Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)Nhạc cụ đao của người Khơ Mú (tt)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TẠ QUANG ĐỘNG
NHẠC CỤ ĐAO CỦA NGƯỜI KHƠ MÚ
Chuyên ngành: Văn hóa dân gian
Mã số: 62 22 01 30
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội, năm 2017
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thụy Loan
Phản biện 1: GS.TS Kiều Thu Hoạch
Phản biện 2: PGS.TS Lê Thị Hoài Phương
Phản biện 3: PGS.TS Bùi Huyền Nga
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Khoa học xã hội, 477 Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân, Hà Nội vào hồi……… ….giờ…………phút,
ngày………tháng……….năm………
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
- Thư viện Quốc gia
Trang 3MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
“Đao” là tên gọi được nhiều nhà nghiên cứu biết tới với tư cách
là một nhạc cụ dân gian của người Khơ Mú Đó là thành viên của
một nhóm nhạc cụ có chung một kiểu cấu trúc phổ biến ở cả một số tộc người khác như Lự, Thái Tuy nhiên, nhạc cụ này được sử dụng nhiều nhất trong đời sống của người Khơ Mú
Ở đao của người Khơ Mú, ta có thể tìm thấy nhiều nét độc đáo, thậm chí phức tạp Một trong những nét độc đáo và phức tạp đó là nguồn phát âm của nó Cho tới nay, các nhà nghiên cứu trong nước cũng như nước ngoài chưa có sự thống nhất về việc xác định nguồn phát âm của đao Do đó, hiện vẫn đang tồn tại những cách phân loại khác nhau đối với nhạc cụ này Vì vậy, bản chất nguồn phát âm của đao là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu để làm rõ hơn
Đao là một trong những nhạc cụ góp phần thể hiện bản sắc âm nhạc của người Khơ Mú Những nét độc đáo của đao đã thu hút sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu, nghệ sĩ biểu diễn trong nước cũng như nước ngoài Bước đầu, họ đã đưa nhạc cụ này vào những chương trình ca nhạc chuyên nghiệp, nhưng do chưa hiểu nhiều về đao, nên họ vẫn chưa khai thác và phát huy được hết tiềm năng của
nó
Mặt khác, nhạc cụ đao bắt đầu bị mai một từ khoảng nửa thế kỷ trở lại đây Đến nay, hiện tượng mai một vẫn tiếp tục diễn ra trong đời sống của người Khơ Mú Nếu không kịp thời bảo tồn, nhạc cụ độc đáo này sẽ bị biến mất hoàn toàn trong đời sống của người dân Khơ Mú; kèm theo đó là sự mai một của hàng loạt các loại hình văn
hóa, nghệ thuật khác gắn liền với nó Có thể nói rằng, nghiên cứu
đao là một đề tài cần thiết - thậm chí là cấp thiết, khi các nghệ nhân
am hiểu về nó đều ở độ tuổi gần đất, xa trời mà nhiều điều về đao chúng ta còn chưa được biết tới, vẫn đang là những ẩn số cần được giải đáp
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu chính của luận án là:
- Đi sâu nghiên cứu một số khía cạnh văn hóa học, âm nhạc học
Trang 4- Tìm hiểu thực trạng tình hình sử dụng đao trong đời sống của người Khơ Mú
- Đi sâu tìm hiểu một số khía cạnh âm thanh học để góp phần xác định nguồn phát âm và cách phân loại nhạc cụ đao
- Tìm hiểu những khả năng hoàn thiện và phát triển nhạc cụ đao
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là nhạc cụ đao của người Khơ Mú ở Việt Nam Ngoài ra, một số nhạc cụ có những điểm tương đồng về mặt cấu trúc, về nguồn phát âm, về nguồn gốc
phát sinh cũng sẽ được xem xét khi cần thiết
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về địa bàn nghiên cứu, chúng tôi chỉ giới hạn việc nghiên cứu
nhạc cụ đao của người Khơ Mú ở 8 bản trong 3 tỉnh thuộc vùng Tây Bắc Đó là:
- Bản Thàn, xã Chiềng Pằn, huyện ên Châu, tỉnh Sơn La,
- Bản Co Trai, xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, Sơn La,
- Bản Pú Tửu 13, 14 xã Thanh Xương, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên,
- Bản Ten, xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên,
- Bản Nậm Tộc 1 và 2, xã Nghĩa Sơn, huyện Văn Chấn, tỉnh
ên Bái,
- Bản Pa te, xã Túc Đán, huyện Trạm Tấu, tỉnh ên Bái
Về mặt thời gian, chúng tôi tìm hiểu các khía cạnh liên quan tới
đao trong khoảng thời gian từ năm 1940 (theo hồi cố của nghệ nhân) cho đến năm 2014
Về mặt nội dung, phạm vi nghiên cứu của luận án là xem xét đối
tượng từ nhiều góc độ khác nhau như văn hóa học, âm nhạc học và nhạc cụ học Tuy nhiên, với khuôn khổ của một luận án và mục tiêu
đề ra, chúng tôi chủ yếu tập trung tìm hiểu các khía cạnh về văn hóa Còn về âm nhạc học, chúng tôi chỉ nghiên cứu những khía cạnh liên quan tới chức năng âm nhạc, kỹ thuật diễn tấu và các hình thái âm nhạc nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề về văn hóa học của đao; về nhạc cụ học, chúng tôi chỉ giới hạn việc nghiên cứu ở mức
độ thực nghiệm qua việc chế tác nhạc cụ này của bản thân nhằm
Trang 5góp phần vào một vấn đề còn đang tranh luận liên quan tới việc phân loại họ của đao
4 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
4.1 Phương pháp luận
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi có dựa vào một số lý thuyết và phương pháp phân loại của các nhà nghiên cứu đi trước để làm cơ sở cho việc luận giải các vấn đề được trình bày trong luận
án Cụ thể là: cơ sở lý thuyết vật lý và âm nhạc của tác giả Glep Anfilov [40], phân loại nhạc cụ nhìn từ góc độ nhạc cụ học của 2
tác giả E Hornbostel và Sachs [41], phương pháp phân loại nhạc cụ theo góc độ văn hóa học và lý thuyết về các vấn đề liên quan tới các nhạc cụ có nguồn gốc từ công cụ lao động của tác giả Nguyễn Thụy Loan
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những vấn đề đặt ra trong luận án, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp chọn mẫu địa bàn nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận hệ thống và nghiên cứu liên ngành
- Phương pháp điền dã:
- Phương pháp thực nghiệm
Sau cùng, luận án sử dụng một số phương pháp như: tổng hợp,
phân tích, so sánh – đối chiếu, hệ thống hóa
5 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN
- Góp phần xác định nguồn phát âm và cách phân loại cho nhạc
cụ đao
- Làm rõ những giá trị văn hóa và những nét đặc sắc của đao
- Bổ sung những khía cạnh trước đây chưa được đề cập tới: các quan niệm, nghi tục liên quan tới đao, các đặc trưng riêng của từng vùng, những thay đổi trong việc sử dụng đao từ những năm 1960 trở lại đây
- Góp phần làm phong phú hơn cho những nội dung chưa được nghiên cứu sâu: nguồn gốc của đao, các chức năng của đao trong đời sống văn hóa tinh thần của người Khơ Mú
Trang 66 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Đao vừa là một bộ phận của văn hóa học, vừa là một bộ phận của âm nhạc học cũng như nhạc cụ học Việc tiếp cận đồng thời cả
ba góc độ này để làm nổi bật các khía cạnh văn hóa của đối tượng nghiên cứu là một hướng nghiên cứu ít được thực hiện
- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các ngành Văn hóa dân gian, Văn hóa hoc, Âm nhạc học và Dân tộc nhạc học
- Việc đúc kết những kinh nghiệm trong việc hoàn thiện đao sẽ góp phần tạo ra những cây đao có âm thanh hay, độ bền cao nhằm phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của người dân cũng như đời sống âm nhạc chuyên nghiệp đương đại
- Gợi mở về khả năng phát triển của đao cũng như gợi mở cho việc sáng tạo ra một nhạc cụ mới phái sinh từ đao
- Những nội dung trong công trình - nếu được truyền bá rộng rãi, sẽ góp phần nâng cao lòng tự hào và ý thức của người dân trong việc bảo tồn, phát huy nhạc cụ đao trong đời sống văn hóa tinh thần của mình
- Chương 3: Một số vấn đề về nhạc cụ học của đao
- Chương 4: Những giá trị văn hóa đặc sắc của đao
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI KHƠ MÚ Ở VIỆT NAM
VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU VẾ NHẠC CỤ ĐAO
1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI KHƠ MÚ Ở VIỆT NAM
1.1.1 Đôi nét về tộc người
Tên gọi tộc người: theo chuyên khảo của nhà nghiên cứu Chu
Thái Sơn về người Khơ Mú: “tộc danh Khơ Mú là tên gọi chung,
thống nhất trong cả nước đối với cộng đồng người này Về mặt ý thức tự giác tộc người, từ trước tới nay, người Khơ Mú vẫn tự gọi mình là Khmụ, Kmhmụ hay Kừmmụ”
Dân số và địa bàn cư trú: theo số liệu từ cuộc tổng điều tra dân
số toàn quốc năm 1999, cộng đồng Khơ Mú ở Việt Nam có 56542 người Địa bàn cư trú của người Khơ Mú ở nước ta rải trên một số tỉnh thuộc vùng Tây Bắc và Bắc Trung bộ như Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, ên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An
Đôi nét về thời điểm cư trú của người Khơ Mú ở Việt Nam và đặc điểm của môi trường cư trú: theo nguồn tư liệu do một số nghệ
nhân cung cấp, có thể tin rằng người Khơ Mú đã sinh sống ở Việt Nam ít nhất cũng từ khoảng trên dưới 200 năm Trước kia, khi còn
du canh du cư, người Khơ Mú thường sinh sống rải rác ở những vùng lưng chừng núi Mỗi làng bản Khơ Mú chỉ có khoảng 5 - 6 nóc nhà Các làng bản cách nhau khá xa - khoảng 3 đến 5km
1.1.2 Một số khía cạnh về văn hoá vật chất
Nhà ở: trong giai đoạn du canh du cư, nhà ở của người Khơ Mú
khá đơn giản Nguyên liệu làm nhà chủ yếu bằng tre nứa và mái nhà thường được lợp bằng cỏ gianh Nhà của họ thường có ba gian Trong ngôi nhà có ba cái bếp: một bếp dùng để nấu ăn thường ngày
và hai bếp thiêng
Hoạt động lao động sản xuất: ở giai đoạn du canh du cư, người
Khơ Mú sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt trên nương rẫy, săn bắn, hái lượm và chăn nuôi Cây lương thực chính của người Khơ
Mú là lúa nương Nam giới rất giỏi nghề đan lát mây, tre, nứa Họ dùng những sản phẩm đan lát này để trao đổi lấy hàng hóa của các tộc người khác
Mặc dù, hoạt động lao động sản xuất của người Khơ Mú khá đa dạng, nhưng trồng lúa vẫn là hoạt động có vai trò quan trọng nhất
Trang 8trong đời sống của họ Bởi vậy, phần lớn những lễ hội quan trọng
nhất của họ đều có liên quan tới “Mẹ lúa”, đặc biệt là việc làm lúa
nương
Những hoạt động lao động sản xuất theo lối cổ truyền là một trong những yếu tố liên quan tới không gian, môi trường diễn tấu của nhạc cụ đao Khi chuyển sang lối sống định canh định cư, những phương thức hoạt động, lao động sản xuất cũng bị thay đổi theo và nó cũng đã tác động không nhỏ đến việc sử dụng đao của người dân Vấn đề này, chúng tôi sẽ trình bày kỹ hơn ở mục 2.4
1.1.3 Văn hoá tinh thần
Ngôn ngữ: theo cuốn Đại gia đình các dân tộc Việt Nam,
“Tiếng Khơ Mú thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ me - ngữ hệ Nam
Á Người Khơ Mú không có chữ viết riêng”
Một số lễ trong năm: qua các tư liệu điền dã, chúng tôi thấy
người Khơ Mú có một số lễ hội liên quan tới nhạc cụ đao như sau:
lễ hội Teng mạ ngọ (Làm mẹ lúa), Rẹc hrệ (Khai nương rẫy), Grơ
mạ ngọ (Đón mẹ lúa), Muôn gang hâm-mêh (Mừng nhà mới) và lễ
Sên cung (Cúng bản)
Tang ma: theo quan niệm của người Khơ Mú: sau khi chết, hồn
của người đó vẫn tiếp tục tồn tại ở một thế giới riêng Thế giới đó
có sự khác biệt và trái ngược với thế giới của người sống
Tục tìm hiểu bạn tình: khoảng những năm 1970 trở về trước,
theo tục lệ của người Khơ Mú ở xã Nghĩa Sơn ( ên Bái), khi đến nhà bạn gái, các chàng trai phải chơi đao để báo hiệu và xin phép được lên nhà chơi
Nghệ thuật âm nhạc: một số thể loại dân ca phổ biến của người
Khơ Mú là: tơm lui con (hát ru), tơm tò dọ (hát giao duyên), tơm tọp dọ (hát đối đáp), eng io (hát đố) Người Khơ Mú có khoảng 15 loại nhạc cụ khác nhau Gắn liền với các nhạc cụ, người Khơ Mú còn sáng tạo ra một hệ thống bài bản âm nhạc phù hợp với đặc tính của các loại hình sinh hoạt trong cuộc sống
Nghệ thuật múa: người Khơ Mú có khá nhiều điệu múa khác
nhau như múa cá lượn, múa vòng tròn, trong đó có một điệu múa
rất đặc sắc - khác hẳn với những điệu múa của các tộc người khác -
đó là điệu múa lắc mông (tẹ k’rê việt guông)
Trang 91.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐAO Ở VIỆT NAM
1.2.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu về đao
Các nghiên cứu về nhạc cụ đao xuất hiện khá muộn, mới chỉ được thực hiện vào hai thập kỷ gần đây Mặc dù dành nhiều công sức tìm kiếm nhưng chúng tôi cũng chỉ sưu tầm được mười tư liệu liên quan mật thiết tới nhạc cụ đao với tổng độ dài chỉ khoảng 15 trang, trong đó bao gồm cả những bài viết về đao và những bài viết
về những nhạc cụ có cấu trúc tương đồng với đao ở một số tộc khác Việc nghiên cứu về đao có thể phân chia thành 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1994 – 1999:
Về mặt nội dung, các tư liệu viết về đao ở giai đoạn này thường chỉ đề cập tới một số khía cạnh như: mô tả nhạc cụ, một vài kỹ thuật, khả năng diễn tấu và một vài ý kiến về việc phân loại họ cho nhạc cụ đao
- Về góc độ văn hóa: các tư liệu đã cho biết được đôi nét về một
số khía cạnh của công cụ đao và một số khía cạnh của nhạc cụ đao
- Về góc độ âm nhạc: các tác giả đã đề cập tới một số khía cạnh
sau: cấu tạo của nhạc cụ đao, nguyên liệu để làm đao, kích thước của nhạc cụ đao, kỹ thuật diễn tấu, khả năng diễn tấu, chức năng âm nhạc, nguyên lý phát âm và cách phân loại
1.2.3 Những vấn đề còn tồn đọng
Mặc dù, các tư liệu đã đề cập tới khá nhiều khía cạnh liên quan đến nhạc cụ đao, nhưng phần lớn các tác giả mới chỉ giới thiệu một cách sơ lược về các khía cạnh đó Vì Vậy, nhiều vấn đề chưa được nghiên cứu triệt để Chẳng hạn như: cấu trúc, kinh nghiệm chọn nguyên liệu, chế tác, bảo quản nhạc cụ, kỹ thuật diễn tấu, phương thức diễn tấu, hình thái âm nhạc, chức năng thực hành xã hội
Ngoài ra, luận án cũng sẽ góp phần làm sáng rõ một số khía cạnh còn chưa thống nhất trong những tư liệu đã công bố của các tác giả đi trước, chẳng hạn:
Trang 10- Thực chất đao thuộc họ nhạc cụ nào?
- Đao có bao nhiêu lỗ dùng để tạo cao độ?
- Việc khẳng định đao chỉ là một nhạc cụ “tạo nhịp điệu”, “chủ yếu sử dụng để đệm cho múa”, “hơn là quan tâm đến âm thanh của nó” đã chuẩn xác hay chưa ?
- Có thực đao là nhạc cụ chỉ “dành riêng cho nữ giới” hay không?
Tiểu kết chương 1
Khoảng những năm 1960 trở về trước, người Khơ Mú thường sống ở trên những vùng rừng núi theo kiểu du canh du cư Họ sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt trên nương rẫy, săn bắn và hái lượm Đời sống vật chất của người Khơ Mú vô cùng khó khăn: nhiều tháng trong năm không có đủ đồ ăn, đồ mặc, nhà ở thì đơn sơ, tạm bợ Mặc dù trong hoàn cảnh như vậy, nhưng người dân vẫn luôn quan tâm, chăm lo nuôi dưỡng cho đời sống văn hóa tinh thần của họ Chỉ riêng với lĩnh vực nghệ thuật diễn xướng đã có thể thấy
rõ điều này Đó là sự phong phú, đa dạng của các loại hình dân ca, dân nhạc, múa và nhạc cụ
Về tình hình nghiên cứu, phần lớn nội dung trong các tư liệu mới chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu một cách sơ lược về nhạc cụ đao, nhưng đó cũng là những thông tin rất hữu ích, giúp cho những người nghiên cứu sau biết được khả năng của đao để khai thác, tìm hiểu nó trong quá trình nghiên cứu thực địa
Trang 11Chương 2 NHẠC CỤ ĐAO – TỪ GÓC NHÌN TỔNG THỂ
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NHẠC CỤ ĐAO
2.1.1 Các tên gọi khác nhau có liên quan tới nhạc cụ đao
Đao hoặc đao đao là tên gọi của người Khơ Mú để chỉ một loại
nhạc cụ gõ được làm bằng nguyên liệu thuộc họ tre nứa Trong những nơi chúng tôi điền dã, từ đao được sử dụng phổ biến hơn từ đao đao Vì Vậy, chúng tôi gọi là đao
2.1.2 Nguồn gốc
Đao (hoặc đao đao) là nhạc cụ có nguồn gốc từ công cụ dùng để chải gianh và công cụ dùng để xua đuổi chim thú
2.1.3 Các môi trường diễn tấu
Môi trường diễn tấu của đao khá đa dạng.: trong nhà ở, ngoài sàn phơi, chân cầu thang, trong lán coi nương, trên nương rẫy hoặc trên đường đi
2.1.4 Nghi tục liên quan tới nhạc cụ đao
Đao là nhạc cụ được sử dụng khá rộng rãi trong đời sống thường ngày Tuy nhiên, cũng có trường hợp, đao không được phép
sử dụng như gần với vị trí của hai bếp thiêng
2.2 CÁC CHỨC NĂNG CỦA NHẠC CỤ ĐAO
2.2.1 Chức năng phục vụ nhu cầu thực hành và sáng tạo âm
nhạc
Chức năng phục vụ nhu cầu thực hành và sáng tạo âm nhạc được sinh ra để đáp ứng những nhu cầu về mặt thính giác, tâm hồn, tình cảm, thẩm mỹ của con người Ở chức năng này, đao được thể hiện qua một số hình thức sau:
Đệm cho múa: phương thức đệm cho múa của nhạc cụ đao khá
đa dạng: dùng nhiều đao đồng tấu để đệm cho múa, dùng một đao chơi giai điệu để đệm cho múa, dùng đao hòa tấu với các nhạc cụ khác để đệm cho múa
Đệm cho hát: so với các chức năng khác (đệm cho múa, độc
tấu, hòa tấu), chức năng đệm cho hát ít phổ biến hơn cả Trong số những người chơi đao, chỉ có rất ít người thực hiện được chức năng này
Trang 12Độc tấu: độc tấu là phương thức diễn tấu được sử dụng phổ
biến nhất của nhạc cụ đao Chức năng này thường được sử dụng trong những sinh hoạt âm nhạc đơn lẻ, tâm tình, tự giải trí
Hòa tấu: hòa tấu đao có hai dạng sau: hòa tấu 2 đao (song tấu)
và hòa tấu 3 đao (tam tấu) Chức năng này thường được sử dụng trong những dịp vui chơi giải trí khi có nhu cầu thực hành và thưởng thức âm nhạc của một nhóm người
2.2.2 Chức năng phục vụ những nhu cầu đa dạng khác của
đời sống văn hóa tinh thần
Bên cạnh chức năng phục vụ nhu cầu thực hành và sáng tạo âm nhạc, đao còn mang thêm những chức năng thực hành xã hội nhằm đáp ứng những nhu cầu khác nhau của đời sống văn hóa tinh thần như: giải trí, tạo sự cộng cảm trong những dịp mừng vui của gia đình và cộng đồng, báo thức con cháu dậy sớm làm việc, hỗ trợ cho công việc ở nhà, giúp cho quên mệt nhọc lúc đi đường, ru ngủ, giao duyên Ngoài ra, đao còn được sử dụng để phục vụ cho một số nghi
lễ tín ngưỡng - cụ thể là phục vụ trong lễ tang của nghệ nhân giỏi đao, trong lễ cúng giải hạn nghi do ma đao làm, trong lễ cúng bản,
để vừa lòng linh hồn người chết, làm an lòng người sống
Nhìn tồng thể, nhạc cụ đao ở vùng Sơn La đang tồn tại ở trình
độ phát triển thấp hơn so với hai vùng còn lại về kỹ thuật chế tác cũng như một số khía cạnh âm nhạc Ngoài ra, chức năng phục vụ những nhu cầu đời sống của đao ở Sơn La cũng có phần nghèo nàn hơn so với hai vùng Điện Biên và ên Bái
2.3.2 Vùng đao Yên Bái
Nét riêng ở vùng này là chỉ sử dụng loại đao làm bằng nguyên liệu khô, dùng một đao không kèm nhạc cụ nào khác để đi giai điệu đệm cho múa và là vùng duy nhất mà đao được sử dụng vào chức năng giao duyên- chính vì vậy, tỷ lệ nam sử dụng đao ở đây nhiều hơn ở các vùng khác
Trang 132.3.3 Vùng đao Điện Biên
Có sự phát triển cao nhất về nhiều khía cạnh là vùng đao Điện Biên Người Khơ Mú ở đây đã đúc kết được một hệ thống các tiêu chí trong việc chọn nguyên liệu và phát triển đao đến hình thái âm nhạc phức điệu Không chỉ có sự định hình về mối quan hệ quãng giữa các cao độ trong những cây đao có ba, bốn cao độ như ở ên Bái mà ở Điện Biên còn có sự định hình về mối quan hệ quãng giữa
ba cây đao được dùng để hòa tấu với nhau Ngoài ra, khác với hai vùng đao trên, đây là vùng hoàn toàn chỉ sử dụng nguyên liệu tươi
để làm đao
2.4 NHỮNG THA ĐỔI TRONG VIỆC SỬ DỤNG ĐAO TỪ NHỮNG NĂM 1960 – 1970 TRỞ LẠI ĐÂ
2.4.1 Những khía cạnh thay đổi
Một số nghệ nhân cao tuổi cho biết: khoảng từ năm 1960, việc
sử dụng đao bắt đầu biểu hiện suy giảm và càng ngày càng mai một Qua thực tế điền dã, chúng tôi thấy có năm khía cạnh thay đổi cơ bản trong việc sử dụng đao của người Khơ Mú Đó là: sự thay đổi
về thị hiếu thẩm mỹ, năng lực chơi đao không còn được coi là một tiêu chí để đánh giá khả năng của thanh niên, sự suy giảm về tần suất sử dụng đao trong đời sống, sự mất đi của một số chức năng thực hành xã hội và sự thay đổi từ loại hình nghệ thuật mang tính thực hành xã hội sang loại hình nghệ thuật mang tính chất trình diễn theo lối mới Đó là loại hình nghệ thuật âm nhạc trình diễn mang những đặc điểm khác hẳn với xưa về không gian trình diễn, thời gian trình diễn, hình thức trình diễn cũng như về người trình diễn, đối tượng thưởng thức và tư duy diễn tấu
2.4.2 Nguyên nhân thay đổi
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới những thay đổi trong việc sử dụng đao Ở đây, chúng tôi chỉ nêu lên một số nguyên nhân chủ yếu Đó là: do sự thay đổi từ lối sống du canh du cư sang định canh định cư, sự nâng cao của đời sống vật chất, văn hóa tinh thần và đăc biệt là sự phổ biến của các phương tiện thông tin đại chúng
Tiểu kết chương 2
Khởi nguồn, đao là nhạc cụ được chế tác từ chính những công
cụ dùng để chải gianh và được sử dụng ngay trong quá trình thực