2.3 Giáo dục thẩm mĩ Thẩm mĩ là yếu tố thuộc bản tính của thơ văn , dạy học phải giúp các em có năng lực thẩm mĩ rung cảm với cái hay cái đẹp trong thơ văn từ đó có lối sống đẹp .Dạy học
Trang 1Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2008-2009
Khai thác tình huống truyện để làm nổi
bật nội dung, chủ đề của văn bản
đúng lúc, đúng chỗ
Trong mỗi giờ văn nêú ngời học không biết đến ,không đợc thầy giáo kích thích và tổ chức cho bộ óc làm việc, con tim họ rung động thì những gì thầy nói
ra mãi mãi là của riêng thầy mà thôi Đó là cơ sở mang ý nghĩa triết học của vấn
đề – dạy học phải luôn tạo ra tình huống có vấn đề để học sinh hoạt động phát huy vai trò trung tâm của học sinh
2.Cơ sở khoa học- giáo dục
Trong nhà trờng phổ thông môn văn có nhiệm vụ riêng của nó
2.1 Nhiệm vụ giáo dục nhận thức :
Trong nhà trờng môn văn đợc coi là môn học phải trang bị cho học sinh kiến thức cơ bản có hệ thống vững chắc đợc quy định trong chơng trình Việc dạy văn có nhiệm vụ cung cấp cho hoc sinh hiểu biết về thế giới con ngời cuộc sống xã hội Dạy văn là dạy cho học sinh nguồn tri thức phong phú đa dạng để giúp cho thế giới tinh thần phong phú hơn giàu có và sâu sắc hơn Môn văn có nhiệm
vụ cung cấp cho học sinh những hiểu biết về lịch sử văn chơng Môn văn có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những tri thức về lí luận văn học Giúp học sinh
có đủ tri thức công cụ trong hành trang trong văn hoá của một công dân
2.2 Giáo dục đạo đức
Dạy văn là truyền cho thế hệ trẻ giá trị tinh thần cao đẹp để xây dựng sức mạng dân tộc Ta cần gạt bỏ định kiến sai lầm là cần chau chuốt từ ngữ Sức mạnh của môn văn là khai thác cuộc sống của dân tộc ta qua các giai đoạn lịch
sử Dạy văn cần hớng dẫn cho học sinh cần liên hệ so sánh đối chiếu để học sinh thấy quá trình học văn là quá trình tìm tòi phát hiện những phẩm chất trong bản thân của mỗi ngời để từ đó nâng cao tâm hồn cách sống Phạm Văn Đồng nói :
“Trong một bài văn ta cần dạy cái hay cái đẹp của văn nhng đằng sau đó ta dạy bao cái hay cái đẹp khác nữa ’’
Trang 22.3 Giáo dục thẩm mĩ
Thẩm mĩ là yếu tố thuộc bản tính của thơ văn , dạy học phải giúp các em
có năng lực thẩm mĩ rung cảm với cái hay cái đẹp trong thơ văn từ đó có lối sống
đẹp Dạy học văn là dạy cho các em có tâm hồn nhạy cảm một câu thơ hay một
áng văn hay sẽ khơi gợi cảm hứng sáng tạo sống có ý nghĩa hơn Ngời giáo viên dạy văn cần nhạy cảm với đối tợng học sinh giúp học sinh có sự phát triển lành mạnh
2.4 Rèn kỹ năng
Dạy học văn không phải đào tạo ra những kiểu ngời biết thởng thức thơ văn Giáo viên cần rèn kĩ năng cho học sinh , giáo viên phải trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản tối thiểu để học sinh trở thành một công dân hoà
đồng vào cuộc sống xã hội giáo viên phải biết thiết kế thật tỉ mỉ thật có hệ thống
kĩ năng cho học sinh từng cấp
3 Cơ sở lí luận :
Vận dụng dạy học nêu vấn đề trong dạy ngữ văn để phát huy vai trò trung tâm của học sinh là hoàn toàn có cơ sở lí luận khoa học Giáo s Nguyễn Thanh Hùng đã từng lu ý ngời đọc “Cần phải thấy phơng pháp gắn bó trực tiếp với ngời
đọc và hình thức tồn tại của tác phẩm Nói cách khác phơng pháp không phải là hình thức bên ngoài mà bao hàm nội dung của tác phẩm và mục đích giảng dạy tác phẩm”
Phân tích từng khía cạnh nội hàm của phơng pháp dạy học ta thấy :Bản chất của việc dạy học văn là phải lấy học sinh làm trung tâm phải chú ý đến hoạt
động của học sinh Trong giờ học tác phẩm văn chơng đối tợng văn học làm cho giờ học không chỉ mang tính chất khoa học về môn học mà nó mang đậm tính chất nghệ thuật Bởi vậy những vấn đề mà giáo viên đa ra phải đợc tổ chức một cách nghệ thuật và vấn đề càng gắn với nội dung thẩm mĩ của tác phẩm thì càng
động viên đợc học sinh tham gia Mục đích của dạy học văn là tìm cách tác động
đến sự phát triển toàn diện của học sinh bằng tri thức văn học đích thực Muốn làm đợc điều này giáo viên dạy văn phải kiên trì rèn luyện phải tìm cách tác
động vào đối tợng học sinh để học sinh đợc phát triển toàn diện chứ không nghĩ
hộ học trò ,và buộc học sinh phải nghĩ theo mình nói và viết nh mình
Văn là nghệ thuật bằng lời Văn chơng xây dựng hình tợng bằng chất lợng ngôn từ Lời nói phải đạt đến trình độ nào đó có khả năng lay động tâm hồn trí tuệ con ngời mới thành văn Tác phẩm văn chơng tự thân nó đã mang tính đa nghĩa Tác phẩm văn chơng có tính đa nghĩa , mỗi học sinh là một nhân cách ,một cá tính ,vậy thì tại sao thầy dạy văn lại bắt học sinh phải nhất nhất hiểu ghi theo thầy nh một cái máy Ngày nay phơng pháp dạy học mới đã quan tâm nhiều
đến học sinh làm trung tâm của hoạt động dạy học Từ đó thúc đẩy ngời thầy phải suy nghĩ một cách ngiêm túc về phơng pháp dạy học văn
Thầy giáo học sinh và nhà văn thông qua tác phẩm phải vận động ,song không phải vận động một cách tuỳ tiện ngẫu hứng mà phải có cách thức vận
động trong giờ văn : tác giả là ngời phát tin ngời nhận tin là học sinh Thầy giáo
có vị trí rất quan trọng nhng cũng chỉ là ngời môi giới Theo Giáo S Nguyễn Đức Nam:″Tài năng nghệ thuật của thầy giáo chính là làm thế nào cho xuất hiện nhân
Trang 3vật thứ ba (nhà văn )tạo ra mối quan hệ trực tiếp giữa học sinh và nhà văn thông qua tác phẩm nghệ thuật ″
Trong giờ văn ,học sinh luôn giữ vai trò trung tâm chứ không phải thầy giáo Học sinh đợc tôn trọng là phải đợc thầy giáo tổ chức hoạt động Để các em hứng thú thực sự là thầy phải nêu ra đợc các tình huống có vấn đề trong từng bài dạy ,từng tác phẩm Cách vận dụng khéo léo giữa các phơng pháp với việc nêu vấn đề để học sinh tham gia một cách tự giác và việc tìm hiểu tác phẩm Chỉ có ngời thầy mới có thể đánh thức tiềm năng lớn lao đang tiềm ẩn trong mỗi con ng-
ời thì mới thực sự đem đến hứng thú “niềm vui lớn” cho các em qua mỗi giờ học văn
“Vấn đề ”là tiềm ẩn ,có sẵn trong các tác phẩm văn học Khi nó đợc xuất hiện thì đã có sự lao động của giáo viên Để dạy học văn theo kiểu nêu vấn đề thì giáo viên phải dùng mọi biện pháp đặt ra vấn đề cho học sinh ham muốn tìm hiểu và giải quyết và chắc chắn giải quyết đợc Cái khó nhất của giáo viên là tìm
ra vấn đề lí thú tởng dễ mà lại khó ,tởng đơn giản mà lại không đơn giản Giải quyết đợc vấn đề ,học sinh sẽ thoả mãn , vui sớng vì hiểu đợc tri thức mới, hiểu
đợc cách thức chiếm lĩnh và khám phá tác phẩm văn học Nh vậy ngời giáo viên
đã “khơi nguồn cảm hứng vô tận sáng tạo của học sinh ”
4.Cơ sở thực tiễn
Qua nhiều năm trực tiếp giảng daybộ môn ngữ văn lớp 9 tôi nhận thấy việc tiếp nhận và cảm thụ một tác phẩm văn học của học sinh đặc biệt là văn bản truyện còn nhiều khó khăn
Thứ nhất :Học sinh đại trà cha hình thành thói quen đọc kĩ văn bản ở nhà trớc khi tìm hiểu trên lớp Phần lớn các em chỉ dừng lại ở việc đọc văn bản để nắm đợc sự việc và nhân vật chính Đôi khi học sinh cha khái đợc đâu là nhân vật chính sự việc chính , đâu là nhân vật phụ sự việc phụ Cá biệt còn có một số trờng hợp học sinh chỉ dựa vào các loại sách tham khảo để soạn bài mà không chịu đọc kĩ văn bản,đối với những trờng hợp này thì việc đọc văn bản ở lớp là lần
đầu tiên tiếp cận văn bản
Thứ hai :Đối với một văn bản dài việc đọc văn bản trên lớp của thầy và trò còn khó khăn vì thời gian đọc chiếm phần lớn thời gian phân phối cho bài dạy ỏ một số đối tợng học sinh việc đọc văn bản trên lớp chiếm mất nhiều thời gian Ngời giáo viên phải có cách giải quyết khôn khéo thì học sinh mới có đủ thời gian tìm hiểu văn bản
Thứ ba :Khi tìm hiểu văn bản học sinh cần nhớ đợc những chi tiết chính và những dẫn chứng tiêu biểu thì việc tìm hiểu mới sâu sắc,từ đó học sinh mới tự rút
ra đợc giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản truyện Nhng cái khó đối với ngời giáo viên là đối tợng học sinh đại trà thì việc đọc văn bản chỉ để tìm hiểu nhân vật còn các dẫn chứng có liên quan hầu hết học sinh không ghi nhớ đợc,nếu
có thì chỉ là rất ít
Thứ t: Đặt trong tình hình phát triển của xã hội hiện nay, học sinh không thật thiết tha với các bộ môn xã hội Hầu hết các em thiên vê học các bộ môn khoa học tự nhiên.Vì vậy, việc dạy văn nói chung và việc dạy văn bản truyện nói riêng của ngời giáo viên còn gặp rất nhiều khó khăn Đó chính là lí do tôi chọn
đề tài này để cùng đồng nghiệp tìm ra hớng giải quyết tối u nhất cho việc dạy các văn bản truyện sao cho có hiệu quả
Trang 4Bằng kinh nghiệm giảng dạy ngữ văn nhiều năm tôi thấy: Muốn tìm hiểu tốt một văn bản truyện trớc hết ngời giáo viên giúp học sinh của mình tiếp cận văn bản Khai thác tốt tình huống trong văn bản sẽ giúp cả thầy và trò làm nổi bật đợc nội dung chủ đề của truyện Bởi lẽ trong mỗi văn bản truyện bao giờ cũng có các yếu tố nh: nhân vật, sự việc , cốt truyện và tình huống truyện.Có những câu truyện các tác giả xây dựng những tình huống truyện đơn giản, dễ hiểu, nhng đằng sau cốt truyện tởng nh đơn giản đó là cả một dụng ý nghệ thuật.Có những tình huống kịch tính đợc đẩy lên đến cao trào rồi đợc giải quyết thật khéo léo.Tất cả các tình huống đó đều góp phần quan trọng vào thể hiện nội dung chủ đề cuả văn bản.Do vậy, việc phân tích hay đọc hiểu một văn bản truyện muốn có hiệu qủa cao thì việc tìm hiểu tình huống truyện là khâu đầu tiên và có vai trò vô cùng quan trọng Nội dung chủ đề của văn bản sẽ dần đợc gợi mở qua tình huống đó
II.Đề xuất một số biện pháp
1.Mối quan hệ giữa phơng pháp dạy học văn và việc tạo hứng thú học tập cho học sinh
Dạy văn lấy học sinh làm trung tâm là đòi hỏi cấp bách và hoàn toàn có cơ
sở Nhiệm vụ của đề tài là càng đề xuất nhiều biện pháp có ý nghĩa nh một
ph-ơng pháp để trả lại vị trí trung tâm của học sinh thì sẽ đạt đợc hiệu quả tốt để hoàn thành mục tiêu giáo dục
Để làm đợc điều đó trớc hết chúng ta phải hiểu vấn đề trong tác phẩm văn chơng là gì ? Có thể nói vấn đề là những mâu thuẫn giữa tri thức đã biết và tri thức cha biết về tác phẩm Mâu thuẫn này chỉ đợc giải quyết nhờ nỗ lực hoạt
động sáng tạo và cảm quan thẩm mĩ Nh vậy ngời học sinh đứng trớc mỗi tác phẩm có rất nhiều vấn đề cần giải quyết có liên quan đến xã hội , đạo đức , văn hoá ,văn học nhng chúng ta có thể hiểu vấn đề theo 2 cách là :vấn đề nội dung
và vấn đề nghệ thuật Vấn đề nội dung liên quan đến phơng diện nào thì chúng ta
đặt ra những phơng diện ấy Vấn đề nghệ thuật của tác phẩm sẽ liên quan đến nghệ thuật sử dụng từ ngữ , các biện pháp tu từ ,các đặc trng thể loại , sự tiếp thu cách tân sáng tạo Tóm lại trong một tác phẩm văn học sẽ có rất nhiều vấn đề lớn ,vấn đề trung bình ,và vấn đề nhỏ , sẽ có vấn đề nội dung sẽ có vấn đề nghệ thuật
Dạy học nêu vấn đề là kiểu dạy học hiện đại đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ dạy học thời kỳ bùng nổ thông tin và phát triển khoa học kĩ thuật Đó không chỉ
là dạy cho học sinh tri thức mà còn dạy cho học sinh cách làm ra tri thức , không chỉ dạy học sinh tiếp nhận ghi nhớ thông tin mà còn dạy cho học sinh chủ động lựa chọn thông tin ,xử lí thông tin có hiệu quả
Dạy học nêu vấn đề phù hợp với xu thế giáo dục thế giới :Học để biết , học để làm , học để sống và học để sống với chất lợng cao
Dạy học nêu vấn đề có vai trò tích cực và những u điểm cơ bản song đó không phải kiểu dạy học đối lập tách biệt với kiểu dạy học truyền thống ,mà chúng ta phải vận dụng sao cho linh hoạt và sáng tạo có hệ thống các phơng pháp dạy học với dạy học nêu vấn đề
Chúng ta phải vận dụng phơng pháp dạy học nêu vấn đề trong từng phơng pháp dạy học văn cụ thể Có rất nhiều con đờng ,cách thức chiếm lĩnh tác phẩm ,đó là :phơng pháp đọc phơng pháp bình phơng pháp tìm hiểu tác phẩm , phơng pháp tái tạo, phơng pháp gợi mở phơng pháp nghiên cứu Mỗi phơng
Trang 5pháp có u điểm đặc thù riêng Để giúp giờ dạy học tác phẩm văn chơng đạt hiệu quả cao, tối u từng bớc giúp học sinh “chuyển vào trong” những giá trị thẩm mĩ
đích thực của tác phẩm để bồi dỡng tâm hồn phát triển trí tuệ các em Ngời giáo viên luôn luôn tạo đợc vấn đề trong từng phơng pháp khi vận dụng giảng bài
Thông qua từng phơng pháp ngời giáo viên cần sáng tạo ,linh hoạt giải quyết các tình huống có vấn đề mà giáo viên đã nêu ra để học sinh luôn đợc học tập sáng tạo Qua quá trình đó học sinh không tiếp thu thụ động mà có quá trình vận động bên trong của chủ thể để nhận thức , tự phát triển
Thầy giáo trong cơ chế dạy văn mới , giữ vai trò là ngời tổ chức thiết kế hoạt động bên trong là học sinh để các em cảm thụ và chiếm lĩnh tác phẩm , tìm
ra những vấn đề cần khám phá của tác phẩm
Trong mỗi giờ văn đòi hỏi giáo viên phải vận dụng phơng pháp dạy học văn với dạy học nêu vấn đề nh thế nào cho phù hợp để giải quyết mối quan hệ đó
là làm tốt tinh thần ấy học sinh làm trung tâm
2 Vận dụng lí thuyết trên vào trong một giờ văn
ở trờng thcs chủ yếu là dạy tiết tìm hiểu văn bản Cấu trúc của giờ văn thờng theo mô hình :
Trong đề tài này tôi chủ yếu đi vào phẩm văn chơng:phần truyện
Tác phẩm văn chơng dù nhỏ nhất hay lớn nhất cũng có vấn đề về nội dung
và vấn đề nghệ thuật Nhiệm vụ của giáo viên là định hớng dẫn học sinh phát hiện ra vấn đề nhng phải biết biến vấn đề đó thành tình huống có vấn đề Mỗi tiết học tuỳ vào quỹ thời gian mà giáo viên có thể giúp học sinh giải quyết từ 1đến 2 tình huống có vấn đề.Vì lẽ đó chúng ta phải phát hiện đợc tình huống có vấn đề nêu đợc nội dung ý nghĩa cơ bản của tác phẩm đạt hiệu quả giáo dục thẩm mĩ cao nhất
Ví dụ :Trong tác phẩm :″Chuyện ngời con gái Nam Xơng” – (Nguyễn Dữ) - Vũ Nơng lấy cái chết để giải oan cho mình.Từ việc Vũ Nơng tự tử khi chồng ghen , nghi ngờ mình thất tiết lúc vắng nhà ,tôi chọn vấn đề này để tạo tình huống cho học sinh tranh luận đi đến kết luận việc làm nh vậy đúng sai nh thế nào Cách thức là học sinh sẽ thảo luận nhóm Vấn đề ở đây là tiềm ẩn có sẵn trong tác phẩm văn học Khi nó đợc phát triển là đã có sự lao động của giáo viên.Tuy nhiên khi phát hiện vấn đề có đa thành tình huống có vấn đề hay không thì còn phụ thuộc vào ngời dạy Nếu ngời dạy chọn dạy học nêu vấn đề thì phải chọn mọi biện pháp biến vấn đề thành tình huống có vấn đề Tức là vấn đề đặt ra cho học sinh làm cho các em có ham muốn tìm hiểu giải quyết và chắc chắn phải giải quyết cho bằng đợc Cái khó nhất của ngời giáo viên là tìm ra đợc vấn đề lí thú ,tởng dễ mà lại khó , tởng đơn giản mà lại không đơn giản Giải quyết đợc vấn đề học sinh sẽ thoả mãn , vui sớng và tìm đợc tri thức mới tự hiểu đợc, tự
Trang 6khám phá và tự chiếm lĩnh Để tạo đợc tình huống có vấn đề , giáo viên phải dùng câu hỏi nêu vấn đề Đó là loại câu hỏi yêu cầu học sinh phải suy nghĩ trả lời ,để trả lời đợc học sinh phải vận dụng tri thức đã biết vào các phán đoán khoa học
Một ví dụ khác: Khi tìm hiểu văn bản Làng của tác giả Kim Lân.Ngời giáo viên cần giúp học sinh tìm hiểu về nhân vật Ông Hai, từ đó khái quát lên đ-
ợc tình yêu làng yêu nớc của những ngời nông dân Việt Nam giai đoạn đầu cuộc kháng chiến chống Pháp Muốn làm tốt yêu cầu trên ngời giáo viên không thể bỏ qua việc giúp học sinh khai thác tốt tình huống truyện.Tác giả đã thử thách tình yêu làng của nhân vật chính trong văn bản bằng cách tạo ra một tình huống thử thách Đó là một tình huống khá bất ngờ.Ông Hai nghe tin làng Dầu theo giặc lập tề.Đó là cái tin hết sức đột ngột, khiến ông bàng hoàng sửng sốt Dù cố nghi ngờ nhng lời kể quá rành rọt, cụ thể của những ngời tản c qua vùng đã làm cho
ông không thể không tin Tác giả đã tập trung miêu tả diễn biến nội tâm nhân vật,từ khi nghe tin đến lúc rời đám đông về nhà:rồi suốt mấy ngày ròng rã, Ông Hai phải sống trong tâm trạng hết sức nặng nề.Từng thái độ, cử chỉ, từng suy nghĩ của nhân vật đã toát lên đợc cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt giữa niềm tự hảo kiêu hãnh mà ông đã dành cho làng chợ Dầu với sự đau xót tủi hổ, nhục nhã vì mang tiếng là dân của làng chợ Dầu phản bội Nỗi ám ảnh nặng nề đã khiến
Ông Hai rơi vào tâm trạng nơm nớp lo sợ bế tắc tuyệt vọng khi nghĩ đến tơng lai.Về làng thì không đợc, vì về làng lúc này là đồng nghĩa với theo Tây, phẩn bội kháng chiến.ở lại thì không xong vì mụ chủ nhà đã đánh tiếng xua đuổi.Còn
đi thì biết đi đâu bởi ai ngời ta chứa chấp dân làng chợ Dầu phản bội Nếu nh
tr-ớc đây tình yêu làng yêu ntr-ớc hoà quyện vào nhau thì lúc này Ông Hai buộc phải
có sự lựa chọn đó không phải là điều đơn giản với ông vì làng chợ Dầu đã trở thành một phần cuả cuộc đời ông không dễ gì dứt bỏ.Tình huống truyện không những làm nổi bật diễn biến tâm trạng nhân vật Ông Hai mà còn góp phần làm nổi bật nội dung, chủ đề của văn bản.Đó là tình yêu làng yêu nớc của ngời nông dân Việt Nam và qúa trình giác ngộ cách mạng của ngời nông dân giai đoạn dầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
III Đề xuất một số phơng pháp
1,Phơng pháp đọc sáng tạo :
Đọc tác phẩm là một lao động của học sinh.Đọc văn chính là hoạt động giao tiếp đối thoại với tác giả thông qua văn bản Đọc văn là quá trình đi ngợc lại với quá trình sáng tạo văn bản , là quá trình biến ngôn ngữ kí hiệu thành âm thanh để cho các từ ngữ hình ảnh ,vang hình, vang nhạc để nắm bắt ý đồ nghệ thuật của tác giả và tiến hành quá trình đồng sáng tạo
Đọc tác phẩm là để tập hợp các hiện tợng , đọc để xác định vấn đề, đọc để tìm lời giải đáp chính cho tác phẩm Không thể nào học văn mà không đọc trớc tác phẩm ở nhà với những hớng dẫn s phạm có sẵn trong sách giáo khoa và những nhiệm vụ riêng mà giáo viên yêu cầu Đến lớp đọc tác phẩm văn chơng cần đợc vang lên với việc đọc diễn cảm cả thầy và trò vẫn phải đọc để phân tích cái hay ,cái đẹp
Ví dụ khi muốn phân tích về nghệ thuật miêu tả chân dung Thuý Vân ,Thuý Kiều tôi cho học sinh đọc những câu thơ trong tác phẩm để lí giải cho vấn
đề mà giáo viên đa ra Giáo vên có thể hỏi ? Tại sao không tả kĩ Vân để ngời đọc hình dung ra Thuý Kiều Trong rất nhiều lí do có một lí do đó là ở câu mở đầu
Trang 7của đoạn trích Giáo viên gợi ý chìa khoá cho câu trả lời nằm ở câu đầu tiên Học sinh sẽ từ câu thơ trên mà lí giải đợc lí do Học sinh cần đọc những đoạn trích khác để lí giải đợc điều đó ,để thấy sự tinh đời của Nguyễn Du khi miêu tả hai chị em Thuý Kiều
Ví dụ khi dạy:″Chuyện ngời con gái Nam Xơng” tôi cho học sinh đọc tác phẩm để cảm nhận nội dung ý nghĩa của truyện Trong khi tìm hiểu văn bản tôi
đặt câu hỏi để học sinh tìm đoạn truyện nói về vấn đề nêu trong văn bản Giáo viên hỏi học sinh ? Trớc lời nói của con trẻ Trơng Sinh nghi oan cho vợ ,trớc cơn tức giận của chồng Vũ Nơng đã nói nh thế nào ? Đọc lời nói ấy và cho biết tấm lòng, đức hạnh của Vũ Nơng qua lời nói đó ?Từ đó học sinh sẽ dễ dàng rút ra Vũ Nơng là ngời vợ thuỷ chung trong trắng luôn giữ gìn trinh tiết để chờ chồng mong có một cuộc sống hạnh phúc Đó là cơ sở để phân tích nỗi oan ức của Vũ Nơng Từ đó học sinh rút ra đợc nguyên nhân của nỗi oan này
Khi dạy: ″Hoàng lê nhất thống chí ”–Hồi thứ mời bốn Ngoài việc cho học sinh đọc để tiếp xúc với tác phẩm có những cảm nhận ban đầu về tác phẩm ,khi tìm hiểu tôi tiếp tục cho học sinh đọc những đoạn văn cần thiết để hiểu sâu vấn đề
Ví dụ khi tìm hiểu hình ảnh anh hùng Nguyễn Huệ tôi nêu vấn đề Tác giả
đã miêu tả về tài năng của vị anh hùng này qua những câu văn nào ?
Trong mọi tác phẩm để dạy kích thích khả năng tìm tòi của học sinh chúng ta cần vận dụng nó trong việc đọc sáng tạo Phải đọc mới cảm nhận đợc tác phẩm việc đọc sáng tạo và tìm hiểu văn bản có quan hệ trực tiếp với nhau nó
hỗ trợ nhau để đạt hiệu quả cao trong việc tìm hiểu văn bản
2.Phơng pháp gợi mở :
Phơng pháp này đặt ra mục tiêu lấy học sinh làm trung tâm coi trọng việc
tổ chức học sinh hoạt động để chiếm lĩnh tác phẩm bằng phơng pháp nêu vấn đề gợi mở Trên cơ sở lí luận qua thực tiễn giảng dạy tôi xin đề xuất một số biện pháp mà chính mình đã vận dụng trong việc dạy tác phẩm truyện
Khi chuẩn bị cho tiết dạy tôi luôn chuẩn bị tìm hiểu tác phẩm để nắm bắt
đợc nội dung t tởng tác phẩm Trên cơ sở đó xây dựng một hệ thống câu hỏi thích hợp Phải biết phối hợp một cách linh hoạt và hợp lí các khâu hỏi để đạt hiệu quả cao Phải biết lựa chọn các tình huống có vấn đề đa ra đúng lúc đúng chỗ để học sinh giải quyết Chuẩn bị nh vậy thì trong giờ dạy ít phải thay đổi thiết kế Cá biệt có những tình huống bất ngờ ngoài dự kiến mà học sinh đa ra tôi thờng bình tĩnh giải quyết để rồi sau giờ dạy ghi lại để tham khảo rút kinh nghiệm bổ sung cho những giờ dạy sau ở các lớp khác
Trong tác phẩm có một sốt vấn đề lớn nó bao gồm một số vấn đề khác do đó giải quyết vấn đề không đơn giản không thể đa ra lời giải đáp một lúc cho cácvấn đề
mà phải giải quyết từng vấn đề , giải quyết từng khâu ,từng vấn đề rồi dần dần mới đi đến giải quyết tổng thể
Ví dụ rút ra giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực qua tác phẩm “Ngời con gái Nam Xơng ” của Nguyễn Dữ thì học sinh phải nghiên cứu diễn biến của câu chuyện Giáo viên phải nêu vấn đề và dùng hệ thống câu hỏi để học sinh phát triển lần lợt và rút ra giá trị của tác phẩm Giáo viên hỏi :Câu truyện có phải chỉ
để nói về chuyện ghen tuông của Trơng Sinh đã dẫn đến cái chết oan ức của Vũ Nơng không ?Theo em giá trị của truyện là gì ?
Trang 8Để giải quyết đợc vấn đề này ,giáo viên phải gợi mở cho học sinh dần dần vấn đề để rồi đi đến giải quyết tổng thể Giáo viên có thể dùng câu hỏi nh sau: Nguyên nhân nào dẫn đến việc hiểu lầm của Trơng Sinh đối với vợ ? Câu hỏi này học sinh dễ dàng trả lời là do tính hay ghen của Trơng Sinh.Giáo viên tiếp tục hỏi ngoài ra còn nguyên nhân nào nã không ?Nếu Trơng Sinh không phải đi lính thì
có điều đáng tiếc đó xảy ra không ?Vậy học sinh sẽ tìm ra một nguyên nhân nữa
là do cuộc chiến tranh phong kiến đã làm cho gia đình tan nát , con mất mẹ ,vợ mất chồng Trơng Sinh độc đoán không nghe theo vợ , em thấy điều đó nói lên
điều gì ?Học sinh sẽ tìm đợc một nguyên nhân nữa là do Trơng Sinh chịu ảnh ởng nặng nề của t tởng phong kiến ,một xã hội trọng nam khinh nữ ,chế độ tam tòng cho phép ngời đàn ông có quyền bất công vô lí nh vậy.Từ đó học sinh sẽ rút
h-ra đợc giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm
Ví dụ khi giảng về Truyện kiều giảng những đoạn trích trong truyện Kiều Khi muốn tìm hiểu nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của tác giả ,qua đó thể hiện thái độ tình cảm của Nguyễn Du đối với chị em Thuý Kiều và đối với các nhân vật phản diện khác Tôi có thể đa vấn đề để học sinh tìm hiểu
Ví dụ tác giả đã khắc hoạ hình ảnh tên Mã Giám Sinh nh thế nào ?Em có nhận xét gì về cách tác giả miêu tả Mã Giám Sinh và cách miêu tả chị em Thuý Kiều ?Qua đó em hiểu thái độ của tác giả đối với nhân vật nh thế nào ?Ta có thể thấy sự khác biệt nằm ở chỗ nhân vật Thuý Vân ,Thuý Kiều đợc miêu tả bằng phơng pháp ớc lệ tợng trng theo thi pháp của văn học cổ với những hình ảnh đẹp
từ ngữ trang nhã , thể hiện sự yêu mến trân trọng Còn Mã Giám Sinh đợc miêu tả bằng bút pháp tả thực ,để nhân vật tự bộc lộ thông qua lời nói cử chỉ hành
động qua đó tác giả ngầm mỉa mai khinh bỉ nhân vật này Qua đó tiếp tục nâng lên rút ra đợc nghệ thuật tài ba trong việc khắc hoạ nhân vật vì thế mà Truyện Kiều hấp dẫn hơn nhiều so với Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân
3.Tạo hứng thú học tập :
Để tạo hứng thú học tập môn ngữ văn có nhiều biện pháp nh nhiều sách báo , tài liệu đã đề cập ở bài viết này tôi chỉ xin giới thiệu một biện pháp mà mình đã thực hiện và có hiệu quả rõ rệt Đó là luôn tạo cho học sinh thói quen suy nghĩ độc lập , sáng tạo tránh sự áp đặt
Ví dụ khi dạy văn bản "Lặng lẽ Sa Pa "của Nguyễn Thành Long Tìm hiểu nhân vật anh thanh niên chúng ta có thể đa ra cho học sinh tình huống để tạo hứng thú học tập cho học sinh Anh thanh niên có trực tiếp xuất hiện trong văn bản không ? Anh xuất hiện qua lời giới thiệu nh thế nào ? Lời giới thiệu đó
có gì đặc biệt không ?Cách giới thiệu đó của tác giả có tác dụng gì ?
Học sinh rất dễ nhận thấy anh thanh niên xuất hiện qua cách giới thiệu đặc biệt của bác lái xe"Một anh thanh niên hai mơi bảy tuổi làm công tác khí tợng kiêm vật lí địa cầu " "anh cô độc nhất thế gian và rất thèm ngời "
Qua cách đặt câu hỏi này ta cũng định hớng đợc luôn là anh thanh niên trong truyện hiện lên qua sự nhìn nhận và suy nghĩ đánh giá của các nhân vật khác Qua cách nhìn và cảm xúc của mỗi ngời, hình ảnh anh thanh niên thêm rõ nét và đáng mến hơn
Ví dụ khi dậy văn bản Bến Quê của Nguyễn Minh Châu.Để đi đến đợc ý nghĩa triết lí mà tác giả gửi gắm trong văn bản thì giáo viên phải giúp học sinh tìm hiểu tốt tình huống và các nghịch lí của nhân vật Nhĩ Đây là một văn bản t-
ơng đối khó đối với học sinh Vì vốn sống cuả các em cha nhiều, vấn đề tác giả
Trang 9đặt ra trong văn bản lại mang dậm tính chất triết lí sâu sắc Chính vì vậy việc khai thác tình huống truyện trong văn bản này đóng vai trò quan trọng.Câu chuyện kể về nhân vật Nhĩ đã từng đi rất nhiều nơi trên trái đất, cuối đời lại phải nằm liệt giờng bởi một căn bệnh hiểm nghèo và sắp phải từ giã cõi đời, mọi sinh hoạt đều phải nhờ vào ngời khác.ở hoàn cảnh này, nhiều tác giả sẽ hớng vào kkhai thác sự cao thợng, khát vọng sống, lòng nhân ái, đức hi sinh của các nhân
ật trong truyện Nguyễn Minh Châu thoát khỏi khuynh hớng này, ông tạo nên những tình huống nghích lí để từ đó nhân vật nhận ra nhiều điều mới mẻ vợt ra ngoài cách nhìn, cách nghĩ trớc đây của nhân vật và cũng là của chiúnh tác giả.Trớc hết Bến Quê khai thác tình huống nghịch lí Tác giả đặt nhân vật trong một tình huống đặc biệt.Nhĩ làm một công việc mà nhờ đó anh đã đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất.Nhng trớ trêu thay một căn bệnh quá ác đã bắt anh phải nằm liệt giờng hàng năm trời không nhích đợc một bớc chân Nghịch lí
ấy dẫn đến một nghịch lí thứ hai Trong những ngày cuối đời, Nhĩ phát hiện ra
vẻ đẹp của những cảnh vật tởng nh cũ mà lại rất mới lạ, chẳng hạn nh bãi bồi bên sông trớc cửa sổ ngôi nhà anh đang ở Mặc dù rất gần nhng anh biết mình không bao giờ có thể đặt chân lên mảnh đất ấy nữa.Nhĩ phải nhờ cậu con trai thực hiện khát khao đó của mình.Nhng không hiểu đợc ý định của bố, lại đam mê cờ thế
mà cậu con trai có thể ,lỡ mất chuyến đò ngang duy nhất trong ngày Thế là một nghịch lí lại sẵp xảy ra ngnoài sự tính toán của Nhĩ.Trong tiết học nếu học sinh tìm hiểu tốt tình huống truyện và hiểu đợc nghịch lí trong văn bản thì học sinh sẽ
dễ dàng hiểu nhận thức đợc một điều Đó là:Cuộc sống và số phận con ngời luôn chứa đựng những nghịch lí vợt qua mọi dự định, hiểu biết và tính toán của họ V-
ợt lên những nhận thức đó sau khi khai thác tình huống học sinh còn có thể khái quát lên một điều đó là: Con ngời ta trên đờng đời thật khó tránh khỏi những
điều vòng vèo hoặc chùng chình.Và chỉ khi đã gần từ giã cuộc sống ngời ta mới nhận ra rằng sự giàu có cùng mọi vẻ đẹp đều nằm trong cái bình thờng và ngay cạnh ta, nh bãi bồi bên sông ngoài cửa sổ, nh ngời vợ tảo tần giàu lòng thuỷ chung và đức hi sinh.Còn đối với mỗi học sinh sau khi khai thác tình huống truyện mà tác giả đặt ra trong văn bản các em sẽ phần nào ý thức đợc vai trò và trách nhiệm của học sinh là gì Giác ngộ đợc những gì là chùng chình vòng vèo diễn ra trong cuộc sống hàng ngày của các em.Từ đó các em có ý thức học tập tốt.Thái độ sống đúng đắn, và biết trân trọng những vẻ đẹp gần gũi mà bình dị của cuộc sống
4.Tổ chức hoạt động nhóm :
Nh chúng ta đã biết ,từ lâu ,việc dạy học đã thờng là quá trình truyền thụ kiến thức một chiều Đây là thói quen cần phải khắc phục Chúng ta vẫn dạy cho học sinh “Không thầy đố mày làm nên”và “Học thầy không tày học bạn ” Hai câu tục ngữ bổ sung cho nhau để hoàn thiện qúa trình học tập nhng chúng ta lại không chú ý tổ chức học sinh học bạn.Học bạn là một phơng pháp tốt Một trong những hình thức giúp cho học sinh học bạn tốt nhất là hoạt động học tập theo nhóm Học nhóm không phải là cách học hoàn toàn mới Tạo một thói quen tốt
là điều không dễ nhng cần phải làm Bởi thế tổ chức học tập theo nhóm có rất nhiều ích lợi
Trang 10Tổ chức hoạt động nhóm là một biện pháp dạy học tích cực nhằm mục
đích tạo điều kiện cho học sinh :
-Phát huy kĩ năng ngôn ngữ và giao tiếp xã hội
Tổ chức học sinh hoạt động nhóm thì ngời giáo viên có cơ hội phát hiện vốn sống, đặc điểm tâm lí và khả năng giao tiếp cảm nhận văn học của từng cá nhân học sinh qua đó hỗ trợ từng em theo cách riêng biệt cho phù hợp
Nhìn chung hoạt động theo nhóm giáo viên trở thành ngời hớng dẫn và tạo
sự tơng hỗ giữa học sinh với nhau, học sinh tự giác tiến hành các hoạt động chiếm lĩnh tri thức.ỏ hoạt động nhóm, phơng thức hoạt động hựp tác và phơng thức tự học đề đợc phát huy tốt Mỗi qua hệ giữa các thành viên trong tập thể nhóm, trở nên gần gũi thân thiết hơn
Ngời học đợc hoạt động ,đợc chủ động lĩnh hội kiến thức , đợc bộc lộ mình và đợc phát triển Rèn kĩ năng nghe nói cho học sinh ,học sinh nghe bạn nói và nhận xét đánh giá ý kiến của bạn nói điều mình nghĩ , tự nhìn nhận đợc chính mình Học sinh rèn đợc tính tự giác , ý thức phấn đấu vơn lên ,thói quen họp tác trong học tập , trong cuộc sống Phơng pháp này dễ thực hiện đợc ở mọi nơi kể cả những vùng còn khó khăn về cơ sở vật chất và phơng tiện dạy học Vậy ngời thầy sẽ tổ chức nh thế nào cho học sinh trong một tiết dạy truyện
Trớc hết ngời giáo viên cần đặt câu hỏi Tổ chức hoạt động nhóm trong giờ ngữ văn nh thế nào ? Việc chuẩn bị của giáo viên vừa khoa học vừa tỉ mỉ Khi dạy giáo viên vừa phải có bản lĩnh s phạm ,vừa phải linh hoạt quán xuyến mọi hoạt động của lớp :
Khâu quan trọng là chuẩn bị bài soạn của cả thầy và trò
Bài soạn chính xác khoa học thể hiện rõ những kiến thức cần đạt Trong bài cần
có nhiều loại câu hỏi dành cho nhiều nhóm khác nhau
4.1 Loại câu hỏi dành cho cả lớp :Thờng là những câu hỏi củng cố , những câu hỏi không cần học sinh nghĩ lâu
4.2 Loại câu hỏi dành cho nhóm nhỏ :Thờng là câu hỏi khiểm tra kiến thức cũ câu hỏi phát hiện
4.3Câu hỏi dành cho nhóm nhỡ :Là câu nêu vấn đề khó cần trao đổi bàn bạc cần phân tích nhận xét đánh giá
Ví dụ về cách kết thúc Chuyện Ngời Con Gái Nam Xơng có hai ý kiến sau đây :
4.3.1 ý kiến th nhất:Chuyện nên dừng ở chỗ :Bấy giờ chàng mới tỉnh ngộ , thấu nỗi oan của vợ , nhng việc đã trót rồi
Trang 114.3.2 ý kiến thứ hai Chuyện dừng ở chỗ Vũ Nơng hiện về trong giây lát rồi biến mất
Câu hỏi thảo luận :Em chọn ý kiến nào tại sao ?
4.4 Loại câu hỏi dành cho nhóm lớn mang tính tổng hợp khái quát mở rộng :
Ví dụ :Trong tác phẩm Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh –(Phạm Đình Hổ ) Sau khi tìm hiểu tác phẩm giáo viên có thể cho nhóm lớn thảo luận câu hỏi sau :
Tác giả kết thúc tuỳ bút bằng câu ghi lại một sự việc có thực từng xảy ra trong nhà mình nhằm mục đích gì ?
Ví dụ :Khi dạy đoạn trích “Kiều ở lầu Ngng Bích ” trích truyện Kiều –(Nguyễn Du ) Giáo viên có thể ra câu hỏi sau cho nhóm lớn thảo luận ở phần hai của đoạn trích Thuý Kiều nhớ đến ai (Kim Trọng và cha mẹ ) Nhớ Kim Trọng trớc có hợp lí không ? Vì sao?
Không phải Kiều không thơng nhớ cha mẹ , nhng sau gia biến , nàng coi
nh đã làm tròn bổn phận với cha mẹ Bao nhiêu việc xảy ra , giờ đây một mình ở lầu Ngng Bích, nàng nhớ ngời yêu trớc hết (nàng coi mình đã phụ tình Kim Trọng )
Khi dạy văn bản Chiếc lợc ngà của Nguyễn Quang Sáng giáo viên có thể nêu câu hỏi thảo luận nhóm.Tình huống về sự thay đổi bất ngờ của bé Thu có ý nghĩa nh thế nào trong văn bản?Sự thay đổi đó góp phần thể hiện nội dung t tởng gì ?
Khi dạy văn bản Làng của nhà văn Kim Lân giáo viên có thể cho học sinh thảo luận Việc tác giả đặt ông Hai vào tình huống bất ngờ nghe tin làng Dầu của mình theo giặc có ý nghĩa nh thế nào trong việc thể hiện tình yêu làng của Ông Hai?Nếu không đặt Ông Hai vào tình huóng đó, mà chỉ đơn thuần kể về tình yêu làng của ông thì văn bản còn có sức hấp dẫn và lôi cuốn nữa hay không ?
5.Đa trò chơi vào sau bài học để học sinh củng cố nhanh kiến thức Giáo viên cũng có thể dùng cách này trong tiết luyện tập về truyện Tuy nhiên đây là cách làm có hiệu quả đối với các lớp mũi nhọn từ 6 đến 9 còn các lớp đại trà hiệu quả ít hơn
Cách làm :
Giáo viên có thể chọn 2 học sinh bất kì lên trên bảng (Có thể là 2 em nam hoặc 2 em nữ hoặc 1 nam 1 nữ )
Trên bảng giáo viên có hệ thống câu hỏi cho học sinh tuỳ chọn.Đây đều
là câu hỏi do giáo viên chuẩn bị sẵn Hai học sinh quay lng vào nhau một em hỏi
và một em trả lời Giáo viên và tập thể lớp sẽ làm giám khảo Câu hỏi đợc phát ra
từ bạn thứ nhất thì câu trả lời là của bạn thứ 2.Hết một câu hỏi hai bạn đổi vị trí cho nhau
Trang 12Thông qua cách này ngời giáo viên có thể kiểm tra một lúc nhiều đối tợng học sinh đồng thời giúp học sinh ôn lại kiến thức đã học một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất
Đây là phơng pháp tôi đã áp dụng tại hai khối lớp (9 và 6).Qua thời gian thấy các em nhớ bài tốt và rất hăng hái trong trò chơn này Học sinh nhớ đợc cả những chi tiết rất nhỏ trong truyện và giúp các em nhớ một cách chắc chắn cốt truyện đã học
6.Học sinh tự đặt câu hỏi và tìm đối tợng trả lời câu hỏi của mình
Đây là phơng pháp tôi đang áp dung có hiệu quả đối với lớp 6 mũi nhọn Lớp mũi nhọn đợc coi là lớp chất lợng đầu vào cao hơn các lớp khác cùng khối vì vậy học sinh có trình độ đồng đều hơn các lớp khác áp dụng cách này các em
tỏ ra rất hứng thú với giờ học ngữ văn say mê hăng hái tìm câu hỏi thật khó để
số lợng bạn trả lời câu hỏi của mình thật nhiều
Cách làm :
Mỗi học sinh đợc lên bảng một làn đặt câu hỏi và tìm ngời trả lời cho câu hỏi của mình Câu hỏi của em nào tìm đợc nhiều ngời không trả lời đợc nhất thì
đó là câu hỏi hay nhất trong thời gian chơi trò chơi đó Tuy nhiên có một yêu cầu
đối với ngời đặt câu hỏi là lợng kiến thức đợc giáo viên giơí hạn và chỉ kiểm tra bạn những đơn vị kiến thức đã đợc học Khi thực hiện tôi phát hiện thấy một số học sinh ra câu hỏi rất hay, có những câu hỏi mà giáo viên không thể đi hết trong bài giảng Cách này giúp các em phát huy khả năng sáng tạo của mình đồng thời cũng giúp học sinh nhớ văn bản truyện một cách chi tiết và chính xác.Phơng pháp này đợc sử dụng hiệu quả trong phần củng cố bài và trong tiết ôn tập truyện
Những giáo viên đã nhiều năm dạy ngữ văn lớp 9 đều thấy rằng :Đối với văn bản truyện dài thật khó giúp học sinh ghi nhớ một cách chính xác các chi tiêt strong văn bản.Vì học sinh của chúng ta còn lời đọc văn bản, hầu hết các em chỉ
đọc văn bản từ 1 đến 2 lần Thậm chí có em còn dựa vào sách học tốt để chép ra các câu trả lời chứ không hề đọc văn bản.Chính vì thế đây là một cách giúp học sinh tự thấy cần thiết phải đọc kĩ văn bản nh rhế nào , tự bản thân các em thấy
đọc văn bản là một nhu cầu không thể thiếu đợc khi tìm hiểu truyện Nh vậy nếu cách này đợc nhời giáo viên áp dụng thờng xuyên thì sẽ giúp học sinh tạo thành một thói quen tốt khi đọc và tìm hiểu kĩ các chi tiết trong văn bản truyện Rõ ràng nếu học sinh có thói quen này thì việc dạy của ngời thầy sẽ nhàn hơn và hiệu quả hơn rất nhiều
Trang 13Thấy rõ thân phận nhỏ nhoi , bi thảm của ngời phụ nữ dới chế độ phụ quyền phong kiến
Tìm hiểu những thành công về nghệ thuật của tác phẩm :nghẹ thuật dựng truyện , dựng nhân vật , sự sáng tạo trong sự việc kết hợp những yếu tố kì ảo với những tình tiết có thực tạo nên vẻ đẹp riêng của loại truyện truyền kì
Giáo dục thái độ trân trọng đối với ngời phụ nữ
Rèn kĩ năng đọc phân tích tác phẩm
II,Các b ớc lên lớp
1.ổn định lớp (1 phút)
2,Kiểm tra bài cũ
(Bài tập trắc nghiệm trên bảng phụ) (5 phút)
Giá viên bổ sung thêm
nhấn mạnh các chi tiết
Đọc văn bản
Đọc phân vai
Nguyễn Dữ là con của Nguyễn Tớng Phiên (Tiến sĩ năm Hồng
Đức thứ 27 đời vua Lê Thánh Tông
1946)Theo các tài liệu
để lại ông còn là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Quê: Huyên trờng Tân , nay là huyện thanh Miện tỉnh Hải Dơng
Học sinh trình bày
20phút
5 phút
I/Đọc và tìm hiểu chung về tác phẩm 1/Đọc -tìm hiểu chú thích
a, Tác giả Nguyễn Dữ (?-?)
Quê:Huyên Trờng Tân Thanh Miện Hải Dơng
b, Tác phẩm Truyền kì mạn lục: Tập sách gồm
20 truyên ,ghi lại những truyện lạ lùng kì quái
Trang 14sinh giới thiệu Chuyện
ngời con gái Nam Xơng
Giáo viên yêu cầu học
Mạn lục :Ghi chép tản mạn
Truyền kì :còn là một thể loại viết bằng chữ
Hán (văn xuôi tự sự ) hình thành sớm ở Trung Quốc , đợc các nhà văn Việt Nam tiếp nhận dựa trên những truyện có thực về những ngời thật , mang đậm giá trị nhân bản , thể hiện ớc mơ
khát vọng của nhân dân về một xã hội tốt
đẹp Chuyện ngời con gái Nam Xơng kể về cuộc
đời và nỗi oan khuất của ngời phụ nữ Vũ N-
Học sinh đọc chú thích sgk và tìm hiểu nhanh
-Vũ Nơng là ngời con gái thuỳ mị nết na , lấy Trơng Sinh (ngời ít học tính hay đa nghi )-Trơng Sinh phải đi lính chống giặc Chiêm
3 phút
7 phút
c,Chú thích (sgk)2,Tóm tắt truyện