1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng Bắc Á

70 578 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng Bắc Á
Trường học Ngân Hàng Bắc Á
Thể loại Chuyên đề
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 554 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong điều kiện toàn cầu hoá đang trở thành xu hướng phổ biến thì bên cạnh quá trình hợp tác theo nguyên tắc hai bên cùng có lợi, giữa các quốc gia luôn kèm theo quá trình cạnh tranh gay gắt, khốc liệt.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong điều kiện toàn cầu hoá đang trở thành xu hướng phổ biến thì bên cạnh

quá trình hợp tác theo nguyên tắc hai bên cùng có lợi, giữa các quốc gia luôn kèm theoquá trình cạnh tranh gay gắt, khốc liệt Để có thể vực dậy và phát triển một nền kinh tếvới một cơ sở hạ tầng yếu kém về mọi mặt, để có thể thắng được trong cạnh tranh,chúng ta cần có rất nhiều vốn Kênh dẫn vốn trong nước quan trọng nhất cho nền kinh

tế là hệ thống ngân hàng.Để có thể thu hút được nhiều vốn thì một trong những điềucần phải làm là làm tốt công tác tạo đầu ra, tức là cấp tín dụng cho nền kinh tế

Tín dụng là chức năng quan trọng nhất của các tổ chức trung gian tài chính.Làdịch vụ sinh lời chủ yếu và cũng là lĩnh vực chưa đựng nhiều rủi ro nhất của cácngân hàng thương mại và các định chế tài chính khác.Để làm thế nào để củng cố vànâng cao chất lượng tín dụng là điều mà trước đây, bây giờ và sau này đều được cácnhà quản lý Ngân hàng, các nhà chính sách và các nhà nghiên cứu quan tâm Nângcao chất lượng tín dụng sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại làm tốt chứcnăng trung gian tín dụng trong nền kinh tế và sẽ là cầu nối giữa phần tiết kiệm vàđầu tư Từ đó góp phần điều hoà nguồn vốn trong xã hội, phân bố các nguồn vốncho đầu tư một cách hợp lý, giảm lãng phí ở những nơi thừa vốn trong xã hội, giảmkhó khăn ở những nơi thiếu vốn, tạo quan hệ tốt giữa cung và cầu vốn, đẩy nhanhtốc độ luân chuyển hàng hoá và tiền tệ

Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N) là một loại hình doanh nghiệp khôngnhững thích hợp đối với nền kinh tế của những nước công nghiệp phát triển mà cònđặc biệt thích hợp với nền kinh tế của những nước đang phát triển Ở nước ta trướcđây, việc phát triển các DNV&N cũng đã được quan tâm, song chỉ từ khi có đườnglối đổi mới kinh tế do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng thì các doanh nghịêpnày mới thực sự phát triển nhanh cả về số và chất lượng Trong điều kiện của nhữngbước đi ban đầu thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, có thể khẳng địnhviệc đẩy mạnh phát triển DNV&N là bước đi hợp quy luật đối với nước ta.DNV&N là công cụ góp phần khai thác toàn diện mọi nguồn lực kinh tế đặc biệt lànhững nguồn tiềm tàng sẵn có ở mỗi người, mỗi miền đất nước Các DNV&N ngàycàng khẳng định vai trò to lớn của mình trong việc giải quyết các mối quan hệ màquốc gia nào cũng phải quan tâm chú ý đến đó là: Tăng trưởng kinh tế - giải quyếtviệc làm - hạn chế lạm pháp Nhưng để thúc đẩy phát triển DNV&N ở nước ta đòihỏi phải giải quyết hàng loạt các khó khăn mà các doanh nghiệp này đang gặp phải

Trang 2

liên quan đến nhiều vấn đề Trong đó khó khăn lớn nhất, cơ bản nhất, phổ biến nhất,làm tiền đề cho các khó khăn nhất đó là thiếu vốn sản xuất và đổi mới công nghệ.Vậy doanh nghiệp này phải tìm vốn ở đâu trong điều kiện thị trường vốn ở ViệtNam chưa phát triển và bản thân các doanh nghiệp này khó đáp ứng đủ điều kiệntham gia, chúng ta cũng chưa có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp này một cáchợp lý Vì vậy phải giải quyết khó khăn về vốn cho các DNV&N đã và đang là mộtvấn đề cấp bách mà Đảng, Nhà nước, bản thân các doanh nghiệp, các tổ chức tíndụng cũng phải quan tâm giải quyết Thực tế hiện nay cho thấy nguồn vốn tín dụngngân hàng đầu tư cho phát triển DNV&N còn rất hạn chế vì các DNV&N khó đápứng đầy đủ điều kiện vay vốn ngân hàng và khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng thì cácdoanh nghiệp lại sử dụng vốn chưa hợp lý và hiệu quả Vì thế việc tìm ra giải pháptín dụng nhằm phát triển DNV&N đang là một vấn đề bức xúc hiện nay của cácngân hàng thương mại

Xuất phát từ quan điểm đó và thực trạng hoạt động của các DNV&N hiện nay,sau một thời gian thực tập tại ngân hàng Bắc Á em đã chon đề tài:

“ Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa

và nhỏ tại ngân hàng Bắc Á”

Nội dung chuyên đề bao gồm 3 chương:

Chương I: Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

Chương II : Thực trạng hoạt động tín dụng đối với DNV&N tại ngân hàng Bắc Á

Chương III : Những giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNV&N tại ngân hàng Bắc Á

Bài chuyên đề của em được hoàn thành với sự hướng dẫn tận tình của cô giáoTH.S Nguyễn Thị Thùy Dương và sự chỉ bảo, giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ,nhân viên ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á.Em xin chân thành cảm ơn sâu sắctới toàn bộ thầy, cô giáo trong khoa Ngân hàng – Tài chính của Trường Kinh TếQuốc Dân Do kiến thức lý luận và hiểu biết thực tiễn còn hạn chế, thời gian nghiêncứu chưa nhiều nên Chuyên Đề Tốt Nghiệp không tránh khỏi có những khuyết điểm

và thiếu sót.Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy côgiáo và toàn thể các bạn đọc để bài viết được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh Viên

Nguyễn Thị Như Quỳnh

Trang 3

CHƯƠNG I HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường

1.1.1.Khái niệm và đặc trưng của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường:

1.1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng.

Như chúng ta đã biết tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là một sảnphẩm của nền kinh tế sản xuất hàng hóa,chính nó lại là động lực quan trọng thúcđẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên giai đoạn cao hơn

Qua nhiều giai đoạn tồn tại và phát triển, ngày nay tín dụng được hiểu theođịnh nghĩa cơ bản sau: Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh

tế trong đó cá nhân (hay tổ chức) nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hayhiện vật cho cá nhân (hay tổ chức) khác với những ràng buộc nhất định như: thờihạn hoàn trả (cả gốc lẫn lãi) lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi.Là động lựcquan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên giai đoạn cao hơn Tồn tại

và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế-xã hội, đã có nhiều khái niệm khác nhau vềtín dụng được đưa ra

Khái quát hơn có thể hiểu tín dụng theo định nghĩa cơ bản sau: “ Tín dụng làmột phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể.Trong đómột bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong mộtthời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đãthoả thuận.”

Tín dụng là quan hệ vay mượn, gồm cả đi vay và cho vay Tuy nhiên khi gắnvới chủ thể là ngân hàng thì tín dụng ngân hàng nghĩa là ngân hàng cho vay

Tín dụng là một chức năng cơ bản của ngân hàng

Vì vậy trên cở sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tíndụng có thể dược hiểu như sau :

Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng với mộtbên là các tổ chức kinh tế, cá nhân, hộ gia đình trong xã hội trong đó ngân hàng giữvai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay

Đây là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng, luôn chiếm tỷ trọng cao nhấttrong tổng tài sản nên tạo thu nhập từ lãi lớn nhất Ở các nước trên thế giới thì hoạtđộng tín dụng chiếm 50-60% lợi nhuận, còn ở Việt Nam thì chiếm tới 60-

Trang 4

70%.Ngoài hoạt động huy động vốn thì tín dụng tạo ra nguồn lợi nhuận chính duytrì hoạt động của ngân hàng Hoạt động tín dụng ngân hàng được dựa trên quyếtđịnh của thống đốc ngân hàng nhà nước số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12năm 2001 về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với DN

1.1.1.2.Đặc trưng của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường

Trong hoạt động kinh doanh tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nóiriêng, đặc trưng của tín dụng đều dựa trên 3 đặc tính chủ yếu là: lòng tin, tính hoàntrả và tính thời hạn

Thứ nhất,tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên cơ sở lòng tin.Tín dụng đượcbắt nguồn từ tiếng la-tinh “credittum” có nghĩa là “sự giao phó” hay “sự tín nhiệm”.Việc nghiên cứu khái niệm tín dụng cũng cho ta thấy tín dụng là sự cho vay có hứahẹn thời gian hoàn trả,sự hứa hẹn biểu hiện “mức tín nhiệm” hay “lòng tin” củangười cho vay vào người đi vay.Tuy yếu tố lòng tin là vô hình nhưng lại là yếu tốkhông thể thiếu trong quan hệ tín dụng, đã bao trùm trong hoạt động tín dụng.Điềukiện tiên quyết cho quan hệ tín dụng phát sinh

Yếu tố lòng tin trong quan hệ tín dụng được biểu hiện chủ yếu từ phía ngườicho vay đối với người đi vay bởi lẽ người cho vay là người giao phó tiền bạc hoặctài sản của họ cho người khác sử dụng

Thứ hai,tín dụng là quan hệ vay mượn có thời hạn và có hoàn trả Khác vớicác quan hệ mua bán thông thường khác (khi trả tiền thì người mua trở thành chủ sởhữu của vật mua hay còn gọi là “mua đứt bán đoạn”)

Lúc này quan hệ tín dụng chỉ trao đổi quyền sử dụng,giá trị các khoản vay chứkhông phải trao đổi quyền sở hữu khoản vay Người cho vay giao giá trị khoản vaydưới dạng hàng hoá hay tiền tệ cho người kia sử dụng trong một thời gian nhấtđịnh.Khi đã khai thác hết giá trị sử dụng của khoản vay trong thời hạn cam kết tronghợp đồng, thì người đi vay lúc này hoàn trả toàn bộ giá trị khoản vay và một khoảnlợi tức như cam kết trong hợp đồng với người cho vay

Tất cả khoản vay dù ở dưới dạng hiện vật hoặc tiền tệ cũng đều là hànghoá.Nên nó đều mang giá trị và giá trị sử dụng nhất định Trong kinh doanh tíndụng người cho vay chỉ bán “giá trị (quyền) sử dụng của khoản vay” chứ không bán

“giá trị của khoản vay”.Nên sau khi hết thời gian sử dụng như đã cam kết,các khoảnvay sẽ được hoàn trả về với giá trị vẫn giữu nguyên.Phần lợi tức như đã thoả thuậnchính là “giá bán” quyền sử dụng khoản vay trong thời gian nhất định

Trang 5

Vậy thì khối lượng hàng hoá gốc hoặc tiền tệ gốc cho vay ban đầu chỉ là vậtchuyên chở giá trị sử dụng của chúng, sẽ được chuyển giao sử dụng trong một thờigian nhất định rồi sẽ thu về chứ không được bán đi hẳn

Tín dụng được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau, tùy theo đặc điểmriêng của mỗi ngân hàng mà tín dụng được phân chia theo các hình thức phù hợp

1.1.2.1 Theo thời gian:

Đây là loại có ý nghĩa rất quan trọng với ngân hàng vì nó liên quan chặt chẽđến tính sinh lời và tính an toàn đặc biệt hơn là khả năng hoàn trả của kháchhàng.Thời hạn tín dụng thường được xác định cụ thể (ngày, tháng, năm) và ghitrong hợp đồng tín dụng và ghi trong hợp đồng tín dụng, là thời hạn mà trong đóngân hàng cam kết cho khách hàng một khoản tín dụng.Thời hạn tín dụng có thểđược tính từ lúc đồng vốn đầu tiên của ngân hàng được phát ra đến lúc đồng vốn vàlãi cuối cùng phải thu về

Thời hạn tín dụng có thể là thời gian mà khi kết thúc, ngân hàng sẽ xem xét lạiquan hệ tín dụng với khách hàng

1.1.2.2.Theo hình thức

Bao gồm chiết khấu, cho vay, bảo lãnh, cho thuê

Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàngtương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sởhữu một thương phiếu chưa đến hạn ( hoặc một giấy nợ).Về mặt pháp lí thì ngânhàng không phải đã cho vay đối với chủ thương phiếu.Đây là hình thức trao đổi tráiquyền.Ngân hàng ứng tiền cho người bán ,song thực chất là thay thế người mua trảtiền trước cho người bán

Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàngphải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoangt thời gian xác định

Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ kháchhàng của mình.Mặc dù không phải xuất tiền ra song ngân hàng đã cho khách hàng

sử dụng uy tín của mình để thu lợi

Trang 6

Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê theonhững thỏa thuận nhất định.Sau thời gian nhất định, khách hàng phải trả gốc lẫn lãicho ngân hàng

1.1.2.3 Theo tài sản đảm bảo

Tài sản đảm bảo các khoản tín dụng chi phép ngân hàng có được nguồn thu nợthứ hai bằng cách bán các tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất không có hoặckhông đủ

Được phân thành tín dụng có đảm bảo bằng uy tín của chính khách hàng, cóđảm bảo bằng thế chấp ,cầm cố tài sản

Cam kết đảm bảo là cam kết của người nhận tín dụng về việc dùng tài sản mamình đang sở hữu hoặc sử dụng hoặc khă năng trả nợ của người thứ ba để trả nợcho ngân hàng

Tín dụng không cần tài sản đảm bảo có thể được cấp cho các khách hàng uytín, thường là khách hàng làm ăn thương xuyên có lãi, tình hình tài chính vữngmạnh,ít xảy ra tình trạng nợ nần hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của ngườivay

Tín dụng dựa trên cam kết đảm bảo yêu cầu ngân hàng và khách hàng phải kíkết hợp đồng đảm bảo.Ngân hàng phải kiểm tra ,đánh giá được tìn trạng của tài sảnđảm bảo ( quyền sở hữu, giá trị, tính thị trường, khả năng bán…), có khả năng giámsát việc sử dụng hoặc có khả năng bảo quản tài sản đảm bảo

1.1.2.4 Theo rủi ro

Để phân loại ngân hàng phải dựa trên các mức độ.Ngân hàng lớn thường chiatới 10 thang bậc rủi ro từ thấp đến cao cho các khoản mục tài sản bao gồm cả nội vàngoại bảng, cho va, bảo lãnh, chứng khoán

Với cách phân loại này làm cho ngân hàng thường xuyên đánh giá lại tính antoàn của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời

Tín dụng lành mạnh là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao

Tín dụng có vấn đề là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh nhưkhách hàng chậm tiến độ tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm…

Nợ quá hạn có khă năng thu hồi là các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn ngắn

và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn

Nợ quá hạn khó đòi là nợ quá hạn qua lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài sản thếchấp nhỏ hoặc bị giảm giá

Trang 7

1.1.2.5 Theo phân loại khác

Theo ngành kinh tế ( công, nông nghiệp…)

Theo đối tượng tín dụng ( tài sản lưu động, tài sản cố định)

Theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng)

Với các cách phân loại như trên cho ta thấy được tính đa dạng của hoặcchuyên môn hóa trong cấp tín dụng của ngân hàng Với xu hướng đa dạng hóa cácngân hàng sẽ mở rộng phạm vi tài trợ.Phân loại như trên làm cho ngân hàng theodõi rủi ro và sinh lợi gắn liền với những lĩnh vực tài trợ cho chính sách lãi suất, bảođảm, hạn mức, chính sách mở rộng phù hợp

1.1.3 Các hình thức tín dụng ngân hàng

Hầu hết tất cả các ngân hàng khi phân loại hình thức tín dụng đều chia theoloại tín dụng ngắn hạn,trung hạn và dài hạn.Bởi mỗi hình thức đều có những lợi thếgiúp ngân hàng đem lại lợi nhuận

1.1.3.1 Tín dụng ngắn hạn: là nguồn tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu

sử dụng sử dụng vốn ngắn hạn của nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất.Ngân hàng

có thể áp dụng cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp, cho vay từng lần hoặc theo hạ mức,

có hoặc không cần đảm bảo, dưới hình thức chiết khấu, thấu chi, hoặc luân chuyển

1.1.3.2 Tín dụng trung và dài hạn

Tín dụng trung hạn: Theo quy định hiện nay của ngân hàng nhà nước ViệtNam, tín dụng trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 3 năm, còn đối với các ngân hàngthương mại trên thế giới loại tín dụng có thời hạn đến 7 năm Tín dụng trung hạnchủ yếu được đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị côngnghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thờigian thu hồi vốn nhanh

Còn tín dụng dài hạn thì theo quy định ở luật Việt Nam loại tín dụng có thờihạn trên 3 năm, còn trên thế giới loại tín dụng này có thời hạn trên 7 năm.Là loại tíndựng cung cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị,phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dung các xí nghiệp mới Nghiệp vụ truyềnthống của các ngân hàng thương mại là cho vay ngắn hạn, nhưng từ những năm 70trở lại đây các ngân hàng thương mại đã chuyển sang kinh doanh tổng hợp và mộttrong những nội dung đổi mới đó là nâng cao tỉ trọng cho vay trung và dài

Hầu hết các doanh nghiệp sử dụng vốn vay trung và dài hạn để mua sắm trangthiết bị, xây dựng, cải tiến kĩ thuật, mua công nghệ…Trong điều kiện khoa học

Trang 8

Khi khách hàng có kế hoạch mua sắm , xây dựng tài sản cố định nhằm thựchiện dự án nhất định thì sẽ xin vay của ngân hàng.Nhưng khách hàng phải đưa ranhững dự án khả thi,đem lại lợi nhuận cao trong tương lai thi ngân hàng sẽ chovay.Lúc này ngân hàng bên người vay phải xây dựng dự án, thực hiện mực đích kếhoạch đầu tư cũng như qua trình thực hiện dự án.

1.1.3.3 Các hình thức tài trợ tín dụng chuyên biệt

Một trong những nghiệp vụ của ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnhcho khách hàng bằng chính uy tín của mình Đây là nghiệp vụ đặc biệt mà ngânhàng lại không phải cung cấp tiền, nhưng khi người bảo lãnh không thực hiện đượcnghĩa vụ theo hợp đồng thì người bảo lãnh phải thay thế để thực hiện nghĩa vụthanh toán Với đặc điểm khác biệt như thế , mà người ta gọi hành vi cam kết bảolãnh của ngân hàng là tín dụng bằng chữ ký.Cho thuê tài chính hình thức cho thuêbằng tài sản rất phổ biến và đa dạng

1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển của Doanh nghiệp vừa và nhỏ ( DNV&N)

1.2.1 Những vấn đề chung về DNV&N trong nền kinh tế thị trường

1.2.1.1 Khái niệm,đặc điểm và phân loại DNV&N

a.Khái niệm chung:

DNV&N là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân kinh doanh

vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn

nhất định tính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thuđược trong từng thời kì theo quy định của từng quốc gia

Khái niệm DNV&N ở Việt Nam “là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư

cách pháp nhân, không phân biệt thành phần kinh tế, có quy mô về vốn hoặc laođộng thoả mãn các quy định của Chính phủ đối với từng ngành nghề tương ứng vớitừng thời phát triển của nền kinh tế”

Theo quy định tại Điều 3 Định nghĩa DNV&N của Nghị định số

90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 có nêu :“DNV&N là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc

Trang 9

lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10

tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”

b.Phân loại

Căn cứ vào qui mô DNV&N có thể chia thành ba loại:

+ Doanh nghiệp siêu nhỏ: Theo tiêu chí của nhóm ngân hàng thế giới thìdoanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người

+ Doanh nghiệp nhỏ: nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50người

+ Doanh nghiệp vừa:có từ 50 đến 300 lao động.Tùy theo mỗi nước,có nhữngtiêu chí riêng để xác định DNV&N ở nước mình

Tuy nhiên ở Việt Nam, không phân biệt lĩnh vực kinh doanh, các doanhnghiệp có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao động trung bình hàngnăm dưới 300 người được coi là DNV&N (không có tiêu chí xác định cụ thể đâu làdoanh nghiệp siêu nhỏ, đâu là nhỏ, và đâu là vừa)

c.Đặc điểm

*Trên thị trường DNV&N có số lượng lớn

Theo luật DN quy định, việc thành lập yêu cầu số vốn nhỏ.Vì vậy số lượngDNV&N chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế Với ưu điểm là vốn điều lệ thấp,điều này đã tạo một động lực to lớn cho các tổ chức kinh tế tư nhân đứng ra thànhlập doanh nghiệp của mình

Mặt khác, từ trước đó đã tồn tại không ít các doanh nghiệp nhà nước có quy

mô vốn nhỏ, lao động ít như các hợp tác xã, các doanh nghiệp nhà nước mới thànhlập hoặc được tách ra…Với đặc điểm là vốn pháp định nhỏ như vậy, số lượng cácDNV&N đã chiếm phần lớn về số lượng trong nền kinh tế và có tốc độ gia tăngngày càng cao

*Với quy mô vốn nhỏ mà lao động ít

Tuy tăng nhanh về số lượng nhưng nếu xét về quy mô vốn của các DNV&Ntrong những năm gần đây thì lại rất thấp,chỉ dừng ở mức trung bình trên 2 tỷđồng/doanh nghiệp Theo quy định của Luật doanh nghiệp, DNV&N là các doanhnghiệp có số vốn pháp định không vượt quá 10 tỷ, có số lao động không vượt quá

300 lao động

Vì vậy số vốn nhỏ như vậy, các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc

mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.Và khó khăn hơn cả làtrong việc cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn sản xuất cùng một loại sản phẩm

Trang 10

trong thị trường Nhất là khi nền kinh tế có những biến động lớn, ví dụ biến động vềđầu vào, DNV&N khó có khả năng chống đỡ và dễ dẫn đến bị phá sản Mặt khác,với đặc điểm số lao động ít, các DNV&N sẽ gặp nhiều cản trở trong quá trình sảnxuất kinh doanh và mở rộng sản xuất kinh doanh

Trong tình trạng ít lao động như vậy , DNV&N sẽ khó tìm được các lao độngvới tay nghề cao,có kinh nghiệm lâu năm dẫn đến khó mở các lớp đào tạo nâng caotay nghề nghiệp vụ cho những người có trình độ tay nghề còn yếu kém

Một vấn đề nữa là đa số người lao động, nhất là người lao động có tay nghềnghiệp vụ, trình độ chuyên môn giỏi, khi tìm kiếm việc làm đều mong muốn và có

xu hướng muốn vào các doanh nghiệp lớn trên thị trường để có thu nhập cao hơn,cóthể thể hiện năng lực của mình nhiều hơn.Vấn đề này khiến các DNV&N gặp khókhăn trong quá trình tuyển dụng lao động và phải đầu tư nhiều hơn cho công tácmarketing tuyển dụng lao động

*Hầu hết các DNV&N là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Do đặc điểm về quy mô vốn và số lượng lao động nhỏ nên DNV&N chủ yếu

là các doanh nghiệp tư nhân thường chiếm khoảng 80% đã tạo khó khăn cho việcquản lý các DNV&N Nhất là đối với các doanh nghiệp tư nhân hoạt động linh hoạtnhưng kém hiệu quả

Các doanh nghiệp tư nhân khi bắt đầu thành lập và trong quá trình hoạtđộngchưa có một tầm nhìn chiến lược hoạt động cho doanh nghiệp của mình.Trongkhi vận hành sản xuất kinh doanh, khi xảy ra biến cố thì không có kinh nghiệmchống đỡ hoặc không đủ khả năng chống đỡ va dẫn đến thua lỗ hoặc nặng hơn làphá sản Việc quản lý các doanh nghiệp tư nhân cũng rất khó khăn Hơn nữa nhiềudoanh nghiệp còn cố tình làm ăn phi pháp, cố tình trốn thuế và không thực hiệnđúng chế độ kế toán thống kê Để quản lý tốt các DNV&N, đòi hỏi một sự theo dõisát sao và thực sự có hiệu quả Như vậy có thể mới kiểm soát được hoạt động củaloại hình doanh nghiệp này

* Kinh nghiệm hoạt động còn chưa nhiều

Không kể các doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ đã thành lập lâu đời và hoạtđộng ổn định, đa số các DNV&N đều là các doanh nghiệp tư nhân được thành lậptrong hoặc sau thời kỳ mở cửa nền kinh tế hoặc là các doanh nghiệp Nhà nước vừađược tách ra Với những DNV&N thành lập khá lâu mà hoạt động sản xuất kinhdoanh tốt, có hiệu quả, họ sẽ dần dần mở rộng nguồn vốn của mình và đứng vàohàng ngũ những doanh nghiệp lớn Như vậy, kinh nghiệm hoạt động của loại hình

Trang 11

doanh nghiệp này chưa nhiều Với số vốn ít và bề dày kinh nghiệm hạn chế, cácDNV&N gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, chống đỡvới những thay đổi trong quá trình hoạt động của mình

* Trình độ công nghệ và phương pháp quản lý lạc hậu

Với đặc điểm nền kinh tế chưa thực sự phát triển đây là vấn đề nổi cộm đốivới tổng thể các doanh nghiệp của nước ta.Hiện nay, một thực trạng phổ biến trongcác DNV&N là hệ thống máy móc, thiết bị lạc hậu, khoảng 10-15 năm trong ngànhđiện tử, 15 năm đối với ngành cơ khí, 70% công nghệ ngành dệt may đã sử dụngđược 15 năm Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị trung bình hàng năm của chỉ ở mức 5-7%

so với 20% của thế giới Công nghệ lạc hậu làm tăng chi phí tiêu hao 1,5 lần so vớiđịnh mức tiêu chuẩn của thế giới Thực trạng này dẫn đến tăng chi phí đầu vào, caohơn từ 30 - 50% so với các nước ASEAN, đồng thời dẫn đến chất lượng sản phẩmgiảm, giá thành cao và năng suất thấp

Trong tiếp cận thông tin và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh lại còn yếu kém.Một phần là do chất lượng nguồn nhân lực thấp, hạn chế về trình độ chuyên môn,tin học, ngoại ngữ của giám đốc và đội ngũ quản lý doanh nghiệp, một phần là dođầu tư cho hệ thống thông tin thấp, chưa có phương tiện kỹ thuật nên chưa theo kịpdiễn biến của thị trường

Vì thế, nhiều quyết định kinh doanh được đưa ra chỉ dựa vào kinh nghiệm vàphán đoán cảm tính, đây là điểm yếu nhất các DNV&N của trước áp lực cạnh tranhquốc tế

* Các DNV&N hoạt động linh hoạt, năng động

Trong nền kinh tế, các DNV&N là những thành phần hoạt động linh hoạt nhất.Với mỗi thay đổi nhỏ nhất của nền kinh tế, các DNV&N đều chịu tác động và phảiđiều chỉnh hoạt động của mình để phù hợp với mỗi biến đổi đó Với tính năng độngnhư vậy, các DNV&N đã đạt được hiệu quả trong hoạt động của mình và đóng gópkhông nhỏ vào nền kinh tế Sự đa dạng về loại hình hoạt động, phương thức quản

lý, sản phẩm của các DNV&N giúp cho họ đứng vững được trong thị trường

Bên cạnh những đặc điểm trên DNV&N còn có những hạn chế như:

Vị thế trên thị trường thấp, tiềm lực tài chính nhỏ nên khả năng cạnh tranhthấp.Ít có khả năng huy động vốn để đầu tư đổi mới công nghệ giá trị cao,điều kiện

để đào tạo nhân công, đầu tư cho nghiên cứu, thiết kế ải tiến công nghệ, đổi mới sảnphẩm còn kém

Trang 12

Trong nhiều trường hợp thường bị động vì phụ thuộc vào hướng phát triển củacác doanh nghiệp lớn và tồn tại như một bộ phận của doanh nghiệp lớn

1.2.1.2 Vị trí và vai trò của DNV&N trong nền kinh tế thị trường

Sự vận động của nền kinh tế nhất thiết phải có một yếu tố quan trọng đó là cácdoanh nghiệp, không có hoạt động của nó thì nền kinh tế không thể lưu thông vàhoạt động một cách tốt đệp và hiệu quả được

Có vai trò lớn trong sự tăng trưởng kinh tế của rất nhiều quốc gia, kể cả cácnước phát triển và đang phát triển Trong bối cảnh đang chuyển đổi sang nền kinh

tế thị trường và hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới thì DNV&N đã và đangđóng vai trò quan trọng về nhiều mặt: Đảm bảo nền tảng ổn định và bền vững củanền kinh tế; huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển; đáp ứng một cáchlinh hoạt nhu cầu của các ngành kinh tế quốc dân; cải thiện thu nhập và giải quyếtviệc làm cho một bộ phận đông đảo dân cư; góp phần xoá đói, giảm nghèo, nângcao mức sống và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng đất nước

Các hoạt động của các DNV&N đã và đang góp một phần không nhỏ vào sựphát triển của nền kinh tế quốc dân Các doanh nghiệp này đã tạo ra một mạng lướiliên kết giữa các thành phần kinh tế với nhau, thúc đẩy và lưu thông các nguồn lựcsẵn có trong xã hội như: vốn, nhân lực

Rõ ràng sự thành công của những cải cách trước đây trong thập niên 80 phầnlớn nhờ vào sự đáp ứng mạnh mẽ từ phía cung của các hộ gia đình nông nghiệp:việc bãi bỏ hình thức nông nghiệp tập thể đã nhanh chóng biến từ chỗ thiếu lươngthực trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới Trong những năm gầnđây, các DNV&N một lần nữa lại trở thành trung tâm của những tranh luận về pháttriển Lần này, sự thảo luận chủ yếu liên quan đến vấn đề tạo việc làm

Vai trò của các DNV&N gần đây cũng đã được nhấn mạnh trong cộng đồngcác nhà tài trợ Cùng với vai trò tạo việc làm của mình, có thể nói các DNV&Ncũng là nhân tố chính trong việc giảm nghèo, đặc biệt là tại khu vực nông thôn Vớiviệc giảm nghèo là mục tiêu phát triển chính yếu hiện được ưu tiên của cộng đồngcác nhà tài trợ, đang nhận được nhiều sự khích lệ trong chính sách thúc đẩy sự pháttriển DNVVN của mình

Các DN trong quá trình hoạt động và sản xuất của mình đã cung cấp hàng hoá,tạo ra sự lưu thông hàng hoá trong thị trường Tuy nhiên để đảm bảo hoạt động sảnxuất kinh doanh một cách có hiệu quả thì các doanh nghiệp phải có một chiến lượcphát triển cụ thể trong quá trình kinh doanh của mình Ở các DNV&N chủ yếu tập

Trang 13

trung vào các ngành thương mại, sửa chữa thủ công nghiệp (chiếm 40,6% DN của

cả nước), tiếp đến là các ngành chế biến (20,9%), xây dựng (13,2%) và các ngànhcòn lại như kinh doanh bất động sản, tư vấn, khách sạn, nhà hàng (25,3%)

Có nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, nếu phân loại theo hình thức sởhữu thì có doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh,doanh nghiệp cổ phần… Nếu phân loại theo quy mô nguồn vốn thì có doanh nghiệplớn và DNV&N Trong đề tài này, tôi muốn đề cập đến DNV&N vì đây là một bộphận chiếm tỷ trọng lớn trong hệ thống các daonh nghiệp và đây cũng là nhữngdoanh nghiệp đóng góp một vai trò không nhỏ trong nền kinh tế Nếu chúng ta cómột định hướng đúng đắn đối với các DNV&N thì sẽ có một sự thúc đẩy phát triểnkinh tế to lớn, từ đó làm điểm tựa vững chắc để đưa đất nước phát triển

Hiện nay, các DNV&N tập trung chủ yếu ở thành thị ,chủ yếu ở các thành phốlớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và các tỉnh thuộckhu vức đồng bằng bắc bộ

1.2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của DNV&N

Thứ nhất là trình độ phát triển kinh tế xã hội.Đây là nhân tố quan trọng ảnhhưởng trực tiếp đến DNV&N.Xã hội ngày càng phát triển cùng với sự tăng trưởngkinh tế ngày càng mạnh mẽ sẽ làm nền tảng cho các doanh nghiệp phát triển vượtbậc.Làm cho doanh nghiệp có nhiều cơ hội hội nhập với thị trường nước ngoàimang lại nguồn thu rất lớn và học hỏi được những kinh nghiệm quý báu trong làmviệc với các nước bạn để áp dụng cho nước mình làm cho ngày càng phát triển hơn.Thứ hai, chính sách và cơ chế quản lí.Nếu chính sách càng thông thoáng thìlàm cho doanh nghiệp dễ làm ăn trong khuôn khổ cho phép.Với cơ chế quản lí thíchhợp sẽ tạo tiền đề cho doanh nghiệp phát triển nhanh chóng,

Thứ ba.Đội ngũ các nhà sáng lập và quản lý doanh nghiệp.Những người sánglập là những người quyết định đến định hướng làm việc của doanh nghiêp như làmcái gi,làm như thế nào.Cong người quản lí lại là người quyết định đến sự phát triển

và thành công.Vì một người quản lí giỏi sẽ có những quyết định thật sang suốt vàtìm ra những giải pháp hữu hiệu nhất

Thứ tư,Sự phát triển và khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học và côngnghệ.Đây là điều kiện cần cho doanh nghiệp nếu muốn được phát triển,sản phẩmlàm ra đang tiêu thụ tốt trên thị trường

Thứ năm,Tình hình thị trường

Trang 14

Khi tình hình thị trường tốt nghĩa là doanh nghiệp có thể phát triển theo chiềuhướng thuận lợi, nhưng khi thị trương chững lại thì doanh nghiệp sẽ bị giảm lợinhuận làm cho doanh nghiệp có thể có nguy cơ phá sản.Vì thế yếu tố thị trường làrất quan trọng.Các doanh nghiệp cần phải có đội ngũ cán bộ co kinh nghiệm đểphân tích thị trường để đưa ra những quyết định đúng đắn làm cho doanh nghiệpngày càng phát triển

1.2.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong phát triển DNV&N

- Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn để tránh tình

trạng sử dụng vốn sai mục đích.Khi các doanh nghiệp đi xin vay tín dụng của cácngân hàng thì đầu tiên doanh nghiệp cần phải lập dự án có tính khả thi cao thì mới

có thể được chấp nhận và đòi hỏi thủ tục pháp lí rất nghiêm ngặt

- Tín dụng ngân hàng góp phần bảo đảm cho hoạt động của doanh nghiệpđược liên tục thuận lợi.Khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong kinh doanh như thiếuvốn để sản xuất thì ngân hàng có thể cho vay với một mức lãi suất hợp lí để có thểsản xuất kịp tiến độ

- Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của DNV&N.

- Tín dụng ngân hàng giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro

- Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho DNV&N

1.3 Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thượng mại

1.3.1 Khái niệm chất lượng tín dụng

Trong hoạt động ngân hàng thương mại, hoạt động tín dụng là một nghiệp vụmang lại phần lớn doanh lợi nhưng cũng là nơi ẩn chứa nhiều rủi ro có khả năngxảy ra với tỷ lệ cao Trên thực tế nhiều nhân viên ngân hàng quan niệm cho vay cótài sản cầm cố thế chấp, nhưng không quá tỉ lệ qui định là an toàn nhất Thực tế lạicho thấy quan niệm này hết sức sai lầm bởi vì kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh và khả năng tài chính của khách hàng là vấn đề quan trọng nhất để đảm bảokhả năng trả nợ của khách và khả năng thu hồi vốn gốc và lãi của ngân hàng

Đối với các ngân hàng thương mại, cái được biểu hiện ra bên ngoài vừa cụ thể,vừa trừu tượng của hoạt động tín dụng chính là chất lượng tín dụng Chỉ khi chấtlượng tín dụng tốt tức là ngân hàng có nhiều khách hàng, uy tín ngân hàng đượcnâng cao tạo điều kiện thúc đẩy cho ngân hàng phát triển

Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu tín dụng của khách hàng phù hợpvới sự phát triển kinh tế xã hội đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, hay

Trang 15

Thứ nhất,chất lượng tín dụng xét từ giác độ khách hàng

Ngân hàng và khách hàng là hai chủ thể có mối quan hệ lâu dài với sự am hiểukhách hàng sẽ làm cho hiểu rõ nhu cầu tín dụng của ngân hàng, đảm bảo thoả mãnnhu cầu hợp lý về vốn cho họ Trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay, chất lượng làyêu cầu hàng đầu, vì vậy chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu hợp lý củakhách hàng, lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản không phiền hà, thu hút được kháchhàng nhưng vẫn đảm bảo đúng nguyên tắc và quy định của tín dụng phù hợp với tốc

độ phát triển của xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, góp phầnlàm lành mạnh tài chính khách hàng

Thư hai,Chất lượng hoạt động tín dụng xét từ giác độ ngân hàng thương mạiChất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phùhợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực của bản thân ngân hàng và phải đảmbảo được sự cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và cólãi Chất lượng hoạt động tín dụng phải thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận hợp lý và giatăng, dư nợ ngày càng tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo đúng quy định và hợp

lý, đảm bảo cơ cấu nguồn vốn giữa ngắn hạn,trung và dài hạn trong nền kinh tế Đốivới một ngân hàng nhỏ thì nên cấp tín dụng với mức độ và trong phạm vi nhất định

để thoả mãn một cách tốt nhất khách hàng của mình

Thứ ba, Chất lượng tín dụng xét từ giác độ nền kinh tế

Tín dụng ngân hàng phản ánh sự năng động của nền kinh tế khi chuyển sang

cơ chế thị trường Tín dụng phải huy động mức tối đa vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗitrong nền kinh tế xã hội để cung ứng cho các doanh nghiệp, hỗ trợ các doanh nghiệpphát triển

Chất lượng tín dụng thể hiện ở tính an toàn cao của hệ thống ngân hàng Tíndụng ngân hàng đảm bảo được chất lượng thì khả năng thanh toán chi trả cao, tránhđược rủi ro hệ thống Nâng cao chất lượng tín dụng làm cho hệ thống ngân hàng lớnmạnh, đáp ứng yêu cầu quản lí kinh tế vĩ mô, thúc đẩy nền kinh tế phát triển hòanhập với cộng đồng quốc tế

Trang 16

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng

Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp,phản ánh độ thích nghi của Ngânhàng thương mại với sự thay đổi của môi trường bên ngoài.Thể hiện sức mạnh củamột ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển Muốn đánh giáđược ngân hàng đó mạnh hay yếu thì phải thông qua đánh giá chất lượng tín dụngnhư thế nào Có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá ,mỗi cách mang một góc nhìn khác nhau

về chất lượng tín dụng.Nhưng trong chuyên để này chỉ đề cập đến 2 chỉ tiêu : Chỉtiêu mang tính định tính và chỉ tiêu mang tín định lượng

1.3.2.1 Chỉ tiêu định tính

Nếu chúng ta đến một ngân hàng nào đó,đầu tiên khi ta vào bãi gửi xe đượcnhân viên trông giữ xe tiếp đón một cách vui vẻ,nhiệt tình và gửi xe không mất phíthì ấn tượng đầu tiên của bạn về ngân hàng sẽ rất tốt đẹp

Khi vào làm việc với ngân hàng,để khách hàng không khỏi bỡ ngỡ,đỡ tốn thờigian thì đã có sơ đồ chỉ dẫn các phòng ban làm việc rõ ràng giúp cho công việc diễn

ra nhanh chóng.Điều đó làm cho bạn có ấn tượng tốt về ngân hàng

Cách bố trí sắp sếp trong phòng làm việc của ngân hàng, trang phục của nhânviên, đặc biệt là thái độ của cán bộ tín dụng ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng tíndụng của ngân hàng Nếu chất lượng tín dụng cao thì chắc chắn Ngân hàng sẽ cónhiều khách hàng mới Uy tín của ngân hàng cũng góp phần làm nên chất lượng tíndụng của Ngân hàng

Như vậy, dựa vào các chỉ tiêu định tính có thể đánh giá được phần nào chấtlượng tín dụng của các ngân hàng thương mại

1.3.2.2 Chỉ tiêu định lượng

a Chỉ tiêu tổng dư nợ và kết cấu dư nợ

Tổng dư nợ là một chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho nềnkinh tế tại một thời điểm Tổng dư nợ bao gồm dư nợ cho vay ngắn hạn, trung hạn,dài hạn Nếu tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động của ngân hàng yếu kém, không có

Trang 17

Nó phản ánh quy mô tín dụng của ngân hàng, sự uy tín của Ngân hàng đối vớidoanh nghiệp Tổng dư nợ của ngân hàng khi so sánh với thị phần tín dụng củangân hàng trên địa bàn sẽ cho chúng ta biết được dư nợ của ngân hàng là cao haythấp.

Kết cấu dư nợ phản ánh tỷ trọng của các loại dư nợ trong tổng dư nợ.Phân tíchkết cấu dư nợ sẽ giúp ngân hàng biết được ngân hàng cần đẩy mạnh cho vay theoloại hình nào để cân đối với thực lực của ngân hàng Kết cấu dư nợ khi so với kếtcấu nguồn huy động sẽ cho biết rủi ro của loại hình cho vay nào là nhiều nhất.b.Chỉ tiêu tỉ lệ nợ xấu

Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa nợ xấu và tổng dư nợ của NHTM ở mộtthời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm Chỉ tiêu này đượctính theo công thức dưới đây:

Tỷ lệ nợ xấu

Nếu chỉ dựa vào chỉ tiêu nợ quá hạn thì chưa đánh giá chính xác về chất lượngtín dụng của các NH Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước “ V/v Ban hành quy định về phân loại nợ,trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động NH củaTCTD” đã đánh giá chính xác hơn chất lượng tín dụng của các TCTD Theo Quyếtđịnh 493 thì nợ xấu là nợ thuộc nhóm 3,4,5 theo cách phân loại nợ dưới đây

Chỉ tiêu này phản ánh nợ xấu của một ngân hàng, tỷ lệ này càng thấp càng tốt.Thực tế, rủi ro trong kinh doanh là không tránh khỏi, nên ngân hàng thường chấpnhận một tỷ lệ nhất định được coi là giới hạn an toàn Mức giới hạn này ở mỗi nước

là khác nhau, riêng ở hiện nay chấp nhận tỷ lệ là 5%

Trang 18

đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu).

Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngàyđến 180 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại có thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợđiều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2; Các khoản nợ được miễnhoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tíndụng

Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợđược cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai

Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm Các khoản nợ quá hạn trên

360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trởlên theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạntrả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Cáckhoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đãquá hạn; Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý

Các khoản nợ nếu có đủ cơ sở để đánh giá là khả năng trả nợ của của kháchhàng bị suy giảm thì phải phải tính một cách chính xác, minh bạch để phân loại nợvào các nhóm nợ phù hợp với mức độ rủi ro, cụ thể:

Nhóm 2: Các khoản nợ tổn thất tối đa 5% giá trị nợ gốc

Nhóm 3: Các khoản nợ tổn thất từ trên 5%-20 % giá trị nợ gốc

Nhóm 4: Các khoản nợ tổn thất từ trên 20% - 50% giá trị nợ gốc

Nhóm 5: Các khoản nợ tổn thất trên 50% giá trị nợ gốc

Việc phân loại nợ theo Quyết định 493và quyết định 18 của Ngân hàng Nhànước vừa dựa vào tiêu chí thời gian quá hạn của khoản vay, vừa dựa vào tiêu chí rủi

ro của khoản vay đã làm cho các NH phải đánh giá lại thực sự các khoản nợ đã chokhách hàng vay và có thể đánh giá chính xác hơn về chất lượng tín dụng của mình

Trang 19

c Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng

Đây là chỉ tiêu thường được các ngân hàng thương mại tính toán hàng năm đểđánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng trong việcđáp ứng nhu cầu của khách hàng

Vòng quay vốn tín dụng = Dư nợ bình quânDoanh số thu nợ

Đây là chỉ tiêu phản ánh số vòng chu chuyển của vốn vay (thường là 1 năm).Chỉ tiêu này càng tăng thì tính tổ chức, quản lý tín dụng càng tốt, chất lượng chovay càng cao Tuy nhiên, chỉ tiêu này chỉ phản ánh một cách tương đối, vì nếu mộtngân hàng thương mại này cho vay các doanh nghiệp sản xuất chiếm tỷ trọng lớn dư

nợ, thì chỉ tiêu này thấp hơn ngân hàng thương mại khác cho vay các doanh nghiệpthương mại Như vậy, không vì thế mà chất lượng cho vay của ngân hàng thươngmại này kém hơn Từ thực tế trên, để có nét tương đối chính xác về chất lượng tíndụng thì các tiêu thức tính toán phải thống nhất, vòng quay tín dụng phải tính toáncho từng loại vay, thời hạn vay và từng đối tượng vay cụ thể

d.Chỉ tiêu doanh số cho vay

Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh quy mô cấp tín dụng của ngân hàng đốivới nền kinh tế Đây là chỉ tiêu phản ánh chính xác, tuyệt đối về hoạt động cho vaytrong một thời gian dài, thấy được khả năng hoạt động tín dụng qua các năm

e.Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn

Hiệu suất sử dụng vốn = Tổng vốn huy độngTổng dư nợ

Chỉ tiêu này giúp các nhà phân tích so sánh khả năng cho vay của ngân hàngvới khả năng huy động vốn, đồng thời xác định hiệu quả của một đồng vốn huyđộng Thông thường theo cách nhìn của nhiều người, chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏngân hàng sử dụng nhiều vốn huy động và hoạt động của ngân hàng sẽ hiệu quảhơn, điều này sẽ không đúng Vậy tỷ lệ này lớn tốt hay nhỏ tốt?

Chúng ta chưa thể khẳng định được, bởi nếu tiền gửi ít hơn tiền cho vay thìngân hàng phải tìm kiếm nguồn vốn có chi phí cao hơn, còn nếu tiền gửi nhiều hơntiền cho vay thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng thừa vốn Do đó, chỉ tiêu này chỉmang tính tương đối giúp chúng ta so sánh khả năng cho vay và huy động vốn củamột ngân hàng

Trang 20

f.Chỉ tiêu thanh toán nợ do bán tài sản thanh toán cho người vay

Về nguyên tắc, nguồn trả nợ cho ngân hàng chính là tiền bán hàng (với tíndụng ngắn hạn), là khấu hao tài sản cố định của tài sản cố định được đầu tư bằngnguồn vốn vay đó, lợi nhuận sau thuế có thể từ tài sản đó hoặc tất cả hoạt động sảnxuất kinh doanh (đối với tín dụng trung và dài hạn)

Tuy vậy, có nhiều trường hợp do sử dụng vốn kém hiệu quả, sản xuất kinhdoanh thua lỗ, phá sản nên người vay phải bán tài sản thế chấp (có thể do tựnguyện hoặc bắt buộc) để trả nợ Ngân hàng Tỷ lệ này được xác định bằng cách lấy

số tiền thu nợ do bán tài sản thế chấp / tổng doanh số thu nợ 100%

g.Chỉ tiêu lãi treo

Lãi treo là lãi tính trên nợ gốc và các khoản cho vay của ngân hang nhưngchưa thu hồi được

Tổng các khoản lãi treo trên các món nợ càng thấp càng tốt Lãi treo càng caophản ánh rủi ro mất vốn của ngân hàng càng lớn, ngân hàng có khả năng mất cả vốnlẫn lãi Từ đó chất lượng tín dụng giảm và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh củangân hàng

h.Chỉ tiêu lợi nhuận

Lợi nhuận = Lợi nhuận từ hoạt động tín dụngTổng dư nợ tín dụng

Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại chiếm từ 85% tổng lợi nhuận Nếu lợi nhuận của một ngân hàng nào đó tăng lên hàng năm,điều đó chứng tỏ chất lượng tín dụng được nâng lên Chỉ tiêu này phản ánh khảnăng sinh lời của tín dụng Lợi nhuận ở đây phản ánh chênh lệch giữa chi phí đầuvào (lãi suất huy động) và thu lãi đầu ra Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lờicủa vốn tín dụng , một khoản tín dụng ngắn hạn hay dài hạn không thể xem là cóchất lượng cao nếu nó không đem lại lợi nhuận cho ngân hàng Chỉ tiêu này caochứng tỏ các khoản cho vay sinh lời và ngược lại chỉ tiêu này thấp chứng tỏ cáckhoản vay không sinh lời, đồng nghĩa với chất lượng tín dụng chưa tốt Đánh giáchất lượng khoản tín dụng trên cơ sở căn cứ vào lợi nhuận thu được của các ngânhàng thương mại, đây cũng là chỉ tiêu tương đối vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tốnhư: chính sách lãi suất, chính sách khách hàng v.v Thông thường trong hoạt động,nếu chất lượng tín dụng ngân hàng tốt, tỷ lệ nợ xấu thấp thì lợi nhuận từ hoạt độngtín dụng sẽ cao hơn khi cùng một mức dư nợ so với các ngân hàng khác

70%-Trên đây là các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chất lượng tín dụng,

Trang 21

tuy nhiên để đánh giá một cách chính xác cần xem xét các nhân tố ảnh hưởngtới chất lượng tín dụng

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng đối với DNV&N

Chỉ tiêu để đánh giá tình hình hoạt động tín dụng của một ngân hàng chính làchất lượng tín dụng, có ý nghĩa lớn đến sự tồn tại và phát triển.Được dùng để thểhiện ở sự thoả mãn nhu cầu vay vốn của khách hàng, phù hợp với sự phát triển kinhtế-xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngânhàng.Với mong muốn thực hiện được mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận dựa trên chứcnăng nhiệm vụ, cụ thể ở đây là hoạt động tín dụng, mỗi ngân hàng phải làm sao đểnâng cao được chất lượng tín dụng

Nâng cao chất lượng tín dụng đã, đang, và sẽ là cái đích mà tất cả các ngânhàng thương mại hướng tới.Muốn thực hiện được cần nghiên cứu tác động của cácnhân tố ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng, đó là 3 nhóm nhân tố sau đây:

1.3.3.1 Nhân tố khách quan

Việc khách hàng vay vốn tín dụng là nhằm để đầu tư cho các hoạt động sảnxuất kinh doanh nên chất lượng tín dụng được đánh giá theo tính chất phù hợp vớimục đích sử dụng của khách hàng với mức lãi suất và kỳ hạn hợp lý

Khách hàng là người lập phương án, dự án xin vay và sau khi được ngân hàngchấp nhận, khách hàng là người trực tiếp sử dụng vốn vay để kinh doanh.Và cũng làvừa là đại diện cho bên cung ứng vốn tín dụng, vừa là đại diện cho bên cầu vốn tíndụng

Xét trên tư cách là người cung ứng vốn tín dụng, đều kì vọng nhận được từngân hàng một khoản lãi vay từ tiền gửi hay các dịch vụ thanh toán tiện lợi, do đó

sự tín nhiệm đối với khách hàng sẽ tăng thêm tính ổn định của nguồn vốn huyđộng.Xét trên khía cạnh là người cho vay lại mong muốn được đáp ứng đầy đủ vốnphù hợp với yêu cầu kinh doanh có thời hạn vay và lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giảnnhanh chóng.Vì vậy nhân tố khách quan bao gồm:

* Yếu tố con người

Nhân tố này bao gồm đạo đức của khách hàng, mục tiêu kinh doanh, nhiệm

vụ, động cơ của người vay Tất cả những thông tin sai trái về người vay chính làmột dấu hiệu nguy hiểm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, ảnh hưởng đến hiệuquả của người vay Khi các doanh nghiệp vay vốn Ngân hàng mà không cung cấpcác số liệu trung thực.Vi phạm chế độ kế toán thống kê đã được ban hành thì sẽ gâykhó khăn cho ngân hàng trong việc nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh.Cũng

Trang 22

như việc quản lý vốn vay của khách hàng để qua đó có thể đưa ra quyết định chovay đúng đắn

Nhưng yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sử dụng vốn

có thực sự hiệu quả hay không lại chính là năng lực của khách hàng Khi năng lựccủa khách hàng thể hiện sự yếu kém,ở việc không dự đoán được những biến độnglên xuống của nhu cầu thị trường,không hiểu biết nhiều trong việc sản xuất, phânphối và khuyếch trương sản phẩm …thì sẽ dễ dàng bị gục ngã trong cạnh tranh Dẫnđến ảnh hưởng khả năng trả nợ ngân hàng, làm cho chất lượng tín dụng của ngânhàng bị ảnh hưởng

*Tài sản đảm bảo

Khi khách hàng chứng tỏ được khả năng tài chính và khả năng trả nợ thì ngânhàng sẽ cho vay.Ngân hàng không dám mạo hiểm cho vay đối với khách hàng nào

mà uy tín bị giảm sút, khả năng tài chính đang có vấn đề

Nên tài sản đảm bảo là một trong những tiêu chuẩn để cấp tín dụng Giá trị tàisản ảnh hưởng trực tiếp đến số tiền mà khách hàng được vay, nên ngân hàng căn cứvào giá trị tài sản đảm bảo để xác định số tiền cho vay tối đa chỉ được 70% giá trịtài sản đảm bảo (nếu như không có quy định khác)

*Rủi ro trong kinh doanh

Rủi ro chính là biến cố xảy ra ngoài mong muốn,không thể đoán trước đượcnên để lại hậu quả không tốt.Rủi ro trong kinh doanh là yếu tố không thể tránh khỏiđược.Có thể nói rủi ro như bạn đồng hành cùng với kinh doanh.Nên rủi ro là nhân

tố khách quan ngoài dự đoán của doanh nghiệp

Rủi ro thường xảy ra ở nhiều hình thức khác nhau như do thiên tai, hoả hoạn,

do năng lực sản xuất kinh doanh yếu kém, là nạn nhân của sự thay đổi chính sáchcủa nhà nước, do bị lừa đảo, trộm cắp…Vì vậy doanh nghiệp phải có phương ánlàm giảm thiểu rủi ro,nếu không sẽ làm ảnh hưởng đến việc trả nợ cho ngân hàng

*Tính khả thi của dự án vay vốn

Một dự án được đưa ra có khả thi khi cho vay hay không chính là yếu tố đểcán bộ sẽ dựa vào đó để quyết định dẫn đến quy mô tín dụng sẽ được mở rộng Đâycòn là yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng món vay, ảnh hưởng tới chất lượng tín dụngcủa ngân hàng

Mặt khác, nếu sử dụng vốn vay sai mục đích hoặc sử dụng vốn vay ngắn hạncho đầu tư sản xuất cố định hoặc kinh doanh bất động sản thì sẽ không thu hồi kịpvốn để hoàn trả đúng hạn, ảnh hưởng nhiều đến hoạt động tín dụng

Trang 23

*Qua trình đổi mới chậm

Theo một cơ chế,doanh nghiệp nhà nước thường dựa vào nhà nước mà vốn tự

có của họ ít nhưng lại được giao những nhiệm vụ sản xuất kinh doanh lớn.Mặt khác

do đã có thói quen với kiểu làm ăn bao cấp nên khi chuyển sang cơ chế thị trường tựhạch toán kinh doanh, họ vay vốn ngân hàng để kinh doanh nhưng khi thua lỗ lạitrông chờ vào sự giúp đỡ của nhà nước như trước đây Sẽ làm ảnh hưởng đến chấtlượng tín dụng, đặc biệt là chất lượng tín dụng trung dài hạn

Các điều khoản của chính sách tín dụng được xây dựng dựa trên nhiều yếu tốkhác nhau như các điều kiện kinh tế, chính sách tiền tệ và tài chính của ngân hàngNhà nước, khả năng về vốn của ngân hàng và nhu cầu tín dụng của khách hàng.Nếu một trong các yếu tố đó thay đổi thì chính sách tín dụng cũng thay đổi theo.Đối với mỗi khách hàng, ngân hàng có thể đưa ra các chính sách khác nhau cho phùhợp

Trong nền kinh tế thị trường thì chính sách tín dụng chứa đựng nhiều rủi ro.Khi ngân hàng gặp những rủi ro thì có thể đi đến phá sản hoặc bị thiệt hại lớn, mất

uy tín với khách hàng và cơ quan quản lý Nhà nước

Các nhà hoạch định luôn coi trọng việc đảm bảo mục tiêu phải đạt được khihoạch định chính sách tín dụng, có thể nói rằng: Chất lượng tín dụng có tốt haykhông còn phụ thuộc vào việc xây dựng một chính sách tín dụng có đúng đắn, phùhợp không?

*Công tác tổ chức ngân hàng

Trang 24

Tổ chức của ngân hàng cần cụ thể hoá và sắp xếp có khoa học, có tính linhhoạt trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc đã quy định Để tạo điều kiện cho việcquản lý có hiệu quả các nguồn vốn tín dụng thì cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữacác phòng ban, có sự thống nhất đoàn kết từ trên xuống, từ ban lãnh đạo đến cán bộcông nhân viên Điều đó có ý nghĩa là công tác tổ chức ngân hàng được thực hiệntốt chính là cơ sở tiến hành các nghiệp vụ tín dụng lành mạnh Hơn nữa thực hiệntốt công tác này,đã làm cho guồng máy của mình hoạt động một cách uyển chuyểnlinh hoạt Qua đó sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịp thời các yêu cầu của khách hàng,quản lý có hiệu quả các khoản vốn tín dụng, phát hiện và giải quyết kịp thời cáckhoản tín dụng có vấn đề, từ đó nâng cao chất lượng tín dụng.Chính vì vậy, trongquá trình hoạt động ngân hàng nên luôn chú trọng công tác này để ngày càng pháttriển và hoàn thiện hơn

*Quy trình tín dụng

Quy trình tín dụng là tập hợp những nội dung, nghiệp vụ cơ bản, các bước tiếnhành trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng Bao gồmcác bước bắt đầu từ khâu chuẩn bị cho vay, phát tiền vay, kiểm tra trong quá trìnhcho vay cho đến khi thu hồi được nợ

Trong đó bước chuẩn bị cho vay là rất quan trọng.Nó bao gồm 3 giai đoạn:khai thác,tìm kiếm khách hàng; hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng, thànhlập hồ sơ vay; phân tích thẩm định khách hàng,phương án, dự án vay vốn

Chất lượng tín dụng tuỳ thuộc nhiều vào chất lượng công tác thẩm định và quyđịnh về điều kiện, thủ tục cho vay của từng ngân hàng thương mại Kiểm tra quátrình sử dụng vốn vay giúp cho ngân hàng nắm được diễn biến của khoản tín dụng

đã cung cấp cho khách hàng để có những hành động điều chỉnh can thiệp khi cầnthiết, sớm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra Việc lựa chọn và áp dụng có hiệu quả cáchình thức kiểm tra sẽ thiết lập được một hệ thống phòng ngừa hữu hiệu, giảm rủi rotín dụng, nói cách khác sẽ nâng cao chất lượng tín dụng

Thu hồi và giải quyết nợ là khâu quyết định đến chất lượng tín dụng Sự nhạybén của ngân hàng trong việc kịp thời phát hiện những biểu hiện bất lợi

xảy ra đối với khách hàng cũng như những biện pháp xử lý kịp thời, tư vấncho khách hàng sẽ giảm thiểu được những khoản nợ quá hạn và điều đó sẽ có tácdụng tích cực đối với hoạt động tín dụng

Mặt khác công tác thu thập thông tin là rất quan trọng trong quy trình tíndụng.Thông tin tín dụng càng nhanh, càng chính xác và toàn diện thì khả năng

Trang 25

phòng chống rủi ro tín dụng càng tốt Có thể thu thập được từ rất nhiều nguồn như

từ trung tâm tín dụng của Ngân hàng Nhà nước,từ phòng thông tin tín dụng của cácngân hàng thương mại, qua báo chí, các tổ chức nghề nghiệp, qua việc cán bộ tíndụng trực tiếp thu thập tại cơ sở sản xuất kinh doanh của khách hàng, qua báo cáotài chính của khách hàng

Quy trình tín dụng của ngân hàng thương mại không mang tính cứng nhắc.Đối với mỗi khách hàng khác nhau, ngân hàng có thể chủ động, linh hoạt,thực hiệncác bước trong quy trình tín dụng cho phù hợp

*Chất lượng đào tạo cán bộ ngân hàng

Đây chính là "cơ sở vật chất" để thực hiện những kế hoạch kinh doanh trong

cơ chế thị trường thường xuyên thay đổi và có nhiều biến động như hiện nay.Nêntrong quá trình tuyển chọn cán bộ ngân hàng cần phải coi trọng những người có tưcách đạo đức tốt, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, năng động sáng tạo Mặt khác cầnphải thường xuyên tiến hành đào tạo và đào tạo lại cán bộ để nâng cao chất lượngcán bộ, đảm bảo quá trình thực thi nhiệm vụ được nhanh chóng, chính xác, linh hoạttrong xử lý những sai sót có thể xẩy ra

Khi ngân hàng đã có đội ngũ cán bộ được đào tạo với chất lượng, trình độchuyên môn giỏi thì việc quản lý thực hiện các nghiệp vụ tín dụng nói riêng và cácnghiệp vụ nói chung sẽ trở nên quy củ, có hệ thống và đạt hiệu quả cao hơn.Hơnnữa lại còn giúp cho tránh được các rủi ro có thể xẩy ra

Bên cạnh đó cán bộ tín dụng cần có sự hiểu biết rộng về pháp luật, môi trưòngkinh tế xã hội, đường lối phát triển của đất nước, sự thay đổi của thị trường…dựđoán trước được những biến động có thể xẩy ra từ đó tư vấn lại cho khách hàng xâydựng lại phương án kinh doanh cho phù hợp

*Tình hình huy động vốn

Tình hình huy động vốn ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.Vốn huy độngngắn hạn là nguồn chủ yếu để cho vay ngắn hạn, vốn huy động trung và dài hạn lànguồn chủ yếu để cho vay trung dài hạn Vốn huy động càng lớn, ngân hàng thươngmại càng có khả năng cho vay, mở rộng hoạt động tín dụng Nếu ở ngân hàngkhông có sự phù hợp về kỳ hạn giữa nguồn huy động và cho vay mà không dự kiếndược nguồn bù đắp thì rủi ro thanh khoản sẽ xảy ra

*Thanh tra,kiểm tra,kiểm soát

Trang 26

Khi ngân hàng muốn mở rộng quy mô hoạt động tín dụng và tăng cường chovay mà không tính đến rủi ro, bất trắc có thể xảy ra dẫn đến sự sụp đổ giải thể củamỗi ngân hàng

Một trong những hoạt động có mục đích tránh được những rủi ro đó là côngtác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát Công tác này không chỉ được thực hiện đối vớikhách hàng (như kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay) mà còn được thựchiện đối với bản thân ngân hàng (như quy trình thực hiện cho vay, quá trình quản

lý vốn vay, loại trừ cán bộ mất phẩm chất có hiện tượng tham ô, tham nhũng gâythất thoát tài sản làm mất uy tín của ngân hàng đối với khách hàng

Nâng cao chất lượng tín dụng cũng đồng thời là phải kịp phát hiện và ngănchặn những hành vi vi phạm pháp luật có ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.Muốn vậy, việc đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực trình độ và trách nhiệm thựchiện công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát là một vấn đề mà không được coi nhẹ

1.3.3.3 Các nhân tố khác

*Môi trường kinh tế

Nền kinh tế là một hệ thống bao gồm các hoạt động kinh tế có quan hệ biệnchứng, ràng buộc lẫn nhau nên bất kỳ một sự biến động của một hoạt động kinh tếnào đó cũng sẽ gây ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh của các lĩnh vực cònlại Hoạt động của ngân hàng thương mại có thể được coi là chiếc cầu nối giữa cáclĩnh vực khác nhau của nền kinh tế Nên sự ổn định hay mất ổn định của nền kinh tế

sẽ có tác động mạnh mẽ đến hoạt động của ngân hàng đặc biệt là hoạt động tíndụng

Các biến số kinh tế vĩ mô như lạm phát, khủng hoảng sẽ ảnh hưởng rất lớn tớichất lượng tín dụng Một nền kinh tế ổn định tỷ lệ lạm phát vừa phải sẽ tạo điềukiện cho các khoản tín dụng có chất lượng cao Tức là các doanh nghiệp hoạt độngtrong một môi trường ổn định thì khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn, từ đó mà có thểtrả vốn và lãi cho ngân hàng

Sẽ khó tránh khỏi rủi ro nếu nền kinh tế không ổn định, chu kỳ kinh tế có tácđộng không nhỏ đến hoạt động cho vay của ngân hàng Trong thời kỳ nền kinh tếthị trường bị suy thoái, sản xuất bị đình trệ, kinh doanh bị thu hẹp thì nhu cầu vốntín dụng giảm và nếu vốn tín dụng đã được thực hiện thì cũng khó có thể sử dụng cóhiệu quả hay khó có thể trả nợ đúng hạn cho ngân hàng Ngược lại, thời kỳ nền kinh

tế hưng thịnh sản xuất kinh doanh được mở rộng dẫn đến nhu cầu về vốn tăng, từ đó

Trang 27

chất lượng tín dụng được nâng lên, giảm bớt rủi ro tín dụng Như vậy, chu kỳ kinh

tế ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả của các khoản vốn tín dụng

Ngoài ra, các chính sách và sự điều tiết của các cơ quan có thẩm quyền ở mỗingành, mỗi vùng đều có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng

*Quản lí vĩ mô của nhà nước

Các chính sách của nhà nước ổn định hay không ổn định cũng tác động đếnchất lượng tín dụng Khi các chính sách này không ổn định sẽ gây khó khăn chodoanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó gây trở ngại cho ngânhàng khi thu hồi nợ và ngược lại

Hệ thống pháp luật là cơ sở để điều tiết các hoạt động trong nền kinh tế

Nếu hệ thống pháp luật không đồng bộ, hay thay đổi sẽ làm cho hoạt độngkinh doanh gặp khó khăn Ngược lại nếu nó phù hợp với thực tế khách quan thì sẽtạo một môi trường pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành thuậnlợi và đạt kết quả cao

*Môi trường xã hội – chính trị

Khách hàng và ngân hàng thực hiện quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở tín nhiệmgiữa hai bên Vì vậy sự tín nhiệm là cầu nối mỗi quan hệ giữa ngân hàng và kháchhàng Uy tín của ngân hàng trên thị trường ngày càng cao thì sẽ thu hút được lượngkhách hàng ngày càng đông Mối quan hệ xã hội thể hiện cụ thể giữa ngân hàng vàkhách hàng là nhân tố không kém phần quan trọng quyết định tới quy mô, phạm vihoạt động của mỗi ngân hàng, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng

Nhân tố chính trị cũng có ảnh hưởng khá nhiều tới hoạt động tín dụng Thậtvậy, một quốc gia không có sự biến động về chính trị hay không xảy ra chiến tranh

là điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài bởi các nhà đầu tư nước ngoàikhông chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà còn chú trọng tới an toàn của vốn đầu tư.Tình hình kinh tế chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tếđất nước Riêng đối với ngân hàng, nó có ảnh hưởng tới việc huy động, cho vay vàđầu tư vốn của ngân hàng Điều đó có ý nghĩa là nhân tố này ảnh hưởng tới chấtlượng tín dụng

*Môi trường pháp lí

Trang 28

Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động ngân hàng nói chung

và chất lượng tín dụng nói riêng

Pháp luật là bộ phận không thể thiếu được ở bất kỳ một nền kinh tế nào.Không có pháp luật hoặc các chính sách ban hành không phù hợp sẽ khiến cho nềnkinh tế gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, nếu hệ thống pháp luật ban hành khôngđầy đủ, không đồng bộ, các văn bản dưới luật còn nhiều mâu thuẫn trong khi thựchiện và chưa thật phù hợp với các ban ngành, các đơn vị có liên quan đến hoạt độngtín dụng thì có ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng

Pháp luật sẽ tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh cho mọi hoạt động sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tiến hành thuận tiện

và đạt kết quả cao Nó còn là cơ sở pháp lý để giải quyết mối quan hệ giữa cácthành phần kinh tế Các doanh nghiệp cũng như ngân hàng phải tuân thủ những quyđịnh nghiêm chỉnh của pháp luật thì hiệu quả và lợi ích sẽ được đảm bảo Môitrường pháp luật này luôn được điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện hơn để nó ngày càngphù hợp hơn với sự phát triển chung của nền kinh tế, trong đó có hệ thống ngânhàng

*Môi trường tự nhiên

Những biến động bất khả kháng xảy ra trong môi trường tự nhiên như thiên tai(hạn hán, lũ lụt, động đất…), hoả hoạn làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinhdoanh của khách hàng, đặc biệt là trong các ngành có liên quan đến nông nghiệp,thuỷ sản, hải sản.Vì vậy khi môi trường tự nhiên không thuận lợi thì doanh nghiệp

sẽ gặp khó khăn từ đó làm giảm chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại

Trang 29

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH

NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG BẮC Á

Là một trong số các ngân hàng thương mại cổ phần lớn có hoạt động kinhdoanh lành mạnh.Trụ sở chính được đặt tại Số 117 Quang Trung,Thành PhốVinh,Tỉnh Nghệ An

Từ lúc thành lập đến nay ngân hàng đã thu được những kết quả khả quan nhưchất lượng tín dụng đảm bảo và các hoạt động dịch vụ phát triển nhanh chóng Tuynhiên,Bắc Á đã gặp phải một số khó khăn nhất định, một phần do hậu quả của cuộckhủng hoảng kinh tế châu Á, với tình hình cạnh tranh với các ngân hàng trên cùngmột địa bàn ngày càng gay gắt nhưng ngân hàng đã cố gắng thay đổi với nhiều hìnhthức, nhiều sản phẩm mới làm nâng cao vị thế của ngân hàng trong thời gian quaHiện nay hệ thống Bắc Á gồm có hội sở chính,và các chi nhánh ở HàNội,Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,Thành Phố Hồ CHí Minh, và Cần THơ

Đến cuối năm 2008, toàn hệ thống Ngân hàng Bắc Á có 43 điểm giao dịchtăng thêm 10 điểm giao dịch so với năm 2007

Gồm có Hội sở chính; 10 Chi nhánh và 32 Phòng giao dịch trực thuộc Ngânhàng cũng đang trong quá trình thành lập các Chi nhánh mới tại các địa bàn KiênGiang, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Huế để tăng cường thu hút vốn và khai thác nhu cầu

sử dụng dịch vụ ngân hàng tại các địa bàn này

2.1.2 Phạm vi và nội dung hoạt động

Ngân hàng Bắc Á là ngân hàng thương mại cổ phần, hoạt động kinh doanhtiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận Khách hàng quan trọngnhất của Bắc Á là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh cá thể và phục

vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của dân cư Phạm vi hoạt động là địa bàn có trụ sởhoặc chi nhánh hoạt động như Hà Nội,Nghệ An,Quảng Bình,Huế,TP Hồ Chí

Trang 30

Minh,Cần Thơ Đây là những thành phố lớn của Việt Nam, có dân cư đông đúc,kinh tế - xã hội của vùng phát triển, tập trung đầy đủ các ngành nghề đặc biệt pháttriển về du lịch, thương mại, dịch vụ

Nội dung hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là:

- Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn;

- Tiếp nhận vốn đầu tư và phát triển;

- Vay vốn các tổ chức tín dụng khác;

-Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn;

- Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu, giấy tờ có giá khác;

- Hùn vốn liên doanh và mua cổ phần;

- Làm dịch vụ thanh toán;

- Phát hành và thanh toán thẻ nội địa;

- Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, thanh toán quốc tế;

-Huy động vốn nước ngoài và các dịch vụ ngân hàng khác trong quan hệ vớinước ngoài;

-Các hoạt động kinh doanh khác theo đăng ký kinh doanh

Với phạm vi và nội dung hoạt động như trên ngân hàng Bắc Á có vai trò to lớntrong việc thu hút những khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư để đáp ứng một khốilượng lớn nhu cầu vốn tín dụng của nền kinh tế góp phần thúc đẩy nền kinh tế pháttriển, tăng thu ngân sách Nhà nước Góp phần to lớn vào công cuộc công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và công cuộc hiện đại hóa công nghệ Ngânhàng nói riêng

2.1.3 Cơ cấu bộ máy tổ chức

1 Bà Thái Hương: Tổng giám đốc

2 Ông Nguyễn Trọng Trung: Phó tổng giám đốc

3 Ông Nguyễn Văn Thông: Phó Tổng giám đốc

4 Ông Chu Nguyên Bình : Phó Tổng giám đốc

5 Ông Trương Vĩnh Lợi : Phó Tổng giám đốc

6 Ông Võ Đức Việt : Phó Tổng giám đốc

Trang 31

7 Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh: Phó Tổng giám đốc

MÔ HÌNH CƠ CẤU TỔ CHỨC

Đại Hội Đồng Cổ Đông

Ban Kiểm Soát

Bộ phận hành chính

nhân sự

Khối tác nghiệp và hỗ trợ

toán

Bộ phận PR vàMarketing

Chi nhánh và phòng giao dịch

Trang 32

2.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Bắc Á

Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta phải đối mặt với rất nhiều khó khănthử thách Đó là do ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực; sựsuy giảm tốc độ tăng trưởng và phát triển nền kinh tế Mỹ và Thế giới

Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu dẫn đến những xáođộng đầy kịch tính về thị trường, tỷ giá, đầu tư và thương mại Biến đổi khí hậungày càng làm cho thời tiết trở nên bất lợi hơn cho nông nghiệp, thiên tai xuất hiệnvới tần số cao hơn, sức tàn phá mạnh hơn, mùa màng thất bát, chi phí cho canh tácnông nghiệp tăng lên Dịch bệnh (như cúm A/H1N1) cũng ảnh hưởng bất lợi đếntăng trưởng kinh tế trên quy mô toàn cầu (du lịch và hành khách hàng không giảmsút)

Các biến động đó đã tác động đến kinh tế Việt Nam, làm bộc lộ rõ hơn nhữngyếu kém về chất lượng và sự mất cân đối của nền kinh tế đang tiếp tục hội nhập sâuhơn vào nền kinh tế toàn cầu Cố gắng đạt tốc độ tăng trưởng cao trong điều kiệnkhó lường như vậy đòi hỏi những nỗ lực căng thẳng hơn, quan hệ chi phí-hiệu quảkhông được như dự kiến và rủi ro cũng lớn hơn

Tổng kết tình hình kinh tế trong năm 2009, Chính phủ đã trình ra Quốc hộinhững thành tích đáng trân trọng: tăng trưởng GDP 5,2%, trên mức trung bình khuvực song là mức thấp nhất từ một thập kỷ Lạm phát được duy trì ở mức dưới haicon số Xóa đói giảm nghèo giảm xuống 11%, nhanh hơn cả lộ trình cam kết thựchiện mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) là một điều đáng ngạc nhiên do đượctính dựa trên chuẩn nghèo cũ, đã lạc hậu nhiều vì lạm phát Cộng đồng quốc tế cũng

ca ngợi thành tựu của Việt Nam về duy trì bình đẳng trong thu nhập thông qua chỉ

số GINI và giảm nghèo rất ấn tượng trong khu vực nông thôn, theo những báo cáochính thức của Chính phủ

Những thành tựu đó đạt được nhờ có một nền nông nghiệp không chỉ bảo đảm

an toàn lương thực mà còn đóng góp to lớn vào xuất khẩu, doanh nghiệp tư nhânnăng động, người dân chịu đựng gian khổ và những nỗ lực của Chính phủ

Về phía ngành Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục đổi mới mạnh mẽviệc điều hành chính sách tiền tệ, cơ cấu lại hệ thống các Ngân hàng thương mạitheo chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Với sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của Hộiđồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban cố vấn, Ban điều hành và toàn thể nhân viên Bắc

Trang 33

Á đã đang từng bước khắc phục những khó khăn, khôi phục lòng tin nơi kháchhàng, nâng cao uy tín trên thị trường

Với một hướng đi đúng đắn, liên tục trong những năm gần đây ngân hàng đã

có những kết quả gặt hái được rất thành công,con số lợi nhuận ngày càng tăng.Kết quảhoạt động kinh doanhh của ngân hang trong những năm qua:

Bảng 1 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

2.1.4.1 Tình hình huy động vốn

Tổng nợ phải trả của Ngân hàng đạt 6.529 tỷ đồng, giảm 4.573 tỷ đồng so vớicuối năm 2007, tương đương giảm 41% Trong đó: Tiền gửi của các Tổ chức tíndụng đạt 2.676 tỷ đồng; Tiền gửi khách hàng đạt 3.663 tỷ đồng; Nhận vốn tài trợ,

ủy thác 20,6 tỷ đồng

Trang 34

Nguồn vốn huy động của Ngân hàng đã có sự thay đổi rõ rệt về chất lượng và

số lượng Tỷ trọng nguồn vốn huy động trên thị trường lien ngân hàng giảm mạnhtrong khi nguồn vốn huy động từ dân cư và doanh nghiệp tăng lên và ngày càngchiếm tỷ trọng lớn hơn

Huy động từ các Tổ chức tín dụng khác đạt 2.676 tỷ đồng, giảm 5.911 tỷđồng, tương đương giảm 69% so với đầu năm Với chủ trương giảm số dư và tỷtrọng huy động từ thị trường liên ngân hàng được Ngân hàng Bắc Á quán triệt thựchiện với kết quả so với đầu năm là đã giảm đáng kể số dư và giảm tỷ trọng đầu năm

từ 70% xuống còn 33% trên tổng nguồn vốn

Việc giảm số dư và tỷ trọng huy động liên ngân hàng góp phần bảo đảm nềntảng vốn ổn định, giảm sự phụ thuộc vào thị trường dễ biến động, tránh sự đe dọakhả năng thanh khoản khi thị trường diễn biến phức tạp

Trong khi đó nguồn vốn huy động từ dân cư và doanh nghiệp đạt được sự tăngtrưởng mạnh mẽ Tổng số dư huy động từ thị trường này đạt 3.663 tỷ đồng, tăng1.408 tỷ đồng, tương đương tăng 62% so với đầu năm

Trong đó Tiền gửi tiết kiệm đạt 3.125 tỷ đồng, tăng 1.472 tỷ đồng, tươngđương 89,1% so với đầu năm Huy động vốn từ các doanh nghiệp tăng mạnh lênđến 538 tỷ đồng sau khi

Ngân hàng chú trọng vào hoạt động thu hút nguồn vốn của các doanh nghiệp,đặc biệt là các định chế tài chính như công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, công

ty tài chính

Ngân hàng Bắc Á cũng đã triển khai thành công hai chương trình khuyến mạilớn là chương trình “Tri ân khách hàng mừng sinh nhật Bắc Á” và chương trình

“Căn hộ hạnh phúc” Bên cạnh đó, Ngân hàng cũng đã triển khai chương trình

“Chăm sóc khách hàng VIP” với việc tặng thẻ khám bệnh miễn phí tại Bệnh viện

FV Sài Gòn và Bệnh viện Việt Pháp Hà Nội cho các khách hàng có số dư tiền gửilớn

Các chương trình khuyến mại đã được thực hiện thành công với kết quả là giatăng mạnh số vốn huy động và quảng bá hình ảnh tới đông đảo khách hàng

Bên cạnh mục đích quảng bá hình ảnh, các chương trình khuyến mại cũngđược xem là một thông điệp nói lời tri ân đối với các khách hàng gắn bó và ủng hộNgân hàng Bắc Á trong thời gian qua

Nguồn vốn huy động từ dân cư và doanh nghiệp luôn được xem là nền tảngcho Ngân hàng triển khai các hoạt động kinh doanh, do vậy Ngân hàng Bắc Á luôn

Trang 35

chú trọng các chính sách để gia tăng nguồn vốn từ thị trường này để tạo cơ sở vữngchắc cho các bước phát triển cao hơn

2.1.4.2 Tình hình sử dụng vốn

a.Hoạt động cho vay

Hoạt động cho vay của Ngân hàng Bắc Á tiếp tục tăng trưởng trong năm 2008,tổng dư nợ cho vay khách hàng đạt 6.481 tỷ đồng, tăng 1.772 tỷ đồng, tương đươngtăng 38% so với đầu năm Trong đó: Dư nợ ngắn hạn 3.297 tỷ đồng (chiếm 51%);

Dư nợ trung hạn 2.507 tỷ đồng (chiếm 39%); Dư nợ dài hạn 677 tỷ đồng (chiếm10%)

Nhìn chung, hoạt động cho vay đã thực hiện đúng định hướng chỉ đạo trongbối cảnh khủng hoảng kinh tế lan rộng, các Chi nhánh đã thực hiện tốt kế hoạch hạnchế tăng trưởng tín dụng nhằm tránh tối đa các rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra Mứctăng trưởng cho vay cao chủ yếu tập trung tại Hội sở chính do giải ngân các dự án

đã cam kết từ trước

Trong năm 2008, Bộ phận quản lý rủi ro đã đi vào hoạt động, thực hiện nhiệm

vụ quan trọng là kiểm soát rủi ro của hoạt động cho vay Nhờ hoạt động hiệu quả18trên cơ sở nhận biết các rủi ro tiềm ẩn, hoạt động quản lý rủi ro của Ngân hàng đãgóp phần nâng cao chất lượng các món vay, quản lý rủi ro một cách khoa học vàlinh hoạt

Đến cuối năm 2008, tỷ lệ nợ quá hạn chiếm 1,8% trên Tổng dư nợ, tỷ lệ nợxấu chiếm 0,63% Tổng dư nợ Các chỉ số này mặc dù tăng nhẹ so với năm 2007 bởitác động tiêu cực từ khó khăn chung của nền kinh tế, nhưng nhìn chung vẫn nằmtrong giới hạn an toàn đã đặt ra

b.Hoạt động đầu tư

Các khoản đầu tư vào giấy tờ có giá, chứng khoán, góp vốn đạt 602 tỷ đồng,giảm 1.588 tỷ đồng, tương đương giảm 72% so với đầu năm Trong đó, đầu tư vàogiấy tờ có giá đạt 273 tỷ đồng (chiếm 45%), góp vốn và đầu tư dài hạn đạt 263 tỷđồng (chiếm 44%), còn lại là chứng khoán kinh doanh đạt 66 tỷ đồng (chiếm 11%)

Sự sụt giảm trong hoạt động đầu tư chủ yếu là từ khoản đầu tư vào Chứng chỉtiền gửi của các Tổ chức tín dụng khác đến hạn trong năm đạt 1.700 tỷ đồng Hơnnữa, năm 2008 ghi nhận những khó khăn của thị trường chứng khoán, Ngân hàng đãđặt ra kế hoạch và chiến lược đầu tư thận trọng, đặt yếu tố an toàn lên hàng đầu

Do vậy, hoạt động đầu tư tập trung chủ yếu thực hiện đầu tư góp vốn các dự

án có hiệu quả đã cam kết từ trước và đầu tư vào trái phiếu Chính phủ.Từ những

Ngày đăng: 16/07/2013, 18:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng Bắc Á
Bảng 1. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH (Trang 33)
Bảng 2.Cơ cấu DNV&N có quan hệ tín dụng chia theo loại hình doanh - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng Bắc Á
Bảng 2. Cơ cấu DNV&N có quan hệ tín dụng chia theo loại hình doanh (Trang 38)
Bảng 3. Cơ cấu DNV&N có quan hệ tín dụng chia theo ngành kinh tế - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng Bắc Á
Bảng 3. Cơ cấu DNV&N có quan hệ tín dụng chia theo ngành kinh tế (Trang 39)
Bảng 4.Tình hình vay vốn của các DNV&N - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng Bắc Á
Bảng 4. Tình hình vay vốn của các DNV&N (Trang 41)
Bảng 5. Tín dụng theo thời hạn - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng Bắc Á
Bảng 5. Tín dụng theo thời hạn (Trang 42)
Bảng 6. Doanh số cho vay – thu nợ đối với DNV&N - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng Bắc Á
Bảng 6. Doanh số cho vay – thu nợ đối với DNV&N (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w