1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biến đổi khuôn mẫu ứng xử trong gia đình người việt (nghiên cứu trường hợp xã an cầu, huyện quỳnh phụ, tỉnh thái bình)

180 369 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khuôn mẫu ứng xử trong gia đình được thể hiện thông qua những mối quan hệ giữa các thành viên và các thế hệ của gia đình như quan hệ giữa vợ và chồng, giữa ông bà/cha mẹ và con cháu....

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THANH HUYỀN

BIẾN ĐỔI KHUÔN MẪU ỨNG XỬ TRONG GIA ĐÌNH NGƯỜI VIỆT

(Nghiên cứu trường hợp tại xã An Cầu huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình)

Chuyên ngành: Xã hội học

Mã số: 62310301

LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Ngọc Văn

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng

dẫn của PGS.TS Lê Ngọc Văn Các số liệu và kết quả trình bày trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

NGUYỄN THANH HUYỀN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án tiến sỹ này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Khoa

Xã hội học - Học viện khoa học xã hội đã giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành chương trình học nghiên cứu sinh Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc, chân thành tới PGS.TS Lê Ngọc Văn, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, truyền thụ kiến thức và chỉ bảo tận tình từ khi hình thành ý tưởng đề tài nghiên cứu đến khi hoàn thành luận án tiến sỹ

Tôi xin cảm ơn tập thể cán bộ, hội phụ nữ và nhân dân xã An Cầu (Quỳnh Phụ

- Thái Bình) đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập thông tin tại địa phương

Tôi cũng xin cảm ơn Trường đại học Lao động – Xã hội và khoa Công tác xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận

án

Tôi xin cảm ơn bạn bè và các đồng nghiệp, những người đã chia sẻ, động viên, giúp tôi có thêm nhiều kinh nghiệm, kiến thức khoa học Lòng biết ơn sâu sắc của tôi dành cho gia đình và những người thân yêu Sự động viên, khích lệ của họ có giá trị rất lớn để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này

Hà Nội, tháng 7 năm 2016

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8

1.1 Đôi nét về nguồn tài liệu 8

1.2 Các nghiên cứu có liên quan đến khuôn mẫu ứng xử giữa vợ và chồng 9

1.2.1 Khuôn mẫu ứng xử trong đời sống tâm lý tình cảm vợ chồng 9

1.2.2 Khuôn mẫu ứng xử vợ chồng trong phân công lao động 15

1.2.3 Khuôn mẫu ứng xử quyền lực vợ chồng trong gia đình 18

1.3 Các nghiên cứu có liên quan đến khuôn mẫu ứng xử giữa các thế hệ trong gia đình 24

1.3.1 Khuôn mẫu ứng xử giữa cha mẹ và con cái 24

1.3.2 Khuôn mẫu ứng xử giữa con cháu với người cao tuổi 27

1.4 Một số nhận xét và định hướng nghiên cứu của đề tài 28

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Cơ sở lý luận 31

2.1.1 Một số khái niệm làm việc 31

2.1.2 Thao tác hóa Khái niệm “Khuôn mẫu ứng xử trong gia đình” 43

2.2 Các cách tiếp cận lý thuyết của đề tài 45

2.2.1 Lý thuyết cấu trúc – chức năng 45

2.2.2 Lý thuyết biến đổi và tiếp biến văn hóa 49

2.2.3 Lý thuyết hiện đại hóa (Modernization theory) 51

2.2.4 Quan điểm chính sách của Đảng và nhà nước Việt Nam về gia đình, Phụ nữ, người cao tuổi và trẻ em 54

2.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 56

2.3.1.Phương pháp luận 56

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 56

2.4 Sơ lược vài nét về địa bàn nghiên cứu 59

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG KHUÔN MẪU ỨNG XỬ TRONG GIA ĐÌNH NGƯỜI VIỆT TẠI XÃ AN CẦU HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH 62 3.1 Khuôn mẫu ứng xử giữa vợ - chồng 62

Trang 5

3.1.1 Trong đời sống tâm lý tình cảm 62

3.1.2 Trong phân công lao động 71

3.1.3 Trong quan hệ quyền lực 74

3.2 Khuôn mẫu ứng xử giữa các thế hệ trong gia đình 78

3.2.1 Khuôn mẫu ứng xử giữa cha mẹ và con cái 79

3.2.2 Khuôn mẫu ứng xử giữa con cháu với ông bà 84

Tiểu kết chương 3 88

CHƯƠNG 4 BIẾN ĐỔI KHUÔN MẪU ỨNG XỬ TRONG GIA ĐÌNH NGƯỜI VIỆT TẠI XÃ AN CẦU HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH 90

4.1 Biến đổi khuôn mẫu ứng xử giữa vợ - chồng trong gia đình 91

4.1.1 Biến đổi khuôn mẫu ứng xử giữa vợ - chồng trong đời sống tâm lý tình cảm vợ chồng 91

4.1.2 Biến đổi khuôn mẫu ứng xử trong tình yêu vợ chồng 104

4.1.3.Biến đổi khuôn mẫu ứng xử về sự chung thủy và đời sống tình dục vợ chồng 107

4.1.4 Biến đổi khuôn mẫu ứng xử vợ chồng trong phân công lao động 113

4.1.5 Biến đổi khuôn mẫu ứng xử quyền lực vợ chồng trong gia đình 117

4.2 Biến đổi khuôn mẫu ứng xử giữa các thế hệ trong gia đình 125

4.2.1 Biến đổi khuôn mẫu ứng xử giữa cha mẹ và con cái 125

4.2.2 Biến đổi khuôn mẫu ứng xử giữa ông bà với con cháu 134

Tiểu kết chương 4 144

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 147

1 Kết luận 147

2 Khuyến nghị 149

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 153

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 153

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 154

PHỤ LỤC 163

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Đặc trưng cơ cấu mẫu 58

Bảng 4.1 Nguyên tắc giao tiếp vợ luôn nhường nhịn chồng theo các nhóm xã hội 92

Bảng 4.2 Nguyên tắc giao tiếp chồng luôn nhường nhịn vợ 93

Bảng 4.3 Những thực hành về khuôn mẫu ứng xử trong giao tiếp giữa vợ và chồng 98

Bảng 4.4 Lý do kết hôn 105

Bảng 4.5 Tình yêu vợ chồng sau kết hôn 106

Bảng 4.6 Khuôn mẫu ứng xử trong đời sống tình dục vợ chồng 110

Bảng 4.7 Khuôn mẫu ứng xử vợ chồng trong phân công lao động 114

Bảng 4.8 Quyền quyết định của vợ chồng đối với những việc quan trọng trong gia đình 119

Bảng 4.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyền lực vợ chồng trong gia đình 123

Bảng 4.10 Cách thức giáo dục con cái trong gia đình 128

Bảng 4.11 Kiểu ứng xử với các vấn đề của con cái trong gia đình 130

Bảng 4.12 Quan điểm về khuôn mẫu ứng xử giữa con cháu với người cao tuổi phân chia theo các nhóm xã hội 135

Bảng 4.13 Khuôn mẫu ứng xử giữa các thế hệ trong gia đình 140

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu 3.1 Nguyên tắc giao tiếp hàng ngày giữa vợ và chồng 63

Biểu 3.2 Những thực hành về khuôn mẫu ứng xử trong đời sống giữa vợ và chồng 66

Biểu 3.3 Lý do kết hôn 67

Biểu 3.4 Tình yêu vợ chồng sau kết hôn 69

Biểu 3.5 Khuôn mẫu ứng xử trong đời sống tình dục vợ chồng 70

Biểu 3.6 Khuôn mẫu ứng xử vợ chồng trong phân công lao động 72

Biểu 3.7 Quyền quyết định của vợ chồng trong gia đình 75

Biểu 3.8 Cách thức giáo dục con cái trong gia đình 79

Biểu 3.9 Kiểu ứng xử với các vấn đề của con cái trong gia đình 82

Biểu 3.10 Quan điểm về khuôn mẫu ứng xử giữa con cháu với ông bà trong gia đình 84

Biểu 3.11 Khuôn mẫu ứng xử giữa các thế hệ trong gia đình 87

Biểu 4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyền lực vợ chồng trong gia đình 122

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Gia đình là thiết chế có lịch sử lâu đời nhất của xã hội loài người và khuôn mẫu ứng xử trong gia đình cũng cổ xưa như gia đình vậy Gia đình là một tập hợp người có những đặc trưng về giới tính, lứa tuổi, tâm sinh lý, vị trí, vai trò, quyền lực khác nhau, tương tác với nhau trong một không gian văn hóa đặc thù - cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng chia sẻ những giá trị vật chất, tinh thần, tâm linh… trên cơ sở của các mối quan hệ hôn nhân và huyết thống - các thành viên của gia đình không ứng xử với nhau một cách ngẫu nhiên, tùy tiện mà tuân theo những quy tắc chung Những quy tắc đó được lặp đi lặp lại trong suy nghĩ và hành động của nhiều người, trải qua nhiều thế hệ, lâu dần sẽ trở thành các khuôn mẫu ứng xử hay văn hóa ứng xử

Khuôn mẫu ứng xử trong gia đình được thể hiện thông qua những mối quan

hệ giữa các thành viên và các thế hệ của gia đình như quan hệ giữa vợ và chồng, giữa ông bà/cha mẹ và con cháu Mỗi mối quan hệ này lại chứa đựng trong nó hàng loạt các nghi thức, cách thức giao tiếp, bao gồm cả những nghi thức thông thường, xã giao, tự nguyện và nghi thức có tính bắt buộc Các cách ứng xử này tạo thành hệ thống các khuôn mẫu ứng xử mà các thành viên gia đình phải tuân thủ tùy thuộc vào vị trí, vai trò, tình cảm của các cá nhân trong các mối quan hệ Khuôn mẫu ứng xử gia đình được hình thành trong những điều kiện sống nhất định và được tiếp nối từ thế hệ này qua thế hệ khác, nhưng nó không nhất thành bất biến mà thay đổi khi điều kiện sống thay đổi

Ở Việt Nam, khuôn mẫu/văn hóa ứng xử gia đình đã hình thành, tồn tại và biến đổi trải qua nhiều thời đại lịch sử khác nhau Từ hình thái gia đình mẫu quyền

đề cao quyền lực của người phụ nữ trước thời đại Hùng Vương, đến chế độ phụ hệ với sự thống trị của người đàn ông trong gia đình dưới các triều đại phong kiến ảnh hưởng văn hóa Nho giáo Tiếp theo đó là gia đình một vợ một chồng ảnh hưởng văn hóa phương Tây, và ngày nay là ảnh hưởng của văn hóa toàn cầu hóa Sự tiếp xúc với các nền văn hóa khác nhau dẫn đến sự học hỏi, vay mượn nhiều nét đặc trưng của các nền văn hóa đó

Trang 10

Trong phạm vi gia đình, sự giao lưu tiếp xúc văn hóa một mặt giúp cho gia đình loại bỏ được những khuôn mẫu văn hóa lạc hậu, tiếp thu và sáng tạo ra những khuôn mẫu văn hóa mới; nhưng mặt khác, có thể dẫn đến sự lai căng hay lệch lạc về văn hóa Đây không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề thực tiễn đặt

ra trong đời sống gia đình khi mà văn hóa ứng xử trong xã hội nói chung, trong gia đình nói riêng đang vận động và biến đổi dưới tác động của công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH), kinh tế thị trường (KTTT) và hội nhập quốc tế (HNQT)

Rõ ràng đây là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu từ góc nhìn xã hội học, trước hết là xã hội học gia đình Tuy nhiên, trên bình diện khoa học, việc nghiên cứu về khuôn mẫu/văn hóa ứng xử gia đình lại chưa theo kịp nhu cầu nhận thức lý luận và sự thay đổi đang diễn ra trong cuộc sống Phần lớn các nghiên cứu mà chúng ta biết được mới chỉ dừng lại ở việc mô tả chung chung, chưa đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về các hợp phần của khuôn mẫu ứng xử gia đình, cũng như những biến đổi của khuôn mẫu ứng xử trong gia đình, chỉ ra sự vận hành của văn hóa ứng xử trong gia đình hiện nay có ảnh hưởng gì đến mục tiêu phát triển gia đình và xã hội bền vững mà Đảng và Nhà nước đang đặt ra

Làm rõ những vấn đề này cũng đồng nghĩa với việc cung cấp một bức tranh khái quát về những thay đổi đang diễn ra trong văn hóa ứng xử gia đình và những luận cứ khoa học cho việc định hướng xây dựng khuôn mẫu văn hóa gia đình Việt Nam thích ứng với thời kỳ CNH, HĐH, HNQT hiện nay và thời gian sắp tới

Từ những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài: “Biến đổi khuôn mẫu ứng xử trong

gia đình người Việt (Nghiên cứu trường hợp xã An Cầu, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình) cho luận án nghiên cứu sinh của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nhận diện khuôn mẫu ứng xử và hướng biến đổi khuôn mẫu ứng xử trong gia đình người Việt tại xã An Cầu (Quỳnh Phụ - Thái Bình) hiện nay; qua đó, cung cấp những luận cứ khoa học cho việc định hướng xây dựng khuôn mẫu văn hóa ứng xử gia đình thích ứng với thời kỳ CNH, HĐH, HNQT

Trang 11

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đã nêu, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

- Tổng quan vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài, bao gồm việc định nghĩa và thao tác hóa khái niệm, các cách tiếp cận lý thuyết nghiên cứu đề tài, xác định rõ phương pháp nghiên cứu đề tài

- Trình bày một số nét khái quát về khuôn mẫu/văn hóa ứng xử của gia đình Việt Nam tuyền thống

- Mô tả và phân tích các hợp phần cơ bản của khuôn mẫu ứng xử và xu hướng biến đổi của khuôn mẫu ứng xử trong gia đình người Việt hiện nay qua kết quả khảo sát

- Đề xuất một số khuyến nghị xây dựng khuôn mẫu ứng xử trong gia đình người Việt trong giai đoạn hiện nay

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Khuôn mẫu ứng xử trong gia đình của người Việt tại xã An Cầu huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình Cụ thể, đó là khuôn mẫu ứng xử giữa vợ và chồng và khuôn mẫu ứng xử giữa các thế hệ trong gia đình, bao gồm khuôn mẫu ứng xử giữa cha

mẹ với con cái và khuôn mẫu ứng xử giữa con cháu với người cao tuổi

3.2 Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu của luận án này là các cá nhân đại diện cho các hộ gia đình

Cụ thể là phụ nữ và nam giới đang sống trong các hộ gia đình thuộc các nhóm tuổi, nghề

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Do hạn chế về thời gian và điều kiện nghiên cứu, trong khuôn khổ luận án chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:

- Phạm vi về không gian: Chúng tôi lựa chọn nghiên cứu trường hợp những

gia đình tại xã An Cầu, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (Do chỉ là nghiên cứu trường hợp nên chúng tôi không có mục tiêu khái quát hóa cho toàn bộ gia đình người Việt)

1 Các thông tin chi tiết về khách thể nghiên cứu được trình bày trong phần chọn mẫu nghiên cứu

Trang 12

- Phạm vi về thời gian: Luận án chủ yếu cứu vấn đề ứng xử trong gia đình

người Việt tại xã An Cầu (Quỳnh Phụ - Thái Bình) Tuy nhiên trong quá trình khảo sát chúng tôi chú ý tìm hiểu những biến đổi theo thời gian, có sự đối chiếu so sánh

để thấy được quá trình biến đổi về ứng xử trong gia đình người Việt ở An Cầu đang diễn ra như thế nào

- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở việc mô

tả thực trạng và xu hướng biến đổi khuôn mẫu ứng xử của gia đình tại xã An Cầu huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình Cụ thể, đề tài tiến hành nghiên cứu hai hợp phần

cơ bản của khuôn mẫu ứng xử trong gia đình:

Một là: Nghiên cứu khuôn mẫu ứng xử giữa vợ và chồng

Hai là: Nghiên cứu khuôn mẫu ứng xử giữa các thế hệ trong gia đình

4 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích

4.1 Câu hỏi nghiên

Khuôn mẫu ứng xử trong gia đình truyền thống tại xã An Cầu như thế nào? Khuôn mẫu ứng xử trong gia đình tại xã An Cầu ( Quỳnh Phụ - Thái Bình) hiện nay đã có những biến đổi như thế nào?

Có sự khác biệt nào giữa các nhóm xã hội về những biến đổi trong khuôn mẫu ứng xử trong gia đình tại xã An Cầu ( Quỳnh Phụ - Thái Bình)?

4.2 Giả thuyết nghiên cứu

Có sự khác biệt giữa khuôn mẫu ứng xử của gia đình truyền thống so với gia đình hiện nay tại xã An Cầu huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình

Khuôn mẫu ứng xử gia đình người dân xã An Cầu có nhiều biến đổi so với gia đình truyền thống

Trang 13

- Thực trạng khuôn mẫu ứng

xử gia đình tại xã An Cầu

Biến đổi khuôn mẫu ứng xử gia đình tại xã An Cầu so với gia đình truyền thống

-Những tác động xã hội đến khuôn mẫu ứng xử vợ chồng;

- Những tác động xã hội đến khuôn mẫu ứng xử giữa các thế hệ trong gia đình;

Trang 14

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án cung cấp một sự hiểu biết tương đối có hệ thống về các khuôn mẫu ứng xử và xu hướng biến đổi khuôn mẫu ứng xử trong gia đình người Việt (trường hợp xã An Cầu) dưới tác động của biến đổi kinh tế - xã hội

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1.Ý nghĩa lý luận

Thứ nhất, luận án vận dụng các nguyên lý cơ bản của lý thuyết cấu trúc chức

năng, lý thuyết hiện đại hóa, lý thuyết biến đổi xã hội và tiếp biến văn hóa trong bối cảnh xã hội và gia đình đang thay đổi nhanh chóng Từ đó, kiểm nghiệm tính đúng đắn của các lý thuyết này trong nghiên cứu biến đổi khuôn mẫu ứng xử trong gia đình tại địa bàn khảo sát

Thứ hai, luận án vận dụng và góp phần phát triển thêm một số khái niệm

khuôn mẫu ứng xử (ứng xử, khuôn mẫu ứng xử, khuôn mẫu ứng xử trong gia đình ) trong điều kiện gia đình Việt Nam đang biến đổi mạnh mẽ dưới tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra

Thứ ba, việc thực hiện luận án còn có ý nghĩa góp phần bổ sung về nhận thức đối

với các vấn đề xã hội học về văn hóa gia đình, đặc biệt là biến đổi khuôn mẫu ứng xử trong gia đình, góp phần bổ sung nghiên cứu xã hội học về gia đình và xu hướng biến đổi khuôn mẫu ứng xử trong gia đình

Thông qua các bằng chứng thực nghiệm, luận án góp phần kiểm nghiệm về mức độ đúng đắn, xác thực của các lý thuyết xã hội học được vận dụng trong bối cảnh cụ thể của thực tiễn Việt Nam Đó là lý thuyết biến đổi và tiếp biến văn hóa và

lý thuyết hiện đại hóa

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thứ nhất, luận án cung cấp những bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm cho

việc xây dựng các giải pháp nhằm xây dựng những chuẩn mực văn hóa mang ý nghĩa điều chỉnh các hành vi xã hội, hướng hành vi xã hội đến sự biểu hiện văn hóa, giúp con người nhận thức được sắc thái văn hóa cá nhân và cộng đồng thông qua các ứng xử xã hội trong giai đoạn hiện nay

Trang 15

Thứ hai, kết quả nghiên cứu của luận án tạo cơ sở cho việc định hướng hành vi

cho các cá nhân trong gia đình và ngoài xã hội, cho việc xây dựng văn hóa ứng xử trong gia đình

Thứ ba, luận án nêu ra một số khuyến nghị cụ thể nhằm đề xuất một số giải

pháp nêu trong luận án vào thực tiễn, từ đó góp phần duy trì cách thức ứng xử có văn hóa tạo nên các chuẩn mực, nền nếp tính kỷ cương trong gia đình để các thành viên trong gia đình cùng thực hiện ở địa bàn khảo sát và ở những nơi có hoàn cảnh tương tự

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, từ viết tắt, danh mục các bảng biểu, danh mục các công trình công bố kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án của tác giả Nội dung luận án gồm có 04 chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 3:Thực trạng khuôn mẫu ứng xử trong gia đình người Việt tại xã An Cầu

Chương 4: Biến đổi khuôn mẫu ứng xử trong gia đình người Việt tại xã An Cầu

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Tổng quan này là phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan đến

đề tài “Biến đổi khuôn mẫu ứng xử trong gia đình người Việt” đã được công bố ở

trong và ngoài nước, chỉ ra những đóng góp của các tác giả đi trước mà luận án cần tiếp thu kế thừa, cũng như những hạn chế và khoảng trống mà các nghiên cứu của người đi trước còn để lại Từ đó, xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu và hướng đi của đề tài

1.1 Đôi nét về nguồn tài liệu

Tài liệu liên quan đến đề tài khá phong phú, bao gồm các báo cáo khoa học, sách, bài viết, luận văn, luận án của các tác giả trong và ngoài nước Vấn đề mà đề tài luận án quan tâm được các tác giả đi trước bàn luận dưới nhiều góc độ khác nhau: từ khái niệm đến các nội dung và phương pháp nghiên cứu Chủ đề này cũng thu hút được các nhà khoa học xã hội từ nhiều chuyên ngành khác nhau nghiên cứu như: xã hội học, tâm lý học, nhân học, sử học, luật học, văn hóa học… Tuy nhiên phần lớn các nhà nghiên cứu về biến đổi gia đình chứ không bàn về khuôn mẫu ứng

xử và biến đổi khuôn mẫu ứng xử gia đình như Lê Ngọc Văn (2012), Lê Thi (2002), Nguyễn Hữu Minh - Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Thị Oanh (1999), Vũ Tuấn Huy (2003)… Một số tài liệu tâm lý học, văn hóa học bàn về ứng xử trong gia đình theo những chuẩn mực được mong đợi như Lê Thị Thanh Hương (2009), Lê Như Hoa (2001), Nguyễn Đắc Hưng (2010), Phan Ngọc (2010), Đào Duy Anh (2013), Hoàng Bích Nga (2005), Phạm Việt Long (2010) Các nhà nhân học mô tả các mô hình quan hệ gia đình, các nhà sử học và luật học đề cập đến sự biến đổi mô hình quan

hệ ứng xử gia đình trong các giai đoạn lịch sử khác nhau như Insun Yu (1994), Toan Ánh (2012), Dixon, Ruth (1971), Gooode, William (1982)

Các nghiên cứu đã có rất ít khi đi sâu phân tích và đặc biệt là rất ít khi định

nghĩa và gọi tên các khuôn mẫu ứng xử cụ thể trong các mối quan hệ gia đình là gì

Vì vậy, trong tổng quan nghiên cứu này, chúng tôi sẽ khái quát thành các khuôn mẫu ứng xử và đặt tên các khuôn mẫu ứng xử trong gia đình người Việt và những thay đổi của các khuôn mẫu này theo thời gian

Trang 17

Dựa vào nguồn tài liệu thu thập được, trong phần tổng quan dưới đây, tôi sẽ đề cập đến những thảo luận của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến khuôn mẫu ứng xử trong gia đình trên hai nội dung chính: 1/các nghiên cứu có liên quan đến khuôn mẫu ứng xử giữa vợ và chồng; 2/ các nghiên cứu có liên quan đến khuôn

mẫu ứng xử giữa các thế hệ trong gia đình

1.2 Các nghiên cứu có liên quan đến khuôn mẫu ứng xử giữa vợ và chồng

Ứng xử giữa vợ và chồng là một bộ phận hợp thành của khuôn mẫu ứng xử

trong gia đình Nó được biểu hiện thông qua các mối quan hệ trong đời sống tâm lý tình cảm, trong phân công lao động và quyền lực giữa vợ chồng trong gia đình Trong các nghiên cứu về biến đổi gia đình, khuôn mẫu ứng xử vợ chồng thường được mô tả theo chiều hướng có sự biến đổi từ các khuôn mẫu mang tính chất bất bình đẳng trong xã hội nông nghiệp truyền thống sang các khuôn mẫu bình đẳng hơn trong xã hội công nghiệp và hiện đại

1.2.1 Khuôn mẫu ứng xử trong đời sống tâm lý tình cảm vợ chồng

Theo David H Olson và John DeFrain (2000), có mười yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng hay không hài lòng của cặp vợ chồng về mối quan hệ của họ trong hôn nhân

Thứ nhất, sự tương thích giữa hai người về tính cách Người ta càng chấp nhận

và ưa thích các đặc trưng về tính cách hay thói quen của nhau thì họ càng thấy hài lòng với mối quan hệ của họ Các nhà nghiên cứu cho rằng, các cặp đôi nên hiểu rằng hầu hết các tính cách của con người sẽ không thay đổi hoặc biến mất sau khi người đó kết hôn

Thứ hai, có kỹ năng giao tiếp tốt sẽ thúc đẩy xây dựng mối quan hệ lâu bền

giữa hai người

Thứ ba, kỹ năng giải quyết xung đột là yếu tố quan trọng và các cặp vợ chồng

nên cùng nhau giải quyết các vấn đề hơn là né tránh

Thứ tư, kỹ năng quản lý tài chính Tài chính là vấn đề mấu chốt trong bất kỳ

mối quan hệ nào và mối quan hệ giữa người vợ và người chồng càng được củng cố nếu cặp vợ chồng đó thống nhất về việc sử dụng thu nhập và chi tiêu Mọi người có thể có quan niệm rất khác nhau về việc chi tiêu và đó là nguyên nhân của nhiều cuộc xung đột trong gia đình

Trang 18

Thứ năm, cùng tham gia các hoạt động giải trí Các cặp vợ chồng nên tìm ra

các thức nào đó thoả mãn đối với cả hai trong việc cùng dành thời gian thư giãn hay giải trí cùng nhau như thế nào Sự khác nhau về sở thích trong lĩnh vực này cũng là nguyên nhân của những mâu thuẫn, cãi vã giữa vợ và chồng nhưng việc cùng chia

sẻ thời gian bên nhau và cùng tham gia các hoạt động giải trí sẽ giúp cải thiện đáng

kể mối quan hệ giữa họ

Thứ sáu, quan hệ tình dục Tình dục là thước đo về tình cảm mối quan hệ, đó

cũng là khía cạnh quan trọng trong mối quan hệ mà các cặp vợ chồng thường gặp khó khăn để trải qua Các cặp vợ chồng có mối quan hệ tình dục tốt có thể thoải mái bày tỏ tình cảm với nhau và trở nên tôn trọng nhau về nhu cầu và mong muốn của nhau

Thứ bảy, mức độ thống nhất trong thái độ đối với con cái như thời điểm có

con, số con, cách nuôi dạy con cái, v.v

Thứ tám, có quan hệ tốt với bạn bè và gia đình hai bên

Thứ chín, có sự thống nhất về vai trò và phân chia công việc

Thứ mười, có sự chia sẻ về đời sống tinh thần [84]

Những yếu tố được hai tác giả Olson và DeFrain nêu lên gợi ý về các khuôn mẫu ứng xử giữa vợ và chồng trong đời sống gia đình phương Tây hiện đại Theo

đó, sự thỏa mãn tâm lý tình cảm của vợ chồng dựa trên các khuôn mẫu về sự chia

sẻ, nghệ thuật giao tiếp, sự hòa hợp tình dục… là những nhân tố quyết định sự thành công của cuộc sống vợ chồng

Trong một báo cáo cấp Bộ về mối quan hệ vợ chồng (2012), các nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Gia đình và giới cho rằng khuôn mẫu ứng xử trong đời sống tâm lý tình cảm vợ chồng được thể hiện thông qua giao tiếp vợ chồng, tình yêu

vợ chồng, sự chung thủy và đời sống tình dục vợ chồng [107]

Giao tiếp là hoạt động không thể thiếu trong đời sống vợ chồng Ngoài việc

truyền đạt thông tin, giao tiếp còn có ý nghĩa biểu cảm Các nghi thức, cách thức giao tiếp thể hiện tính chất của mối quan hệ vợ chồng Báo cáo cho thấy trong gia đình người Việt hiện đại còn bảo lưu nhiều khuôn mẫu/mô hình giao tiếp truyền thống, nhưng đã xuất hiện những mô hình giao tiếp mới trong quan hệ vợ chồng Trong gia đình Việt Nam truyền thống, giao tiếp vợ chồng thường tuân thủ những thói quen và truyền thống văn hóa, trong đó, để giữ sự hòa thuận, đoàn kết

Trang 19

gia đình, vợ chồng thường có sự nhường nhịn lẫn nhau, hòa giải mâu thuẫn theo phương châm “một điều nhịn, chín điều lành” Trong mối quan hệ đó, người phụ

nữ, người vợ được mong đợi là người “xây tổ ấm”, người có vai trò điều tiết các mối quan hệ gia đình Và để thực hiện vai trò đó, người phụ nữ phải luôn luôn

nhường nhịn (Chồng giận thì vợ làm lành; Chồng giận thì vợ phải l ui; Chồng giận

thì vợ bớt lời); cam chịu (Ngu si cũng thể chồng ta/ Dẫu rằng khôn khéo cũng ra

chồng người; Lấy chồng thì phải theo chồng/ Đắng cay cũng chịu, mặn nồng cũng

vui); thương chồng (Thương ai cho bằng thương chồng, Thương chồng nên phải

gắng công, Chồng ta áo rách ta thương/ Chồng người áo gấm xông hương mặc

người); chiều chồng (Chiều người lấy của, chiều chồng lấy con); chung thủy với

chồng (Trai làm nên năm thê bảy thiếp/ Gái làm nên thủ tiết chờ chồng; Gái chính

chuyên chẳng lấy hai chồng) Người phụ nữ thường nghe theo lời chồng và rất ít khi phán xét cách cư xử của chồng (Thuyền theo lái, gái theo chồng; Lấy chồng thì phải theo chồng) người vợ ứng xử theo những chuẩn mực đã được quy định.Văn hóa truyền thống đòi hỏi rất nhiều, đặt ra vô số chuẩn mực, khuôn mẫu trong cách ứng

xử giao tiếp của người vợ với chồng trong khi đòi hỏi rất ít việc người chồng ứng

xử với vợ [107]

Tuy nhiên, những khuôn mẫu giao tiếp vợ chồng trong truyền thống đã có nhiều thay đổi, chẳng hạn trong câu ca dao: “Chồng giận thì vợ bớt lời/ Cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê” theo ý kiến nhiều người vẫn còn giữ nguyên giá trị trong cách giao tiếp vợ chồng hiện nay Nhưng sự khác biệt so với truyền thống là ở chỗ, trước đây chủ yếu là vợ phải nhường nhịn chồng, còn ngày nay, hai vợ chồng đều phải nhường nhịn nhau [107]

Cùng với việc thay đổi tính chất giao tiếp là sự xuất hiện của một số hình thức giao tiếp mới trong đời sống vợ chồng như tổ chức ngày sinh nhật của vợ/ chồng; tặng hoa, quà cho vợ/ chồng vào các dịp lễ, ngày Tết hay định kỳ kỷ niệm ngày cưới Đây là những hình thức giao tiếp có xu hướng phát triển do tác động của biến đổi kinh tế xã hội và ảnh hưởng của lối sống phương Tây Một nghiên cứu ở

TP Hồ Chí Minh cho biết, các hình thức giao tiếp mới như thường xuyên chia tay trước khi đi làm bằng lời nói hoặc cử chỉ thân mật; tổ chức ăn mừng/tặng quà/tặng hoa nhân ngày sinh nhật; tổ chức kỷ niệm ngày cưới còn ít phổ biến (chỉ xuất hiện

Trang 20

trong khoảng ít hơn 1/3 gia đình được hỏi) Lý do mà người trả lời đưa ra là những biểu hiện đó có tính hình thức, không cần thiết hoặc do hoàn cảnh kinh tế khó khăn Tuy nhiên, việc thông tin liên lạc thường xuyên giữa vợ và chồng diễn ra ở đa số các gia đình, cụ thể, 80% người được hỏi thường xuyên báo tin cho vợ/chồng biết lý

do về nhà chậm sau giờ làm việc; 75,7% thường xuyên trao đổi, tâm sự với vợ/chồng về công việc hàng ngày; 66% thường xuyên gọi điện về nhà báo tin trong thời gian đi công tác xa [106]

Tình yêu vợ chồng là một trong những yếu tố quan trọng để duy trì hạnh phúc

và sự bền vững của mối quan hệ vợ chồng Bởi vì người ta có thể có đầy đủ điều kiện vật chất cho cuộc sống gia đình nhưng không hẳn vì thế mà đã có hạnh phúc thật sự nếu thiếu tình yêu Tình yêu vợ chồng thường có nguồn gốc từ tình yêu đôi lứa trước hôn nhân và là sự tiếp tục của tình yêu đôi lứa trước hôn nhân Nhưng không có nghĩa là có tình yêu đôi lứa trước hôn nhân thì sẽ có tình yêu vợ chồng và

có khi chưa có tình yêu đôi lứa đi trước nhưng vẫn có tình yêu vợ chồng

Theo tác giả Bùi Thị Hương Trầm (2012), các nghiên cứu trước đây thường tập trung nhiều vào tình yêu trước hôn nhân, coi đó như một yếu tố lựa chọn để đi tới hôn nhân Trong lịch sử phát triển xã hội, đã từng xuất hiện hai mô hình hôn nhân đối lập nhau: mô hình hôn nhân sắp đặt, không dựa trên cơ sở tình yêu (còn gọi là hôn nhân dàn xếp hay hôn nhân định sẵn) và mô hình hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu (còn gọi là hôn nhân tự nguyện) Nhận xét của Bùi thị Hương Trầm cũng phù hợp với các kết quả nghiên cứu đã có Đó là sự chuyển đổi từ mô hình hôn nhân sắp đặt sang hôn nhân tự nguyện (Vũ Tuấn Huy, 1995; Daniele Blanger và Khuất Thu Hồng, 1995; Nguyễn Hữu Minh, 1999) Trước đây, hiện tượng “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” khá phổ biến thì hiện nay hầu như không còn nữa Hiện nay, con cái

có quyền tự do tìm hiểu và tiến tới hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu (Lê Ngọc Văn,

2010; Nguyễn Thị Thu và Lê Minh Anh, 2006)

Nhìn chung, từ trước tới nay, tình yêu trong hôn nhân mới chỉ được đề cập trong các nghiên cứu về tâm lý gia đình, ít được nhắc tới trong các nghiên cứu xã hội học Các nghiên cứu xã hội học đã có thường đề cập đến tình yêu như là một tiêu chuẩn lựa chọn để đi đến hôn nhân Theo đó, mô hình hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu đôi lứa ngày càng phổ biến thay thế cho mô hình hôn nhân sắp đặt truyền

Trang 21

thống, ngoại trừ các cuộc hôn nhân có tính chất mua bán với người nước ngoài thông qua dịch vụ môi giới trong thời gian gần đây

Sự chung thủy và đời sống tình dục vợ chồng: Chung thủy vợ chồng theo

nghĩa rộng là trước sau như một, không thay lòng đổi dạ Còn theo nghĩa hẹp là sự không chia sẻ tình dục với người khác ngoài vợ hoặc chồng của mình Sự chung thủy trong quan hệ tình dục vừa là một nhu cầu tự thân của những người yêu nhau, vừa được điều chỉnh bằng quan hệ xã hội, bao gồm cả quan hệ đạo đức và quan hệ pháp luật Chung thủy do đó gắn liền với đời sống tình dục vợ chồng [69] Chung thủy vừa là một giá trị vừa là khuôn mẫu ứng xử trong mối quan hệ vợ chồng Tuy nhiên, khuôn mẫu này được quy định khác nhau đối với người vợ và người chồng trong gia đình truyền thống Chung thủy về phía người vợ là bắt buộc và bị kiểm soát chặt chẽ cả về pháp luật, đạo đức và dự luận xã hội, trong khi người chồng được nới lỏng hơn Người đàn ông có thể có những mối quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân, thậm chí được phép lấy nhiều vợ (Trai tài năm thê bảy thiếp/ Gái chính chuyên chỉ có một chồng)

Sự phân biệt đối xử này không chỉ được đúc kết thành các khuôn mẫu ứng xử phản ánh trong ca dao tục ngữ và các khảo cứu của người Việt Nam mà còn được

mô tả, ghi chép trong những chuyên khảo của các tác giả phương Tây từ thế kỷ XVII-XVIII Một trong số những tác giả đó là Jean Baptiste Taveenier (người

Pháp) Trong chuyên khảo có nhan đề “Tập du ký mới và kỳ thú về vương quốc

đằng ngoài”, xuất bản lần đầu tiên ở Paris năm 1681, Tavernier đã ghi chép về cách

đối xử hà khắc của dân chúng Vương quốc Đằng Ngoài đối với tội ngoại tình của phụ nữ: “ Nếu có thể chứng tỏ được rằng một người đàn bà đã phạm tội đó và được người đó thừa nhận thì người ta đem ném người đàn bà đó cho voi giày Con voi được huấn luyện làm nhiệm vụ tàn ác đó bắt đầu lấy vòi tung người đó lên rồi khi người đó rơi xuống đất, nó lấy chân giày nát ra cho đến khi người ấy chết” [79] Ngày nay, chung thủy được kiểm soát từ cả hai phía Sự không chung thủy trong quan hệ vợ chồng hay hiện tượng ngoại tình do đó có nguy cơ cao dẫn đến sự tan vỡ gia đình Kết quả Điều tra gia đình Việt Nam 2006 cho biết trong số sáu nguyên nhân dẫn đến ly hôn, ngoại tình chiếm tỷ lệ 25,9%, cao xếp thứ hai sau nguyên nhân mâu thuẫn về lối sống ( 27,7%) Bốn nguyên nhân khác có tỷ lệ thấp

Trang 22

hơn: nguyên nhân kinh tế: 13,0%; bạo lực gia đình: 6,7%; lý do sức khỏe: 2,2%; do

xa nhau lâu ngày: 1,3%

Quan hệ tình dục có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống vợ chồng Ngoài

mục đích sinh đẻ, duy trì nòi giống, hoạt động này còn có ý nghĩa trong việc thể hiện tình yêu, thỏa mãn nhu cầu tình cảm và là yếu tố tạo nên hạnh phúc và sự bền vững của gia đình Nghiên cứu của Nguyễn Phương Thảo (2012) cho thấy trong ứng xử tình dục, nam giới vẫn tỏ ra có vai trò chủ động hơn phụ nữ, tuy nhiên vai trò chủ động của nam giới dường như chỉ thể hiện chủ yếu ở việc gợi ý và khởi xướng quan hệ tình dục Phụ nữ có vị trí và vai trò tương đối bình đẳng với nam giới trong hoạt động tình dục, thể hiện rất rõ qua tỷ lệ chênh lệch không đáng kể giữa nam giới và phụ nữ về quyền quyết định có hay không quan hệ tình dục Ngoài

ra, nghiên cứu cũng chỉ ra những thay đổi trong hành vi tình dục của nam giới: chấp nhận bị từ chối tình dục một cách có “hiểu biết”, không cố ép buộc người phụ nữ quan hệ tình dục và hiểu rằng tình dục chỉ có thể được thỏa mãn khi cả hai vợ chồng cùng mong muốn và đáp ứng lẫn nhau

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Phương Thảo có nhiều nét tương đồng với các kết quả nghiên cứu của các tác giả trước đó về cùng chủ đề Chẳng hạn nghiên cứu của Vũ Song Hà (2005), Vũ Hồng Phong (2006), Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh (2008), Khuất Thu Hồng (2009) đều có nhận xét là nam giới vẫn tỏ ra có vai trò chủ động hơn phụ nữ trong đời sống tình dục vợ chồng; phần lớn người chồng là người gợi ý và khởi xướng quan hệ tình dục; phụ nữ thường tỏ ra e ngại và giữ ý trong gợi ý này Tuy nhiên, người vợ không hoàn toàn bị động trong quan hệ tình dục Số liệu Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 cho thấy có hiện tượng vợ

ép buộc chồng trong quan hệ tình dục [105]

Những nghiên cứu về tình dục ở Việt Nam trong khoảng 10 năm trở lại đây cho thấy khuôn mẫu/mô hình quan hệ tình dục vợ chồng truyền thống trong đó nam giới hoàn toàn quyết định và phụ nữ chỉ biết thụ động chấp nhận (dù muốn hay không) đã có nhiều thay đổi Trong đời sống gia đình Việt Nam hiện đại, khuôn mẫu tình dục vợ chồng theo mô hình cùng mong muốn và đáp ứng lẫn nhau đang thay thế dần cho khuôn mẫu người chồng hoàn toàn chủ động và quyết định quan hệ tình dục và người vợ làm theo

Trang 23

1.2.2 Khuôn mẫu ứng xử vợ chồng trong phân công lao động

Phân công lao động giữa vợ và chồng hay phân công lao động theo giới trong gia đình được coi là hình thức phân công lao động đầu tiên của lịch sử phân công lao động xã hội Nó bắt nguồn từ sự khác biệt về vai trò giới tính của nam và nữ trong việc duy trì nòi giống Phụ nữ do phải mang thai, sinh đẻ và cho con bú nên cũng là người chủ yếu nuôi dưỡng và chăm sóc con cái, trong khi người đàn ông lo

đi tìm kiếm thức ăn và vật dụng sinh hoạt cần thiết để nuôi sống vợ con và duy trì cuộc sống gia đình Mặt khác, vì cơ thể của nam giới thường cao to hơn và có sức khỏe nhất thời tốt hơn, lại không phải mang thai, sinh đẻ nên nam giới thường có khuynh hướng đảm nhận các công việc nặng nhọc đòi hỏi sức khỏe cơ bắp và những công việc bên ngoài nhà và xa nhà Điều này rất có thể chỉ là chiến lược sống được các xã hội tiền công nghiệp chấp nhận vì hiệu quả xã hội của nó Tuy nhiên, qua nhiều thế hệ, sự phân công lao động dựa trên cơ sở giới tính được xã hội hóa và thể chế hóa thành cấu trúc xã hội và người ta coi nó như là những chuẩn mực tự nhiên, thiên chức của mỗi giới [68] Cũng từ đó, hình thành nên các khuôn mẫu ứng

xử giữa vợ và chồng trong phân công lao động gia đình, tồn tại cho đến tận ngày nay, chẳng hạn: đàn ông làm việc nặng, đàn bà làm việc nhẹ; đàn ông làm việc bên ngoài nhà và xa nhà, đàn bà làm việc bên trong nhà và gần nhà; đàn ông kiếm sống, đàn bà nuôi con và chăm sóc gia đình; “đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm; v.v… Những chuẩn mực, khuôn mẫu/hình thức phân công lao động theo giới trong gia đình đã tồn tại hàng nghìn năm trong các xã hội tiền công nghiệp rất ít thay đổi Nhưng CNH, HĐH, HNQT đã làm đảo lộn tất cả Không thể duy trì khuôn mẫu cũ khi gia đình đã biến đổi sâu sắc do tác động của CNH và đô thị hóa Ở phương Tây

từ những thập kỷ 60-70 của thế kỷ XX, các nhà nữ quyền đã lên tiếng mạnh mẽ về việc phải xóa bỏ khuôn mẫu phân công lao động theo giới trong gia đình Theo các nhà nữ quyền, trong xã hội học truyền thống theo cách tiếp cận chức năng, sự bất bình đẳng về phân công lao động theo giới trong gia đình thường bị bỏ qua vì người

ta cho rằng việc phụ nữ sinh đẻ, nuôi con, làm việc nhà, chăm sóc các thành viên gia đình; nam giới làm việc bên ngoài, kiếm tiền nuôi sống gia đình là điều hợp lý, không phải bàn cãi, hay theo cách diễn đạt của Parsons, đàn ông có vai trò công cụ, đàn bà có vai trò biểu cảm Điều cần thiết là làm sao để hai giới thực hiện vai trò

Trang 24

của mình một cách hoàn hảo nhất Tuy nhiên, theo quan điểm nữ quyền, đây là cách giải thích nam trị, có lợi cho đàn ông Nó không quan tâm đến lợi ích cũng như tâm trạng suy nghĩ và nguyện vọng của người phụ nữ khi phải chấp nhận sự phân công lao động này Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà xã hội học nữ quyền cho thấy sự trải nghiệm tâm lý của phụ nữ trong cuộc sống gia đình là không giống với những điều tốt đẹp mà người ta đã gán cho họ Gavron, H (1996) đã sử dụng khái niệm “người vợ bị giam cầm” (captive wife) để đặt tên cho cuốn sách của mình:

The Captive Wife: Conflicts of housebound mothers (Người vợ bị giam cầm: Những

xung đột của những người mẹ không thể rời khỏi ngôi nhà của mình) Đó là tình trạng xung đột và bị ức chế khi thực hiện vai trò nội trợ trong gia đình Gavron cho rằng đây là sự bất bình đẳng cấu trúc (the structural inequanlities) chống lại phụ nữ

trong xã hội Trong hai cuốn sách: The sociology of houswork (Xã hội học về công việc nội trợ) và Housewife (Người vợ nội trợ), Ann Oakley (1974) đưa ra khái niệm

“lao động gia đình không được trả công của phụ nữ” (women’s unpaid domestic labour) Theo Oakley, lao động nội trợ của phụ nữ trong gia đình cần phải được coi như lao động được trả công, bởi vì nó tốn nhiều thời gian, và đòi hỏi nhiều công sức Cũng giống như Gavron, Oakley cho rằng chứng bệnh tâm thần, buồn chán, sự thất vọng và bơ vơ là sự trải nghiệm của những người vợ nội trợ trong gia đình [68]

Ở Việt Nam, trong hơn một thập kỷ trở lại đây chủ đề phân công lao động theo giới trong gia đình đã được nhiều tác giả và công trình nghiên cứu đề cập đến, trong

đó phải kể đến các cuộc điều tra lớn như: Điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và

người phụ nữ trong gia đình thời kỳ CNH, HĐH của Trung tâm nghiên cứu khoa

học về Gia đình và Phụ nữ (nay là Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới) năm 1998 -

2000; Điều tra cơ bản về thực trạng bình đẳng giới năm 2004 - 2006 của Viện Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam); Điều tra gia

đình Việt Nam 2006 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lich và các cơ quan khác; Dự

án nghiên cứu liên ngành về Gia đình nông thôn Việt Nam trong chuyển đổi năm

2004 - 2008 của Chương trình hợp tác nghiên cứu Việt Nam - Thụy Điển (Dự án VS-RDE-05); v.v…

Các kết quả điều tra nghiên cứu trong phạm vi cả nước cũng như giữa các vùng miền, các tộc người và các loại hình gia đình khác nhau đều cho thấy hình

Trang 25

thức phân công lao động theo giới vẫn còn khá phổ biến Phụ nữ vẫn là người đảm nhận chính các công việc tái sản xuất bên trong gia đình, bao gồm công việc nội trợ, nuôi dưỡng chăm sóc trẻ nhỏ, chăm sóc người già, người ốm và các thành viên khác của gia đình Đàn ông là người đảm nhận nhiều hơn các hoạt động bên ngoài gia đình, bao gồm công việc sản xuất kinh doanh, kiếm tiền, giao tiếp và hoạt động xã hội Những chuẩn mực, khuôn mẫu về sự khác biệt giới trong phân công lao động gia đình được duy trì ở mức độ cao trong các gia đình vùng dân tộc thiểu số và gia đình đánh bắt hải sản vùng biển Ở các loại hình gia đình này, các khuôn mẫu phân công lao động: đàn ông làm việc nặng, đàn bà làm việc nhẹ, đàn ông làm việc bên ngoài nhà và xa nhà, đàn bà làm việc bên trong nhà và gần nhà gần như là một sự phân công lao động “tự phát”, là sự tiếp tục của phân công lao động theo giới trong gia đình truyền thống, nơi mà lao động cơ bắp vẫn chiếm ưu thế trong phương thức sản xuất của các hộ gia đình

Lý giải về nguyên nhân của tình trạng phân công lao động theo giới vẫn còn khá phổ biến trong gia đình, một số tác giả cho rằng “vai trò giới truyền thống vẫn còn chưa thay đổi được bao nhiêu”; theo quan niệm truyền thống thì “con gái thường làm việc nhà nhiều hơn con trai” [8]; và trong ý thức của cộng đồng vẫn còn quan niệm có những việc dành riêng cho phụ nữ và nam giới Điều này chứng tỏ

“người phụ nữ cũng như đàn ông chưa có sự chuyển biến quan niệm truyền thống

về nghề nghiệp và vai trò giới không chỉ bị chi phối bởi đặc điểm, tính chất của công việc mà cái chính còn bị chi phối mạnh mẽ bởi chính định kiến nghề nghiệp Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tính đa dạng và xu hướng biến đổi của các mô hình phân công lao động theo giới trong gia đình Việt Nam hiện nay, đó là xu hướng phụ nữ ngày càng tham gia nhiều hơn vào các công việc chỉ dành riêng cho nam giới và ngược lại, nam giới cũng ngày càng tham gia nhiều hơn vào những công việc được coi là của phụ nữ Nhiều công việc được coi là thích hợp cho cả phụ nữ và nam giới, không phân biệt giới tính Số liệu điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 cho thấy trên 60% số người được hỏi cho rằng công việc sản xuất kinh doanh là phù hợp với cả nam và nữ; gần 50% những người trả lời ở các nhóm tuổi khác nhau quan niệm công việc chăm sóc người già, người ốm là phù hợp với cả hai giới; ngay cả công việc tiếp khách và thay mặt gia đình giao tiếp với

Trang 26

chính quyền vốn là công việc của đàn ông thì ngày nay cũng được coi là phù hợp với cả hai giới với trên 30% số người được hỏi tán thành

Một thay đổi đáng lưu ý khác là trong các gia đình mà cả hai vợ chồng cùng đi làm bên ngoài như các gia đình công chức viên chức, gia đình công nhân ở các khu công nghiệp, gia đình buôn bán dịch vụ ở thành phố…, thì công việc gia đình hầu như không còn phân biệt là của vợ hay chồng Thậm chí trong nhiều hộ gia đình mà người vợ là người kiếm tiền chủ yếu thì người chồng đã thay thế vai trò truyền thống của người phụ nữ là đảm đang công việc nội trợ gia đình Các kết quả nghiên cứu định tính của Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 cho thấy rõ thực tế này:

“Nhà mình ai rỗi thì làm, vợ đi làm thì chồng đi chợ” (Nam, chủ hộ, TP Hải

Phòng); “Việc đó [công việc gia đình] bây giờ là bình thường, tại vì ai có thời gian

nhiều hơn thì giúp cho người kia nhiều hơn” (Nam, công chức, TP Hải Phòng);

“Gia đình tôi cũng vậy thôi, cứ vợ làm cái này thì chồng làm cái kia (…) Vợ mình

đã vất vả bên ngoài rồi nên mình phải ở nhà cơm nước, con cái học hành cũng do mình là chủ yếu” (Nam, đại diện hộ gia đình, TP Hồ Chí Minh”; “Chị thì bận tối ngày Cơm nước thì có mấy đứa nhỏ làm… Khi nào không có mấy nhỏ nó cơm nước thì anh ấy vô làm Chị thì ít cơm nước lắm” (Nữ , buôn bán, Trà Vinh)

Như vậy, văn hóa ứng xử vợ chồng trong phân công lao động gia đình ở Viêt Nam, một mặt vừa tiếp tục các khuôn mẫu truyền thống; mặt khác đang có xu hướng hình thành những khuôn mẫu mới: chia sẻ việc nhà giữa vợ và chồng, ai giỏi việc nào làm việc ấy

1.2.3 Khuôn mẫu ứng xử quyền lực vợ chồng trong gia đình

Quyền lực của vợ chồng trong gia đình là khả năng người này gây ảnh hưởng đến người kia thể hiện thông qua việc đưa ra các quyết định liên quan đến đời sống gia đình Quyền lực vợ chồng là một trong những mối quan hệ rất cơ bản của thiết chế gia đình do đó đã có nhiều thảo luận cả lý luận và thực tiễn về chủ đề này Theo Robert Blood và Ronan Wolf (1960), cán cân quyền lực giữa vợ và chồng trong gia đình được quyết định bởi ba nguồn lực quan trọng, đó là nguồn thu nhập, ưu thế nghề nghiệp và trình độ học vấn mà mỗi người có được Theo các tác giả này, trong hầu hết các nền văn hóa, nam giới thường có quyền lực hơn phụ nữ bởi vì họ có lợi thế hơn trong việc tiếp cận ba nguồn lực trên Quan điểm của Blood

Trang 27

và Wolf là cơ sở cho việc xây dựng lý thuyết phân bổ nguồn lực cổ điển hay còn gọi là

lý thuyết nguồn lực định hướng cấu trúc Luận điểm cơ bản của lý thuyết phân bổ nguồn lực cổ điển liên quan đến quyền lực vợ chồng là: quyền ra quyết định của người

vợ hay người chồng phụ thuộc vào số lượng nguồn lực cấu trúc của người đó Có thể thấy, lý thuyết nguồn lực cổ điển nhấn mạnh đến nguồn lực cá nhân như là một nhân tố quyết định cán cân quyền lực của người vợ hay người chồng trong gia đình

Phát triển lý thuyết quyền lực cổ điển, Blumbegs và Coleman (1989) nhìn quyền lực vợ chồng thông qua lăng kính của tư tưởng giới, đó là tác động của yếu tố văn hóa đến quá trình ra quyết định trong hôn nhân Chẳng hạn trong xã hội mà tư tưởng gia trưởng chiếm ưu thế thì quyền lực của phụ nữ sẽ bị hạn chế cho dù họ có đóng góp nhiều nguồn lực cho gia đình

Gần đây, Ya’arit Bokek-Cohen (2011) còn bổ sung thêm về tác động của các yếu tố tâm lý tình cảm đến sự chuyển dịch quyền lực liên cá nhân Theo Ya’arit, không nên chỉ xem xét sự chuyển dịch quyền lực (power dynamics) trong gia đình giống như quá trình quyền lực trong các nhóm nhỏ, bởi mối quan hệ gia đình khác với các mối quan hệ liên cá nhân khác, các yếu tố cảm xúc, tình yêu, sự phụ thuộc,

sự gắn bó chặt chẽ với nhau có tác động đáng kể đến cán cân quyền lực vợ chồng Kết quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cho thấy tính đa dạng của mô hình/khuôn mẫu quyền lực giữa vợ và chồng trong gia đình, và mỗi kiểu quyền lực lại có những cơ sở khác nhau Ít nhất có ba loại mô hình/khuôn mẫu quyền lực, tương ứng với ba khuôn mẫu ứng xử quyền lực của vợ chồng trong gia đình, đó là quyền lực dựa trên phẩm chất, năng lực cá nhân; quyền lực được gán cho; và quyền lực cảm xúc

Ở Việt Nam, các nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng và xu hướng biến đổi của quan hệ quyền lực vợ chồng thể hiện qua tiếng nói và quyền quyết định của

vợ chồng trong các công việc quan trọng của gia đình như sản xuất kinh doanh, mua bán nhà đất, vay vốn và sử dụng vốn vay, quyết định số con, hôn nhân của con cái,

sử dụng biện pháp tránh thai, v.v…Các kết quả nghiên cứu cho thấy, khác với mô hình “độc quyền” trong gia đình truyền thống, ở đó quyền quyết định chủ yếu thuộc

về người đàn ông gia trưởng, xu hướng “phân quyền” - người vợ/người chồng quyết định chính một số công việc và “chung quyền” - cả hai vợ chồng cùng quyết định

Trang 28

trong gia đình Việt Nam hiện đại là khá phổ biến (Điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam, 1998-2000; Điều tra cơ bản về bình đẳng giới, 2004-2006; Số liệu điều tra gia đình Việt Nam 2006…)

Sự biến đổi từ mô hình/khuôn mẫu “độc quyền” sang mô hình/khuôn mẫu

“chia quyền” và “chung quyền” có cơ sở xã hội là nam giới không còn độc quyền hay chiếm ưu thế về các nguồn lực như thu nhập, nghề nghiệp, học vấn Phụ nữ được giáo dục, đào tạo nghề nghiệp như nam giới và ngày càng đóng góp nhiều hơn vào thu nhập chung của gia đình và có sự độc lập về kinh tế với chồng Một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới (2012) cho biết, có 37,1% số hộ gia đình

cả hai vợ chồng đóng góp như nhau cho kinh tế gia đình, 15,9% số hộ người vợ có đóng góp thu nhập cao hơn chồng và 47% số hộ người chồng đóng góp thu nhập cao hơn vợ Quan trọng hơn, nghiên cứu này cung cấp những số liệu điều tra cho thấy 90,1% người vợ và người chồng có khả năng đảm bảo cuộc sống độc lập về kinh tế trong trường hợp không có sự trợ giúp từ nguồn thu nhập của chồng hoặc

vợ Trường hợp phụ thuộc kinh tế chỉ có tính tạm thời hay vì lý do sức khỏe bênh tật của một trong hai người Như vậy, một khi cấu trúc cơ hội thay đổi làm cho phụ

nữ được giáo dục, có nghề nghiệp, có thu nhập cũng có nghĩa là các nguồn lực của phụ nữ tăng lên sẽ ủng hộ sự chia sẻ quyền lực của phụ nữ trong hôn nhân [107] Một số nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng không có một tương quan tỷ lệ thuận giữa đóng góp thu nhập và quyền quyết định của người vợ và người chồng trong gia đình Mai Huy Bích và Lê Thị Kim Lan chứng minh về sự mâu thuẫn giữa đóng góp của phụ nữ và quyền quyết định trong gia đình, trong khi người vợ là người đảm nhận hầu hết các công việc, thậm chí họ mang lại thu nhập chính cho gia đình, nhưng phần lớn quyền quyết định thuộc về người chồng, người vợ chỉ là người thực thi các quyết định đó (Mai Huy Bích và Lê Thị Kim Lan, 1999) Nghiên cứu của Lê Thi (2000), Lê Ngọc Lân (2006), Vũ thị Cúc (2005),… đều cho thấy một thực tế là phụ nữ có vai trò chính cả trong các công việc sản xuất và tái sản xuất trong các gia đình ở nông thôn, đóng góp nhiều công sức cũng như đóng góp thu nhập không thua kém nhiều so với người đàn ông nhưng trong phần lớn trường hợp, quyền quyết định trong gia đình vẫn chủ yếu thuộc về người chồng Những kết quả nghiên cứu này cho thấy, ngoài yếu tố thu nhập, còn có yếu tố khác tác động đến

Trang 29

quan hệ quyền lực vợ chồng Đó là yếu tố văn hóa Các tác giả cũng đã cố gắng lý giải sự bất hợp lý này từ góc độ của định kiến về giới, từ ý thức hệ gia trưởng trọng nam khinh nữ, trao quyền cho đàn ông và coi bất hợp lý này là không công bằng, là

sự thiệt thòi của phụ nữ, là bất bình đẳng nam nữ và cần phải có những giải pháp để khắc phục để nâng cao bình đẳng nam nữ

Quyền lực tuyệt đối của người đàn ông, người chồng trong các xã hội nông nghiệp truyền thống không chỉ tồn tại ở Việt Nam mà còn ở các nước Á Đông khác

và kể cả các nước phương Tây tiền công nghiệp

Trong gia đình truyền thống Nhật Bản, tư tưởng chồng chúa – vợ tôi, trọng nam khinh nữ, người phụ nữ phải chịu cảnh sống phụ thuộc, biết vâng lời cha và chồng như thực hiện sự phục tùng và trung thành tuyệt đối theo kiểu các võ sĩ Samurai

Tại Mỹ, Gottman khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa vợ và chồng đưa ra giả thuyết rằng sự khác biệt về sức mạnh trong mối quan hệ hôn nhân, nơi người chồng coi người vợ là cấp dưới, người chồng đóng vai trò là yếu tố chi phối đến hành vi của người vợ [111]

Trong lịch sử Anh, sự trừng phạt người vợ đã được chấp nhận và được cho là đúng với bản chất một người đàn ông gia trưởng Người chồng có thẩm quyền xử lý

kỷ luật vợ cũng như con cái vì họ thiếu vâng lời và thiếu tôn trọng Người chồng được quyền đánh vợ với một cây gậy hoặc có quyền đe dọa vợ [112]

Người phụ nữ Việt Nam trong xã hội truyền thống có vị trí thấp kém khi bị coi như một dạng hàng hóa mà người đàn ông có thể mua bán khi cần thiết Đàn ông có thể lấy hai vợ và anh ta cũng có thể mua vợ từ cha mẹ vợ “Nhiều người không nuôi nổi vợ những khi gặp nạn đói kém người chồng bắt buộc phải đem vợ con đi bán để có tiền mua gạo nuôi sống chính mình” [19,tr.75]

Trong cách ứng xử giữa vợ và chồng khi nói về vị thế của đàn ông và đàn bà trong hôn nhân thì vị thế của người chồng luôn cao hơn vị thế của người vợ “ Luật

lệ của vương quốc cho phép người đàn ông có thể bỏ vợ lúc nào cũng được, nhiều khi với những lý do rất nhỏ nhặt, nhưng người đàn bà lại không có đặc quyền đó, hay ít ra họ cũng gặp phải nhiều vấn đề khó khăn khi muốn chia tay Luật lệ đó của

Trang 30

người Đàng Ngoài được làm ra để buộc người đàn bà phải giữ phận sự của người

vợ và bắt buộc họ bao giờ cũng phải hết sức tôn kính chồng họ ” [79,tr 52]

Quyền lực của người đàn ông trong gia đình Việt Nam truyền thống nhiều khi

là quyền lực gia trưởng, bất chấp họ có có đóng vai trò chủ chốt về kinh tế trong gia

đình hay không

Tuy nhiên, tác động của truyền thống gia trưởng đến cán cân quyền lực vợ chồng vẫn là vấn đề gây ra nhiều tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu Một số nhà nghiên cứu hoài nghi về một tư tưởng gia trưởng thật sự tồn tại trong gia đình Việt Nam truyền thống và địa vị hoàn toàn thấp kém của người phụ nữ trong gia đình Nhà dân tộc học Từ Chi (1996) cho rằng phụ nữ Việt Nam ở trong một “địa vị oái ăm”, có vẻ như “thấp” song lại rất cao và gia đình người Việt - phần lớn là “gia đình hạt nhân” (nuclear Family) rất khó xếp vào những hệ thống phân loại kiểu phương Tây như “mẫu hệ” hay “phụ hệ”, tiện nhất thì gọi là không phân loại được Trần Quốc Vượng (2000) khi bàn về văn hóa Việt Nam trong sự đối sánh với văn hóa Trung Quốc thì cho rằng tuy có sự giao tiếp và hỗn dung văn hóa Việt Hoa nhưng

khuynh hướng giao tiếp và hỗn dung vẫn là Việt hóa chứ không phải là Hoa hóa; và

văn hóa Việt Nam không bao giờ là một bản sao chép của văn hóa Trung Hoa Và

theo ông, do nhiều nguyên nhân và điều kiện lịch sử, cái nói lên bản sắc của văn

hóa dân tộc Việt Nam là văn hóa dân gian Việt Nam Đây là một luận điểm hết sức

quan trọng, nó gợi ý cho việc nghiên cứu văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa gia đình nói riêng là không thể chỉ dựa vào giáo lý được ghi chép trong các văn bản

mà trước hết phải dựa vào kho tàng văn hóa dân gian của người Việt, bao gồm ca dao, tục ngữ, v.v… được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác Tác giả Phạm Việt Long (2004) nhận xét: tục ngữ, ca dao cho ta thấy rằng trong quan niệm của người Việt, chung sống vợ chồng là một đạo lý Vì vậy, quyền hạn giữa người chồng và người vợ không phải chỉ có một chiều mà phải đặt trên tính chất tương ứng và bình đẳng Quan hệ vợ chồng chủ yếu là tình yêu và hòa thuận Người phụ

nữ Việt theo chồng, nhưng không theo kiểu “tòng phu” của Nho giáo, không phải theo để hầu hạ, mà để chia sẻ niềm vui, là nghĩa vụ tương thân tương ái và bình đẳng xây dựng trên ý thức đồng lao cộng lực, chung thủy, khác với đạo “tam tòng” của Khổng Mạnh [40, tr 47]

Trang 31

Có tác giả dùng hình ảnh “vỏ Tầu lõi Việt” để chứng minh rằng trên lý thuyết người ta vẫn tuân theo các nguyên lý Nho giáo, nhưng trong thực tế phong tục tập quán mới có ảnh hưởng đến khuôn mẫu ứng xử trong gia đình, người phụ nữ Việt

Nam vẫn là “nội tướng trong gia đình”, mọi quyết định trong gia đình hầu như có

sự tham gia đóng góp ý kiến của người vợ, người phụ nữ trong gia đình [80,tr.110-111]

Có nhận xét tương tự về vai trò của phụ nữ trong gia đình người Việt xưa: “Vợ

là người chỉ huy trưởng việc nhà, người ta gọi vợ là nội tướng (người chủ bên trong) Hầu như bao giờ vợ cũng giữ tiền bạc, quản lý của cải, giải quyết các khoản chi tiêu, thu lợi tức, bỏ hòm tiền cho thuê nhà; tóm lại thực hiện mọi hoạt động quản trị Cùng với chồng, vợ có những quyền chung về giáo dục con cái Trong trường hợp, bất đồng giữa hai vợ chồng về vấn đề giáo dục này, thì ý muốn của người chồng chiếm ưu thế” [28, tr.83]

oăm Bề ngoài là một gia đình phụ quyền, được tô đậm bởi nhiều thế kỷ ảnh hưởng

từ Nho giáo, tam tòng tứ đức, phụ nữ lấy chồng phải theo chồng, mang tên chồng, con cái mang họ nhà chồng, sự phân biệt mang tên chữ nội – ngoại đủ để thể hiện tính thiên lệch nhưng trong thực tế người vợ người mẹ lại không bị tách khỏi nền

sản xuất, lại là “tay hòm chìa khóa” của gia đình, là “nội tướng” nên có một vị trí ẩn tàng nhưng vững chắc Thông thường mọi việc phải “thuận vợ thuận chồng” mà

nhiều khi ứng xử của người chồng trước xã hội làng mạc đã bị chi phối trước bởi

“nội tướng” và bởi “lệnh ông không bằng cồng bà” và nhiều khi trong gia đình

“nhất vợ nhì trời” [2,tr.30]

Có hai sự thực nổi lên trong khuôn mẫu ứng xử giữa vợ và chồng ở xã hội truyền thống: (i) quyền uy mạnh mẽ trên lý thuyết của người chồng đối với người

vợ, (ii) địa vị tương đối bình đẳng trong thực tế giữa vợ và chồng Cái tư thế quyền

uy được nhấn mạnh bởi pháp luật là kết quả không thể chối cãi của việc Việt Nam chấp nhận đạo lý gia đình Nho giáo [80, tr 132]

Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu có liên quan đến mô hình/khuôn mẫu quyền lực vợ chồng theo cách tiếp cận nguồn lực và văn hóa, nhưng còn ít nghiên cứu đề cập đến khía cạnh tâm lý tình cảm và ảnh hưởng của yếu tố tâm lý tình cảm

Trang 32

đối với quyền lực vợ chồng Tương tự như vậy, một số khía cạnh khác của cuộc sống vợ chồng như quyền lựa chọn các hình thức giải trí, tổ chức sinh hoạt gia đình, hưởng thụ phúc lợi gia đình cũng chưa được chú ý nghiên cứu

1.3 Các nghiên cứu có liên quan đến khuôn mẫu ứng xử giữa các thế hệ trong gia đình

Quan hệ giữa các thế hệ là mối quan hệ hết sức cơ bản của gia đình Nếu như quan hệ vợ chồng là mối quan hệ theo chiều ngang thì quan hệ giữa các thế hệ là quan hệ theo chiều dọc Mối quan hệ giữa các thế hệ lại có thể được phân chia thành hai loại khác nhau, đó là quan hệ giữa cha mẹ với con cái và quan hệ giữa con cháu với người cao tuổi Mỗi loại quan hệ này đều có đặc điểm riêng và chứa trong đó những khuôn mẫu ứng xử đặc thù

1.3.1 Khuôn mẫu ứng xử giữa cha mẹ và con cái

Khuôn mẫu/mô hình ứng xử giữa cha mẹ và con cái đã được quan tâm nghiên cứu từ các góc nhìn khác nhau như tâm lý học, giáo dục học, xã hội học Mỗi lĩnh vực nghiên cứu có những cách phân chia mô hình ứng xử cha mẹ con cái theo những cách nhìn khác nhau

Nhà tâm lý học Diana Baumrind (1978, 1991) đã nêu lên bốn khuôn mẫu/mô hình ứng xử của cha mẹ đối với con cái, bao gồm: 1/ Độc đoán; 2/Uy quyền; 3/Thờ ơ/không quan tâm; và 4/Nuông chiều

Cha mẹ độc đoán (Authoritarian parenting) là mẫu cha mẹ khắt khe, bắt buộc

con cái phải nhất nhất làm theo sự chỉ dẫn và mệnh lệnh của cha mẹ Mô hình này phản ánh mức độ rất cao sự giao tiếp theo chiều cha mẹ - con cái, trong khi chiều giao tiếp con cái - cha mẹ ở mức độ rất thấp Cha mẹ độc đoán thường đặt ra những giới hạn chính xác, quản lý gắt gao và khống chế con cái VTN một cách hoàn toàn, chỉ cho phép rất ít sự trao đổi và tranh luận, và họ có xu hướng áp dụng các hình phạt khắt khe với con cái

Cha mẹ uy quyền (Authoritative parenting) khuyến khích con cái VTN phát

triển tính cách độc lập nhưng vẫn đưa ra những giới hạn, những nguyên tắc và sự khiểm soát đối với con cái Khác với cha mẹ độc đoán, mô hình cha mẹ quyền uy dựa trên nền tảng của mối quan hệ dân chủ giữa cha mẹ và con cái, cha mẹ là người bạn của con, họ cho phép con cái VTN được trao đổi thoải mái về các vấn đề trong

Trang 33

cuộc sống, họ luôn bày tỏ tình cảm đối với con nhưng vẫn thể hiện cái uy của cha

mẹ Con cái VTN của cha mẹ uy quyền thường tự tin, tin cậy cha mẹ, và rất có khả năng giao tiếp xã hội Cha mẹ uy quyền cũng có thể kiểm soát cuộc sống của con cái VTN, làm giảm những hành vi có vấn đề và làm tăng thành tích học tập của con cái VTN ở trường

Cha mẹ thờ ơ/không quan tâm (Neglectful/uninvolved parenting) là mẫu cha mẹ

chỉ nhấn mạnh đến việc cung cấp các nhu cầu cơ bản về vật chất cho con cái, nhưng không quan tâm, hoặc thờ ơ, thiếu trách nhiệm đối với cuộc sống của con cái đặc biệt là trong lĩnh vực tình cảm Cha mẹ thuộc mô hình này hầu như không dành thời gian hoặc rất ít tâm sự với con cái Điều này gắn liền với những hành vi ứng xử xã hội kém của con cái VTN, đặc biệt là sự thiếu kiểm soát hành vi cá nhân của VTN

Cha mẹ nuông chiều con cái (Indulgent/permissive parenting) là mẫu cha mẹ

quan tâm đến con cái nhưng lại đặt ra cho con cái rất ít yêu cầu và sự quản lý Sự nuông chiều này thường dẫn đến sự kém cỏi về mặt xã hội của con cái, đặc biệt là

sự thiếu tự tin Họ cho phép làm bất cứ điều gì chúng muốn và kết quả là con cái của họ hầu như không bao giờ học được cách làm chủ hành vi của mình mà luôn trông chờ vào sự chỉ dẫn của người khác [65]

Ở Việt Nam, dù muốn hay không văn hóa Nho giáo có ảnh hưởng đến việc hình thành khuôn mẫu ứng xử giữa cha mẹ và con cái Đó là khuôn mẫu “trên ra lệnh, dưới phục tùng”, con cái phải tuyệt đối vâng lời cha mẹ Ca dao Việt Nam có câu: Cá không ăn muối cá ươn/Con không vâng lời cha mẹ trăm đường con hư Theo Insun Yu, khuôn mẫu ứng xử giữa cha mẹ và con cái là mối quan hệ giữa hai thế hệ (cha mẹ là thế hệ trên con cái là thế hệ dưới); sự thống trị và lệ thuộc là kiểu mẫu chung của cách đối xử trong xã hội truyền thống Việt Nam Còn theo phong tục bản địa quan niệm thống trị - lệ thuộc là không rõ rệt như ở Trung Quốc [80, tr.134) Trong gia đình truyền thống, cha mẹ hầu như có uy quyền tuyệt đối với con cái Luật pháp cho phép cha mẹ, đặc biệt là người cha có quyền trừng phạt con nếu chúng không vâng lời Hành động này được xem là một biện pháp giáo dục, là thể hiện tình thương yêu của cha mẹ đối với con cái nhằm giúp chúng không đi chệch khỏi các chuẩn mực xã hội (ca dao: Thương cho roi cho vọt/Ghét cho ngọt cho bùi)

Trang 34

Trong bộ luật Nhà Lê (thế kỷ XVII-XVIII) không có tội gì dành cho người cha người mẹ đánh con khi chúng không vâng lời dẫu có gây ra thương tích Ngược lại, nếu con cái có hành động côn đồ với cha mẹ được xem như tội ác nghiêm trọng nhất, chỉ sau những tội đối với nhà vua và quốc gia: Nếu con cái đánh đập cha mẹ thì bộ luật nhà Lê phạt tội đi đày tới một châu xa; nếu đánh cha mẹ bị thương thì thành tội xử giảo (Theo luật nhà Đường và nhà Minh Trung Quốc, con cái đánh đập cha mẹ thì phải tội chém đầu) Ngay cả việc nặng lời thóa mạ cha mẹ, cũng phải chịu tội nghiêm khắc, đi đầy một châu ngoài (Insun Yu, 1994:140) Insun Yu còn phát hiện ra rằng, phong tục Viêt Nam còn trao cho cha mẹ cả quyền được bán con trong trường hợp cần thiết, đó là khi cha mẹ lâm vào cảnh nghèo đói, khi đó cha mẹ buộc phải bán đi một hay nhiều đứa con để giảm bớt cái ăn của gia đình hay để có tiền đong gạo [80, tr.143]

Kết quả của mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình truyền thống là tạo ra những con người tuân thủ, ngoan ngoãn phục tùng Mẫu mực của người xưa là quá khứ, là cái đã qua, cái có trong lịch sử chứ khôn phải là hiện tại, càng không phải là tương lai, cái con người sáng tạo và đi tới Con người chỉ cần làm theo, học theo các bậc tiên cổ, sao chép, rập khuôn theo những khuôn mẫu có sẵn trong lịch sử, không cần

và không được phép sáng tạo hay sửa đổi cái gì khác với cha ông [69]

Khuôn mẫu ứng xử trên ra lệnh dưới phục tùng trong gia đình truyền thống đang có xu hướng chuyển dần sang khuôn mẫu dân chủ Số liệu của cuộc Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 đã cung cấp những số liệu phản ánh xu hướng ứng xử dân chủ của cha mẹ đối với con cái trong việc ra các quyết định có liên quan đến một số vấn đề quan trọng của gia đình như: sản xuất kinh doanh; làm nhà, sửa nhà, mua sắm đồ dùng đắt tiền, phân chia tài sản, của cải, tiền bạc, đất đai cho con cái

Cụ thể, 32% VTN được cha mẹ hỏi ý kiến ít nhất một việc, 20,9% VTN trong gia đình sản xuất kinh doanh được cha mẹ hỏi ý kiến, 22,4% VTN được hỏi ý kiến về việc làm nhà, sửa nhà, 35,9% được hỏi ý kiến về mua sắm đồ dùng đắt tiền, 6% VTN được hỏi ý kiến về việc phân chia tài sản…[105]

Sự chuyển đổi mô hình/khuôn mẫu ứng xử cha mẹ con cái từ độc đoán sang dân chủ một mặt do biến đổi kinh tế xã hội trong nước; mặt khác, do Việt Nam đã cam kết thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em và cha mẹ là người trước tiên

Trang 35

chịu trách nhiệm thực hiện quyền trẻ em trong gia đình Việc công nhận quyền trẻ

em đã làm thay đổi căn bản khuôn mẫu ứng xử trên ra lệnh dưới phục tùng của cha

mẹ đối với con cái đã hình thành rất lâu đời trong gia đình truyền thống Mặc dù vậy, đây là một sự thay đổi không dễ dàng, nhiều gia đình cả cha mẹ và VTN vẫn

đề cao các khuôn mẫu về tôn ti trật tự trên dưới và sự phục tùng của con cái Cụ thể: 88, 1% các bậc cha mẹ từ 18-60 tuổi trong cuộc Điều tra gia đình Việt Nam

2006 cho rằng con cái phải luôn luôn phục từng sự chỉ dạy của người lớn trong gia đình; 75% VTN ở độ tuổi 15-17 đồng ý với nhận định “con cái phải tuân theo sự chỉ bảo của người lớn”

1.3.2 Khuôn mẫu ứng xử giữa con cháu với người cao tuổi

Hai khuôn mẫu nổi bật trong cách ứng xử giữa con cháu với người cao tuổi trong gia đình Việt Nam truyền thống là “kính trên nhường dưới” và “cha từ con hiếu” Khác với các khuôn mẫu ứng xử giữa cha mẹ đối với con cái VTN và khuôn mẫu ứng xử giữa vợ chồng mang nặng tính chất độc đoán gia trưởng, khuôn mẫu ứng xử giữa con cháu với người người cao tuổi là một sự tương tác hai chiều Cha

mẹ, ông bà được con cháu yêu thương, kính trọng, hiếu thảo nhưng họ cũng dành cho con cháu tình cảm nhân từ và sự bao dung Một số tác giả đã làm rõ nội dung của các khuôn mẫu ứng xử này

Phan Kế Bính viết: Trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái, thì đạo làm con là

phải lấy chữ hiếu làm đầu, hiếu là biết kính trọng thương mến cha mẹ, biết vâng lời

cha mẹ, biết phụng dưỡng cha mẹ [7, tr.29]

Trách nhiệm của con cái là phải chăm sóc, phụng dưỡng bố mẹ phù hợp với đạo

lý làm người với các hành vi ứng xử, kính trọng lễ phép, chân thực, thành tâm của con, cháu đối với cha mẹ Chăm sóc cha mẹ một cách thành tâm, chân thực, kính trọng Phải giữ thái độ, hành vi ứng xử cung kính, lễ phép, nhẹ nhàng, mềm mỏng, lựa ý với cha

mẹ biểu hiện mình là người con hiếu thảo; kiên nhẫn và nhân hậu, thuốc thang, chăm sóc, bồi dưỡng chu đáo khi cha mẹ ốm đau bệnh tật [9, tr.40-41]

Việc nuôi dưỡng cha mẹ già là nội dung và là nhiệm vụ cao nhất của đạo hiếu

Nuôi dưỡng cha mẹ, ông bà cũng là tiêu chuẩn của đạo đức con người Đây cũng là

nguyên tắc ứng xử cao nhất trong gia đình của người Việt đã có từ xa xưa, đó là cái

gốc của nhân tâm [29]

Trang 36

Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cũng cho thấy vai trò rất quan trọng của người cao tuổi đối với đời sống tính thần, giáo dục đạo đức và niềm tin tôn giáo cho các thế hệ con cháu

Tại Trung Quốc quan điểm hiếu đễ được phản ánh như sau: Hiếu, đễ, nhượng trong ngũ đức chủ yếu là quy phạm hành vi trong quan hệ gia đình Hiếu có chia lớn nhỏ, có thể nuôi dưỡng kính trọng cha mẹ là tiểu hiếu, tự mình sửa đức dương danh

để tỏ rõ ơn đức cha mẹ nuôi nấng dạy dỗ, đó là sự hòa thuận, hòa hợp với anh em

và người trong gia tộc Nhượng là nói giữa người nhà với nhau phải khiêm nhường, nhất là trong việc có liên quan tới tiền bạc Làm như vậy thì có thể giảm thiểu được mâu thuẫn, đạt tới chỗ hòa thuận vui vẻ trong gia đình [16, tr.46]

Theo Wise (2007), có nhiều bằng chứng cho thấy ông bà là tác nhân có sức ảnh hưởng rất mạnh mẽ lên cuộc sống của người cháu Theo Roberto & Stroes (1992), sức ảnh hưởng của ông bà thể hiện mạnh nhất ở lĩnh vực quan niệm gia đình, niềm tin tôn giáo và đạo đức trong công việc Ngược lại, nghiên cứu của Roberto & Skoglund (1996) cho thấy ông bà là tác nhân ảnh hưởng nhiều nhất lên niềm tin tôn giáo, giá trị giới tính, quan niệm gia đình của cháu họ, trong khi lại ảnh hưởng ít nhất lên niềm tin chính trị, đạo đức trong công việc và niềm tin đạo đức Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cũng xác nhận ông bà có ảnh hưởng mạnh trong hoạt động truyền đạt lịch sử gia đình

Tác động của ông bà lên cháu có thể đi theo đường trực tiếp hoặc gián tiếp Chẳng hạn, ông bà có thể trực tiếp truyền đạt giá trị gia đình, kỹ năng cho cháu hoặc gián tiếp qua cha mẹ, sau đó cha mẹ tác động lên con Ông bà không chỉ có thể tác động trực tiếp lên cuộc sống của con cháu mà còn có thể tác động gián tiếp thông qua tác động lên cuộc sống của cha mẹ nó, chẳng hạn ủng hộ tình cảm, hỗ trợ tài chính cho họ hay giúp chăm sóc bọn trẻ, nhất là khi gia đình đứa trẻ xảy ra khủng hoảng

1.4 Một số nhận xét và định hướng nghiên cứu của đề tài

Cần khẳng định là có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến khuôn mẫu ứng xử và khuôn mẫu ứng xử trong gia đình Có nhiều định nghĩa về khuôn mẫu ứng xử, khái niệm này đã được các tác giả trong và ngoài nước trình bày khá rõ ràng Đây là thành tựu rất quan trọng mà đề tài cần tiếp thu và vận dụng trong

Trang 37

nghiên cứu của mình Tuy nhiên, khái niệm khuôn mẫu ứng xử trong gia đình cũng như các hợp phần nghiên cứu của khuôn mẫu ứng xử trong gia đình thì hầu như chưa được các tác giả đi trước quan tâm nghiên cứu đầy đủ Do chưa xây dựng được khái niệm “khuôn mẫu ứng xử trong gia đình” cho nên các nghiên cứu chưa

có cơ sở đi sâu mô tả và phân tích về khuôn mẫu ứng xử bên trong gia đình như khuôn mẫu ứng xử vợ chồng, khuôn mẫu ứng xử thế hệ trong giá đình, chưa gọi tên được các khuôn mẫu ứng xử trong gia đình là gì; cũng như chưa xây dựng được các hợp phần trong một chỉnh thể thống nhất nghiên cứu về văn hóa ứng xử trong gia đình Đây là nhiệm vụ mà đề tài cần phải làm rõ, cụ thể là đề tài cần tiến hành định nghĩa khái niệm và thao tác hóa khái niệm khuôn mẫu ứng xử trong gia đình Trên

cơ sở đó, xác định các hợp phần và phạm vi nội dung nghiên cứu về khuôn mẫu ứng

xử trong gia đình Việt Nam

Cũng cần phải nói thêm, ngoài việc chưa có tác giả nào gọi tên và định nghĩa

rõ ràng khái niệm “khuôn mẫu ứng ứng xử trong gia đình” và việc vận dụng các lý thuyết để nghiên cứu khuôn mẫu ứng xử trong gia đình cũng chưa được đặt ra trong nghiên cứu được các tác giả đi trước Điều này là hoàn toàn có thể giải thích được, bởi vì, như tôi đã nói, những nội dung nghiên cứu có liên quan đến khuôn mẫu ứng

xử trong gia đình, phần lớn được tách ra từ các nghiên cứu về biến đổi gia đình nói chung, cụ thể là các nghiên cứu liên quan đến biến đổi chức năng, cấu trúc, các mối quan hệ gia đình Cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu riêng về biến đổi khuôn mẫu ứng xử trong gia đình Do đó, việc lựa chọn và vận dụng các lý thuyết

để tiến hành nghiên cứu về khuôn mẫu ứng xử trong gia đình là nhiệm vụ tiếp theo của đề tài này

Như trên đã nói, cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu riêng về biến đổi khuôn mẫu ứng xử trong gia đình Trong tổng quan này, khuôn mẫu ứng xử trong gia đình được tôi chắt lọc từ nhiều nghiên cứu đơn lẻ thuộc các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như tâm lý học, dân tộc học, nhân học, luật học, văn hóa học, xã hội học Đây là những tư liệu rất quý giá Tuy nhiên, đó chỉ là tập hợp những tư liệu

có tính chất tham khảo Vì thế, trên cơ sở tiếp thu các kết quả nghiên cứu đã có, đề tài có nhiệm vụ cung cấp một sự hiểu biết tương đối có hệ thống về khuôn mẫu ứng

xử trong gia đình Việt Nam Nhiệm vụ này, đòi hỏi đề tài phải làm rõ, nói cách

Trang 38

khác là phải hệ thống hóa được một số đặc điểm quan trọng của khuôn mẫu ứng xử trong gia đình Việt Nam truyền thống làm cơ sở xuất phát điểm để chỉ ra sự vận hành và biến đổi của khuôn mẫu ứng xử trong gia đình Việt Nam hiện đại dưới tác động của những biến đổi kinh tế xã hội, của quá trình CNH, HĐH và HNQT

Về phương pháp nghiên cứu, một số tác giả dựa trên sự chiêm nghiệm của bản thân cung cấp cho người đọc những tri thức chung (như Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Toan Ánh, ) Một số tác giả dựa trên các các quan sát thực tế cũng như các sự kiện lích sử, phong tục tập quán quan sát được, đưa ra những nhận định có tính chất định tính, không chú trọng về mặt định lượng (như Từ Chi, Trần Quốc Vượng, Insun Yu ) Sự thiếu vắng cách tiếp cận định lượng không khỏi gây khó khăn cho người đọc trong việc nhận thức về mức độ phổ biến hay không phổ biến của hiện tượng cũng như sự khác biệt giữa các nhóm xã hội về hiện tượng được nghiên cứu Trong những thập kỷ gần đây, ở nước ta đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm về mặt định lượng nhưng cũng chưa có công trình nghiên cứu thực nghiệm nào riêng về khuôn mẫu ứng xử trong gia đình

Từ thực tế trình bày trên đây, tôi đề xuất nghiên cứu đề tài Biến đổi khuôn mẫu

ứng xử trong gia đình người Việt Nghiên cứu này là sự tiếp nối kết quả nghiên cứu

của các tác giả đi trước, bổ sung và mở rộng kết quả nghiên cứu đã có Cách tiếp cận của tôi là dựa trên ngiên cứu xã hội học thực nghiệm Nghiên cứu tập trung vào hai hợp phần chủ yếu là khuôn mẫu ứng xử giữa vợ và chồng và khuôn mẫu ứng xử giữa các thế hệ qua nghiên cứu chọn mẫu tại một xã và một phường của tỉnh Thái Bình,chúng tôi hy vọng sẽ cung cấp một sự hiểu biết tương đối có hệ thống về chủ

đề khuôn mẫu ứng xử trong gia đình của người Việt

Trang 39

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm làm việc

Trong đề tài này các khái niệm cần được làm rõ là: gia đình, gia đình người

Việt, gia đình Việt Nam truyền thống, ứng xử, khuôn mẫu ứng xử, khuôn mẫu ứng

xử trong gia đình, biến đổi khuôn mẫu trong gia đình Riêng khái niệm “Khuôn mẫu ứng xử trong gia đình” cần được thao tác hóa để xác định rõ nội dung nghiên cứu và phương hướng thu thập thông tin nghiên cứu của đề tài

2.1.1.1 Khái niệm gia đình, gia đình người Việt, gia đình Việt Nam truyền thống

Gia đình

Gia đình là một thiết chế xã hội - văn hóa đặc thù đã tồn tại từ rất lâu đời, thực hiện các chức năng xã hội trong đó có việc lưu giữ làm thay đổi và chuyển giao văn hóa dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác Chính vì gia đình có vị trí và vai trò quan trọng đối với xã hội cho nên trong lịch sử nghiên cứu, khái niệm gia đình đã được nhiều học giả đề cập tới Mặc dù, trong nghiên cứu khoa học chúng ta đã thống nhất được những luận điểm cơ bản nhất, nhưng nhìn chung khái niệm gia đình vẫn có những quan điểm còn gây tranh luận trên thực tế, nội dung định nghĩa

về gia đình bao giờ cũng phụ thuộc vào góc độ tiếp cận của nhà nghiên cứu cũng như bối cảnh xã hội cụ thể

Theo John Demos: “Gia đình là một thiết chế hết sức cơ bản và bền vững, thường khi nó là một thứ mẫu chung hay một nền móng cho cả một nền văn hóa mà

Bên cạnh khái niệm gia đình là một thực thể thì một số tác giả quan niệm gia đình mang ý nghĩa văn hóa, Lê Ngọc Văn cho rằng trong tâm thức của người Việt, gia đình là một cộng đồng người Cộng đồng đó bao gồm cả người đang sống, cả người đã chết (tổ tiên) và cả những người sẽ được sinh ra Những người đang sống chỉ là một điểm nối, một mắt xích giữa những người đã chết và những người sẽ sinh

ra Họ có nhiệm vụ thờ cúng tổ tiên và tiếp nối tổ tiên (sinh con đẻ cái) Những mối quan hệ theo chiều dọc (quan hệ giữa các thế hệ được coi trọng hơn quan hệ theo chiều ngang (quan hệ vợ - chồng) Nói cách khác, quan hệ cha mẹ - con cái (quan

Trang 40

hệ thân tử) là thứ nhất, quan hệ vợ - chồng là thứ hai, trong đó quan hệ thứ nhất chi phối quan hệ thứ hai [69,tr.26].Tất nhiên, cách trình bày có tính trìu tượng của nhà nghiên cứu Lê Ngọc Văn chỉ có ý nghĩa về mặt nhận thức văn hóa gia đình Khái niệm gia đình ở đây không mang ý nghĩa là một đối tượng quản lý, một thực thể hiện hữu trong cơ cấu xã hội

Dẫu cho các nhận thức và lý giải chung về khái niệm gia đình có khác nhau thì theo cách chung nhất, phần lớn mọi người vẫn có thể hiểu một cách thông thường

rằng: Gia đình là một thiết chế xã hội liên kết con người lại với nhau nhằm thực

hiện việc duy trì nòi giống và chăm sóc con cái Các mối quan hệ gia đình còn được gọi là mối quan hệ họ hàng Đó là những sự liên kết ít nhất cũng là của hai người dựa trên cơ sở lý thuyết, hôn nhân và việc nhận con nuôi.[34,tr54]

Luật hôn nhân gia đình đưa ra định nghĩa: “ Gia đình là tập hợp những người

gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của luật này”[73]

Trong từ điển Bách khoa Việt Nam (2002) định nghĩa: Gia đình là thiết chế xã

hội dựa trên cơ sở kết hợp những thành viên khác giới, thông qua hôn nhân, để thực hiện các chức năng sinh học, kinh tế, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng Khi gia đình đã

có con cái thì các thành viên trong gia đình được liên kết với nhau vừa bằng quan

hệ hôn nhân ( không cùng huyết thống) vừa bằng quan hệ huyết thống ( theo dòng

mẹ hoặc dòng bố) Gia đình là một phạm trù lịch sử, thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội”[74, tr 84]

Qua một số định nghĩa đã nêu, tổng hợp lại, gia đình được xác định dựa trên các tiêu chí: là một nhóm người/cộng đồng người, liên kết với nhau bởi quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nghĩa dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống, có chung ngân sách và có đặc trưng văn hóa riêng Trong đề tài này, khái niệm gia đình được chúng tôi quan niệm theo năm tiêu chí trên Trong năm tiêu chí này, quan hệ hôn nhân và huyết thống là tiêu chí cơ bản nhất để nhận diện gia đình Quan hệ hôn nhân tạo nên mối quan hệ vợ chồng, quan

hệ huyết thống tạo nên mối quan hệ giữa các anh chị em và các thế hệ trong gia đình (bao gồm quan hệ giữa cha mẹ với con cái vị thành niên, quan hệ giữa con

Ngày đăng: 26/09/2017, 16:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w