Mục tiêu nghiên cứu Xuất phát từ thực tiễn về sự linh hoạt trong chế độ kế toán khi lựa chọn các công cụ kế toán và những rủi ro trên TTCK Việt Nam, trên cơ sở lý luận và tổng quan các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN HÀ LINH
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN TẠI CÁC CÔNG TY
PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN (KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN & PHÂN TÍCH)
MÃ SỐ: 62.34.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HỮU ÁNH
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này là tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận án
Nguyễn Hà Linh
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Sau bốn năm học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, được
tiếp cận với những kiến thức mới và được trang bị những công cụ, phương pháp
nghiên cứu khoa học chuyên sâu, tôi đã hoàn thành luận án tiến sĩ chuyên ngành kế
toán, kiểm toán và phân tích
Kết quả đạt được ngày hôm nay là nhờ vào sự động viên, giúp đỡ cả về mặt vật
chất lẫn tinh thần từ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp cùng các thầy cô giáo, đặc biệt là
thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Hữu Ánh
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, đồng nghiệp, bạn bè và thầy giáo
hướng dẫn, những người đã luôn giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong cuộc sống cũng như trên con
đường nghiên cứu khoa học
Tôi xin chân thành cảm ơn Công ty Vietstock và Ủy ban chứng khoán nhà nước
đã cung cấp cho tôi bộ số liệu quan trọng để hoàn thành mảng phân tích dữ liệu Tôi
xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp, các thầy cô đã hỗ trợ tôi những kiến thức quý báu về
kinh tế lượng, thống kê và những kiến thức chuyên ngành chuyên sâu để tôi hoàn thiện
được luận án của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận án
Nguyễn Hà Linh
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN LỜI CẢM ƠN MỤC LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC SƠ ĐỒ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Thiết kế nghiên cứu 4
1.7 Kết cấu của luận án 6
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 7
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP 8
2.1 Những vấn đề cơ bản về điều chỉnh lợi nhuận 8
2.1.1 Khái niệm điều chỉnh lợi nhuận 8
2.1.2 Động cơ điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị 9
2.1.3 Cơ sở của hành vi điều chỉnh lợi nhuận 12
2.2 Các lý thuyết vận dụng để nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp 15
2.2.1 Lý thuyết kế toán thực chứng 15
2.2.2 Lý thuyết đại diện 20
2.2.3 Lý thuyết thông tin bất đối xứng 24
2.3 Một số mô hình đo lường điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp 28
2.3.1 Mô hình Healy (1985) 29
2.3.2 Mô hình DeAngelo (1986) 30
2.3.3 Mô hình Jones (1991) 31
2.3.4 Mô hình của Dechow, Sloan & Sweeney (1995) 32
2.3.5 Mô hình của Kothari, Leone & Wasley (2005) 33
2.3.6 Mô hình của Rahman & Shahrur (2008) 34
Trang 32.4 Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận
của doanh nghiệp 39
2.4.1 Các nhân tố thuộc đặc điểm doanh nghiệp 40
2.4.2 Các nhân tố thuộc đặc điểm quản lý – kiểm soát 45
2.4.3 Khoảng trống nghiên cứu 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 60
3.1 Xây dựng giả thuyết khoa học 60
3.1.1 Giả thuyết về các nhân tố thuộc đặc điểm doanh nghiệp 61
3.1.2 Giả thuyết về các nhân tố thuộc đặc điểm quản lý - kiểm soát 63
3.2 Phương pháp nghiên cứu 66
3.2.1 Xây dựng phương trình hồi quy bội 66
3.2.2 Chọn mẫu và thu thập dữ liệu 70
3.2.3 Phương pháp sử dụng trong các mô hình hồi quy 70
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 73
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐẾN HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN TẠI CÁC CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 74
4.1 Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam và vấn đề điều chỉnh lợi nhuận 74
4.2 Thống kê mô tả và mối tương quan giữa các biến nghiên cứu 77
4.2.1 Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 77
4.2.2 Mối quan hệ tương quan giữa các biến nghiên cứu 81
4.3 Kết quả thực hiện phân tích đơn biến (Univariate Analysis) 83
4.4 Kết quả thực hiện phân tích nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 86
4.4.1 Kết quả hồi quy theo mô hình bình phương bé nhất OLS 87
4.4.2 Kết quả hồi quy theo mô hình ảnh hưởng cố định FEM 90
4.4.3 Kết quả hồi quy theo mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên REM 93
4.4.4 Kiểm định Hausman, giả thiết về tự tương quan và phương sai không đổi 96
4.4.5 Kết quả hồi quy FEM theo sai số chuẩn vững (robust SE) 97
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 101
CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, CÁC KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 102
5.1 Phân tích, so sánh giữa các mô hình hồi quy 102
5.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu của mô hình được lựa chọn 105
5.2.1 “Hệ số nợ” (DEBT) và điều chỉnh lợi nhuận (DA) 105
5.2.2 “Hiệu quả tài chính” (PERF) và điều chỉnh lợi nhuận (DA) 106
5.2.3 “Quy mô công ty” (SIZE) và điều chỉnh lợi nhuận (DA) 107
5.2.4 “Quy mô hội đồng quản trị” (BOARD) và điều chỉnh lợi nhuận (DA) 108
5.2.5 “Cấu trúc sở hữu” (OWN) và điều chỉnh lợi nhuận (DA) 109
5.2.6 “Kiểm toán độc lập” (AUDIT) và điều chỉnh lợi nhuận (DA) 110
5.2.7 “Số lượng thành viên HĐQT độc lập” (IDV) và điều chỉnh lợi nhuận (DA) 111
5.2.8 “Sự kiêm nhiệm CEO và chủ tịch HĐQT” (DUAL) và điều chỉnh lợi nhuận (DA) 112
5.3 Một số khuyến nghị 113
5.3.1 Khuyến nghị đối với nhà đầu tư 113
5.3.2 Khuyến nghị đối với doanh nghiệp 115
5.3.3 Khuyến nghị đối với các cơ quan chức năng 118
5.3.4 Khuyến nghị đối với nhóm đối tượng khác 120
5.4 Những đóng góp của luận án 120
5.4.1 Về mặt khoa học và lý luận 120
5.4.2 Về mặt thực tiễn 121
5.5 Những hạn chế của luận án 122
5.6 Hướng nghiên cứu tiếp theo 122
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 124
KẾT LUẬN 125
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO 129
PHỤ LỤC 146
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1 ĐCLN Điều chỉnh lợi nhuận
4 TTCK Thị trường chứng khoán
5 PAT Lý thuyết kế toán thực chứng
7 IA Lý thuyết thông tin bất đối xứng
8 HOSE Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
9 HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
10 FEM Mô hình hồi quy ảnh hưởng cố định
11 REM Mô hình hồi quy ảnh hưởng ngẫu nhiên
12 OLS Mô hình hồi quy bình phương bé nhất
13 ROE Sức sinh lời của vốn chủ sở hữu
20 PERF Hiệu quả tài chính
22 OWN1 Cấu trúc sở hữu (Tỷ lệ sở hữu nhà nước)
23 OWN2 Cấu trúc sở hữu (Tỷ lệ sở hữu nước ngoài)
24 AUDIT Kiểm toán độc lập
26 IDV Số lượng thành viên HĐQT độc lập
27 DUAL Sự kiêm nhiệm CEO và chủ tịch HĐQT
28 TNDN Thu nhập doanh nghiệp
Trang 5DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU
BẢNG
Bảng 2.1 Tổng kết các công trình nghiên cứu đo lường điều chỉnh lợi nhuận 36
Bảng 2.2 Tổng kết các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận 54
Bảng 3.1 Định nghĩa và cách thức đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu 68
Bảng 4.1 Thị trường tài chính tính theo GDP tại một số quốc gia năm 2015 74
Bảng 4.2 Thống kê mô tả các biến thuộc đặc điểm doanh nghiệp 77
Bảng 4.3 Thống kê mô tả các biến thuộc đặc điểm quản lý - kiểm soát 78
Bảng 4.4 Thống kê mô tả biến phụ thuộc DA 80
Bảng 4.5 Ma trận hệ số tương quan 82
Bảng 4.6 Phân tích từng biến số thuộc đặc điểm doanh nghiệp 83
Bảng 4.7 Phân tích từng biến số thuộc đặc điểm quản lý – kiểm soát 84
Bảng 4.8 Phân tích biến nhị phân, nhóm “quản lý – kiểm soát” 85
Bảng 4.9 Kết quả hồi quy theo OLS 87
Bảng 4.10 Kết quả hồi quy theo FEM 90
Bảng 4.11 Kết quả hồi quy theo REM 93
Bảng 4.12 Kiểm định Lagrangian Multiplier 94
Bảng 4.13 Kiểm định Hausman 96
Bảng 4.14 Kiểm định phương sai không đổi và tự tương quan 97
Bảng 4.15 Kết quả hồi quy FEM theo sai số chuẩn vững (robust SE) 98
Bảng 5.1 So sánh các mô hình OLS, FEM, REM, FEM (robust SE) 102
Bảng 5.2 Bảng tổng hợp và so sánh với giả thuyết đưa ra 105
BIỂU Biểu 4.1 Thống kê tình hình chênh lệch lợi nhuận sau kiểm toán từ 2012 – 2015 tại các Công ty niêm yết trên TTCKVN 76
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1 Khung nghiên cứu của luận án 5
Sơ đồ 3.1 Mô hình nghiên cứu 61
Trang 6CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chế độ kế toán Việt Nam hiện hành quy định kế toán doanh nghiệp phải thực hiện
dựa trên cơ sở dồn tích, tuy nhiên chế độ cũng đưa ra nhiều lựa chọn linh hoạt liên quan
tới việc ghi nhận doanh thu và chi phí Vì thế, nhà quản lý có thể vận dụng/lợi dụng
điểm này để có những tác động nhằm thay đổi thông tin trên báo cáo tài chính
Sự can thiệp của nhà quản lý tới thông tin kế toán làm xuất hiện một số khái niệm
như “sự phù phép thông tin kế toán” hay “sự bóp méo thông tin kế toán” Ngoài ra,
một khái niệm khác rất phổ biến trong các nghiên cứu thực chứng thể hiện sự can thiệp
của nhà quản lý đó là “điều chỉnh lợi nhuận”
Với sự xuất hiện của nhiều khái niệm về “điều chỉnh lợi nhuận”, các nghiên cứu
kế toán phân biệt ranh giới giữa việc thực hiện các thay đổi kế toán và ước tính kế toán
trong phạm vi các quy định, chuẩn mực với việc nhà quản lý làm sai lệch thông tin, vi
phạm nguyên tắc trung thực và hợp lý của kế toán
“Điều chỉnh lợi nhuận” là chủ đề có sức hút lớn trên phạm vi toàn cầu, từ các
cường quốc như Mỹ, Pháp…cho tới các nước đang phát triển như Malaysia, Việt Nam
Đầu thế kỷ 21, sự xuất hiện của một loạt các vụ bê bối và gian lận nghiêm trọng liên
quan tới việc điều chỉnh lợi nhuận và che giấu thông tin kế toán của Enron,
WorldCom, Tyco, Xerox, Global Crossing làm hâm nóng chủ đề kiểm soát hành vi
điều chỉnh lợi nhuận vốn từ lâu đã là sự quan tâm lớn của nhiều bên, từ các nhà đầu tư,
các nhà làm luật, các nhà nghiên cứu cho tới bản thân các công ty
Ngay tại Việt Nam, một số lượng lớn các công ty cổ phần với tình trạng chênh
lệch báo cáo tài chính hàng trăm tỷ đồng trước và sau kiểm toán cũng đem đến lo ngại
về việc không minh bạch trong công bố thông tin và tồn tại sự can thiệp mang chủ ý
của các nhà quản lý tới thông tin kế toán được công bố trên thị trường chứng khoán
(TTCK) Điển hình là Vinaconex năm 2009, lợi nhuận giảm 257 tỷ sau kiểm toán hay
việc Công ty cổ phần thép Việt Ý năm 2011 phải cộng thêm 111 tỷ đồng dự phòng
khiến lợi nhuận sau kiểm toán rơi từ 110 tỷ xuống 27,2 tỷ đồng (HoSE, 2012) Tình
trạng này ngày càng lan rộng và quy mô tăng lên, ví dụ Công ty CP thiết bị y tế Việt
Nhật (JVC) năm 2015, chênh lệch sau kiểm toán lên tới 622 tỷ đồng Theo báo cáo của
Worldbank (2013), xếp hạng về tính bảo vệ nhà đầu tư thì Việt nam ở vị trí rất thấp
157/189 quốc gia trên thế giới Trong số các đối tượng sử dụng thông tin kế toán thì
nhà đầu tư có thể là đối tượng chịu áp lực cao nhất về nhu cầu thông tin vì họ bỏ vốn đầu tư vào các công ty nhưng lại không trực tiếp sử dụng vốn vì thế việc nghiên cứu
về điều chỉnh lợi nhuận và từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm giúp họ có quyết định tốt hơn trong sử dụng vốn là việc làm cần thiết Nói chung, trong bối cảnh các gian lận tài chính khiến lòng tin của công chúng đối với các thông tin kế toán được công bố bị giảm sút như vậy thì việc nghiên cứu, tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận sẽ rất có ý nghĩa cho các bên tham gia thị trường kể cả các nhà làm luật và các nhà nghiên cứu (Beneish, 1999; Kothari và cộng sự, 2005) Nhận thức được tầm ảnh hưởng quan trọng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận (ĐCLN) tới chất lượng báo cáo tài chính, luận án muốn đi sâu phân tích những nhân
tố ảnh hưởng tới “điều chỉnh lợi nhuận” tại các công ty phi tài chính có cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dựa trên cơ sở của trường phái Lý thuyết
kế toán thực chứng (Positive Accounting Theory - PAT), Lý thuyết đại diện (Agency Theory - AT) và Lý thuyết thông tin bất đối xứng (Information Asymmetry - IA) Trên thế giới, rất nhiều nghiên cứu đã được tiến hành liên quan tới các nhân tố tác động tới điều chỉnh lợi nhuận, có những nghiên cứu tìm hiểu sự ảnh hưởng riêng lẻ của một vài nhân tố (Kim và cộng sự, 2003), nhưng cũng có nhiều nghiên cứu đề cập tới sự ảnh hưởng của một tổ hợp, một nhóm nhiều các nhân tố tới điều chỉnh lợi nhuận (Nassirzadeh và cộng sự, 2012; Charfeddine, Riahi và Omri, 2013; Fathi, 2013) Tại Việt Nam, những nghiên cứu thực chứng liên quan tới việc tìm kiếm, phát hiện các nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận là rất hạn chế, vì vậy luận án kỳ vọng đem lại những đóng góp cả về mặt lý luận và thực tiễn Một mặt, nghiên cứu mong muốn có thể làm phong phú thêm nguồn cơ sở dữ liệu cho trường phái thực chứng trong kế toán về điều chỉnh lợi nhuận Mặt khác, sự hiểu biết đầy đủ về những nhân tố có thể ảnh hưởng tích cực hoặc không tích cực tới điều chỉnh lợi nhuận sẽ giúp những người sử dụng thông tin kế toán đưa ra những quyết định hợp lý trong bối cảnh thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam mới hình thành còn nhiều bất cập
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xuất phát từ thực tiễn về sự linh hoạt trong chế độ kế toán khi lựa chọn các công
cụ kế toán và những rủi ro trên TTCK Việt Nam, trên cơ sở lý luận và tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, mục tiêu tổng quát của luận án là thực hiện nghiên cứu thực nghiệm nhằm làm rõ mối quan hệ giữa các nhân tố liên quan tới đặc điểm doanh nghiệp, đặc điểm quản lý – kiểm soát với hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại
Trang 7các công ty phi tài chính trên TTCK Việt Nam Để đạt được mục tiêu tổng quát trên,
luận án hướng tới việc giải quyết các mục tiêu cụ thể như sau:
Thứ nhất, khái quát, hệ thống hóa lý thuyết cơ sở của việc điều chỉnh lợi nhuận
và cơ sở lý luận liên quan tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty cổ phần
Thứ hai, tổng quan và lựa chọn mô hình phù hợp trong phát hiện hành vi điều
chỉnh lợi nhuận tại các Công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam
Thứ ba, thực hiện nghiên cứu thực chứng nhằm làm rõ mối quan hệ giữa các nhân
tố thuộc “đặc điểm công ty” (Hệ số nợ, Quy mô công ty, Hiệu quả tài chính,) với hành
vi “điều chỉnh lợi nhuận” tại các Công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam
Thứ tư, thực hiện nghiên cứu thực chứng nhằm làm rõ mối quan hệ giữa các nhân tố
thuộc cơ chế “quản lý - kiểm soát” (Quy mô hội đồng quản trị, Sự kiêm nhiệm CEO và
chủ tịch HĐQT, Số lượng thành viên HĐQT độc lập, Cấu trúc sở hữu, Kiểm toán độc lập)
với hành vi “điều chỉnh lợi nhuận” tại các Công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu, một số câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:
Câu hỏi 1: các mô hình ĐCLN phức tạp và có tính học thuật cao có phù hợp khi
áp dụng tại TTCK Việt Nam không?
Câu hỏi 2: Trên TTCK Việt Nam, việc các công ty có đặc điểm về “Hệ số nợ”
khác nhau thì có ảnh hưởng đáng kể tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay không?
Câu hỏi 3: Trên TTCK Việt Nam, khi “Hiệu quả tài chính” đạt được là khác nhau
thì điều này có ảnh hưởng đáng kể tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay không?
Câu hỏi 4: Trên TTCK Việt Nam, sự khác biệt về “Quy mô công ty” có ảnh
hưởng đáng kể tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay không?
Câu hỏi 5: Trên TTCK Việt Nam, “Quy mô HĐQT” có ảnh hưởng đáng kể tới
hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay không?
Câu hỏi 6: Trên TTCK Việt Nam, “Số lượng thành viên độc lập trong HĐQT” có
ảnh hưởng đáng kể tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay không?
Câu hỏi 7: Trên TTCK Việt Nam, “Sự kiêm nhiệm CEO và chủ tịch HĐQT” có
ảnh hưởng đáng kể tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay không?
Câu hỏi 8: Trên TTCK Việt Nam, “Cấu trúc sở hữu” có ảnh hưởng đáng kể tới
hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay không?
4
Câu hỏi 9: Trên TTCK Việt Nam, “Kiểm toán độc lập” có ảnh hưởng đáng kể tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay không?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là các nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014 Nghiên cứu loại bỏ các đối tượng khảo sát là các tổ chức tài chính, tín dụng, ngân hàng với lý do đây là các tổ chức đặc thù về cấu trúc tài chính và chịu
sự điều chỉnh chặt chẽ bởi các quy định riêng của chính phủ
Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt không gian: nghiên cứu này lựa chọn các Công ty Cổ phần phi tài chính trên TTCK Việt Nam (không bao gồm những đơn vị đặc thù như ngân hàng hay các tổ chức tín dụng)
- Về mặt thời gian: nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu là các báo cáo tài chính
của các công ty cổ phần phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn từ
2010 – 2014
- Về mặt nội dung: luận án nghiên cứu các nhân tố tác động tới điều chỉnh lợi
nhuận bao gồm nhóm nhân tố thuộc đặc điểm công ty và nhóm nhân tố thuộc quản lý - kiểm soát
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trong khoa học kế toán thực chứng Luận án đi từ những quan sát về thực tế kế toán, thu thập các báo cáo trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014 để kiểm chứng các giả thuyết liên quan tới sự ảnh hưởng của các nhân tố tới điều chỉnh lợi nhuận Các phương trình hồi quy được xây dựng và thông qua phần mềm thống kê STATA, dữ liệu sẽ được kiểm chứng với mô hình hồi quy bình phương bé nhất (OLS), mô hình hồi quy ảnh hưởng cố định (FEM), mô hình hồi quy ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) và mô hình hồi quy ảnh hưởng cố định FEM (robust SE) Kết quả thu được sẽ phục vụ việc đánh giá các giả thuyết mà luận án đặt ra
1.6 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu của luận án được trình bày tại Sơ đồ 1.1 Đầu tiên, luận án trình bày khung lý thuyết, tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến các nhân
Trang 8tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận, sau đó rút ra khoảng trống nghiên cứu Dựa vào
tổng quan các công trình nghiên cứu, các giả thuyết liên quan tới các nhân tố ảnh
hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận được đề xuất Tiếp theo, các mô hình hồi quy được sử
dụng để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu Kết quả thu thập được sẽ được thảo
luận, các khuyến nghị và kết luận sẽ được đưa ra
Sơ đồ 1.1 Khung nghiên cứu của luận án
(Nguồn: Tác giả xây dựng)
Khung lý thuyết, tổng quan các công trình trong
và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu
Khoảng trống nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận
và các nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận
Giả thuyết nghiên cứu
Các mô hình kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Điều chỉnh lợi nhuận
Các nhân tố thuộc đặc điểm DN
Các nhân tố thuộc đặc điểm quản
lý, kiểm soát
Thảo luận kết quả nghiên cứu, khuyến nghị
và kết luận
1.7 Kết cấu của luận án
Kết cấu của luận án được chia thành 5 chương, bao gồm:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương 1 giới thiệu cấu trúc của luận án và nêu những vấn đề chung như lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu cùng câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, giới thiệu phương pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp
Chương 2 giới thiệu những khái niệm cơ bản về điều chỉnh lợi nhuận, sự linh hoạt trong vận dụng chế độ kế toán để thực hiện điều chỉnh lợi nhuận, động cơ thực hiện điều chỉnh lợi nhuận tại các doanh nghiệp Ngoài ra, chương 2 cũng giới thiệu những lý thuyết nền móng liên quan tới điều chỉnh lợi nhuận và tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan tới các nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận, từ đó rút ra khoảng trống nghiên cứu của luận án
Chương 3: Xây dựng giả thuyết khoa học và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 xây dựng mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và xây dựng giả thuyết nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận
Chương 4: Thực trạng về sự tác động của các nhân tố đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Từ những dữ liệu thu thập được trên các báo cáo tài chính giai đoạn 2010 -
2014 của các công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam, các phương trình hồi quy được sử dụng để phân tích tác động của các nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty
Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị và kết luận
Chương 5 thảo luận kết quả nghiên cứu của luận án, chỉ ra những điểm chưa hoàn thiện và nêu định hướng nghiên cứu trong tương lai Đồng thời, luận án cũng đề xuất những khuyến nghị nhằm hướng tới việc hoàn thiện TTCK tại Việt Nam
Trang 9KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 là chương mở đầu và giới thiệu một số nội dung cơ bản của luận án
Phần đầu của chương đề cập đến tính cấp thiết của chủ đề nghiên cứu, mục tiêu
và câu hỏi nghiên cứu Nhận thức được tầm ảnh hưởng quan trọng của hành vi điều
chỉnh lợi nhuận (ĐCLN) tới chất lượng báo cáo tài chính và những tác động của
ĐCLN tới việc ra quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin kế toán tài chính,
luận án đặt mục tiêu nghiên cứu và làm rõ mối quan hệ giữa các nhân tố có thể tác
động tới hành vi ĐCLN tại các công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu được nêu ra và sau đó được cụ thể hóa bằng các câu hỏi nghiên
cứu liên quan tới các nhóm biến thuộc đặc điểm doanh nghiệp (Hệ số nợ, Hiệu quả tài
chính, Quy mô công ty) và các nhóm biến thuộc đặc điểm quản lý – kiểm soát (Quy
mô hội đồng quản trị, Sự kiêm nhiệm CEO và chủ tịch HĐQT, Số lượng thành viên
HĐQT độc lập, Cấu trúc sở hữu, Kiểm toán độc lập)
Phần tiếp theo giới thiệu về phương pháp nghiên cứu định lượng trong kế toán
thực chứng, giới thiệu về bộ số liệu thứ cấp được thu thập trên TTCK Việt Nam từ
2010 – 2014 và phương pháp phân tích sử dụng Ngoài ra, đối tượng và phạm vi
nghiên cứu (không gian, thời gian, nội dung) cũng được trình bày cụ thể trong chương
này Sơ đồ mô tả khung nghiên cứu của luận án và nội dung mô tả về kết cấu luận án
tại phần cuối chương giúp việc theo dõi nội dung chi tiết của luận án được rõ ràng
Như vậy, chương 1 đã làm nổi bật được sự cần thiết của chủ đề nghiên cứu và
đồng thời mô tả được thiết kế các bước tiến hành của luận án, hướng tiếp cận để đạt
được các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể đã đặt ra
8
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
VỀ HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP 2.1 Những vấn đề cơ bản về điều chỉnh lợi nhuận
2.1.1 Khái niệm điều chỉnh lợi nhuận
Lợi nhuận là chỉ tiêu thể hiện lượng giá trị gia tăng được tạo ra sau một kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Lợi nhuận tăng, giá trị doanh nghiệp được đánh giá cao và ngược lại, lợi nhuận giảm, giá trị doanh nghiệp cũng bị giảm (Lev, 1989) Khi lập báo cáo, nhà quản trị có quyền lựa chọn một số phương pháp kế toán hay ước tính kế toán, điều này giúp họ truyền tải những thông tin tài chính hữu ích cho người sử dụng thông tin nhưng đây cũng là kênh giúp họ thực hiện mục đích
cá nhân, hành động theo ý muốn chủ quan khi cung cấp thông tin tài chính – kế toán Với sự xuất hiện của nhiều khái niệm về điều chỉnh lợi nhuận, các nghiên cứu
kế toán phân biệt ranh giới giữa việc thực hiện các thay đổi kế toán và ước tính kế toán trong phạm vi các quy định, chuẩn mực với việc nhà quản lý làm sai lệch thông tin, vi phạm nguyên tắc trung thực và hợp lý của kế toán
Theo Healy và Wahlen (1999), “điều chỉnh lợi nhuận” là việc nhà quản trị sử dụng các đánh giá chủ quan của mình trong trình bày thông tin tài chính hay trong quá trình hình thành các giao dịch để thay đổi BCTC nhằm cung cấp thông tin sai lệch cho các cổ đông về tình hình tài chính, hoặc nhằm thay đổi các kết quả của các hợp đồng mà có điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu kế toán Cùng quan điểm trên, Schipper (1989) mô tả điều chỉnh lợi nhuận là một “sự can thiệp” có chủ ý vào quy trình công bố thông tin ra bên ngoài nhằm đạt được mục đích cá nhân trong một chừng mực nào đó
Ronen và Yaari (2007) thì lại bày tỏ quan điểm trung lập rằng “điều chỉnh lợi nhuận” không phải lúc nào cũng là xấu và rất khó để chúng ta có thể phân biệt giữa việc bóp méo lợi nhuận để thực hiện hành vi gian lận với việc các nhà quản trị luôn cố gắng điều tiết chi phí trong phạm vi dự toán để có thể đạt được mục tiêu về mặt doanh
số Đối với Davidson, Stikney và Weil (1987), “điều chỉnh lợi nhuận” là một quá trình
có chủ đích của nhà quản lý nhằm tạo lập các báo cáo tài chính với mức lợi nhuận mong muốn trong phạm vi bị ràng buộc bởi những nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận Trong khi đó, Watts và Zimmerman (1990) thì mô tả “điều chỉnh lợi
Trang 10nhuận” xảy ra khi các nhà quản lý biến đổi các số liệu kế toán trong hoặc vượt quá
giới hạn cho phép theo ý định chủ quan của họ Sự biến đổi này có thể làm tăng giá trị
doanh nghiệp hoặc cũng có thể vì hành vi cơ hội
Trên quan điểm của tác giả, “điều chỉnh lợi nhuận” là hành vi có thể được thực
hiện trong hoặc ngoài phạm vi cho phép của các quy định, chuẩn mực, chế độ kế toán
nhằm giúp nhà quản trị đạt được các mục tiêu về lợi nhuận thông qua các công cụ,
phương pháp kế toán
Tuy có sự đa dạng trong cách nhìn nhận về “điều chỉnh lợi nhuận”, nhưng, về
nguyên tắc, việc nhà quản trị thực hiện điều chỉnh lợi nhuận trong phạm vi các nguyên
tắc kế toán, vận dụng linh hoạt các chính sách kế toán hay ước tính kế toán là hoàn
toàn hợp pháp Tuy nhiên, nhiều khi việc điều chỉnh này đi quá giới hạn và làm thông
tin bị bóp méo
Là một chủ đề trung tâm của các nghiên cứu kế toán trong nhiều thập kỷ từ
những năm 1970 (Watts và Zimmerman, 1986), cho tới ngày nay, “điều chỉnh lợi
nhuận” vẫn là một đề tài nóng hổi và có thể nói tại Việt Nam thì những nghiên cứu về
chủ đề này vẫn còn rất hạn chế
2.1.2 Động cơ điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị
Nhà quản trị thường là những người nắm rõ tình hình và triển vọng của công ty
và họ hiểu rõ về cơ hội kinh doanh của công ty hơn các đối tượng bên ngoài, vì thế,
việc lựa chọn một chính sách kế toán hay một ước tính kế toán nằm trong phạm vi cho
phép nhằm duy trì sự ổn định công ty là hết sức cần thiết Ronen và Yaari (2007) nhấn
mạnh cần thận trọng khi phân biệt việc “điều chỉnh lợi nhuận” theo hướng có lợi và
việc “bóp méo lợi nhuận” để gian lận
Đề cập đến động cơ điều chỉnh lợi nhuận, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào
khía cạnh chủ quan, tư lợi của các nhà quản trị Beneish (2001) tổng kết và sắp xếp các
nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận thành hai nhóm, nhóm các nghiên cứu với động cơ
quản trị làm tăng lợi nhuận và nhóm các nghiên cứu với động cơ quản trị làm giảm lợi
nhuận Trong khi đó, Gumanti (1996), Yue (2004) khái quát các nghiên cứu điều chỉnh
lợi nhuận theo các bối cảnh kinh tế cụ thể của doanh nghiệp, ví dụ điều chỉnh lợi
nhuận trong điều kiện doanh nghiệp lần đầu chào bán cổ phiếu ra thị trường chứng
khoán (IPO), điều chỉnh lợi nhuận trong điều kiện nhà nước ban hành một chính sách
mới liên quan tới thuế hoặc viện trợ, trợ giúp từ chính phủ Phan Thị Thùy Dương
(2015) khái quát và phân tích động cơ điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm
yết tại Việt Nam với 3 động cơ phổ biến: thu hút nguồn tài trợ bên ngoài, chế độ lương
- thưởng dành cho nhà quản lý và động cơ nhằm tối thiểu hóa chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
Thông thường, động cơ điều chỉnh lợi nhuận hình thành khi có sự xuất hiện của một số sự kiện phát sinh tại doanh nghiệp Trong luận án này, tác giả khái quát một số động cơ điều chỉnh lợi nhuận phổ biến như sau:
- Điều chỉnh lợi nhuận nhằm thu hút đầu tư từ bên ngoài
Khi lần đầu tiên chào bán cổ phiếu niêm yết hoặc khi phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu, các công ty luôn muốn thu hút được sự quan tâm đông đảo từ phía các nhà đầu tư Điều này làm xuất hiện hiện tượng thông tin bất đối xứng giữa bên công ty và các nhà đầu tư tiềm năng, các nhà quản trị có thể đẩy lợi nhuận lên mức cao làm tăng tính hấp dẫn của cổ phiếu và do đó có thể thu hút được nhiều nhà đầu tư cũng như có thể bán được ở mức giá cao
Liên quan tới việc thu hút nguồn tài trợ từ bên ngoài khi lần đầu phát hành cổ phiếu ra công chúng - IPO, các nghiên cứu của Huỳnh Thị Vân (2012) tại Việt Nam, Gumanti (1996) tại Indonesia được tiến hành nhằm phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận khi IPO diễn ra Việc nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận khi phát hành thêm cổ phiếu cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm (Nguyễn Thị Uyên Phương, 2014, Phan Thị Thùy Dương, 2015) Xem xét một nghiên cứu khác của Haw và cộng sự (2005) tại Trung Quốc, theo quy định của Trung Quốc giai đoạn 1996-1998 thì những công ty có ROE từ trên 10% trong ba năm liên tiếp thì mới đủ điều kiện phát hành cổ phiếu Mặc dù nền kinh tế có suy giảm nhưng số lượng công ty đạt ROE 10% -11% lại tăng gấp 3 lần so với giai đoạn 1994 – 1995, hành vi điều chỉnh lợi nhuận đã được các công ty sử dụng thông qua các kỹ thuật tăng lợi nhuận để đủ các tiêu chuẩn yêu cầu về phát hành cổ phiếu
- Điều chỉnh lợi nhuận do chế độ lương thưởng dành cho nhà quản lý
Trong lý thuyết kế toán thực chứng, giả thuyết về kế hoạch thưởng đã nói rõ khi tiền thưởng của nhà quản lý gắn liền với hiệu quả hoạt động kinh doanh trong kỳ kế toán thì nhà quản lý nhiều khả năng sẽ sử dụng các thủ tục kế toán để tìm cách chuyển lợi nhuận về kỳ hiện tại Điển hình cho động cơ điều chỉnh lợi nhuận liên quan tới lương, thưởng là công trình nổi tiếng của Healy (1985)
Healy (1985) tiến hành tìm hiểu khi công ty thực hiện kế hoạch thưởng thì các nhà quản lý có tiến hành điều chỉnh các giá trị dồn tích và các thủ tục kế toán để tối
đa hóa tiền thưởng hay không? Healy (1985) đưa ra các mức giới hạn dưới và giới hạn trên theo đó nhà quản lý sẽ không được thưởng nếu lợi nhuận công ty nhỏ hơn
Trang 1111
mức giới hạn dưới hoặc chỉ được thưởng mức tối đa mặc dù công ty kinh doanh vượt
mức giới hạn trên đặt ra, kết quả nghiên cứu cho thấy nếu thu nhập doanh nghiệp gần
đạt mức giới hạn dưới hoặc vượt quá mức giới hạn trên thì các nhà quản lý sẽ tìm
cách lựa chọn các dồn tích làm giảm thu nhập nhằm chuyển thu nhập của năm nay
sang thu nhập của năm sau đó để được thưởng nhiều hơn vào năm sau và ngược lại,
nhà quản lý sẽ chọn các dồn tích làm tăng thu nhập khi không bị ràng buộc bởi các
giới hạn Holthausen và cộng sự (1995) tiếp nối công trình của Healy (1985) nhưng
chỉ tìm thấy bằng chứng về hiện tượng điều chỉnh giảm lợi nhuận tại mức giới hạn
trên mà không không thấy hiện tượng điều chỉnh giảm lợi nhuận khi lợi nhuận nhỏ
hơn mức giới hạn dưới
- Điều chỉnh lợi nhuận khi có các ưu đãi từ chính phủ (giảm thuế thu nhập
doanh nghiệp, nới lỏng các quy định…)
Một trong những động cơ khiến nhà quản trị tiến hành điều chỉnh lợi nhuận đó
là khi có các chương trình ưu đãi từ chính phủ như giảm thuế thu nhập doanh nghiệp,
nới lỏng các quy định hay dành các ưu đãi cho một số doanh nghiệp khó khăn…Các
doanh nghiệp sẽ tìm cách điều chỉnh lợi nhuận để đạt được những điều kiện yêu cầu
Jones (1991) tìm thấy bằng chứng cho việc có sự điều chỉnh giảm lợi nhuận
trong giai đoạn điều tra của Ủy ban thương mại quốc tế Mỹ để đủ điều kiện hưởng ưu
đãi từ chính phủ Trong khi đó, Key (1997) điều tra công ty hoạt động trong ngành cáp
TV thì chỉ ra rằng công ty có xu hướng làm giảm lợi nhuận khi nghe ngóng thông tin
từ Quốc hội về việc có thể sẽ bãi bỏ một số quy định trong ngành công nghiệp này
Nghiên cứu thực chứng của Nguyễn Thị Phương Thảo (2011) về việc các công ty niêm
yết có thực hiện điều chỉnh giảm lợi nhuận cho năm hiện tại nhằm chuyển dịch lợi
nhuận sang năm sau và tiết kiệm chi phí về thuế TNDN khi năm tiếp theo thuế suất
thuế TNDN giảm
- Động cơ điều chỉnh lợi nhuận trong một số tình huống khác
Bên cạnh những động cơ điều chỉnh lợi nhuận phổ biến như đề cập ở trên, trong
thực tế, các sự kiện kinh tế - chính trị - xã hội diễn ra rất đa dạng, vì thế hành vi điều
chỉnh lợi nhuận cũng được thực hiện với nhiều động cơ khác nhau Một số nghiên cứu
dưới đây thể hiện sự đa dạng của động cơ điều chỉnh lợi nhuận gắn với các sự kiện
phát sinh
DeAngelo (1986) kiểm chứng việc nhà quản trị thay đổi dồn tích khi họ tìm
cách mua lại toàn bộ cổ phiếu của các cổ đông Thông qua một số các kỹ thuật kế toán,
các nhà quản trị điều chỉnh giảm lợi nhuận nhằm giảm giá phải trả khi mua cổ phiếu
12
với mục đích tăng tài sản cá nhân Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của DeAngelo (1986) không ủng hộ giả thuyết về việc các nhà quản trị có xu hướng điều chỉnh giảm lợi nhuận công ty trước khi muốn mua lại toàn bộ cổ phần từ cổ đông Trong khi đó Perry và Williams (1994) cho kết quả ngược lại, họ tìm thấy bằng chứng của sự tồn tại hoạt động điều chỉnh lợi nhuận khi công ty mua lại cổ phiếu từ cổ đông, họ cũng nhấn mạnh rằng sự khác biệt về kết quả này so với DeAngelo (1986) là do sự khác nhau về mẫu điều tra chứ không phải do phương pháp Trueman (1990), trong bối cảnh nhà quản trị muốn trì hoãn việc công bố một thông tin xấu, điều chỉnh phần dồn tích được
sử dụng để tạm thời tránh việc ảnh hưởng đến uy tín doanh nghiệp Fern, Brown và Dickey (1994) điều chỉnh số liệu kế toán để đạt lợi nhuận kỳ vọng theo các dự đoán của các nhà phân tích hoặc để giảm thiểu việc vi phạm điều khoản hạn chế trong hợp đồng vay nợ (chia lãi nhiều hơn khi đưa lợi nhuận tương lai về kỳ hiện tại)
2.1.3 Cơ sở của hành vi điều chỉnh lợi nhuận
2.1.3.1 Cơ sở dồn tích trong kế toán
Trong phần này, luận án đưa ra khái niệm và phân tích ưu - nhược điểm của Kế toán dồn tích để từ đó giải thích sự phổ dụng của kỹ thuật dồn tích trong điều chỉnh lợi nhuận tại doanh nghiệp
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 1, các đơn vị khi lập báo cáo tài chính (trừ báo cáo lưu chuyển tiền tệ) thì phải lập trên cơ sở dồn tích Theo đó, mọi giao dịch kinh tế, tài chính sẽ được ghi nhận vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào việc đã thu tiền hay chưa
Kế toán trên cơ sở dồn tích có nhiều ưu điểm như việc đảm bảo và tuân thủ nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu - chi phí trong kỳ khi xác định lợi nhuận, giúp đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp một cách toàn diện thay vì chỉ quan tâm đến dòng thu và dòng chi tiền Ngoài ra, “cơ sở dồn tích” cũng đem lại sự linh hoạt trong vận dụng chính sách, ước tính kế toán Tuy nhiên, cũng chính cơ sở dồn tích này tạo điều kiện cho việc điều chỉnh lợi nhuận trong quá trình lập báo cáo, cung cấp thông tin kế toán tài chính
Các nguyên tắc kế toán và các quy định kế toán thì không thể thay đổi thường xuyên do vậy thay đổi các lựa chọn chính sách kế toán cũng vì thế mà không phải lúc nào cũng thực hiện được Từ giữa những năm 1980, các nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận tập trung vào tìm hiểu việc sử dụng giá trị dồn tích để tạo ảnh hưởng tới các báo cáo kế toán trở nên phổ biến
Trang 12Lý do khiến các nghiên cứu thực chứng về điều chỉnh lợi nhuận dựa trên cơ sở
dồn tích phát triển mạnh mẽ đó là: thứ nhất, dồn tích là nền tảng quan trọng của kế
toán tài chính vì vậy nhiều khả năng dồn tích sẽ được sử dụng để điều chỉnh lợi nhuận
thay vì tạo sự thay đổi trên thu nhập tính theo dòng tiền Lý do thứ hai là sử dụng dồn
tích sẽ tăng khả năng đánh giá ảnh hưởng của tổ hợp các lựa chọn kế toán thay vì chỉ
tìm hiểu sự ảnh hưởng của một lựa chọn riêng biệt (Watts và Zimmerman, 1990) Thứ
ba, so với điều chỉnh lợi nhuận thông qua việc thay đổi chính sách kế toán, sử dụng
các giá trị dồn tích thường dễ dàng hơn và khó phát hiện hơn (Yue, 2004)
Tóm lại, điều chỉnh lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích là một chủ đề thu hút sự
quan tâm của nhiều học giả trong những thập kỷ qua, tại cả các nước có TTCK phát
triển cũng như tại các quốc gia có TTCK mới hình thành (DeAngelo, 1986; Fathi,
2013; Phan Thị Thùy Dương, 2015)
2.1.3.2 Việc lựa chọn và vận dụng chính sách kế toán
“Chính sách kế toán” là những nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ
thể được doanh nghiệp áp dụng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính Chính sự
linh hoạt trong việc lựa chọn và vận dụng chính sách kế toán này đã tạo khoảng trống
cho các hành vi điều chỉnh lợi nhuận
a/ Chính sách kế toán: trên góc độ các nguyên tắc kế toán
Các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận là những nguyên tắc mà các
doanh nghiệp phải tuân thủ khi lập báo cáo, ví dụ các nguyên tắc kế toán cơ bản: cơ sở
dồn tích, hoạt động liên tục, giá gốc, phù hợp, nhất quán, thận trọng, trọng yếu Trong
quá trình vận dụng và tuân thủ các nguyên tắc này, một số nguyên tắc có thể ảnh
hưởng đến thông tin cung cấp ra bên ngoài, ví dụ: việc thay đổi thời điểm ghi nhận chi
phí doanh thu hay số kỳ phân bổ (dưới sự chi phối của nguyên tắc phù hợp) có thể ảnh
hưởng tới lợi nhuận báo cáo
b/ Chính sách kế toán: trên góc độ sự lựa chọn các phương pháp kế toán
Các phương pháp kế toán bao gồm: Phương pháp tính giá xuất kho, Phương
pháp tính khấu hao tài sản cố định, phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang, phương
pháp tính giá thành…
- Trong sản xuất và tính giá thành: mỗi doanh nghiệp có đặc điểm, quy trình
công nghệ…khác nhau, việc lựa chọn phương pháp tính giá thành, phương pháp đánh
giá sản phẩm dở dang sẽ cho kết quả khác nhau, từ đó ảnh hưởng tới giá vốn, lợi
nhuận trong kỳ
- Trong việc lựa chọn phương pháp tính giá xuất: Các phương pháp FIFO, LIFO, Bình quân hay Thực tế đích danh, thực chất các phương pháp này là các tính toán giả định về luồng chi phí phát sinh Trong một số điều kiện khi giá thị trường biến động, các phương pháp này có thể trở thành công cụ để tác động tới chi phí, giá vốn và ảnh hưởng tới lợi nhuận
- Trong việc lựa chọn phương pháp tính khấu hao: Trong các tài liệu liên quan đến chuẩn mực kế toán quốc tế IAS16/IAS38 (chuẩn mực kế toán về tài sản cố định hữu hình và vô hình), có 3 phương pháp tính khấu hao được đề cập là phương pháp đường thẳng, khấu hao theo sản lượng và khấu hao giảm dần Mỗi phương pháp tính khấu hao đều có thể tác động tới chi phí, giá thành, giá vốn, lợi nhuận của doanh nghiệp, do đó, việc lựa chọn phương pháp tính khấu hao sẽ ảnh hưởng tới việc ghi nhận chi phí và từ đó có tác động tới lợi nhuận doanh nghiệp
- Vận dụng phương pháp kế toán, nguyên tắc kế toán trong ghi nhận doanh thu
- chi phí: Kế toán trên cơ sở dồn tích cho phép doanh nghiệp lựa chọn thời điểm ghi nhận doanh thu, chi phí và tuân thủ nguyên tắc phù hợp Doanh thu và chi phí có thể được ghi nhận sớm hơn hoặc dịch chuyển về sau, điều này sẽ ảnh hưởng tới lợi nhuận của kỳ hiện hành, đây là hiện tượng của điều chỉnh lợi nhuận
c/ Chính sách kế toán: các ước tính kế toán
“Ước tính kế toán” là một giá trị gần đúng của một chỉ tiêu liên quan đến báo cáo tài chính được ước tính trong trường hợp thực tế đã phát sinh nhưng chưa có số liệu chính xác hoặc chưa có phương pháp tính toán chính xác hơn, hoặc một chỉ tiêu thực tế chưa phát sinh nhưng đã được ước tính để lập báo cáo tài chính (BCTC) + Các ước tính chỉ tiêu đã phát sinh, ví dụ: dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, trích khấu hao tài sản
cố định, chi phí trả trước, giá trị sản phẩm dở dang, doanh thu ghi nhận trước, doanh thu hợp đồng xây dựng dở dang
+ Các ước tính chỉ tiêu chưa phát sinh là dự phòng chi phí bảo hành, chi phí trích trước…
“Ước tính kế toán” là một giá trị gần đúng và được những người sử dụng thông tin rất quan tâm bởi khi đưa ra các ước tính này, người lập BCTC phải sử dụng các xét đoán nghề nghiệp mang nặng tính chủ quan Do đó, các công ty có thể lợi dụng những ước tính kế toán, tìm cách che giấu những thông tin quan trọng khi nó ảnh hưởng không tốt đến quyền lợi của họ
Trang 1315
Nói chung, “ước tính kế toán” được đánh giá là một công cụ đắc lực để điều
chỉnh lợi nhuận Một số thủ thuật điều chỉnh tăng mức lợi nhuận được sử dụng như
giảm mức khấu hao, giảm mức dự phòng, giảm giá hàng tồn kho, giảm dự phòng nợ
khó đòi, không ghi nhận chi phí khi tài sản bị giảm giá xuống dưới giá trị thuần, vốn
hoá các khoản chi phí không đủ điều kiện Thực chất, những “thủ thuật” này không
làm tăng lợi nhuận mà chỉ đơn thuần chuyển lợi nhuận của kỳ sau sang kỳ hiện tại và
chắc chắn quyết định của các nhà đầu tư, người sử dụng thông tin sẽ ít nhiều bị ảnh
hưởng Đây cũng chính là lý do vì sao tồn tại quan điểm cho rằng cần phải loại bỏ các
ước tính kế toán, nhưng cũng có nhiều quan điểm ủng hộ việc sử dụng ước tính kế
toán “Ước tính kế toán” vẫn là một công cụ hữu hiệu bởi nó mang lại một số lợi ích
nhất định
Tóm lại, sự tồn tại của các nguyên tắc kế toán và sự đa dạng trong lựa
chọn/thực hiện các phương pháp kế toán và ước tính kế toán có thể tạo khoảng trống
cho phép các doanh nghiệp thực hiện điều chỉnh lợi nhuận hoặc lợi dụng để điều
chỉnh, làm sai lệch thông tin Tuy vậy, việc tìm cách loại bỏ những khoảng trống này
(ví dụ như việc loại bỏ ước tính kế toán, các xét đoán chủ quan) là không khả thi và
không hiệu quả bởi muốn loại bỏ nó, phải xây dựng được một chế độ kế toán chi tiết
và chặt chẽ tới mức không có kẽ hở cho xét đoán chủ quan Thêm vào đó, kinh doanh
không giống như các khoa học khác, luôn tiềm ẩn yếu tố bất định, chế độ kế toán
“cứng nhắc” có thể ảnh hưởng tới các chính sách sản xuất, tài chính của doanh nghiệp
Nếu cả bên lập BCTC và bên sử dụng BCTC đều ý thức rõ về sự tồn tại của các xét
đoán chủ quan trong lập BCTC thì họ sẽ tính tới yếu tố này trong quá trình thoả thuận,
hợp tác và hạn chế được những rủi ro có thể xuất hiện
2.2 Các lý thuyết vận dụng để nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận của
doanh nghiệp
2.2.1 Lý thuyết kế toán thực chứng
Lý thuyết kế toán thực chứng (PAT) là một học thuyết kinh tế học tân cổ điển,
phát triển mạnh mẽ vào những năm 1970 - 1980 với đại diện là Watts và Zimmerman
(1986) Lý thuyết kế toán thực chứng mong muốn giải thích hiện thực kế toán thông
qua việc tìm hiểu nguyên nhân và để trả lời câu hỏi “tại sao?”, “như thế nào?”
Trường phái lý luận thực chứng về kế toán được phát triển bởi nhiều nhà nghiên
cứu trong đó Watts và Zimmerman (1986) là những nhà nghiên cứu tiên phong có
đóng góp lớn cho dòng lý thuyết này Theo Watts và Zimmerman (1986), nghiên cứu
16
kế toán thực chứng là những nghiên cứu thực nghiệm về kế toán phát triển trên cơ sở các giả định và các học thuyết của kinh tế học
2.2.1.1 Nội dung Lý thuyết kế toán thực chứng (PAT)
Dựa trên giả định của kinh tế học về hành vi con người, đó là các cá nhân thường có xu hướng tư lợi, hành động vì lợi ích bản thân (Watts và Zimmerman, 1986), PAT tìm hiểu mâu thuẫn trong mối quan hệ đại diện xuất hiện trong công ty cổ phần giữa một bên là chủ sở hữu vốn và một bên là các nhà quản lý công ty, từ đó giúp chúng ta giải thích lý do tại sao các nhà quản lý lại lựa chọn các phương pháp, các kỹ thuật, hay các chính sách kế toán khác nhau Khi tìm hiểu về mối quan hệ đại diện này, PAT sử dụng Lý thuyết đại diện (AT), một chìa khóa quan trọng cung cấp những lý giải cần thiết về mâu thuẫn giữa các bên tham gia thị trường, lý giải về hiện tượng thông tin bất đối xứng và rủi ro tiềm ẩn trong mô hình đại diện
Trong quan hệ đại diện giữa nhà đầu tư và nhà quản lý, nhà đầu tư muốn bảo vệ tài sản của mình trong khi bên quản lý chỉ là bên đại diện cho nhà đầu tư và trong một
số trường hợp họ sẽ có những hành động và quyết định mang tính cơ hội vì lợi ích cá nhân, điều đó sẽ làm ảnh hưởng tới quyền lợi cổ đông, đây là một trong những tồn tại của quan hệ đại diện PAT sẽ giúp chúng ta giải thích và dự đoán kết quả của sự ảnh hưởng này (Collin và cộng sự, 2009) Đồng thời PAT cũng đề cập đến hướng giải quyết những mâu thuẫn trong các quan hệ đại diện bằng việc kiểm soát thông qua các hợp đồng ràng buộc Một doanh nghiệp được xem là một liên kết pháp lý của các quan
hệ hợp đồng và hợp đồng ký kết giữa các bên là một giải pháp giúp công ty tối thiểu hóa các chi phí đại diện (Watts và Zimmerman, 1986)
PAT không những được xây dựng nhằm mục đích tạo lập cơ sở cho việc giải thích và dự đoán các hành vi, các sự kiện kế toán đã xảy ra mà còn mang tính chất dự đoán hiện tượng (Watts và Zimmerman, 1986; Wolk và cộng sự, 2008) Trong PAT, những quan sát về thực tế kế toán là những quan sát thực nghiệm nghĩa là sau khi xác định vấn đề cần nghiên cứu, hình thành các giả thuyết, dữ liệu sau đó được thu thập và được kiểm định bằng các phương pháp thống kê hay kinh tế lượng cao cấp Kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm này sẽ là cơ sở cho việc dự đoán các sự kiện và hiện tượng PAT có thể giúp các nhà xây dựng chính sách đưa ra các chính sách kế toán mới cho các sự kiện kinh tế mới phát sinh (Watts và Zimmerman, 1978, 1979) Trong PAT, có ba giả thuyết được sử dụng rất phổ biến trong các nghiên cứu thực chứng nhằm giải thích và dự đoán việc một công ty ủng hộ hay phản đối việc lựa chọn một phương pháp kế toán nào đó
Trang 141 Giả thuyết về kế hoạch thưởng
2 Giả thuyết về hệ số nợ/vốn chủ sở hữu
3 Giả thuyết về chi phí chính trị
Giả thuyết về kế hoạch thưởng cho rằng, khi tiền thưởng của nhà quản lý gắn
liền với hiệu quả hoạt động kinh doanh trong kỳ kế toán thì nhà quản lý nhiều khả
năng sẽ sử dụng các thủ tục kế toán để tìm cách chuyển lợi nhuận về kỳ hiện tại
Xuất phát điểm của giả thuyết này là mối quan hệ đại diện cơ bản giữa cổ đông
và nhà quản lý khi các cổ đông ủy quyền cho bên quản lý thực hiện một số nhiệm vụ
nào đó Các cổ đông (chủ sở hữu) thì luôn mong muốn tài sản của mình được đảm bảo
và sinh lời tốt nhất trong khi đây chưa chắc đã là mục tiêu của các nhà quản lý bởi họ
cũng luôn hành động vì lợi ích cá nhân trước nhất Vì thế, hợp đồng ký kết giữa hai
bên là cần thiết và cũng là giải pháp làm giảm chi phí của quan hệ đại diện
Giả thuyết về hệ số nợ/vốn chủ cho rằng, khi một công ty có ý định vi phạm
thỏa thuận vay nợ càng lớn thì nhiều khả năng công ty (cổ đông - nhà quản lý) sẽ tìm
cách lựa chọn thủ tục kế toán để chuyển lợi nhuận tương lai về kỳ hiện tại Mối quan
hệ đại diện thứ hai xuất hiện trong giả thuyết này một bên là các chủ nợ và một bên là
cổ đông - nhà quản lý
Khi tiến hành hoạt động vay vốn, thông thường, hợp đồng vay nợ sẽ được ký
kết với một số điều khoản hạn chế nhằm đảm bảo an toàn cho các chủ nợ, tránh việc
nhà quản lý (bên công ty) đầu tư vào các dự án gây rủi ro lớn, bán tài sản đảm bảo nợ,
chia cổ tức nhiều hay huy động thêm vốn để pha loãng nợ Tuy nhiên, những điều
khoản hạn chế vẫn có thể bị vi phạm, ví dụ khi tỷ lệ giới hạn về nợ/vốn chủ đề xuất
dựa vào số liệu kế toán thì nhà quản trị (nếu muốn huy động thêm vốn hoặc trả cổ tức
nhiều) thì họ sẽ có xu hướng nới lỏng tỷ lệ nợ bằng việc sử dụng các thủ tục kế toán để
chuyển lợi nhuận tương lai sang kỳ hiện tại, làm sai lệch thông tin và gây bất lợi cho
các chủ nợ
Giả thuyết về chi phí chính trị cho rằng, khi chi phí chính trị lớn thì nhà quản
lý nhiều khả năng sẽ sử dụng các thủ tục kế toán để tìm cách giảm lợi nhuận bằng cách
chuyển lợi nhuận hiện tại sang kỳ tương lai
Không phải sự thay đổi lựa chọn kế toán nào cũng có nguyên nhân từ các yếu tố
kinh tế, đôi khi yếu tố chính trị cũng tác động rất lớn Ví dụ khi chính phủ ban hành
một quy định mới hoặc một chính sách mới như việc đánh thuế cao hoặc chính sách
trợ giúp các công ty khó khăn thì các công ty này sẽ tìm cách thay đổi số liệu để giảm lợi nhuận, giảm số thuế phải nộp hoặc nhận được ưu đãi từ chính phủ
Lý thuyết kế toán thực chứng đi theo xu hướng quy nạp, đi từ quan sát thực tế kế toán, xây dựng giả thuyết, kiểm định và dự đoán những sự vật hiện tượng có thể chưa từng xuất hiện hoặc đã xuất hiện nhưng chúng ta chưa quan sát thấy trong thế giới tài chính và kế toán Đây là hướng nghiên cứu thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu với những đóng góp không nhỏ trên cả hai khía cạnh thực tế và lý luận
2.2.1.2 Vận dụng Lý thuyết kế toán thực chứng trong các nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận
Những nghiên cứu kế toán thực chứng đầu tiên là những nghiên cứu kế toán thực nghiệm ứng dụng các học thuyết kinh tế học xuất hiện vào những năm 1960 liên quan đến thị trường vốn, điển hình là nghiên cứu về dự đoán các rủi ro tài chính của (Beaver, 1968), nghiên cứu hành vi điều hòa lợi nhuận của Gordon, Horwitz và Meyers (1966) hay công trình của Ball và Brown (1968) đánh giá sự hữu ích của việc công bố thông tin lợi nhuận ảnh hưởng đến giá cổ phiếu
Các nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận cũng không nằm ngoài xu thế thực nghiệm, đây là một trọng tâm nghiên cứu của kế toán nhằm phát hiện, tìm hiểu và giải thích hiện tượng thay đổi lợi nhuận báo cáo khi các nhà quản lý hành động vì lợi ích cá nhân Những nghiên cứu liên quan tới thay đổi lợi nhuận có chủ ý cũng đã xuất hiện từ những năm 1960
Nghiên cứu của các tác giả Gordon, Horwitz và Meyers (1966) liên quan tới việc điều hòa lợi nhuận khi các nhà quản lý lựa chọn các thủ tục kế toán để thay đổi lợi nhuận khiến các nhà đầu tư (bên ngoài) nghĩ rằng công ty mà họ đầu tư có thu nhập ổn định và cổ phiếu mà họ nắm giữ là rất có giá trị Nếu việc che giấu này thành công, nghĩa là sẽ đem lại lợi ích cho nhà quản trị và ngược lại về phía các nhà đầu tư bên ngoài sẽ phải gánh chịu chi phí hình thành do việc không có thông tin sát thực, đây là mối quan hệ điển hình của mô hình đại diện trong lý thuyết đại diện (Jensen và Meckling, 1976)
Khi Watts và Zimmerman (1978, 1986) giới thiệu PAT, PAT trở thành động lực cho nhiều nghiên cứu thực chứng trong kế toán đặc biệt là các nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận
PAT là dòng nghiên cứu có ảnh hưởng lớn nhất trong 4 thập kỷ vừa qua Điều tra của Brinn, Jones và Pendlebury (1996) cho thấy các nghiên cứu theo hướng thực
Trang 1519
nghiệm chiếm ưu thế trên cả những tạp chí về kế toán hàng đầu cũng như trong các
luận án tiến sĩ ở Mỹ và cả các trường đại học khác trên thế giới Từ sau 1970, các
nghiên cứu thực nghiệm về kế toán trở nên có tính hệ thống hơn nhờ sự xuất hiện của
các kỹ thuật xử lý thống kê cao cấp và nguồn số liệu đồ sộ được ứng dụng trong kiểm
định giả thuyết (Gaffikin, 2005)
Ashton và cộng sự (2009) thống kê các nghiên cứu về kế toán giai đoạn 2001-2007
thì thấy rất ít các nghiên cứu chuẩn tắc xuất hiện, cách tiếp cận theo hướng thực chứng
ngày càng phổ biến và chiếm ưu thế bởi đây là cách tiếp cận khoa học và phù hợp
Chủ đề điều chỉnh lợi nhuận là một chủ đề trung tâm của các nghiên cứu kế
toán trong nhiều thập kỷ Giai đoạn trước những năm 1970, các nghiên cứu về điều
chỉnh lợi nhuận chủ yếu tập trung vào thị trường vốn, nghiên cứu sự ảnh hưởng của
điều chỉnh lợi nhuận tới giá cổ phiếu (Fama, 1970; Kaplan và Roll, 1972) Khi Watts
và Zimmerman (1978, 1986) giới thiệu Lý thuyết kế toán thực chứng (PAT), PAT trở
thành động lực cho nhiều nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận chuyển hướng từ thị
trường vốn sang nghiên cứu các vấn đề nội tại của doanh nghiệp, ví dụ các nghiên cứu
tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn chính sách kế toán của các nhà quản trị
và giải thích tại sao nhà quản trị lại lựa chọn một phương pháp kế toán mà không phải
là một phương pháp khác (Rath và Sun, 2008) Giai đoạn những năm 1970 và những
năm đầu 1980, các nhà nghiên cứu tập trung tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến sự
lựa chọn chính sách kế toán Kết quả các nghiên cứu cho thấy các nhà quản trị thường
cố tình lựa chọn các chính sách kế toán để thay đổi lợi nhuận cho các mục đích kinh tế
trong bối cảnh các quy định và các hợp đồng ràng buộc (Watts và Zimmerman, 1986)
Hầu hết các nghiên cứu về sự lựa chọn chính sách kế toán đều sử dụng sự phối hợp
của ba biến thể hiện động cơ khiến nhà quản trị thay đổi các chính sách kế toán, đó là
kế hoạch thưởng, hệ số nợ/vốn chủ và chi phí chính trị (Rath và Sun, 2008) Kết quả
các giả thuyết liên quan đến 3 biến thu được cho thấy sự thống nhất với giả thuyết
được đưa ra (Watts và Zimmerman, 1986; 1990)
Ta dễ thấy, sự lựa chọn chính sách kế toán thông qua việc thay đổi các phương
pháp kế toán không phải là giải pháp lâu dài trong quản trị thông tin kế toán Không
giống như thay đổi các phương pháp kế toán, phần giá trị dồn tích là công cụ có khả
năng tạo nhiều cơ hội cho các nhà quản lý, người lập báo cáo tài chính vận dụng cho
mục đích điều chỉnh lợi nhuận
Để khắc phục nhược điểm của các nghiên cứu liên quan tới điều chỉnh lợi
nhuận thông qua chính sách kế toán, giai đoạn giữa những năm 1980, rất nhiều nghiên
cứu đã sử dụng các biến dồn tích kế toán, đây là thước đo tổng hợp đo lường ảnh
20
hưởng của tổ hợp các lựa chọn kế toán tới lợi nhuận công ty (Healy, 1985; DeAngelo 1986; Liberty và Zimmerman, 1986) Nghiên cứu thực chứng về điều chỉnh lợi nhuận thời kỳ này liên quan tới việc sử dụng biến dồn tích trở nên phổ biến nhưng cũng là thách thức lớn đối với những nhà nghiên cứu kế toán, các nhà đầu tư vì các biến dồn tích khó quan sát và đo lường phức tạp (Beneish, 2001)
Chủ đề điều chỉnh lợi nhuận thu hút được sự quan tâm của rất nhiều học giả, không chỉ tại các nước phát triển như Mỹ, Pháp, Canada mà còn xuất hiện ở cả những nước công nghiệp mới hay đang phát triển như Đài Loan, Indonesia, Tusiana Những năm gần đây, rất ít các nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận qua sự thay đổi của các chính sách kế toán, hầu hết đều sử dụng các biến dồn tích (Charfeddine, Riahi và Omri, 2013; Fathi, 2013)
Những nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận đi theo hướng trả lời câu hỏi tại sao các công ty lại thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận và làm thế nào để họ thực hiện hành vi này (Nguyễn Công Phương, 2009) Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, PAT giúp chúng ta nhận diện quan hệ đại diện giữa bên ủy nhiệm (người nắm giữ cổ phiếu, chủ công ty) và bên đại diện (bên được ủy nhiệm, các nhà quản trị trong công ty) Dựa trên quan điểm của trường phái kế toán thực chứng, luận án muốn phát hiện sự tồn tại và tìm hiểu tác động của các nhân tố có ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty phi tài chính có cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Việc đánh giá này dựa trên cơ sở các quan sát thực tế với các dữ liệu thực nghiệm là các báo cáo tài chính được công bố trên thị trường chứng khoán Việt Nam Từ đó, luận án kỳ vọng sẽ có đóng góp hữu ích cho cơ sở dữ liệu nghiên cứu thực chứng
Lý thuyết kế toán thực chứng cung cấp cách tiếp cận để nghiên cứu vấn đề, trong khi đó lý thuyết đại diện và lý thuyết thông tin bất đối xứng là căn cứ để giải thích cho hành vi ĐCLN và các yếu tố tác động tới ĐCLN như thế nào Phần tiếp theo sẽ tập trung
và mô tả chi tiết lý thuyết đại diện và lý thuyết thông tin bất đối xứng
2.2.2 Lý thuyết đại diện
Những thập niên gần đây, việc ứng dụng lý thuyết kinh tế học và các mô hình tài chính ngày càng phổ biến trong các nghiên cứu về kế toán bởi các lý thuyết này không những giúp chúng ta giải thích những vấn đề kinh tế đã xảy ra trong quá khứ
mà nó còn cung cấp những mô hình phân tích để chúng ta có thể hiểu được sự biến động của các hoạt động kinh tế hiện tại và tương lai (Bricker và Chandar, 1998)
Lý thuyết đại diện (Jensen và Meckling, 1976) là lý thuyết quan trọng trong kinh tế học và trở thành nền tảng cho các nghiên cứu kế toán thực chứng (Healy, 1985;
Trang 16DeAngelo, 1986, Jones, 1991) Lý thuyết này cung cấp một góc nhìn cụ thể về vai trò
của thông tin kế toán ngay từ thời kỳ ban đầu khi thị trường vốn, công ty cổ phần mới
được hình thành cho tới ngày nay, khi các công ty cổ phần đã trở thành một mô hình
phổ biến rộng rãi trên khắp thế giới Ngoài ra, lý thuyết đại diện giúp ta thấy được vai
trò quan trọng của kế toán trong việc điều tiết các mối quan hệ đại diện xuất hiện trên
thị trường vốn, điều tiết những mâu thuẫn về lợi ích khi cổ đông là người có quyền sở
hữu tài sản nhưng lại trao quyền quản lý tài sản của mình cho một nhóm người khác
2.2.2.1 Nội dung Lý thuyết đại diện (AT)
Trước đây, nhiều nghiên cứu cổ điển cũng đã từng phân tích về sự tách biệt
giữa quyền sở hữu và quyền quản lý tài sản, ví dụ như Adam Smith (1776) hay Berle
và Means (1932) Riêng công trình của Berle và Means (1932) thì được coi là cơ sở,
có ảnh hưởng lớn tới các nghiên cứu kế toán và các quy định của kế toán Theo Berle
và Means (1932), sự tách biệt giữa quyền sở hữu của cổ đông và chức năng kiểm soát
của nhà quản trị đem lại rủi ro, bởi sự tách biệt này có thể dẫn tới việc các nhà quản trị
chuyên nghiệp sẽ có những hành động gây thiệt hại cho chủ sở hữu tài sản nhằm đem
lại lợi ích cho bản thân Vì vậy, Berle và Means (1932) cho rằng cần phải có một giải
pháp đáng tin cậy để bảo vệ các cổ đông và giúp các cổ đông có thể đánh giá hành vi
của nhà quản lý Ý tưởng này tác động mạnh mẽ đến việc đòi hỏi các thông tin kế toán
về tình hình tài chính và kết quả hoạt động cần được công bố rộng rãi dưới hình thức
các báo cáo kế toán, báo cáo tài chính
Tiếp nối công trình của Berle và Means (1932), nhiều nghiên cứu về các mô
hình đại diện trên thị trường vốn trong lĩnh vực kế toán ra đời, điển hình là Jensen và
Meckling (1976) Xuất phát từ những luận điểm về “quyền tài sản” trong nghiên cứu
của Berle và Means (1932), cùng với Lý thuyết về chi phí giao dịch liên quan đến
quan hệ hợp đồng (Coarse, 1937), Jensen và Meckling (1976) đề cập về việc trong một
công ty thì sẽ có rất nhiều các hợp đồng được tiến hành, quan hệ giữa người nắm giữ
cổ phiếu và nhà quản trị cũng là một mối quan hệ xuất phát từ hợp đồng được ký kết,
từ đó cổ đông (bên sở hữu tài sản) sẽ nhượng quyền cho bên đại diện (nhà quản lý),
cho phép bên đại diện thay mặt cổ đông ra các quyết định liên quan đến tài sản của họ
và thực hiện một số hoạt động trong công ty
Ở vị trí của mình, nhà quản lý công ty được cho là luôn có xu hướng tư lợi và
hành động ngược lại với lợi ích của công ty Xu hướng theo chủ nghĩa cơ hội dẫn tới
việc nhà quản lý sẽ tìm kiếm các lợi ích cá nhân cho mình trước hết và điều này sẽ ảnh
hưởng tới công ty Ví dụ, bên đại diện là các nhà quản trị thì luôn có xu hướng thực
hiện hành vi cơ hội như chi tiêu quá nhiều cho bổng lộc, phụ cấp để tối đa hóa quyền lợi của họ Những hành vi này của nhà quản trị sẽ tạo ra các chi phí đại diện và sẽ làm giảm giá trị doanh nghiệp
Jensen và Meckling (1976) cho rằng, cả hai bên trong mối quan hệ ủy nhiệm này (cổ đông và người quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thế nên, vấn đề là làm thế nào để bên đại diện hành xử theo hướng tối đa hóa lợi ích của bên ủy nhiệm Xu hướng tối đa hóa lợi ích giúp chúng ta có cơ sở để tin rằng người quản lý công ty không phải lúc nào cũng sẽ hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ (cổ đông và công ty)
Những hạn chế này là những đặc tính tự nhiên vốn có của quan hệ đại diện và
vì vậy, các cổ đông phải thường xuyên giám sát hoạt động của các nhà quản lý công ty
để đảm bảo lợi ích của mình Hợp đồng được ký kết thể hiện trách nhiệm của các bên cũng là một giải pháp để nhằm giảm chi phí đại diện trong các mối quan hệ đại diện Nghiên cứu của Stiglitz (1974, 1975); Spence và Zeckhauser (1971); Ross (1973, 1977) cũng chỉ ra rằng khi bên ủy nhiệm không thể quan sát được hành vi của bên được ủy nhiệm thì bên ủy nhiệm sẽ làm tổn hại và không hành động vì lợi ích của bên
ủy nhiệm, vì thế cần có hợp đồng ràng buộc giữa hai bên để có thể kiểm soát quá trình thực hiện và chia sẻ rủi ro của mối quan hệ này
Nếu định nghĩa công ty là một liên kết pháp lý của các quan hệ hợp đồng (Coarse, 1937), thì ta thấy kế toán thực sự đóng vai trò trọng tâm bởi nó xuất hiện trong mọi quan hệ hợp đồng, từ hợp đồng vay mượn tới kế hoạch thưởng hay đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty Kế toán là một công cụ cần thiết nhằm điều tiết các quan hệ hợp đồng và quan hệ đại diện Blazenko và Scott (1986) cho rằng kế toán và kiểm toán đóng vai trò quan trọng trong điều tiết quan hệ đại diện và ngược lại quan
hệ đại diện cũng chính là cơ sở cho sự xuất hiện của rất nhiều nghiên cứu về kế toán,
là căn cứ để giải thích các vấn đề kế toán
2.2.2.2 Sự vận dụng Lý thuyết đại diện trong các nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận
Lý thuyết kế toán thực chứng (PAT) xuất hiện với mục đích giải thích và dự đoán các thực tiễn kế toán (Watts và Zimmerman, 1986) Ba giả thuyết (giả thuyết về
kế hoạch thưởng, hệ số nợ/vốn chủ, chi phí chính trị) được sử dụng rất phổ biến trong các nghiên cứu thực chứng và đều dựa trên AT để giải thích hành vi lựa chọn chính sách kế toán, thủ tục kế toán của nhà quản lý trong một hoặc trong sự giao thoa của nhiều mối quan hệ trên thị trường chứng khoán
Trang 1723
Thực tế, mô hình đại diện (bên ủy nhiệm – bên đại diện) được sử dụng để kiểm
chứng các giả thuyết liên quan tới việc lựa chọn các phương pháp kế toán từ những
năm 1960 (Yamey,1962) và sự ra đời của các quy định kế toán về việc cung cấp thông
tin của các báo cáo kế toán là cần thiết để giảm thiểu sự bất đối xứng về thông tin xuất
phát từ mối quan hệ đại diện, từ đó nhằm giảm chi phí đại diện phát sinh Cùng quan
điểm trên, Collin và cộng sự (2009) nhấn mạnh những tồn tại trong quan hệ đại diện
giữa nhà quản lý và cổ đông và đề cập đến vai trò của lý thuyết kế toán thực chứng
trên cơ sở AT trong việc giải thích và dự đoán sự ảnh hưởng của các lựa chọn kế toán
tới tài sản của cổ đông, giải thích về chi phí đại diện và phương hướng giảm thiểu các
chi phí đại diện thông qua công bố thông tin Nghiên cứu về các mô hình đại diện về
các mối quan hệ trên thị trường vốn chính là những nét nổi bật của các nghiên cứu
thực chứng trong kế toán đương đại (Bricker và Chandar, 1998)
Tập trung vào mối quan hệ trong mô hình đại diện giữa bên đại diện và bên ủy
nhiệm trong điều kiện ảnh hưởng của hiện tượng thông tin bất đối xứng, Lý thuyết đại
diện (AT) là chìa khóa cho các nghiên cứu thực chứng PAT Ta sẽ rất dễ nhận thấy sự
xuất hiện của các AT trong nghiên cứu về quản trị công ty (Chen và cộng sự, 2007;
Chen và cộng sự, 2010), về điều chỉnh lợi nhuận (Charfeddine, Riahi và Omri, 2013;
Fathi, 2013) hay công bố thông tin kế toán trên trị trường chứng khoán (Collin và cộng
sự, 2009; Fathi, 2013)
Là lý thuyết trọng tâm của các nghiên cứu dòng thực chứng nói chung và điều
chỉnh lợi nhuận nói riêng, luận án đi sâu vào tổng hợp và phân tích vai trò của lý
thuyết đại diện trong các nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận (Charfeddine, Riahi và
Omri, 2013; Fathi, 2013)
Trong công ty thuộc sở hữu tư nhân, quyền sở hữu và quyền quản lý tài sản
thường là một nên các công ty này ít chịu áp lực về công bố thông tin ra bên ngoài,
những thủ thuật kế toán làm thay các con số kế toán ít khi xuất hiện Ngược lại, trong
công ty cổ phần, các quan hệ đại diện là nguồn gốc, động lực cho các hành vi điều
chỉnh lợi nhuận và che giấu thông tin kế toán (Fama và Jensen, 1983; Beatty và cộng
sự, 2002)
Trên thị trường chứng khoán, các cổ đông là chủ sở hữu công ty cổ phần, tuy
vậy quyền sở hữu lại tách rời quyền quản lý, các cổ đông ủy nhiệm cho nhà quản lý
thay mình sử dụng vốn để kinh doanh Nhiều nghiên cứu ứng dụng lý thuyết đại diện
để giải thích tại sao các nhà quản lý doanh nghiệp lại có những hành vi đi ngược lại
với quyền lợi của cổ đông và dẫn tới việc họ có những can thiệp và tác động chủ quan
Luận án này tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận, vì vậy, để giải thích cho hành vi điều chỉnh lợi nhuận và che giấu thông tin, đi ngược lại với quyền lợi của cổ đông (những người chủ doanh nghiệp) thì lý thuyết đại diện là một cơ
sở lý thuyết nền tảng để luận án có những lý giải phù hợp Ngoài ra, lý thuyết đại diện cũng là cơ sở lý thuyết quan trọng gợi ý cho việc làm thế nào để hạn chế những tiêu cực của quan hệ đại diện ví dụ như việc nhấn mạnh rằng các cổ đông cần phải sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản
lý công ty
2.2.3 Lý thuyết thông tin bất đối xứng
Đối với một nền kinh tế, việc lựa chọn giải pháp tối ưu để huy động các nguồn lực nhàn rỗi trong xã hội luôn là một thách thức lớn Huy động vốn từ nguồn tích lũy của các cá nhân trong xã hội là một kênh rộng khắp để các công ty có được sự tài trợ cho ý tưởng kinh doanh của mình Nhưng để việc hợp tác giữa các công ty và các cá nhân được suôn sẻ, ngoài việc giải quyết mâu thuẫn trong quan hệ đại diện, tình trạng thông tin bất đối xứng cũng là một nhân tố có tác động lớn tới quyền lợi của các bên tham gia thị trường và cần phải được xem xét
Nền móng của Lý thuyết thông tin bất đối xứng xuất hiện từ những năm 1970
và lý thuyết này đã khẳng định được vị trí của mình trong kinh tế học hiện đại bằng sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế (Riley, 2001)
2.2.3.1 Nội dung Lý thuyết thông tin bất đối xứng (IA)
Thông tin bất đối xứng là một hiện tượng thường gặp khi giao dịch trên thị trường, trong đó các chủ thể khi tương tác, giao dịch với nhau cố tình che đậy thông tin dẫn tới việc một bên có đầy đủ thông tin trong khi bên còn lại thiếu những thông tin cần thiết khi ra quyết định đầu tư hoặc ký kết hợp đồng
Trang 18Akerlof (1970) đề cập tới “sự lựa chọn bất lợi” trong bài viết “Thị trường của
những trái chanh” Khi người mua không có thông tin xác thực, đầy đủ và kịp thời nên
trả giá thấp hơn giá trị đích thực của hàng hóa Hậu quả là người bán cũng không còn
động lực để sản xuất hàng có giá trị và họ có xu hướng cung cấp những sản phẩm có
chất lượng thấp hơn chất lượng trung bình trên thị trường Cuối cùng, trên thị trường
chỉ còn lại những sản phẩm chất lượng xấu - những “trái chanh” bỏ đi, hàng tốt bị loại
bỏ, cả hai bên đều có sự lựa chọn bất lợi Như vậy, hiện tượng lựa chọn bất lợi đã cản
trở việc giao dịch trên cơ sở hai bên cùng có lợi
Spence (1974) cho rằng, để loại bỏ hiện tượng “lựa chọn bất lợi” thì cần có
“chiến lược phát tín hiệu” nhằm đưa thông tin tới các chủ thể tham gia thị trường
thông qua tuyên truyền, đào tạo Nghiên cứu của Stiglitz (1975) đưa ra những gợi ý để
làm giảm sự bất cân đối của thông tin qua việc thực hiện “chiến lược sàng lọc” Ví dụ:
khi công ty bảo hiểm tiếp cận khách hàng, ban đầu do chưa có thông tin về nhu cầu
khách hàng nên họ có thể đưa ra một loạt các sản phẩm đa dạng và nếu thấy phù hợp
thì khách hàng sẽ có phản hồi (phát tín hiệu) để bên nhà cung cấp được biết thông tin
thực sự khách hàng đang cần cái gì
Nhà kinh tế học tân cổ điển Adam Smith (1723 – 1790) đề cập tới ba dạng thất
bại của thị trường đó là các ngoại ứng, hàng hóa công cộng và độc quyền Lý thuyết về
thông tin bất đối xứng bổ sung thêm nhân tố thứ tư là thông tin bất đối xứng Trải qua
hơn hai thập kỷ, lý thuyết về thị trường có thông tin bất cân xứng đã trở nên vô cùng
quan trọng và là trọng tâm nghiên cứu của kinh tế học hiện đại
Trên thị trường chứng khoán, nhà quản lý với cương vị là bên đại diện được
nhà đầu tư ủy quyền và giao cho một số trọng trách, còn nhà đầu tư với tư cách là chủ
sở hữu công ty Các nhà quản lý thường là những người nắm rõ tình hình và triển vọng
của công ty hơn các nhà đầu tư, những người mà quyền sở hữu bị tách rời quyền quản
lý Sự bất đối xứng về thông tin là ở chỗ có sự chênh lệch, khác biệt về lượng thông tin
nắm giữ giữa bên đại diện và bên ủy nhiệm (Kaplan và Atkinson, 1998)
Khi nhà quản lý có nhiều thông tin hơn và hiểu rõ về cơ hội kinh doanh của
công ty hơn các nhà đầu tư, họ có thể thổi phồng giá trị công ty, theo Akerlof (1970)
thì đây chính là vấn đề của “những trái chanh” Healy và Palepu (2001) mô tả rất rõ
ràng về những tổn thất mà thị trường vốn phải gánh chịu khi có sự xung đột và khác
biệt về lượng thông tin mà bên quản lý và bên đầu tư vốn nắm giữ Với tình huống thị
trường kinh doanh tồn tại cả những ý tưởng kinh doanh tốt và xấu, trong điều kiện giới
hạn về thông tin mà mỗi bên có, họ sẽ nhìn nhận, đánh giá vấn đề theo cách khác nhau
Nhà quản lý dù biết phương án kinh doanh của mình chưa tốt thì vẫn cố gắng thuyết
phục rằng các ý tưởng của họ là triển vọng để thu hút đầu tư, các nhà đầu tư nếu không
đủ điều kiện, năng lực đánh giá thì có xu hướng cào bằng tốt – xấu, nghĩa là sẽ có hiện tượng các ý tưởng kinh doanh tốt lại bị đánh giá thấp trong khi những ý tưởng không tốt lại được đánh giá cao Điều này làm sai lệch quyết định đầu tư và rộng hơn là gây tổn tại tới thị trường vốn Hartono (2008), ngoài “sự lựa chọn bất lợi”, vấn đề thứ hai nảy sinh khi tồn tại sự bất đối xứng thông tin là “hành động rủi ro” (Moral hazard), nhà quản trị có thể vi phạm các hợp đồng và ra các quyết định rủi ro trong khi các nhà đầu tư lại không có thông tin đầy đủ để can thiệp ngăn chặn hành động này
Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính (FASB) đề cập rằng thông tin kế toán là ngôn ngữ để quản trị doanh nghiệp có thể giao tiếp với các đối tượng bên ngoài (cổ đông) Thông tin trên báo cáo tài chính càng phản ánh rõ ràng các điều kiện kinh tế và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thì càng giúp làm giảm sự bất đối xứng về thông tin giữa các nhà quản trị và các nhà đầu tư bên ngoài, giúp tăng tính hiệu quả của việc phân phối nguồn lực và đóng góp cho sự phát triển của thị trường vốn (Yue, 2004) Thông tin minh bạch và việc giảm thiểu sự bất đối xứng của thông tin trở thành chủ đề chính trong những tranh luận về lập báo cáo tài chính của các công ty (Collin
và cộng sự, 2009) Ngoài chi phí đại diện mà Jensen và Meckling (1976) đề cập (chi phí kiểm soát, chi phí liên kết và chi phí khác), thông tin bất đối xứng cũng được cho
là một loại chi phí đại diện cần được xem xét (Barnea, Haugen và Senbet, 1981) Thông tin bất đối xứng trên thị trường chứng khoán là kẽ hở cho sự xuất hiện của các hành vi điều chỉnh lợi nhuận vì mục tiêu cơ hội của các nhà quản lý Các nghiên cứu
về điều chỉnh lợi nhuận vì thế có nguồn gốc xuất phát là từ sự khác biệt về thông tin nắm giữ, dẫn tới việc có những quyết định “sai lệch” khi họ tham gia thị trường Trong phạm vi của luận án, tác giả phân tích một vài nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận trên cơ sở lý thuyết thông tin bất đối xứng đồng thời nghiên cứu để đưa ra giải pháp cho những tồn tại của hiện tượng thông tin bất đối xứng trên thị trường chứng khoán
2.2.3.2 Sự vận dụng Lý thuyết thông tin bất đối xứng trong các nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận
Nghiên cứu của Huang và Chiang (2012) về việc cải thiện những vấn đề tồn tại trong quan hệ đại diện của các công ty đa quốc gia tại Đài Loan sau khi sửa đổi chuẩn mực kế toán về báo cáo tài chính hợp nhất đưa ra giả thuyết rằng tình trạng thông tin bất đối xứng sẽ giảm đi khi các công ty đa quốc gia tăng cường tính minh bạch của báo cáo tài chính, giảm các chi phí đại diện Kết quả nghiên cứu cho thấy các vấn đề
Trang 1927
trong quan hệ đại diện cũng không được cải thiện nhiều sau khi thay đổi chuẩn mực
nhưng nghiên cứu cũng đã có đóng góp trong việc định hướng các vấn đề liên quan tới
chi phí đại diện, tính minh bạch và tính bất đối xứng của thông tin
Hiện tượng thông tin bất đối xứng đặc biệt rõ nét trong các nghiên cứu về điều
chỉnh lợi nhuận trong bối cảnh các công ty lần đầu chào bán cổ phiếu (IPO) Sự bất đối
xứng về thông tin xuất hiện trong quan hệ giữa một bên là các nhà đầu tư tiềm năng và
một bên là các công ty IPO Giả thuyết đặt ra là trước hoặc sau IPO, các công ty có
điều chỉnh tăng lợi nhuận để thu hút nhà đầu tư, tăng tính hấp dẫn của cổ phiếu chào
bán nhằm tăng giá trị tài sản huy động (Gumanti, 1996; Teoh, Welch và Wong,
1998a) IPO là giai đoạn mà thông tin bất đối xứng ở mức rất cao và nhạy cảm với vấn
đề điều chỉnh lợi nhuận Do thiếu thông tin, nhà đầu tư có thể không có đủ thông tin để
có được những quyết định đầu tư tốt
Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận của Charfeddine,
Riahi và Omri (2013) hay Fathi (2013) được thực hiện với mục đích phát hiện ra
những nhân tố nào là động cơ khiến các nhà quản trị lợi dụng hiện tượng bất đối xứng
thông tin trên thị trường chứng khoán để điều chỉnh lợi nhuận Đồng thời, các nghiên
cứu này cũng chỉ ra những nhân tố giúp hạn chế hành vi điều chỉnh lợi nhuận, giảm
thiểu sự bất đối xứng về thông tin thông qua đẩy mạnh việc công bố thông tin trên thị
trường, đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư
Thị trường chứng khoán Việt Nam, cũng giống như các thị trường chứng khoán
khác, hiện tượng thông tin bất đối xứng là hiện tượng hết sức phổ biển Nhiều doanh
nghiệp tìm cách phù phép lợi nhuận, che giấu các thông tin bất lợi và thổi phồng các
thông tin có lợi hoặc làm rò rỉ thông tin nội gián gây bất công bằng cho các nhà đầu tư
Đôi khi, có hiện tượng “làm giá” chứng khoán hoặc việc tung tin đồn thất thiệt hoặc
sai lệch cũng ảnh hưởng tới việc ra quyết định của các nhà đầu tư
Tại Việt Nam, mặc dù đến nay gần như chưa có nghiên cứu định lượng nào
nhưng có thể mô tả khái quát rằng tình trạng thông tin bất đối xứng của thị trường
chứng khoán Việt Nam còn khá hỗn độn Nhiều chuyên gia cho rằng thị trường chứng
khoán Việt Nam đang trong quá trình phát triển, không phản ánh thực chất giá trị của
doanh nghiệp và cung cầu thị trường (Nguyễn Thúy Anh, 2007)
Tóm lại, lý thuyết về thông tin bất đối xứng sẽ là cơ sở lý thuyết không thể
thiếu của luận án khi chúng ta muốn tìm hiểu và giải thích hiện tượng thông tin bất đối
xứng tồn tại giữa một bên cung cấp thông tin kế toán và một bên là những đối tượng
sử dụng thông tin kế toán trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam
28
2.3 Một số mô hình đo lường điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp
Điều chỉnh lợi nhuận là một chủ đề phổ biến rộng rãi trong các nghiên cứu nhiều thập niên gần đây Tuy nhiên, trong phạm vi luận án, tác giả chỉ tổng kết những nghiên cứu trong đó có sử dụng giá trị dồn tích để thay đổi lợi nhuận
Chế độ kế toán hiện hành quy định kế toán doanh nghiệp phải thực hiện dựa trên cơ sở dồn tích, tuy nhiên chế độ kế toán cũng đưa ra nhiều lựa chọn linh hoạt liên quan tới việc ghi nhận doanh thu và chi phí Vì thế, nhà quản trị có thể lợi dụng điểm này để có những tác động nhằm thay đổi báo cáo tài chính
Báo cáo kết quả kinh doanh được lập trên cơ sở kế toán dồn tích trong khi Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập trên cơ sở tiền và không thể điều chỉnh thời điểm ghi nhận các giao dịch Vì vậy, chênh lệch phát sinh giữa kết quả hoạt động kinh doanh trên báo cáo kết quả kinh doanh và dòng tiền trong Báo cáo lưu chuyển tiền tệ chính là phần lợi nhuận kế toán không bằng tiền được trình bày trong Báo cáo kết quả kinh doanh Phần chênh lệch này được gọi là phần giá trị dồn tích
Theo Kothari (2001) thì việc sử dụng các mô hình xác định giá trị dồn tích có thể điều chỉnh là rất phổ biến trong đó phần dồn tích có thể điều chỉnh thường được sử dụng như một khái niệm đồng nghĩa với điều chỉnh lợi nhuận Khi phân tích điều chỉnh lợi nhuận, DA được coi là một chỉ số đo lường chất lượng thông tin tài chính công bố (Francis và cộng sự, 2005)
Nhiều công trình nghiên cứu mô tả và so sánh chi tiết các mô hình điều chỉnh lợi nhuận như nhóm các tác giả Dechow, Sloan & Sweeney (1995) Những mô hình thường được sử dụng khi nghiên cứu điều chỉnh lợi nhuận là Mô hình Healy (1985),
Trang 20Mô hình DeAngelo (1986), Mô hình Jones (1991), Mô hình Jones điều chỉnh
(Dechow, Sloan và Sweeney, 1995) và nhiều mô hình điều chỉnh từ Mô hình gốc của
Jones (1991) khác (Bảng 2.1)
Trong luận án này, tác giả cũng phân tích một số mô hình phổ biến nhất từ đơn
giản đến phức tạp nhằm đánh giá phần dồn tích DA Ngoài ra, luận án cũng đưa ra một
số mô hình phát triển từ mô hình Jones (1991) để phục vụ cho việc kiểm chứng sự tồn
tại của điều chỉnh lợi nhuận Các mô hình thực chất là nhằm tính toán phần NDA
2.3.1 Mô hình Healy (1985)
Healy (1985) có thể coi là tác giả đi đầu trong kiểm chứng ĐCLN thông qua
việc sử dụng DA Thực chất Healy (1985) kiểm định giả thuyết tối đa hóa tiền thưởng
của hành vi quản trị, một giả thuyết được giới thiệu năm 1986 bởi tác giả Watts và
Zimmerman (1986) Kết quả nghiên cứu với cỡ mẫu 94 công ty cho thấy khi chịu sự
chi phối của kế hoạch thưởng, chính sách sử dụng các biến dồn tích trong quy trình kế
toán của nhà quản lý có liên hệ với việc điều chỉnh tăng lợi nhuận
NDA và DA đều là hai biến khó quan sát vì vậy nhà nghiên cứu buộc phải giả
định với một biến Healy (1985) giả định rằng phần NDA là phần dồn tích không thay
đổi từ năm này qua năm khác và không bị ảnh hưởng bởi nhà quản trị, còn DA xét về
dài hạn, tổng sẽ bằng không Vì thế, NDA của năm sự kiện được tính toán là phần TA
trung bình của kỳ ước tính
NDAit =
∑ TAit
Ait-1
n Công thức tính phần dồn tích có thể điều chỉnh DAit = (TAit / Ait-1) - NDAit
Trong đó:
NDAit : Phần dồn tích không thể điều chỉnh của công ty i, năm sự kiện t
DAit : Phần dồn tích có thể điều chỉnh của công ty i, năm sự kiện t
TAit: Tổng dồn tích của công ty i, năm t
Ait-1 : Tổng tài sản của công ty i, năm t-1
n: Số năm trong kỳ ước tính
t: năm thứ t (t = 1, 2, 3…, n)
Ưu điểm: đơn giản, dễ tính toán
Nhược điểm: NDA được giả định là không đổi theo thời gian nhưng thực tế thì ngược lại vì NDA liên quan đến mức độ hoạt động của đơn vị, khi mức độ hoạt động thay đổi thì NDA cũng sẽ thay đổi Mô hình này không kiểm soát được những thay đổi về mức độ hoạt động Khi NDA không chính xác thì dẫn tới DA cũng sai lệch, kết quả suy luận sai lệch
2.3.2 Mô hình DeAngelo (1986)
DeAngelo (1986) tiến hành nghiên cứu 64 công ty cổ phần trong tình huống các nhà quản trị quyết định mua lại toàn bộ cổ phần DA được sử dụng để kiểm chứng xem liệu nhà quản trị có điều chỉnh giảm lợi nhuận trong giai đoạn trước khi mua lại toàn bộ cổ phần hay không? Mô hình DeAngelo (1986) giả định rằng DA của năm trước năm đầu tiên trong kỳ ước tính bằng 0 nghĩa là doanh nghiệp không điều chỉnh lợi nhuận Cũng giống Healy (1985), phần NDA được giả định rằng sẽ không đổi theo thời gian
Từ đó, ta có công thức tính NDA trong mối quan hệ với TA:
DAit : Phần dồn tích có thể điều chỉnh của công ty i, năm sự kiện t
TAit-1: Tổng dồn tích của công ty i, năm t -1
Ait-1 : Tổng tài sản của công ty i, năm t-1
Ait-2 : Tổng tài sản của công ty i, năm t-2 Phần NDA trong mô hình Healy (1985) đo lường dựa vào trung bình tổng dồn tích trong giai đoạn ước tính nhưng DeAngelo (1986) lại đo lường NDA chỉ dựa vào
Trang 2131
tổng dồn tích TA của năm liền trước trong kỳ ước tính Vì thế, DeAngelo (1986) có
thể coi là trường hợp đặc biệt của Healy (1985)
Ưu điểm: đơn giản, dễ tính toán
Nhược điểm: Với giả định NDA không đổi theo thời gian và giả định năm liền trước
năm đầu tiên của kỳ ước tính không có hành động điều chỉnh lợi nhuận, mô hình này
không tính đến sự thay đổi trong mức độ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Sau DeAngelo (1986), phải kể đến Mô hình Friedlan (1994), một thay đổi từ
mô hình gốc của DeAngelo (1986) Thông qua việc đưa thêm vào mô hình DeAngelo
(1986) biến doanh thu để kiểm soát sự thay đổi của mức độ hoạt động nên mô hình
Friedlan (1994) có ưu điểm là đo lường phần NDA chính xác hơn so với mô hình
Healy (1985), DeAngelo (1986) Việc sử dụng mô hình có tính đến yếu tố tăng trưởng
của công ty dự đoán sẽ tốt hơn những mô hình bỏ qua yếu tố này
2.3.3 Mô hình Jones (1991)
Để được hưởng quyền lợi từ việc điều tiết nhập khẩu hoặc tăng những khoản hỗ
trợ, các DN tại Mỹ đã cố gắng giảm lợi nhuận thông qua việc ĐCLN Thời kỳ những
năm 80, nhiều ngành xin được hỗ trợ (đứng đầu là các công ty trong ngành công
nghiệp da giầy), tuy nhiên theo điều tra ban đầu của ITC (United States International
Trade Commission) thì các công ty trong ngành này hoạt động khá hiệu quả tại thời
điểm đó Các công ty này, sau đó, đệ đơn lên các đại diện của quốc hội và ITC được
yêu cầu phải điều tra lại Kết quả hoàn toàn ngược với lần trước, sự sụt giảm mạnh về
lợi nhuận khiến các thành viên của ITC nghi ngờ về việc các công ty này đã cố tình cắt
giảm lợi nhuận trong giai đoạn điều tra Vấn đề đặt ra là cần phải tìm hiểu vấn đề liên
quan tới ĐCLN tại các đơn vị này (Jones, 1991)
Khắc phục nhược điểm của các mô hình trước đó của Healy (1985), DeAngelo
(1986), Jones (1991) xây dựng mô hình mới trong đó tính đến sự ảnh hưởng của mức
độ hoạt động kinh doanh của đơn vị tới NDA Mô hình Jones (1991) tính toán phần
tổng dồn tích năm sự kiện t như sau:
TAit : tổng dồn tích năm t của công ty i
∆REVit: Doanh thu năm t trừ Doanh thu năm t-1 tại công ty i PPEit: Nguyên giá TSCĐ hữu hình cuối năm t tại công ty i
Ait-1: Tổng tài sản cuối năm t -1 tại công ty i
α 1 , α 2 , α 3: tham số ước tính
ɛit : sai số ước tính năm t của công ty i
Từ đó, phần giá trị dồn tích NDA và DA được tính như sau:
NDAit = a 1 x 1 + a 2 x ∆REVit + a 3 x PPEit
Ait-1 Ait-1 Ait-1
DAit = TAit /Ait-1 - NDAit
Trong đó:
NDAit: Phần dồn tích không điều chỉnh được tại công ty i năm t
a1, a2, a3: các tham số ước tính Các tham số a1, a2, a3 được ước tính bằng phương pháp OLS Hạn chế của mô hình Jones (1991) đó là doanh thu được xem là đại diện cho phần dồn tích không thể điều chỉnh, điều này ngược với thực tế vì việc thay đổi thời điểm ghi nhận doanh thu về trước hay sau kỳ kế toán nhằm thay đổi lợi nhuận là có thể được thực hiện bởi nhà quản trị
PPE và ∆REV được đưa vào mô hình nhằm kiểm soát những thay đổi trong NDA khi các điều kiện của doanh nghiệp thay đổi (khác với các mô hình trước là NDA không thay đổi theo thời gian)
2.3.4 Mô hình của Dechow, Sloan & Sweeney (1995)
Bản thân tác giả Dechow, Sloan & Sweeney (1995) cũng kết luận rằng trong số
5 mô hình các tác giả này kiểm chứng thì Jones (1991) và Dechow, Sloan & Sweeney (1995) (thường gọi là “Mô hình điều chỉnh Jones (1995)” ) là ưu việt hơn và riêng Mô hình điều chỉnh Jones (1995) thể hiện là mô hình tốt nhất
Mô hình điều chỉnh Jones (1995) được xây dựng nhằm khắc phục hạn chế của mô hình gốc Jones (1991) khi mô hình gốc cho rằng doanh thu được xem là phần không thể điều chỉnh Dechow, Sloan & Sweeny (1995) thay đổi biến động
Trang 22doanh thu bằng một biến khác là biến “biến động doanh thu bằng tiền” Mô hình
thể hiện như sau:
TAit
= α 1 x 1 + α 2 x ∆REVit - ∆RECit + α 3 x PPEit + ɛit
Trong đó:
TAit : tổng dồn tích năm t của công ty i
∆RECit: Phải thu khách hàng năm t trừ ( - ) Phải thu khách hàng năm t-1
∆REVit: Doanh thu năm t trừ ( - ) Doanh thu năm t-1 tại công ty i
PPEit: Nguyên giá TSCĐ hữu hình cuối năm t tại công ty i
Ait-1: Tổng tài sản cuối năm t -1 tại công ty i
α 1 , α 2 , α 3: tham số ước tính
ɛit : sai số ước tính năm t của công ty i
Từ đó, phần giá trị dồn tích NDA và DA được tính như sau:
DAit = TAit /Ait-1 - NDAit
NDAit = a 1 x 1 + a 2 x ∆REVit - ∆RECit + a 3 x PPEit
Trong đó:
NDAit: Phần dồn tích không điều chỉnh được tại công ty i, năm t
a1, a2, a3: các tham số ước tính
Các tham số a1, a2, a3 được ước tính bằng phương pháp OLS
Khi tính toán biến động doanh thu bằng tiền, phần chênh lệch giữa doanh thu
và các khoản phải thu chính là phần doanh thu chưa thu tiền, đây chính là phần có
thể điều chỉnh theo ý muốn chủ quan của nhà quản trị Mô hình điều chỉnh Jones
(1995) là mô hình được áp dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về ĐCLN trên thế
giới (Bảng 2.1)
2.3.5 Mô hình của Kothari, Leone & Wasley (2005)
Kothari và cộng sự (2005) cho rằng thông thường động lực khiến thực hiện điều
chỉnh lợi nhuận là do sự xuất hiện của một sự kiện nào đó (ví dụ: SEO - phát hành
thêm cổ phần), vì thế mối quan hệ giữa giá trị dồn tích và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trước sự kiện này là rất cao Hơn nữa, các mô hình Jones (1991) và mô hình điều chỉnh Jones (1995) tỏ ra không chính xác trong trường hợp công ty có sự tăng trưởng quá lớn Vì thế, Kothari và cộng sự (2005) bổ sung thêm biến ROA vào cả
mô hình Jones (1991) và mô hình điều chỉnh Jones (1995):
TAit
= β 0 x 1 + β 1 x ∆REVit + β 2 x PPEit + β 3 x ROAit-1 + ɛit
Ait-1 Ait-1 Ait-1 Ait-1
TAit
= β 0 x 1 + β 1 x ∆REVit -∆RECit + β 2 x PPE it + β 3 x ROA it-1 + ɛit
Ait-1 Ait-1 Ait-1 Ait-1 Nghiên cứu của Kothari và cộng sự (2005) đã chứng minh rằng khi đưa thêm biến ROA vào thì sẽ tăng hiệu quả và giúp nhà nghiên cứu có thể rút ra những suy luận đáng tin cậy nhiều hơn Nhiều tác giả đã áp dụng Mô hình Kothari và cộng sự (2005) cho nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận trên thị trường chứng khoán Canada (Cormier, Houle & Ledoux, 2013) hay trong bối cảnh của Tunisian (Charfeddine, Riahi & Omri, 2013)
2.3.6 Mô hình của Rahman & Shahrur (2008)
Dựa trên cơ sở mô hình điều chỉnh Jones (1991) và mô hình do Kothari và cộng
sự (2005) đề xuất liên quan tới việc bổ sung biến ROA, các tác giả Rahman & Shahrur (2008) bổ sung thêm biến độc lập liên quan tới sự tăng trưởng của công ty, cụ thể đó là biến Tỷ số giữa giá trị sổ sách so với giá thị trường, xuất phát từ những gợi ý của các nghiên cứu trước (McNichols, 2002; Cohen và cộng sự, 2005) cho rằng công ty có cơ hội tăng trưởng cao thì có xu hướng có phần giá trị dồn tích cao
TAit
= β 0
1 + β1
∆REVit - ∆RECit
+ β2 PPEit + β3 ROAit + β4 BMit + ɛit
Ait-1 At-1 Ait-1 At-1
Trong đó:
ROA: Tổng lợi nhuận thuần/Tổng tài sản bình quân BM: Giá trị sổ sách vốn CSH / Giá trị thị trường vốn CSH Nhiều tác giả sử dụng mô hình này trong đo lường DA (Fathi, 2013; Charfeddine, Riahi & Omri, 2013) khi nghiên cứu về ĐCLN
Trang 2335
Trước đây, Healy (1985) và DeAngelo (1986) có đưa ra những mô hình đo
lường tổng dồn tích với những giả định chưa thực sự hợp lý liên quan đến phần dồn
tích điều chỉnh được và không điều chỉnh được Sau đó, Mô hình Jones (1991) ra đời
và tạo nên tiếng vang lớn trong đo lường phần giá trị tổng dồn tích
Ngay khi được công bố, Mô hình gốc Jones (1991) được vận dụng nhiều trong
các nghiên cứu về ĐCLN và sau đó mô hình này trở thành cơ sở cho sự phát triển của
các mô hình khác điều chỉnh từ Mô hình Jones (1991), trong đó có mô hình nổi tiếng
như mô hình điều chỉnh Jones của Dechow, Sloan & Sweeney (1995)
Bảng 2.1 tổng kết các công trình nghiên cứu đo lường ĐCLN thì thấy mô hình
Jones (1991) và sau đó là mô hình điều chỉnh Jones (1995) được sử dụng rộng rãi ngay
từ khi được công bố (Kang & Sivaramakrishnan, 1995; Young, 1999; Kasznik, 1999)
cho đến những năm gần đây (Fathi, 2013; Phan Thị Thùy Dương, 2015), từ các nước
phát triển như Mỹ (Alsharairi và Salama, 2012), Pháp (Fathi, 2013) cho tới các nước
đang phát triển như Tunisia (Chargeddine, Riahi và Omri, 2013), Việt Nam (Phan Thị
Thùy Dương, 2015) Trên thực tế, có những tác giả cũng xây dựng các mô hình mới
nhưng hầu như cũng đều là dựa trên công trình của Jones (1991) hoặc Dechow, Sloan
& Sweeney (1995), ví dụ Kothari và cộng sự (2005), Rahman và Shahrur (2008) hay
Yoon và cộng sự (2006), Yoon và Miller G (2002), Yoon và Miller G.A (2002)
Những mô hình này cũng được ứng dụng trong các nghiên cứu nhưng tần suất xuất
hiện không nhiều Mặc dù có nhiều ý kiến về những hạn chế của mô hình Jones
(1991), nhưng cho tới nay, đây vẫn là một công cụ đắc lực được áp dụng trong các
dòng nghiên cứu thực chứng về điều chỉnh lợi nhuận
Luận án trình bày một số mô hình cơ bản liên quan tới việc đo lường hành vi
điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp (thông qua giá trị dồn tích có thể điều chỉnh
DA) Trong phạm vi của luận án, mô hình gốc Jones (1991) được lựa chọn để xác định
phần giá trị dồn tích DA bởi vì đây là mô hình gốc quan trọng, là cơ sở cho sự xuất
hiện của nhiều mô hình đo lường ĐCLN phổ biến hiện hành (gọi chung là các mô hình
điều chỉnh từ Jones (1991)) Việc lựa chọn mô hình gốc Jones (1991) để kiểm chứng
tại TTCK Việt Nam là cần thiết và sẽ là tiền đề cho các nghiên cứu sau này tại Việt
Nam ứng dụng tiếp mô hình Jones (1991) cũng như các mô hình phát triển từ Jones
(1991)
36
Bảng 2.1 Tổng kết các công trình nghiên cứu đo lường điều chỉnh lợi nhuận
TÁC GIẢ QUỐC GIA DỮ LIỆU MÔ HÌNH SỬ DỤNG Ghi chú
Healy (1985) US (1968-1980): 239 DN Phát triển Mô hình Healy (1985) DeAngelo (1986) US (1973-1982): 64 DN Phát triển mô hình De Angelo (1986) Jones (1991) US (1980-1980): 23 DN Phát triển mô hình Jones (1991) Dechow, Sloan và Sweeney (1995) US (1950- 1991): 4 mẫu, mỗi mẫu lựa
chọn ngẫu nhiên khoảng 1.000 quan sát
5 mô hình: Healy (1985), DeAngelo (1986), Jones (1991), Mô hình ngành (Dechow và Sloan, 1991), phát triển Mô hình Jones điều chỉnh (1995)
Kang & Sivaramakrishnan (1995) US Dữ liệu PST & Research 1992,
2.829 DN
Mô hình Jones điều chỉnh (1995), thêm biến chi phí
Young (1999) UK (1993-1996): 1.987 quan sát 5 mô hình: Healy (1985), DeAngelo (1986), Mô hình
điều chỉnh từ DeAngelo (1986): Friedlan (1994), Mô hình Jones (1991), Mô hình Jones điều chỉnh (1995) Kasznik (1999) US (1987-1991): 383 DN, 522 quan
sát
Mô hình Jones điều chỉnh (1995), kết hợp CFO
Yoon và Miller G.A (2002) Hàn Quốc (1994-1997): 663 DN , 2033 quan
sát
Mô hình Jones điều chỉnh (1995)
Mô hình Kang & Sivaramakrishnan (1995) Yoon và Miller G (2002) Hàn Quốc (1995-1997): 249 DN giai đoạn Từ Mô hình Jones điều chỉnh (1995), xây dựng mô hình
Trang 2437
TÁC GIẢ QUỐC GIA DỮ LIỆU MÔ HÌNH SỬ DỤNG Ghi chú
SEO mới cho Hàn Quốc Yoon và cộng sự (2006) Hàn Quốc (1995-2001): 2.895 quan sát Từ Mô hình Jones điều chỉnh (1995), xây dựng mô hình
mới cho Hàn Quốc Kothari và cộng sự(2005) US (1959-1998): 94.045 quan sát Xây dựng Mô hình Kothari và cộng sự (2005) từ Mô
hình Jones (1991) và Mô hình Jones điều chỉnh (1995), thêm ROA
Rahman và Ali (2006) Malaysia (2002-2003), 97 DN Mô hình Jones điều chỉnh (1995), bỏ PPE
Teshima & Shuto (2008) Japan (1991-2000): 18.163 quan sát Mô hình Jones điều chỉnh (1995), kết hợp CFO (Kaznik,
1999) Johari và cộng sự (2008) Malaysia (2002—2003): 598 quan sát, 234
DN
Mô hình Jones (1991)
Sahlan (2011) Malaysia 1994-2007:92 công ty Mô hình Jones điều chỉnh (1995)
Islam, Ali và Ahmad (2011) Bangladesh (1985-2005): 142 DN Mô hình của Yoon và cộng sự (2006) (phù hợp với các
nước châu Á) Ghosh (2011) India 2005: 677 DN Mô hình Jones (1991)
Fakhfakh và Nasfi (2012) Pháp (1998 - 2008): 87 DN Dechow và cộng sự (2003)
Nassirzadeh, Salehi và Alaei (2012) Iran (2006 - 2010): 114 DN Mô hình Jones điều chỉnh (1995)
38
TÁC GIẢ QUỐC GIA DỮ LIỆU MÔ HÌNH SỬ DỤNG Ghi chú
Alsharairi và Salama (2012) US (1999-2008): 661 DN Mô hình Jones điều chỉnh (1995) Ardison, Martinez và Galdi (2012) Brazil (1994-2010): 3.725 quan sát Mô hình Jones điều chỉnh (1995)
Mô hình Kang & Sivaramakrishnan (1995) Chargeddine, Riahi và Omri (2013) Tunisia (2003 - 2009): 19 DN, 133 quan
1999) Phan Thị Thùy Dương (2015) Việt Nam 2012-2013, dữ liệu quý, 24 công
ty phát hành thêm cổ phiếu và 220 công ty cùng ngành (11 ngành)
Mô hình Jones điều chỉnh (1995)
Khalil (2010) Egypt (2004-2007): 1.577 quan sát Mô hình Jones điều chỉnh (1995)
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Trang 2539
2.4 Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi
nhuận của doanh nghiệp
Nội dung tổng quan khái quát, phân tích các nghiên cứu trong nước và quốc tế
về các nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận Ngoài việc tổng quan các mô hình
ĐCLN, luận án tập trung vào việc tổng kết những nghiên cứu liên quan về các nhân tố
ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận, làm cơ sở cho nghiên cứu trong bối cảnh thị
trường chứng khoán Việt Nam
Các nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận nói chung hay những nghiên cứu về các
nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận nói riêng thường được tiến hành rộng rãi
tại các nước phát triển như Pháp (Fathi, 2013), UK (Marinakis, 2011), US (Li, 2010)
hay Canada (Othman và Zeghal, 2006) Bên cạnh đó, rất nhiều nghiên cứu cũng được
tiến hành tại các thị trường mới nổi và tại các nước đang phát triển như Iran, Tusiana,
Malaysia (Gumanti, 1996; Rahman và Ali, 2006; Sahlan, 2011; Nassirzaeh, Salehi và
Alaei, 2012; Charfeddine, Riahi và Omri, 2013) Một điểm khác biệt rất dễ nhận thấy
đó là có những nghiên cứu được tiến hành với một tổ hợp các nhân tố ảnh hưởng
trong khi một số nghiên cứu khác lại chỉ đi tìm hiểu sâu một nhân tố cụ thể
Nghiên cứu của Charfeddine, Riahi và Omri (2013) tại Tunisia phân chia các
nhân tố ảnh hưởng thành nhóm nhân tố “thúc đẩy” và “hạn chế” Nhóm “thúc đẩy” là
nhóm 3 biến thuộc đặc điểm doanh nghiệp như hệ số nợ, quy mô công ty, hiệu quả
hoạt động kinh doanh.; nhóm “hạn chế” gồm các biến về đặc điểm HĐQT, cấu trúc sở
hữu, kiểm toán và chính sách cổ tức Fathi (2013) nghiên cứu tại Pháp thì lại chia
nhóm “đặc điểm công ty” và “cơ chế kiểm soát”, trong đó “đặc điểm công ty” bao
gồm hệ số nợ, hiệu quả hoạt động, ngành và tình trạng niêm yết; “cơ chế kiểm soát”
bao gồm đặc điểm HĐQT, cấu trúc sở hữu và kiểm toán Tại Malaysia, Sahlan (2011)
nghiên cứu nhóm các biến liên quan tới đặc điểm hội đồng quản trị, kiểm toán, cấu
trúc sở hữu và quy mô công ty Li (2010) nghiên cứu tại Mỹ chỉ nghiên cứu nhóm các
nhân tố thuộc đặc điểm doanh nghiệp ảnh hưởng tới việc ưu tiên điều chỉnh lợi nhuận
nhằm tránh các ngưỡng thu nhập lỗ, ngưỡng thu nhập giảm và ngưỡng giảm đột ngột
so với kỳ vọng, nhóm đặc điểm này gồm: Quy mô công ty, Triển vọng phát triển, Khối
lượng giao dịch, Sự chính xác của dự đoán, Sự phân tán của dự đoán
Khác với các tác giả trên, nhiều công trình lại đi theo hướng tập trung tìm hiểu
sâu một nhân tố cụ thể Kim và cộng sự (2003) tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa
Quy mô công ty và điều chỉnh lợi nhuận Một số tác giả lại tìm hiểu về cấu trúc sở hữu
(Siregar và Utama, 2008) hay hệ số nợ (Defond & Jiambalvo, 1994; Alsharairi &
40
Salama, 2012) Ngoài ra, việc tìm hiểu về đặc điểm quản lý như cấu trúc hội đồng quản trị trong mối quan hệ điều chỉnh lợi nhuận cũng được chú ý (Alves, 2012) Tổng quan các công trình liên quan tới các nhân tố riêng lẻ là một nội dung quan trọng bởi điều này sẽ giúp luận án bổ sung và làm giàu thêm các đánh giá về từng nhân tố trong
hệ thống các nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 2.2 tổng kết các nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận được sử dụng trong nhiều nghiên cứu từ trước tới nay Qua phân tích việc sử dụng các nhân tố, luận án lựa chọn những nhân tố được cho là phù hợp cho việc nghiên cứu trong bối cảnh của thị trường chứng khoán Việt Nam Tại Việt Nam, các báo cáo tài chính được lập dựa trên sự hướng dẫn của Bộ Tài Chính về chế độ kế toán, chuẩn mực kế toán và các nguyên tắc kế toán Việc xây dựng các quy định, chuẩn mực rất có ích trong việc giúp giảm thiểu hiện tượng thông tin bất đối xứng và mâu thuẫn trong quan hệ đại diện Tuy nhiên, trong một chừng mực nào đó, chế độ kế toán hay các nguyên tắc kế toán được xây dựng không hoàn toàn cứng nhắc nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp, những người lập báo cáo có thể lựa chọn chính sách kế toán, phương pháp kế toán phù hợp với điều kiện thực tế tại công ty
Trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam, luận án tập trung vào hai nhóm biến: nhóm các nhân tố thuộc đặc điểm doanh nghiệp và nhóm các nhân tố thuộc
cơ chế quản lý - kiểm soát
2.4.1 Các nhân tố thuộc đặc điểm doanh nghiệp
2.4.1.1 Hệ số nợ
Như chúng ta đã biết, bên cạnh nguồn vốn thu hút từ cổ đông, các công ty còn huy động nguồn vay nợ, một mặt đáp ứng nhu cầu về vốn trong phát triển sản xuất kinh doanh, mặt khác là giải pháp để công ty giảm thiểu các chi phí đại diện phát sinh trong quan hệ đại diện giữa nhà quản lý - cổ đông (Jensen và Meckling, 1976) Hệ số
nợ là chỉ số phản ánh cấu trúc tài chính, có thể đo lường thông qua quan hệ giữa hai nguồn vốn cơ bản (nợ/vốn chủ sở hữu) Hệ số này cho biết thành phần các nguồn tài trợ nên tài sản của một công ty (Charfeddine, Riahi và Omri, 2013; Alsharairi và Salama (2012) Một số nghiên cứu sử dụng tỷ số (Tổng nợ/Tổng Tài sản) để phản ánh khả năng tự chủ tài chính của một đơn vị, cho biết bao nhiêu phần trăm tài sản của đơn
vị là hình thành từ nguồn đi vay (Shen và Chih, 2007; Fathi, 2013)
Hệ số nợ là một dấu hiệu cảnh báo trước về việc dòng tiền hiện tại và tương lai
có thể bị nhà quản lý thay đổi (Ross, 1977) Hệ số nợ xuất hiện trong rất nhiều các
Trang 26nghiên cứu liên quan tới ĐCLN (Charfeddine, Riahi và Omri, 2013; Fathi, 2013;
Fakhfakh và Nasfi, 2012; Nassirzadeh, Salehi và Alaei, 2012), và thực tế, tồn tại các
quan điểm khác nhau trong các nghiên cứu về hệ số nợ
Quan điểm thứ nhất đưa ra những bằng chứng cho thấy công ty có hệ số nợ cao
thì sẽ thực hiện điều chỉnh lợi nhuận nhiều hơn Lý thuyết kế toán thực chứng (Watts
và Zimmerman, 1986) và kết quả của nhiều nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng các công
ty có hệ số nợ cao thường thực hiện ĐCLN nhiều hơn để nới lỏng các điều khoản hạn
chế trong hợp đồng vay nợ (nới lỏng tỷ lệ nợ cho phép) (Dichev và Skinner, 2002)
hoặc thực hiện ĐCLN do áp lực và kỳ vọng từ thị trường (Richardson và cộng sự,
2002) Một số nghiên cứu gần đây tại Tunisian cũng cho kết quả tương tự,
Charfeddine, Riahi và Omri (2013) sử dụng ba mô hình đo lường điều chỉnh lợi nhuận
thì thấy hệ số nợ (nợ/vốn chủ sở hữu) có quan hệ thuận chiều với ĐCLN khi áp dụng
mô hình Rahman và Shahrur (2008)
Ngược lại, quan điểm thứ hai đi theo “giả thuyết kiểm soát” của Jensen (1986)
cho rằng không phải lúc nào tăng hệ số nợ cũng là biểu hiện xấu, việc duy trì một tỷ lệ
nợ hợp lý sẽ giúp tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, khi tăng nợ vay thay vì phát hành
thêm cổ phiếu, chi phí đại diện sẽ giảm và hạn chế hành vi cơ hội của nhà quản lý
Ngoài ra, các tác giả như Chung và cộng sự (2005); Lee và cộng sự (2007) cũng lý
luận rằng khi các công ty bị ràng buộc bởi những khoản nợ thì sẽ chịu sự chi phối,
kiểm soát của các chủ nợ và do đó họ khó có thể thực hiện ĐCLN Kết quả nghiên cứu
của Dechow và Skinner (2000), Phạm Thị Bích Vân (2012) cho kết quả rằng công ty
có hệ số nợ cao thì ít thực hiện điều chỉnh lợi nhuận Nassirzadeh, Salehi và Alaei
(2012) tìm hiểu thị trường chứng khoán tại Iran, Fakhfakh và Nasti (2012) tiến hành
nghiên cứu tại Pháp và Alsharairi và Salama (2012) nghiên cứu thị trường Mỹ cũng
chỉ ra Hệ số nợ tăng thì sẽ làm giảm ĐCLN Đặc biệt, nghiên cứu của Zamri và cộng
sự (2013) trên thị trường chứng khoán tại Malaysia cho thấy hệ số nợ ngược chiều với
ĐCLN nhưng khác biệt là ở chỗ điều chỉnh lợi nhuận ở đây không sử dụng các biến
dồn tích mà qua dàn xếp các giao dịch thực tế
Bên cạnh đó, một vài nghiên cứu cho thấy không có mối liên hệ giữa hệ số nợ
và ĐCLN (Chung và Kallapur, 2003; Ardison, Martinez và Galdi; 2012; Fathi, 2013)
Riêng nghiên cứu của Charfeddine, Riahi và Omri (2013, khi sử dụng 3 mô hình đo
lường ĐCLN thì có tới 2 mô hình là của các tác giả Dechow, Sloan và Sweeney
(1995), Kothari và cộng sự (2005) cũng cho kết quả là không có mối liên hệ giữa hệ số
nợ và ĐCLN
Một số nghiên cứu cho kết quả pha trộn, Shen và Chih (2007) nghiên cứu số liệu của 9 quốc gia Châu Á thì thấy hệ số nợ càng cao thì xu hướng ĐCLN càng nhiều trong điều kiện quản trị công ty tốt và ngược lại hệ số nợ càng cao nhưng với quản trị công ty kém thì sẽ bị thị trường xem xét kỹ lưỡng và do đó ít có khả năng ĐCLN Januarsi, Badina và Febrianti (2014) chọn mẫu là các công ty sản xuất tại Indonesia và thấy rằng hệ số nợ có quan hệ thuận chiều khi đo lường điều chỉnh lợi nhuận thông qua biến dồn tích và ngược chiều khi đo lường điều chỉnh lợi nhuận thông qua các hoạt động thực tế
Bảng 2.2 tổng kết các nghiên cứu liên quan tới mối quan hệ giữa hệ số nợ và ĐCLN, hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng tỷ số nợ/vốn chủ, ngoại trừ một số nghiên cứu đo tỷ số nợ/tổng tài sản (Fathi, 2013; Shen & Chih, 2007) Về việc đo lường hệ số
nợ, Defond & Jiambalvo (1994) đã tổng kết rằng đòn bảy tài chính (nợ/vốn chủ sở hữu)
là tỷ số phổ biến được áp dụng để đánh giá trong các nghiên cứu điều chỉnh lợi nhuận cũng như trong giả thuyết nợ/vốn chủ được đề cập trong Watts & Zimmerman (1986) Như vậy, mối quan hệ giữa hệ số nợ và điều chỉnh lợi nhuận vẫn là một câu hỏi
mở Riêng tại Việt Nam, trong số rất hiếm nghiên cứu về ĐCLN, nghiên cứu của Phạm Thị Bích Vân (2012) có sử dụng hệ số nợ (đòn bẩy tài chính) nhưng cũng còn nhiều hạn chế về dữ liệu và phương pháp.Vì vậy, luận án muốn kiểm chứng nhân tố này trong mối quan hệ với điều chỉnh lợi nhuận trên TTCK Việt Nam một cách toàn diện hơn
2.4.1.2 Hiệu quả tài chính
Thực tế, khi đánh giá một công ty, các nhà đầu tư chủ yếu sẽ đánh giá các thông tin kế toán công bố trên thị trường chứng khoán như giá cổ phiếu hay thông tin từ báo cáo tài chính Charfeddine, Riahi và Omri (2013) cho rằng nếu hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp không tốt, tất yếu sẽ kéo theo sự giảm giá cổ phiếu công ty và điều này ảnh hưởng tới giá trị doanh nghiệp Nhiều nhà quản lý tìm cách điều chỉnh lợi nhuận để ngăn chặn việc giảm giá trị doanh nghiệp do cổ phiếu rớt giá (Degeorge và cộng sự, 1999) Việc giữ uy tín cho doanh nghiệp cũng là một động lực dẫn tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Hirshleifer, 1993) Vì thế, nếu doanh nghiệp kinh doanh không tốt, xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận để giữ uy tín sẽ xảy ra (Charfeddine, Riahi và Omri, 2013)
Cheng và Warfield (2005) đưa ra bằng chứng về việc các nhà quản trị điều chỉnh tăng lợi nhuận nhằm tăng giá cổ phiếu Để nhận được những phản ứng tích cực
từ thị trường thì ĐCLN sẽ được thực hiện để phù hợp với kỳ vọng của thị trường
Trang 2743
(Charfeddine, Riahi và Omri, 2013) Chen và cộng sự (2006), Chen, Cheng và Wang
(2010), Charfeddine, Riahi và Omri (2013) chứng minh được giả thuyết về việc những
công ty hoạt động không hiệu quả nhiều khả năng sẽ tiến hành điều chỉnh lợi nhuận
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của Fathi (2013) cho thấy khi các công ty hoạt động
hiệu quả cao thì có xu hướng ít thực hiện điều chỉnh lợi nhuận bởi họ muốn giữ uy tín
và thể hiện sự tin cậy Trong khi đó nghiên cứu của Rahman và Ali (2006) tại
Malaysia, Alves (2012) tại Bồ Đào Nha thì lại cho thấy hiệu quả tài chính không có
ảnh hưởng tới ĐCLN Một số công trình cho kết quả ngược lại, các tác giả Lee, Li &
Yue (2006) đưa ra kết quả là khi hiệu quả hoạt động cao thì nhà quản trị vẫn có xu
hướng giữ giá cổ phiếu, giá cổ phiếu thể hiện phản ứng của thị trường trước lợi nhuận
báo cáo và điều này sẽ giúp nhà quản trị duy trì kế hoạch thưởng của họ Tác giả
Dyreng, Hanlon & Maydew (2011) cho rằng các công ty hoạt động hiệu quả nhưng có
chi nhánh, công ty con tại các quốc gia có thuế thu nhập thấp (tax haven) thì khả năng
điều chỉnh lợi nhuận sẽ cao hơn các công ty khác
Hiệu quả hoạt động của công ty có thể đo lường bằng nhiều chỉ số ví dụ sự thay
đổi về doanh thu, khối lượng sản xuất, dòng tiền hoặc chỉ số hoàn vốn ROE, ROA
(Akram và cộng sự, 2015; Rahman và Ali, 2006) Matsumoto (2002) đo lường hiệu
quả hoạt động bằng chỉ số khối lượng sản xuất và tìm ra mức độ khối lượng sản xuất
có ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận Trong khi đó Charfeddine, Riahi và Omri
(2013), Alves (2012) đo lường thông qua đánh giá biến động giá cổ phiếu để tính toán
Tác giả Fathi (2013) thì sử dụng chỉ số Tobin’s Q (giá trị vốn hóa thị trường + Giá trị
thị trường của nợ)/Giá trị thay thế của tài sản)
Tại Việt Nam, hiếm thấy nghiên cứu về ĐCLN và vì vậy, mối quan hệ giữa
hiệu quả hoạt động của công ty với ĐCLN cần được kiểm chứng với các công ty cổ
phần trên TTCK Việt Nam
2.4.1.3 Quy mô công ty
Trên thực tế, nhân tố về quy mô công ty đã thu hút được rất nhiều nghiên cứu
về ĐCLN bởi đây là biến quan trọng phản ánh đặc điểm doanh nghiệp
Burgstahler và Dichev (1997) là những tác giả đi tiên phong khi quan sát điều
chỉnh lợi nhuận trong điều kiện Quy mô công ty thay đổi Burgstahler và Dichev
(1997) không sử dụng biến dồn tích để đo lường ĐCLN mà sử dụng phương pháp
phân bố không liên tục để phát hiện ĐCLN và phương pháp này trở thành hướng đi
của nhiều nghiên cứu khác (Kim, Liu, Rhee, 2003; Liu và Skerratt, 2014; Poli, 2013;
Mörec, 2012) Trong những nghiên cứu của các tác giả này, quy mô công ty thường
44
được chia thành công ty quy mô nhỏ, quy mô vừa và quy mô lớn Kết quả nghiên cứu cũng rất đa dạng: Theo Kim, Liu và Rhee (2003), các DN quy mô nhỏ ĐCLN nhiều hơn các DN khác (quy mô lớn, quy mô vừa) để tránh báo lỗ (avoid reporting losses) và ngược lại DN lớn và vừa thì lại thực hiện ĐCLN nhiều hơn để tránh giảm lợi nhuận (avoid reporting earnings decreases) Liu và Skerratt (2014) nghiên cứu các công ty niêm yết (tuân thủ IFRS), công ty quy mô vừa (tuân thủ UK GAAP) và công ty quy
mô nhỏ (tuân thủ FRSSE) tại UK và thấy rằng các công ty quy mô vừa thực hiện ĐCLN nhiều nhất (tránh lỗ) còn các công ty niêm yết và công ty nhỏ thì như nhau, không tìm thấy bằng chứng tránh lỗ Nghiên cứu của Li (2010) tại Mỹ tìm hiểu ảnh hưởng của quy mô công ty tới các ngưỡng điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị (ngưỡng thu nhập lỗ, ngưỡng thu nhập giảm và ngưỡng giảm đột ngột so với kỳ vọng) Poli (2013) nghiên cứu cả công ty nhỏ và lớn trong mối quan hệ với điều chỉnh lợi nhuận tại Ý và Mörec (2012) nghiên cứu các doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa tại Slovenia cho thấy với quy mô khác nhau thì các doanh nghiệp thực hiện ĐCLN
ở các cấp độ khác nhau
Tuy nhiên, luận án này theo hướng điều chỉnh lợi nhuận sử dụng biến dồn tích nên phần nội dung tiếp theo của luận án sẽ đi vào tổng kết các công trình trong đó ĐCLN được đo lường thông qua tính toán phần dồn tích Các nghiên cứu về mối quan
hệ giữa nhân tố Quy mô công ty và ĐCLN thường đem lại nhiều kết quả trái chiều Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng Quy mô công ty càng lớn thì càng hạn chế được ĐCLN, nguyên nhân là do các công ty lớn thường có hệ thống quản trị nội bộ tốt, kiểm toán nội bộ chặt chẽ hơn, thường được kiểm toán bởi những công ty nổi tiếng như Big 4 và để giữ uy tín và danh tiếng thì bản thân các công ty này sẽ hạn chế ĐCLN (Warfield và cộng sự, 1995; Gore và cộng sự, 2001) Ngoài ra, những công ty lớn thì thường được yêu cầu cung cấp nhiều thông tin hơn do đó họ sẽ tránh ĐCLN trong khi những công ty nhỏ thì khả năng không công bố nhiều thông tin quan trọng có thể trở thành lợi thế của họ và khiến họ thực hiện ĐCLN nhiều hơn (Lee và Choi, 2002)
Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng có mối quan hệ thuận chiều giữa quy mô và ĐCLN với các lý do đưa ra như DN lớn thì áp lực đạt được kết quả như dự đoán là cao, sức mạnh trong thương lượng với kiểm toán, quyền lực quản trị lớn có thể áp đảo
hệ thống kiểm soát nội bộ (Nelson và cộng sự, 2002) Ngoài ra, các công ty lớn thường
bị soi xét kỹ bởi thị trường, ngân hàng, các nhà phân tích và vì thế họ có động lực nhiều hơn trong ĐCLN (Richardson và cộng sự, 2002) Jones (1991) tìm thấy bằng chứng cho việc có quan hệ giữa sự điều chỉnh giảm lợi nhuận trong các công ty lớn tại
Trang 28US khi Ủy ban thương mại quốc tế Mỹ điều tra các doanh nghiệp xem doanh nghiệp
nào đủ điều kiện hưởng viện trợ Fakhfakh và Nasfi (2012) nghiên cứu biến quy mô
công ty trong bối cảnh sáp nhập và mua lại tại Pháp thì thấy có mối quan hệ thuận
chiều giữa quy mô và ĐCLN Nassirzadeh, Salehi và Alaei (2012) nghiên cứu tại Iran
cho thấy cùng quan điểm với Fakhfakh và Nasti (2012) Tại Việt Nam, nghiên cứu của
Nguyễn Thị Uyên Phương (2014), Phạm Thị Bích Vân (2012) đem lại kết quả thuận
chiều Charfeddine, Riahi và Omri (2013) nghiên cứu tại Tunisia với giả thuyết đưa ra
là ngược chiều với ĐCLN nhưng kết quả cả 3 mô hình sử dụng đo lường đều có ý
nghĩa thống kê với p-value 1% nhưng lại là thuận chiều
Ngoài ra, có nhiều nghiên cứu tại các nước đang phát triển như Sahlan (2011)
tại Malaysia hay Huỳnh Thị Vân (2012) tại Việt Nam thì quy mô công ty lại không có
mối quan hệ ảnh hưởng nào tới ĐCLN
Về vấn đề đo lường quy mô công ty, Göksel (2013) sử dụng giá trị tổng tài sản
trong khi các tác giả Charfeddine, Riahi và Omri (2013), Sahlan (2011) lấy giá trị log
của tổng tài sản Nghiên cứu của Nassirzadeh, Salehi và Alaei (2012) lấy giá trị tổng
doanh thu hàng năm, trong khi Shen và Chih (2007) sử dụng log của tổng doanh thu
Một số nghiên cứu có cách đo lường khác khi lấy log của giá trị thị trường vốn chủ sở
hữu (Li, 2010) hoặc tỷ số giữa giá phải trả cho công ty bị mua lại/giá thị trường của
công ty đi mua lại trong điều kiện đánh giá quy mô của công ty bị sáp nhập khi tiến
hành thủ tục hợp nhất - sáp nhập (Fakhfakh và Nasti, 2012)
Luận án nhận thấy rằng Quy mô công ty là một biến quan trọng nhưng chưa
được nghiên cứu sâu trong số rất ít các nghiên cứu tại Việt Nam về ĐCLN Vì vậy,
luận án sử dụng biến Quy mô công ty là biến độc lập trong mô hình nghiên cứu về các
nhân tố ảnh hưởng tới ĐCLN tại Việt Nam
2.4.2 Các nhân tố thuộc đặc điểm quản lý – kiểm soát
Cơ chế quản lý - kiểm soát là giải pháp hợp lý để điều hòa các hành vi cơ hội
của nhà quản trị (Healy, 1985; Holthausen và cộng sự, 1995) Thực tế có nhiều nhân tố
thuộc cơ chế quản lý hay kiểm toán ảnh hưởng tới ĐCLN, “gây trở ngại” cho ĐCLN
Tuy vậy, trong phạm vi luận án, một số nhân tố được thảo luận và kiểm chứng như
Đặc điểm HĐQT, Cấu trúc sở hữu và Kiểm toán độc lập
Hội đồng quản trị là nhân tố quan trọng nhất trong quản trị công ty và thu hút
được sự quan tâm của nhiều nghiên cứu Đặc điểm của HĐQT rất đa dạng trong
nghiên cứu của Fathi (2013) với bốn nội dung: Quy mô hội đồng quản trị, Tỷ lệ nhà
quản trị độc lập, Sự tách biệt giữa CEO và Chủ tịch HĐQT, Tần suất họp của HĐQT
Một số nghiên cứu chỉ lựa chọn một đặc điểm nào đó của HĐQT như Sự tồn tại của nhà quản trị độc lập (Fakhfakh & Nastic, 2012)
Hội đồng quản trị xuất hiện để kiểm soát hành động của nhà quản lý (giảm chi phí đại diện) và để đạt hiệu quả cao thì việc đánh giá cấu trúc HĐQT là cần thiết (Peasnell và cộng sự, 2003) Charfeddine, Riahi và Omri (2013) gợi ý khi tìm hiểu cấu trúc HĐQT cần đánh giá hai đặc tính là Quy mô HĐQT và Sự tách biệt chức năng giữa CEO và chủ tịch HĐQT Luận án này đi theo quan điểm của Charfeddine, Riahi
và Omri (2013); Fakhfakh và Nasti (2012) trong việc tìm hiểu đặc điểm HĐQT với ba đặc điểm là “quy mô HĐQT”, “sự tách biệt giữa CEO và Chủ tịch HĐQT” cùng với
“Quy mô HĐQT”, hầu hết các nghiên cứu đo lường thông qua việc tìm hiểu số lượng thành viên trong HĐQT (Fathi, 2013; Rahman và Ali, 2006; Alves, 2012)
Tại Việt Nam, không nhiều nghiên cứu chính thức tìm hiểu về ảnh hưởng của Quy mô HĐQT tới ĐCLN mà chỉ thấy có nghiên cứu liên quan tới Quy mô HĐQT và công bố thông tin (Nguyễn Thị Thanh Phương, 2013) Luật doanh nghiệp (2014) của Việt Nam quy định số lượng thành viên tối thiểu trong HĐQT là 3 và tối đa là 11 Thông tư 121/2012/ BTC, đối với công ty đại chúng quy mô lớn và công ty niêm yết thì số thành viên tối thiểu phải có ít nhất là 05 thành viên HĐQT và tối đa 11 thành viên HĐQT Sự khác biệt về số lượng thành viên trong HĐQT có thể là một nhân tố giúp chúng ta giải thích ảnh hưởng tới ĐCLN tại các doanh nghiệp Việt Nam khi có cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán
Trang 2947
2.4.2.2 Số lượng thành viên HĐQT độc lập
Thành viên hội đồng quản trị độc lập (gọi đầy đủ là thành viên HĐQT độc lập
không điều hành) là thành viên HĐQT không có quan hệ vật chất với công ty, hay các
công ty con, công ty liên kết của công ty - dù là trực tiếp hay gián tiếp Nhiệm vụ của
họ là đưa ra các ý kiến độc lập về chiến lược cũng như bảo vệ sự công bằng cho cổ
đông nhỏ và vì quyền lợi của các cổ đông Họ có trách nhiệm can thiệp vào các quyết
định của Ban điều hành nếu các quyết định này toan tính vụ lợi cho một số cá nhân,
đảm bảo quản trị công ty công bằng, minh bạch, trách nhiệm Cơ cấu thành viên Hội
đồng quản trị đối với công ty cổ phần đại chúng và niêm yết cần đảm bảo sự cân đối
giữa các thành viên nắm giữ các chức danh điều hành với các thành viên độc lập, trong
đó tối thiểu một phần ba (1/3) tổng số thành viên Hội đồng quản trị là thành viên độc
lập (Luật DN 2014, TT 121/2012/TT-BTC)
Để HĐQT hoạt động hiệu quả, cơ cấu HĐQT phải đạt được sự hài hòa nhất
định nghĩa là bên cạnh những thành viên nắm quyền lực điều hành trong tay thì cũng
cần có những thành viên độc lập không nắm giữ quyền điều hành cũng như không phải
là cổ đông lớn (Shamsul Nahar, 2001) Chen và công sự (2006) nghiên cứu tại Trung
Quốc đưa ra kết quả về mối quan hệ ngược chiều cho rằng tỷ lệ thành viên HĐQT độc
lập càng cao thì công ty càng ít xảy ra gian lận Kết quả này giống kết luận của Johari
và cộng sự (2008) tại Malaysia, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập càng cao thì việc kiểm
soát hành vi quản trị càng tốt và sẽ làm giảm ĐCLN Sự tồn tại của các thành viên độc
lập sẽ giúp giám sát hành vi nhà quản trị, từ đó ngăn chặn các hành động gian lận
Rahman và Ali (2006) tại Malaysia thì không tìm thấy mối quan hệ nào giữa tỷ lệ
thành viên HĐQT độc lập và ĐCLN
“Số lượng thành viên HĐQT độc lập” là một nhân tố được đề cập nhiều trên thị
trường chứng khoán Việt Nam (Luật doanh nghiệp, 2014), nhưng lại ít xuất hiện trong
các nghiên cứu tại Việt Nam Vì vậy, “Số lượng thành viên HĐQT độc lập” sẽ là biến
thứ 3 được lựa chọn liên quan đến đặc điểm HĐQT nhằm nghiên cứu chi tiết hơn về
quản trị công ty và ĐCLN tại Việt Nam
2.4.2.3 Sự kiêm nhiệm CEO và chủ tịch HĐQT
Khi một cá nhân đảm nhiệm cả hai vị trí của CEO và chủ tịch HĐQT thì sẽ có
thể tạo ra những mâu thuẫn về lợi ích Việc tập trung quyền lực vào tay một cá nhân có
thể làm xuất hiện những hành vi vượt quá giới hạn (Kumani và Pattanayak, 2014)
Hơn nữa, nếu hai chức năng này là một thì sẽ làm giảm chất lượng giám sát của
48
HĐQT (Jensen và Meckling, 1976; Dechow và cộng sự, 1996; Xie và cộng sự, 2003) hoặc nhà quản trị sẽ hành động vì lợi ích cá nhân thay vì quyền lợi lâu dài của doanh nghiệp (Healy, 1985) Bản thân quan hệ đại diện giữa CEO và những người nắm giữ
cổ phiếu đã là khởi nguồn của nhiều hành vi phục vụ cho lợi ích cá nhân, nếu CEO lại
là người nằm trong HĐQT thì sẽ thiếu đi sự giám sát cần thiết trong điều tiết quan hệ đại diện
Kết quả nghiên cứu của Mulgrew và Forker (2006) cho thấy nếu CEO đồng thời
là chủ tịch HĐQT thì nhiều khả năng ĐCLN sẽ cao Kết quả nghiên cứu thị trường Ấn
Độ của Kumani và Pattanayak (2014) cho thấy tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa
Sự tách biệt và ĐCLN Ngược lại, Charfeddine, Riahi và Omri (2013) cho thấy sự tách biệt giữa CEO và chủ tịch HĐQT làm ĐCLN thực hiện nhiều hơn nhưng không đáng
kể (độ tin cậy thấp 10%) với 2 mô hình của Dechow và cộng sự (1995) và Kothari và cộng sự (2005) trong khi Rahman và Shahrur (2008) thì không thấy có mối liên hệ Trong khi đó Fathi (2013) nghiên cứu tại Pháp, Rahman và Ali (2006) nghiên cứu tại Malaysia cũng không thấy tồn tại mối quan hệ nào
Về việc đo lường “Sự tách biệt chức năng CEO và chủ tịch HĐQT”, các tác giả thường gán giá trị 1 nếu CEO thuộc HĐQT và 0 nếu không thuộc (Charfeddine, Riahi
và Omri, 2013; Fathi, 2013; Rahman và Ali, 2006; Sahlan, 2011)
Khi tiến hành nghiên cứu về ĐCLN tại thị trường Việt Nam, đặc điểm về sự kiêm nhiệm chức vụ của CEO và Chủ tịch HĐQT là một biến mà luận án quan tâm
2.4.2.4 Cấu trúc sở hữu (Tỷ lệ sở hữu nhà nước và Tỷ lệ sở hữu nước ngoài)
Ngoài những đặc điểm về HĐQT thì cấu trúc sở hữu là thành tố thuộc cơ chế quản trị công ty có thể tác động tới việc giải quyết mâu thuẫn lợi ích giữa nhà quản lý
và người nắm giữ cổ phiếu Cấu trúc sở hữu khác với các nhân tố khác trong quản trị công ty ở chỗ nó tạo được ảnh hưởng tới giá trị công ty (Fakhfakh và Nasfi, 2012; Võ Xuân Vinh, 2014) Điều này có được là do khi có sự tồn tại đa dạng của các nhóm cổ đông trong cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp (các nhóm này có quyền lợi, lợi ích khác nhau đồng thời có các mối quan hệ với chính phủ, ngân hàng và đối tác ở mức độ khác nhau) nên sẽ tạo ra sự ảnh hưởng tới các quyết định, từ đó tác động tới giá trị doanh nghiệp (Võ Xuân Vinh, 2014)
Rất nhiều nghiên cứu liên quan tới cấu trúc sở hữu và ĐCLN với phạm vi khác nhau Alves (2012) tại Bồ Đào Nha nghiên cứu cấu trúc sở hữu trên 3 góc độ Tỷ lệ sở hữu thuộc nhà quản lý, Tỷ lệ sở hữu bởi cổ đông đa số và Tỷ lệ sở hữu bởi cổ đông tổ
Trang 30chức trong khi nghiên cứu của Fakhfakh và Nasfi (2012) tại Pháp hay Chargeddine,
Riahi và Omri (2013) tại Tunisa nghiên cứu hai khía cạnh trong Cấu trúc sở hữu bao
gồm Tỷ lệ sở hữu thuộc nhà quản lý và Tỷ lệ sở hữu (tập trung) bởi cổ đông đa số
Một số nghiên cứu tại Trung Quốc tập trung vào việc đánh giá cấu trúc sở hữu trên góc
độ tỷ lệ sở hữu nhà nước (Liu & Lu, 2007; Zhang, Uchida, & Bu, 2011) Cấu trúc sở
hữu với tỷ lệ sở hữu nước ngoài cũng thu hút được nhiều sự quan tâm (Guo và cộng
sự, 2015; Beuselinck, Blanco & Lara, 2013) Tổ chức tài chính (IFC), thành viên của
Nhóm ngân hàng thế giới, khi đánh giá về thẻ điểm quản trị công ty tại Việt Nam thì
lựa chọn việc đánh giá về cấu trúc sở hữu trên khía cạnh sở hữu nhà nước và sở hữu
nước ngoài (Worldbank, 2011) Luận án đi theo quan điểm của Tổ chức tài chính IFC,
nghiên cứu về cấu trúc sở hữu trên khía cạnh sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài
Tỷ lệ sở hữu nhà nước
Đặc trưng của TTCK Việt Nam về cấu trúc sở hữu đó là sự tồn tại của các
doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Thông thường, sự tồn tại của các DNNN là để duy
trì sự kiểm soát đối với một số ngành then chốt (dầu mỏ, hàng không, viễn thông) hoặc
vì các mục tiêu chính trị - xã hội (vấn đề việc làm, thuế, phúc lợi xã hội) chứ không
phải mục tiêu hàng đầu là tối đa hóa lợi nhuận Trước năm 1986, nền kinh tế Việt Nam
là nền kinh tế tập trung bao cấp, các doanh nghiệp ít quan tâm tới hiệu quả hoạt động
do được nhà nước bao cấp toàn bộ Để giảm gánh nặng cho ngân sách quốc gia, giúp
các doanh nghiệp ngày một tự chủ hơn, từ năm 1986 chính phủ Việt Nam đã quyết
định tái cơ cấu các doanh nghiệp theo định hướng của nền kinh tế thị trường thông qua
việc cổ phần hóa mạnh mẽ các DNNN Tuy vậy, tính đến nay, tỷ lệ SH nhà nước tại
các công ty cổ phần vẫn rất lớn và vẫn còn nhiều tồn tại
Khi nghiên cứu về DNNN, Fan và cộng sự (2007) nghiên cứu tại Trung Quốc
và đưa ra những bằng chứng thực nghiệm rằng các DNNN thường yếu kém trong công
tác quản trị và không chuyên nghiệp Thường thì các nhà quản trị trong DNNN là được
nhà nước bổ nhiệm, họ có thể lợi dụng các mối quan hệ chính trị hoặc tận dụng những
lợi thế về khả năng tiếp cận TTCK để có những hành vi vì lợi ích cá nhân hoặc ĐCLN
nhằm đạt được con số kỳ vọng mà nhà nước, cấp trên đặt ra (Aharony et al., 2000)
Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng về đặc điểm của TTCK do
xuất phát điểm đều là từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và cả những đặc điểm
trong luật doanh nghiệp (Bùi Xuân Hải, 2006), do đó, các nghiên cứu tại Trung Quốc
sẽ là một trong những tham khảo quan trọng cho Việt Nam
Cheng, Wang & Wei (2014) khi nghiên cứu các doanh nghiệp Trung Quốc thì thấy DNNN có khuynh hướng thổi phồng lợi nhuận trong thời kỳ IPOs Zhang, Uchida
& Bu (2011) cho thấy mối quan hệ thuận chiều giữa tỷ lệ SH nhà nước và độ lớn của phần giá trị dồn tích có thể điều chỉnh Mối quan hệ thuận chiều cũng là kết quả nghiên cứu của Guo & Ma (2015) Khi tỷ lệ sở hữu của nhóm cổ đông điều khiển tăng đến một mức độ nào đó thì họ sẽ đối mặt với sự chủ quan của mình (hiện tượng entrenchment) (Morck và cộng sự, 1988), vì thế mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước (cổ đông điều khiển) và ĐCLN có thể không phải là tuyến tính mà là dạng chữ U Nghiên cứu của (Ding và cộng sự, 2007) cho thấy khi quan hệ giữa tỷ lệ SH tập trung (nhà nước) và ĐCLN là thuận chiều khi tăng lên 50%-56%, qua ngưỡng này, lại là mối quan hệ ngược chiều
Tỷ lệ sở hữu nước ngoài
Huy động vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài là một kênh hấp dẫn đối với doanh nghiệp niêm yết nói riêng và TTCK nói chung Việc thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài thể hiện uy tín của doanh nghiệp đồng thời là nguồn lực bổ sung nhằm tăng cường tính thanh khoản và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc
tế Nghiên cứu của (Aggarwal, Klapper & Wysocki, 2003) chỉ ra rằng các nhà đầu tư ngoại thường rót vốn nhiều hơn vào các công ty có chất lượng thông tin kế toán cao, nói cách khác, tỷ lệ sở hữu nước ngoài thường sẽ lớn tại các công ty có chất lượng thông tin kế toán tốt
TTCK Việt Nam cũng có nhiều nét đặc thù liên quan tới vấn đề thu hút đầu tư ngoại Khi TTCK Việt Nam mới hình thành, luật pháp Việt Nam hạn chế tỷ lệ sở hữu bởi đầu tư ngoại, cụ thể, các nhà đầu tư không được phép sở hữu quá 20% vốn điều lệ …Điều này là do nhà nước muốn bảo vệ quyền kiểm soát của các cổ động trong nước Tuy nhiên đến nay, tỷ lệ trần về SH nước ngoài đã được nới lỏng, việc không hạn chế tỷ lệ SH nước ngoài khiến dòng vốn đầu tư nước ngoài vào TTCK Việt Nam đã tăng mạnh Tỷ lệ SH nước ngoài được đánh giá giữ vai trò then chốt trong quản trị công ty cho nên việc đánh giá mối quan hệ giữa tỷ lệ SH nước ngoài và ĐCLN tại Việt Nam là cần thiết
Thực tế, nội dung này đã được kiểm chứng bởi rất nhiều nghiên cứu trên thế giới Guo và cộng sự (2015) chỉ ra rằng các công ty có tỷ lệ SH nước ngoài cao hơn thì
sẽ ít thực hiện ĐCLN hơn Ali và cộng sự (2008) nghiên cứu tại Malaysia thì không phát hiện được bằng chứng về mối quan hệ giữa tỷ lệ SH nước ngoài và ĐCLN Beuselinck, Blanco & Lara (2013) sử dụng mô hình Jones (1991) và tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa tỷ lệ SH nước ngoài và chất lượng thông tin kế toán An
Trang 3151
(2015) cũng sử dụng 3 mô hình dồn tích và có kết luận về tỷ lệ SH nước ngoài càng
cao thì càng đảm bảo tính thận trọng trong kế toán (ĐCLN sẽ giảm) Các tác giả trên
cũng đưa ra kết luận về vai trò tích cực của sở hữu nước ngoài trong việc giảm các
hành vi cơ hội trong quản trị và do đó chất lượng báo cáo thông tin tài chính sẽ tăng
Về phương pháp đo lường biến “Cấu trúc sở hữu” (Tỷ lệ SH nhà nước hay Tỷ lệ
SH nước ngoài) cũng rất đồng nhất giữa các nghiên cứu, tỷ lệ % cổ phiếu phổ thông sở
hữu bởi nhà nước (Guo & Ma, 2015; Zhang, Uchida, & Bu, 2011) hay tỷ lệ cổ phiếu phổ
thông sở hữu bởi nhà đâu tư nước ngoài (Ali và cộng sự, 2008; Guo và cộng sự, 2015)
Tóm lại, qua tổng quan và phân tích các nghiên cứu về mối liên hệ giữa cấu trúc
sở hữu và ĐCLN, luận án lựa chọn biến Cấu trúc sở hữu (Tỷ lệ SH nhà nước và Tỷ lệ
SH nước ngoài) và kỳ vọng đây là hai biến có ý nghĩa và đem lại nhiều thông tin khi
nghiên cứu tại TTCK Việt Nam
2.4.2.5 Kiểm toán độc lập
Kiểm toán đóng vai trò quan trọng trong quản trị công ty và thu hút được sự
quan tâm của các học giả cũng như những nhà ban hành chính sách Nhiều nghiên cứu
tại các quốc gia nhấn mạnh vai trò của kiểm toán trong bảo vệ các nhà đầu tư bên
ngoài và đây là công cụ nhằm giảm chi phí đại diện tại US (Chow, 1982), UK (Chan
và cộng sự, 1993b), tại các nền kinh tế Châu Á (Simon và cộng sự, 1992; DeFond và
cộng sự, 2000; Ghosh, 2011) Nghiên cứu của Ghosh (2011) tại Ấn Độ cho rằng với
các nền kinh tế đang phát triển và có nhiều tiềm năng như Ấn Độ thì hệ thống kiểm
soát công ty còn chưa mạnh vì thế vai trò kiểm toán là cần thiết để bảo vệ các nhà đầu
tư Do đó, luận án lựa chọn biến kiểm toán cho bối cảnh thị trường chứng khoán mới
nổi tại Việt Nam
Nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa kiểm toán (tổ chức kiểm toán trong nước
và phí kiểm toán) ảnh hưởng tới ĐCLN (Ghosh, 2011) Trong khi Fathi (2013) đánh
giá 2 biến liên quan tới kiểm toán độc lập là Kiểm toán độc lập là các công ty kiểm
toán bên ngoài và Ủy ban kiểm toán do Hội đồng quản trị thành lập để đảm bảo thông
tin kế toán tài chính và hệ thống kiểm soát nhằm giảm các chi phí đại diện Tuy nhiên
Charfeddine, Riahi và Omri (2013); Fakhfakh và Nastic (2012) lại chỉ sử dụng biến
kiểm toán độc lập
Khi nghiên cứu về biến Kiểm toán độc lập, Fathi (2013) đưa ra bằng chứng cho
thấy khi được kiểm toán bởi Big 4 thì chất lượng thông tin kế toán sẽ tốt hơn và làm
giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận do các công ty kiểm toán lớn như Big 4 thì tính độc
52
lập, chuyên nghiệp, danh tiếng, quy mô thường được coi là rào cản đối với ĐCLN và thông tin công bố sẽ tốt hơn (Xie và cộng sự, 2003) Fakhfakh và Nasfi (2012) cũng cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa Kiểm toán độc lập và ĐCLN
Ngoài ra rất nhiều nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ giữa Kiểm toán độc lập
và ĐCLN Chargeddine, Riahi và Omri (2013) mặc dù sử dụng tới ba mô hình đo lường điều chỉnh lợi nhuận của Dechow và cộng sự (1995), Kothari và cộng sự (2005)
và Rahman và Shahrur (2008) nhưng kết quả cũng cho thấy không có mối liên hệ nào tồn tại giữa Kiểm toán độc lập và ĐCLN Chen và cộng sự (2006) cũng không tìm thấy mối liên hệ có ý nghĩa nào khi đo lường uy tín của các công ty kiểm toán hàng đầu trong mối quan hệ với ĐCLN
Thông thường, khi đo lường biến “Kiểm toán”, biến sẽ được gán giá trị 1 nếu các công ty được kiểm toán bởi Big 4 và 0 nếu không phải là Big 4 (Charfeddine, Riahi và Omri, 2013; Fathi, 2013; Fakhfakh và Nasfi (2012); Sahlan, 2011) Riêng Chen và cộng sự (2006) gán 1 nếu các công ty được kiểm toán bởi 10 công ty kiểm toán lớn nhất Trung Quốc (liên doanh với Big 5) và 0 nếu không phải
Kiểm toán là một nhân tố không thể thiếu trong bối cảnh của một nền tài chính –
kế toán hiện đại Tuy vậy, biến kiểm toán lại chưa được chú trọng phân tích trong các nghiên cứu về ĐCLN tại Việt Nam Vì vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của biến kiểm toán tới hành vi ĐCLN trên TTCK Việt Nam là một điều cần thiết
2.4.3 Khoảng trống nghiên cứu
Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về các nhân tố ảnh hưởng tới ĐCLN cho thấy những khoảng trống của các nghiên cứu trước đây có thể được hoàn thiện hơn trong luận án này:
Thứ nhất, những nghiên cứu về ĐCLN trên thế giới được thực hiện rất nhiều
tại các quốc gia trên thế giới đặc biệt là những quốc gia có TTCK phát triển lâu đời như Mỹ, Anh, Pháp…Trong khi đó, tại Việt Nam, TTCK đang trong quá trình phát triển, có nhiều biến động và chưa phải là một thị trường hoàn chỉnh Thêm vào đó, những hạn chế của bản thân hệ thống kế toán Việt Nam và các yêu cầu về báo cáo tài chính cũng gây nên lo ngại về sự xuất hiện của hành vi ĐCLN tại các công ty niêm yết Việc luận án lựa chọn bối cảnh đặc thù của TTCK tại Việt Nam để nghiên cứu về các nhân tố có thể ảnh hưởng tới ĐCLN là cần thiết
Thứ hai, các nghiên cứu về ĐCLN tại các quốc gia trên thế giới (Mỹ, Anh, Pháp…) được tiến hành trong nhiều thập kỷ qua và có đóng góp lớn cho dòng kế toán
Trang 32thực chứng trong khi các nghiên cứu tại Việt Nam về chủ đề này chưa nhiều Mặc dù
gần đây, các nghiên cứu về ĐCLN trên thị trường chứng khoán Việt Nam có xuất hiện
nhưng nhưng hầu như chỉ dừng lại trên góc độ lý thuyết, giới thiệu về ĐCLN và giới
thiệu cách sử dụng một số mô hình đo lường ĐCLN hoặc chỉ là những nghiên cứu có
yếu tố thực nghiệm với nhiều hạn chế về cỡ mẫu, về phương pháp Việc khắc phục
những nhược điểm của các nghiên cứu tại Việt Nam và làm giàu thêm cơ sở lý luận
bằng một nghiên cứu định lượng chi tiết và chặt chẽ hơn về các nhân tố ảnh hưởng tới
ĐCLN tại Việt Nam là thực sự cần thiết
Thứ ba, quá trình tổng quan các nhân tố ảnh hưởng tới ĐCLN cho thấy sự đa
dạng của các nhân tố theo cả chiều rộng và chiều sâu, có nghiên cứu chỉ tập trung và đi
sâu vào một nhân tố cụ thể, cũng có những nghiên cứu đánh giá một tổ hợp nhiều nhân
tố khác nhau Trên thực tế, các nghiên cứu về ĐCLN tại Việt Nam thường thực hiện
với nhiều hạn chế về quy mô các biến sử dụng, phương pháp nghiên cứu Vì thế, một
nghiên cứu mang tính tổng hợp hơn với tổ hợp các nhóm biến về đặc điểm công ty,
đặc điểm cơ chế quản lý – kiểm soát tại TTCK Việt Nam là cần thiết
Thứ tư, khi tổng kết mô hình đo lường ĐCLN từ các công trình trong và ngoài
nước, rất nhiều mô hình khác nhau được sử dụng Tuy vậy, mô hình nào ứng dụng phù
hợp với bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam thì các nghiên cứu tại Việt Nam
hầu như chưa đưa ra những kết luận cụ thể và chặt chẽ Việc lựa chọn được mô hình
phù hợp để đánh giá ĐCLN tại Việt Nam sẽ có đóng góp lớn trong phát triển những
nghiên cứu về ĐCLN tại Việt Nam cũng như trở thành công cụ hữu ích cho những
người sử dụng thông tin tài chính trên TTCK
Thứ năm, về phương pháp nghiên cứu định lượng, ngoài việc thực hiện mô hình
hồi quy bình phương bé nhất (OLS) giống như nhiều nghiên cứu khác, mô hình hồi
quy ảnh hưởng cố định (FEM), mô hình hồi quy ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) và mô
hình hồi quy ảnh hưởng cố định FEM (robust SE) cũng được thực hiện
Tóm lại, khoảng trống nghiên cứu của luận án thể hiện ở việc đây là một công
trình được thực hiện tại Việt Nam, trong bối cảnh đặc thù của một TTCK mới nổi và
các nghiên cứu về ĐCLN chưa nhiều Luận án thực hiện nhằm khắc phục những hạn
chế khi lựa chọn mô hình đo lường ĐCLN, hạn chế về cơ sở lý thuyết, về lựa chọn quy
mô biến và về phương pháp của những nghiên cứu trước đây đặc biệt là những nghiên
cứu tại Việt Nam về chủ đề này
54
Bảng 2.2 Tổng kết các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận
BIẾN TÁC GIẢ QUỐC GIA DỮ LIỆU KẾT QUẢ ĐO LƯỜNG
HỆ SỐ NỢ Chargeddine, Riahi và Omri (2013) Tunisia (2003-2009): 19 DN (133 quan
sát)
thuận chiều tới ĐCLN Nợ / Vốn CSH Fathi (2013) Pháp (2004-2008): 101 DN không ảnh hưởng tới ĐCLN Nợ / Tổng Tài sản Fakhfakh và Nasfi (2012) Pháp (1998 – 2008): 87 DN ngược chiều với ĐCLN Nợ / Vốn CSH Nassirzadeh, Salehi và Alaei (2012) Iran (2006-2010): 114 DN ngược chiều với ĐCLN Nợ / Vốn CSH Alsharairi và Salama (2012) US (1999-2008): 661 DN ngược chiều với ĐCLN Nợ / Vốn CSH Ardison, Martinez và Galdi (2012) Brazil (1994-2010): 3.725 quan sát không có quan hệ với ĐCLN Nợ / Tổng tài sản Januarsi, Badina và Febrianti
(2014)
Indonesia (2009-2011): 141 công ty SX Hệ số nợ (Nợ/tổng TS) quan
hệ thuận chiều với ĐCLN (dồn tích) và ngược chiều với ĐCLN (sự kiện thực tế)
Nợ / Tổng tài sản
Shen và Chih (2007) Châu Á 9 nước Châu Á thuận/ngược chiều với ĐCLN
phụ thuộc vào quản trị công ty tốt/kém
Nợ / Tổng tài sản
Defond & Jiambalvo (1994) US 1985-1988: 94 DN Thuận chiều với ĐCLN Nợ/Vốn CSH Richardson và cộng sự (2002) US 1971-2000: 225 DN Thuận chiều với ĐCLN Nợ/Tổng tài sản Zamri và cộng sự (2013) Malaysia (2006-2011): 3.745 quan sát ngược chiều với ĐCLN (real
EM)
Nợ / Tổng tài sản Rahman và Ali (2006) Malaysia 2002-2003, 97 DN Không ảnh hưởng Nợ/Tổng tài sản
QUY MÔ CÔNG TY
Chargeddine, Riahi và Omri (2013) Tunisia (2003-2009): 19 DN (133 qsat) Ảnh hưởng thuận chiều Log của Tổng tài sản Göksel Acar ( 2013) Turkey 2008 crisis tại Turkey Quy mô công ty tác động
ngược chiều tới ĐCLN (tác động yếu)
Tổng tài sản
Fakhfakh và Nasfi (2012) Pháp (1998 – 2008): 87 DN Thuận chiều với ĐCLN Giá phải trả cho công ty bị
mua lại / Giá thị trường của
Trang 3355
BIẾN TÁC GIẢ QUỐC GIA DỮ LIỆU KẾT QUẢ ĐO LƯỜNG
công ty đi mua Nassirzadeh, Salehi và Alaei (2012) Iran (2006-2010): 114 DN Thuận chiều với ĐCLN Tổng doanh thu
Li (2010) US (1992-2004), 1.203 công ty với
6.458 quan sát
Quy mô công ty có tác động tới ĐCLN theo các ngưỡng lợi nhuận khác nhau (Quy mô công ty lớn có xu hướng tránh ngưỡng giảm mạnh lợi nhuận trong khi Quy mô công ty nhỏ
xu hướng tránh việc giảm lợi nhuận hoặc bị lỗ nhiều hơn)
Log của giá thị trường vốn CSH
Liu và Skerratt (2014) UK (2008-2010): 46.146 quan sát,
bao gồm 2.253 công ty niêm yết, 35.596,công ty quy mô vừa, và 8.297 công ty nhỏ
Quy mô vừa có xu hướng tránh lỗ (ĐCLN) nhiều hơn các công ty niêm yết và nhỏ
công ty niêm yết (tuân thủ IFRS), công ty quy mô vừa (tuân thủ UK GAAP) và công
ty quy mô nhỏ (tuân thủ FRSSE)
Shen và Chih (2007) 9 nước Châu Á (2001-2002): 185 DN Công ty lớn thì ĐCLN nhiều
nhưng sẽ bị hạn chế bởi quản trị công ty
Log của doanh thu
Sahlan (2011) Malaysia (1994-2007): 92 DN Không có ảnh hưởng Log của tổng tài sản
Alves (2012) Bồ Đào Nha (2002-2007): 34 DN Thuận chiều với ĐCLN Log của giá thị trường vốn
CSH Nguyễn Thị Uyên Phương Việt Nam (2010-2012): 75 DN Thuận chiều với ĐCLN Doanh thu
BIẾN TÁC GIẢ QUỐC GIA DỮ LIỆU KẾT QUẢ ĐO LƯỜNG
của nợ)/Giá trị thay thế của tài sản
Alves (2012) Bồ Đào Nha 2002-2007: 34 DN Không có ảnh hưởng Lợi tức cổ phiếu bình quân Rahman và Ali (2006) Malaysia 2002-2003, 97 DN không có quan hệ với ĐCLN ROA = EBIT/Tổng TS Chen và cộng sự (2006) China 1999-2003:169 công ty Ngược chiều Sự tăng trưởng doanh thu Akram và cộng sự (2015) Pakistan, India (2009-2013); 20 công ty Ngược chiều ROA, ROE Dyreng, Hanlon và Maydew (2011) US (1994-2009): 2.133 công ty đa
quốc gia (11.337 quan sát)
Thuận chiều (công ty có chi nhánh tại các quốc gia thuộc
“tax haven”)
Doanh thu
Lee, Li và Yue (2006) US 1991-2001: 13.164 quan sát Thuận chiều ROA
QUY MÔ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
Chargeddine, Riahi và Omri (2013) Tunisia (2003-2009): 19 DN (133 qsat) Không có tác động tới ĐCLN Log của số thành viên trong
hội đồng Fathi (2013) Pháp (2004-2008): 101 DN Ngược chiều với ĐCLN Số thành viên trong HĐQT Chen và cộng sự (2006) China 1999-2003:169 công ty Không ảnh hưởng Số lượng thành viên HĐQT Kumani và Pattaayak (2014) India 2007-2012: 12 công ty Thuận chiều với ĐCLN Số lượng thành viên HĐQT Rahman và Ali (2006) Malaysia 2002-2003, 97 DN Thuận chiều với ĐCLN Số thành viên trong HĐQT Alves (2012) Bồ Đào Nha 2002-2007: 34 DN Thuận chiều với ĐCLN Số thành viên trong HĐQT
SỰ KIÊM NHIỆM CEO VÀ CHỦ TỊCH HĐQT
Chargeddine, Riahi và Omri (2013) Tunisia (2003-2009): 19 DN (133 qsat) Sự tách biệt làm ĐCLN xuát
hiện nhiều hơn (không đáng
kể, độ tin cậy 10%)
1 nếu CEO và chủ tịch HĐQT
là một và 0 nếu tách biệt Fathi (2013) Pháp (2004-2008): 101 DN “Sự tách biệt chức năng CEO
và Chairman” không tác động ĐCLN
1 nếu CEO và chủ tịch HĐQT
là một và 0 nếu tách biệt Rahman và Ali (2006) Malaysia 2002-2003, 97 DN Không có mối liên hệ 1 nếu CEO và chủ tịch HĐQT
là một và 0 nếu tách biệt Kumani và Pattaayak (2014) India 2007-2012: 12 công ty Sự độc lập của HĐQT có quan
hệ ngược chiều với ĐCLN
Gán giá trị 1 nếu CEO kiêm nhiệm trong ban quản trị và 0
Trang 3457
BIẾN TÁC GIẢ QUỐC GIA DỮ LIỆU KẾT QUẢ ĐO LƯỜNG
nếu tách biệt Sahlan (2011) Malaysia (1994-2007): 92 DN Không có mối quan hệ Gán giá trị 1 nếu CEO kiêm
nhiệm trong ban quản trị và 0 nếu tách biệt
Chen và cộng sự (2006) China 1999-2003:169 công ty Không ảnh hưởng 1 nếu CEO và chủ tịch HĐQT
là một và 0 nếu tách biệt Johari và cộng sự (2008) Malaysia 2002-2003, 224 công ty Không ảnh hưởng 1 nếu CEO và chủ tịch HĐQT
trong tổng số Johari và cộng sự (2008) Malaysia 2002-2003, 224 công ty Ngược chiều Số thành viên HĐQT độc lập
trong tổng số Kumani và Pattaayak (2014) India 2007-2012: 12 công ty Không tác động Số thành viên HĐQT độc lập
trong tổng số
CẤU TRÚC
SỞ HỮU
Guo & Ma (2015) Trung Quốc 2004 -2010: 7.937 quan sát Thuận chiều Tỷ lệ sở hữu nhà nước
Zhang, Uchida và Bu (2011) Trung Quốc 2003-2009: 6.449 quan sát Thuận chiều Tỷ lệ sở hữu nhà nước (cổ
phiếu không giao dịch) Selahudin & Nawang (2015) Malaysia 2000-2013: 4.532 quan sát DNNN có khả năng ĐCLN
nhiều hơn DN khác
Dùng biến giả 1 là nhóm DNNN và 0 là nhóm khác Ding và cộng sự (2007) Trung Quốc 2002: 273 công ty Thuận và ngược chiều (U-
shape) tùy tỷ lệ sở hữu (%)
Tỷ lệ sở hữu tập trung (chia ra
Tỷ lệ SH nhà nước và tư nhân) Guo và cộng sự (2015) Nhật Bản 2004-2008: 15.212 quan sát Ngược chiều Tỷ lệ sở hữu nước ngoài
An (2015) Hàn Quốc 2000 -2005: 3.054 quan sát Thuận chiều với tính thận
trọng (giảm ĐCLN)
Tỷ lệ SH nước ngoài Beuselinck, Blanco & Lara (2013) 4 nước Châu 2002-2007: 1.590 quan sát Thuận chiều với chất lượng Tỷ lệ SH nước ngoài
58
BIẾN TÁC GIẢ QUỐC GIA DỮ LIỆU KẾT QUẢ ĐO LƯỜNG
Âu BCTC (giảm ĐCLN)
KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP
Chargeddine, Riahi và Omri (2013) Tunisia (2003-2009): 19 DN (133 qsat) Không có tác động tới ĐCLN Gán giá trị 1 nếu kiểm toán là
Big 4 và 0 nếu không phải Fathi (2013) Pháp (2004-2008): 101 DN Công ty được kiểm toán bởi
Big 4 ít thực hiện ĐCLN hơn các công ty còn lại
Gán giá trị 1 nếu kiểm toán là Big 4 và 0 nếu không phải Fakhfakh và Nasfi (2012) Pháp (1998 – 2008): 87 DN Công ty được kiểm toán bởi
Big 4 ít thực hiện ĐCLN hơn các công ty còn lại
Gán giá trị 1 nếu kiểm toán của M &A là Big 4 và 0 nếu không phải
Rahman và Ali (2006) Malaysia 2002-2003, 97 DN không có quan hệ với ĐCLN Gán giá trị 1 nếu kiểm toán là
Big 5 và 0 nếu không phải Sahlan (2011) Malaysia (1994-2007): 92 DN Công ty được kiểm toán bởi
Big 4 ít thực hiện ĐCLN hơn các công ty còn lại
Gán giá trị 1 nếu kiểm toán là Big 4 và 0 nếu không phải Chen và cộng sự (2006) China 1999-2003:169 công ty Không có quan hệ Gán giá trị 1 nếu kiểm toán là
1 trong 10 công ty kiểm toán hàng đầu của Trung Quốc (liên doanh với Big 5) và 0 nếu ngược lại
Rahman và Ali (2006) Malaysia 2002-2003, 97 DN không có quan hệ với ĐCLN Gán giá trị 1 nếu kiểm toán là
Big 5 và 0 nếu không phải
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Trang 3559
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về điều chỉnh lợi nhuận từ khái
niệm và các quan điểm khác nhau về ĐCLN (theo hướng tích cực, theo hướng bất lợi
và cả những ý kiến trung lập) cho đến động cơ ĐCLN (thu hút đầu tư, kế hoạch
thưởng, hưởng ưu đãi…) Cơ sở hành vi ĐCLN như cơ sở dồn tích và việc vận dụng
các chính sách kế toán cũng được đề cập chi tiết trong phần lý luận
Chương 2 đồng thời trình bày các lý thuyết cơ sở của luận án như lý thuyết kế
toán thực chứng, lý thuyết đại diện và lý thuyết thông tin bất đối xứng Luận án này là
một nghiên cứu thuộc dòng kế toán thực chứng, dữ liệu thu thập được là từ TTCK Việt
Nam, luận án sử dụng các công cụ thống kê để phân tích và đưa ra các kết quả thực
nghiệm đáng tin cậy Ngoài ra, 2 lý thuyết đại diện và thông tin bất đối xứng giúp
chúng ta giải thích nguồn gốc của hành vi ĐCLN, gốc rễ của những mâu thuẫn trong
quan hệ đại diện và sự bất đối xứng về thông tin của các chủ thể tham gia vào TTCK
Bên cạnh đó, một nội dung chính và quan trọng hàng đầu được trình bày đến trong
chương này đó là tổng quan các công trình trong và ngoài nước về các mô hình đo
lường ĐCLN cũng như tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi ĐCLN trên
nhiều góc độ tổng quan: về nội dung, về không gian, về phương pháp Trên cơ sở đó,
luận án rút ra khoảng trống nghiên cứu và những điểm mới mà luận án thực hiện
Như vậy, chương 2 đã cung cấp những hiểu biết cơ bản nhất về chủ đề ĐCLN,
từ khái niệm, động cơ cho đến các lý thuyết cơ sở của ĐCLN Ngoài ra, một nội dung
quan trọng của nghiên cứu đó là nội dung tổng quan các công trình và các mô hình
đo lường ĐCLN, dựa vào đó, luận án mới có thể thực hiện bước tiếp theo trong tìm
kiếm và lấp đầy khoảng trống nghiên cứu
60
CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Xây dựng giả thuyết khoa học
Báo cáo tài chính của một công ty được lập trên cơ sở các nguyên tắc kế toán Những nguyên tắc này được đưa ra nhằm giảm tính bất đối xứng của thông tin và làm hài hòa những xung đột về quyền lợi giữa các bên Trong một vài tình huống, kế toán cho phép nhà quản trị có cơ hội lựa chọn các công cụ kế toán (chính sách, nguyên tắc, ước tính ) và nhờ vậy, họ có công cụ để điều chỉnh lợi nhuận theo cách mà họ mong
muốn (Fakhfakh và Nasfi, 2012)
Điều chỉnh lợi nhuận chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều nhân tố Trên cơ sở các nghiên cứu trước đây, các nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận sẽ được chia làm 2 nhóm:
- Nhóm các nhân tố liên quan tới đặc điểm doanh nghiệp
+ Hệ số nợ + Hiệu quả tài chính + Quy mô công ty
- Nhóm các nhân tố liên quan tới quản lý – kiểm soát
+ Quy mô hội đồng quản trị + Số lượng thành viên HĐQT độc lập + Sự kiêm nhiệm CEO và chủ tịch HĐQT + Cấu trúc sở hữu (Tỷ lệ SH nhà nước & Tỷ lệ SH nước ngoài) + Kiểm toán độc lập
Dựa vào tổng quan nghiên cứu (chương 2), mô hình nghiên cứu của luận án được xây dựng như sau (Sơ đồ 3.1):
Việc xây dựng mô hình nghiên cứu thực hiện qua các bước sau:
- Xác định được các nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận
- Xác định mô hình đo lường phần giá trị dồn tích có thể điều chỉnh được
- Định nghĩa biến độc lập và xác định cách đo lường
Trang 36- Xây dựng mô hình nghiên cứu
- Kiểm định các giả thuyết đặt ra
(
Sơ đồ 3.1 Mô hình nghiên cứu
(Nguồn: Tác giả xây dựng)
3.1.1 Giả thuyết về các nhân tố thuộc đặc điểm doanh nghiệp
(1) Hệ số nợ
Giả thuyết về hệ số nợ/vốn chủ là một trong ba giả thuyết được sử dụng phổ
biến trong Lý thuyết kế toán thực chứng (Watts và Zimmerman, 1986) Theo lý thuyết
đại diện (Jensen và Meckling, 1976), để giảm chi phí đại diện phát sinh trong quan hệ
đại diện giữa một bên là các chủ nợ và một bên là nhà quản lý, cần có những hợp đồng
vay nợ với điều khoản hạn chế nhằm giới hạn phạm vi nợ hoặc giới hạn mức trả cổ tức
của các nhà quản trị Tuy nhiên, bằng việc sử dụng các thủ tục kế toán nhà quản lý có
thể nới lỏng các tỷ lệ nợ hoặc tăng tiền cổ tức theo ý muốn
Rất nhiều nghiên cứu cho kết quả rằng tồn tại mối quan hệ thuận chiều giữa đòn
bảy nợ với ĐCLN (Defond & Jiambalvo, 1994; Richardson và cộng sự, 2002; Dichev
H7b
H6
+
- +
Số lượng thành viên HĐQT độc lập (IDV)
Quy mô hội đồng quản trị (BOARD)
Kiểm toán độc lập (AUDIT)
Sự kiêm nhiệm CEO
và chủ tịch HĐQT (DUAL)
H8
ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN
- +
và Skinner, 2002; Charfeddine, Riahi và Omri, 2013), nghĩa là dưới giả thuyết liên quan nợ -vốn chủ, nhà quản lý có xu hướng chọn các phương pháp kế toán cho phép
họ chuyển dịch lợi nhuận tương lai rơi vào kỳ hiện tại nhằm giảm các chi phí liên quan tới hợp đồng vay và giới hạn vay vốn (Watts và Zimmerman,1986) Luận án đi theo trường phái của Watts và Zimmerman (1986), ủng hộ quan điểm cho rằng các doanh nghiệp có hệ số nợ cao hơn thì có xu hướng sử dụng các thủ tục kế toán để làm tăng lợi nhuận hiện tại Từ đó, giả thuyết H1 được đặt ra như sau:
H1: Hệ số nợ có quan hệ thuận chiều với điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty
niêm yết trên TTCK Việt Nam
(2) Hiệu quả tài chính
Mối quan hệ giữa hiệu quả tài chính và ĐCLN đã được chứng minh trong rất nhiều nghiên cứu Chen và cộng sự (2006); Chen, Cheng và Wang (2010), Charfeddine, Riahi và Omri (2013) cho rằng nếu hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp không tốt, giá cổ phiếu giảm và kéo theo giảm giá trị doanh nghiệp Để giữ uy tín cho doanh nghiệp, nhiều nhà quản lý tìm cách điều chỉnh lợi nhuận để ngăn chặn việc giảm giá trị doanh nghiệp do cổ phiếu rớt giá (Hirshleifer, 1993) Theo quan điểm của các tác giả Charfeddine, Riahi và Omri (2013), Fathi (2013), Chen và cộng sự (2006); Chen, Cheng và Wang (2010) luận án cũng giả thuyết rằng nếu doanh nghiệp kinh doanh không tốt, xu hướng điều chỉnh lợi nhuận để giữ uy tín sẽ xảy ra
Từ những phân tích trên, giả thuyết H2 được đề nghị như sau:
H2: Hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam có quan
hệ ngược chiều với điều chỉnh lợi nhuận
(3) Quy mô công ty
Xuất phát từ giả thuyết về chi phí chính trị trong Lý thuyết kế toán thực chứng (Watts và Zimmerman, 1986), giả thuyết cho rằng không phải sự thay đổi lựa chọn kế toán nào cũng có nguyên nhân từ các yếu tố kinh tế, đôi khi yếu tố chính trị cũng tác động rất lớn Ví dụ khi chính phủ ban hành một quy định mới hoặc một chính sách mới như việc đánh thuế cao vào các công ty dầu khí thì ngay lập tức họ tìm cách thay đổi phương pháp đánh giá hàng tồn kho để giảm thuế phải nộp Chi phí chính trị là những chi phí phát sinh liên quan đến nghĩa vụ, trách nhiệm trong việc nộp thuế, bảo hiểm, hải quan và hoàn thành các nghĩa vụ khác theo yêu cầu Theo quan điểm của Watts (1997), nộp thuế, bảo hiểm, nhận viện trợ…đều là những biện pháp chính trị nhằm phân phối lại của cải trong doanh nghiệp, vì thế, thông thường các doanh nghiệp
Trang 3763
sẽ tìm cách điều chỉnh lợi nhuận theo hướng giảm lợi nhuận để giảm thuế hoặc nhận
được nhiều ưu đãi, viện trợ từ chính phủ
Theo giả thuyết về chi phí chính trị trong PAT (Watts và Zimmerman, 1986),
các công ty lớn thường là những công ty đầu tiên trên thị trường bị ảnh hưởng bởi tác
động của các yếu tố chính trị ví dụ như khi chính phủ, các cơ quan có thẩm quyền ban
hành các quy định, chuẩn mực kế toán Rất nhiều nghiên cứu chứng minh rằng quy mô
công ty và chi phí chính trị có mối quan hệ thuận chiều với nhau, nghĩa là quy mô
công ty càng lớn thì chi phí chính trị càng tăng và ngược lại (Watts, 1997; Tehrani và
cộng sự, 2009) Quy mô công ty là một biến được sử dụng rộng rãi đại diện cho chi
phí chính trị phát sinh trong các nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận (Watts, 1997;
Tehrani và cộng sự, 2009; Alves, 2012; Chargeddine, Riahi và Omri, 2013)
Để giảm các chi phí chính trị phát sinh, các nhà quản trị lựa chọn các phương
pháp kế toán để hoãn lại việc ghi nhận lợi nhuận kỳ hiện tại để giảm thuế phải nộp
(Erickson và cộng sự, 2004), hoặc để nhận được khoản hỗ trợ của nhà nước khi bị lỗ
(Jones, 1991) hay khi chính phủ quyết định tăng thuế vào ngành dầu mỏ thì lợi nhuận
đã được các nhà quản lý điều chỉnh giảm bằng cách thay đổi phương pháp kế toán
hàng tồn kho nhằm thay đổi giá vốn
Trên quan điểm này, nghiên cứu của Alves (2012), Fakhfakh và Nasfi (2012),
Charfeddine, Riahi và Omri (2013), Nassirzadeh, Salehi và Alaei (2012), Phạm Thị
Bích Vân (2012) chỉ ra rằng các công ty càng lớn thì thường thực hiện điều chỉnh lợi
nhuận càng nhiều Từ đó, giả thuyết H3 được đưa ra như sau:
H3: Quy mô công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam có quan hệ thuận chiều với
điều chỉnh lợi nhuận
3.1.2 Giả thuyết về các nhân tố thuộc đặc điểm quản lý – kiểm soát
(4) Quy mô hội đồng quản trị
Hiệu quả hoạt động của hội đồng quản trị phụ thuộc vào quy mô của hội đồng
Khi mở rộng quy mô, giữa các thành viên có thể xuất hiện nhiều quan điểm bất đồng
gây khó khăn cho việc ra quyết định Jensen (1993) cho rằng khi tăng thành viên nghĩa
là sẽ làm tăng chi phí biên và làm giảm hiệu quả hoạt động Beasley (1996) và
Yermack (1996) chỉ ra rằng quá trình ra quyết định của HĐQT với quy mô nhỏ hiệu
quả hơn quy mô lớn nhưng với HĐQT quy mô lớn thì khả năng kiểm soát hành động
của các nhà quản trị cấp cao lại tốt hơn (Zahra và Pearce, 1989) Nghiên cứu của Fathi
(2013), Xie và cộng sự (2003), Bradbury và cộng sự (2006) cũng đưa ra bằng chứng
64
về mối quan hệ giữa Quy mô HĐQT với ĐCLN đó là khi Quy mô HĐQT càng lớn thì ĐCLN càng thấp Giả thuyết H4 được đề xuất như sau:
H4: Quy mô hội đồng quản trị tại các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam có
quan hệ ngược chiều với điều chỉnh lợi nhuận.
(5) Số lượng thành viên HĐQT độc lập
Luật doanh nghiệp (2014) nêu rõ, để HĐQT hoạt động hiệu quả, đảm bảo sự cân đối giữa các thành viên nắm giữ các chức danh điều hành với các thành viên độc lập là hết sức cần thiết
Sự tồn tại của các thành viên độc lập sẽ giúp giám sát hành vi nhà quản trị, từ
đó kiểm soát các hành động ĐCLN Chen và công sự (2006) nghiên cứu tại Trung Quốc đưa ra kết quả về mối quan hệ ngược chiều cho rằng tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập càng cao thì công ty càng ít xảy ra ĐCLN Kết quả này giống kết luận của Johari
và cộng sự (2008) tại Malaysia, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập càng cao thì việc kiểm soát hành vi quản trị càng tốt và sẽ làm giảm ĐCLN Cùng nhận định với các tác giả này, luận án đề xuất giả thuyết nghiên cứu H5 như sau:
H5: Số lượng thành viên HĐQT độc lập tại các công ty niêm yết trên TTCK
Việt Nam có quan hệ ngược chiều với điều chỉnh lợi nhuận
(6) Sự kiêm nhiệm CEO và Chủ tịch HĐQT
Vai trò của nhà quản lý và hội đồng quản trị cần phải tách biệt nhau, điều này
sẽ tốt cho hoạt động điều hành của hội đồng quản trị bởi để hoạt động hiệu quả, giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận thì sự tách biệt này là cần thiết (Cadbury Report, 1992) Kết quả nghiên cứu của Mulgrew và Forker (2006) cho thấy nếu CEO đồng thời là chủ tịch HĐQT thì nhiều khả năng ĐCLN sẽ cao Kết quả nghiên cứu thị trường Ấn Độ của Kumani và Pattanayak (2014) cho thấy tồn tại mối quan hệ thuận chiều giữa sự kiêm nhiệm và ĐCLN Từ đó, giả thuyết H6 được đưa ra như sau:
H6: Sự kiêm nhiệm chức năng CEO và Chủ tịch HĐQT tại các công ty niêm yết
trên TTCK Việt Nam có quan hệ thuận chiều với ĐCLN
(7) Cấu trúc sở hữu (Tỷ lệ sở hữu nhà nước và Tỷ lệ sở hữu nước ngoài)
Hiện nay, hình thức doanh nghiệp được quản lý bởi những người không phải là chủ sở hữu của nó đã trở nên phổ biến TTCK hình thành và phát triển dẫn tới có sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, những khái niệm liên quan tới cấu trúc
sở hữu nói chung hay các khái niệm cụ thể như tỷ lệ sở hữu tập trung, tỷ lệ sở hữu bởi
Trang 38nhà quản trị, tỷ lệ sở hữu nhà nước, tỷ lệ sở hữu nước ngoài thu hút được sự quan tâm
của nhiều học giả, người sử dụng thông tin (Nguyễn Thị Diệu Linh và cộng sự, 2013)
Cấu trúc sở hữu là nhân tố đầu tiên làm xuất hiện mâu thuẫn trong quan hệ đại
diện khi ở đó tồn tại nhóm cổ đông điều khiển (cổ đông đa số) và cổ đông thiểu số
(Cheng, Wang & Wei, 2014)
Do đặc thù của TTCK Việt Nam, sở hữu nhà nước chiếm ưu thế lớn, quyền sở
hữu tập trung vào trong tay nhà nước và có thể coi là cổ đông lớn vì vậy điều này có
thể là nguồn gốc của những mâu thuẫn trong quan hệ đại diện, nhà nước trao quyền và
đề bạt nhà quản lý, nhà quản lý có thể lợi dụng các lợi thế của mình trong các mối
quan hệ chính trị, khả năng tiếp cận TTCK hay những ưu đãi đặc thù của DNNN để
hành động vì lợi ích cá nhân Dựa trên kết quả nghiên cứu của một số quốc gia có đặc
điểm giống Việt Nam về luật, về thị trường như Trung Quốc (Guo & Ma, 2015;
Zhang, Uchida, & Bu, 2011; Cheng, Wang & Wei, 2014), luận án đề xuất giả thuyết
H7a như sau:
H7a: Tỷ lệ sở hữu nhà nước tại các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam có
quan hệ thuận chiều với điều chỉnh lợi nhuận
Về cấu trúc sở hữu trên góc độ sở hữu nước ngoài, Dahlquist và Robertson
(2001) đề cập rằng sở hữu nước ngoài có thể được coi là một cơ chế hiệu quả nhằm cải
thiện quản trị công ty, điều tiết công tác quản lý nhằm tránh những hành vi không đem
lại lợi ích cho doanh nghiệp và vai trò của sở hữu nước ngoài cũng có thể được coi
như vai trò của các nhà đầu tư tổ chức thông thường Việc các tổ chức/cá nhân từ nước
ngoài đầu tư vào một công ty thường thể hiện sự tích cực trong hoạt động của các công
ty đó Nghiên cứu của tổ chức tài chính quốc tế (IFC) (Worldbank, 2011) thì thấy
những công ty có điểm quản trị công ty tốt thì thường có tỷ lệ SH nước ngoài cao hoặc
nghiên cứu của (Aggarwal, Klapper & Wysocki, 2003) cho biết các nhà đầu tư ngoại
thường rót vốn nhiều hơn vào các công ty có chất lượng thông tin kế toán tốt
Dựa trên quan điểm về sự tích cực của tỷ lệ SH nước ngoài cùng với kết quả từ
các nghiên cứu của Guo và cộng sự (2015), Beuselinck, Blanco & Lara (2013), tỷ lệ
SH nước ngoài càng tăng thì chất lượng thông tin càng tốt và như vậy hành vi ĐCLN
có khả năng sẽ thấp đi, luận án đề xuất giả thuyết H7b:
H7b: Tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam có
quan hệ ngược chiều với điều chỉnh lợi nhuận
(8) Kiểm toán độc lập và điều chỉnh lợi nhuận
Kiểm toán sẽ giúp đảm bảo tính tin cậy và trung thực của các báo cáo tài chính Theo DeAngelo (1981), kiểm toán độc lập phụ thuộc vào khả năng phát hiện sai sót và thiếu sót trên báo cáo tài chính Khi nghiên cứu về biến Kiểm toán độc lập, Fathi (2013) đưa ra bằng chứng cho thấy khi được kiểm toán bởi Big 4 thì mức độ ĐCLN sẽ thấp hơn do các công ty kiểm toán lớn như Big 4 thì tính độc lập, chuyên nghiệp, danh tiếng, quy mô thường được coi là rào cản đối với ĐCLN và thông tin công bố sẽ tốt hơn (Xie và cộng sự, 2003) Fakhfakh và Nasfi (2012) cũng cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa Kiểm toán độc lập và ĐCLN Becker và cộng sự (1998) chỉ ra rằng cấp độ sử dụng các biến dồn tích để điều chỉnh lợi nhuận sẽ lớn hơn ở những công ty không được kiểm toán bởi Big 4 Giả thuyết H8 được đưa ra như sau:
H8: Kiểm soát của kiểm toán Big 4 tại các công ty niêm yết trên TTCK Việt
Nam giúp hạn chế hành vi điều chỉnh lợi nhuận
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Xây dựng phương trình hồi quy bội
Để kiểm tra các giả thuyết từ H1 đến H8 đề cập ở trên, phương trình đa hồi quy được xây dựng như sau:
Biến phụ thuộc = f (DEBT, PERF, SIZE, BOARD, DUAL, IDV, OWN1, OWN2, AUDIT)
+ Phần dồn tích có thể điều chỉnh được coi là một chỉ số đo lường chất lượng
thông tin tài chính công bố (Francis và cộng sự, 2005) Trong khi phần dồn tích không thể điều chỉnh là những thay đổi kế toán ảnh hưởng tới dòng tiền của doanh nghiệp mà nguyên nhân là do các nguyên tắc kế toán ban hành trong khi phần dồn tích có thể điều
Trang 3967
chỉnh (discretionary accruals) là những điều chỉnh nhằm thay đổi dòng tiền do lựa
chọn của các nhà quản lý (Rao và Dandale, 2008)
Biến độc lập:
- Nhóm biến thuộc “đặc điểm doanh nghiệp” (DEBT, PERF, SIZE)
- Nhóm biến liên quan “quản lý – kiểm soát” (BOARD, IDV, DUAL, OWN1, OWN2,
AUDIT)
Phương trình hồi quy:
Do đối tượng khảo sát của nghiên cứu là các công ty phi tài chính niêm yết trên
TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2014 nên kiểu dữ liệu thu thập được là dữ liệu
bảng Do đó, nghiên cứu tiến hành xây dựng hai phương trình 1 và 2 cho mô hình hồi
quy theo OLS và hồi quy theo FEM, REM
Hồi quy (1):
DA = α 0 + α 1 DEBT it + α2 PERF it + α3 SIZE it + α4 BOARD it + α5 IDV it
+ α 6 DUAL it + α7 OWN1 it + α8 OWN2 it + α9 AUDIT it + εit
Hồi quy (2):
DA = α 0 + α 1 DEBT it + α2 PERF it + α3 SIZE it + α4 BOARD it + α5 IDV it
+ α 6 DUAL it + α7 OWN1 it + α8 OWN2 it + α9 AUDIT it + ωit
Trong đó :
ωit = εit + ʋi
εit là sai số có phân phối chuẩn biến thiên theo i và t
ʋi là đại diện cho các tác động riêng biệt không đổi theo thời gian và không quan sát
được của mỗi doanh nghiệp i
α 0 : Hằng số
68
Bảng 3.1 Định nghĩa và cách thức đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu
điều chỉnh
Là chỉ số đo lường chất lượng thông tin tài chính công bố nhằm đánh giá hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Mô hình Jones (1991)
(*)
DA
Nhóm nhân tố thuộc đặc điểm công ty
thời điểm t
Omri (2013), Fakhfakh và Nasfi (2012)
Tính toán dựa trên số liệu BCTC của công ty
bình quân
liệu BCTC của công ty
điểm t
Omri (2013), Sahlan (2011)
Tính toán dựa trên số liệu BCTC của công ty
Nhóm nhân tố thuộc quản lý – kiểm soát
BOARD Quy mô hội đồng
HĐQT độc lập
Là số thành viên HĐQT độc lập không điều hành (không có quan
hệ vật chất với công ty)
Rahman và Ali (2006)
Thu thập từ BCTC, tài liệu của công ty
Trang 40và chủ tịch HĐQT
Mối quan hệ nhà quản lý và Chủ tịch HĐQT
Gán 1 nếu CEO là Chủ tịch và 0 nếu có sự tách biệt
Chargeddine, Riahi &
Omri (2013), Rahman và Ali (2006)
Thu thập từ BCTC, tài liệu của công ty
lệ SH nhà nước)
Phản ánh cấu trúc sở hữu theo tỷ
lệ sở hữu bởi nhà nước
Tỷ lệ % sở hữu bởi nhà nước
liệu của công ty
lệ SH nước ngoài)
Phản ánh cấu trúc sở hữu theo tỷ
lệ sở hữu bởi nhà đầu tư nước ngoài
Tỷ lệ % sở hữu bởi nhà đầu tư nước ngoài
liệu của công ty
trung thực của công tác kiểm toán
Gán 1 nếu kiểm toán bởi Big 4 và 0 nếu kiểm toán bởi các đơn
vị khác
Chargeddine, Riahi &
Omri (2013), Rahman và Ali (2006)
Thu thập từ BCTC, tài liệu của công ty
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Đo lường phần dồn tích có thể điều chỉnh (*)
Trong các nghiên cứu thực chứng trước đây, rất nhiều mô hình được sử dụng để
đo lường biến dồn tích có thể điều chỉnh (Mục 2.3, chương 2) Trên cơ sở tổng quan các
mô hình đo lường phổ biến, mô hình gốc Jones (1991) được lựa chọn để xác định phần giá trị dồn tích DA bởi vì đây là mô hình gốc quan trọng Sự xuất hiện của mô hình gốc Jones (1991) là cơ sở cho sự xuất hiện của nhiều mô hình điều chỉnh từ Jones (1991) ngay từ khi mô hình được giới thiệu từ những năm 90 cho đến những năm gần đây
3.2.2 Chọn mẫu và thu thập dữ liệu
Mẫu nghiên cứu là các doanh nghiệp có cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014 Nghiên cứu loại bỏ các tổ chức tài chính, tín dụng, ngân hàng với lý do đây là các tổ chức đặc thù và vì vậy, các công ty phi tài chính sẽ là lựa chọn của nghiên cứu
Nguồn dữ liệu thu thập được là nhờ sự hỗ trợ của Công ty Vietstock và Ủy ban chứng khoán nhà nước Dữ liệu ban đầu bao gồm 3.195 quan sát giai đoạn từ 2010 –
2014 Sau khi loại những quan sát không đủ điều kiện, thiếu thông tin…, còn lại 3.004 quan sát (Mẫu 1) Do luận án sử dụng 2 bước hồi quy, nên từ Mẫu 1, một số quan sát
bị loại tiếp do không đủ điều kiện khi thực hiện hồi quy ở bước 2 (bao gồm những quan sát thiếu thông tin và những quan sát có giá trị DA = 0), số quan sát còn lại là 2.132 quan sát (Mẫu 2) Nội dung chi tiết các bước chạy hồi quy và số quan sát sẽ được mô tả trong mục 3.2.3 - Chương 3 và Chương 4
3.2.3 Phương pháp sử dụng trong các mô hình hồi quy
Phần mềm Stata ver.12 được sử dụng trong quá trình phân tích dữ liệu Các bước phân tích được thực hiện tiếp theo như sau:
Bước 1:
Sử dụng mẫu 1 gồm 3.004 quan sát để tính toán, ước tính các giá trị NDA và
DA theo mô hình gốc Jones (1991) Mô hình Jones (1991) là mô hình phù hợp khi sử dụng tại TTCK Việt Nam (Nguyễn Hữu Ánh và Nguyễn Hà Linh, 2016) vì vậy kết quả ước tính DA sẽ được sử dụng cho việc chạy hồi quy tại bước 2
Mô hình gốc Jones (1991):
TAit
= α 1 x 1 + α 2 x ∆REVit + α 3 x PPEit + ɛit
(Chi tiết mô hình xem tại Phần 2.3.3 chương 2)