưới dạng thuế là tiền đề của sự can thiệp của nhà nước trên diện rộng và theo chiều sâu tới quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh
Trang 8nghiệp Ngược lại, việc điều tiết, sắp xếp sản xuất của nhà nước nhằm vào việc thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế lại tạo điều kiện để tăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân và đây chính là cơ sở quan trọng để mở rộng phạm vi tác động của chức năng phân phối và phân phối lại
1.1.3.1 Trong thị trường độc quyền nói chung
Ảnh hưởng và tác động của việc ban hành, điều chỉnh tỉ lệ thuế phụ thuộc rất nhiều vào bản chất của thị trường
Khi không có thuế, nhà độc quyền sản xuất tại điểm giá lớn hơn doanh thu biên (P>MR) lượng sản xuất nhà độc quyền tối đa hóa lợi nhuận tại điểm chi phí biên bằng doanh thu biên (MR=MC) Để tăng tối đa hóa lợi nhuận, nhà độc quyền định chi phí biên (MC) bằng doanh thu cận biên (MR) (hình)
Hình 1.1 Đồ thị ảnh hưởng của thuế đối với sản lượng và giá
Trang 91.1.3.2 Thuế giá trị và thuế sản lượng trong thị trường độc quyền
Đối với các nhà độc quyền, ảnh hưởng của thuế giá trị ( quy định bằng tỉ lệ phần trăm của giá trị) và ảnh hưởng của thuế cụ thể (một khoản cố định trên một đơn vị sản phẩm) khác nhau hoàn toàn
Thuế giá trị dựa trên % cố định của doanh thu, thuế này doanh thu thuế của nhà nước sẽ được nhiều hơn mặc dù với sản lượng giảm do thuế như nhau (Q0 đến QT)
Hình 1.2 Đồ thị thuế giá trị đối với nhà độc quyền
Nguyên nhân thuế giá trị làm giảm sản lượng ít hơn so với thuế dựa trên mỗi đơn vị bán ra là vì: thuế giá trị làm giảm doanh thu cận biên (MR) một lượng nhỏ hơn thuế dựa trên mỗi đơn vị sản lượng bán ra
Thuế dựa trên mỗi đơn vị sản lượng bán ra làm giảm MR đúng một lượng bằng thuế Nhưng chúng ta đã biết các nhà độc quyền định sản lượng bán ra tối đa hóa lợi nhuận bằng doanh thu cận biên (MR)
Trang 10Hình 1.3 Đồ thị thuế hàng hóa theo sản lượng bán ra
Khi áp dụng thuế giá trị, nếu người mua hàng trả giá P cho một loại hàng hóa nào đó thì người sản xuất sẽ nhận được P(100-t) Trong đó, t là tỉ lệ phần trăm thuế
Vì vậy thuế là một hàm của giá Tác động của thuế lúc này làm cong đường cầu và đường doanh thu biên (MR) (hình 2), chứ không làm dịch chuyển đường cầu và đường doanh thu biên (như hình 3) Thuế giá trị làm giảm doanh thu cận biên của nhà độc quyền một khoản bằng (100-t)MR Tức là làm giảm lượng bán ra của nhà độc quyền trong trường hợp (100-t)MR cho nên MR giảm một lượng ít hơn thuế có nghĩa là với cùng một tỉ lệ thuế thì lượng bán ra của nhà độc quyền trong trường hợp đánh thuế giá trị sẽ làm giảm một lượng nhỏ hơn Trong khi đó, thuế lại dựa vào giá của bán ra của nhà độc quyền mà như chúng ta đã biết, giá bán ra của nhà độc quyền bao giờ cũng cao hơn so với doanh thu biên của họ Do đó phần doanh thu thuế thu theo giá trị bán ra sẽ lớn hơn theo đơn vị sản lượng bán ra
Quản lý thuế theo số lượng bán ra thường dễ dàng hơn quản lý giá cả, đặc biệt là khi các hãng bán nhiều loại hàng hóa Nếu những hàng hóa này bị đánh thuế giá trị với thuế suất khác nhau, thì các hàng hóa có giá trị cao sẽ ghi giá thấp hơn nhằm trốn thuế
Trang 111.1.3.3 Tác động của thuế ở các nhóm độc quyền
Các nhóm độc quyền là giữa hai thái cực độc quyền và cạnh tranh độc quyền, mỗi nhóm này tác động vào nhóm kia một cách có chiến lược Nếu một nhóm thay đổi giá cả hay sản lượng của nhóm mình, thì các nhóm khác cũng thay đổi giá cả và sản lượng của họ, nhưng rất khó dự đoán các phản ứng này Như vậy, nhóm độc quyền có đường cầu mà chỉ họ mới có thể đoán được
Không có lý thuyết kinh tế nào hoàn hảo và được đông đảo các nhà khoa học chấp nhận về hành vi của hãng trong nhóm độc quyền và như vậy khó có thể đưa ra những dự đoán chính xác về phạm vi ảnh hưởng của việc đánh thuế trong trường hợp này Nếu một nhóm tăng giá sẽ lập tức mất thị phần, vì các nhóm đều có sách lược tăng giá thích hợp mỗi khi có một loại thuế mới Trong trường hợp này, tất cả đều tăng giá đồng loạt và như vậy gánh nặng thuế sẽ chuyển sang cho người tiêu dùng
1.1.4.1 Định nghĩa
Thuế tài nguyên thường được định nghĩa là “thuế đánh theo tỉ lệ % giá trị của các nguồn tài nguyên đã khai thác”
Phân loại thuế tài nguyên:
- Thuế trên đơn vị: Thường được tính theo tỉ lệ cố định cho một đơn vị tài nguyên khai thác
- Thuế theo doanh thu: Thường được tính theo tỉ lệ phần trăm của giá trị hàng hóa tài nguyên khai thác
- Thuế theo lợi nhuận: Thường được tính theo tỉ lệ phần trăm của lợi nhuận
đã được kiểm toán
Thuế tài nguyên theo đơn vị thường được tính sau khi quặng được khai thác (Ví dụ số quặng vận chuyển từ nơi khai thác)
Thuế tài nguyên theo doanh thu thường được tính sau khi tài nguyên đã được tiêu thụ (Ví dụ trên doanh thu các sản phẩm đã qua tinh luyện hoặc chế biến theo giá thị trường Kim loại Luân Đôn – LME công bố) NSR được tính theo giá sản
Trang 12phẩm vì vậy sẽ dao động Một tỉ lệ cố định dựa trên đơn vị hoặc tỉ lệ % NSR quá cao buộc nhà sản xuất phải chịu chi phí quá lớn trong điều kiện thị trường không thuận lợi
Thuế tài nguyên theo lợi nhuận thường được tính theo lợi nhuận đã được kiểm toán (Doanh thu bán hàng trừ chi phí sản xuất) theo định kỳ 6 tháng hoặc một năm một lần Điều này có nghĩa là thuế tài nguyên nộp cho Chính phủ sẽ tăng khi các nhân tố thị trường thuận lợi (giá hàng hóa cao) và giảm khi thị trường không thuận lợi, như giá hàng hóa thấp hoặc chi phs sản xuất như giá nhiên liệu hoặc năng lượng tăng cao Vì vậy thuế tài nguyên tính theo lợi nhuận sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho các công ty duy trì hoạt động và nhân lực trong các giai đoạn khó khăn
Vai trò của Thuế tài nguyên:
Thuế tài nguyên là một trong những công cụ tài chính, thể hiện vai trò sở hữu nhà nước đối với tài nguyên quốc gia và thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên của các tổ chức, cá nhân
* Mục tiêu của thuế Tài nguyên
Tăng nguồn thu của Chính Phủ
Kiểm soát soát sự suy kiệt của nguồn tài nguyên quốc gia
Kiểm soát sự xuống cấp của môi trường và ngăng chặn các hoạt động khai thác bất hợp pháp
1.1.4.2 Đối tượng chịu thuế tài nguyên
Thuế tài nguyên là loại thuế thu vào các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên thuộc diện chịu thuế là các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm: Khoáng sản kim loại; Khoáng sản không kim loại; Dầu thô;Khí thiên nhiên, khí than; Sản phẩm của rừng tự nhiên, trừ động vật; Hải sản tự nhiên, bao gồm động vật
và thực vật biển; Nước thiên nhiên, bao gồm nước mặt và nước dưới đất; Yến sào thiên nhiên và Tài nguyên khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
Trang 131.1.4.3 Những nội dung cơ bản của Thuế tài nguyên Việt nam
1.1.4.3.1 Theo Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1998 và Pháp lệnh sửa đổi năm 2008
Thuế tài nguyên hiện đang thực hiện theo Pháp lệnh thuế tài nguyên (năm 1998) và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh thuế tài nguyên (năm 2008) Quá trình thực hiện Pháp lệnh thuế tài nguyên đã góp phần bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước Tuy nhiên, để khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời gian tới, Pháp lệnh thuế tài nguyên cũng đã bộc lộ một số hạn chế cần được bổ sung
và sửa đổi cho phù hợp, cụ thể như sau:
* Những kết quả đạt được của Pháp lệnh Thuế tài nguyên 1998
Tài nguyên là tài sản quan trọng của quốc gia và hầu hết là tài nguyên không tái tạo được cần được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế bền vững trong mối quan hệ hài hoà với giải quyết vấn đề xã hội và môi
trường trước mắt cũng như lâu dài
- Về mục tiêu sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên: Thể hiện
ở mức thuế suất thuế tài nguyên được phân biệt theo từng nhóm, loại tài nguyên; mức thuế suất từ 0% (đối với nước thiên nhiên phục vụ các ngành nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và sinh hoạt) đến 20%, 30%, 40% (đối với tài nguyên, khoáng sản quý hiếm) đã góp phần thúc đẩy hoạt động khai thác tài nguyên theo hướng khai thác,
sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn tài nguyên nhất là đối với các tài nguyên quý hiếm, tài nguyên không tái tạo (dầu khí, than, đá,…)
- Thuế tài nguyên là một công cụ quan trọng để các cơ quan quản lý nhà nước tăng cường công tác quản lý, giám sát quá trình hoạt động khai thác tài nguyên theo quy định của pháp luật, được sử dụng đồng thời với các công cụ quản
lý khác như cấp giấy phép thăm dò, khai thác, chế biến tài nguyên
- Với mục tiêu góp phần bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thuế tài nguyên đã đạt được những kết quả nhất định Số thu thuế tài nguyên các năm từ
Trang 142005-2008 bình quân mỗi năm trên 23.200 tỷ đồng, chiếm khoảng 15% tổng thu ngân sách nhà nước từ sản xuất kinh doanh trong nước (trong đó, thuế tài nguyên từ dầu khí khoảng 22.160 tỷ đồng, chiếm 95,5% tổng số thu thuế tài nguyên; thuế tài nguyên của các tài nguyên khác khoảng 1.040 tỷ đồng, chiếm 4,5% tổng số thu thuế tài nguyên)
* Một số hạn chế của Pháp lệnh Thuế tài nguyên 1998, Pháp lệnh sửa đổi năm 2008
Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, Pháp lệnh thuế tài nguyên hiện hành còn bộc lộ một số hạn chế như sau:
- Về đối tượng chịu thuế:
Pháp lệnh thuế tài nguyên hiện hành quy định về thuế tài nguyên đối với
“dầu mỏ”, “khí đốt” Tại Luật Dầu khí lại quy định “dầu thô” và “khí thiên nhiên” đối với tài nguyên dầu, khí; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí năm 2008 lại bổ sung thêm loại tài nguyên nữa là “khí than” Vì vậy, cần quy định đối tượng chịu thuế là “Dầu thô” thay cho “Dầu mỏ”; “Khí thiên nhiên” thay cho
“Khí đốt” và bổ sung thêm “khí than” vào đối tượng chịu thuế để đảm bảo tính thống nhất về thuật ngữ và sự đầy đủ về chủng loại tài nguyên
- Về đối tượng nộp thuế:
Theo Pháp lệnh thuế tài nguyên hiện hành thì trường hợp Bên Việt Nam tham gia doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mà góp vốn pháp định bằng các nguồn tài nguyên thì doanh nghiệp liên doanh không phải nộp thuế tài nguyên đối với số tài nguyên mà Bên Việt Nam dùng
để góp vốn pháp định (khi đó thuế tài nguyên trở thành vốn góp của phía Việt Nam trong liên doanh) Quy định này chưa phù hợp với tình hình thực tế và chưa phù hợp với Luật Đầu tư hiện hành, theo đó nếu doanh nghiệp liên doanh được thành lập giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài thì người nộp thuế là doanh nghiệp liên doanh; nếu các nhà đầu tư tổ chức dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh để khai thác tài nguyên thì nghĩa vụ thuế tài nguyên do các bên thoả thuận trước trong hợp đồng hợp tác kinh doanh
Trang 152008 chỉ quy định viện dẫn: Tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động dầu khí phải nộp các khoản thuế theo quy định của pháp luật về thuế Do đó, để đảm bảo có đủ
cơ sở pháp lý, cần bổ sung quy định về thuế tài nguyên đối với dầu, khí tại văn bản quy phạm pháp luật về thuế tài nguyên
- Về sản lượng tính thuế:
Theo Pháp lệnh thuế tài nguyên hiện hành, sản lượng tính thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác Sản lượng tài nguyên thương phẩm là sản lượng tài nguyên được bán ra Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều loại tài nguyên khai thác, chưa bán ra ngay mà đưa vào để tiếp tục sản xuất ra sản phẩm khác Khi đó, sản lượng tài nguyên tính thuế được căn cứ vào sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ và định mức tiêu hao tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm Như vậy, sản lượng tài nguyên tính thuế trong trường hợp này không phải là sản lượng tài nguyên thương phẩm, mà là sản lượng tài nguyên thực tế khai thác
- Về giá tính thuế:
Pháp lệnh thuế tài nguyên hiện hành quy định: Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên tại nơi khai thác Trường hợp tài nguyên khai thác chưa có giá bán thì Chính phủ quy định giá tính thuế tài nguyên
Trên thực tế, do chất lượng, hàm lượng tài nguyên khai thác được là khác nhau, lượng tạp chất khai thác được cùng với tài nguyên nhiều nên việc xác định giá tính thuế tài nguyên trong trường hợp tài nguyên khai thác chưa có giá bán cũng rất khác nhau và hiện nay mỗi địa phương áp dụng một cách dẫn đến sự không thống nhất về giá tính thuế Vì vậy, cần có quy định về nguyên tắc xác định giá tính thuế của các loại tài nguyên để các địa phương có cơ sở áp dụng thống nhất
Trang 16Quá trình thực hiện Pháp lệnh thuế tài nguyên cho thấy có rất ít tài nguyên được bán tại nơi khai thác mà chủ yếu tài nguyên được bán sau khi đã chế biến, sàng tuyển, phân loại, chọn lọc Hơn nữa, việc xác định “giá bán tài nguyên tại nơi khai thác” như tại tỉnh, huyện hoặc xã để xác định giá tính thuế là vấn đề gây tranh cãi trong quá trình thực hiện Vì vậy, để khắc phục nhược điểm này, cần quy định:
“Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức, cá nhân khai thác”
Do vậy, những nội dung về quản lý thuế, thanh tra, khiếu nại, tố cáo, khen thưởng và xử lý vi phạm tại Pháp lệnh thuế tài nguyên hiện hành cần phải sửa đổi lại cho phù hợp và đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống pháp luật
1.1.4.3.2 Theo Luật Thuế tài nguyên năm 2009
Để phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế của chính sách thuế tài nguyên hiện hành, đảm bảo xây dựng hệ thống thuế đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tiễn và các Luật có liên quan, cần thiết phải ban hành Luật thuế tài nguyên Chính vì vậy, tại kỳ họp thứ 6 ngày 25 tháng 11 năm 2009, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã thông qua Luật thuế tài nguyên thay thế Pháp lệnh thuế tài nguyên số 05/1998/PL-UBTVQH10 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh thuế tài nguyên số 07/2008/PL-UBTVQH12 nhằm góp phần bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả, góp phần bảo vệ môi trường và bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước Luật
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2010
* Một số nội dung mới thay đổi về chính sách thuế tài nguyên:
đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế (Người nộp thuế), căn cứ tính thuế và chính sách miễn, giảm thuế Một số nội dung mới chủ yếu được quy định cụ thể như sau:
• Về phạm vi áp dụng: Thuế tài nguyên đã mở rộng đối với hoạt động tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu thô, condensat và khí thiên nhiên, khí đồng hành, khí than tại Việt Nam
Trang 17• Về đối tượng nộp thuế: Quy định cụ thể và chi tiết thêm về người nộp thuế trong một số trường hợp
• Về đối tượng chịu thuế: Ngoài 6 loại đối tượng chịu thuế tài nguyên quy định trước đây là: Khoáng sản kim loại; khoáng sản không kim loại; sản phẩm rừng
tự nhiên; thuỷ sản tự nhiên (cần lưu ý quy định mới đối tượng chịu thuế không bao gồm thuỷ sản nước ngọt khai thác từ ao, hồ, đầm, sông, suối ); nước tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên khác Chính sách thuế tài nguyên lần này còn quy định thêm một số đối tượng sau: Dầu thô; khí thiên nhiên; khí than; các loại sản phẩm khác của rừng tự nhiên, trừ động vật (do cấm đánh bắt) và hồi, quế, sa nhân, thảo quả do người nộp thuế trồng tại khu vực rừng tự nhiên được giao khoanh nuôi, bảo vệ; hải sản tự nhiên, gồm động vật và thực vật biển; nước thiên nhiên, bao gồm nước mặt
và nước dưới đất; yến sào thiên nhiên;
Các tài nguyên thiên nhiên khác do Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan báo cáo Chính phủ để trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định
thuế là sản lượng tài nguyên tính thuế (thay cho sản lượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác trong kỳ), giá tính thuế đơn vị tài nguyên, thuế suất thuế tài nguyên, trong đó giá tính thuế đơn vị tài nguyên được áp dụng tương ứng với loại tài nguyên chịu thuế của kỳ tính thuế
+ Sản lượng tài nguyên tính thuế tài nguyên được xác định cụ thể cho từng trường hợp như sau:
- Sản lượng tài nguyên tính thuế là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của tài nguyên thực tế khai thác trong kỳ tính thuế
- Đối với tài nguyên khai thác chưa xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác do chứa nhiều chất, tạp chất khác nhau thì sản lượng tài nguyên được xác định theo số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của từng chất thu được sau khi sàng tuyển, phân loại
Trang 18- Đối với tài nguyên khai thác không bán ra mà đưa vào sản xuất sản phẩm khác nếu không trực tiếp xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực
tế khai thác thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định căn cứ vào sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ tính thuế và định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm
hơn 5% so với tiêu chuẩn công nghệ thiết kế thì cơ quan thuế phối hợp với các cơ quan liên quan để thẩm định làm cơ sở ấn định sản lượng tài nguyên khai thác chịu thuế
- Đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thuỷ điện thì sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng điện của cơ sở sản xuất điện bán cho bên mua điện theo hợp đồng mua bán
dùng cho mục đích công nghiệp thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định bằng mét khối hoặc lít
- Đối với tài nguyên được khai thác thủ công, phân tán hoặc khai thác lưu động, không thường xuyên, sản lượng tài nguyên khai thác dự kiến trong một năm
có giá trị dưới 200.000.000 đồng thì thực hiện khoán sản lượng tài nguyên khai thác theo mùa vụ hoặc định kỳ để tính thuế
- Trường hợp tổ chức, cá nhân ký hợp đồng thu mua tài nguyên từ các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nhỏ lẻ thì sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng tài nguyên thực tế thu mua
• Về giá tính thuế đối với một số trường hợp như sau:
chưa bao gồm thuế GTGT (không phân biệt địa bàn tiêu thụ) và được áp dụng làm giá tính thuế cho toàn bộ sản lượng tài nguyên khai thác trong tháng có cùng phẩm cấp, chất lượng, không phân biệt một phần vận chuyển đi nơi khác tiêu thụ hoặc đưa vào sản xuất, chế biến, sàng tuyển, phân loại; Giá bán của một đơn vị tài
Trang 19nguyên được tính bằng tổng doanh thu (chưa có thuế GTGT) của loại tài nguyên bán ra chia cho tổng sản lượng loại tài nguyên tương ứng bán ra trong tháng
- Trường hợp tài nguyên chưa xác định được giá bán tài nguyên khai thác thì giá tính thuế tài nguyên được xác định theo một trong những căn cứ sau:
+ Giá bán thực tế trên thị trường khu vực (trước đây quy định là giá bán bình quân trên thị trường) của đơn vị sản phẩm tài nguyên cùng loại, có giá trị tương đương, nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định
thuế xác định theo giá bán đơn vị của từng chất và hàm lượng của từng chất trong tài nguyên khai thác, nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định (trước đây quy định là giá bán đơn vị sản phẩm nguyên chất và hàm lượng chất này trong tài nguyên khai thác)
Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên ban hành kèm theo Nghị quyết số 928/2010/UBTVQH12 ngày 19 tháng 4 năm 2010 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
mức thuế suất cụ thể đối với từng loại tài nguyên Luật quy định phân nhóm lại khung thuế suất từ 1 - 35% đối với từng nhóm, loại tài nguyên chi tiết hơn; thu hẹp biên độ khung thuế suất, nâng mức thuế suất sàn của các loại tài nguyên thuộc nhóm khoáng sản kim loại và một số loại tài nguyên quý hiếm khác Không có thuế suất 0% vì đây là tài nguyên quốc gia, bất kỳ ai sử dụng cũng phải có nghĩa vụ đóng góp
- Về thủ tục đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế: Được thực hiện theo quy định trước đây, kể cả thuế tài nguyên được nộp bằng dầu thô, khí thiên nhiên; bằng tiền; hoặc một phần bằng tiền và một phần bằng dầu thô, khí thiên nhiên Riêng đối với hoạt động tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí trong một số trường hợp được bổ sung như sau:
+ Trường hợp một tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí theo nhiều hợp đồng dầu khí khác nhau thì được thực hiện riêng rẽ theo từng hợp đồng dầu khí
Trang 20+ Trường hợp các bên nhà thầu tham gia một hợp đồng dầu khí dưới hình
thức hợp đồng chia sản phẩm hoặc hợp đồng điều hành chung, nhận các phần chia
theo hợp đồng bằng dầu thô, khí thiên nhiên và chịu trách nhiệm tiêu thụ phần dầu
thô, khí thiên nhiên được chia thì mỗi bên phải khai và nộp các loại thuế tài nguyên
theo sản lượng được chia
1.2 Các can thiệp của Chính phủ đối với việc khai thác tài nguyên thiên
Nhằm mục tiêu quản lý tài nguyên thiên nhiên hiệu quả, tiết kiệm, bền vững
và đảm bảo các vấn đề môi trường hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt nam hệ
thống Chính sách này được chia thành 4 nhóm cơ bản sau:
Hình 1.4 Sơ đồ các can thiệp của Chính phủ đối với việc quản lý tài
nguyên thiên nhiên và môi trường
1.2.1 Tiêu chuẩn môi trường
1.2.1.1 Khái niệm tiêu chuẩn môi trường
- Tiêu chuẩn là một dạng của phương pháp mệnh lệnh và kiểm soát (CAC)
Tiêu chuẩn môi trường là một trong những giải pháp cơ bản của Nhà nước sử dụng
5 Hệ thống đặt cọc hoàn trả
Trang 21để giảm thiểu ô nhiễm Để xác định các tiêu chuẩn phải qua nhiều thủ tục bao gồm các nghiên cứu khoa học và hàng loạt các đánh giá
- Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép, được quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường (Luật Bảo vệ môi trường Việt nam)
1.2.1.2 Các loại tiêu chuẩn môi trường :
- Tiêu chuẩn môi trường xung quanh : Là mức độ ô nhiễm của môi trường
xung quanh không được phép vượt quá
Tiêu chuẩn môi trường xung quanh liên quan đến chẩt lượng môi trường, nó không đề cập đến cách thức thực hiện, phạm vi ra quyết định và cách thức ứng xử rất rộng
- Tiêu chuẩn thải : Là lượng thải tối đa cho phép từ nguồn
Đối với tiêu chuẩn thải, mức độ khắt khe, linh hoạt trong quá trình ra quyết định với chủ thể gây ô nhiễm cao hơn Như vậy, tiêu chuẩn thải là quy định giới hạn mang tính pháp lý về lượng chất thải tối đa mà một doanh nghiệp được phép thải vào môi trường Nếu doanh nghiệp nào thải quá giới hạn cho phép sẽ bị phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tuỳ theo mức độ vi phạm Tiêu chuẩn thải chỉ quy định mức thải đối với tất cả các chủ thể gây ô nhiễm nhưng không quy định công nghệ được xử dụng để đạt được mức chuẩn đó
- Tiêu chuẩn công nghệ : Là quy định về công nghệ, kỹ thuật hoặc hoạt
động mà chủ thể gây ô nhiễm phải áp dụng
1.2.2 Thuế thải/phí thải
- Thuế/phí thải là loại phí đánh vào lượng chất thải thực tế của người sản xuất Để xác định mức phí tính trên mỗi đơn vị chất thải người ta phải căn cứ vào chi phí cần thiết để giảm đơn vị ô nhiễm đó tức là MAC Khi áp dụng phí thải, người gây ô nhiễm sẽ có phản ứng phù hợp nhằm tối thiểu hoá chi phí của mình
Trang 22Hình 1.5 Đồ thị xác định mức phí thải tối ưu
- Như vậy, mức phí tối ưu (hay mức phí có hiệu quả) sẽ được xác định tại mức thải W*, tại đó F = MAC = MDC Tuy nhiên do không có đủ thông tin về MAC và MDC nên mức quy định có thể cao hơn hoặc thấp hơn F*, vì thế kết quả là mức thải cuối cùng không trùng với mức tối ưu W*
Hình 1.6 Đồ thị hành vi của chủ thể gây ô nhiễm
Trang 23- Mức thuế hiệu quả xã hội: Trong tình trạng có cạnh tranh, mức thuế càng cao thì phát thải giảm càng nhiều nhưng cụ thể là cần phải định ra một mức thuế là bao nhiêu? Nếu chúng ta biết hàm thiệt hại biên và hàm giảm ô nhiễm biên câu trả lời sẽ là định mức thuế sao cho có được mức phát thải hiệu quả, như có thể thấy ở hình 2.19
+ Chi phí thực thi thuế bao gồm hai phần: chi phí tư nhân và chi phí xã hội Trong đó chi phí thực thi tư nhân gồm tổng chi phí giảm ô nhiễm cộng với thuế Chính là diện tích d cộng với diện tích (a + b) Nhưng chi phí thực thi tư nhân không đại diện cho chi phí nguồn lực xã hội phải gánh chịu khi áp dụng chính sách thuế Chi phí thực thi xã hội chỉ bao gồm những nguồn lực cần thiết để đạt mục tiêu môi trường nghĩa là không bao gồm tiền thuế Thuế thực sự là khoản thanh toán chuyển giao, là khoản thanh toán các tác nhân gây ô nhiễm trả cho khu vực công cộng và cuối cùng là cho xã hội, những người thụ hưởng lợi ích từ chi tiêu công, trong đó người gây ô nhiễm cũng có thể là người thụ hưởng những lợi ích này Như vậy chi phí thực thi xã hội là diện tích c, là tổng chi phí giảm ô nhiễm của người gây ô nhiễm
+ Xã hội cũng quan tâm đến lợi ích xã hội ròng của chính sách thuế, được định nghĩa là tổng thiệt hại giảm được trừ đi chi phí thực thi xã hội
Tổng thiệt hại giảm được chính là diện tích dưới đường MDC giới hạn bởi mức phát thải ban đầu và mức phát thải hiệu quả xã hội E* = Diện tích (c + d) Tổng chi phí giảm ô nhiễm TAC = Diện tích (c)
Lợi ích ròng xã hội = Tổng thiệt hại giảm được - Tổng chi phí giảm ô nhiễm
= Diện tích (c + d) - diện tích (c) = Diện tích (d)
Trang 24Hình 1.7 Đồ thị thuế phát thải hiệu quả xã hội
- Thuế thải luôn đạt hiệu quả chi phí vì nguyên tắc cân bằng cận biên luôn thoả mãn đối với mỗi chủ thể gây ô nhiễm (MAC = t) Nguyên tắc cân bằng cận biên luôn thoả mãn với mọi mức thuế, ngay cả khi người quản lý không biết được MAC của mỗi chủ thể gây ô nhiễm Các chủ thể gây ô nhiễm sẽ tự điều chỉnh theo mức thuế để đạt MAC = MDC (tối đa hoá lợi ích) Bất kỳ nhà sản xuất nào cũng điều chỉnh sản lượng theo mức thuế để tối đa hoá lợi ích Các nhà quản lý đưa ra một mức thuế nào đó, qua một thời gian sẽ biết được hiệu quả của thuế vì vậy có thể điều chỉnh tăng hay giảm
1.2.3 Trợ cấp
- Trợ cấp thường được sử dụng trong những trường hợp và khu vực khó khăn
về kinh tế Trợ cấp của nhà nước có thể áp dụng cho các hoạt động tạo ra ngoại ứng tích cực như trồng rừng, xử lý ô nhiễm…Nguyên nhân dẫn đến trợ cấp là do trong các hoạt động này lợi ích cá nhân thường nhỏ hơn lợi ích xã hội, do đó chi phí mà các cá nhân chấp nhận bỏ ra để tiến hành các hoạt động trên không đạt mức cần thiết đối với xã hội
Trang 25- Nhà nước có thể điều chỉnh mức độ hoạt động cá nhân về mức hiệu quả xã hội thông qua mức trợ cấp được xác định đúng bằng chênh lệch giữa lợi ích cận biên xã hội và lợi ích cận biên cá nhân (tức bằng lợi ích ngoại ứng cận biên)
- Nhà nước trả cho chủ thể gây ô nhiễm một khoản tiền cho mỗi đơn vị giảm thải Tiền trợ cấp giảm thải trong trường hợp này trở thành chi phí cơ hội của việc giảm thải và có tác dụng khuyến khích tương tự như thuế thải
- Một số vấn đề cần chú ý khi thực hiện trợ cấp giảm thải:
+ Cần có nguồn tài chính để thực hiện
+ Có thể làm tăng lượng thải vì nó khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất mới
+ Cần quan trắc nghiêm ngặt để biết được lượng giảm thải của mỗi nguồn Đây chính là khó khăn rất lớn
1.2.4 Giấy phép phát thải có thể chuyển nhượng (Tradable Discharge Permit- TDP)
- Năm 1968 nhà kinh tế học người Canada là Dales lần đầu tiên đưa ra đề nghị về một cơ chế trong đó một số lượng nhất định « quyền gây ô nhiễm » (bằng với mức ô nhiễm mà xã hội mong muốn) có thể được mua đi bán lại giữa những người gây ô nhiễm
- « Quyền gây ô nhiễm » của các doanh nghiệp được ghi nhận thông qua các
« giấy phép xả thải » do cơ quan quản lý môi trường cấp Giấy phép thải có thể chuyển nhượng được coi như một kiểu quyền sở hữu tài sản môi trường, được thải chất ô nhiễm vào môi trường khi có giấy phép và có thể chuyển nhượng được
Trang 26Hình 1.8 Đồ thị cung giấy phép thải
- Cầu về giấy phép :
+ Đường MAC chính là đường cầu giấy phép của các chủ thể gây ô nhiễm : Doanh nghiệp có thể chọn cách xử lý ô nhiễm hoặc mua giấy phép Khi tăng giá thì lượng giấy phép mua sẽ giảm Đường MAC thể hiện mối quan hệ giữa giá của giấy phép lượng giấy phép mua, đó chính là đường cầu Đây là đường cầu cá nhân của doanh nghiệp
Hình 1.9 Đồ thị cầu giấy phép thải
Lượng giấy phép
Trang 27+ Yếu tố làm thay đổi cầu gồm : (1) thay đổi công nghệ xử lý dẫn đến MAC thay đổi ; (2) thay đổi số lượng chủ thể gây ô nhiễm
- Thiết lập thị trường giấy phép :
+ Phân phối giấy phép : có thể được thực hiện thông qua cấp miễn phí hoặc bán đấu giá
+ Thiết lập các nguyên tắc mua bán: Chỉ có chủ thể gây ô nhiễm được mua bán giấy phép Chỉ được mua bán trong vùng, khi bán sang vùng khác phải có hệ số quy đổi
- TDP và vấn đề cạnh tranh :
+ Cần khuyến khích và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh
+ Có thể xảy ra tình trạng thị trường quá mỏng, tình trạng thông đồng để kiểm soát thị trường
+ Để đề phòng « điểm nóng ô nhiễm » cần thiết lập các quy định hợp lý về mua bán giữa các vùng
+ Cần xem xét ảnh hưởng của việc mở rộng mua bán giữa các vùng đến chất lượng môi trường của từng vùng
- Cưỡng chế thực thi :
+ Cần giám sát số lượng giấy phép mỗi nguồn đang có, phức tạp khi có nhiều đối tượng tham gia và nhiều hình thức mua bán khác nhau
+ Cần phải giám sát chặt chẽ lượng thải từ mỗi nguồn
- Ưu nhược điểm của TDP :
+ Ưu điểm : Không bị ảnh hưởng của lạm phát ; Tính linh hoạt cao : khi đã hình thành thị trường tốt thì thị trường sẽ tự điều chỉnh ; Đạt hiệu quả chi phí ; Khuyến khích đổi mới công nghệ
+ Hạn chế : Phạm vi áp dụng hẹp và chủ thể bị ảnh hưởng ô nhiễm có thể tham gia
1.2.5 Hệ thống đặt cọc-hoàn trả và việc tái sử dụng rác thải
- Các đối tượng tiêu dùng các sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi trường phải trả thêm một khoản tiền (tiền đặt cọc) khi mua hàng Sau khi đã tiêu dùng, đem
Trang 28phần còn lại của sản phẩm cho các đơn vị thu gom phế thải hoặc tới những địa điểm quy định thì được hoàn trả lại khoản tiền đặt cọc
- Mục đích của hệ thống đặt cọc hoàn trả là thu gom lại những phế thải của việc tiêu thụ sản phẩm vào một trung tâm để tái chế hoặc tái sử dụng một cách an toàn đối với môi trường
- Nguyên tắc: Người gây ô nhiễm phải trả và khuyến khích việc tái chế và tái
sử dụng chất thải
- Đối tượng áp dụng: những sản phẩm sau khi tiêu dùng để lại một lượng chất thải lớn hoặc những sản phẩm chứa chất độc, gây khó khăn trong tiêu huỷ
- Kinh nghiệm áp dụng hệ thống đặt cọc hoàn trả:
+ Đối tượng: đồ uống, bia rượu, ắc quy, chai đựng thuốc trừ sâu, đồ điện gia đình + Mức đặt cọc: mức thấp khoảng 2-4% giá sản phẩm, cao khoảng 10-20% giá sản phẩm
+ Tỷ lệ thu hồi tuỳ thuộc vào mức đặt cọc đạt từ 50 – 98%
- Ưu nhược điểm của hệ thống đặt cọc hoàn trả:
+ Ưu điểm: Khuyến khích việc tiêu huỷ, tái sử dụng hoặc tái chế chất thải một cách an toàn; Có tính linh hoạt cao; Tương đối dễ áp dụng
+ Hạn chế: Chỉ pháp huy hiệu quả khi hệ thống xử lý và tái chế chất thải hoạt động tốt
1.2.6 Ký quỹ bảo vệ môi trường
- Ký quỹ bảo vệ môi trường là việc một cá nhân hay tổ chức trước khi tiến
hành hoạt động sản xuất hay kinh doanh được xác định là có khả năng gây ra những thiệt hại cho môi trường phải có nghĩa vụ gửi một khoản tiền vào tài khoản phong toả tại một tổ chức tín dụng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ phục hổi môi trường do hoạt động sản xuất kinhdoanh gây ra theo quy định của pháp luật
- Những lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh thường sử dụng hình thức
ký quỹ môi trường là khai thác than, khai thác khoáng sản, khai thác rừng hay một
số nguồn tài nguyên khác mà việc việc khai thác đòi hỏi phải phục hồi lại những mất mát của các thành phần môi trường
Trang 291.3 Kinh nghiệm áp dụng thuế tài nguyên và các công cụ chính sách quản lý của Chính phủ trên thế giới.[21]
1.3.1 Biện pháp Chính sách Thuế trong ngành khai thác khoáng sản
Trên thế giới, ở hầu hết các quốc gia có ngành công nghiệp khai khoáng các biện phát chính sách Thuế đều xuất phát từ đặc trưng cơ bản của ngành
Bảng 1.2 Một số loại thuế áp dụng trong ngành khai khoáng và cơ sở của
các loại thuế đó trên thế giới
Thuế vật phẩm (tính trên đơn vị hay giá trị)
Thuế tài nguyên tính theo giá hàng % giá trị khoáng sản (định nghĩa về giá trị
có thể không thống nhất)
% giá trị giao dịch
Thuế tính dựa trên thu nhập thuần
Thuế tài nguyên lợi tức thuần hay giá
trị thuần
% giá trị khoáng sản trừ chi phí hợp lệ
Thuê lợi tức trên lợi nhuận chuyển đi
hay cổ tức
% giá trị chuyển đi
(Nguồn: Tác giả J Otto, năm 2004)
Trang 30Khi xác định loại thuế và mức thuế cần áp dụng trong ngành khai khoáng, các nhà hoạch định chính sách cần cân nhắc không những phương thức để đạt được các mục tiêu riêng lẻ về thuế mà còn phải tính đến cả tác động tổng hợp từ tất cả các loại thuế, đặc biệt là thuế vật phẩm Không phải loại thuế nào cũng độc lập với nhau
Ở hầu hết các nước, hệ thống thuế thu nhập cho phép khấu trừ thuế tài nguyên khi tính thu nhập chịu thuế Do đó, tuy việc áp dụng thuế tài nguyên tính trên đơn vị hay giá hàng có tác động bóp méo sản xuất trong những năm đầu khi chưa phải nộp thuế thu nhập nhưng tác động này sẽ giảm bớt khi thực hiện khấu trừ Chẳng hạn, ở một nước áp thuế suất thu nhập 30% và thuế tài nguyên 2%, trong những năm chưa phải nộp thuế thu nhập thì thuế suất tài nguyên sẽ là 2% nhưng trong những năm thực hiện đầy đủ khấu trừ thì mức thuế tài nguyên thuần sẽ là 2 (2
x 0,3) hay 1,4% Phần lớn các nước đều cho phép kết chuyển lỗ từ năm này sang năm khác, và do vậy việc nộp thuế tài nguyên được khấu trừ trong những năm đầu
sẽ tiếp tục giảm nghĩa vụ thuế thu nhập trong thời gian sau của dự án
1.3.2 Kinh nghiệp áp dụng các công cụ thuế Tài nguyên trên thế giới
1.3.2.1 Ở các nước Châu Á - Thái bình dương
Khu vực Châu Á – TBD gồm các quốc gia rất đa dạng với những nền văn hoá và hệ thống thể chế có nhiều khác biệt Ở một số nước (như Trung Quốc, Malaysia và Pakistan), chính quyền địa phương đóng vài trò quan trọng trong quản
lý ngành khai thác khoáng sản trong khi ở các nước khác, chính quyền trung ương mới có vài trò chủ đạo
Tất cả các nước Châu Á – TBD được điều tra đều áp dụng một số loại thuế tài nguyên nhất định, với các loại chủ yếu là thuế trên đơn vị (chủ yếu áp dụng cho khoáng sản công nghiệp) và theo giá hàng Mức thuế suất theo giá hàng thường thấp, phổ biến ở mức 2 – 3% đối với kim loại cơ bản Cơ sở tính giá trị của mỗi nước khác nhau nhưng chủ yếu đều căn cứ vào giá trị thị trường hơn là giá trị hoá đơn
Trang 311.3.2.2 Ở Australia
Hầu hết thuế tài nguyên đều áp dụng ở cấp bang
Các hệ thống thuế tài nguyên thường rất chi tiết, trong đó các loại khoáng sản khác nhau có các phương pháp tính thuế hay mức thuế khác nhau Phần lớn các loại thuế tài nguyên của tỉnh (tiểu bang) đều thuộc loại tính trên đơn vị hay giá hàng, tuy có một tiểu bang là Lãnh thổ phía Bắc, đã chuyển sang áp dụng cơ chế thuế theo lợi nhuận
Tiểu bang Tây Australia áp dụng mức thuế tài nguyên trên khoáng sản thô (quặng) cao hơn so với các sản phẩm có giá trị gia tăng (kim loại) nhằm khuyến khích chế biến tại chỗ
1.3.2.3 Ở Mỹ Latinh
Hai trong số các nước sản xuất khoáng sản lớn nhất trong khu vực là Chilê
và Mêhicô không áp dụng thuế tài nguyên và tại Argentina thì một số tỉnh cũng không áp dụng
Các nước có áp dụng thuế tài nguyên chủ yếu sử dụng cơ chế thuế theo giá hàng, với các mức thuế suất ‘hợp lý’ và thường phân quyền cho địa phương thay vì gộp hết vào ngân khố trung ương
1.3.2.4 Ở Bắc Mỹ
mỏ dựa trên lợi nhuận hay doanh thu thuần Quy trình tính thuế khá phức tạp so với các quy trình trong hệ thống thuế theo giá hàng hay dựa trên đơn vị và thường cho phép chiết khấu chi phí chế xuất đặc biệt nhằm khuyến khích phát triển chế xuất trong phạm vi tỉnh hay địa phận Hầu hết các loại hàng hoá đều được áp dụng cùng mức thuế và cơ sở tính thuế trên cùng một địa bàn Một số nơi áp dụng biểu thuế nhiều mức trong khi các nơi khác sử dụng mức sàn lợi nhuận để áp cùng mức thuế thống nhất Ở Ontario, mỏ mới được hưởng 3 năm miễn thuế, trong hạn mức 10 triệu $ Canada tính trên lợi nhuận chịu thuế Các mỏ vùng sâu, vùng xa ở Ontario được hưởng mức thuế bằng nửa các mỏ khác và miễn thuế 10 năm trong hạn mức
10 triệu $ Canada tính trên lợi nhuận chịu thuế Vùng Saskatchewan có phương
Trang 32thức định thuế tài nguyên đa dạng nhất, sử dụng một cơ chế thuế dựa trên lợi nhuận chung đối với hầu hết các khoáng sản kim loại và phi kim, cùng cơ chế thuế dựa trên doanh thu đối với uranium, Cacbonat Kali và than
Thuế hầm mỏ ở Hoa Kỳ rất phức tạp và thường gắn liền với loại đất đai nơi khai thác mỏ - tức là của liên bang, tiểu bang, người Mỹ bản xứ hay đất tư – và cả loại khoáng sản Do bất động sản khoáng sản được coi là tách rời bất động sản trên mặt đất ở một số nơi nên việc xác định đối tượng phù hợp không phải lúc nào cũng
dễ dàng Chính quyền liên bang không đánh thuế tài nguyên đối với hầu hết các loại khoáng sản trên đất liên bang (trừ trường hợp đặc biệt như than khai thác thông qua đấu thầu) Các tiểu bang thường áp thuế khoáng sản trên đất của tiểu bang Cơ chế thông thường là theo giá hàng và đơn vị, dù phương pháp tính trên lợi nhuận cũng được áp dụng Bang Nevada áp dụng các mức thuế theo thang đối chiếu dựa trên thu nhập thuần, trong đó mức giá trị sàn chịu thuế suất cao nhất Bang Michigan áp dụng mức thuế suất bình quân đối với than và đá vôi nhưng đối với các khoáng sản kim loại lại áp dụng thuế suất theo thang đối chiếu
1.3.2.5 Châu Phi
Ở hầu hết các nước Châu Phi, cơ chế chung là coi thuế tài nguyên là một phần của khung pháp lý Phần lớn các nước Châu Phi đều áp dụng một số loại thuế tài nguyên, trừ hai trường hợp ngoại lệ là Nam Phi và Zimbabwe Nam Phi sắp thông qua một đạo luật về thuế tài nguyên; đã hoàn thành dự thảo luật thuế tài nguyên19 năm 2003 và dự thảo thứ hai cũng đã sẵn sàng được giới thiệu tại thời điểm nghiên cứu này được đăng báo Được biết, Zimbabwe cũng đang xem xét áp thuế tài nguyên
Nhiều nước Châu Phi áp dụng thuế tài nguyên loại tính theo giá hàng cho phép khấu trừ chi phí từ doanh thu khi xác định căn cứ tính thuế Cần thận trọng khi xác định loại chi phí nào được khấu trừ Các mức khấu trừ chịu ảnh hưởng của các mục tiêu chính sách Chẳng hạn, các nước mong muốn kích thích tăng trưởng giá trị gia tăng nội địa của khoáng sản áp dụng thuế tài nguyên loại tính theo sản lượng tinh luyện thuần (NSR), cho phép khấu trừ chi phí nung chảy, xử lý và tinh chế,
Trang 33ngoài chi phí vận tải ngoài mỏ và các chi phí khác Yêu cầu quan trọng là phải bảo đảm thứ nhất rằng giá trị hàng bán tuân theo nguyên tắc bình thường và thứ hai là trong luật cần cho phép Bộ trưởng được can thiệp khi giá bán không phản ánh đúng giá của các bên không lien quan trên thị trường
Thuế suất thuế tài nguyên theo giá hàng thường ở mức từ 0 đến 12% tại các nước nêu trên Ở Châu Phi, mức thuế suất thuế tài nguyên thấp hay bằng 0 không phải là một biện pháp khuyến khích đầu tư cần thiết Zimbabwe là một ví dụ điển hình Dù áp dụng thuế suất tài nguyên bằng 0 nhưng các yếu tố khác làm giảm mức hấp dẫn đầu tư, như tổng sản lượng quốc nội (GDP) giảm, lạm phát vượt quá tầm kiểm soát, tình hình chính trị bất ổn, Tổng thống thể hiện thái độ thù nghịch với người ngoại quốc, hậu quả là nhà đầu tư đã rút ra trên diện rộng ở nhiều ngành
Hầu hết các nước có luật khai thác khoáng sản lâu đời hơn đều có các mức thuế suất thuế tài nguyên khác nhau đối với các loại khoáng sản khác nhau Nguyên nhân bắt nguồn từ các vấn đề về chủ quyền quốc gia trong đó coi một số loại khoáng sản là quan trọng hơn đối với nước sở tại Zambia và Ghana20 đã ngừng áp dụng chính sách này bằng cách chuẩn hoá biểu thuế đồng đều đối với mọi loại tài nguyên Tuy việc tiêu chuẩn hoá này là cần thiết nhưng thay đổi thuế suất liên tục khi tình hình thị trường biến động sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư tiềm năng e ngại những bất ổn đó Ghana khắc phục vấn đề này bằng cách áp dụng một cơ chế thang đối chiếu trong đó các doanh nghiệp có lợi nhuận cao phải đóng thuế với mức thuế suất tài nguyên theo giá hàng cao hơn các doanh nghiệp khác, nhờ đó tăng cường tính linh hoạt và khả đoán
Mặc dù việc xây dựng các biểu thuế tài nguyên khác nhau đối với quy mô đầu tư khác nhau không phải là biện pháp thường thấy nhưng có thể thấy các đơn vị được quyền khai thác mỏ thủ công và quy mô nhỏ (ASM) cũng được đối xử khác nhau Nguyên nhân chủ yếu là do những khó khăn trong thể chế hoá ngành khai thác Cách làm của Zambia với việc đưa thuế tài nguyên vào giá thuê đất hàng năm của các nhà sản xuất ASM là một ví dụ hợp lý về áp dụng thuế trong ngành khai khoáng
Trang 34Phương thức phổ biến ở các nước nghiên cứu cho phép hoãn hay giảm thuế tài nguyên trong các thời kỳ khó khăn Quy định này ở Tanzania và Zambia tính đến lợi nhuận hoạt động và ở Ghana là nguyên tắc tính thuế tài nguyên theo thang đối chiếu, tự động cho phép giảm thuế tài nguyên (yếu tố duy nhất cần xem xét là quyết định mức nào trong biên độ thuế từ 3 – 12% là công bằng đối với các dự án
có lợi nhuận thấp và lỗ)
1.3.3 Kinh nghiệp áp dụng các công cụ chính sách quản lý tài nguyên
1.3.3.1 Quỹ môi trường và các công cụ khác ở các nước Đông Âu (CEE)
Trong suốt vài thập kỉ qua các nước Đông Âu (CEE) có nhiều kinh nghiệm
về các mưc độ cao của ô nhiễm công nghiệp và nghèo đói Đặc biệt là các nước như Balan, Cộng hòa Séc có khả năng kĩ thuật để giải quyết các vấn đề của họ nhưng thiếu các cơ chế và các khuyến khích thích hợp Vấn đề môi trường khá quan trọng
để có các tác động đối với tính năng động của tăng trưởng kinh tế Chúng hiện diện không chỉ là vấn đề chi phí và các mối đe dọa đến sức khỏe và hệ sinh thái mà còn ngăn cản lớn đến đầu tư nước ngoài cần thiết
Mức độ cao của phát thải và hàng loạt vấn đề môi trường cũng có nghĩa các nhà làm chính sách môi trường cần thiết không chỉ có tiền cho đầu tư làm giảm mà còn cần tài nguyên vật chất đáng kể cho làm sạch Hiểu biết các yếu tố này các nước CEE cần thiết phải thiết lập các quỹ môi trường Mặc dù, các hạn chế kinh tế khá lớn, các nước này đã quản lý quỹ này ở một tỉ lệ cao cho đầu tư môi trường (thường nhiều hơn ở các nước OECD đã làm) Họ đã quản lý như thế nào để đạt được các tài nguyên cần thiết? Sự giải thích là các quỹ được quản lý để thu hút các nguồn vốn quốc tế trong hình thức trao đổi gán nợ - cho – thiên nhiên (debt-for-nature) Quỹ năng lực Môi trường Toàn cầu và các quỹ có liên quan môi trường của Ngân hàng Thế giới, các cơ quan tài trợ
Một nguồn tài trợ quan trọng khác cho các quỹ là lệ phí và thuế môi trường –
và như thế nó là một công cụ chủ chốt của chính sách môi trường ở các nước CEE Một tiền đề để chấp nhận thuế và lệ phí này là chúng quá thấp (và hầu như thấp hơn
Trang 35chi phí tổn hại biên) Một vài nước như Nga và Estonia cũng sử dụng thuế môi trường.Ví dụ như thuế phát thải cá nhân được đánh vào sự phát thải có thể gây tổn hại tiềm năng như các thuế cũng được phân biệt phụ thuộc vào quy mô và sự nhạy cảm của các vùng bị ô nhiễm tương ứng theo công thức:
i i i
i e T g
Trong đó: ei : là số lượng phát thải dạng i, Ti là mức thuế cho các chất hóa học riêng biệt (thường thực hiện như một hàm số của các tiêu chuẩn trước đây nó được xem như đại diện cho tính chất độc hại, gi là hệ số phản ánh sự nhạy cảm của vùng
1.3.3.2 Quỹ và lệ phí môi trường ở Trung Quốc
Trung Quốc là một nước đông dân nhất thế giới và có mức độ ô nhiễm cao nhất Đối với việc hình thành công cụ chính sách, các chọn lựa phân phối kinh tế thật sự gặp khó khăn Mặc dù mọi người hưởng lợi từ làm sạch môi trường, các quỹ hiếm hoi cũng có thể được sử dụng để cung cấp cho y tế và giáo dục, cải thiện nhà
ở, đảm bảo cung nước sạch
Hệ thống lệ phí ô nhiễm ở Trung Quốc là một ví dụ quan trọng và hấp dẫn trong việc ứng dụng công cụ chính sách dựa trên thị trường đối với nền kinh tế đang phát triển Vào năm 1979, luật môi trường được thông qua và nói rằng “trong trường hợp nơi thải loại chất ô nhiễm vượt mức quy định thuộc nhà nước, lệ phí đền
bù phải được đánh dựa theo số lượng và mức độ tập trung của chất ô nhiễm đã thải ra” Ngay sau đó, một vài vùng đô thị bắt đầu chấp hành quy định, và năm 1982, Ủy ban nhà nước kêu gọi thực hiện trên toàn quốc gia Tới nay, phần lớn đất nước đã thi hành, và vài trăm ngàn nhà máy được kiểm soát cũng như phải tuân theo lệ phí này Trong năm 1994, trên 19 triệu nhân dân tệ (hơn 2 tỉ USD) đã được thu từ thuế môi trường (NEPAN)
Một vài tính riêng biệt khác của lệ phí môi trường Trung Quốc là chúng được sử dụng để tài trợ cho các ngành công nghiệp làm giảm ô nhiễm (khoảng 70-80% tổng
số lệ phí) và phần còn lại dành cho chi phí quản lý
Trang 361.4 Tổng quan của ngành Than trên thế giới[11]
Theo cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA: Energy Information Administration) từ năm 1970 đến 2004, nhu cầu than đã tăng trưởng 110% nếu không có đột biến theo đà này dẽ tăng gấp 3 từ nay đến năm 2050
Theo EIA trữ lượng than trên toàn thế giới là 930.423 triệu tấn, đứng đầu là
Mỹ chiếm khoảng 28%, sau Mỹ là Nga chiếm khoảng 18%, Trung Quốc khoảng 13%
Năm 2007, thế giới khai thác hơn 7 tỉ tấn than, Châu Á và Châu Đại Dương chiếm tỉ trọng lớn nhất đến hơn 4 tỉ tấn Các nước dẫn đầu là Trung Quốc 2,79 tỉ tấn, tiếp theo là Mỹ 1,1 tỉ tấn, Canada 0,76 tỉ tấn, Việt nam 49 triệu tấn đứng thứ 16 trong các nước về sản lượng than khai thác Nếu vẫn tiếp tục khai thác than như hiện nay thì khoảng 131 năm nữa than thế giới sẽ cạn kiệt
(Nguồn EIA)
Hình 1.10 Biểu đồ sản lượng than ở các vùng trên thế giới, 2007
Trang 37Bảng 1.3 Nhu cầu tiêu thụ và sản lượng than tại một số nước
TT Quốc gia Tiêu thụ (ngàn tấn) Sản lượng
(Nguồn: Theo EIA, năm 2007)
Qua biểu cho thấy Nhật bản là quốc gia có nhu cầu tiêu thụ than so với sản lượng than khai thác lớn nhất thế giới là 14844%, tiếp theo là Hàn Quốc 3090%, Anh 381%, Tây ban Nha 243% Trong khi đó, Việt nam lại là quốc gia sản lượng than tiêu thụ chỉ chiếm 35% so với tổng lượng than khai thác Ở hầu hết các nước than được khai thác phần lớn không xuất khẩu mà chủ yếu dùng trong nước hoặc phải nhập khẩu than cho nhu cầu năng lượng, chủ yếu là phát điện
Trang 38Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI,
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu tác động của Thuế tài nguyên và các can thiệp của Chính phủ đối với sản lượng và cơ chế xác định giá bán sản phẩm của ngành công nghiệp Than ở Việt nam trong thời gian qua Từ đó nhằm đề xuất một số giải pháp về các chính sách can thiệp của Chính phủ góp phần quản lý và sử dụng tài nguyên than đá ở Việt Nam hiệu quả, bền vững
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
Để giải quyết được mục tiêu tổng quát, các mục tiêu cụ thể của luận văn như sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và tổng quan vấn đề nghiên cứu
- Đánh giá tình hình khai thác và tiêu thụ sản phẩm than và những kết qủa đạt được của ngành công nghiệp Than Việt nam trong thời gian qua
- Nghiên cứu chính sách thuế tài nguyên và những can thiệp của Chính phủ đối với ngành công nghiệp Than Việt Nam hiện nay
- Đánh giá tác động của Thuế tài nguyên và những can thiệp của Chính phủ đến việc khai thác (sản lượng khai thác ) và tiêu thụ (giá bán sản phẩm) của ngành công nghiệp than ở Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các chính sách của Chính Phủ đối với ngành công ghiệp than hướng tới việc quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên than hiệu quả, tiết kiệm, bền vững
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các can thiệp của Chính phủ đối với ngành công nghiệp than Việt nam
Trang 392.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu các can thiệp của Chính
phủ đối với quyết định sản lượng khai thác và cơ chế xác định giá bán sản phẩm của ngành công nghiệp Than ở Việt nam
Giới hạn không gian: Luận văn nghiên cứu tại Tập đoàn Công nghiệp Than
và Khoáng sản Việt nam
Giới hạn thời gian: Số liệu được thu thập phục vụ cho luận văn từ năm
2005 – 6 tháng đầu năm 2011
2.3 Nội dung nghiên cứu
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu của đề tài Luận văn nghiên cứu những nội dung cơ bản sau đây:
- Cơ sở lý luận về thuế tài nguyên và những can thiệp của Chính phủ đối với một ngành công nghiệp khai thác tài nguyên thiên nhiên
- Đặc điểm cơ bản của ngành công nghiệp than Việt nam
- Tình hình sản xuất và tiêu thụ Than giai đoạn 2005 - 2011
- Tác động của chính sách Thuế tài nguyên và những can thiệp của Chính phủ đến sản lượng khai thác và giá bán sản phẩm của ngành
- Các đề xuất ý kiến nhằm hoàn thiện chính sách thuế tài nguyên và các chính sách can thiệp khác của Chính phủ trong thời gian tới
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Sơ đồ các bước nghiên cứu
Để đạt được những nội dung trên, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cưu thể hiện trên sơ đồ 2.1 sau:
Trang 40Mục tiêu nghiên cứu
2 Đánh giá tình hình khai thác và tiêu thụ sản phẩm than
của ngành công nghiệp Than Việt nam trong thời gian qua
3 Nghiên cứu chính sách thuế tài nguyên và những can
thiệp của Chính phủ đối với ngành công nghiệp Than Việt
Nam hiện nay
4 Đánh giá tác động của Thuế tài nguyên và những can
thiệp của Chính phủ đối với ngành công nghiệp than ở Việt
Nam
5 Đề xuất ý kiến nhằm sử dụng tài nguyên than hiệu quả,
tiết kiệm, bền vững, đảm bảo vấn đề bảo vệ MT
1 Cơ sở lý luận về thuế tài nguyên và những can thiệp của Chính phủ đối với một ngành công nghiệp khai thác tài nguyên thiên nhiên
2 Đặc điểm cơ bản của ngành công nghiệp than Việt nam
3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ Than giai đoạn
2005 - 2011
4 Tác động của chính sách Thuế tài nguyên và những can thiệp của Chính phủ đến sản lượng khai thác và giá bán sản phẩm của ngành
5 Các đề xuất ý kiến nhằm hoàn thiện chính sách thuế tài nguyên và các chính sách can thiệp khác của Chính phủ trong thời gian tới
1.Hệ thống hóa cơ sở lý luận và tổng quan vấn đề nghiên