Vì vậy người giáo viên cần phải biết linh động xoay chuyển tình huống dạy học làm sao cho sinh động, biết vận dụng khéo léo những kiến thức của các bộ môn khác đưa vào nội dung bài giảng
Trang 1TRUNG TÂM HỌC LIỆU HÓA HỌC TRỰC TUYẾN
CHỌN LỌC-ĐẦY ĐỦ-CHẤT LƯỢNG
http://HOAHOC.edu.vn ─ http://LUUHUYNHVANLONG.com
“Học Hóa bằng sự đam mê”
Thầy LƯU HUỲNH VẠN LONG
(Giảng viên Trường ĐH Thủ Dầu Một – Bình Dương)
TUYỂN CHỌN VÀ GIỚI THIỆU
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐẠT GIẢI CÁC CẤP MÔN
HÓA HỌC 12
KHÔNG tức giận vì muốn biết thì KHÔNG gợi mở cho
KHÔNG bực vì KHÔNG hiểu rõ được thì KHÔNG bày vẽ cho
Khổng Tử
Trang 2SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT VĨNH CỬU
Mã số:………
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
XÂY DỰNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN HÓA – SINH THÔNG QUA CÂU HỎI/ BÀI TẬP CHƯƠNG 2, 3 HÓA HỌC
HỮU CƠ 12
Người thực hiện: Lâm Huỳnh Thị Ngọc Hạnh
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục:
- Phương pháp dạy học bộ môn: Hóa học
- Lĩnh vực khác:
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác
Trang 3I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1 Họ và tên : Lâm Huỳnh Thị Ngọc Hạnh
2.Ngày tháng năm sinh : 31/ 12 / 1975
3 Nữ
4 Đại chỉ : 185- ấp bình ý – Xã tân bình – Huyện Vĩnh Cửu – Tỉnh Đồng Nai
5 Điện Thoại : 0902273260 ( CQ )/ ( NR) 0613865278
6 Fax: E- mail:
7 Chức vụ : Tổ trưởng chuyên môn
8 Đơn vị công tác : Trường THPT Vĩnh Cửu
II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị ( hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ) cao nhất : ĐHSP ngành hóa học
- Năm nhận bằng : 2005
- Chuyên ngành đào tạo : Ngành Hóa Học
III KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có khinh nghiệm : Giảng dạy môn hóa học
- Số năm có kinh nghiệm : 17
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây :
1 Nâng cao chất lượng dạy và học thông qua việc tích hợp và lồng ghép giáo dục môi trường vào bộ môn hóa học
2 Biện pháp nâng cao tư duy trong việc giải bài tập hóa học phần kim loại tác dụng với HNO3
3 Ứng dụng của hóa học vào thực tiễn đời sống
Trang 4I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong giảng dạy, người giáo viên tâm huyết với nghề luôn luôn suy nghĩ tìm
ra những phương pháp giảng day mới, những nội dung mới mang tính giáo dục thực tiễn và hiện đại Vì vậy người giáo viên cần phải biết linh động xoay chuyển tình huống dạy học làm sao cho sinh động, biết vận dụng khéo léo những kiến thức của các bộ môn khác đưa vào nội dung bài giảng của mình làm cho bài học kiến thức phong phú, hấp dẫn đối với học sinh Tạo ra động cơ hứng thú học tập,giúp cho học sinh thấy rõ được mối tương quan giữa các môn học Từ đó hiểu rõ, phân tích sâu hơn một vấn đề không chỉ có một môn mà còn nhiều môn học khác nhau
Trong giảng dạy hóa học, giáo viên dễ dàng lồng ghép kiến thức của các môn học khác vào nội dung bài giảng của mình thông qua phần tính chất vật lí, tính chất hóa học, và đặc biệt là ứng dụng thực tiễn trong đời sống
Để hòa nhập với sự đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá của
bộ giáo dục, ngay từ đầu năm học tôi đã chuẩn bị nghiên cứu và trang bị thêm kiến thức cho mình nằm phục vụ công tác giảng dạy được tốt hơn
Trang 5II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Cơ sở lí luận
Để thực hiện đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá ở các trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của học sinh trên tinh thần Nghị quyết 29 – NQ/TƯ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Năm học 2014 – 2015, Bộ GD & ĐT chỉ đạo các cơ sở giáo dục khuyến khích giáo viên dạy học theo hướng “ tích hợp, liên môn”, để đáp ứng mục tiêu giáo dục hiện nay: Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh,yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức để giải quyết những vấn đề thực tiễn
Khi giải quyết một vấn đề trong thực tiễn, bao gồm cả tự nhiên và xã hội đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp, liên quan đến nhiều môn học
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục như trên,trong quá trình dạy môn học của mình, giáo viên vẫn thường xuyên tìm hiểu những kiến thức có liên quan của các môn học khác để vận dụng vào dạy vì vậy đã có sự am hiểu về kiến thức liên môn đó Hóa học là môn khoa học với rất nhiều nội dung giảng dạy mà giáo viên có thể tích hợp, liên môn vào bài giảng của mình, như toán, sinh, vật lí Những hiện tượng tự nhiên xảy ra hằng ngày mà học sinh quan sát được không chỉ dựa vào kiến thức hóa học mà có thể giải thích hết được Do vậy giáo viên cần phải tìm hiểu sâu hơn những kiến thức thuộc các môn học khác để đáp ứng với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay Giáo viên không còn là người truyền thụ kiến thức mà còn là người tổ chức, kiểm tra dịnh hướng hoạt động học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học Vì vậy việc tích hợp và lồng ghép các kiến thức thuộc các môn khác nhau
là điều rất cần thiết và quan trọng mà bộ giáo dục đã dưa ra đó là dạy học theo hướng liên môn, tích hợp Sau đây tôi chỉ xin đưa ra một kinh nghiệm nhỏ trong quá trình giảng dạy mà tôi đã thực hiện ở chương trình hóa học 12 “Chương 2: Cacbohiđrat, chương 3: Amin, aminnoaxit và protein” Tôi đã tích hợp, liên môn tới bộ môn sinh học thông qua một số bài trong nội dung ở hai chương này
2 Nội dung và biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
- Nội dung: Dựa vào nội dung kiến thức đã học lớp 10, 11, 12 hai môn hóa sinh, và chủ yếu là lớp 12 thuộc chương 2,3 hóa học hữu cơ 12 Giáo viên tích hợp kiến thức bộ môn sinh học được lông ghép vào môn hóa học để học sinh biết được mối tương quan giữa các bộn môn
- Hạn chế của giải pháp đã có:
+ Trước đây chỉ nêu ứng dụng, liên hệ thực tế nói sơ qua, không giải thích cụ thể
Trang 6+ Không dám đưa nội dung kiến thức môn khác vào bài giảng, lí do sợsai kiến thức, sợ không đủ thời gian
- Các giải pháp thực hiện:
+ Được phép tích hợp, liên môn phù hợp với những bài giảng có liên quan, để làm nổi bật trong tâm của bài học, mà không sai kiến thứ, vẫn đủ thời gian lên lớp
+ Trong bài học giáo viên đưa ra một số câu hỏi tích hợp, liên môn để học sinh nghiên cứu trả lời vấn đáp, hoặc làm bài tập ngoại khóa
+ Học sinh giải thích dựa vào kiến thức hai môn hóa - sinh
+ Sau khi học hết chương, giáo viên cho học sinh làm bài tập ngoại khóa, nghiên cứu quá trình biến đổi xảy ra trong tự nhiên mà giải thích chủ yếu dựa vào kiến thức hóa – sinh
- Giải pháp đưa ra là giải pháp đã được áp dụng ở đơn vị khác nhưng chưa từng áp dụng tại đơn vị mình, mà khi thực hiện có hiệu quả cao tại đơn vị
III TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI
- Qua nội dung giảng dạy từng bài hầu hết giáo viên đều đã tích hợp, liên môn, liên hệ thực tế thông qua phần ứng dụng, chủ yếu là thuyết trình, không dám giải thích sâu dựa vào kiến thức bộ môn khác (vì sợ sai kiến thức) không đúng với nội dung bài giảng của bộ môn mình Dẫn đến việc hạn chế sự logic của các môn học, cũng làm giảm đi sự hứng thú học tập của học sinh
- Kết quả phiếu thăm dò lấy ý kiến về việc tích hợp, liên môn bộ môn sinh vào chương 2,3 hóa học hữu cơ 12
Ý kiến Lớp Sĩ số
Thích Không thích Không tham
Trang 7ra nội dung tích hợp một phần nhỏ kiến thức môn sinh vào nội dung bài giảng bộ môn hóa học
Việc khéo léo dẫn dắt học sinh biết tích hợp từ kiến thức sinh học đã được học lồng ghép vào bộ môn hóa học là một nghệ thuật của giáo viên Từ các nguyên
tố hóa học đơn giản mà tạo nên các cơ thể sống hoặc từ các hợp chất của hóa học khi đi vào cơ thể sống xảy ra các quá trình biến đổi như thế nào, những ứng dụng, cũng như những tác hại ra sao ? Dưới đây là một số nội dung mà tôi đã tích hợp môn sinh vào bài giảng môn hóa ở chương 2,3 trong hóa học hữu cơ 12
Đầu tiên giới thiệu học sinh các nguyên tố cấu tạo nên cơ thể và vỏ trái đất Thế giới sống và không sống đều được cấu tạo từ các nguyên tố hóa học Trong thế giới sống các nguyên tố cấu tạo nên cơ thể sống gồm:
C,H,O,N,Ca,P,K,S,Na,Mg Trong đó các nguyên tố C,H,O,N đóng vai chính,
chúng chiếm khoảng 96% khối lượng cơ thể sống Vì chúng tham gia cấu tạo nên các đại phân tử hữu cơ như protein, cacbohiđrat, lipit, axit nuclêic là những chất hóa học chính cấu tạo nên tế bào
- Các nguyên tố khác mặc dù có thể chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ nhưng không có nghĩa là chúng không có vai trò quan trọng đối với sự sống
Ở chương cacbohiđrat đề cập đến các hợp chất có liên quan trực tiếp đến đời sống
xã hội rất gần gũi với học sinh, trong tự nhiên có trong loại động, thực vật nào? Thông qua việc làm trên sẽ tăng hứng thú của học sinh khi học tập, đồng thời gắn kiến thức khoa học, liên môn hóa – sinh trong nhà trường với các vấn đề thực tiễn
Ở chương 2 học sinh hiểu được cấu tạo và tính chất hóa học đặc trưng của hợp chất cacbohiđrat, mà chưa nắm được chức năng của cacbohiđrat đối với cơ thể động, thực vật Vì vậy cần tích hợp kiến thức môn sinh vào nội dung này để bài học được sinh động hơn
- Là nguồn năng lượng dự trữ của tế bào và cơ thể Ví dụ: glicogen là nguồn dự trữ năng lượng ngắn hạn trong cơ thể động vật, tinh bột là nguồn dự trữ năng lượng trong lá cây
- Cấu tạo nên tế bào và các bộ phận của cơ thể Ví dụ: xenlulozơ là loại đường cấu tạo nên thành tế bào thực vật, kitin cấu tạo nên thành tế bào nấm và bộ xương ngoài của nhiều loài côn trùng hay một số loài động vật khác
- Cacbohiđrat liên kết với protein tạo nên các phân tử glico protein là những bộ phận cấu tạo nên các thành phần khác nhau của tế bào
Trang 8Khi dạy bài Glucozơ, thông qua nội dung phần ứng dụng giáo viên cung cấp cho học sinh kiến thức hóa học là glucozơ làm thuốc tăng lực cho người ốm yếu, chứ chưa biết cụ thể, nhờ kiến thức môn sinh mà học sinh có thể hiểu sâu hơn cụ thể hơn, đó là vai trò dinh dưỡng của glucozơ Bằng cách đưa ra câu hỏi cho học sinh suy nghĩ, trả lời dựa trên kiến thức đã học, sau đó bổ sung thêm (nếu cần) nhấn mạnh kiến thức của hai môn hóa – sinh
Câu 1: Vai trò dinh dưỡng của glucozơ ?
Đối với người vai trò dinh dưỡng của gluxit là sinh năng lượng Hơn một nửa năng lượng của khẩu phần do gluxit cung cấp, 1 gam gluxit khi đốt cháy trong cơ thể cho
4 Kcal Ở gan, glucoza được tổng hợp thành glycogen Gluxit ăn vào trước hết chuyển thành năng lượng, số dư một phần chuyển thành glycogen và một phần thành mỡ dự trữ
Ở mức độ nhất định, gluxit tham gia tại hình như một thành phần của tế bào và mô Trong cơ thể luôn luôn xảy ra quá trình phân giải gluxit để tạo năng lượng nhưng hàm lượng gluxit máu luôn luôn ở mức 80 – 120 mg%
Ăn uống đầy đủ gluxit sẽ làm giảm phân hủy protein đến mức tối thiểu Ngược lại khi lao động nặng nếu cung cấp gluxit không đầy đủ sẽ làm tăng phân hủy protein
Ăn uống quá nhiều, gluxit thừa sẽ chuyển thành lipit và đến mức độ nhất định sẽ gây ra hiện tượng béo phệ
Câu hỏi 2: Khi đói lả ( hạ đường huyết) người ta cho uống nước đường thay vì ăn các loại thức ăn khác?
- Hạ đường huyết là một cụm từ dùng để chỉ sự giảm lượng đường trong máu dưới mức bình thường (đường ở đây muốn ám chỉ là loại đường glucozơ và mức bình thường được quy định từ 3,9 – 6,4 mmol/lit)
- Trong máu, đường glucozơ được đưa đi đến khắp cơ thể để nuôi dưỡng các tổ chức bảo đảm cho sự sống bình thường của con người Glucozơ là nguồn năng lượng chính của cơ thể đồng thời cũng là nguồn nhiên liệu cực kỳ quan trọng và cần thiết cho hệ thần và tổ chức não bộ Khi đường huyết bị thấp hơn bình thường (hạ đường huyết) sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các chức năng và hoạt động của cơ thể con người Vì vậy khi đói lả (hạ đường huyết) người ta phải uống nước đường (đặc biệt nước mía, nước hoa quả) thay vì ăn các loại thức ăn khác để bổ sung và cân bằng lượng đường trong máu
Trang 9Cũng trong bài này, khi dạy phản ứng lên men rượu của glucozơ giáo viên liên hệ đến tác hại của rượu đối với cơ thể thông qua kiến thức bộ môn sinh
Câu 3 Khi người ta uống rượu thì tế bào nào trong cơ thể phải làm việc để cơ thể khỏi bị nhiễm độc.?
- Gan có nhiều vai trò quan trọng trong cơ thể trong đó có chức năng khử độc Vì khi uống rượu thì các tế bào trong gan phải hoạt động mạnh để khử tác động độc hại của rượu giúp cho cơ thể khỏi bị nhiễm độc Trong tế bào gan có hệ thống lưới nội thất trơn phát triển để sản xuất các emzim khử độc
- Uống rượu nhiều có hại cho sức khỏe, mặc dù đã có các tế bào gan hoạt động để khử tác động độc hại của rượu nhưng khả năng của gan cũng có hạn, vì vậy cần hạn chế uống rượu để tránh gây tổn hại cho gan
Bài 6: Saccarozơ, Tinh bột và xenlulozơ
Trong thực tế học sinh gặp rất nhiều kiến thức thực tiễn không chỉ dựa vào nội dung hóa học mà có thể giải thích hết được, mà cần có thêm kiến thức bổ trợ để có thể giải thích một cách toàn diện cụ thể hơn
Kiến thức môn hóa giúp học sinh hiểu được sự thủy phân tinh bột thành glucozơ, sau đó từ glucozơ được đưa vào trong cơ thể các quá trình chuyển hóa, được môn sinh giải thích cụ thể hơn, đó là quá trình tiêu hóa thức ăn
Câu 1: Quá trình tiêu hóa thức ăn
Hàng nghìn phản ứng hóa học xảy ra trong suốt quá trình tiêu hóa Ngay sau khi bạn đưa thức ăn vào trong miệng, một loại emzim trong nước bọt có tên là amilaza bắt đầu phá vỡ các phân tử đường và các cacbohđrat thành các phân tử nhỏ hơn cơ thể chúng ta hấp thu Axit HCl trong dạ dày phản ứng với thức ăn nhằm phá vỡ chúng, đồng thời các emzim cũng bẻ gãy các liên kết hóa học của các phân tử protein và chất béo, để cơ thể hấp thụ chúng qua thành ruột ngấm vào máu
Tinh bột được tạo thành trong cây xanh, thì kiến thức môn hóa cung cấp cho học sinh các phương trình hóa học, còn cụ thể từ cây xanh để tạo ra tinh bột nhờ quá trình quang hợp, kiến thức sinh học sẽ giúp học sinh hiểu kỹ hơn, nhằm khắc sâu kiến thức
Câu 2: Quá trình quang hợp ở cây xanh
Thực vật gây ra một phản ứng hóa học gọi chung là quang hợp nhằm chuyển cacbon đioxit và nước thành dinh dưỡng( glucozơ) và oxi Đây là một trong những phản ứng hóa học phổ biến nhất thường ngày và đồng thời cũng là phản ứng quan
Trang 10trọng nhất, vì đấy là cách thực vật tạo ra dinh dưỡng cho chính chúng và các loài động vật, cũng như chuyển hóa cacbonic thành oxi
Phương trình hóa học
Câu 3: Khái niệm và các loại đường đôi? Khái niệm và các loại đường đa
- Đường đôi gồm hai phân tử đường đơn cùng loại hay khác loại ( glucozơ, fructozơ, galactozơ) liên kết với nhau ( nhờ liên kết glucozit khi đã loại đi một phân
tử nước), có vị ngọt và tan trong nước
Ví dụ: Phân tử glucozơ liên kết với phân fructozơ tạo thành đường saccarozơ, phân
tử galactozơ liên kết với phân tử glucozơ tạo thành đường lactozơ, 2 phân tử glucozơ liên kết với nhau tạo thành đường mantozơ
- Đường đa (hay polisaccarit) gồm rất nhiều phân tử đường đơn bằng các phản ứng trùng ngưng và loại nước tạo thành các polisaccarit là các phân tử mạch thẳng ( như xenlulozơ) hay mạch phân nhánh ( như tinh bột thực vật hay glicogen động vật) Xenlulozơ do rất nhiều đơn phân glucozơ liên kết vơi nhau bằng các liên kết glicozit Tinh bột và glicogen cũng được hình thành từ rất nhiều các đơn phân là glucozơ liên kết với nhau thành một phân tử có cấu trúc phân nhánh
Trong chương 3: Amin, Aminoaxit và protein
Đây là chương mà hợp chất của nó có rất nhiều trong tự nhiên, đa dạng, phức tạp kiến thức phong phú giáo viên khéo léo tích hợp vào trong bài giảng sẽ giúp học sinh giải thích một cách khoa học đầy đủ hơn những ứng dụng trong đời sống và sản xuất, cụ thể hơn là đối với bản thân Giáo viên đưa ra một số câu hỏi dựa vào kiến thức hóa – sinh mà học sinh đã học để trả lời, sau đó giáo viên bổ sung thêm (nếu cần) Hợp chất protein học sinh gặp rất nhiều, vậy nó có cấu tạo và chức năng như thế nào, vai trò gì?
Câu 1: Kể tên các loại liên kết hóa học tham gia duy trì cấu trúc protein?
Các loại liên kết hóa học tham gia duy trì cấu trúc protein
- Liên kết peptit hình thành giữa 2 axit amin Các axit amin nối với nhau bởi liên kết peptit hình thành nên chuỗi polipeptit tạo nên cấu trúc bậc 1 của protein
- Liên kết hiđro Cấu trúc bậc hai của protein được giữ vững nhờ liên kết hiđro giữa các axit amin ở gần nhau
- Liên kết kị nước ( ví dụ gốc – CH3 của gốc axit amin) ở gần nhau, giữa chúng hình thành lực hút, đó là lực hút kị nước tạo nên liên kết kị nước
6CO 6H OÁnh sáng C H O 6O