bản Hiến chương chính thức có hiệu lực.Vì lý do đó, sau này Đại hội đồng Liên hợp quốc quyết định lấy ngày 24/10 hàng năm làm ngày Liên hợp quốc.b,Mục đích: Hiến chương nêu rõ mục đích
Trang 1PPHẦN MỘT LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI TỪ NĂM 1945 - 2000 Chương I: S ự hình thành Trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới II (1945 - 1949)
1 Những quyết định của ba cường quốc ở hội nghị I-an-ta (2 /1945).
Từ ngày 4 đến 11 - 2 - 1945, ba nước Anh, Mĩ, Liên Xô họp hội nghị quốc tế tại I-an-ta ( Liên Xô ) Hội
nghị diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa các nước và cuối cùng đã dẫn tới những quyết định quan trọng:
- Xác định mục tiêu chung là tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản Đểnhanh chóng kết thúc chiến tranh, từ 2 đến 3 tháng sau khi đánh bại nước Đức phát xít, Liên Xô sẽ tham chiến với Nhật ở châu Á
- Thành lập tổ chức Liên hợp quốc nhằm duy trì hòa bình và an ninh thế giới
- Thỏa thuận về việc đóng quân tại các nước nhằm giải pháp quân đội phát xít và phân chia phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu và châu Á
Những quyết định cùng thỏa thuận ở hội nghị I-an-ta trở thành khuôn khổ của trật tự thế giới mới - Trật tự hai cực I-an-ta và Mĩ, Liên Xô vươn lên đứng đầu hai cực
2 Mục đích và hoạt động của Liên hợp quốc:
* Mục đích:
Duy trì hòa bình và an ninh thế giới, phát triển các mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc và tiến hành sự hợp tác quốc tế giữa các nước trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc
* Hoạt động:
Các cơ quan chuyên môn hoạt động có hiệu quả cao:
- UNICEF (Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc) đưa ra luật, quyền của trẻ em và có tài trợ, giúp đỡ đối với giáo dục nhi đồng các nước thành viên
- FAO (Tổ chức về nông nghiệp, lương thực Liên hợp quốc): điều phối lương thực và hỗ trợ cho sự phát triển của nền nông nghiệp cho các nước thành viên, cứu trợ cho các quốc gia nghèo đặc biệt là các nước ở Châu Phi
- IMF (Quỹ tiền tệ Liên hợp quốc): xóa đói giảm nghèo cho các quốc gia, cấp nguồn vốn đáng kể cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam
- UNISCO (Tổ chức văn hóa, khoa học, giáo dục Liên hợp quốc): có các chương trình bảo tồn các di sản văn hóa trên thế giới
- WHO (Tổ chức y tế thế giới): đưa ra chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em toàn cầu trong đó có Việt Nam, tham gia giải quyết bệnh dịch do thiên tai gây ra
Trong hơn nửa thế kỉ qua, Liên hợp quốc đã trở thành một diễn đàn quốc tế vừa hợp tác, vừa đấu tranh nhằm duy trì hòa bình và an ninh thế giới Liên hợp quốc đã có nhiều cố gắng trong việc giải quyết các vụ tranh chấp và xung đột ở nhiều khu vực, thúc đẩy các quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế, giúp đỡ các dân tộc về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, nhân đạo,
Ôn tập: Sự hình thành trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ hai (1945-1949)
Câu 1: Hoàn cảnh triệu tập, nội dung Hội nghị Ianta?Em có nhận xét gì về nội dung Hội nghị Ianta? a.Hoàn cảnh triệu tập
Đầu 1945, Chiến tranh thế giới hai sắp kết thúc, nhiều vấn đề cấp thiết đặt ra trước các nước Đồng minh đòi hỏi phải giải quyết, đó là:
1.Việc nhanh chóng đánh bại các nước phát xít
2.Tổ chức lại trật tự thế giới sau chiến tranh
3.Phân chia thành quả chiến thắng giữa các nước thắng trận
Trong bối cảnh đó, một hội nghị quốc tế đã được triệu tập tại Ianta(Liên Xô) từ ngày 4 đến 11-2-1945 với
sự tham dự của nguyên thủ ba cường quốc là Xtalin(Liên Xô), Rudơven(Mỹ) và Sớcsin(Anh)
b.Nội dung hội nghị:
Hội nghị đã đưa ra những quyết định quan trọng:
-Thống nhất mục tiêu chung là tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức-Nhật, trong thời gian từ 2 đến 3 tháng sau khi đánh bại nước Đức phát xít, Liên Xô tham gia chiến tranh chống Nhật ở châu Á
Trang 2-Thành lập tổ chức Liên hợp quốc nhằm duy trì hòa bình, an ninh thế giới.
-Thỏa thuận về việc đóng quân tại các nước nhằm giải giáp quân đội phát xít và phân chia phạm vi ảnh hưởng ở Châu Âu, Châu Á
c.Nhận xét:
Ba cường quốc Liên Xô, Mỹ, Anh tham gia cuộc chiến tranh chống phát xít đều nhằm thực hiện những mục tiêu gắn với lợi ích của giai cấp cầm quyền và những lợi ích dân tộc của mỗi nước Cũng vì thế Hội nghị Ianta trở thành Hội nghị thực hiện những mục tiêu chiến tranh của mỗi nước thành viên, hay nói cách khác, Hội nghị để tranh giành, phân chia thành quả cuộc chiến tranh chống phát xít tương ứng với so sánh lực lượng, vị trí, đóng góp của mỗi nước trong cuộc chiến tranh Do vậy, hội nghị đã diễn ra rất gay go, quyết liệt
Những quyết định của Hội nghị Ianta đã tạo ra một khuôn khổ để phân chia lại phạm vi ảnh hưởng và thiết lập một trật tự thế giới mới sau chiến tranh.Việc phân chia phạm vi ảnh hưởng và thiết lập trật tự thế giới mới đó chủ yếu được thực hiện và định đoạt bởi hai siêu cường đại diện cho hai chế độ chính trị đối lập nhau là Liên Xô(XHCN) và Mỹ(TBCN) Do đó, người ta thường gọi trật tự thế giới được thiết lập sau chiếntranh thế giới thứ hai trên cơ sở những thỏa thuận của Hội nghị Ianta là "Trật tự hai hai cựcIanta"
Câu 2: Nêu những quyết định quan trọng của Hội nghị Ianta và hệ quả của những quyết định đó? a.Hoàn cảnh lịch sử của Hội nghị Ianta:
Đầu 1945, Chiến tranh thế giới hai sắp kết thúc, nhiều vấn đề cấp thiết đặt ra trước các nước Đồng minh đòi hỏi phải giải quyết, đó là:
1.Việc nhanh chóng đánh bại các nước phát xít
2.Tổ chức lại trật tự thế giới sau chiến tranh
3.Phân chia thành quả chiến thắng giữa các nước thắng trận
Trong bối cảnh đó, một hội nghị quốc tế đã được triệu tập tại Ianta(Liên Xô) từ ngày 4 đến 11-2-1945 với
sự tham dự của nguyên thủ ba cường quốc là Xtalin(Liên Xô), Rudơven(Mỹ) và Sớcsin(Anh)
b,Những quyết định của Hội nghị Ianta:
-Thống nhất mục tiêu chung là tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức-Nhật, trong thời gian từ 2 đến 3 tháng sau khi đánh bại nước Đức phát xít, Liên Xô tham gia chiến tranh chống Nhật ở châu Á
-Thành lập tổ chức Liên hợp quốc nhằm duy trì hòa bình, an ninh thế giới
-Thỏa thuận về việc đóng quân tại các nước nhằm giải giáp quân đội phát xít và phân chia phạm vi ảnh hưởng ở Châu Âu, Châu Á
+ Ở Châu Âu: Quân đội Liên chiếm đóng Đông Đức, Đông Béclin và các nước Đông Âu; Quân đội Anh, Pháp, Mỹ chiếm đóngTây Đức, các nước Tây Âu; Hai nước Áo và Phần Lan trở thành những nước trung lập
+Châu Á: Giữ nguyên trạng Mông Cổ; Trả lại cho Liên Xô miền Nam đảo Xakhalin, Liên Xô chiếm 4 đảo thuộc quần đảo Curin; Quân đội Mỹ chiếm đóng Nhật Bản; Ở bán đảo Triều Tiên, hồng quân Liên Xô chiếmđóng miền Bắc và quân đội Mỹ chiếm đóng miền Nam; Trung Quốc cần trở thành một quốc gia thống nhất
và dân chủ; Các vùng còn lại của Châu Á vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng của các nước phương Tây
c, Hệ quả.
Những quyết định của Hội nghị Ianta đã tạo ra một khuôn khổ để phân chia lại phạm vi ảnh hưởng và thiết lập một trật tự thế giới mới sau chiến tranh.Việc phân chia phạm vi ảnh hưởng và thiết lập trật tự thế giới mới đó chủ yếu được thực hiện và định đoạt bởi hai siêu cường đại diện cho hai chế độ chính trị đối lập nhau là Liên Xô(XHCN) và Mỹ(TBCN) Do đó, người ta thường gọi trật tự thế giới được thiết lập sau chiếntranh thế giới thứ hai trên cơ sở những thỏa thuận của Hội nghị Ianta là "Trật tự hai hai cựcIanta"
Câu 3: Hoàn cảnh, mục đích, nguyên tắc hoạt động và các cơ quan chính của tổ chức Liên hợp quốc?
Em hãy đưa ra đánh giá của mình về vai trò của tổ chức Liên hợp quốc trong hơn nửa thế kỷ qua? Liên hợp quốc đã có sự giúp đỡ như thế nào đối với Việt Nam?
a, Hoàn cảnh:
Sau Hội nghị Ianta không lâu, từ ngày 25/4 đến 26/6/1945, một Hội nghị quốc tế lớn đã được triệu tập tại San Phranxixcô (Mỹ) với sự tham gia của đại biểu 50 nước để thông qua bản Hiến chương và tuyên bố thành lập tổ chức Liên hợp quốc Ngày 24/10/1945, với sự phê chuẩn của Quốc hội các nước thành viên,
Trang 3bản Hiến chương chính thức có hiệu lực.Vì lý do đó, sau này Đại hội đồng Liên hợp quốc quyết định lấy ngày 24/10 hàng năm làm ngày Liên hợp quốc.
b,Mục đích:
Hiến chương nêu rõ mục đích của tổ chức này là duy trì hòa bình và an ninh thế giới, phát triển các mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc và tiến hành hợp tác quốc tế giữa các nước trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc
c,Nguyên tắc:
Để thực hiện các mục đích đó, Liên hợp quốc hoạt động theo những nguyên tắc sau:
-Bình dẳng chủ quyền giữa các quốc gia và quyền tự quyết của các dân tộc
-Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của tất cả các nước
-Không can thiệp vào công việc nội bộ của bất kỳ nước nào
-Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình
-Chung sống hòa bình và sự nhất trí giữa năm nước lớn (Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc)
Trong số các nguyên tắc đó, nguyên tắc thứ năm(chung sống hòa bình và đảm bảo sự nhất trí giữa 5 nước lớn) là một nguyên tắc cơ bản và quan trọng đảm bảo cho Liên hợp quốc thực hiện chức năng duy trì thế giới trong trật tự hai cực Ianta, đồng thời nó trở thành một nguyên tắc thực tiễn lớn đảm bảo cho chung sốnghòa bình, vừa đấu tranh vừa hợp tác giữa các nước trên thế giới Nguyên tắc nhất trí ấy còn ngăn chặn không cho một cường quốc nào khống chế được Liên hợp quốc vào mục đích bá quyền nước lớn Tuy có lúc
bị tê liệt, nhưng trong hơn 50 năm qua, Liên hợp quốc không rơi vào tình trạng khống chế của một nước lớn
d.Các cơ quan chính:
Hiến chương quy định bộ máy tổ chức của Liên hợp quốc gồm sáu cơ quan chính là Đại hội đồng, Hội đồng bảo an, Hội đồng kinh tế và xã hội, Hội đồng quản thác, Tòa án quốc tế và Ban thư ký
-Đại hội đồng: Hội nghị của tất cả các nước thành viên, họp mỗi năm một lần để thảo luận những vấn đề có
liên quan thuộc phạm vi Hiến chương đã quy định Trong hội nghị, những quyết định những vấn đề quan trọng phải được thông qua với 2/3 số phiếu, vấn đề ít quan trọng hơn thì thông qua với đa số phiếu
-Hội đồng bảo an: Cơ quan chính trị quan trọng nhất và hoạt động thường xuyên,mọi quyết định của Hội
đồng bảo an được thông qua với sự nhất trí của 5 ủy viên thường trực Hội đồng bảo an không phục tùng Đại hội đồng
-Ban thư ký: Cơ quan hành chính-tổ chứccủa Liên hợp quốc, đứng đầu là Tổng thư ký.
Ngoài ra, Liên hợp quốc còn có nhiều tổ chức chuyên môn khác giúp việc
-Thúc đẩy việc giải quyết các vụ tranh chấp, xung đột khu vực
-Thúc đẩy các mối quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế
-Giúp đỡ các dân tộc về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, nhân đạo
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ của các tổ chức Liên hợp quốc như: UNESCO, FAO, IMF, WHO
Đến năm 2006, Liên hợp quốc có 192 quốc gia thành viên Từ tháng 9/1977, Việt Nam là thành viên thứ 149của Liên hợp quốc Ngày 16/10/2007, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam làm ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an, nhiệm kỳ 2008-2009
Câu 4: Trình bày sự hình thành hai hệ thống đối lập : Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa trên thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai?
Ngay sau chiến tranh, thế giới đã diễn ra nhiều sự kiện quan trọng với xu hướng hình thành hai phe-Tư bảnchủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa đối lập nhau gay gắt
-Theo thỏa thuận của Hội nghị Pốtxđam, quân đội 4 nước: Liên Xô Mỹ, Anh, Pháp phân chia khu vực tạm chiếm đóng nước Đức nhằm tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít, làm cho Đức trở thành một nước hòa bình,
Trang 4-Trong những năm 1945-1949, các nước Đông Âu lần lượt hoàn thành cuộc cách mạng Dân chủ nhân dân
và bước vào thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội
Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân Đông Âu hợp tác ngày càng chặt chẽ về chính trị, kinh tế, quân sự Năm 1949, Hội đồng tương trợ kinh tế(SEV) thành lập
Như vậy, Chủ nghĩa xã hội đã vượt ra khỏi phạm vi một nước và trở thành hệ thống thế giới
-Sau chiến tranh, Mỹ đề ra kế hoạch "Phục hưng Châu Âu" nhằm viện trợ các nước Tây Âu, khôi phục kinh
tế tăng cường ảnh hưởng và sự khống chế của Mỹ đối với các nước này
Với các sự kiện cơ bản như trên, ta thấy sau chiến tranh thế giới thứ hai trên thế giới đã hình thành hai khốinước đối lập nhau về chính trị và kinh tế, đó là khối Tây Âu Tư bản chủ nghĩa(do Mỹ cầm đầu) và khối Đông Âu XHCN(đứng đầu là Liên Xô).Đây cũng là biểu hiện cơ bản của trật tự thế giới được thiết lập sau chiến tranh: trật tự hai cực Ianta
Chương II Liên Xô và các nước Đông Âu (1945 - 1991), Liên Bang Nga
(1991 - 2000 )
1 Những thành tựu chính trong công cuộc XD XHCN ở L.Xô ( 1945 - giữa những năm 70 ):
a Công cuộc khôi phục kinh tế ( 1945 - 1950 ):
- Liên Xô bước ra khỏi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai với tư thế của người chiến thắng Nhưng chiến tranh cũng đã gây ra nhiều tổn thất nặng nề cho đất nước Xô viết
Hơn 27 triệu người chết; 1710 thành phố, hơn 70 000 làng mạc, gần 32 000 nhà máy, xí nghiệp bị tàn phá Đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn
- Sau chiến tranh, các nước phương Tây do Mĩ cầm đầu lại theo đuổi chính sách chống cộng, tiến hành chiến tranh lạnh, bao vây kinh tế Liên Xô Trước tình hình đó, Liên Xô vừa phải chú ý đến nhiệm vụ củng
cố quốc phòng, an ninh, vừa phải thực hiện nhiệm vụ hàn gắn vết thương chiến tranh và phát triển kinh tế Với tinh thần vượt mọi khó khăn gian khổ, nhân dân Xô viết đã hoàn thành thắng lợi kế hoạch 5 năm ( 1946
- 1950 ) trước thời hạn 9 tháng
- Liên Xô đã phục hồi nền sản xuất công nghiệp, năm 1947 đạt mức trước chiến tranh
Đến năm 1950, tổng sản lượng công nghiệp tăng 73 % so với mức trước chiến tranh ( kế hoạch dự kiến là
48 % ), hơn 6200 xí nghiệp được phục hồi hoặc xây mới đi vào hoạt động Nhiều nghành công nghiệp nặng tăng trưởng nhanh ( dầu mỏ tăng 22 %, thép 49 %, than 57 % )
- Một số ngành sản xuất nông nghiệp cũng vượt mức trước chiến tranh, thu nhập quốc dân tăng 66 % so vớinăm 1940 ( kế hoạch dự kiến tăng 38 % ) Năm 1949, Liên Xô chế tạo thành công bom nguyên tử, đánh dấu bước phát triển nhanh chóng của khoa học - kĩ thuật Xô viết, phá vỡ độc quyền vũ khí nguyên tử của Mĩ
b Liên Xô tiếp tục XD cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH ( 1950 - nửa đầu những năm 70 ):
Từ năm 1951 đến năn 1975, tốc độ tăng trưởng hằng năm của công nghiệp Xô viết bình quân là 9,6 % Năm 1970, sản lượng một số nghành công nghiệp quan trọng như điện lực đạt 704 kw/h (bằng sản lượng điện của bốn nước Anh, Pháp, CHLB Đức, I-ta-li-a cộng lại), dầu mỏ đạt 353 triệu tấn, than đạt 624 triệu
Trang 5tấn, lần đầu tiên vượt Mĩ.
+ Nông nghiệp:
Tuy gặp nhiều khó khăn nhưng sản xuất nông nghiệp của Liên Xô cũng thu được nhiều thành tích nổi bật Sản lượng nông phẩm trong những năm 60 tăng trung bình khoảng 16 %/ năm Năm 1970 đạt 186 triệu tấn ngũ cốc và năng suất trung bình là 15,6 tạ/ ha
- Khoa học - kĩ thuật:
Liên Xô đạt những thành tựu rực rỡ:
+ Năm 1949, Liên Xô chế tạo thành công bom nguyên tử, đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ về khoa học -
kĩ thuật và phá vỡ thế độc quyền vũ khí nguyên tử của Mĩ
+ Năm 1957, Liên Xô là nước đầu tiên phóng thành công vệ tinh nhân tạo Spút-nic
+ Năm 1961, Liên Xô phóng con tàu Phương Đông I đưa nhà du hành vũ trụ Ga-ga-rin bay vòng quanh Trái Đất, mở đầu kỉ nguyên chinh phục vũ trụ của loài người, sau đó đã tiến hành nhiều chuyến bay dài ngày trong vũ trụ
+ Đầu những năm 70, bằng việc kí với Mĩ các hiệp ước về hạn chế hệ thống phòng, chống tên lửa và về một số biện pháp trong lĩnh vực hạn chế vũ khí tiến công chiến lược (gọi tắt là hiệp ước ABM và hiệp định SALT - 1 và SALT - 2), Liên Xô đã đạt được thế cân bằng chiến lược về sức mạnh quân sự nói chung và sứcmạnh lực lượng hạt nhân nói riêng với các nước phương Tây Đây là một thành tựu có ý nghĩa to lớn, làm đảo lộn toàn bộ chiến lược của Mĩ và đồng minh của Mĩ
+ Liên Xô đã chiếm lĩnh nhiều đỉnh cao khoa học - kĩ thuật thế giới ở các lĩnh vực vật lí, hóa học, điện tử, điều khiển học, khoa học vũ trụ,
- Xã hội:
Có những thay đổi rõ rệt:
+ Năm 1971, công nhân chiếm 55 % người lao động trong cả nước
+ Nhân dân Liên Xô có trình độ học vấn cao với gần 3/4 số dân đạt trung học và đại học
2 Sự khủng hoảng của chế độ XHCN ở Liên Xô và Công cuộc cải tổ ( 1985 - 1991 ):
a Sự khủng hoảng của chế độ XHCN ở Liên Xô:
- Năm 1973, cuộc khủng hoảng dầu mỏ nghiêm trọng bùng nổ, báo hiệu bước khởi đầu của cuộc khủng hoảng chung đối với thế giới trên nhiều mặt kinh tế, chính trị và tài chính Vì vậy, nó đã đặt ra vấn đề phải cải cách kinh tế, chính trị và tài chính, xã hội để thích nghi với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học - kĩ thuật và sự giao lưu hợp tác quốc tế ngày càng mạnh mẽ
- Trước tình hình ấy, Đảng và Nhà nước Liên Xô lại cho rằng quan hệ xã hội chủ nghĩa không chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng chung, hơn nữa nguồn tài nguyên của Liên Xô vẫn dồi dào nên đã chậm đề ra đường lối cải cách
- Thực tế, mô hình CNXH ở Liên Xô và những cơ chế của nó vẫn chưa đựng những sai lầm, thiếu sót được tích tụ từ lâu Nó cản trở sự phát triển đất nước, xã hội lâm vào tình trạng thiếu dân chủ và công bằng, kỉ cương và pháp chế bị vi phạm nghiem trọng, tệ nạn xã hội gia tăng, sản xuất tăng trưởng chậm, nặng suất lao động thấp,
Nền kinh tế Liên Xô ngày càng mất cân đối nghiêm trọng, nợ nước ngoài nhiều và làm phát tăng Đời sống nhân dân ngày càng khó khăn, thiếu thốn
b Công cuộc cải tổ ( 1985 - 1991 ):
- Tháng 3 - 1985, M.Goóc-ba-chốp lên nắm quyền lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô, đã đưa ra đường lối tiến hành cải tổ
- Mục đích của công cuộc cải tổ là nhằm đổi mới mọi mặt đời sống của xã hội Xô viết, sửa chữa những thiếu sót, sai lầm trước đây, đưa đất nước thoát khỏi sự trì trệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội đúng như bản chất của nó
- Nội dung:
+ Về kinh tế: đẩy nhanh việc ứng dụng thành tựu mới về khoa học - kĩ thuật, đưa nền kinh tế phát triển theochiều sâu, đạt mức cao nhất thế giới về nặng suất lao động xã hội, chất lượng sản phẩm và hiệu quả, xây dựng nền kinh tế thị trường có điều tiết, bảo đảm cơ cấu tối ưu về tính cân đối của nền kinh tế quốc dân thống nhất
Trang 6+ Về chính trị - xã hội: mở rộng chế độ tự quản xã hội chủ nghĩa của nhân dân, củng cố kỉ luật và trật tự,
mở rộng tính công khai phê bình và tự phê bình, bảo đảm mức độ mới về phúc lợi nhân dân, thực hiện triệt
để nguyên tắc phân phối theo lao động
- Kết quả:
+ Trong sáu năm thực hiện, do những tác động tiêu cực của sai lầm trước kia, do chưa được chuẩn bị đầy
đủ và nhất là lại mắc phải những sai lầm mới trầm trọng hơn nên công cuộc cải tổ ngày càng trục trặc, bế tắc
và càng rời xa những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội
+ Thánh 12 - 1990, công cuộc cải tổ về kinh tế thực sự thất bại Sự cải tổ chính trị đã thiết lập quyền lực của tổng thống và chuyển sang chế độ đa đảng, thu hẹp và sau đó thủ tiêu chính quyền Xô viết, vì vậy đã thủtiêu vai trào lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước Liên Xô
+ Xã hội lầm vào rối loạn với những xung đột gay gắt giữa các dân tộc và các phe phái trên toàn liên bang
3 Nguyên nhân sụp đổ của XHCN ở Liên Xô và Đông Âu:
- Trong một thời kì dài, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đem lại nhiều thành tựu to lớn nhưng càng ngày càng bộc lộ nhiều sai lầm thiếu xót dẫn đến sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu Có nhiều
lí do dẫn đến sự sụp đổ của XHCN ở Liên Xô và Đông Âu:
+ Thiếu tôn trọng đầy đủ các quy luật phát triển khách quan về kinh tế - xã hội, chủ quan duy ý chí, thực hiện cơ chế tập trung quan liêu bao cấp thay cho cơ chế thị trường
Điều đó làm cho nền kinh tế đất nước thiếu tính năng động, sản xuất trì trệ, đời sống nhân dân không được cải thiện Về mặt xã hội thì thiếu dân chủ và công bằng, vi phạm pháp chế XHCN Tình trạng đó kéo dài đã khơi sâu lòng bất mãn trong quần chúng
+ Không bắt kịp sự phát triển của cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện đại, đưa tới khủng hoảng về kinh tế - chính trị Chậm sửa chữa, thay đổi trước những biến động lớn của tình hình thế giới, và khi đã sửa chữa, thay đổi thì lại rời bỏ những nguyên lí đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lê Nin
+ Khi tiến hành cải tổ lại phạm sai lầm trên nhiều mặt, làm cho khủng hoảng càng thêm nặng nề Những sailầm và sự tha hóa về phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng của một số người lãnh đạo Đảng và Nhà nước trong một số nước xã hội chủ nghĩa
+ Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước ( cuộc tấn công hòa bình mà họ thường gọi là cuộc cách mạng nhung ) có tác động không nhỏ làm cho tình hình càng thêm rối loạn
- Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu trong những năm 1989 - 1991 đã gây nên những hậu quả hết sức nặng nề Đó là một tổn thất lớn trong phong trào cộng sản - công nhân quốc
tế Hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới không còn tồn tại Trật tự thế giới hai cực đã kết thúc Nhưng đây chỉ
là sự sụp đổ tạm thời của một mô hình chủ nghĩa xã hội chưa khoa học, chưa nhân văn và một bước lùi tạm thời của chủ nghĩa xã hội - như V.I Lênin đã nói: Nếu người ta nhận xét thực chất của vấn đề, thì có bao giờngười ta thấy rằng trong lịch sử có một phương thức sản xuất mới nào lại đứng vững ngay được, mà lại không liên tiếp trải qua nhiều thất bại, nhiều sai lầm và tái phạm không ?
4 Những nét chính về Liên Bang Nga ( 1991 - 2000 ):
Sau khi Liên Xô tan rã, Liên Bang Nga là quốc gia kế tục Liên Xô nghĩa là được kế thừa địa vị pháp lí của Liên Xô tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc cũng như tại các cơ quan ngoại giao của Liên Xô ở nước ngoài
* Kinh tế:
Từ 1992, Chính phủ Nga đề ra cương lĩnh tư nhân hóa nền kinh tế nước Nga, cố gắng đưa đất nước đi vào kinh tế thị trường Nhưng việc tư nhân hóa ồ ạt càng làm cho kinh tế rồi loạn hơn:
- Sản xuất công nghiệp năm 1992 giảm xuống còn 20 %
- Mức lương trung bình của công nhân viên chức thấp hơn người Mĩ 25 lần
- Một tầng lớp tư sản mới khá đông đảo hình thành trong xã họi Nga
- Từ năm 1990 đến 1995 tốc đọ tăng trưởng GDP luôn luôn là số âm: năm 1990 là - 3,6 %, năm 1995 là - 4,1 %
- Năm 1997, nền kinh tế dần dần được hồi phục, tốc độ tăng trưởng đã tăng lên 0,5 % và năm 2000 là 9 %
* Chính trị:
- Sau một thời gian đấu tranh gay gắt giữa các đảng phái, tháng 12 - 1993 bản Hiến pháp của Liên bang Nga được ban hành:
Trang 7+ Tổng thống do dân trực tiếp bầu là người đứng đầu nhà nước, là người điều hành chung mọi hoạt động của tất cả các cơ quan chính quyền.
+ Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ, thực thi chức năng của cơ quan hành pháp
+ Hệ thống lập phát gồm hai viện là Hội đồng Liên bang ( Thượng viện ) và Đuma Quốc gia ( Hạ viện ) + Hệ thống tư pháp gồm Tòa án Hiến pháp và Tòa án tối cao
- Thời Tổng thống En-xin ( 1992 - 1999 ):
+ Về đối nội:
Đối mặt với hai thách thức lớn:
• Tình trạng không ổn định về chính trị do sự tranh chấp quyền lực giữa các tập đoàn tài chính - chính trị và
do đòi hỏi dân chủ hóa của nhân dân
• Những cuộc xung đột sắc tộc, nổi bật là phong trào li khai của vùng Tréc-xni-a Những lực lượng li khai
đã tiến hành nhiều vụ khủng bố nghiêm trọng, gây nên nhiều tổn thất nặng nề
+ Về đối ngoại:
Trong những năm 1992 - 1993, Nga theo đuổi chính sách định hướng Đại Tây Dương, ngả về các cường quốc phương Tây với hi vọng giành được sự ủng hộ về chính trị và sự viện trợ kinh tế Nhưng sau hai năm, nước Nga chỉ nhận được những khoản tín dụng và viện trợ tài chính rất ít ỏi Từ năm 1994, nước Nga chuyển sang chính sách định hướng Âu - á, trong khi vẫn tranh thủ phương Tây phải khôi phục và phát triểnquan hệ với các nước trong khu vực Châu Á ( các nước SNG, Trung Quốc, ấn Độ, các nước ASEAN, )
Ôn tập: Liên Xô và các nước Đông Âu (1945-1991) - Liên bang Nga (1991-2000)
Câu 1: Nêu những thành tựu chính của Liên Xô trong công cuộc khôi phục kinh tế sau chiến 1950)? Ý nghĩa của những thành tựu đó?
tranh(1945-Gợi ý trả lời:
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô là nước thắng trận, song lại là nước bị chiến tranh tàn phá nặng
nề nhất cả về người và của: hơn 27 triệu người chết, 1700 thành phố và hơn 7 vạn làng mạc bị phá hủy,
32000 xí nghiệp bị tàn phá
Bên ngoài, các nước phương Tây đã thực hiện chính sách thù địch với Liên Xô, tiến hành "Chiến tranh lạnh", tích cực chạy đua vũ trang, bao vây kinh tế nhằm chuẩn bị một cuộc chiến tranh tổng lực để tiêu diệt Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa Do vậy, Liên Xô phải thực hiện kế hoạch 5 năm khôi phục kinh tế(1945-1950)
Với tinh thần tự lực tự cường, nhân dân Liên Xô đã hoàn thành thắng lợi kế hoạch 5 năm khôi phục kinh tế(1946-1950) trong vòng 4 năm 3 tháng
Công nghiệp được phục hồi vào năm 1947 Đến năm 1950, tổng sản lượng công nghiệp tăng 73% so với mức trước chiến tranh, hơn 6200 xí nghiệp được phục hồi hoặc xây dựng mới và đi vào hoạt động
Sản xuất nông nghiệp năm 1950 đã đạt mức trước chiến tranh
Khoa học-kỹ thuật phát triển nhanh chóng Năm 1949, Liên Xô đã chế tạo thành công bom nguyên tử, phá
vỡ thế độc quyền vũ khí nguyên tử của Mỹ
Trang 8chiến lược toàn cầu của Mỹ.
Câu 2:Trình bày những thành tựu Liên Xô đạt được trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội(từ năm 1950 đến nửa đầu những năm 70)? Ý nghĩa?
Sau khi hoàn thành khôi phục kinh tế, Liên Xô tiếp tục thực hiện nhiều kế hoạch dài hạn nhằm xây dựng
cơ sở vật chất, kỹ thuật của Chủ nghĩa xã hội đạt nhiều thành tựu to lớn:
Công nghiệp: trở thành cường quốc công nghiệp thứ hai thế giới(sau Mỹ).Một số nghành công nghiệp có sản lượng cao vào loại nhất thế giới như dầu mỏ, than, thép Liên Xô đi đầu trong công nghiệp vũ trụ, công nghiệp điện hạt nhân
Nông nghiệp: sản lượng nông phẩm trong những năm 60 tăng trung bình hằng năm 16%
Khoa học-kỹ thuật: Năm 1957 là nước đầu tiên phóng thành công vệ tinh nhân tạo của trái đất; 1961phóng thành công tàu vũ trụ đưa nhà du hành vũ trụ I.Gagarin bay vòng quan trái đất, mở đầu kỷ nguyên chinh phục vũ trụ của loài người
Xã hội có nhiều biến đổi: tỷ lệ công nhân chiếm 55% số người lao động, trình độ học vấn của người dân không ngừng nâng cao
Đối ngoại: thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc và giúp đỡ các nước xã hội chủ nghĩa
Những thành tựu đạt được có ý nghĩa hết sức quan trọng, là nền tảng vững chắc cho công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội về sau đạt được những thành tựu to lớn
Những thành tựu đó đã củng cố và tăng cường sức mạnh của nhà nước Xô viết, nâng cao uy tín và vị thế của Liên Xô trên trường quốc tế, làm cho Liên Xô trở thành nước Xã hội chủ nghĩa lớn và là chỗ dựa của phong trào cách mạng thế giới.Đồng thời nó cũng chứng tỏ tính ưu việt của Chủ nghĩa xã hội, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của Mỹ
Câu 3: Trình bày sự ra đời các nhà nước dân chủ nhân dân Đông Âu.Ý nghĩa?
Từ 1944-1945, chớp thời cơ hồng quân Liên Xô truy kích phát xít Đức qua lãnh thổ Đông Âu, nhân dân các nước Đông Âu đã nổi dậy giành chính quyền, thiết lập nhà nước dân chủ nhân dân: Ba Lan,
Rumani(1944); Hunggari, Tiệp Khắc, Nam Tư, Anbani, Bungari(1946)
Từ 1945-1949, các nước Đông Âu tiến hành cải cách ruộng đất, quốc hữu hóa các xí nghiệp lớn của tư bản,ban hành các quyền tự do dân chủ, nâng cao đời sống nhân dân.Vai trò lãnh đạo của các Đảng cộng sản ngày càng được khẳng định
Sự ra đời các nhà nước Dân chủ nhân dân Đông Âu có ý nghĩa to lớn, đánh dấu chủ nghĩa xã hội thoát ra khỏi phạm vi một nước(Liên Xô) và bước đầu trở thành hệ thống thế giới
Câu 4: Trình bày những thành tựu trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu(1950-1975)?
-Bối cảnh lịch sử: Từ 1950-1975 các nuớc Đông Âu đã thực hiện nhiều kế hoạch 5 năm nhằm xây dựng cơ
sở vật chất-kỹ thuật của Chủ nghĩa xã hội trong tình hình khó khăn, phức tạp
+Các nước xuất phát từ trình độ phát triển thấp
+Bị các nước đế quốc bao vây kinh tế, các thế lực phản động trong nước ra sức chống phá
+Sự giúp đỡ có hiệu quả của Liên Xô và sự vươn lên của nhân dân các nước Đông Âu
-Thành tựu:
+Công nghiệp: điện khí hóa toàn quốc, sản lượng cao gấp hàng chục lần
+Nông nghiệp: phát triển nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu lương thực và thự phẩm của nhân dân
+Trình độ khoa học-kỹ thuật được nâng lên rõ rệt
Từ những nước nghèo, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã trở thành các quốc gia công-nông nghiệp
Câu 5: Trình bày sự ra đời và vai trò của Hội đồng tương trợ kinh tế(SEV) đến đầu những năm 70 của thế kỷ XX? Theo em, quan hệ hợp tác trên đây giữa các nước xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa gì?
-Ngày 8-1-1949, Hội đồng tương trợ kinh tế(SEV) được thành lập với sự tham dự của các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu
Trang 9-Mục tiêu: tăng cường hợp tác, thúc đẩy sự tiến bộ về kinh tế và kỹ thuật, thu hẹp dần sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các nước thành viên.
-Thành tựu: giúp đỡ các nước thành viên, thúc đẩy sự tiến bộ về kinh tế và kỹ thuật, không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân
-Thiếu sót: không hòa nhập với đời sống kinh tế thế giới, chưa coi trọng đầy đủ việc áp dụng những tiến bộ của khoa học và công nghệ, sự hợp tác gặp nhiều trở ngại do cơ chế quan liêu, bao cấp
*Ý nghĩa: quan hệ hợp tác toàn diện giữa các nước xã hội chủ nghĩa đã làm củng cố và tăng cường sức mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện để nhân dân các nước này có thể ngăn chặn, đẩy lùi các
âm mưu chống phá, tiêu diệt của chủ nghĩa tư bản, không ngừng giúp đỡ phong trào cách mạng thế giới và góp phần giữ gìn hòa bình, an ninh thế giới
Câu 6: Trình bày sự ra đời và vai trò của Tổ chức Hiệp ước phòng thủ Vacsava đến đầu những năm
70 của thế kỷ XX?
Ngày 14/5/1955, Tổ chức Hiệp ước phòng thủ Vacsava được thành lập
+Mục tiêu: Thiết lập liên minh phòng thủ về quân sự và chính trị giữa các nước Xã hội chủ nghĩa châu Âu +Vai trò: giữ gìn hòa bình, an ninh ở châu Âu và thế giới, tạo nên thế cân bằng về sức mạnh quân sự giữa các nước xã hội chủ nghĩa và các nước tư bản chủ nghĩa
*Ý nghĩa: quan hệ hợp tác toàn diện giữa các nước xã hội chủ nghĩa đã làm củng cố và tăng cường sức mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện để nhân dân các nước này có thể ngăn chặn, đẩy lùi các
âm mưu chống phá, tiêu diệt của chủ nghĩa tư bản, không ngừng giúp đỡ phong trào cách mạng thế giới và góp phần giữ gìn hòa bình, an ninh thế giới
Câu 7: Trình bày sự khủng hoảng của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô?
Những nguyên nhân chính dẫn đến sự khủng hoảng của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu? Từ sự sụp đổ ấy em có suy nghĩ như thế nào về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở một số quốc gia hiện nay?
1.Sự khủng hoảng của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô.
*Tình hình kinh tế, chính trị:
-Năm 1973 cuộc khủng hoảng dầu mỏ tác động mạnh đến tình hình kinh tế, chính trị của nhiều nước trên thế giới Liên Xô chậm đề ra những biện pháp sửa đổi để thích ứng với tình hình mới Đến cuối những năm 70-đầu những năm 80, nền kinh tế Liên Xô dần bộc lộ những dấu hiệu suy thoái
-Tình hình chính trị phức tạp, xuất hiện nhiều tư tưởng và một số nhóm đối lập chống lại Đảng cộng sản và nhà nước Xô viết
*Công cuộc cải tổ:
-Tháng 3/1985, M.Goócbachốp lên nắm quyền lãnh đạo Đảng và nhà nước Liên Xô, tiến hành công cuộc cải tổ đất nước
-Sau 6 năm tiến hành cải tổ, do phạm nhiều sai lầm nên tình hình không được cải thiện, đất nước Xô viết lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện
*Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô:
-Tháng 8/1991, chính biến nhằm lật đổ M.Goócbachốp nổ ra nhưng thất bại Đảng cộng sản Liên Xô bị đình chỉ hoạt động Chính phủ Liên bang tê liệt
-Ngày 21/12/1991, M.Goócbachốp từ chức tổng thống,lá cờ đỏ búa liềm trên nóc điện Kremli bị hạ xuống, đánh dấu sự chấm dứt chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sau 74 năm tồn tại
2.Nguyên nhân tan rã của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu.
-Đường lối lãnh đạo mang tính chủ quan, duy ý chí, cùng với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp làm cho sản xuất trì trệ, đời sống nhân dân không được cải thiện Thêm vào đó, sự thiếu dân chủ và công bằng đã làm tăng thêm sự bất mãn trong quần chúng
-Không bắt kịp bước phát triển của khoa học-kỹ thuật tiên tiến, dẫn tới tình trạng trì trệ, khủng hoảng về kinh tế và xã hội
Trang 10-Khi tiến hành cải tổ lại phạm phải sai lầm trên nhiều mặt, làm cho khủng hoảng thêm trầm trọng.
-Sự chống phá của các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước
Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là một tổn thất chưa từng có trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, dẫn đến hệ thống mang tính thế giới của các nước xã hội chủ nghĩa không tồn tại nữa Nhưng đây chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội chưa khoa học, chưa nhân văn và là một bước lùi tạm thời của chủ nghĩa xã hội, như V.I.Lê-nin đã nói: "Nếu người ta nhận xét thực chất của vấn đề, thì có bao giờ người ta thấy rằng trong lịch sử có một phương thức sản xuất mới nào lại đứng vững ngay được, mà lại không liên tiếp trải qua nhiều thất bại, nhiều sai lầm không"
Từ những đổ vỡ ấy, nhiều bài học kinh nghiệm đau xót được rút ra cho các nước xã hội chủ nghĩa ngày nayđang tiến hành công cuộc cải cách-đổi mới, nhằm xây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa đúng với bản chất của nó, phù hợp với hoàn cảnh và truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc Nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa trong đó có nhân dân ta, cần vững tin vào tương lai của chủ nghĩa xã hội, tin vào sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và cố gắng hết mình vì sự nghiệp đổi mới trên con đường xã hội chủ nghĩa
Chương II:CÁC NƯỚC ĐÔNG BẮC Á
I.Trung Quốc
1 Sự thành lập nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa:
- Sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân phiệt Nhật, ở Trung Quốc đã diễn ra cuộc nội chiến giữa Đảng Quốc dân và Đảng Cộng sản Cuộc nội chiến kéo dài hơn 3 năm ( 1946 - 1949 )
+ Ngày 20 - 7 - 1946, Tưởng Giới Thạch đã huy động toàn bộ lực lượng quân đội chính quy ( 113 lữ đoàn, khoảng 160 vạn quân ) tấn côngtoàn diện vào các vùng giải phóng do Đảng Cộng sản lãnh đạo Chính thức phát động cuộc nội chiến chống Đảng Cộng sản
+ Do tương quan lực lượng nên từ tháng 7 - 1946 đến tháng 6 - 1947, quân giải phóng Trung Quốc thực hiện chiến lược phòng ngự tích cực, không giữa đất đai mà chủ yếu nhằm tiêu diệt sinh lực địch và xây dựng lực lượng mình
+ Từ tháng 6 - 1947, quân giải phóng chuyển sang phản công, tiến quân vào giải phóng các vùng do Đảng Quốc dân kiểm soát
+ Bằng ba chiến dịch lớn ( Liêu - Thẩm, Hoài - Hải, Bình - Tân ) từ 9 -1948 đến 1 - 1949, quân giải phóng
đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.540.000 tên địch ( gần 144 sư đoàn quân chính quy, 29 sư đoàn quân địa phương ) làm cho lực lượng chủ lực của địch bị tổn thất nghiêm trọng
- Tháng 4 - 1949, quân giải phóng vượt sông Trường Giang; ngày 23 - 4 - 1949, Nam Kinh được giải phóng Cuộc nội chiến kết thúc, toàn bộ lục địa Trung Quốc được giải phóng Tập đoàn Tưởng Giới Thạch thất bại, phải tháo chạy sang Đài Loan
Ngày 1 - 10 - 1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chính thức thành lập, đứng đầu là Chủ tịch Mao Trạch Đông
2 Mười năm đầu xây dựng chế độ mới ( 1949 - 1959 ):
Sau khi hoàn thành các mạng dân tộc dân chủ, nhiệm vụ trọng tâm của nhân dân Trung Quốc là đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa và giáo dục
- Kinh tế:
+ Từ năm 1950, nhân dân Trung Quốc bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, tiến hành những cải cách quantrọng: cải cách ruộng đất và hợp tác hóa nông nghiệp, cải tạo công - thương nghiệp tư bản tư doanh, tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, phát triển văn hóa, giáo dục,
Trang 11+ Đến cuối năm 1952, công cuộc khôi phục kinh tế đã kết thúc thắng lợi.
+ Từ năm 1953, Trung Quốc thực hiện kế hoạch 5 năm đầu tiên ( 1953 - 1957 ) Nhờ nỗ lực lao động của toàn dân và sự giúp đỡ của Liên Xô, kế hoạch 5 năm đã thu được những thành tựu to lớn Bộ mặt Trung Quốc có nhiều thay đổi rõ rệt:
• Trong những năm 1953 - 1957, 246 công trình đã được xây dựng và đưa vào sản xuất; đến năm 1957, sản lượng công nghiệp tăng 140 %, sản lượng nông nghiệp tăng 25 % ( so với năm 1952 )
• Các nghành công nghiệp nặng như chế tạo cơ khí, luyện kim, điện lực, khai thác than, phát triển nhanh Trung Quốc đã tự sản xuất được 60 % máy móc cần thiết
• Trong mười năm đầu xây dựng chế độ mới, tổng sản lượng công - nông nghiệp tăng 11,8 lần; riêng công nghiệp tăng 10,7 lần
• Nền văn hóa - giáo dục cũng đạt được những bước tiến vượt bậc Đời sống nhân dân được cải thiện
- Về đối ngoại:
+ Trong những năm 1949 - 1959, Trung Quốc thi hành chính sách ngoại giao tích cực nhằm củng cố hòa bình và thúc đẩy sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới Địa vị quốc tế của Trung Quốc ngày càng được nâng cao
+ Ngày 14 - 2 - 1950, Trung Quốc kí với Liên Xô Hiệp ước hữu nghị, đồng minh và tương trợ Trung - Xô
và nhiều hiệp ước kinh tế, tài chính khác; phái quân chí nguyện sang giúp nhân dân Triều Tiên chống Mĩ ( 1950 - 1953 ); tham gia Hội nghị các nước Á - Phi tại Băng-đung ( 1955 ); giúp đỡ nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp, ủng hộ các nước Á, Phi và Mĩ La-tinh trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Trong thập niên đầu sau khi cách mạng thắng lợi, địa vị của Trung Quốc đã được nâng cao trên trường quốc tế + Ngày 18 - 1 - 1950, Trung Quốc thiết lập quan hệ với Việt Nam
3 Công cuộc cải cách mở cửa ( 1978 - 2000 ):
* Đường lối:
- Tháng 12 - 1978, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc vạch ra đường lối mới, mở đầu cho công cuộc cải cách kinh tế - xã hội Đường lối này được nâng lên thành đường lối chung qua Đại hội XII ( 9 - 1982 ), đặc biệt là đại hội XIII của Đảng ( 10 - 1987 ): lấy phát triển kinh tế làm trọng tâm
- Kiên trì bốn nguyên tắc cơ bản:
+ Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa
+ Kiên trì chuyên chính dân chủ nhân dân
+ Kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sán Trung Quốc
+ Kiên trì chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Mao Trạch Đông
- Tiến hành cải cách và mở cửa, chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa linh hoạt hơn nhằm hiện đại hóa và xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc vớimục tiêu biến Trung Quốc thành quốc gia giàu mạnh, dân chủ và văn minh
- Khoa học - kĩ thuật, văn hóa và giáo dục đạt được nhiều thành tựu quan trọng:
+ Năm 1964, Trung Quốc thử thành công bom nguyên tử
Trang 12+ Từ năm 1922, chương trình thám hiểm không gian được thực hiện Từ tháng 11 - 1999 đến tháng 3 -
2003, Trung Quốc đã phóng với chế độ tự động 4 con tàu Thần Châu và ngày 15 - 10 - 2003, tàu Thần Châu
5 cùng nhà du hành Dương Vĩ Lợi đã bay vào không gian vũ trụ Với sự kiện này, Trung Quốc trở thành quốc gia thứ ba trên thế giới ( sau Nga và Mĩ ) có tàu cùng với người bay vào vũ trụ
- Đối ngoại:
+ Từ những năm 80 của thế kỉ XX, Trung Quốc đã bình thường hóa quan hệ với Liên Xô, Việt Nam, Mông
Cổ, Lào, In-đô-nê-xi-a; khôi phục quan hệ ngoại giao với In-đô-nê-xi-a; thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước, mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nươc trên thế giới, có nhiều đóng góp trong công việc giải quyết các tranh chấp quốc tế
+ Trung Quốc đã thu hồi chủ quyền với Hồng Công ( 7 - 1997 ) và Ma Cao ( 12 - 1999 ) Những vùng đất này trở thành khu hành chính đặc biệt của Trung Quốc, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Ôn tập: Các nước Đông Bắc Á
Câu 1: Trình bày sự thành lập nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa(1949)? Ý nghĩa?
Sau khi chiến tranh chống Nhật kết thúc, đã diễn ra nội chiến giữa Quốc dân đảng và Đảng cộng 1949)
Ngày 20/7/1946, Tưởng Giới Thạch phát động chiến tranh chống Đảng Cộng Sản Sau giai đoạn phòng ngự tích cực(từ tháng 7/1946 đến tháng 6/1947) quân giải phóng chuyển sang phản công, lần lượt giải phóng các vùng do Quốc dân đảng kiểm soát
Cuối năm 1949, nội chiến kết thúc Toàn bộ lục địa Trung Quốc được giải phóng Lực lượng Quốc dân đảng thất bại, phải rút khỏi Đài Loan
Ngày 1/10/1949, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thành lập, đứng đầu là chủ tịch Mao Trạch Đông
Ý nghĩa:
Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Trung Quốc đã hoàn thành, chấm dứt hơn 100 năm nô dịch và thống trị của đế quốc, xóa bỏ tàn dư phong kiến, đưa nước Trung Hoa bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do vàtiến lân chủ nghĩa xã hội
Với diện tích bằng 1/4 châu Á và chiếm gần 1/4 dân số thế giới, thắng lợi của cách mạng Trung Quốc đã làm tăng cường lực lượng của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, có ảnh hưởng sâu sắc đến phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới
Câu 2: Trình bày những thành tựu cơ bản của nhân dân Trung Quốc trong mười năm đầu xây dựng chế độ mới?
Cách mạng dân tộc dân chủ Trung Quốc thắng lợi, nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa thành lập là điều kiện tiên quyết để xây dựng đất nước
Nhiệm vụ hàng đầu của nhân dân Trung Quốc là đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên pháttriển về mọi mặt
Những thành tựu cơ bản:
+1950-1952: hoàn thành khôi phục kinh tế, cải cách ruộng đất
+1953-1957: thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm đầu tiên Kinh tế-văn hóa-giáo dục đều có những bước tiến lớn
+Đối ngoại: thi hành chính sách đối ngoại tích cực, góp phần thúc đẩy sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới
-Ngày 18/1/1950, Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam
Ý nghĩa: Những thành tựu đạt được đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân
Nâng cao địa vị Trung Quốc trên trường quốc tế và sức mạnh của phe xã hội chủ nghĩa
Câu 3: Nêu nội dung cơ bản của đường lối cải cách của Trung Quốc và những thành tựu chính mà Trung Quốc đạt được trong những năm 1978-2000?
-Tháng 12-1978, Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc đề ra đường lối mới do Đặng Tiểu Bình khởi
Trang 13xướng, mở đầu công cuộc cải cách kinh tế-xã hội.
*Nội dung: lấy phát triển kinh tế làm trung tâm, tiến hành cải cách và mở cửa, chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa linh hoạt hơn, nhằm hiện đại hóa và xây dựng chủnghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, với mục tiêu biến Trung Quốc thành quốc gia giàu mạnh, dân chủ, văn minh
*Thành tựu:
-Kinh tế: sau 20 năm(1919-1988), nền kinh tế tiến bộ nhanh chóng, đạt tốc độ tăng trưởng cao, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt GDP tăng trung bình hàng năm trên 8%
-Khoa học-kỹ thuật, văn hóa, giáo dục đạt những thành tựu nổi bật
+Năm 1946 thử thành công bom nguyên tử
+Phóng tàu "Thần Châu 5" bay vào vũ trụ
-Về đối ngoại: chính sách có nhiều thay đổi, vai trò và địa vị quốc tế ngày càng được nâng cao
+Bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Mông Cổ
+Thu hồi chủ quyền với Hồng Công, Ma Cao
Các nước Đông Nam Á và Ấn Độ
1 Những biến đổi của Đông Nam Á sau chiến tranh thế giới thứ hai:
- Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các nước trong khu vực ( trừ Thái Lan) đều là nước thuộc
địa của đế quốc Âu - Mĩ Khi chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, Nhật Bản xâm chiếm cả vùng Đông Nam Á và thiết lập trật tự phát xít Từ cuộc chiến tranh chống thực dân Âu - Mĩ, nhân dân Đông Nam á chuyển sang đấu tranh chống quân phiệt Nhật, giải phóng đất nước Ngày sau khi Nhật đầu hàng lực lượng Đồng minh, một số quốc gia đã tuyên bố độc lập:
+ Ngày 17/8/1945, nhân dân In-đô-nê-xi-a tuyên bố độc lập và thành lập nước Cộng hòa In-đô-nê-xi-a + Ngày 19/8/1945, Cách mạng tháng Tám của Việt Nam thành công, nước VNDCCH ra đời (2/9/1945) + Tháng 8 - 1945, nhân dân các nước bộ tộc Lào nổi dậy và ngày 12 - 10 - 1945, nước Lào tuyên bố độc lập
- Nhân dân các nước Miến Điện ( nay là Mi-an-ma ), Mã Lai ( nay là Ma-lai-xia-a ) và Phi-líp-pin đều nổi dậy đấu tranh chống quân phiệt Nhật giải phóng nhiều vùng rộng lớn của đất nước.
Nhưng ngay sau đó, các nước thực dân Âu - Mĩ ( Pháp, Hà Lan, Anh, ) quay trở lại xâm lược Đông Nam
Á Nhân dân Đông Nam Á lại phải tiếp tục cuộc đấu tranh chống xâm lược Trải qua cuộc kháng chiến kiên cường và gian khổ, vào giữa những năm 50, nhân dân In-đô-nê-xi-a, Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia đã lần lượt đánh đuổi bọn thực dân ra khỏi đất nước Cũng vào thời gian đó, các nước đế quốc Âu - Mĩ công nhận độc lập của Phi-líp-pin, Miến Điện, Mã Lai, Xin-ga-po:
+ Tháng 10 - 1944, Mĩ trở lại Phi-líp-pin tuyên bố trao trả độc lập cho nước này ( 4 - 7 - 1946 ) Tuy vậy,
Mĩ vẫn xây dựng nhiều căn cứ quân sự ở Phi-líp-pin Đến năm 1992, Mĩ mới rút khỏi các căn cứ quân sự cuối cùng ở nước này là Clác và Su-bíc
+ Phong trào chống thực dân Anh diễn ra mạnh mẽ ở Miến Điện Tháng 10 - 1947, Anh buộc phải kí Hiệp ước Anh - Miến công nhận Miến Điện là nước độc lập và tự chủ Tháng 1 - 1948, Liên bang Miến Điện tuyên bố độc lập Từ tháng 6/1989 đổi lại là Liên bang Mi-an-ma
+ Tháng 9 - 1945, thực dân Anh tái chiếm Mã Lai Trước sức ép của phong trào đấu tranh quần chúng, chính phủ Anh phải đồng ý để cho Mã Lai độc lập Ngày 31 - 8 - 1957, Mã Lai tuyên bố độc lập Năm 1963,Liên bang Ma-lai-xi-a ra đời bao gồm miền Đông ( Xa-ba, Xa-ra-oắc ) và miền Tây ( Mã Lai, Xin-ga-po ) + Xin-ga-po được Anh trao trả quyền tự trị ( 1959 ), sau đó tham gia Liên bang Ma-lai-xi-a, nhưng đến năm
Trang 141965 lại tách ra thành nước cộng hòa độc lập
- Sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi ( 1954 ):
+ Nhân dân Việt Nam và Lào, tiếp đó là Cam-pu-chia phải trải qua một cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ, đến năm 1975 mới giành được thắng lợi hoàn toàn
+ Bru-nây, tới tháng 1 - 1984 tuyên bố là quốc gia độc lập nằm trong khối Liên hiệp Anh
+ Sau cuộc trưng cầu dân ý tháng 8 - 1999 tác khỏi In-đô-nê-xi-a, ngày 20 - 5 - 2002, Đông Ti-mo trở thànhmột quốc gia độc lập
- Trong bối cảnh của cuộc chiến tranh lạnh, đồng thời để ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội và
hạn chế thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc, tháng 9 - 1954, Mĩ cùng Anh, Pháp và một số nước đã thành lập khối quân sự mang tên Tổ chức hiệp ước Đông Nam á ( viết tắt theo tiếng Anh là SEATO ) Nhưng sau thắng lợi của cách mạng ba nước Đông Dương vào giữa năm 1975, khối SEATO phải giải thể ( 6
- 1976 )
2 In-đô-nê-xi-a:
- Giai đoạn đấu tranh giành độc lập:
+ Ngày 17 - 8 - 1945, sau khi quân phiệt Nhật đầu hàng trước khí thế cách mạng của quần chúng, bác sĩ Xu-các-nô đã soạn thảo và kí vào bản Tuyên ngôn Độc lập, sau đó bác sĩ Xu-các-nô đọc bản Tuyên ngôn trước cuộc mít tinh của đông đảo quần chúng ở thủ đô Gia-các-ta, tuyên bố thành lập nước Cộng hòa In-đô-nê-xi-a
Hưởng ứng Tuyên ngôn Độc lập, trong cả nước, trước hết là nhân dân ở các thành phố Gia-các-ta, bay-a, đã nổi dậy chiếm đóng các công sở, đài phát thanh và giành chính quyền từ tay Nhật Ngày 18 - 8 -
Xu-ra-1945, lãnh tụ các chính đảng và các đoàn thể mở hội nghị của ủy ban trù bị độc lập In-đô-nê-xi-a, thông qua bản Hiến pháp, bầu Xu-các-nô là Tổng thống nước Cộng hòa In-đô-nê-xi-a
+ Tháng 11 - 1945, với sự giúp đỡ của quân Anh, Hà Lan quay trở lại xâm lược In-đô-nê-xi-a Cuộc kháng chiến chống thực dân Hà Lan, bảo về độc lập của nhân dân In-đô-nê-xi-a bùng nổ
+ Tháng 5 - 1949, Hà Lan và In-đô-nê-xi-a kí hiệp định đình chiến tại Gia-các-ta
+ Tháng 11 - 1949, hai bên kí Hiệp ước La Hay, theo đó In-đô-nê-xi-a nằm trong khối Liên hiệp Hà Lan - In-đô-nê-xi-a và phụ thuộc nhiều mặt vào Hà Lan
+ Ngày 15 - 8 - 1950, do cuộc đấu tranh của nhân dân đòi độc lập thật sự và thống nhất thì nước Cộng hòa In-đô-nê-xi-a thành lập
- Giai đoạn 1953 đến 1965:
+ Từ năm 1953, chính phủ của Đảng Quốc dân do Xu-các-nô đứng đầu đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm củng cố nền độc lập của đất nước:
• Năm 1953, phế bỏ phái đoàn cố vấn quân sự của Hà Lan ở In-đô-nê-xi-a
• Năm 1956, hủy bỏ Hiệp ước La Hay
• Năm 1963, thu hồi miền Tây I-ri-an, thực hiện rộng rãi các quyền tự do, dân chủ,
+ Ngày 30 - 9 - 1965, đơn vị quân đội bảo vệ Phủ Tổng thống tiến hành cuộc đảo chính quân sự lật đổ các-nô nhưng thất bại
3 Lào ( 1945 - 1975 ):
- Tuyên bố độc lập:
+ Giữa tháng 8 - 1945, Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện Nắm thời cơ thuận lợi, ngày 23 - 8 - 1945, nhân dân Lào nổi dậy và thành lập chính quyền cách mạng ở nhiều nơi
Trang 15+ Ngày 12 - 10 - 1945, nhân dân thủ đô Viêng Chăn khởi nghĩa giành chính quyền, chính phủ Lào ra mắt quốc dân và trịnh trọng tuyên bố trước thế giới nền độc lập của nước Lào.
- Giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp ( 1946 - 1954 ):
+ Tháng 3 - 1946, thực dân Pháp trở lại tái chiếm Lào Nhân dân Lào một lần nữa phải cầm súng kháng chiến bảo vệ nền độc lập của mình
+ Từ năm 1947, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Lào ngày càng phát triển, lực lượng cách mạng ngày càng trưởng thành:
• Các chiến khu lần lượt được thành lập ở Tây Lào, Thượng Lào và Đông Bắc Lào
• Ngày 20 - 1 - 1949, quân giải phóng nhân dân Lào Lát-xa-vông được thành lập do Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn chỉ huy
• Ngày 13 - 8 - 1950, Mặt trận Lào tự do và Chính phủ kháng chiến Lào do Hoàng thân Xu-pha-nu-vông đứng đầu thành lập
+ Trong những năm 1953 - 1954, quân dân Lào đã phối hợp cùng với quân tình nguyện Việt Nam mở các chiến dịch Trung Lào, Hạ Lào ( 1953 ), Thượng Lào ( 1954 ), giành thắng lợi to lớn Những cuộc tấn côngnày đã phối hợp chặt chẽ với chiến trường Việt Nam, đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ ( 1954 ), góp phần vào chiến thắng chung của nhân dân ba nước Đông Dương
+ Tháng 7 - 1954, hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết Hiệp định đã thừa nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Lào, công nhân địa vị hợp pháp của lực lượng kháng chiến Lào
- Giai đoạn kháng chiến chống Mĩ ( 1954 - 1975 ):
+ Ngay sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương vừa kí kết, Mĩ đã lập tức hất cẳng Pháp, âm mưu biến Lào thành nước thuộc địa kiểu mới Từ đây, nhân dân Lào lại phải cầm súng chống kẻ thù mới là đế quốc Mĩ
+ Thông qua viện trợ kinh tế và quân sự, đế quốc Mĩ đã dựng lên chính quyền, quân đội tay sai và nắm quyền chi phối mọi mặt ở Lào Giữa năm 1955, Mĩ điều khiển quân đội tay sai Viêng Chăn tấn công vào haitỉnh tập kết của lực lượng các mạng Lào ở Sầm Nưa và Phôngxali; tiến hành càn quét, đàn áp lực lượng kháng chiến cũ ở khắp các tỉnh trong nước, mở cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Lào
+ Ngày 22 - 3 - 1955, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào thì cuộc đấu tranh của nhân dânLào diễn ra trên cả ba mặt trận: quân sự - chính trị - ngoại giao, đã đánh bại các cuộc tấn công quân sự của
Mĩ và tay sai, giải phóng thêm nhiều vùng rộng lớn ở Thượng Lào, Trung Lào và Hạ Lào Đến đầu những năm 60 đã giải phóng 2/3 lãnh thổ, hơn 1/3 dân số cả nước
+ Từ giữa năm 1964, Mĩ bắt đầu sử dụng không quân ném bom tàn phá dã man các vùng giải phóng, phái hàng ngàn cố vấn quân sự Mĩ sang trực tiếp điều khiển cuộc chiến tranh và đưa nhiều đơn vị lính thuê Thái Lan sang tham chiến ở Lào Cũng từ đó, cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Lào chính thức chuyển sang hình thái Chiến tranh đặc biệt và từ năm 1969 được nâng thành Chiến tranh đặc biệt tăng cường, sau khi Ních-xơn trúng cử lên làm Tổng thống Mĩ Mĩ đã ném 3 triệu tấn bom xuống Lào ( tính trung bình mỗi người dân Lào phải chịu đựng 1 tấn bom ), và liên tiếp mở những cuộc hành quân lớn nhằm đánh chiếm vùng giải phóng, tiêu diệt lực lượng cách mạng Tuy nhiên, nhân dân Lào đã từng bước đánh bại các kế hoạch chiến tranh của Mĩ và lực lượng phái hữu
+ Tháng 2 - 1973, Hiệp định Viêng Chăn về lập lại hòa bình và thực hiện hòa hợp dân tộc ở Lào được kí kếtgiữa mặt trận Lào yêu nước và phái hữu Viêng Chăn Chính phủ Liên hiệp dân tộc lâm thời và Hội đồng Quốc gia chính trị liên hiệp được thành lập
+ Mùa xuân năm 1975, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân dân Việt Nam thắng lợi đã cổ vũ và tạo điều kiện cho cách mạng Lào tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn Từ tháng 5 đến tháng 12 - 1975, quân dân Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng đã nổi dậy giành chính quyền trong cả nước
+ Ngày 2 - 12 - 1975, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào chính thức thành lập Từ đó, nước Lào bước sang thời kì mới - xây dựng đất nước và phát triển kinh tế - xã hội
4 Cam-pu-chia ( 1945 - 1993)
- Giai đoạn kháng chiến chống Pháp ( 1945 - 1954 ):
+ Tháng 10 - 1945, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược và thống trị Cam-pu-chia Triều đình phong kiến
Trang 16nhanh chóng quy thuận Pháp, và ngày 7 - 4 - 1946, kí với Pháp hiệp ước chấp nhận sự thống trị trở lại của Pháp ở Cam-pu-chia.
+ Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, từ năm 1951 là Đảng Nhân dân cách mạng chia, nhân dân Cam-pu-chia đã anh dũng đứng dậy tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Trong những năm đầu, phong trào kháng chiến còn mang tính tự phát, cục bộ trong từng địa phương, chưa có một trung tâm lãnh đạo thống nhất Cục diện kháng chiến ngày càng được mở rộng, đòi hỏi bức thiết phải thống nhất tất cả lực lượng cách mạng trong cả nước
+ Từ ngày 17 đến ngày 19 - 4 - 1950, những người kháng chiến Cam-pu-chia đã tiến hành đại hội quốc dân,thành lập ủy ban Mặt trận dân tộc thống nhất ( Mặt trận Khơ - me ) và chính phủ kháng chiến do Sơn Ngọc Minh đứng đầu
+ Ngày 19 - 6 - 1951, trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang trong cả nước, quân đội cách mạng chính thức thành lập lấy tên là Quân đội It-xa-rắc
+ Tháng 7 - 1951, Hội nghị đại biểu các đảng viên cộng sản toàn Cam-pu-chia đã chính thức thành lập Đảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia theo quyết định của Đại hội II Đảng Cộng sản Đông Dương ( tháng 2 - 1951 )
+ Bước vào những năm 1953 - 1954, phong trào kháng chiến của nhân dân Cam-pu-chia phát triển mạnh
mẽ ở khắp mọi nơi và thu được những thắng lợi to lớn: vùng giải phóng được mở rộng, chiếm khoảng 1/4 lãnh thổ Cam-pu-chia với số dân ước chừng 2 triệu người
+ Cuối năm 1952, tình thế quân sự, chính trị và tài chính của thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương đã trở nên hết sức nguy kịch Trong bối cảnh đó, ngày 9 - 11 - 1953, Xi-ha-núc tiến hành cuộc vận động ngoại giao ( thường được gọi là cuộc thập tự chinh của Quốc vương vì nền độc lập của Cam-pu-chia ) gây sức ép buộc chính phủ Pháp phải kí hiệp ước trao trả độc lập cho Cam-pu-chia Tuy vậy, quân đội Pháp vẫn chiếm đóng Cam-pu-chia và Pháp vẫn nắm mọi quyền hành ở Cam-pu-chia
+ Sau thất bại ở Điện Biên Phủ năm 1954, thực dân Pháp phải kí hiệp ước Giơ-ne-vơ về Đông Dương, côngnhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Cam-pu-chia, Lào và Việt Nam Hiệp định cũng quy định tất cả các đơn vị quân đội Pháp rút ra khỏi lãnh thổ Cam-pu-chia, vĩnh viễn chấm dứt chế độ thống trị thực dân của Pháp ở Cam-pu-chia
- Giai đoạn hòa bình trung lập ( 1954 - 1970 ):
+ Từ năm 1954 đến đầu năm 1970, chính phủ Xi-ha-núc thực hiện đường lối hòa bình trung lập, không tham gia bất cứ khối liên minh quân sự hoặc chính trị nào, tiếp nhận viện trợ từ mọi phía miễn là không có điều kiện rằng buộc Nhờ vào đường lối này, Cam-pu-chia đã trải qua một thời kì phát triển hòa bình và có điều kiện đẩy mạnh công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa, giáo dục của đất nước
+ Sau cuộc đảo chính lật đổ Xi-ha-núc ngày 18 - 3 - 1970 của thế lực tay sai Mĩ nhằm phá hoại nền hòa bình, trung lập và đưa Cam-pu-chia vào quỹ đạo của cuộc chiến tranh thực dân kiểu mới của Mĩ trên bán đảo Đông Dương
- Giai đoạn kháng chiến chống Mĩ ( 1970 - 1975 ):
Ngay sau cuộc đảo chính, với sự giúp đỡ của bộ đội tình nguyện Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Mĩ xâm lược của nhân dân Cam-pu-chia vẫn có những bước phát triển nhanh chóng, lực lượng vũ trang cách mạng lớn mạnh và vùng giải phóng được mở rộng ở khắp mọi miền đất nước
+ Từ tháng 9 - 1973, lực lượng vũ trang Cam-pu-chia đã chuyển sang tấn công, bao vây thủ đô Phnôm Pênh
và các thành phố khác
+ Mùa xuân năm 1975, quân dân Cam-pu-chia mở cuộc tấn công vào sào huyệt cuối cùng của địch
+ Ngày 17 - 4 - 1975, thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng, cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân pu-chia kết thúc thắng lợi
- Giai đoạn thống trị của tập đoàn Khơ-me đỏ và cuộc đấu tranh của nhân dân Cam-pu-chia lật đổ chúng
( 1- 1979 đến 7 - 1 - 1979 ):
+ Liền ngay sau khi Phnôm Pênh được giải phóng, tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari đứng đầu là PônPốt đã quay lại phản bội cách mạng, chúng thi hành chính sách diệt chủng, tàn sát hàng triệu người dân vô tội:
• Chúng xua đuổi nhân dân ra khỏi các thành phố, buộc về lao động và sinh sống trong những trang trại tập
Trang 17trung ở nông thôn.
• Chúng tán phá chùa chiền, trường học, cấm chợ búa và tàn sát dã man hàng triệu người dân Cam-pu-chia
- Giai đoạn diễn ra cuộc nội chiến ở Cam-pu-chia (1979 - 1992):
Từ năm 1979 ở Cam-pu-chia đã diễn ra cuộc nội chiến giữa lực lượng của Đảng Nhân dân cách mạng với phe phải đối lập, chủ yếu là lực lượng Khơ-me đỏ Cuộc nội chiến kéo dài hơn một thập kỉ, gây nhiều tổn thất cho đất nước
- Giai đoạn xây dựng đất nước (1993 - 2000):
+ Với sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, các bên Cam-pu-chia đi đến thỏa thuận hòa giải và hòa hợp dân tộc
+ Ngày 23 - 10 - 1991, Hiệp định hòa bình về Cam-pu-chia được kí kết tại Pa-ri
+ Sau cuộc tổng tuyển cử tháng 9 - 1993, Quốc hội mới đã thông qua Hiến pháp, tuyên bố thành lập Vươngquốc Cam-pu-chia do N.Xi-ha-núc làm Quốc Vương Từ đó, Cam-pu-chia bước sang một thời kì mới + Tháng 10 - 2004, vua Xi-ha-núc tuyên bố thoái vị Hoàng tử Xi-ha-mô-ni lên kế ngôi, trở thành quốc vương của Cam-pu-chia
5 ASEAN:
* Hoàn cảnh ra đời:
Nửa sau thập niên 60 của thế kỉ XX, tình hình Đông Nam Á và thế giới có nhiều biến chuyển tác động mạnh mẽ tới các nước trong khu vực Sau hơn 20 năm đấu tranh và bảo về độc lập cũng như xây dựng kinh
tế, nhiều nước trong khu vực bước vào thời kì ổn định, dốc sức phát triển kinh tế Vì vậy:
- Các nước trong khu vực thấy cần có sự hợp tác để xây dựng đất nước, cùng hợp tác phát triển kinh tế,
- Đồng thời, các nước muốn hạn chế ảnh hưởng của các cường quốc bên ngoài đối với khu vực, nhất là khi thấy cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Đông Dương vấp phải những khó khăn và sự thất bại là khó tránh khỏi
- Xu thế xuất hiện các tổ chức khu vực trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều, nhất là thành tựu của Khối thị trường chung Châu Âu (EEC) đã cổ vũ rất lớn đối với các nước Đông Nam Á
Ngày 8 - 8 - 1967, Hiệp hội các nước Đông Nam Á (viết tắt theo tiếng Anh là ASEAN) được thành lập tại Băng Cốc (Thái Lan) với sự tham gia của 5 nước: In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po, Thái Lan và Phi-líp-pin
* Mục tiêu:
Xây dựng những mối quan hệ hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các nước trong khu vực, tạo nên một cộng đồng Đông Nam Á hùng mạnh trên cơ sở tự cường khu vực và thiết lập một khu vực hòa bình, tự do, trung lập ở Đông Nam Á Như thế, ASEAN là một tổ chức liên minh chính trị - kinh tế của khu vực Đông Nam Á
* Cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập ASEAN:
Với chính sách đối ngoại mong muốn là bạn với tất cả các nước, Việt Nam đã gia nhập ASEAN năm 1995 Đây là sự kiện đánh dấu bước phát triển quan trọng trong mối quan hệ giữa Việt Nam với tổ chức đó với nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức đặt ra:
- Cơ hội:
Tham gia ASEAN, Việt Nam có điều kiện rút ngắn khoảng cách về cơ sở vật chất kĩ thuật so với các nước trong khu vực và tên thế giới Đặc biệt, đây là cơ hội của Việt Nam có thể hội nhập hơn nữa với khu vực và thông qua khu vực để tạo dựng những mối quan hệ với thế giới, từng bước thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, xã hội
Trang 18- Thách thức:
Khi tham gia hội nhập, Việt Nam có một xuất phát điểm hết sức khó khăn và điều kiện cơ sở vật chất - kĩ thuật thấp hơn và một cơ chế chưa phù hợp Điều đó đòi hỏi Việt Nam phải nhanh chóng đưa ra một lộ trình thông thoáng cho sự thu hút đầu tư, chuẩn bị mọi điều kiện để có thể hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế của khu vực và thế giới Tuy vậy, trong bối cảnh phức tạp của tình hình thế giới thì Việt Nam vẫn phải cảnh giáctrước nguy cơ bị hòa tan, làm mất đi bản sắc của chính mình
Ôn tập: Các nước Đông Nam Á và Ấn Độ
Câu 1: Hãy trình bày các giai đoạn phát triển của cách mạng giải phóng dân tộc Lào từ năm 1945 đến năm 1975?
Các giai đoạn phát triển của cách mạng Lào(1945-1975)
*Khởi nghĩa chống quân phiệt Nhật(1945)
-23/8/1945 nhân dân Lào nổi dậy giành chính quyền
-12/10/1945 chính phủ Lào tuyên bố độc lập
*Kháng chiến chống Pháp(1946-1954)
-3/1946 thực dân Pháp trở lại xâm lược Lào
-1946-1954 phối hợp Việt Nam và Campuchia tiến hành kháng chiến chống Pháp
-7/1954 Pháp phải ký hiệp định Giơnevơ công nhận các quyền dân tộc cơ bản ở Lào
-10/1945 Pháp trở lại xâm lược CamPuChia
-1951 Đảng nhân dân cách mạng CamPuChia thành lập lãnh đạo nhân dân đấu tranh
-9/11/1953 chính phủ Pháp ký hiệp ước trao trả độc lập nhưng quân Pháp vẫn còn chiếm đóng
-7/1954 Pháp ký Hiệp định Giơnevơ công nhận các quyền dân tộc cơ bản của CamPuChia
*Thời kỳ trung lập(1954-1970)
-1954-1970 chính phủ Xihanúc thực hiện đường lối hòa bình trung lập; đẩy mạnh công cuộc xây dựng kinh
tế, văn hóa, giáo dục của đất nước
*Kháng chiến chống Mỹ(1970-1975)
-18/3/1970 Mỹ điều khiển tay sai lật đổ chính phủ Xihanúc Campuchia tiến hành kháng chiến chống Mỹ -17/4/1975 giải phóng thủ đô Phnômpênh Đế quốc Mỹ bị đánh bại
*Đấu tranh chống tập đoàn Khơme đỏ(1975-1979)
-1975-1979 nhân dân CamPuChia nổi dậy đánh đuổi tập đoàn Khơme đỏ do PônPốt cầm đầu
-7/1/1979 tập đoàn PônPốt bị lật đổ Nước Cộng hòa nhân dân CamPuChia được thành lập
*Nội chiến(1979-1993)
-1979 bùng nổ nội chiến giữa Đảng nhân dân cách mạng với phe đối lập, chủ yếu là tập đoàn Khơme đỏ -23/10/1991 được cộng đồng quốc tế giúp đỡ, Hiệp định hòa bình về CamPuChia được ký kết tại Pari -9/1993 tổng tuyển cử bầu quốc hội mới, thành lập vương quốc CamPuChia
Câu 3: Nêu những sự kiện lịch sử tiêu biểu thể hiện tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam và Lào trong thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ(1945-1975)?
*Trong kháng chiến chống Pháp
-Tháng 4/1953, bộ đội Việt Nam phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào mở chiến dịch Thượng Lào, giải phóng tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Phong Xa Lì Căn cứ kháng chiến Lào được mở rộng vànối liền với Tây Bắc Việt Nam
Trang 19-Tháng 12/1953, phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào, bộ đội Việt Nam mở chiến dịch Trung Lào, giải phóng thị
xã Thà Khẹt và toàn bộ tỉnh Khăm Muộn, uy hiếp Sê-nô
-Những thắng lợi của quân dân Việt-Lào trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Pháp đã buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ(21/7/1954), công nhận các quyền dân tộc cơ bản của ba nước Đông Dương
Câu 4: Trình bày sự ra đời, quá trình phát triển của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN)?
-Ngày 8/8/1967 Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN) được thành lập tại Băng Cốc(Thái Lan), với
sự tham gia của 5 nước: Inđônêxia, Malaixia, Xingapo, Thái Lan và Philippin
-Lúc đầu, ASEAN thực hiện chính sách đối đầu với các nước Đông Dương Song từ cuối thập niên 80, khi
"vấn đề Campuchia" được giải quyết, các nước này đã bắt đầu quá trình đối thoại, hòa dịu
-Các nước gia nhập ASEAN: Brunây(1984), Việt Nam(1995), Lào và Mianma(1997), Campuchia(1999) -Từ 5 nước sáng lập ban đầu đến năm 1999, ASEAN đã phát triển thành 10 nước thành viên hợp tác ngày càng chặt chẽ về mọi mặt
*Vai trò: ASEAN ngày càng trở thành tổ chức hợp tác chặt chẽ và toàn diện của khu vực Đông Nam Á, gópphần tạo dựng một khu vực Đông Nam Á hòa bình, ổn định và phát triển
Câu 5: Anh(chị) hãy trình bày rõ mục tiêu của tổ chức Hiệp hội các nước Đông Nam Á(ASEAN) Mối quan hệ giữa Việt Nam và tổ chức ASEAN từ năm 1967-1999?
a,mục tiêu của tổ chức Hiệp hội các nước Đông Nam Á(ASEAN):
-Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN) thành lập 8/1967 tại Băng Cốc(Thái Lan) với sự tham gia của các nước: Inđônêxia, Malaixia, Xingapo, Philippin, Thái Lan
-Mục tiêu của tổ chức ASEAN được nêu rõ tại hội nghị cấp cao ASEAN ở Ba-li(Inđônêxia) tháng 12/1976
có nội dung là:
+Xây dựng những mối quan hệ hữu nghị, hòa bình và hợp tác giữa các nước trong khu vực, tạo ra một cộngđồng Đông Nam Á hùng mạnh trên cơ sở tự cường khu vực và thiết lập một khu vực hòa bình, tự do, trung lập ở Đông Nam Á
+Như vậy, ASEAN là một liên minh kinh tế-chính trị của khu vực Đông Nam Á
b, Quan hệ giữa Việt Nam và tổ chức ASEAN
Diễn biến phức tạp, có lúc căng thẳng, lúc hòa dịu tùy theo tình hình khu vực, có thể chia thành các thời kỳsau:
-Từ 1967 đến 1992, ASEAN mới thành lập và thời điểm này một số nước ASEAN(Philippin, Thái Lan) có thể tham gia vào cuộc chiến tranh của Mỹ xâm lược Việt Nam Vì thế, Việt Nam hạn chế quan hệ với ASEAN
-Từ 1972 đến 1986: do tình hình khu vực có nhiều biến chuyển mạnh mẽ, ASEAN điều chỉnh chính sách của mình đối với Việt Nam Về phía Việt Nam, hiệp định Pari 1973 được ký kết, đặc biệt năm 1975, ta thắnggiặc Mỹ xâm lược, đất nước thống nhất, các nước ASEAN phải tính lại "quan hệ với Mỹ".Nhưng quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN vẫn căng thẳng do "vấn đề Campuchia"
-Từ năm 1986 đến nay khi"vấn đề Campuchia" được giải quyết và Việt Nam thi hành chính sách đối ngoại
"muốn làm bạn với tất cả các nước", thì quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN ngày càng được cải thiện, từ đối
Trang 20đầu sang đối thoại, thân thiện, hợp tác.
-Ngày 22/7/1992, Việt Nam tham gia Hiệp ước Ba-li và trở thành quan sát viên chính thức của ASEAN cùng Lào
-Hội nghị ngoại trưởng ASEAN lần thứ 27 tại Băng Cốc khẳng định sẵn sàng chấp nhận Việt Nam là thành viên chính thức của tổ chức ASEAN
-Năm 1998, Việt Nam đăng cai Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 6
Câu 6: Nêu nội dung, thành tựu và hạn chế của chiến lược kinh tế hướng nội và chiến lược kinh tế hướng ngoại của nhóm 5 nước sáng lập ASEAN?
a, Chiến lược kinh tế hướng nội:
-Nội dung: đẩy mạnh các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nội địa thay thế hàng nhập khẩu, lấy thị trường trong nước làm chỗ dựa để phát triển sản xuất
-Thành tựu: đáp ứng được nhu cầu cơ bản của nhân dân trong nước, phát triển một số ngành chế biến, chế tạo, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp
-Hạn chế: thiếu vốn, nguyên liệu và công nghệ, đời sống người lao động còn khó khăn, chưa giải quyết được mối quan hệ giữa tăng trưởng với công bằng xã hội
b, Chiến lược kinh tế hướng ngoại
-Nội dung: mở cửa nền kinh tế, thu hút vốn, kỹ thuật nước ngoài, tập trung sản xuất hàng hóa để xuất khẩu, phát triển ngoại thương
-Thành tựu: tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân đã lớn hơn nông nghiệp, mậu dịch đối ngoại tăng trưởng nhanh
-Hạn chế: phụ thuộc vào vốn và thị trường bên ngoài quá lớn, đầu tư bất hợp lý
Câu 7: Hãy cho biết thời cơ và thách thức của Việt Nam khi gia nhập ASEAN?
-Thời cơ: Việt Nam gia nhập ASEAN mở ra giai đoạn mới trong quan hệ quốc tế với Việt Nam, tạo điều kiện cho Việt Nam được hòa nhập vào cộng đồng khu vực, vào thị trường các nước Đông Nam Á, thu hút được vốn đầu tư, mở ra cơ hội giao lưu, học tập, tiếp thu khoa học kỹ thuật, công nghệ, văn hóa để phát triển Nâng cao vai trò, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế
-Thách thức: Việt Nam phải đối mặt với sự cạnh tranh quyết liệt, nhất là về kinh tế, trong khi trình độ kinh
tế, khoa học-kỹ thuật của Việt Nam còn thấp nên đây sẽ là một thách thức lớn Nếu Việt Nam không bắt kịp trình độ phát triển chung của khu vực thì dễ bị tụt hậu về kinh tế Nếu không đứng vững thì dễ bị hòa tan về chính trị, xã hội
Câu 8: Trình bày phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân Ấn Độ(1945-1950)?
-Sau chiến tranh thế giới thứ hai, dưới sự lãnh đạo của Đảng Quốc Đại, cuộc đấu tranh chống thực dân Anh,đòi độc lập của nhân dân Ấn Độ phát triển mạnh mẽ
-Do sức ép của phong trào đấu tranh, thực dân Anh buộc phải nhượng bộ: ngày 15/8/1947 đã chia Ấn Độ thành hai quốc gia tự trị trên cơ sở tôn giáo: Ấn Độ của người theo Ấn Độ giáo, Pakixtan của người theo Hồi giáo
-Không thỏa mãn với quy chế tự trị, từ 1948-1950, Đảng Quốc Đại tiếp tục lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi hoàn toàn
-Ngày 26/1/1950, Ấn Độ tuyên bố độc lập và thành lập nước cộng hòa
Ý nghĩa : sự ra đời của nước cộng hòa Ấn Độ đánh dấu bước ngoặt quan trọng của lịch sử Ấn Độ, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới
Câu 9:Trình bày những thành tựu trong công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân Ấn Độ?
-Trong thời kỳ xây dựng đất nước, mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng Ấn Độ đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng:
Trang 21-Công nghiệp: trong thập niên 80, Ấn Độ đứng hàng thứ 10 thế giới về sản xuất công nghiệp, đã chế tạo được nhiều máy móc hiện đại.
-Khoa học-kỹ thuật: đang cố gắng vươn lên hàng các cường quốc về công nghệ phần mềm, công nghệ hạt nhân, công nghệ vũ trụ
-Văn hóa-giáo dục: thực hiện cuộc "cách mạng chất xám" và trở thành một trong những cường quốc sản xuất phần mềm lớn nhất thế giới
-Đối ngoại: Ấn Độ theo đuổi chính sách hòa bình, trung lập, tích cực ủng hộ phong trào cách mạng thế giới -Ngày 7/1/1972 Ấn Độ thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam
Các nước Châu Phi và Mĩ la tinh
Ôn tập: Các nước châu Phi và Mĩ La tinh
Câu 1: Trình bày những nét chính về cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân châu Phi từ sau chiến tranh thế giới thứ hai?
Chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt, cuộc đấu tranh giành độc lập của các nước châu Phi bùng nổ
-Phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân ở Châu Phi đặc biệt phát triển từ những năm 50 của thế kỷ
XX, trước hết là khu vực Bắc Phi, sau đó lan ra các khu vực khác
-Năm 1960 được ghi nhận là "Năm Châu Phi" với 17 nước giành được độc lập
-Năm 1975, chủ nghĩa thực dân cũ ở Châu Phi cùng hệ thống thuộc địa cơ bản bị tan rã
-Từ sau năm 1975, nhân dân các thuộc địa còn lại ở Châu Phi hoàn thành cuộc đấu tranh đánh đổ nền thốngtrị thực dân cũ, giành độc lập dân tộc và quyền sống của con người
-Tại Nam Phi, trước áp lực đấu tranh của người da màu, Hiến pháp tháng 11-1993, chính thức xóa bỏ chế
độ phân biệt chủng tộc(Apácthai)
-Tháng 4-1994, Nenxơn Manđêla trở thành Tổng thống người da đen đầu tiên của Cộng hòa Nam Phi
Câu 2: Trình bày những đặc điểm của phong trào giải phóng dân tộc ở châu Phi từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay? Phân tích những nét khác biệt cơ bản về đối tượng và mục tiêu đấu tranh giữa phong trào giải phóng dân tộc ở châu Phi, châu Á với khu vực Mỹ Latinh trong thời kỳ lịch sử này?
a.Đặc điểm của phong trào giải phóng dân tộc ở châu Phi
-Các nước châu Phi đã thành lập được Tổ chức thống nhất châu Phi(1963), tổ chức này giữ vai trò quan trọng trong việc phối hợp hành động và thúc đẩy sự nghiệp đấu tranh cách mạng của các nước châu Phi -Lãnh đạo phong trào hầu hết là các chính đảng hoặc tổ chức chính trị của giai cấp tư sản dân tộc
-Hình thức đấu tranh giành độc lập chủ yếu thông qua đấu tranh chính trị hợp pháp, thương lượng với các nước phương Tây để được công nhận độc lập
-Mức độ độc lập và sự phát triển của đất nước sau khi giành được độc lập không đồng đều(vùng châu Phi xích đạo đang chậm phát triển, vùng Bắc Phi phát triển nhanh chóng)
b.Nét khác biệt cơ bản giữa phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi với khu vực Mỹ Latinh -Nhân dân châu Á, châu Phi đấu tranh chống lại bọn đế quốc, thực dân và tay sai để giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, chủ quyền
-Khu vực Mỹ Latinh đấu tranh chống lại các thế lực thân Mỹ để thành lập các chính phủ dân tộc, dân chủ, qua đó giành lại độc lập và chủ quyền thực sự cho dân tộc
Câu 3: Hãy trình bày những thành tựu và khó khăn về kinh tế-xã hội của các nước châu Phi từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai?
Chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt, cuộc đấu tranh giành độc lập của các nước châu Phi bùng nổ
-Phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân ở Châu Phi đặc biệt phát triển từ những năm 50 của thế kỷ
XX, trước hết là khu vực Bắc Phi, sau đó lan ra các khu vực khác
-Năm 1960 được ghi nhận là "Năm Châu Phi" với 17 nước giành được độc lập
-Năm 1975, chủ nghĩa thực dân cũ ở Châu Phi cùng hệ thống thuộc địa cơ bản bị tan rã
Trang 22-Từ sau năm 1975, nhân dân các thuộc địa còn lại ở Châu Phi hoàn thành cuộc đấu tranh đánh đổ nền thốngtrị thực dân cũ, giành độc lập dân tộc và quyền sống của con người.
-Tại Nam Phi, trước áp lực đấu tranh của người da màu, Hiến pháp tháng 11-1993, chính thức xóa bỏ chế
độ phân biệt chủng tộc(Apácthai)
-Tháng 4-1994, Nenxơn Manđêla trở thành Tổng thống người da đen đầu tiên của Cộng hòa Nam Phi
Câu 4: Trình bày những nét chính về cuộc cách mạng dân tộc dân chủ(1953-1959) ở Cu Ba?
Tháng 3-1952, với sự giúp đỡ của Mỹ, Batixta đã thiết lập chế độ độc tài quân sự ở Cuba Chính quyền Batixta đã xóa bỏ hiến pháp tiến bộ, cấm các đảng phái chính trị hoạt động, bắt giam và tàn sát nhiều người yêu nước Trong bối cảnh đó, nhân dân Cuba đứng lên chống chế độ độc tài, mở đầu bằng cuộc tấn công vàotrại lính Môncađa của 135 thanh niên yêu nước do Phiđen Cátxtơrô chỉ huy Ngày 1-1-1959, chế độ độc tài Batixta sụp đổ, nước cộng hòa Cuba ra đời do Phiđen Cátxtơrô đứng đầu
Cách mạng Cuba lật đổ ách thống trị độc tài Batixta tay sai của đế quốc Mỹ, mở ra một thời kỳ cho nhân dân Cuba từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội Cuba trở thành lá cờ đầu trong phong trào giải phóng dân tộc ở Mỹ Latinh, cổ vũ nhân dân các nước trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, giải phóng dân tộc
Câu 5: Sự kiện nào đánh dấu bước phát triển mới của phong trào giải phóng dân tộc khu vực Mỹ Latinh sau Chiến tranh thế giới thứ hai? Kể từ đó, phong trào đã diễn ra như thế nào?
Sự kiện đánh dấu bước phát triển mới của phong trào giải phóng dân tộc khu vực Mỹ Latinh sau Chiến tranh thế giới thứ hai là thắng lợi của cách mạng Cuba(1959)
Tháng 3-1952, với sự giúp đỡ của Mỹ, Batixta đã thiết lập chế độ độc tài quân sự ở Cuba Chính quyền Batixta đã xóa bỏ hiến pháp tiến bộ, cấm các đảng phái chính trị hoạt động, bắt giam và tàn sát nhiều người yêu nước Trong bối cảnh đó, nhân dân Cuba đứng lên chống chế độ độc tài, mở đầu bằng cuộc tấn công vàotrại lính Môncađa của 135 thanh niên yêu nước do Phiđen Cátxtơrô chỉ huy Ngày 1-1-1959, chế độ độc tài Batixta sụp đổ, nước cộng hòa Cuba ra đời do Phiđen Cátxtơrô đứng đầu
Cách mạng Cuba lật đổ ách thống trị độc tài Batixta tay sai của đế quốc Mỹ, mở ra một thời kỳ cho nhân dân Cuba từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội Cuba trở thành lá cờ đầu trong phong trào giải phóng dân tộc ở Mỹ Latinh, cổ vũ nhân dân các nước trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, giải phóng dân tộc
Từ năm 1959 đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX bão táp cách mạng đã bùng lên mạnh mẽ ở Mỹ Latinh Nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của cách mạng Cuba, tháng 8-1961, Mỹ đề xướng việc tổ chức "Liên minh vì tiến bộ" để lôi kéo các nước Mỹ Latinh Nhưng từ thập kỷ 60-70, phong trào đấu tranh chống Mỹ vàchế độ độc tài thân Mỹ ngày càng phát triển
Năm 1964, phong trào đấu tranh của nhân dân Panama đòi thu hồi chủ quyền kênh đào diễn ra sôi nổi, buộc Mỹ phải từ bỏ quyền chiếm kênh đào và trả lại cho Panama vào năm 1999 Do phong trào đấu tranh mạnh mẽ, các quốc đảo ở vùng biển Caribê lần lượt giành được độc lập: Hamaica, Triniđát và
Tôbagô(1962), Guyana Đến năm 1983, ở vùng Caribê đã có 13 quốc gia độc lập
Với những hình thức bãi công phong phú, Mỹ Latinh đã trở thành ''Lục địa bùng cháy" Phong trào đấu tranh chống chế độ độc tài ở các nước diễn ra liên tục Kết quả là chính quyền độc tài ở nhiều nước Mỹ Latinh đã bị lật đổ, các chính phủ dân tộc dân chủ được thiết lập
Câu 6: Hãy trình bày những thành tựu và khó khăn về kinh tế-xã hội của các nước Mỹ Latinh từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai?
-Các nước Mỹ Latinh bước vào thời kỳ xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội, dạt được những thành tựu đáng khích lệ Một số nước đã trở thành các nước công nghiệp mới(NICs) như Braxin, Áchentina, Mêhicô -Cuba tiến hành những cải cách dân chủ (cải cách ruộng đất, quốc hữu hóa các xí nghiệp của tư bản nước ngoài ) Năm 1961 tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đạt nhiều thành tựu trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục
-Đến thập kỷ 80, các nước Mỹ Latinh gặp nhiều khó khăn: kinh tế suy thoái nặng nề, lạm phát tăng nhanh, khủng hoảng trầm trọng, nợ nước ngoài chồng chất, dẫn đến những biến động về chính trị
-Bước sang thập kỷ 90, nền kinh tế Mỹ Latinh có chuyển biến tích cực hơn
Chilê
Trang 23Đầu tư nước ngoài đạt khối lượng lớn(70 tỷ USD năm 1994), đứng thứ hai thế giới.
-Tuy nhiên, tình hình kinh tế của nhiều nước Mỹ Latinh còn gặp không ít khó khăn, mâu thuẫn xã hội là vấn đề nổi cộm, tham nhũng trở thành quốc nạn đã hạn chế sự phát triển kinh tế
Chương IV:Mĩ, Nhật Bản, Tây Âu
Nước Mĩ
1 Sự phát triển về kinh tế, khoa học của Mĩ từ năm 1945 đến 1973:
* Kinh tế:
- Sau chiến tranh thế giới thứ hai, kinh tế Mĩ phát triển mạnh mẽ:
+ Trong khoảng nửa sau những năm 40, tổng sản phẩm quốc dân tăng trung bình là 6 %
+ Sản lượng công nghiệp Mĩ chiếm tới hơn một nửa sản lượng công nghiệp toàn thế giới ( 56,6 % năm
1948 )
+ Sản xuất nông nghiệp tăng 27 % so với trước chiến tranh Năm 1949, sản lượng nông nghiệp Mĩ bằng 2 lần sản lượng của năm nước Anh, Pháp, CHLB Đức, I-ta-li-a và Nhật Bản cộng lại
+ Mĩ có hơn 50 % tàu bè đi lại trên mặt biển, 3/4 dự trữ vàng của thế giới ( khoảng 24,6 tỉ USD năm 1949 )
và nền kinh tế Mĩ chiếm tới gần 40 % tổng sản phẩm kinh tế thế giới
- Trong khoảng 20 năm sau chiến tranh, Mĩ trở thành trung tâm kinh tế - tài chính lớn nhất thế giới Sở dĩ kinh tế Mĩ có được sự phát triển và sức mạnh to lớn như vậy là do một số yếu tố sau:
+ Lãnh thổ Mĩ rộng lớn, tài nguyên thiên nhiên phong phú, khí hậu khá thuận lợi
+ Mĩ có nguồn nhân lực dồi dào, trình độ kĩ thuật cao, năng động, sáng tạo
+ Mĩ tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai muộn hơn, tổn thất ít hơn so với nhiều nước khác Hơn nữa, Mĩ còn lợi dụng chiến tranh để làm giàu, thu lợi nhuận từ buôn bán vũ khí: tính đến ngày 31 - 12 - 1945 các nước Đồng minh châu Âu phải nợ Mĩ về vũ khí tới 41,751 tỉ USD trong đó Anh nợ 24 tỉ; Liên Xô 11,141 tỉ; Pháp 1,6 tỉ,
+ Mĩ là nước khởi đầu cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện đại của thế giới Việc áp dụng thành công những thành tựu của cuộc cách mạng này đã cho phép Mĩ nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và điều chỉnh hợp lí cơ cấu sản xuất
+ Trình độ tập trung tư bản và sản xuất ở Mĩ rất cao Các tổ hợp công nghiệp - quân sự, các công ti và tập đoàn tư bản lũng đoạn ở Mĩ (như Giê-nê-ran Mô-tô, Pho, Rốc-pheo-lơ, ) có sức sản xuất, cạnh tranh lớn vàhiệu quả ở cả trong và ngoài nước
+ Các chính sách và hoạt động và hoạt động điều tiết của Nhà nước cũng có vai trò quan trọng thúc đẩy kinh tế Mĩ phát triển
* Thành tựu khoa học - kĩ thuật:
- Mĩ đã đạt được nhiều thành tựu lớn trong cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện đại:
+ Trong và sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nhà khoa học nổi tiếng của thế giới đã di cư sang Mĩ vì ởđây có điều kiện hòa bình và những phương tiện đầy đủ nhất để làm việc Đầu tư cho giáo dục và nghiên cứu khoa học ở Mĩ rất lớn
+ Mĩ là nước đã khởi đầu cuộc Cách mạng khoa học - kĩ thuật lần thứ hai của toàn nhân loại, nổ ra vào giữanhững năm 40 của thế kỉ này và Mĩ cũng là một trong mấy nước đạt được những thành tựu kì diệu nhất trong tất cả các lĩnh vực khoa học, kĩ thuật
+ Mĩ là một trong những nước đi đầu trong các lĩnh vực chế tạo công cụ sản xuất mới (máy tính điện tử, máy tự động và hệ thống máy tự động, ), vật liệu mới (pôlime, vật liệu tổng hợp), năng lượng mới (năng lượng nguyên tử, nhiệt hạch, tên lửa đạn đạo), chinh phục vũ trụ (đưa người lên Mặt Trăng năm 1969, thám hiểm sao Hỏa), đi đầu cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp, cách mạng trong giao thông và thông tin liên lạc và trong sản xuất vũ khí hiện đại (tên lửa chiến lược, máy bay tàng hình, bom khinh khí, )
- Những thành tựu trên không chỉ thúc đẩy nền kinh tế Mĩ phát triển nhanh chóng và đời sống, vật chất tinh thần của nhân dân Mĩ có nhiều thay đổi khác trước mà còn có ảnh hưởng lớn trên toàn thế giới
2 Chính sách đối ngoại của Mĩ từ 1945 đến 2000:
* Giai đoạn 1945 - 1973:
Trang 24- Với tiềm lực về kinh tế và quân sự to lớn, từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ đã triển khai chiến lược toàn cầu với tham vọng bá chủ thế giới:
+ Tháng 3 - 1947 trong diễn văn đọc trước Quốc hội Mĩ, Tổng thống H Tru-man đã công khai nêu lên Sứ mệnh lãnh đạo thế giới tự do chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản
+ Chiến lược toàn cầu của Mĩ được triển khai qua nhiều học thuyết cụ thể như: Học thuyết Tru-man và chiến lược Ngăn chặn, Học thuyết Ai-xen-hao và chiến lược Trả đũa ồ ạt, Học thuyết Ken-nơ-đi và chiến lược Phản ứng linh hoạt, Học thuyết Ních-xơn và chiến lược Ngăn đe thực tế,
- Mặc dù các chiến lược cụ thể mang những tên gọi khác nhau nhưng chiến lược toàn cầu của Mĩ nhằm thực hiện ba mục tiêu chủ yếu sau:
+ Ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới tiêu diệt hoàn toàn chủ nghĩa xã hội trên thế giới
+ Đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân và cộng sản quốc tế, phong trào chống chiếntranh, vì hòa bình, dân chủ thế giới
+ Khống chế, chi phối các nước tư bản đồng minh phụ thuộc vào Mĩ
- Để thực hiện các mục tiêu trên, chính sách cơ bản của Mĩ là dựa vào sức mạnh, trước hết là sức mạnh quân sự và kinh tế:
+ Mĩ đã khởi xướng cuộc chiến tranh lạnh trên phạm vi thế giới, dẫn đến tình trạng đối đầu căng thẳng và nguy hiểm với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
+ Mĩ trực tiếp gây ra hoặc tiếp tay cho nhiều cuộc chiến tranh và bạo loạn, lật đổ ở nhiều nơi trên thế giới, tiêu biểu là chiến tranh xâm lược Việt Nam (1954 - 1975) và dính líu vào cuộc chiến tranh ở Trung Đông
- Tuy là nước tư bản phát triển, là trung tâm kinh tế - tài chính của thế giới, khoa học - kĩ thuật phát triển, mức sống của người dân được nâng cao nhưng xã hội Mĩ vẫn chứa đựng nhiều mâu thuẫn giai cấp, xã hội, sắc tộc,
+ Từ năm 1945 đến 1973, kinh tế Mĩ đã trải qua ít nhất là 7 lần khủng hoảng hoặc suy thoái Thâm hụt ngânsách, nợ nần, lạm phát, phá sản, thất nghiệp, phân hóa giàu nghèo, vẫn là những vấn đề k không dễ khắc phục
+ Mĩ có khoảng 400 người có thu nhập hàng năm từ 185 triệu USD trở lên, tương phản với 20 triệu người sống dưới mức nghèo khổ
+ Nhiều vụ bê bối chính trị lớn xảy ra như vụ ám sát Tổng thống Ken-nơ-đi (1963), vụ tiết lộ Tài liệu mật Lầu năm góc (1971), vụ Oatơghết buộc Tổng thống Ních-xơn từ chức (1974),
- Trong bối cảnh đó, từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, các cuộc đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và dân sinh vẫn diễn ra mạnh mẽ Đảng Cộng sản Mĩ đã có nhiều hoạt động đấu tranh vì quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động:
+ Năm 1955, Đại hội các tổ chức nghiệp đoàn trên cơ sở hợp nhất hai tổ chức AFL và CIO với 15 triệu đoàn viên đã tạo thêm sức mạnh đấu tranh với giới chủ trong việc kí kết các hợp đồng tập thể
+ Năm 1963, phong trào đấu tranh của người da đen chống phân biệt chủng tộc bùng lên mạnh mẽ thu hút
25 triệu người tham gia, lan rộng ra 125 thành phố ( mạnh nhất là ở Đi-tơ-roi )
+ Từ 1969 đến 1973, những cuộc đấu tranh của người da đỏ vì quyền lợi cũng diễn ra mạnh mẽ Đặc biệt, phong trào đấu tranh chống chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Việt Nam đã làm cho nước Mĩ bị chia rẽ sâu sắc
- Phong trào đấu tranh của nhân dân Mĩ là một trong những nguyên nhân buộc chính quyền Mĩ phải có những nhượng bộ có lợi cho quần chúng Trước thắng lợi của nhân dân Việt Nam và chịu sức ép của phong trào phản chiến ở Mĩ, chính quyền Ních-xơn phải kí Hiệp định Pa-ri ( 1973 ) chấm dứt chiến tranh xâm lượcViệt Nam và rút hầu hết quân về nước
* Giai đoạn 1973 - 1991:
- Sau khi thất bại ở Việt Nam ( 1975 ), các chính quyền Mĩ vẫn tiếp tục khai triển chiến lược toàn cầu và theo đuổi chiến tranh lạnh Đặc biệt với học thuyết Ri-gân và chiến lược đối đầu trực tiếp, Mĩ tăng cường chạy đua vũ trang, can thiệp vào các công việc quốc tế ở hầu hết các địa bàn chiến lược và điểm nóng trên thế giới
- Từ giữa những năm 80, Mĩ và Liên Xô đều điều chỉnh chính sách đối ngoại Xu hướng đối thoại và hòa hoãn ngày càng chiếm ưu thế trên thế giới
- Tháng 12 - 1989, Mĩ và Liên Xô đã chấm dứt tuyên bố chấm dứt chiến tranh lạnh, mở ra thời kì mới trên
Trang 25chiến trường quốc tế Cùng điều đó, Mĩ và các nước phương Tây cũng ra sức tác động vào quá trình khủng hoảng, dẫn đến sự sụp đổ của CNXH ở các nước Đông Âu và Liên Xô ( 1989 - 1990 ) Mĩ cũng giành được thắng lợi trong cuộc chiến tranh cùng Vịnh chống I-rắc ( 1990 - 1991 ).
* Giai đoạn 1991 - 2000:
- Trong bối cảnh chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự thế giới mới chưa định hình, ở thập niên 90 Mĩ đã triển khai chiến lược Cam kết và mở rộng với ba trụ cột chính là:
+ Bảo đảm an ninh với một lực lượng quân sự mạnh và sẵn sàng chiến đấu cao
+ Tăng cường khôi phục và phát triển tính năng động và sức mạnh nền kinh tế Mĩ
+ Sử dụng khẩu hiệu dân chủ ở nhiều nước ngoài như một công cụ can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác:
• Mĩ vẫn lãnh đạo và chi phối khôi quân sự NATO
• Mĩ cùng Liên hợp quốc và các cường quốc khác bảo trợ cho tiến trình hòa bình ở Trung Đông nhưng vẫn
có sự thiên vị đối với I-xra-en
• Mĩ ủng hộ việc kí kết Hiệp định hòa bình Pa-ri về Cam-pu-chia (1991)
• Bình thường hóa quan hệ với Việt Nam (1995)
• Nhưng Mĩ vẫn duy trì các căn cứ quân sự và quân đội ở Nhật Bản và Hàn Quốc cũng như ở nhiều nơi khác trên thế giới
- Với sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học - kĩ thuật của mình, trong bối cảnh Liên Xô tan rã, Mĩ có tham vọng thiết lập một trật tự thế giới mới đơn cực trong đó Mĩ là siêu cường duy nhất đóng vai trò chi phối lãnhđạo
Tuy nhiên, thế giới không chấp nhận một trật tự do Mĩ đơn phương sắp đặt Vụ khủng bố ngày 11 - 9 -
2001 cho thấy bản thân nước Mĩ cũng rất dễ bị tổn thương và chủ nghĩa khủng bố sẽ là một trong những yếu
tố dẫn đến những thay đổi quan trọng trong chính sách đối nội và đối ngoại của Mĩ khi bước vào thế kỉ XXI
Ôn tập: Nước Mĩ Câu 1: Trình bày sự phát triển của nền kinh tế Mỹ từ 1945-1973? Những nguyên nhân dẫn đến sự phát triển của nền kinh tế Mỹ?
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nền kinh tế Mỹ phát triển mạnh mẽ
Trong khoảng nửa sau những năm 40, sản lượng công nghiệp Mỹ chiếm hơn một nửa sản lượng công nghiệp toàn thế giới Năm 1949, sản lượng nông nghiệp Mỹ bằng hai lần sản lượng của các nước Anh, Pháp,Cộng hòa Liên bang Đức, Italia và Nhật Bản cộng lại Mỹ nắm 50% số tàu bè đi lại trên mặt biển, 3/4 dự trữvàng của thế giới; nền kinh tế Mỹ chiếm gần 40% tổng sản phẩm kinh tế thế giới
Sở dĩ kinh tế Mỹ có được sự phát triển và sức mạnh to lớn như vậy là do một số yếu tố sau:1.Lãnh thổ Mỹ rộng lớn, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn nhân lực dồi dào, trình độ kỹ thuật cao, năng động, sáng tạo;2.Mỹ lợi dụng chiến tranh để làm giàu, thu lợi nhuận từ buôn bán vũ khí và phương tiện chiến
tranh;3.Mỹ áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật hiện đại để nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, điều chỉnh hợp lý cơ cấu sản xuất;4.Các tổ hợp công nghiệp, quân sự, các công ty, tập đoàn tư bản lũng đoạn có sức sản xuất, cạnh tranh lớn và có hiệu quả ở cả trong và ngoài nước;5.Chính sách và biện pháp điều tiết của nhà nước đóng vai trò quan trọng thúc đẩy kinh tế Mỹ phát triển
Câu 2: Trình bày sự phát triển kinh tế, khoa học-kỹ thuật của Mỹ 1945-2000
1.Nước Mỹ từ 1945 đến 1973.
a, Về kinh tế.
-Sau chiến tranh thế giới thứ hai nền kinh tế Mỹ phát triển mạnh mẽ
+Công nghiệp: nửa sau những năm 40, sản lượng chiếm hơn một nửa sản lượng công nghiệp toàn thế giới(năm 1948 là hơn 56%)
Trang 26+Nông nghiệp: năm 1949, sản lượng bằng hai lần sản lượng của các nước Anh, Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Italia và Nhật Bản cộng lại.
+Nắm hơn 50% số tàu bè đi lại trên mặt biển
+3/4 dự trữ vàng của thế giới
+Chiếm gần 40% tổng sản phẩm kinh tế thế giới
-Khoảng 20 năm sau chiến tranh, Mỹ trở thành trung tâm kinh tế-tài chính lớn nhất thế giới
Nguyên nhân phát triển:
-Lãnh thổ Mỹ rộng lớn, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn nhân lực dồi dào, trình độ kỹ thuật cao, năng động, sáng tạo
-Mỹ lợi dụng chiến tranh để làm giàu, thu lợi nhuận từ buôn bán vũ khí và phương tiện chiến tranh
-Mỹ đã áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật hiện đại để nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, điều chỉnh hợp lý cơ cấu sản xuất
-Các tổ hợp công nghiệp-quân sự, các công ty, tập đoàn tư bản lũng đoạn Mỹ có sức sản xuất, cạnh tranh lớn và có hiệu quả ở cả trong và ngoài nước
-Các chính sách và biện pháp điều tiết của nhà nước đóng vai trò quan trọng thúc đẩy kinh tế Mỹ phát triển
b, Về khoa học-kỹ thuật.
-Mỹ là nước khởi đầu cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật hiện đại và đã đạt được nhiều thành tựu lớn -Mỹ là một trong những nước đi đầu trong các lĩnh vực chế tạo công cụ sản xuất mới, vật liệu mới, năng lượng mới, chinh phục vũ trụ, cuộc "Cách mạng xanh " trong nông nghiệp
2 Nước Mỹ từ năm 1973 đến năm 1991.
-Năm 1973, do tác động của cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới, kinh tế Mỹ lâm vào tình trạng khủng hoảng và suy thoái kéo dài tới năm 1982
-Từ năm 1983, kinh tế Mỹ bắt đầu phục hồi và phát triển trở lại Tuy vẫn là nước đứng đầu thế giới về sức mạnh kinh tế-tài chính, nhưng tỷ trọng của kinh tế Mỹ so với kinh tế thế giới giảm sút nhiều so với trước
3.Nước Mỹ từ năm 1991-2000.
Về kinh tế
-Trong suốt thập kỷ 90, tuy có trải qua những đợt suy thoái ngắn, nhưng kinh tế Mỹ vẫn đứng hàng đầu thế giới
+Mỹ tạo ra 25% giá trị sản phẩm của toàn thế giới
+Có vai trò chi phối trong hầu hết các tổ chức kinh tế-tài chính thế giới như: WTO, IMF
-Khoa học-kỹ thuật vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ Tính chung, Mỹ chiếm tới 1/3 số lượng bản quyền phát minh sáng chế của toàn thế giới
Câu 3: Trình bày chính sách đối ngoại của Mỹ từ 1945 đến nay:
1.Nước Mỹ từ 1945 đến 1973.
-Mỹ triển khai chiến lược toàn cầu với tham vọng bá chủ thế giới
-Chiến lược toàn cầu của Mỹ được thực hiện và điều chỉnh qua nhiều chiến lược cụ thể, nhằm thực hiện 3 mục tiêu chủ yếu:
+Ngăn chặn và tiến tới xoa bỏ chủ nghĩa xã hội trên thế giới
+Đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân và cộng sản quốc tế, phong trào chống chiến tranh, vì hòa bình dân chủ trên thế giới
+Khống chế, chi phối các nước tư bản đồng minh phụ thuộc vào Mỹ
-Tháng 2-1972, Tổng thống Nichsxơn sang thăm Trung Quốc, mở ra thời kỳ mới trong quan hệ giữa hai nước Năm 1979, quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Trung Quốc được thiết lập
-Tháng 5-1972, Níchxơn tới thăm Liên Xô, thực hiện sách lược hòa hoãn với hai nước lớn để chống lại phong trào đấu tranh cách mạng của các dân tộc
2 Nước Mỹ từ năm 1973 đến năm 1991.
-Sau thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ phải ký Hiệp định Pari rút quân về nước, các chính quyền Mỹ tiếp tục triển khai "Chiến lược toàn cầu", tăng cường chạy đua vũ trang
-Sự đối đầu Xô-Mỹ đã làm suy giảm vị trí của Mỹ trong khi Tây Âu và Nhật Bản lại có điều kiện vươn lên
Từ giữa những năm 80, xu hướng đối thoại và hòa hoãn ngày càng chiếm ưu thế trên thế giới
Trang 27-Tháng 12-1989, Mỹ và Liên Xô tuyên bố chấm dứt chiến tranh lạnh, mở ra thời kỳ mới trên trường quốc tế.
3.Nước Mỹ từ năm 1991-2000.
-Trong thập kỷ 90, Mỹ theo đuổi 3 mục tiêu cơ bản của chiến lược "Cam kết và mở rộng" là:
+Bảo đảm an ninh của Mỹ với lực lượng quân sự mạnh, sẵn sàng chiến đấu
+Tăng cường khôi phục và phát triển tính năng động và sức mạnh của nền kinh tế Mỹ
+Sử dụng khẩu hiệu"Thúc đẩy dân chủ" để công việc vào công việc vào công việc nội bộ của nước khác -Sau chiến tranh lạnh kết thúc(1989) và trật tự thế giới hai cực Ianta tan rã(1991), Mỹ càng tìm cách vươn lên chi phối, lãnh đạo toàn thế giới
-Vụ khủng bố ngày 11-9-2001 cho thấy nước Mỹ cũng rất dễ bị tổn thương và chủ nghĩa khủng bố sẽ là một trong những yếu tố dẫn đến sự thay đôi chính sách đối nội và đối ngoại của Mỹ trong thế ký XXI -Mỹ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 11-7-1995
Câu 4: Những nét cơ bản về chính sách đối ngoại của Mỹ giai đoạn 1945-1973?
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ trở thành một siêu cường quốc trên thế giới Với những ưu thế của mình, trong những năm 1945-1973 Mỹ đã đề ra chính sách đối ngoại mới
Với tiềm lực kinh tế, quân sự to lớn, từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ triển khai chiến lược toàn cầu với tham vọng bá chủ thế giới Tháng 3-1947, tổng thống Tru-man đề ra chủ nghĩa Tru-man, đã công khai nêu "Sứ mạng của Mỹ là lãnh đạo thế giới tự do chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản"
Từ đó, Mỹ đã xúc tiến chạy đua vũ trang, thành lập các liên minh quân sự chuẩn bị một cuộc chiến tranh tổng lực chống Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, viện trợ kinh tế và quân sự cho các nước đồng minh
để khống chế các nước đó với tên "Chiến lược toàn cầu"
Chiến lược toàn cầu của Mỹ được triển khai qua nhiều học thuyết cụ thể như: học thuyết Tru-man và chiến lược"Ngăn chặn", học thuyết Ai-xen-hao và "Chiến lược trả đũa ồ ạt"
Mặc dù các chiến lược cụ thể mang những tên gọi khác nhau nhưng chiến lược toàn cầu của Mỹ nhằm 3 mục tiêu chủ yếu: Một là: ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới tiêu diệt hoàn toàn chủ nghĩa xã hội trên thế giới; Hai là: đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân và cộng sản quốc tế, phong trào chống chiến tranh vì hòa bình, vì dân chủ trên thế giới Ba là, khống chế, chi phối các nước tư bản đồng minh phụ thuộc vào Mỹ Để thực hiện các mục tiêu, các chiến lược trên, chính sách cơ bản của Mỹ là dựa vào sức mạnh, trước hết là sức mạnh quân sự và kinh tế
Mỹ đã khởi xướng cuộc Chiến tranh lạnh trên phạm vi thế giới dẫn tới tình trạng đối đầu căng thẳng và nguy hiểm với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Mỹ đã gây ra hoặc tiếp tay cho nhiều cuộc chiến tranh
và bạo loạn, lật đổ chính quyền ở nhiều nơi trên thế giới tiêu biểu là cuộc chiến tranh xâm lược Việt
Nam(1954-1975) và dính líu vào cuộc chiến tranh ở Trung Đông
Tháng 2-1972, Tổng thống Nichsxơn sang thăm Trung Quốc, mở ra thời kỳ mới trong quan hệ giữa hai nước Năm 1979, quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Trung Quốc được thiết lập
Tháng 5-1972, Níchxơn tới thăm Liên Xô, thực hiện sách lược hòa hoãn với hai nước lớn để chống lại phong trào đấu tranh cách mạng của các dân tộc
Nhật Bản
1 Tình hình kinh tế của Nhật Bản từ 1945 - 1973:
* Giai đoạn 1945 - 1952:
- Những hậu quả nặng nề mà Nhật Bản phải gánh chịu sau Chiến tranh thế giới thứ hai:
+ Nước Nhật bị kiệt quệ hoàn toàn và tan nát vì chiến tranh
+ Toàn bộ của cải tích lũy được trong 10 năm (1935 -1945) bị tiêu hủy
+ Tổng số người chết, bị thương và mất tích lến đến 2,53 triệu người
+ Khoảng 40 % đô thị, 80 % tàu bè, 34 % máy móc công nghiệp bị phá hủy
+ Tổng số người không có công ăn việc làm lên đến 13,1 triệu người
+ Thảm họa đói rét đe dọa toàn nước Nhật
+ Nạn lạm phát nghiêm trọng bùng nổ từ giữa năm 1945 và kéo dài đến năm 1949
Trang 28- Những nỗ lực phục hồi nền kinh tế của Nhật Bản thời kì sau chiến tranh:
Trong thời kì bị chiếm đóng ( 1945 - 1952 ), lực lượng Đồng minh (SCAP) đã thực hiện ba cuộc cải cách lớn:
+ Dựa vào sự chiếm đóng của quân đội đồng minh, chính phủ Nhật giải thể chế độ kinh tế tập trung, trước hết là giải tán các Daibátxư (các tập đoàn, công ti độc quyền còn mang nhiều tính chất dòng tộc) và cổ phần hóa toàn bộ nền kinh tế này
+ Cải cách ruộng đất được tiến hành với hình thức chuyển giao quyền sở hữu ruộng đất phát canh (chiếm
46 % diện tích đất đai cả nước) cho tá điền; quy định địa chủ chỉ được có không quá 3 ha ruộng, số còn lại chính phủ đem bán cho nông dân
+ Dân chủ hóa lao động: thông qua và thực hiện các đạo luật về lao động như luật Công đoàn (thông qua năm 1945), luật Điều chỉnh quan hệ lao động (công bố năm 1946) đã dân chủ hóa sức lao động ở Nhật Bản Ngoài ra, chính phủ còn ban hành Luật chống độc quyền nhằm ngăn chặn sự phục hồi của tài phiệt và khuyến khích sự phát triển của nền kinh tế tự do cạnh tranh
- Kết quả:
Dựa vào nỗ lực của bản thân và viện trợ của Mĩ (từ 1945 đến 1950, Nhật Bản nhận viện trợ của Mĩ và nước ngoài gần 14 tỉ USD), nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh được phục hồi nhanh chóng Năm 1951, tổng sản phẩm quốc dân đã trở lại mức trước chiến tranh
+ Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) năm 1950 đạt 20 tỉ USD (bằng 1/17 của Mĩ), nhưng đến năm 1968, kinh
tế Nhật đã vượt Anh, Pháp, CHLB Đức, vươn lên đứng thứ hai trong thế giới tư bản (sau Mĩ), với GNP là
183 tỉ USD (bằng 1/5 của Mĩ) Đến năm 1973, GNP của Nhật đạt 402 tỉ USD
+ Trong vòng 21 năm (1950 - 1971), xuất khẩu ở Nhật tăng 30 lần, nhập khẩu tăng 21 lần
- Từ đầu những năm 70 trở đi, Nhật Bản rất coi trọng phát triển giáo dục và khoa học kĩ thuật Đặc biệt, Nhật đã tìm cách rút ngắn khoảng cách về sự phát triển khoa học - kĩ thuật bằng cách mua bằng phát minh sáng chế và chuyển giao công nghệ Tính đến năm 1968, Nhật đã mua bằng phát minh của nước ngoài trị giá 6 tỉ USD
- Đến giữa thập niên 70, chi phí nghiên cứu phát triển của Nhật trong GDP đứng hàng thứ hai trên thế giới (sau Mĩ) Khoa học kĩ thuật và công nghệ Nhật Bản chủ yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất phục vụ nhu cầu dân dụng, đạt được nhiều thành tựu to lớn:
+ Ngoài các sản phẩm dân dụng nổi tiếng thế giới như ti vi, tủ lạnh, ô tô, thì Nhật Bản có thể đóng được tàu chở dầu có trọng tải trên 1 triệu tấn
+ Nhật Bản xây dựng các công trình to lớn như đường ngầm dưới biển dài 53,8 km nối hai đảo Hôn-su và Si-cô-cư; cầu đường bộ dài 9,4 km; nhiều thành phố và sân bay trên mặt biển
Nhật Bản trở thành một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính của thế giới (cùng với Mĩ và Tây Âu)
2 Tình hình chính trị Nhật Bản từ 1945 đến 1973:
* Giai đoạn 1945 - 1952:
- Bộ Chỉ huy tối cao lực lượng Đồng minh (SCAP) đã thi hành một số biện pháp để loại bỏ chủ nghĩa quân phiệt và bộ máy chiến tranh của Nhật Bản:
+ Quân đội và toàn bộ nghành công nghiệp quân sự bị Nhật giải thể
+ Tòa án quân sự Viễn Đông được lập ra để xét xử tội phạm chiến tranh Nhật Bản (kết án 7 tên tử hình, 16 tên tù chung thân)
+ Các đảng phái quân phiệt bị giải tán, khoảng 290.000 người liên quan đến chế độ quân phiệt trước đây bị loại khỏi bộ máy nhà nước
- Hiến pháp cũ (1889) của Nhật bị bãi bỏ, thay vào đó là Hiến pháp mới có hiệu lực từ ngày 3 - 5 - 1947: + Về thể chế, Nhật Bản là nước quân chủ lập hiến nhưng thực tế là theo chế độ đại nghị tư sản dựa trên ba nguyên tắc cơ bản là chủ quyền của toàn dân, vai trò tượng trưng của thiên hoàng và hòa bình, tôn trọng
Trang 29những quyền cơ bản của con người.
+ Thiên hoàng vẫn tồn tại nhưng không có quyền lực đối với nhà nước Nghị viện gồm hai viện (Thượng viện và Hạ viện) do nhân dân bầu ra là cơ quan quyền lực tối cao giữ quyền lập pháp; chính phủ do thủ tướng đứng đầu giữ quyền hành pháp Hiến pháp xác định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân
- Nhật Bản cam kết từ bỏ việc tiến hành chiến tranh, không dùng hoặc đe dọa sử dụng vũ khí trong quan hệ quốc tế, không duy trì quân đội thường trực và không đưa các lực lượng vũ trang ra ngoài nước
* Giai đoạn 1952 - 1973:
- Từ 1955 trở đi, Đảng Dân chủ Tự do (LDP) liên tục cầm quyền ở Nhật Bản (cho đến năm 1993)
- Đáng chú ý là dưới thời Thủ tướng I-kê-đa Ha-ya-tô (1960 - 1964), Nhật Bản chủ trương xây dựng một Nhà nước phúc lợi chung và đưa ra kế hoạch tăng thu nhập quốc dân lên gấp đôi trong vòng 10 năm (1960 - 1970) Chính trong thời gian này, kinh tế Nhật Bản đã có sự phát triển thần kì
3 Nguyên nhân dẫn đến sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản:
- Người dân Nhật Bản với truyền thống văn hóa, giáo dục, đạo đức lối sống tốt, tiết kiệm, tay nghề cao và
có nhiều khả năng sáng tạo là nhân tố hàng đầu của sự phát triển kinh tế Con người được coi là vốn quý nhất, đồng thời là công nghệ cao nhất
- Nhà nước Nhật đã quản lí kinh tế một cách hiệu quả, có vai trò rất lớn trong việc phát triển nền kinh nền kinh tế ở tầm vĩ mô
- Các công ti Nhật Bản năng động, có tầm nhìn xa, quản lí tốt nên có tiềm lực và sức cạnh tranh cao
- Nhật Bản luôn áp dụng các thành tựu khoa học - kĩ thuật hiện đại, không ngừng nâng cao năng suất, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành sản phẩm
- Chi phí cho quốc phòng của Nhật ít (Hiến pháp quy định không vượt quá 1 % GDP), nên có điều kiện tập trung vốn đầu tư cho kinh tế
- Nhật Bản biết tận dụng các yếu tố bên ngoài như tranh thủ các nguồn viện trợ của Mĩ sau chiến tranh, dựa vào Mĩ về mặt quân sự để giảm chi phí cho quốc phòng, lợi dụng các cuộc chiến tranh ở Triều Tiên (1950 - 1953) và Việt Nam (1954 - 1975) để làm giàu
4 Những thách thức đối với nền kinh tế Nhật Bản:
- Lãnh thổ Nhật Bản không lớn, dân số đông, tài nguyên khoáng sản nghèo nàn, thường xảy ra thiên tai ( động đất, núi lửa, ), nền công nghiệp hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào các nguồn nguyên liệu và nhiên liệu nhập khẩu
- Cơ cấu vùng kinh tế của Nhật Bản thiếu cân đối, tập trung chủ yếu vào ba trung tâm lớn là Tô-ki-ô,
Ô-xa-ca và Na-gôi-a với số dân trên 60 triệu người, trong khi các vùng khác được đầu tư phát triển rất ít, giữa công nghiệp và nông nghiệp có sự mất cân đối
- Là một trong những trung tâm kinh tế - tài chính thế giới, Nhật Bản luôn gặp sự cạnh tranh quyết liệt của
Mĩ, Tây Âu, các nước công nghiệp mới ( NICs ), Trung Quốc, và tâm lí e ngại ở nước ngoài về một đế quốc kinh tế Nhật Bản
- Cũng như kinh tế Mĩ, Nhật Bản không thể giải quyết được những mâu thuẫn cơ bản nằm ngay trong bản thân nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
TÂY ÂU
I TÂY ÂU TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1950
1 Về kinh tế:
- Sau CTTG II, Tây Âu bị tổn thất nặng, nhiều thành phố, nhà máy bị tàn phá nên sản xuất bị suy giảm
- Từ 1945-1950 Tây Âu nhận viện trợ Mỹ qua “Kế hoạch Mác –san”, nên kinh tế phục hồi
2 Về chính trị:
- Củng cố chính quyền của giai cấp tư sản, ổn định tình hình chính trị – xã hội,
- Liên minh chặt chẽ với Mỹ đồng thời tìm cách trở lại thuộc địa của mình
- Từ 1945 – 1950, cơ bản ổn định và phục hồi về mọi mặt, trở thành đối trọng của khối XHCN Đông Âu
Trang 30mới hình thành.
II TÂY ÂU TỪ 1950 ĐẾN NĂM 1973.
1 Về đối nội
a Kinh tế
- Từ 1950 – 1970, kinh tế Tây Âu phát triển nhanh chóng
- Đến đầu thập niên 70, trở thành một trong ba trung tâm kinh tế – tài chính lớn của thế giới với trình độ KH-KT cao
Nguyên nhân kinh tế phát triển:
+ Sự nỗ lực của nhân dân lao động
+ Áp dụng thành công những thành tựu KH-KT để nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm
+ Vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của nhà nước có hiệu quả
+ Tận dụng tốt các cơ hội bên ngoài như: viện trợ Mỹ; nguồn nguyên liệu rẻ của các nước thế giới thứ ba…
b Chính trị:
- 1950 – 1973: là giai đoạn phát triển của nền dân chủ tư sản ở Tây Âu, đồng thời có nhiều biến động chính trị
2 Về đối ngoại:
- Một mặt liên minh chặt chẽ với Mỹ, mặt khác cố gắng đa phương hóa quan hệ đối ngoại
- 1950 – 1973: nhiều thuộc địa Anh, Pháp, Hà Lan… tuyên bố độc lập, mở ra thời kỳ “phi thực dân hóa” trên thế giới
III TÂY ÂU TỪ NĂM 1973 ĐẾN NĂM 1991
- Ký Định ước Helsinki về an ninh và hợp tác châu Âu (1975)
IV TÂY ÂU TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2000
- Mở rộng quan hệ với các nước đang phát triển ở Á, Phi, Mỹ La-tinh, các nước thuộc Đông Âu và SNG
V QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU).
- Ngày 1-7-1967, ba tổ chức trên hợp nhất thành “Cộng đồng châu Âu” (EC)
- 07-12-1991: Hiệp ước Maxtrích (Hà Lan) được ký kết => 1-1-1993: EEC thành Liên minh châu Âu (EU) với 15 nước thành viên
Trang 31- 2007: có 27 thành viên
2 Mục tiêu:
- Liên minh chặt chẽ về kinh tế, tiền tệ và chính trị
3 Hoạt động:
- Tháng 6-1979: bầu cử Nghị viện châu Âu đầu tiên
- Tháng 3-1995: hủy bỏ việc kiểm soát đi lại của công dân EU qua biên giới của nhau
- 01-01-1999, đồng tiền chung châu Âu được đưa vào sử dụng,đồng EURO
- Hiện nay là liên minh kinh tế - chính trị lớn nhất hành tinh, chiếm ¼ GDP của thế giới
- 1990, quan hệ Việt Nam – EU được thiết lập và phát triển trên cơ sở hợp tác toàn diện
- Tháng 7-1995 EU và VN ký Hiệp định hợp tác toàn diện
CÁCH MẠNG KHOA HỌC- CÔNG NGHỆ
VÀ XU THẾ TOÀN CẦU HÓA NỬA SAU THẾ KỶ XX
I Nguồn gốc và đặc điểm của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ:
1 Nguồn gốc và đặc điểm
* Nguồn gốc:
Do những đòi hỏi của cuộc sống, của sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của con người về việc chế tạo và tìm kiếm những công cụ sản xuất mới có kĩ thuật và năng suất cao, tạo ra những vật liệu mới
- Do sự bùng nổ dân số, sự vơi cạn tài nguyên thiên nhiên, do nhu cầu của chiến tranh…
- Cuộc cách mạng KH-KT lần thứ nhất là tiền đề thúc đẩy cách mạng KH-KT lần II và cách mạng công nghệ bùng nổ
* Đặc điểm:
- KH-KT trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
- Mọi phát minh kỹ thuật đều bắt nguồn từ nghiên cứu khoa học
- Khoa học gắn liền với kỹ thuật, đi trước mở đường cho kỹ thuật
- Kỹ thuật lại đi trước mở đường cho sản xuất
- Khoa học tham gia trực tiếp vào sản xuất, là nguồn gốc chính của những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ
- Chia làm hai giai đoạn: từ những năm 40 đến đầu những năm 70 của thế kỉ XX và từ cuộc khủng hoảng năng lượng 1973 đến nay Giai đoạn sau là cuộc cách mạng diễn ra chủ yếu về công nghệ
2 Những thành tựu chính của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ:
Trải qua hơn nửa thế kỉ, nhất là từ những năm 70, cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật đã thu được những tiến bộ phi thường và những thành tựu kì diệu:
- Trong lĩnh vực khoa học cơ bản:
+ Loài người đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, những bước nhảy vọt chưa từng thấy trong lịch sửcác nghành Toán học, Vật lí, Hóa học, Sinh học,
+ Dựa vào những phát minh lớn của các nghành khoa học cơ bản, con người đã ứng dụng vào kĩ thuật và sản xuất phục vụ cuộc sống của mình:
• Sự kiện gây chấn động lớn nhất trong dư luận thế giới gần đây là tháng 3 - 1997, các nhà khoa học đã tạo
ra được một con cừu bằng phương pháp sinh sản vô tính từ một tế bào lấy từ tuyến vú của một con cừu đang
có thai, đặt tên là Đô-li
• Tháng 6 - 2000, các nhà khoa học của các nước Anh, Pháp, Mĩ, Đức, Nhật và Trung Quốc sau 10 năm hợptác nghiên cứu đã công bố Bản đồ gien người Đến tháng 4 - 2003, Bản đồ gien người mới được giải hoàn chỉnh
Theo đó, con người có từ 35.000 đến 40.000 gien và giải mã được 99 % gien người
Những thành tựu mới này đã mở ra một kỉ nguyên mới của y học và sinh học, với triển vọng to lớn đẩy lùi bệnh tật và tuổi già Tuy nhiên, những thành tựu này lại gây nên những lo ngại về mặt pháp lí và đạo lí như công nghệ sao chép con người hoặc thương mại hóa công nghệ gien
- Trong lĩnh vực công nghệ:
Trang 32Xuất hiện nhiều những phát minh quan trọng, những thành tựu to lớn trong các lĩnh vực như:
+ Những công cụ sản xuất mới: máy tính điện tử, máy tự động và hệ thống máy tự động, người máy
rôbốt,
+ Những nguồn năng lượng mới: năng lượng mặt trời, năng lượng gió và nhất là năng lượng nguyên tử, + Những vật liệu mới: pôlime - chất dẻo với nhiều loại hình khác nhau, các loại vật liệu siêu sạch, siêu cứng, siêu bền, siêu dẫn,
+ Công nghệ sinh học với những đột phá phi thường trong công nghệ di truyền, công nghệ tế bào, công nghệ vi sinh và công nghệ enzim
+ Những tiến bộ thần kì trong thông tin liên lạc và giao thông vận tải: cáp sợi thủy tinh quang dẫn, máy baysiêu âm khổng lồ, tàu hỏa tốc độ cao,
+ Chinh phục vũ trụ: vệ tinh nhân tạo, du hành vũ trụ
3 Tác động của cuộc CM KH - KT
* Tích cực:
- Tăng năng suất lao động, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của con người
- Thay đổi cơ cấu dân cư, chất lượng nguồn nhân lực, đòi hỏi mới về giáo dục, đào tạo
- Thúc đẩy xu thế toàn cầu hóa
*Tiêu cực:
- Ô nhiễm môi trường, tai nạn lao động và giao thông, các dịch bệnh mới, chế tạo vũ khí hủy diệt đe dọa sự sống trên hành tinh
II XU THẾ TOÀN CẦU HÓA VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ.
* Xu thế toàn cầu hóa từ sau chiến tranh lạnh :
A Bản chất
- Toàn cầu hóa là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, những ảnh hưởng tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, dân tộc trên thế giới
B Biểu hiện của toàn cầu hóa:
- Sự phát triển nhanh chóng của quan hệ thương mại quốc tế
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, giá trị tao đổi thương mại trên phạm vi quốc tế đã tăng 12 lần Thương mại quốc tế tăng có nghĩa là của các nước trên thế giới quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau, tínhquốc tế hóa của nền kinh tế thế giới tăng
- Sự phát triển và tác động to lớn của các công ti xuyên quốc gia
Theo số liệu của Liên hợp quốc, khoảng 500 công ti xuyên quốc gia lớn kiểm soát tới 25 % tổng sản phẩm thế giới và giá trị trao đổi của những công ti này tương đương 3/4 giá trị thương mại toàn cầu
- Sự sát nhập và hợp nhất các công ti thành những tập đoàn lớn, nhất là các công ti khoa học kĩ thuật, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước Làn sóng sáp nhập này tăng lên nhanh chóng vào những năm cuối thế kỉ XX
- Sự ra đời của các tổ chức liên kết kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế và khu vực như Quỹ Tiền tệ Quốc
tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Liên minh châu Âu (EU), Hiệp ước Thương mại tự do Bắc Mĩ (NAFTA), Hiệp ước Thương mại tự do ASEAN (AFTA), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM),
Các tổ chức này có vai trò ngày càng quan trọng trong việc giải quyết những vấn đề kinh tế chung của thế giới và khu vực
* Ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa:
Là kết quả của quá trình tăng lên mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, toàn cầu hóa là xu thế khách quan, là một thực tế không thể đảo ngược được Nó có mặt tích cực và tiêu cực nhất là đối với các nước đang phát triển
Trang 33- Mặt hạn chế:
Toàn cầu hóa đã làm trầm trọng thêm sự bất công xã hội, đào hố sâu ngăn cách giàu nghèo trong từng nước
và giữa các nước
Toàn cầu làm cho mọi mặt hoạt động và đời sống của con người kém an toàn hơn (từ kém an toàn về kinh
tế, tài chính đến kém về an toàn chính trị), hoặc tạo ra nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc và độc lập tự chủ của các quốc gia
Toàn cầu hóa vừa là thời cơ, cơ hội lớn cho các nước phát triển mạnh, đồng thời cũng tạo ra những thách thức lớn đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, là nếu bỏ lỡ thời cơ sẽ tụt hậu nguy hiểm
Quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh
1 Mâu thuẫn Đông - Tây và khởi đầu của cuộc chiến tranh lạnh:
* Mâu thuẫn Đông - Tây:
- Sự đối lập nhau về mục tiêu và chiến lược giữa hai cường quốc:
+ Liên Xô: duy trì hòa bình và an ninh thế giới, bảo vệ những thành quả của chủ nghĩa xã hội và đẩy mạnh phong trào cách mạng thế giới
+ Mĩ: chống phá Liên Xô và các nước XHCN, đẩy lùi phong trào cách mạng nhằm thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới
- Mĩ lo ngại ảnh hưởng to lớn của Liên Xô cùng những thắng lợi của cuộc cách mạng dân chủ nhân dân
- Sau chiến tranh, Mĩ vươn lên thành một nước tư bản giàu mạnh nhất, nắm độc quyền vũ khí nguyên tử
Mĩ cho mình quyền lãnh đạo thế giới
* Khởi đầu chiến tranh lạnh:
- Ngày 12 - 3 - 1947, Học thuyết Tru-man ra đời đã đề nghị viện trợ khẩn cấp 400 triệu USD cho Hi Lạp và Thổ Nhĩ Kì nhằm lôi kéo lực lượng và ngăn chặn sự ảnh hưởng của CNXH
- Tháng 6 - 1947, Mĩ đưa ra Kế hoạch Mác-san với khoản viện trợ 17 tỉ USD để giúp Tây Âu phục hồi nền kinh tế bị tàn phá sau chiến tranh
- Ngày 4 - 4 - 1949, Mĩ thành lập khối quân sự - Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương ( NATO ) gồm 11 nước, sau này thên Hi Lạp, Thổ Nhĩ Kì, CHLB Đức
- Tháng 5 - 1955, Liên Xô và các nước Đông Âu thành lập Tổ chức Hiệp ước Vác-sa-va, một liên minh mang tính phòng thủ
Sự ra đời của NATO và Tổ chức hiệp ước Vác-sa-va là những sự kiện cuối cùng đánh dấu sự xác lập của cục diện hai phe Chiến tranh lạnh đã bao trùm thế giới
2 Xu thế hòa hoãn Đông - Tây và chiến tranh lạnh chấm dứt:
- Trên cơ sở những thỏa thuận Xô - Mĩ, ngày 9 - 11 - 1972 hai nước Đức - Cộng hòa Dân chủ và Cộng hòa Liên bang đã kí kết tại Bon Hiệp định về những cơ sở của quan hệ giữa Đông Đức và Tây Đức Theo đó, haibên phải tôn trọng không điều kiện chủ quyền sự toàn toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như của các nước châu Âu trên đường biên giới hiện tại Hai bên thiết lập quan hệ láng giềng thân thiện, bình thường trên cơ
sở bình đẳng, giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và sẽ tự kiềm chế việc đe dọa bằng
vũ lực hay sử dụng vũ lực
- Cũng trong năm 1972, hai bên siêu cường Liên Xô, Mĩ đã thỏa thuận về việc hạn chế vũ khí chiến lược vàngày 26 - 5 kí Hiệp ước về việc hạn chế thống phòng chống tên lửa ( ABM ), sau đó là Hiệp định hạn chế vũkhí tiến công chiến lược ( gọi tắt là SALT - 1 ) Hiệp ước ABM quy định:
+ Liên Xô và Mĩ mỗi nước chỉ được xây dựng hai hệ thống ABM với mỗi hệ thống có 100 tên lửa chống tên lửa
+ Sau đó, trong năm 1974 hai nước lại thỏa thuận mỗi nước chỉ có một hệ thống ABM
Với hai hiệp ước này, từ giữa những năm 70 đã hình thành thế cân bằng chiến lược giữa Liên Xô và Mĩ về lực lượng quân sự nói chung và về vũ khí hạt nhân chiến lược nói riêng
- Đầu tháng 8 - 1975, 35 nước châu Âu và Mĩ, Ca-na-da đã kí kết Định ước Hen-xin-ki, khẳng định những nguyên tắc trong quan hệ giữa các quốc gia như bình đẳng, chủ quyền, sự bền vững của đường biên giới,
Trang 34giải quyết hòa bình các tranh chấp, nhằm bảo đảm an ninh châu Âu và sự hợp tác giữa các nước về kinh
tế, khoa học và kĩ thuật, bảo vệ môi trường Định ước Hen-xin-ki năm 1975 đánh dấu sự chấm dứt tình trạngđối đầu giữa hai khối nước tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa ở châu Âu, đồng thời tạo nên một cơ chế giải quyết các vấn đề liên quan đến hòa bình an ninh ở châu lục này
- Cùng với các sự kiện trên, từ đầu những năm 70, hai siêu cường Xô - Mĩ đã tiến hành những cuộc gặp gỡ cấp cao, nhất là từ năm 1985 khi Goóc-ba-chốp lên cầm quyền ở Liên Xô Hầu như hàng năm đều diễn ra các cuộc gặp gỡ giữa hai nguyên thủ hai nước - Goóc-ba-chốp và Ri-gân, sau là Goóc-ba-chốp và Bu-sơ ( cha ) Nhiều văn kiện hợp tác về kinh tế và khoa học - kĩ thuật đã được kí kết giữa hai nước, nhưng trọng tâm là những thỏa thuận về thủ tiêu các tên lửa tầm trung ở châu Âu, cắt giảm vũ khí chiến lược cũng như hạn chế cuộc chạy đua vũ trang giữa hai nước
- Tháng 12 - 1989, trong cuộc gặp gỡ không chính thức tại đảo Man-ta ( Địa Trung Hải ), Tổng Bí thư ĐảngCộng sản Liên Xô Goóc-ba-chốp và Tổng thống Mĩ Bu-sơ đã chính thức cùng tuyên bố chấm dứt chiến tranh lạnh
Nguyên nhân làm cho hai siêu cường Xô - Mĩ chấm dứt chiến tranh lạnh:
- Cuộc chạy đua vũ trang kéo dài hơn bốn thập kỉ đã làm cho cả hai nước quá tốn kém và suy giảm thế mạnh của họ trên nhiều mặt so với các cường quốc khác
- Sự vươn lên mạnh mẽ của Đức, Nhật Bản và Tây Âu, đã đặt ra nhiều khó khăn và thách thức to lớn Cácnước này đã trở thành những đối thủ cạnh tranh đáng gờm đối với Mĩ Còn Liên Xô lúc này nền kinh tế ngày càng lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng
Do vậy, hai cường quốc Liên Xô và Mĩ đều cần phải thoát khỏi đối đầu để ổn định và củng cố vị thế của mình
- Chiến tranh lạnh chấm dứt đã mở ra chiều hướng và những điều kiện giải quyết hòa bình các vụ tranh chấp, xung đột đang diễn ra ở nhiều khu vực trên thế giới:
+ Ở áp-ga-ni-xtan, Liên Xô và Mĩ đã thỏa thuận giải quyết cuộc xung đột với việc quân đội Liên Xô rút ra khỏi áp-ga-ni-xtan
+ Tháng 10 - 1991, Hiệp định về một giải pháp chính trị toàn bộ cho cuộc xung đột Cam-pu-chia đã được kíkết tại Pa-ri Nhờ đó, cuộc xung đột kéo dài hơn một thập kỉ với những tội ác diệt chủng của chế độ Khơ-me
đỏ đã chấm dứt Những triển vọng tốt đẹp đã mở ra để xây dựng một nước Cam-pu-chia mới Mối quan hệ giữa các nước trong khu vực được cải thiện nhằm xây dựng một Đông Nam á hòa bình và ổn định
+ Ở Tây Nam Phi, quân đội Nam Phi và quân tình nguyện Cu Ba đều rút khỏi Na-mi-bi-a Ngày 21 - 3 -
1990, Cộng hòa Na-mi-bi-a tuyên bố độc lập
Tóm lại, thế giới vẫn chưa có một nền hòa bình, anh ninh thật sự, nhất là ở nhiều nước đang phát triển vốn
đã nghèo nàn, lạc hậu chồng chất khó khăn
3 Những biến đổi chính của tình hình thế giới sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt:
- Sự tan rã của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa đưa tới sự sụp đổ của trật tự thế giới hai cực:
Sau nhiều năm trì trệ và khủng hoảng kéo dài, tới những năm 1989 - 1991 chế độ xã hội chủ nghĩa đã bị tan rã ở các nước Đông Âu và Liên bang Xô viết Ngày 28 - 6 - 1991, Hội đồng Tương trợ Kinh tế ( SEV ) tuyên bố giả thể và sau đó ngày 1 - 7 - 1991 Tổ chức Hiệp ước Vác-sa-va chấm dứt hoạt động
Với cực Liên Xô tan rã, hệ thống thế giới của các nước xã hội chủ nghĩa không còn tồn tại và Trật tự thế giới hai cực I-an-ta đã sụp đổ Thế hai cực của hai siêu cường không còn nữa, Mĩ là cực duy nhất còn lại Phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô ở châu Âu và châu á đã bị mất, ảnh hưởng của Mĩ cũng bị thu hẹp dần ở nhiều nơi
- Tình hình thế giới sau chiến tranh lạnh ( 1991 - 2000 ):
+ Từ sau năm 1991 đầy biến động, tình hình thế giới đã diễn ra những thay đổi to lớn và phức tạp Trật tự thế giới hai cực đã sụp đổ nhưng trật tự thế giới mới lại đang trong quá trình hình thành Dư luận thế giới cho rằng phải nhiều năm nữa mới có thể hình thành trật tự thế giới mới theo xu hướng đa cực, nhiều trung tâm với sự vươn lên, đua tranh mạnh mẽ của các cường quốc như Mĩ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc
+ Sự tan rã của Liên Xô đã tạo cơ hội cho Mĩ một lợi thế tạm thời Giới cầm quyền Mĩ ra sức thiết lập trật
tự thế giới mới một cực để Mĩ làm bá chủ thế giới Mặc dù ngày nay Mĩ có một lực lượng kinh tế - tài chính,
Trang 35khoa học - kĩ thuật và quân sự vượt trội so với tất cả các quốc gia nhưng giữa tham vọng to lớn làm bá chủ thế giới và khả năng hiện thực của Mĩ là một khoảng cách không nhỏ Nhiều sự kiện diễn ra trên thế giới gần đây đã chứng tỏ điều đó.
+ Sau chiến tranh lạnh, hòa bình thế giới được củng cố, nhưng ở nhiều khu vực tình hình lại không ổn định với những cuộc nội chiến, xung đột quân sự đẫm máu kéo dài ở nhiều nơi như bán đảo Ban-căng, một số nước châu Phi và Trung á Nguyên nhân chính là do những mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo và tranh chấp lãnh thổ đã bùng lên dữ dội, khi mâu thuẫn Đông - Tây không còn nữa
p - Các xu thế phát triển hiện nay của thế giới ( từ sau năm 1991 ):
+ Bước sang thế kỉ XXI với sự tiến triển của xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển, các dân tộc hi vọng về một tương lai tốt đẹp của loài người Nhưng trong cuộc tấn công khủng bố bất ngờ ngày 11 - 9 - 2001 ở Mĩ
đã mở đầu cho một thời kì biến động lớn trong tình hình thế giới Cuộc khủng bố chỉ diễn ra trong một giờ nhưng đã có hàng nghìn người dân thiệt mạng, nhiều tòa nhà cao tầng sụp đổ, tổn thất vật chất lên tới hàng chục tỉ USD
Sự kiện 11 - 9 đã đặt các quốc gia - dân tộc đứng trước những thách thức của chủ nghĩa khủng bố đầy tệ hại với những nguy cơ khó lường Nó đã gây ra những tác động to lớn, phức tạp đối với tình hình chính trị thế giới và các quan hệ quốc tế
+ Với xu thế phát triển của thế giới từ cuối thế kỉ XX - đầu thế kỉ XXI, ngày nay các quốc gia - dân tộc vừa đứng trước những nguy cơ phát triển thuận lợi, vừa phải đối mặt với những thách thức vô cùng gay gắt
PHẦN HAI
Trang 36LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1919 - 2000 Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 - 1925Những chuyển biến mới về kinh tế và xã hội ở Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất
1 Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp:
* Nguyên nhân thúc đẩy cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai:
- Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất ( 1914 - 1918 ), đế quốc Pháp tuy là một nước thắng trận nhưng bị tàn phá nặng nề, nền kinh tế của Pháp bị kiệt quệ Để hàn gắn và khôi phục kinh tế sau chiến tranh, nhà cầm quyền Pháp vừa tìm cách kết thúc đẩy sản xuất trong nước, vừa tăng cường đầu tư khai thác thuộc địa, trướchết là các nước ở Đông Dương và châu Phi
- Chương trình khai thác lần thứ hai thực hiện ở Đông Dương do An-be Xa-rô, Toàn quyền Đông Dương vạch ra
* Những chính sách khai thác về công - nông - thương nghiệp, giao thông vận tải và kinh tế:
Thực dân Pháp đã đầu tư mạnh với tốc độ nhanh, quy mô lớn vào các nghành kinh tế Việt Nam Chỉ trong vòng 6 năm ( 1924 - 1929 ), số vốn đầu tư vào Đông Dương, chủ yếu là Việt Nam lên đến 4 tỉ phrăng ( tăng
6 lần so với trước chiến tranh )
- Nông nghiệp:
+ Năm 1924, vốn đầu tư vào nông nghiệp là 50 triệu phrăng, đến năm 1927 đã lên đến 400 triệu phrăng, gấp 10 lần trước chiến tranh
+ Diện tích các đồn điền cao su, trồng lúa, cà phê, được mở rộng Diện tích trồng cao su từ 1500 ha năm
1918 lên đến 78.620 ha năm 1930 Nhiều công ti trồng cây cao su ra đời: Công ti đất đỏ, Công ti lanh, Công ti trồng cây nhiệt đới
- Công nghiệp: Tư bản Pháp chú trọng đầu tư vào khai thác mỏ, trước hết là mỏ than:
+ Nhiều công ti khai thác than mới được thành lập như Công ti than Hạ Long - Đồng Đăng, Công ti than vàkim khí Đông Dương, Công ti than Tuyên Quang, Công ti than Đông Triều,
+ Ngoài than, các cơ sở khai thác mỏ thiếc, kẽm, sắt đều được bổ sung thêm vốn, tăng thêm công nhân và đẩy mạnh tiến độ khai thác Một số cơ sở chế biến quặng kẽm, thiếc, các nhà máy tơ sợi Hải Phòng, Nam Định, nhà máy rượu Hà Nội, Nam Định, nhà máy diêm Hà Nội, Bến Thủy, nhà máy đường Tuy Hòa, gạo Chợ lớn, đã được nâng cấp và mở rộng quy mô
- Thương nghiệp:
+ Ngoại thương có sự tăng tiến hơn trước: trước chiến tranh, hàng hóa Pháp nhập vào Đông Dương mới chiếm 37 %, đến những năm 1929 - 1930 đã lên đến 63 % tổng số hàng nhập Quan hệ giao lưu buôn bán nội địa cũng được đẩy mạnh
+ Đánh thuế rất nặng các hàng hóa nhập từ nước ngoài mà chủ yếu là của Trung Quốc và Nhật Bản nhằm nắm chặt thị trường Việt Nam ( và Đông Dương ) cho tư bản độc quyền Pháp
- Giao thông vận tải:
+ Mục đích: phát triển giao thông vận tải nhằm phục vụ công cuộc khai thác và vận chuyển nguyên vật liệu,lưu thông hàng hóa trong nước và nước ngoài
Trang 37=> Chính sách khai thác thuộc địa của chúng nhìn chung về căn bản vẫn không thay đổi: hết sức hạn chế
sự phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng như các nghành luyện kim, cơ khí, hóa chất, nhằmcột chặt Đông Dương vào nền công nghiệp của nước Pháp và biến Đông Dương thành thị trường độc chiếm của tư bản Pháp
* Những chính sách về chính trị, văn hóa, giáo dục của thực dân Pháp:
Sau chiến tranh, chính sách thống trị của thực dân Pháp ở Đông Dương vẫn không thay đổi mà còn tăng cường để phục vụ sự thống trị của chúng và đẩy mạnh khai thác thuộc địa Đó chính là chính sách chuyên chế, mọi quyền hành đều nằm trong tay thực dân Pháp và bọn tay sai trung thành của chúng Bộ máy đàn
áp, cảnh sát, mật thám, nhà tù vẫn tiếp tục được củng cố và hoạt động ráo riết Một số tổ chức chính trị, an ninh, kinh tế được thành lập:
- Thực dân Pháp thi hành một vài cải cách chính trị - hành chính để đối phó với những biến động đang
diễn ra ở Đông Dương:
+ Mở rộng các công sở cho người Việt
+ Tăng thêm số người Việt trong các Phòng Thương mại và Canh nông ở các thành phố lớn
+ Lập Viện Dân biểu Trung Kì ( 2 - 1926 ), Viện Dân biểu Bắc Kì ( 4 - 1926 )
+ ở làng, xã, chúng thông qua bộ phận cầm đầu ở hương thôn để nắm sâu xuống các địa phương
- Văn hóa, giáo dục cũng có sự thay đổi:
+ Đến tháng 12 - 1917, Toàn quyền Đông Dương lập Hội đồng Tư vấn học chính Đông Dương với chức năng đề ra những quy chế cho nghành giáo dục
+ Hệ thống giáo dục được mở rộng gồm các cấp tiểu học, trung học, cao đẳng và đại học Mô hình giáo dục
có tính hiện đại đang hình thành ở Đông Dương
+ Cơ sở xuất bản, in ấn xuất hiện ngày càng nhiều với hàng chục tờ báo, tạp chí chữ Pháp và chữ Quốc ngữ Nhà cầm quyền Pháp sử dụng báo chí, văn hóa, để phục vụ công cuộc khai thác và thống trị của chúng; ưu tiên khuyến khích xuất bản các sách báo theo chủ trương Pháp - Việt đề huề
+ Các phong trào tư tưởng, khoa học - kĩ thuật, văn hóa, nghệ thuật phương Tây có điều kiện tràn vào Việt Nam
+ Các nghành văn học, nghệ thuật ( hội họa, điêu khắc, kiến trúc, ) đã có những biến đổi mới về nội dung,văn hóa mới tiến bộ và ngoại lai nô dịch cùng tồn tại, đan xen, đấu tranh với nhau
2 Tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần hai đến kinh tế và giai cấp xã hội ở VN:
* Những chuyển biến về kinh tế:
- Qua cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, nền kinh tế của tư bản thực dân Pháp tiếp tục được mở rộng song vẫn duy trì và bao trùm lên là nền kinh tế phong kiến Việt Nam cũ Nền kinh tế Việt Nam có sự chuyểnbiến trong phạm vi hạn hẹp của nền kinh tế tư bản thực dân
- Trong quá trình đầu tư vốn và mở rộng khai thác thuộc địa, thực dân Pháp cũng có đầu tư các nhân tố kĩ thuật và nhân lực sản xuất, song rất hạn chế
- Cơ cấu kinh tế Việt Nam vẫn mất cân đối Sự chuyển biến ít nhiều về kinh tế chỉ có tính chất cục bộ ở một
số vùng, còn phổ biến vẫn trong tình trạng lạc hậu, nghèo nàn
=> Kinh tế Đông Dương vẫn bị cột chặt vào kinh tế Pháp và Đông Dương vẫn là thị trường độc chiếm của
tư bản Pháp
* Những chuyển biến về giai cấp:
Do tác động của chính sách khai thác thuộc địa trên quy mô lớn và chính sách thống trị của thực dân Pháp,
cơ cấu giai cấp xã hội ở Việt Nam bị phân hóa sâu sắc hơn Cùng với sự phân hóa của lực lượng xã hội cũ, một số giai cấp mới ra đời và ngày càng phát triển Mỗi giai cấp có địa vị và quyền lợi khác nhau nên cũng
có thái độ, chính trị và khả năng khác nhau trước sự nghiệp giải phóng dân tộc:
- Giai cấp địa chủ phong kiến:
Trang 38+ Vốn là giai cấp thống trị cũ đã đàu hàng, được đé quốc nuôi dưỡng để làm tay sai, chúng ôm chân đế quốc, phản bội dân tộc là chỗ dựa của chủ nghĩa đế quốc, câu kết với đế quốc để cướp đoạt ruộng đất và đàn
áp nông dân nên sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, địa chủ phong kiến được tăng cường cả về thế và lực + Bị phân hóa thành ba bộ phận rõ rệt: tiểu địa chủ, trung địa chủ và đại địa chủ ( một số đồng thời là tư sản) Sinh ra và lớn lên trong một dân tộc có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm nên một bộ phận không íttiểu và trung địa chủ có tinh thần dân tộc chống thực dân Pháp và bọn tay sai phản động, khi có điều kiện cótham gia vào phong trào dân tộc
- Giai cấp nông dân:
+ Chiếm 90 % dân số, là nạn nhân chủ yếu của công cuộc khai thác thuộc địa Họ bị thống trị, bị tước đoạt ruộng đất, bần cùng hóa, phá sản, không có lối thoát, chỉ có một số ít được tiếp nhận vào các nhà máy, hầm
mỏ, đồn điền
+ Mâu thuẫn giữa nông dân Việt Nam - lực lượng dân cư đông đảo - với đế quốc Pháp và tay sai hết sức gay gắt Đó là cơ sở của sự bùng nổ các cuộc đấu tranh của nông dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc + Họ có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, chống áp bức bóc lột nhưng không có tổ chức vững mạnh, ít học thức, sống tản mạn nên không thể lãnh đạo được cách mạng Nếu có một lực lượng tiên tiến dẫn dắt thì họ sẽ trở thành động lực chính của cách mạng
- Giai cấp tiểu tư sản thành thị:
+ Cũng tăng lên về số lượng sau chiến tranh Họ bao gồm những người buôn bán nhỏ, chủ xưởng nhỏ, học sinh, sinh viên, công chức, trí thức, dân nghèo thành thị,
+ Do bị khinh miệt, bạc đãi, đời sống bấp bênh, họ rất hăng hái cách mạng nhưng dễ hoang mang dao động nên không thể lãnh đạo được cách mạng Tuy vậy, nhờ được tiếp xúc với các tư tưởng mới nên họ có tinh thần dân tộc, chống thực dân Pháp và tay sai Đặc biệt, bộ phận học sinh, sinh viên, trí thức rất nhạy cảm vớithời cuộc và tha thiết canh tân đất nước nên rất hăng hái tham gia vào các cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc
- Giai cấp tư sản:
+ Ra đời sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, phần đông là những tiểu chủ đứng trung gian thầu khoán, số lượng ít lại bị thực dân Pháp chèn ép, kìm hãm nên thế lực kinh tế nhỏ yếu ( tổng số vốn kinh doanh chỉ bằng 5 % số vốn của tư bản nước ngoài đầu tư vào nước ta lúc bấy giờ )
+ Bị phân hóa làm hai bộ phận:
• Tư sản mại bản có quyền lợi gắn liền với đế quốc nên câu kết chặt chẽ với chính quyền thực dân và là lực lượng cần phải đánh đổ
• Tư sản dân tộc có lòng yêu nước, muốn phát triển chủ nghĩa tư bản Việt Nam, có khuynh hướng kinh doanh độc lập, có tinh thần chống đế quốc và phong kiến, tán thành độc lập dân tộc nhưng vì kinh tế quá nhỏ yếu, có thái độ không kiên định, dễ thỏa hiệp nên không lãnh đạo được cách mạng, chỉ là một lực lượngnhỏ trong cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta
=> Nhìn chung, tư sản dân tộc Việt Nam là một giai cấp có khuynh hướng dân tộc và dân chủ Họ là một lực lượng đóng vai trò đáng kể, một thành phần trong mặt trận đoàn kết dân tộc
- Giai cấp công nhân:
+ Ra đời trong quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
+ Họ có số lượng hết sức đông đảo: trước chiến tranh thế giới thứ nhất, họ có khoảng 10 vạn người Đến năm 1929, trong các doanh nghiệp của người Pháp ở Đông Dương, chủ yếu là ở Việt Nam, giai cấp công nhân có trên 2 vạn người
+ Giai cấp công nhân Việt Nam bị ba tầng lớp áp bức bóc lột của đế quốc thực dân, phong kiến và tư bản
xứ, chủ yếu là bọn đế quốc thực dân Họ có quan hệ gắn bó với giai cấp nông nhân, có truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc, sớm chịu ảnh hưởng của trào lưu cách mạng vô sản trên thế giới ( cách mạng tháng Mười Nga ) Chính vì vậy, chỉ có họ mới có đủ khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị độc lập, làm cơ sở vững chức cho phong trào dân tộc theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa
* Kết luận:
- Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến cuối những năm 20 của thế kỉ XX, trên đất nước Việt Nam đã
Trang 39diễn ra những biến đổi quan trọng về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và giai cấp Mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam ngày càng sâu sắc, chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phảnđộng Cuộc đấu tranh của nhân ta chống để quốc và tay sai diễn ra ngày càng gay gắt.
- Sự phân hóa giai cấp, đặc biệt là sự ra đời và phát triển của các lực lượng xã hội mới, đã tạo tiền đề cho việc tiếp thu các trào lưu tư tưởng mới, làm cơ sở để hình thành và phát triển các khuynh hướng cách mạng mới ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất
Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc (1919 - 1924)
- Sau 8 năm bôn ba hầu khắp các châu lục trên thế giới, Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp, gia nhập Đảng Xã hội Pháp vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp theo đuổi lí tưởng của Đại Cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng
và Bác ái
- Ngày 18 - 6 - 1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Tất Thành với tên gọi là Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Véc-xai Bản yêu sách của nhân dân An Nam Bản yêu sách đòi chính phủ Pháp và các nước đồng minh thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của nhân dân An Nam
Bản yêu sách gồm 8 điểm như sau:
1 Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị.
2 Cải cách nền pháp lí ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người châu Âu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để chống khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam.
3 Tự do báo chí và tự do ngôn luận.
4 Tự do lập hội và tự do hội họp.
5 Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương.
6 Tự do học tập, thành lập các trường kĩ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ.
7 Thay thế chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật.
8 Đoàn đại biểu thường trực của ngời bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ.
- Bản yêu sách đó đã không được Hội nghi Véc-xai chấp nhận Sự thật đó cho thấy những lời tuyên bố của các nhà chính trị đế quốc về quyền tự do dân chủ và quyền tự quyết của các dân tộc mà điển hình là chương trình 14 điểm của Tổng thống Mĩ Uyn-xơn chỉ là trò bịp để lừa các dân tộc Vì vậy, muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào lực lượng của bản thân mình
- Giữa năm 1920, Nguyễn ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địacủa Lênin đăng trên báo Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp, Luận cương của Lênin đã giúp Nguyễn Ái Quốc khẳng định muốn cứu nước và giải phóng dân tộc thì phải đi theo con đường cách mạng vô sản
- Ngày 25 - 12 - 1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Xã hội Pháp họp tại thành phố Tua Người đã đứng về phía đa số đại biểu bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và thành lập Đảng Cộng sản Pháp Nguyễn Ái Quốc trở thành người đảng viên cộng sản Pháp, đồng thời là mộttrong những người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp
=> Từ đây, Nguyễn Ái Quốc càng tích cực hoạt động và tiếp tục học tập Nghiên cứu lí luận về con đường cách mạng thuộc địa để truyền bá vào Việt Nam
- Năm 1921, cùng với một số người yêu nước của An-giê-ri, Ma-rốc, Tuy-ni-di, Nguyễn Ái Quốc lập ra Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa ở Pa-ri để đoàn kết các lực lượng cách mạng chống chủ nghĩa thực dân
Cơ quan ngôn luận của Hội là báo Người cùng khổ do Người làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Người còn viết nhiều bài cho các báo Nhân đạo ( của Đảng Cộng sản Pháp ), Đời sống công nhân ( của Tổng Liên đoàn lao động Pháp ), và đặc biệt là cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp Các sách báo nói trên được bí mật chuyển
về Việt Nam đã góp phần thúc đẩy phong trào dân tộc trong nước phát triển mạnh mẽ hơn
- Tháng 6 - 1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời nước Pháp sang Liên Xô dự Hội nghị Quốc tế Nông dân ( 10
- 1923 ) và được bầu vào Ban chấp hành Hội Người ở lại Liên Xô, vừa nghiên cứu, học tập, viết bài cho báo Sự thật của Đảng Cộng sản Liên Xô, tạp chí Thư tín Quốc tế của Quốc tế Cộng sản Tại Đại hội Quốc tếCộng sản lần thứ V ( 1924 ), Nguyễn Ái Quốc trình bày lập trường quan điểm của mình về vị trí chiến lược của cách mạng các nước thuộc địa, về mối quan hệ giữa phong trào công nhân ở các nước đế quốc với
Trang 40phong tròa cách mạng ở các nước thuộc địa, về vai trò và sức mạnh to lớn của giai cấp nông dân ở các nước thuộc địa.
- Ngày 11 - 11 - 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu ( Trung Quốc ) để trực tiếp đào tạo cán bộ, xây dựng tổ chức cách mạng, truyền bá lí luận cách mạng giải phóng dân tộc vào Việt Nam Sự chuyển biến về kinh tế, xã hội và giai cấp ở Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp đã tạo sẵn điều kiện để Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi
Tại sao Nguyễn Ái Quốc lại ra đi tìm con đường cứu nước mới ? Trình bày về quá trình hoạt động từ năm 1911 – 1930 và những cống hiến của Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam
1) Tại sao Nguyễn Ái Quốc lại ra đi tìm con đường cứu nước mới ?
Nguyễn Ái Quốc tên thật là Nguyễn Sinh Cung, sau đổi là Nguyễn Tất Thành,sinh ngày 19/5/1890 tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An Cha là Nguyễn Sinh Sắc, mẹ là Hoàng Thị Loan, một người phụ nữ đảm đang, chăm lo chồng con hết mực…
Nguyễn Tất Thành từ rất sớm có trí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào…
Người khâm phục tinh thần yêu nước của các chí sĩ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, nhưng lại không tán thành con đường cứu nước của họ Các phong trào Đông Du, Duy Tân, các cuộc khởi nghĩa đều bị thực dân Pháp dập tắt cách mạng lâm vào tình trạng khủng hoảng, thiếu hẵn một phương pháp cách mạng khoa học Một đòi hỏi tất yếu là phải tìm ra con đường giải phóng cho dântộc
Trong bối cảnh lịch sử đó, thầy giáo Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu dân, cứu nước, giải phóng cho dân tộc Việt Nam
2) Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1911 – 1930 :
a Từ năm 1911 đến 1918 :
- Ngày 5/6/1911, Người lấy tên là Ba, xin làm việc phụ bếp trên tàu đô đốc Latusơ Tơrêvin, rời bến cảng Nhà Rồng bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước Tháng 7/1911, Người cập cảng Mácxây của Pháp
- Năm 1912, Người tiếp tục đi một số nước ở châu Âu, châu Phi và châu Mĩ…
- Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc trở lại Pháp Tại đây, Người tích cực hoạt động tố cáo thực dân Pháp và tuyên truyền cho cách mạng Việt Nam, tham gia vào phong trào công nhân Pháp, tiếp nhận ảnh hường Cách mạng Tháng Mười Nga => Tư tưởng của Người dần dần biến đổi
- Tháng 11/1917, Cách mạng tháng Mười Nga thành công đã ảnh hưởng quyết định đến xu hướng hoạt động của Người
b Từ năm 1919 đến 1923 :
- Ngày 18/6/1919 các nước đế quốc thắng trận họp Hội nghị Vécxai (Verseille) để chia nhau thị trường thế giới Nguyễn Ái Quốc gửi tới Hội nghị này Bản yêu sách gồm 8 điểm đòi các quyền tự do dân chủ cho nhândân Việt Nam
- Tháng 7/1920, Người đọc Sơ thảo luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin Từ đó Người hoàn toàn tin theo Lênin, dứt khoát đứng về Quốc tế thứ ba
Sự kiện đó cũng đánh dấu bước mở đường giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc.∨- Tháng 12/1920, tại Đại hội của Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành Quốc
tế thứ ba và lập ra Đảng Cộng sản Pháp Sau đó Người đã tham gia Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản Việt Nam đầu tiên đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động Nguyễn Ái Quốc, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin và đi theo cách mạng vô sản
- Năm 1921, Nguyễn Ái Quốc cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa ở Pari để tuyên truyền, tập hợp lực lượng chống chủ nghĩa đế quốc
- Năm 1922, ra báo Người Cùng Khổ (Le Paria)