Các em có nhu cầu nắm vững bài học không chỉ qua lời giảng của thầy cô giáo mà còn phải có các phương tiện hỗ trợ, minh họa như thí nghiệm, hình vẽ, mô hình, sơ đồ… Sử dụng phương pháp t
Trang 1TRUNG TÂM HỌC LIỆU HÓA HỌC TRỰC TUYẾN CHỌN LỌC-ĐẦY ĐỦ-CHẤT LƯỢNG
http://HOAHOC.edu.vn ─ http://LUUHUYNHVANLONG.com
“Học Hóa bằng sự đam mê”
Thầy LƯU HUỲNH VẠN LONG (Giảng viên Trường ĐH Thủ Dầu Một – Bình Dương)
TUYỂN CHỌN VÀ GIỚI THIỆU
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐẠT GIẢI CÁC CẤP MÔN
HÓA HỌC THPT
KHÔNG tức giận vì muốn biết thì KHÔNG gợi mở cho
KHÔNG bực vì KHÔNG hiểu rõ được thì KHÔNG bày vẽ cho
Khổng Tử
Trang 2SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI Đơn vị: Trường THPT Trần Phú
Mã số:
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN VÀO GIẢNG DẠY PHẦN HIĐROCACBON
Trang 3SƠ LƯỢC VỀ LÝ LỊCH KHOA HỌC
I/ THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN :
1 Họ và tên : Nguyễn Thị Phương Dung
2 Ngày, tháng, năm sinh : 25/10/1976
8 Đơn vị công tác : Trường THPT Trần Phú
II/ TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO :
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất : Cử nhân Hóa học
- Năm nhận bằng : 1999
- Chuyên ngành đào tạo : Hóa học
III/ KINH NGHIỆM KHOA HỌC :
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm
- Số năm kinh nghiệm : 12 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây :
1 Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học sinh học yếu môn Hóa
2 Một số phương pháp giải nhanh các bài toán trắc nghiệm hóa học
3 Tạo hứng thú học tập môn Hóa bằng cách mở rộng kiến thức thực tế
Trang 4SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN VÀO GIẢNG DẠY
PHẦN HIĐROCACBON – LỚP 11
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo ở học sinh dưới tác động, ảnh hưởng của giáo viên: thầy có vai trò chủ đạo, điều khiển, còn trò đóng vai trò tích cực, chủ động nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học Môn hóa học là môn khoa học thực nghiệm, vì thế, hơn bất kì môn học nào khác, việc kết hợp phương pháp trực quan bên cạnh phương pháp thuyết trình là tối cần thiết Để hình thành cho học sinh sự tin tưởng vào khoa học, niềm say mê khi học môn hóa học, và cơ bản nhất là trang bị những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết trong thí nghiệm hóa học
Ngoài ra, học sinh cấp trung học phổ thông đang dần trưởng thành về nhân cách, vốn sống ngày càng phong phú Các em đã hiểu được vốn tri thức, kĩ năng, kĩ xảo rất cần thiết cho nghề nghiệp tương lai nên thái độ của học sinh đối với các môn học trở nên có lựa chọn hơn Các em có nhu cầu nắm vững bài học không chỉ qua lời giảng của thầy cô giáo mà còn phải có các phương tiện hỗ trợ, minh họa như thí nghiệm, hình vẽ, mô hình, sơ đồ…
Sử dụng phương pháp trực quan trong quá trình dạy hoá học là phương pháp dạy học rất quan trọng, góp phần quyết định cho chất lượng lĩnh hội môn hoá học
Chính vì vậy, tôi xin đưa ra chuyên đề : “ Sử dụng phương pháp trực quan vào
giảng dạy phần hiđrocacbon“
II TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1 Cơ sở lý luận:
1.1 Cơ sở khoa học:
1.1.1 Khái niệm phương pháp trực quan:
a) Định nghĩa: Phương pháp trực quan là phương pháp giáo viên dùng các phương tiện trực quan nhằm huy động các giác quan của học sinh tham gia vào quá trình nhận thức, làm cho việc tiếp thu kiến thức trở nên dễ dàng và sự ghi nhớ thêm bền vững và chính xác
b) Phân loại: Có 2 phương pháp trực quan cụ thể
- Phương pháp trình bày trực quan: Là phương pháp sử dụng phương tiện trực quan trước khi, trong khi và sau khi lĩnh hội tài liệu học tập mới; bao gồm:
+ Phương pháp minh họa: Là phương pháp dạy học trong đó giáo viên sử dụng các phương tiện nghe nhìn, các số liệu khoa học hay thực tế để minh họa cho bài giảng
+ Phương pháp biểu diễn thí nghiệm: Là phương pháp giáo viên tiến hành các thí nghiệm trên lớp, để học sinh theo dõi diễn biến của các hiện tượng khoa học
có tác động trực tiếp tức thời của giáo viên
Biểu diễn thí nghiệm là một dạng của phương pháp minh họa, sự khác biệt duy nhất của chúng là thay vì sử dụng đồ dùng trực quan, giáo viên biểu diễn thí nghiệm khoa học, giúp học sinh không những nắm được tri thức mà còn hình thành
Trang 5ý thức tìm tòi các phương pháp nhận thức, lòng yêu thích khoa học và thế giới quan khoa học
- Phương pháp quan sát: Là phương pháp giáo viên cho học sinh độc lập quan sát các sự vật hiện tượng của tự nhiên hay xã hội để chứng minh, khẳng định một luận điểm khoa học nào đó
1.1.2 Phương tiện trực quan:
Bao gồm: mọi dụng cụ, đồ dùng, thiết bị kỹ thuât từ đơn giản đến phức tạp dùng trong quá trình dạy học Với tư cách là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan ( vật chất và hiện tượng), nguồn phát ra thông tin về vật chất và hiện tượng
đó, làm cơ sở cho việc tạo thuận lợi cho sự lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh
Người ta thường chia các phương tiện trực quan trong dạy học hoá học thành
ba nhóm:
Nhóm thí nghiệm trong nhà trường
Nhóm đồ dùng trực quan như mẫu vật, hình vẽ, mô hình
Nhóm phương tiện kỹ thuật như: thiết bị nghe nhìn, phần mềm dạy học, các
kỹ thuật tin học ứng dụng trong dạy học hoá học
Trên thực tế thí nghiệm hoá học là dạng phương tiện trực quan giữ vai trò chính yếu trong quá trình dạy học hoá học
1.1.3 Vai trò của phương pháp trực quan trong quá trình dạy học :
a) Hướng dẩn và phát triển hoạt động nhận thức của học sinh:
b) Phát triển kĩ năng thực hành
c) Phát triển trí tuệ
d) Giáo dục nhân cách
1.1.4 Yêu cầu sử dụng của phương pháp trực quan trong dạy học
- Hình thức thứ nhất : Giáo viên dùng lời để hướng dẫn học sinh quan sát,
học sinh nhờ sự quan sát rút ra được những kiến thức về những tính chất có thể tri giác trực tiếp được của đối tượng quan sát Thí dụ : Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát dung dịch HCl để tự mình rút ra tính chất vật lí của nó
- Hình thức thứ hai : Giáo viên dùng lời nói hướng dẫn học sinh quan sát
các sự vật và các quá trình Trên cơ sở những kiến thức sẵn có của học sinh mà giáo viên hướng dẫn họ làm sáng tỏ và trình bày được những mối quan hệ giữa các hiện tượng mà họ không thể nhìn thấy được trong quá trình tri giác trực tiếp Thí
dụ : Giáo viên cho học sinh quan sát thí nghiệm C2H2 tác dụng với dung dịch AgNO3 trong NH3 Từ những điều tri giác được, các em chưa lý giải được bản chất của hiện tượng Giáo viên cần hướng dẫn học sinh khai thác, liên hệ các kiến thức
đã có với những kiến thức mới bổ sung để rồi tự mình rút ra kết luận, viết được phương trình phản ứng hoá học
- Hình thức thứ ba : Học sinh tiếp thu được các kiến thức về các hiện
tượng hay tính chất đơn giản của sự vật trước tiên từ lời của giáo viên, còn việc biểu diễn các phương tiện trực quan nhằm khẳng định hay cụ thể hoá các thông tin
mà giáo viên đã thông báo Thí dụ : Giáo viên mô tả tính chất vật lí của axit HCl,
mô tả đến đâu minh hoạ đến đó
Trang 6- Hình thức thứ tư : Trước tiên, giáo viên thông báo cho học sinh về các
tính chất, quá trình, định luật mà học sinh không thể nhận thức được bằng tri giác trực tiếp, sau đó giáo viên mới biểu diễn các phương tiện trực quan để minh hoạ cho thông báo bằng lời của mình Thí dụ : Giáo viên viết phương trình phản ứng
C2H2 tác dụng với dung dịch AgNO3 trong NH3 giải thích các chất tác dụng với nhau thế nào sinh ra sản phẩm là gì để cho học sinh hiểu Sau đó, giáo viên làm thí nghiệm minh hoạ để học sinh xem
* Hình thức thứ nhất và hình thức thứ hai thuộc về phương pháp nghiên cứu trong việc biểu diễn thí nghiệm Khi sử dụng hai hình thức này, hoạt động trí lực của học sinh đã được tăng cường, học sinh được tiếp thu kiến thức một cách chủ động
* Hình thức thứ ba và hình thức thứ tư thuộc về phương pháp minh hoạ trong việc biểu diễn thí nghiệm Khi sử dụng hình thức này, học sinh nghe, hiểu, ghi nhớ một cách thụ động
Tuy hình thức thứ nhất và hình thức thứ hai phát huy tính chủ động tích cực của học sinh hơn, nhưng hình thức thứ ba và thứ tư vẫn có điểm mạnh riêng Kinh nghiệm giảng dạy thực tế của giáo viên và thực nghiệm sư phạm kiểm chứng để so sánh đã chứng minh rằng kiến thức của học sinh có được nhờ được học theo hình thức thứ nhất và thứ hai bền vững hơn so với kiến thức mà học sinh có được nhờ được học theo hình thức thứ ba và thứ tư Tuy nhiên, muốn có kết quả giảng dạy tốt thì người giáo viên cần lựa chọn linh hoạt hình thức nào cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể Những hoàn cảnh cụ thể đó là : trình độ thực tế của học sinh, sự chuẩn
bị của giáo viên về kiến thức cho học sinh, mức độ phức tạp của kiến thức chứa đựng trong thí nghiệm Giáo viên cũng có thể biểu diễn thí nghiệm trong bài ôn tập, bài rèn luyện
1.1.5 Yêu cầu khi sử dụng các phương tiện trực quan trong dạy học hóa học
a) Yêu cầu khi sử dụng các thí nghiệm :
- Phải đảm bào an toàn tuyệt đối :
Tuân theo các quy định về bào đảm an toàn
Tránh dùng các thí nghiệm có chất độc, gây nổ hay gây ô nhiễm
- Thí nghiệm phải thành công :
Tránh những thí nghiệm khó, không thành công
Tiến hành làm thử nhiều lần trước khi làm trên lớp
Nên chuẩn bị bộ dụng cụ dự trữ để khi không thành công có thể làm lại ngay Đồng thời phải cùng với học sinh tìm ra nguyên nhân thí nghiệm that bại
- Đảm bảo học sinh quan sát đầy đủ :
Chọn thí nghiệm có kết quả rõ ràng, tiêu biểu
Sử dụng lượng hoá chất hợp lí
Dụng cụ thí nghiệm đơn giản, có tính khoa học và mĩ thuật
- Kết hợp chặt chẽ thao tác thí nghiệm với lời giảng giải Số lượng thí nghiệm trong một bài nên vừa phải, nhấn mạnh trọng tâm của bài học
b) Yêu cầu khi sử dụng đồ dùng trực quan :
Trang 7- Lựa chọn đồ dùng trực quan để sử dụng trong bài học phải chú ý đến thời gian và khả năng tiếp thu của học sinh Chỉ nên dùng phương tiện trực quan để phục vụ cho trọng tâm bài giảng
- Để tránh cho học sinh mất tập trung vào bài giảng, giáo viên cất gọn đồ dùng trực quan, khi nào dùng mới lấy ra
- Đồ dùng trực quan phải có kích thước đủ lớn để tất cả học sinh đều quan sát được Đồ dùng nên đơn giản, gọn gàng, gây chú ý, đảm bảo tính mĩ thuật và tính khoa học
- Phải biết phối hợp giữa việc sử dụng đồ dùng trực quan với lời giảng bài Giáo viên có thể dẫn dắt, đặt câu hỏi để học sinh tập trung quan sát
1.2 Thực trạng dạy học môn hóa học ở trường THPT Trần Phú:
a) Thuận lợi :
- Trong quá trình giảng dạy môn hóa, giáo viên đều cố gắng thay đổi phương pháp giảng dạy của mình theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh thông qua các phương pháp như : phương pháp trực quan, phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp vấn đáp…
- Giáo viên đã có sử dụng các đồ dùng và phương tiện dạy học như thí nghiệm, mô hình, tranh … và từng bước ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hóa học
- Học sinh có chú ý nghe giảng, tập trung quan sát thí nghiệm, suy nghĩ trả lời các câu hỏi do giáo viên đặt ra
- Học sinh tích cực thảo luận nhóm và đã đem lại hiệu quả trong quá trình lĩnh hội kiến thức
- Học sinh yếu kém đã và đang cố gắng nắm bắt các kiến thức cơ bản thông qua các hoạt động học như : thảo luận nhóm, vấn đáp, quan sát thực hành thí nghiệm, đọc sách giáo khoa
- Trường có phòng thực hành thí nghiệm mới với dụng cụ thí nghiệm tương đối đầy đủ
b) Khó khăn :
- Trong một số ít tiết học, giáo viên còn sử dụng phương pháp dạy học
“thầy nói, trò nghe” Giáo viên chưa khai thác hết các đồ dùng dạy học, các thí nghiệm trực quan
- Do đầu vào thấp, cho nên học sinh có khả năng tư duy yếu, việc quan sát thí nghiệm để trả lời một số câu hỏi tổng hợp, phân tích ,giải thích …còn rất lúng túng
* Vì vậy, để khắc phục các nhược điểm trên, để tạo hứng thú trong việc học môn Hóa học thì việc sử dụng phương pháp trực quan trong quá trình giảng dạy là cần thiết
2 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
Trang 8Trong quá trình dạy học, các phương tiện trực quan sẽ kích thích hứng thú học tập, tìm hiểu của học sinh, tạo ra động cơ học tập đúng đắn, rèn luyện thái độ tích cực đối với việc học Dựa vào đồ dùng dạy học như thực nghiệm hóa học, giáo viên sẽ cung cấp cho học sinh những kiến thức chính xác, bền vững, giúp các em kiểm nghiệm lại tính đúng đắn của lý thuyết, từ đó nhận ra tính đúng đắn của khoa học
Ngoài ra, khi sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, các phương tiện trực quan cùng với phương pháp dẫn dắt của giáo viên sẽ giúp học sinh phát triển óc quan sát, sự
tò mò khoa học và khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh
Một số biện pháp sử dụng phương pháp trực quan theo hướng tích cực hóa hoạt động học của học sinh:
a) Đối với các tiết học bài mới:
- Phần cấu tạo của các chất: sử dụng hình vẽ, mô hình để giúp học sinh hiểu
rõ cấu tạo của các chất
- Phần tính chất vật lí: sử dụng mẫu vật, hình vẽ để giúp học sinh có thể nhận biết được dạng tồn tại của chất đó trong tự nhiên hay trong đời sống
+ Trong phòng thí nghiệm: Làm thí nghiệm minh họa (nếu có thể)
+ Trong công nghiệp: Dùng các loại sơ đồ điều chế, sơ đồ sản xuất
- Phần ứng dụng: Sử dụng hình vẽ hay các loại băng hình để trình bày về những ứng dụng trong thực tế Có thể phối hợp với các câu hỏi thảo luận để các em
có thề đóng góp cho bài học
- Tổng kết bài học: có thể dùng các loại bảng, sơ đồ
b) Đối với các tiết ôn tập:
- Sử dụng các loại bảng, sơ đồ
VÍ DỤ: SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN VÀO GIẢNG DẠY MỘT
SỐ BÀI THUỘC PHẦN HIĐRÔCACBON - LỚP 11
* Ghi chú : Mỗi bài của phần này được chia làm 2 mục, mục thứ nhất là giáo
án, mục thứ hai là hướng dẫn sử dụng phương tiện trực quan vào mỗi tiết học
Trang 9
Viết các phương trình hoá học biểu diễn tính chất hoá học của ankan
Xác định công thức phân tử, viết công thức cấu tạo và gọi tên
Tính thành phần phần trăm về thể tích và khối lượng ankan trong hỗn hợp khí, tính nhiệt lượng của phản ứng cháy
II Trọng tâm:
Đặc điểm cấu trúc phân tử của ankan, đồng phân của ankan và tên gọi tương
ứng
Tính chất hoá học của ankan
Phương pháp điều chế metan trong phòng thí nghiệm
III Chuẩn bị:
GV: Mô hình phân tử butan; bật lửa gas dùng để biểu diễn thí nghiệm phản ứng cháy
HS: Ôn lại lí thuyết về đồng đẳng, đồng phân, loại phản ứng và cách viết
IV Phương pháp: Trực quan, đàm thoại, phát vấn
V Tiến trình giảng dạy:
1 Ổn định lớp: Kiểm tra sĩ số, nắm tình hình lớp
2 Học bài mới:
TIẾT 37
Hoạt động 1:Giới thiệu hidrocacbon no
- Hidrocacbon no là hidrocacbon mà trong phân tử chỉ có liên kết đơn
- Ankan là những hidrocacbon no không có mạch vòng
I ĐỒNG ĐẲNG, ĐỒNG PHÂN, DANH PHÁP:
Trang 10Hoạt động 2:
1 Dãy đồng đẳng ankan:
GV hướng dẫn HS trả lời các câu hỏi ôn lại
khái niệm về đồng đẳng
- GV: Nêu khái niệm về đồng đẳng
- HS nhắc lại khái niệm đồng đẳng
- GV: Nếu biết chất đồng đẳng đầu tiên của
dãy ankan là CH4, em hãy lập công thức các
butan và nêu đặc điểm
cấu tạo của nó ?
- HS: Nguyên tử C tạo được 4 liên kết đơn
hướng từ nguyên tử C ra 4 đỉnh của một tứ
diện đều Các ngtử C không cùng nằm trong
một đường thẳng (là đường gấp khúc, trừ
C2H6)
* Vd : CH4, C2H6, C3H8 lập thành dãy đồng đẳng ankan
→ CTTQ : CnH2n + 2 với n ≥ 1
* Phân tử chỉ chứa liên kết đơn (σ)
* Mỗi C liên kết với 4 nguyên tử khác → tứ diện đều
* Mạch cacbon gấp khúc (trừ
C2H6)
Hoạt động 3:
2 Đồng phân:
- GV đặt câu hỏi: Với ba chất đầu dãy đồng
đẳng, em hãy viết CTCT cho các chất đó
Các chất này có một hay nhiều CTCT mạch
(2) CH3-CH(CH3)-CH3
Trang 11CH3CH2CH2CH2CH3 3 2 3
| 3
CH CH CH CH CH
CH
CH
- GV hướng dẫn HS phân biệt các trật tự sắp
xếp cấu trúc của chất đó (lưu ý HS tránh viết
các cấu trúc trùng lặp nhau, chú ý đến trình
tự viết CTCT các đồng phân)
Hoạt động 4:
3 Danh pháp:
- GV giới thiệu bảng 5.1 SGK trang 111
- HS rút ra nhận xét về đặc điểm trong tên
gọi của ankan và gốc ankyl
- GV giới thiệu quy tắc gọi tên các ankan
mạch nhánh theo danh pháp thay thế:
liền chữ, có dùng chữ đi, tri và têtra cho 2
hoặc 3 nhánh giống nhau)
- GV giới thiệu một chất có tên thông
thường
GV giới thiệu bậc Cacbon
- Các ankan đều có tận cùng là: an
- Tên gốc ankyl: Tên ankan tương ứng bằng cách đổi an → yl
a) Danh pháp thay thế (các ankan
mạch nhánh):
Bước 1: Chọn mạch C dài nhất, nhiều nhánh nhất làm mạch chính Bước 2: Đánh số nguyên tử C mạch chính bắt đầu từ phía gần nhánh nhất
Bước 3: Gọi tên mạch nhánh (nhóm ankyl) –số vị trí nhánh – tên nhánh tên ankan tương ứng của mạch chính
b) Danh pháp thông thường:
Có một nhóm CH3 ở C thứ 2 đọc là iso… thí dụ:
Trang 12C C
C C C
1 3
1 4
1 1
Hoạt động 5:
II TÍNH CHẤT VẬT LÍ:
- GV yêu cầu HS quan sát bảng 5.1 (SGK),
nhận xét quy luật biến đổi các tính chất sau
- Khi phân tử khối tăng, Tnc, T sôi, khối lượng riêng cũng tăng theo
- Các ankan đều nhẹ hơn nước và không tan trong nước, tan nhiều trong các dung môi hữu cơ
Kiểm tra bài cũ
- GV: Nêu câu hỏi:
Viết CTTQ của dãy đồng đẳng ankan?
Viết CTCT các đồng phân của C5H12 và gọi
- GV yêu cầu HS đọc SGK và đưa ra những
nhận xét chung về đặc điểm cấu tạo và tính
chất hoá học của ankan
Trang 13ứng thế
- HS: Là phản ứng trong đó một hoặc nhóm
nguyên tử trong phân tử bị thay thế bởi một
hoặc nhóm nguyên tử khác
- GV: Nêu quy tắc thế trong phân tử metan:
Thay thế lần lượt từng nguyên tử H
GV yêu cầu HS xác định bậc C trong phân
tử propan và viết PTHH pứ thế kèm theo %
- GV cho HS so sánh số mol CO2 với số
mol H2O tạo thành và kết luận
GV bổ sung: Phản ứng cháy là pư oxi hóa
hoàn toàn Khi thiếu oxi, pư cháy ankan
xảy ra không hoàn toàn va sản phẩm có thể
có nhiều chất khác như CO, C, HCHO, …
CnH2n+2 +3n 1
2
O2 t0nCO2 +
(n+1)H2O Nhận xét: n CO n H O
2
2
Hoạt động 5:
IV ĐIỀU CHẾ
- GV : Cho học sinh quan sát sơ đồ điều
chế CH4 trong PTN Và viết PTHH điều
chế CH4
1 Trong phòng thí nghiệm
CH3COONa + NaOH CaO ,t0 CH4
+ Na2CO3
Trang 14- GV thông báo: Chưng cất phân đoạn dầu
mỏ thu được các ankan ở các phân đoạn
khác nhau
Từ khí thiên nhiên và khí mỏ dầu cũng thu
được các ankan
2 Trong công nghiệp
- Chưng cất phân đoạn dầu mỏ
- Từ khí thiên nhiên và khí mỏ dầu
Hoạt động 6:
V ỨNG DỤNG CỦA ANKAN
- GV cho HS nghiên cứu SGK, kết hợp với
những kiến thức thực tiễn của đời sống để
thấy được ứng dụng của ankan trong 2 lĩnh
vực:
+ Làm nguyên liệu sản xuất
+ Làm nhiên liệu cung cấp năng lượng
- GV khắc sâu kiến thức trọng tâm cho HS
các nội dung sau:
+ Công thức chung, đặc điểm cấu tạo
ankan
+ Phản ứng đặc trưng của ankan là phản
ứng thế
+ Ứng dụng quan trọng của ankan là dùng
làm nguyên liệu và nhiên liệu
- HS về nhà làm bài tập 3, 4, 5, 6, 7 trang
115, 116 SGK
B SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN TRỰC QUAN :
1 Mô hình phân tử butan
2 Bảng 5.1 (SGK)
3 Bật lửa ga dùng để biểu diễn thí nghiệm phản ứng cháy
4 Sơ đồ điều chế khí CH4 trong phòng thí nghiệm
Trang 15 Cách gọi tên thông thường và tên thay thế của anken
Tính chất vật lí chung (quy luật biến đổi về nhiệt độ nóng chảy, nhiệt độ sôi, khối lượng riêng, tính tan) của anken
Phương pháp điều chế anken trong phòng thí nghiệm và trong công nghiệp ứng dụng
Tính chất hoá học : Phản ứng cộng brom trong dung dịch, cộng hiđro, cộng
HX theo quy tắc Mac-côp-nhi-côp ; phản ứng trùng hợp ; phản ứng oxi hoá
Kĩ năng
Quan sát thí nghiệm, mô hình rút ra được nhận xét về đặc điểm cấu tạo và tính chất
Trang 16 Viết được công thức cấu tạo và tên gọi của các đồng phân tương ứng với một công thức phân tử (không quá 6 nguyên tử C trong phân tử)
Viết các phương trình hoá học của một số phản ứng cộng, phản ứng trùng hợp cụ thể
Phân biệt được một số anken với ankan cụ thể
Xác định công thức phân tử, viết công thức cấu tạo, gọi tên anken
Tính thành phần phần trăm về thể tích trong hỗn hợp khí có một anken cụ thể
II Trọng tâm:
Dãy đồng đẳng và cách gọi tên theo danh pháp thông thường và danh pháp
hệ thống/ thay thế của anken
Tính chất hoá học của anken
Phương pháp điều chế anken trong phòng thí nghiệm và sản xuất trong công nghiệp
III Chuẩn bị:
- Mô hình phân tử etilen
- Ống nghiệm, cặp ống nghiệm, giá đỡ
- Bộ dụng cụ và hóa chất điều chế khí etilen, dung dịch brom, dung dịch thuốc tím
IV Phương pháp:Trực quan, đàm thoại, phát vấn
V Tiến trình giảng dạy:
1 Ổn định lớp: Kiểm tra sĩ số, nắm tình hình lớp
2 Học bài mới:
TIẾT 42
Hoạt động 1: Giới thiệu hidrocacbon không no
Khái niệm: hidrocacbon không no là những hidrocacbon trong phân tử có liên kết đôi C = C hoặc liên kết ba C C hoặc cả hai liên kết đó
a)Liên kết ;b)Mô hình rỗng;c)Mô hình đặc
HS nhận xét đặc điểm cấu tạo của anken, từ
đó rút ra khái niệm anken và lập công thức
phân tử chung của anken
- Anken là những hidrocacbon mạch hở trong phân tử có có một liên kết đôi C = C
- Etilen (C2H4)và các chất tiếp theo
C3H6, C4H8 … có tính chất tượng tự etilen lập thành dãy đồng đẳng etilen có công thức phân tử chung
CnH2n (n 2) được gọi là anken hay olefin
Hoạt động 3:
2 Đồng phân:
Trang 17- GV nêu vấn đề: Do trong phân tử anken
có một liên kết đôi C = C nên anken (n 4)
còn có thêm đồng phân vị trí liên kết đôi
- GV yêu cầu HS viết các đồng phân anken
của C4H8 và rút ra nhận xét
- GV cho HS quan sát mô hình phân tử
đồng phân của but-2-en dưới dạng cis và
dạng trans
cis-but-2-en trans-but-2-en
HS nhận xét rút ra kết luận về đồng phân
hình học
a) Đồng phân cấu tạo
Thí dụ: Các đồng phân anken của
- Nếu hai đầu mạch chính cùng nằm về một phía so với liên kết đôi
- GV cho thí dụ và yêu cầu HS rút ra cách
gọi tên thông thường
- GV yêu cầu HS nghiên cứu bảng 6.1 SGK
và thảo luận rút ra cách gọi tên thay thế
Trang 18- GV yêu cầu HS gọi tên các anken có công
thức C4H8 theo tên thay thế
nhất
3 Gọi tên: Số chỉ vị trí nhánh –
tên nhánh - tên mạch chính – số chỉ vị trí liên kết đôi – en
GV yêu cầu HS nghiên cứu bảng 6.1 SGK
và nhận xét quy luật biến đổi các tính chất
sau của anken:
- Trạng thái
- Nhiệt độ sôi, nhiệt độ nóng chảy, khối
lượng riêng, độ tan
HS thảo luận, lần lượt trả lời các câu hỏi và
rút ra nhận xét:
- Trạng thái: C2H4 C4H8 : chất khí, từ C5H10 trở đi là chất lỏng hoặc rắn
- Khi phân tử khối càng tăng thì nhiệt độ nóng chảy, nhiệt độ sôi và khối lượng riêng càng tăng
- Các anken đều nhẹ hơn nước và
không tan trong nước
Kiểm tra bài cũ
- GV : Nêu câu hỏi
+ Anken là gì? Công thức chung