1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu cho công ty TNHH Cổ phần Việt Nam trên toàn Miền Bắc

70 681 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu cho công ty TNHH Cổ phần Việt Nam trên toàn Miền Bắc
Tác giả Hoàng Thị Thanh Tuyền
Người hướng dẫn THS. Nguyễn Thu Lan
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Marketing
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 10,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam đang trong quá trình gia nhập WTO với nhiều cơ hội và thách thức đặt ra trước mắt. Các Doanh nghiệp trong và ngoài nước đang đứng trước một thương trường với những biến động có lợi cũng như bất lợi, vì thế việc xây dựng và khẳng định hơn nữa hình ảnh và vị trí của công ty, doanh nghiệp mình trong tâm trí và trái tim khách hàng là thiết yếu, là quan trọng nhất!

Trang 1

Lời mở đầu

Việt Nam đang trong quá trình gia nhập WTO với nhiều cơ hội và tháchthức đặt ra trước mắt Các Doanh nghiệp trong và ngoài nước đang đứngtrước một thương trường với những biến động có lợi cũng như bất lợi, vì thếviệc xây dựng và khẳng định hơn nữa hình ảnh và vị trí của công ty, doanhnghiệp mình trong tâm trí và trái tim khách hàng là thiết yếu, là quan trọngnhất!

Đối với một doanh nghiệp bất kỳ thì Thương Hiệu là yếu tố cơ bản quantrọng nhất xuyên suốt toàn bộ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Vìvậy chú trọng tới việc xây dựng thương hiệu và xây dựng một hệ thống nhậndiện thương hiệu lại càng trở nên quan trọng đối với các doanh nghiệp hiệnnay

Một doanh nghiệp có một hệ thống nhận diện thương hiệu mạnh sẽ giúpích rất nhiều cho các hoạt động quản lý, marketing, và các hoạt động kinhdoanh khác của doanh nghiệp Thương hiệu được coi là tài sản vô hình củaDoanh nghiệp, qua đó, khách hàng có thể cảm nhận, đánh già và phân biệtgiữa sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp này đối với doanh nghiệp khác.Đối với người tiêu dùng, thương hiệu được coi là một sự đảm bảo về chấtlượng từ phía nhà sản xuất và được định hình qua một quá trình trải nghiệm

và đúc kết khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ mang thương hiệu đó Thương hiệuđược coi như sự xác nhận của doanh nghiệp đối với khách hàng về nguồn gốc

và giá trị của sản phẩm, dịch vụ cung cấp Và do đó, thương hiệu giúp kháchhàng giảm thiểu những rủi ro có thể gánh chịu khi mua sản phẩm, dịch vụ củadoanh nghiệp như những sai hỏng về tính năng, những nguy hại đối với sứckhỏe, sự lừa gạt về mặt giá trị, những rủi ro về mặt xã hội và những phí tổn vềmặt thời gian hao phí trong trường hợp sản phẩm không đảm bảo Đối vớidoanh nghiệp thì một thương hiệu mạnh là công cụ marketing hữu hiệu, đemlại cho doanh nghiệp nhiều lợi thế, giúp khách hàng nhận thức tốt hơn, đầy đủhơn về sản phẩm dịch vụ, góp phần duy trì và giành được niềm tin của kháchhàng, giúp doanh nghiệp thu được lợi nhuận hấp dẫn hơn, giảm thiểu ảnh

Trang 2

hưởng của các đối thủ cạnh tranh, giảm thiểu tác động xấu trong điều kiệnkhủng hoảng thị trường và là sự đảm bảo tốt có lợi thế trong đàm phán, hợptác kinh doanh Những thương hiệu mạnh còn là cơ sở để phát triển các cơ hộiquảng bá khác cũng như có giá trị thực, buộc người sử dụng phải mua bảnquyền và được bảo vệ về mặt pháp lý tránh khỏi mọi sự xâm hại

Hầu hết mọi người đều nghĩ Thương hiệu được tạo ra thông quaMarketing, quảng cáo với những mẩu quảng cáo thú vị, hay những thông điệp

đủ sức ảnh hưởng Nhưng đó chỉ là cách tiếp cận trực tiếp và chưa đầy đủ vềthương hiệu, và để xây dựng được một thương hiệu thành công, một thươnghiệu mạnh thì phải đi sâu hơn nhiều so với việc tạo ra những gì khách hàngnghe và thấy từ các phương tiện truyền thông Hãy nghĩ về một tảng băngtrôi: Marketing và quảng cáo giống phần của tảng băng nằm trên mặt nước

mà bạn có thể nhìn thấy, Marketing và quảng cáo có thể chuyển tải lời hứathương hiệu đến với khách hàng, nhưng đó mới chỉ là lời hứa hẹn chưa có gìchắc chắn Những trải nghiệm thực sự mới thể hiện được lời hứa thương hiệu

Sự truyền đạt này có khả năng thu hút lớn hơn nhiều so với tưởng tượng củabạn Vậy thương hiệu là gì? Hệ thống nhận diện thương hiệu là gì?

Đứng trước một môi trường kinh doanh khốc liệt đòi hỏi sự nỗ lựchoàn thiện bản thân doanh nghiệp một cách hoàn hảo nhất có thể, Doanhnghiệp OVO Việt Nam cũng đang đặt ra câu hỏi về một hệ thống nhận diện

thương hiệu mạnh của bản thân doanh nghiệp Chuyên đề “Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu cho công ty TNHH Cổ phần Việt Nam trên toàn Miền Bắc” sẽ đưa ra những cách nhìn khái quát về hệ thống nhận diện

thương hiệu của công ty, từ đó tìm hiểu và đưa ra những điểm có lợi và bất lợitrong hệ thống này, để tìm cách khắc phục và xây dựng một hệ thống nhậndiện thương hiệu đầy đủ và hoàn chỉnh hơn nữa cho công ty Nội dungchuyên đề gồm 3 chương :

Chương I: Khái quát về sự phát triển thương hiệu trong ngành thời trangChương II: Thực trạng về vấn đề xây dựng hệ thống nhận diện thươnghiệu của công ty Cổ phần OVO Việt Nam

Chương III: Hoàn thiện hệ thống nhận diện thương hiệu OVO Việt Namtrên thị trường Miền Bắc

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Marketing_ trường ĐH Kinh TếQuốc Dân, phòng kinh doanh của công ty Cổ phần OVO Việt Nam và Giảngviên hướng dẫn_Ths Nguyễn Thu Lan đã giúp đỡ, hướng dẫn và tạo điềukiện để tôi hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này

Sinh viên

Hoàng Thị Thanh Tuyền Lớp: Marketing 48A

Trang 4

Phần I: PHẦN MỞ ĐẦU

Lý do lựa chọn đề tài:

 Trong cơ chế thị trường của thời kỳ hội nhập, cạnh tranh giữa cácDoanh nghiệp ngày càng gay gắt, làm sao để một Thương hiệu được khẳngđịnh hơn nữa vị trí và hình ảnh trong tâm trí của người tiêu dùng Việt Nam,vẫn còn là một câu hỏi chưa có lời giải đáp chính xác Các doanh nghiệp trong

và ngòai nước ngày càng phát triển về cả số lượng cũng như chất lượng, vì vậy

để có thể đứng vững và phát triển trên một thương trường cạnh tranh khốc liệt

và đầy biến động thì vấn đề Thương hiệu cũng như việc xây dựng hệ thốngnhận diện thương hiệu luôn được đặt lên hàng đầu

 Do tính cấp thiết của việc xây dựng hình ảnh nhận diện thương hiệucủa công ty Cổ phần OVO Việt Nam mà em lựa chọn đề tài này nhằm giúpđưa ra những giải pháp khắc phục cho những vấn đề mà thương hiệu OVOcòn đang gặp trở ngại tại thị trường Việt Nam cũng như củng cố những yếu tốthương hiệu mà công ty OVO đã làm tốt và phát huy chúng một cách có hiệuquả hơn nữa trong tương lai

 Một lý do nữa cho việc lựa chọn đề tài nghiên cứu này là sự đam mê

về Thương hiệu với tư cách là một Sinh viên khoa Marketing, em muốn tìmhiểu rõ hơn những vấn đề mà mình đã học tại trường được áp dụng như thếnào trong bối cảnh thực tế, từ đó có thể giúp em hình dung phần nào vềthương hiệu một cách rõ ràng hơn

Trang 5

Phương pháp nghiên cứu:

Từ việc thực hiện nghiên cứu thị trường với các phần tử là các phiếuthăm dò người tiêu dùng trong mẫu được chọn là thị trường Hà Nội, vớinhững câu hỏi mang tính chất dễ hiểu, dễ trả lời nhưng lại có thể tìm hiểu rõhơn hình ảnh của công ty Cổ phần OVO Việt Nam trong con mắt người tiêudùng Vị trí của sản phẩm của công ty OVO trên thương trường thời trangdành cho trẻ em tại Miền bắc Việt Nam như thế nào? Bảng hỏi với một chuỗinhững câu hỏi sẽ phần nào giúp giải quyết được những vấn đề được nêu ra

Bên cạnh đó là việc thu thập dữ liệu thứ cấp, quan sát thực tế, phântích tổng hợp từ các số liệu được phép tiếp cận của công ty và những thông tin

mà công ty cho phép tiết lộ kết hợp với các thông tin từ sách, báo, tạp chí vàtrên mạng Internet…

Sử dụng phương pháp xử lý số liệu SPSS để xử lý và phân tích kết quảđiều tra được

Phạm vi nghiên cứu:

Với tính chất nghiên cứu của đề tài và những giới hạn về nguồn lực, địađiểm , thời gian, nên phạm vi nghiên cứu chỉ nằm trong địa bàn Hà Nội

Trang 6

Chương I_KHÁI QUÁT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU

TRONG NGÀNH THỜI TRANG

1.1 Thị trường thời trang trẻ em Việt Nam:

Với bé tất cả đều là trò chơi, do trẻ đang trong thời kỳ khám phá thế giớicũng như khả năng của bản thân, nên sở thích đập phá hay thả rơi đồ vật đểnghiên cứu là tâm lý chung của trẻ Không chỉ với đồ chơi của riêng bé màngay cả những đồ dùng hàng ngày, từ vật dụng bình thường như lõi giấy vệsinh, quần áo của bé, tới những đồ vật quý giá của người lớn …tất cả đều trởthành đồ chơi và là mục tiêu khám phá Trẻ thường có đặc điểm thích nhữngvật có màu sắc nổi bật và những hình ảnh vui nhộn nên việc thiết kế ra nhữngmẫu thiết kế mang đặc tính vui nhộn bắt mắt cho trẻ trong độ tuổi này cũng làmột trong những ưu tiên hàng đầu

- Về sinh lý :

Thể trọng, chiều cao sinh lý của trẻ trong thời gian này cũng là một đặc

điểm quan trọng tính tới việc sản xuất ra sản phẩm, bởi chiều cao và cân nặng

Trang 7

luôn là hai yếu tố quan trọng trong sự phát triển của trẻ Các bậc cha mẹthường xuyên theo dõi sự phát triển về chiều cao và cân nặng của trẻ để kịpthời chăm sóc con mình tốt hơn Một em bé khỏe mạnh khi mới sinh rathường dài hơn 50cm

+ Từ 9 đến 12 tháng thì mức tăng trưởng là 1 đến 1.5cm mỗi tháng

Như vậy sau 1 năm, chiều cao của trẻ tăng khoảng 25 đến 27cm, đạt mức

75 đến 78cm, trung bình bé trai cao khoảng 76cm, còn bé gái cao khoảng75cm Chiều cao của các bé gái trong năm đầu tiên thường ít hơn các bé traikhoảng 1.5cm

Da các bé rất nhạy cảm vì vậy các chất liệu để làm nên quần áo cho bé cũngphải lựa chọn một cách cẩn thận

Trang 9

thanh, màu sắc, hình khối, tri giác, không gian, thao tác bằng tay với đồ vậtđược phát triển

Yếu tố này cần được các nhà thiết kế tính đến để thiết kế độ đàn hồi vàkích cỡ cho quần áo của trẻ ở độ tuổi này Cũng như tìm hiểu những gì bé

thích trong tầm tuổi này để làm tiền đề cho việc thiết kế những mẫu sản phẩm

phù hợp với các bé nhất

Ở những tháng này, bé cũng bắt đầu bắt chước người khác, đặc biệt làthích bắt chước những việc mà các bé khác làm Do vậy nếu trẻ nhìn thấy mộttrẻ khác mặc quần áo có hình thù nào, có thể khiến bé cũng muốn có quần áonhư thế

Bé cũng bắt đầu hiểu ra và cảm nhận được một số vấn đề liên quan đếncuộc sống xung quanh mình Chẳng hạn, bé đã biết cái cốc thì phải ở trên bàn,đôi dép phải được đi ở dưới chân hay quần thì mặc ở dưới, áo thì mặc ở trên,

…Tuy nhiên, tại thời điểm này, bé vẫn có thể lẫn lộn mọi chuyện với nhau Ởthời kỳ này, bé không chỉ lấy đồ vật ra chơi mà còn tháo tung đồ vật ấy ra nếu

nó có nhiều bộ phận Có khi các bé còn cố tình làm rơi để xem vật đố như thếnào hay cũng có thể cho vào miệng xem vật đó có vị gì…

Ở giai đoạn này, hành động của trẻ chưa có động cơ rõ ràng và đầy đủ.Động cơ hành động của trẻ chưa trở thành hệ thống dựa trên trật tự ưu tiên vềtầm quan trọng nhiều hay ít Cũng ở độ tuổi này, khả năng tự điều khiển hành

vi của trẻ còn hạn chế, chính vì vậy trẻ rất khó khăn khi phải kiềm chế khônglàm điều mình thích

+) Đối với bé từ 2 đến 4 tuổi: Thú tò mò tìm hiểu thế giới bên ngòai của

trẻ tầm tuổi này lại càng tăng cao Ngoài đồ chơi và các vật dụng thường dùng

ra, các vật chất ở xung quanh môi trường vẫn tiếp tục gây nên sự chú ý củatrẻ Đặc điểm lúc này là thích thú cái mới, cái thay đổi tăng lên, ví dụ như: trẻchăm chú nhìn sự vật mới phát sinh ngoài cửa sổ, chú ý người lớn làm….Trẻ giai đoạn này thích nghịch nước, và có thể nghịch nước với nhiềuhình thức khác nhau Ngoài ra, trẻ thích chơi bóng như ném hoặc đá bóng, sau

đó lại nhặt lên

Các nhà thiết kế cần để ý tới đặc tính tâm lý và sinh lý tuổi này của trẻ

để thiết kế và lựa chọn các chất liệu vải làm sao thấm mồ hôi, thấm nước,

Trang 10

mùa hè thì mát, mùa đông thì ấm, độ giặt tẩy dễ dàng bởi trẻ năng hoạt độnghơn nên quần áo của trẻ cũng dễ bẩn và rách hơn.

Ở độ tuổi này trẻ cũng đã tự ý thức được, đây là dấu hiệu của quá trìnhhình thành nhân cách Trẻ nhận ra mình theo các dấu hiệu bên ngoài Trẻ cóthể hiểu được mình đang làm việc này hay việc khác Trẻ có thể nhận xét vềmình(thông qua nhận xét của người lướn hoặc liên hệ với các nhân vật trongtruyện) Trẻ tự ý thức hành động của mình theo thời gian: quá khứ, hiện tại,tương lai Ở độ tuổi này trẻ cũng muốn tìm hiểu cơ thể mình, hay chơi vớibúp bê, trẻ bắt đầu quan tâm đến những đặc điểm về giới tính Trẻ có xuhướng bắt chước, tập nhiễm các hành vi định hướng giới, ví dụ như : con gáithích mặc điệu như mẹ, thích chơi búp bê, con trai thích học theo phong cáchcủa cha

Cho nên công việc của nhà thiết kế và các hãng thời trang trẻ em là phảithiết kế, sản xuất được những trang phục định hướng giới tính của trẻ Giúptrẻ phân biệt được và khám phá ra được những khác biệt cơ thể và giới tính

- Về sinh lý:

Trẻ ở độ tuổi này chiều cao và cân nặng cũng tăng nhanh chóng, nêncàng cần phải chú ý tới kích cỡ của loại quần áo trẻ mặc

Bé từ 4-12 tuổi:

Trang 11

- Về tâm lý:

Ở giai đoạn này, ý thức về cái tôi của trẻ phát triển mạnh, trẻ hiểu đượcmình là như thế nào, có phẩm chất gì, những người xung quanh đối thử vớimình ra sao, vì sao mình lại làm việc này, mình làm việc này tốt hay chưa tốt,đúng hay sai Chính nhờ ý thức bản ngã phát triển mạnh nên trẻ đã có thể điềuchỉnh được hoạt động của bản thân Trẻ hay đưa ra các lời nhận xét về bảnthân mình và người khác Trẻ cũng thể hiện cái tôi của mình bằng việc thích

tự mình quyết định Cũng trong giai đoạn này, trẻ đã xuất hiện tâm lý biết đòihỏi, đây là một trong những giai đoạn phát triển có lợi cho những thương hiệuthời trang khi tiếp cận và đánh giá được nhu cầu và mong muốn của trẻ emlứa tuổi này

Trẻ trong độ tuổi này bắt đầu thích nghe chuyện có pha một chút kịchtính, trí tưởng tượng phong phú, có tính hiện thực khiến chúng luôn nhân cáchhóa các sự vật xung quanh Các bé trong độ tuổi này thường rất hoạt bát vàhiếu động, chúng không thích ngồi một chỗ, chỉ thích được tự do chạy nhảy,không lúc nào chịu ngồi yên Tính hiếu kỳ cũng phát triển ở các bé, cái gìcũng muốn hiểu, muốn biết

Ngoài ra, tầm lứa tuổi từ 10 đến 12, các bé nếu phát triển sớm thì cũngđang trong quá trình dậy thì nên tâm sinh lý cũng không ổn định

- Về sinh lý:

Ở lứa tuổi dậy thì này, có nhiều thay đổi về sinh lý của trẻ mà chúng taphải để ý quan sát theo dõi và hướng dẫn trẻ Đặc điểm khác biệt về giới tínhngày càng tăng, tính tò mò tìm hiểu về bạn khác giới cũng phát triển theo.Cần phải chú ý tới những đặc điểm nổi bật của trẻ trong lứa tuổi này để đưa ranhững thông điệp, sản phẩm,… phù hợp với tâm sinh lý của trẻ

b Người mua sản phẩm:

Phần lớn người mua sản phẩm đều là các bậc cha mẹ có con cái trong độtuổi từ 0 đến 12 tuổi Họ là những người ra quyết định chính nên lựa chọnthương hiệu nào, nhãn hiệu nào cho phù hợp với các bé Tỷ lệ người mẹ đóngvai trò quyết định trong nhu cầu mua, quyết định mua là khá lớn chiếmkhoảng 80% Ngoài ra những khách hàng tiềm năng cho dòng sản phẩm nàycòn bao gồm: những người mua đem tặng, biếu, , những người thân của trẻ(không phải người mẹ, có thể là người bố, người thân trong gia đình, ) Do

Trang 12

vậy đối với người tiêu dùng trong mặt hàng này sẽ được phân loại ra làm baloại như sau:

+) Người mua là người mẹ

+) Người mua là người thân trong gia đình

+) Người mua là bạn bè, người đem biếu, tặng,…

Nhu cầu và đặc điểm tâm lý của khách hàng là người mẹ:

- Người Việt Nam có quan niệm sử dụng đồ cũ đối với trẻ sơ sinh sẽgiúp đứa trẻ khoẻ mạnh hơn, nhất là đối với quần áo, tã lót của những đứa trẻkhoẻ mạnh khác.(khi họ đươc cho, biếu, tặng) Do tâm lý này mà các bà mẹ

có trẻ sơ sinh Việt Nam không có nhu cầu mua đồ sơ sinh nhiều lắm

- Một mặt khác, họ quan niệm trẻ em rất mau lớn vì thế đồ cho trẻ sơsinh nên mặc lại của đứa con trước, hoặc của người khác cho, tặng…quanniệm này cũng làm giảm nhu cầu của họ với đồ dùng cho trẻ em sơ sinh

- Đối với những người mẹ mới sinh em bé được vài tháng thì tâm lýcủa họ còn chưa ổn định, tình trạng sức khoẻ cũng chưa được hồi phục hoàntoàn Sinh con, người mẹ trở nên hạnh phúc hơn bao giờ hết nhưng cùng vớiniềm vui vô bờ là sự mệt mỏi, căng thẳng và lo lắng hoặc những biểu hiệntâm lý bất thường như: khóc không lý do, cáu gắt, khó suy nghĩ, bồn chồn, lolắng,… Tất cả những tình trạng sức khoẻ thể chất và tinh thần đó đều có thểảnh hưởng không tốt tới các bé sơ sinh, hoặc các bé đã được vài tháng tuổi.Tâm lý bất ổn này cũng ảnh hưởng tới việc lựa chọn các sản phẩm đồ dùngcho các bé

- Một bộ phận những bà mẹ sẽ chuẩn bị đồ cho trẻ sơ sinh và ngay cảtrong những tháng kế tiếp của con mình trước khi họ sinh Đây là nhữngkhách hàng có nhu cầu và mong muốn mua được sản phẩm có chất lượng tốtnhất Bởi họ đã sớm có tâm lý chuẩn bị tất cả những đồ dùng cần thiết trướckhi bản thân lâm bồn Tâm lý đại bộ phận khách hàng này thường khá kỹ tínhtrong quá trình mua sắm lựa chọn, và họ tin vào những tin đồn truyền miệng,những kinh nghiệm mua hàng hoá, quần áo của bạn bè, người thân, hoặc ngay

cả người bán hàng trực tiếp cũng tác động tới họ không ít Nếu nắm bắt đượctâm lý này của họ thì việc quảng bá cho thương hiệu của công ty sẽ hướng tớiviệc có lợi Bộ phận khách hàng này thường không bị ảnh hưởng bởi giá cảcủa hàng hoá lắm, vì họ hướng tới những sản phẩm có chất lượng tốt, đảm

Trang 13

bảo an toàn, họ sẵn sàng bỏ tiền ra mua sản phẩm nếu sản phẩm đó thoả mãnđược những nhu cầu và mong muốn của họ.

- Còn đối với những người mẹ sau khi sinh con được một thời giankhá dài, họ có nhu cầu muốn mua quần áo cho em bé của mình, trong giaiđoạn này, họ lại càng bị ảnh hưởng rất nhiều bởi những thông tin truyềnmiệng từ bên ngoài Họ lựa chọn quần áo cho con mình một mặt dựa theocảm tính, một mặt dựa theo những thông tin truyền miệng từ người thân, bạn

bè mà họ được nghe, được khuyên, …Trong giai đoạn này, người mẹ đã hiểu

hơn được những đặc điểm tâm sinh lý của đứa trẻ, nên họ cũng để ý lựa chọnnhững sản phẩm phù hợp từ kích cỡ, kiểu dáng, chất liệu, chất lượng, … đốivới các bé Tâm lý lựa chọn sản phẩm và kiểu dáng về sản phẩm chưa rõ ràngtrong giai đoạn này của người mẹ, bởi những đặc điểm về giới tính của trẻcòn chưa thể hiện rõ ràng, trong thời kỳ này, người mẹ cũng không quá chú ýtới kiểu dáng của sản phẩm mà điều họ quan tâm nhất đến lại là chất lượng và

chất liệu sản phẩm có phù hợp với da của đứa trẻ không

- Đối với những bà mẹ có con đã hình thành được ý thức về giới tínhcủa chúng, đã hình thành được ý thức đòi hỏi, thì quá trình mua của họ khôngcòn là duy nhất, tức là họ không hoàn toàn là người đưa ra quyết định trongsuốt quá trình mua sản phẩm nữa, tuy nhiên người quyết định cuốicùng_người ra quyết định có mua hay không mua sản phẩm này lại vẫn là họ.Trong quá trình này, bản thân những đứa trẻ đã hình thành được ý thích của

chúng, do vậy dưa trên những sở thích mà chúng có những đòi hỏi khác nhau

với người lớn, tâm lý chung của người mẹ trong giai đoạn này khi mua sảnphẩm là họ sẽ lắng nghe và tham khảo thêm về sở thích, ý muốn của con họ,rồi sau đó tìm kiếm, phân tích, cuối cùng mới đưa ra quyết định Trong giaiđoạn này, ý thức của cả người mẹ lẫn những đứa trẻ về sự khác nhau giữa haigiới tính: nam và nữ đã được định hình một cách rõ rệt hơn, cho nên việc lựachọn kiểu dáng, màu sắc, …quần áo không chỉ là sự ưa thích mà còn mang

tính chất giáo dục giới tính cho đứa trẻ

Nhu cầu mua và đặc điểm tâm lý của khách hàng là người thân trong gia đình:

- Người thân trong gia đình luôn có tâm lý vui vẻ, hạnh phúc khi đónnhận đứa trẻ trào đời Giáo dục đứa trẻ thì người thân trong gia đình cũng là

Trang 14

những tác nhân chính tác động tới đứa trẻ Với những khách hàng là ngườithân khi mua hàng hóa sản phẩm là quần áo trẻ em, họ cũng có thể có nhữngtâm lý khá giống như người mẹ, tuy nhiên việc hiểu tâm sinh lý đứa trẻ bằngngười mẹ thì không bằng Họ cũng có xu hướng tìm hiểu các thông tin liênquan tới sản phẩm như : chất lượng, chất liệu, mẫu mã, … để tổng hợp lại saocho tìm được sản phẩm phù hợp với các bé, họ cũng bị ảnh hưởng khá nhiềubởi các thông tin truyền miệng Tuy nhiên nhu cầu mua của nhóm khách hàngnày là không nhiều

Nhu cầu mua và đặc điểm tâm lý của khách hàng là bạn bè, người mua biếu, tặng…:

- Đây là nhóm khách hàng có tiềm năng, có thể khai thác nhu cầu của

họ, giúp cho việc mở rộng thị trường và khẳng định thương hiệu

- Những khách hàng này thường chú ý tới lời khuyên, hay những trợgiúp trực tiếp từ những nhân viên bán hàng, bởi vì họ đi mua hàng với tâm lý

không hiểu rõ về đứa trẻ, chỉ nắm được những thông tin cơ bản giúp cho quá

trình lựa chọn Họ cần sự tư vấn, ngoài ra họ cũng tham khảo thông tin từnhững nguồn khác nhau, tuy nhiên thông tin truyền miệng vẫn là nhiều hơn

cả Họ sẽ chọn những thương hiệu, những sản phẩm được biết đến nhiềutrong xã hội, những thương hiệu đã có tên tuổi, bởi tâm lý đem tặng, biếu thìphải là đồ “xịn”

- Những khách hàng này cũng không bị ảnh hưởng quá về giá, giá cả

là một yếu tố quan trọng nhưng một khi đã có nhu cầu thì họ có thể bỏ tiền ramua một sản phẩm cao cấp giá cao

1.1.2 Các thương hiệu mạnh trong ngành thời trang trẻ em tại thị trường Việt Nam:

Ngành thời trang trẻ em Việt Nam vẫn còn đang là một ngành khá mớiđối với các Doanh nghiệp muốn đầu tư vào nó Đây vẫn là một ngành còn nontrẻ và thiếu sự chuyên nghiệp khá nhiều Tuy nhiên, bên cạnh sự xâm nhậpcủa các thương hiệu thời trang trẻ em trên thế giới thì các thương hiệu thờitrang trẻ em trong nước cũng đang càng ngày càng khẳng định được vị thếcủa mình trong con mắt người tiêu dùng trong nước Có thể kể tới một sốthương hiệu Việt như: Wow, Kico, Hanosimex, Melody, VietThyKid, A&T,Narabeen… Bên cạnh đó, những thương hiệu từ nước ngoài mà được “made

Trang 15

in Vietnam” cũng đang được rất ưa chuộng như: Baby Gap, Carter’s, Lacoste,metodly, OldNavy, Gymporee, Wonderkids, Place…

Yếu tố nào làm cho các thương hiệu trên nổi bật và được sự tin tưởngcủa người tiêu dùng Việt Nam? Một trong những yếu tố không thể không kểtới đó chính là chất lượng của sản phẩm Chất lượng sản phẩm là một trongnhững yếu tố chính khiến người tiêu dùng thông minh lựa chọn sản phẩm vàthương hiệu đó trong thời kỳ cạnh tranh gay gắt giữa các thương hiệu nhưhiện nay Một điều đặc biệt đó là chất liệu của những thương hiệu thời trangtrẻ em nước ngoài luôn luôn có nguồn gốc đảm bảo, nên chất lượng của

những sản phẩm được sản xuất ra rất tốt và thỏa mãn được nhu cầu cũng như

mong muốn của người tiêu dùng trong và ngoài nước Ngoài ra, một điềukhông kém phần quan trọng nữa làm cho các thương hiệu thời trang trẻ emnước ngoài được người tiêu dùng trong nước quan tâm hơn các thương hiệuViệt đó chính là tâm lý “chuộng đồ ngoại” của người Việt Nam Người ViệtNam thường có quan niệm là đồ ngoại thì bao giờ cũng chất lượng hơn, đẹphơn, sang trọng hơn và dĩ nhiên là giá cả của chúng không bao giờ thấp hơn

hàng trong nước Tuy nhiên họ lại sẵn sàng bỏ tiền ra để lựa chọn cho mình

sử dụng Một số thương hiệu thời trang Việt Nam đã để lại dấu ấn đối vớingười tiêu dùng trong nước, tuy nhiên những thương hiệu này còn chưa mạnh

và mức độ cạnh tranh với các thương hiệu thời trang nước ngoài còn yếu thếhơn rất nhiều Khi phác họa bức tranh tổng thể của ngành thời trang và dệtmay Việt Nam, hầu hết các chuyên gia đều có chung nhận định rằng: Doanhnghiệp đang hoạt động trong ngành thời trang, dệt may tuy rất nhiều nhưngtạo được Thương hiệu vẫn còn khá khiêm tốn Trong khi đó, ngày càng nhiềuthương hiệu quốc tế đổ vào thị trường Việt Nam đã tạo thêm cơ hội cho người

Trang 16

tiêu dùng trong nước quan tâm đến việc “mặc đẹp” thay cho “mặc ấm” Nhậnxét trên được đưa ra tại hội thảo “Thương hiệu cho doanh nghiệp dệt may,thời trang tại thị trường nội địa”, do Masso Consulting phối hợp với Hiệp hộidệt may Việt Nam và Công ty nghiên cứu thị trường định hướng FTA tổchức.

Thương hiệu đối với thời trang là vô cùng quan trọng, để tạo được mộtthương hiệu mạnh trong ngành thời trang là một điều vô cùng khó khăn và đòihỏi không ít những nỗ lực cố gắng trong các hoạt động quản trị, hoạt độngmarketing và các hoạt động khác của Doanh nghiệp

Các chuyên gia khẳng định, vấn đề thương hiệu chỉ được quan tâm trongvòng 7 năm trở lại đây đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và cácdoanh nghiệp dệt may, thời trang nói riêng Nhiều doanh nghiệp đã nỗ lựcđáng kể trong việc xây dựng thương hiệu sản phẩm và thương hiệu doanhnghiệp một hoạt động hết sức quan trọng đối với một ngành sản xuất hàngtiêu dùng thời trang cũng như hàng tiêu dùng thời trang trẻ em

Tuy nhiên, ngoại trừ một vài doanh nghiệp, hầu hết đều chưa có sự đầu

tư tương xứng cho hoạt động này, thể hiện qua ngân sách chi cho hoạt độngcòn quá thấp và đặc biệt là chưa có một chiến lược dài hạn trong xây dựngthương hiệu Qua khảo sát trên 40 doanh nghiệp đã có tiếng tại Việt Nam, chỉthấy có 3 đơn vị là hình thành chiến lược xây dựng thương hiệu dài hạn, cònlại đa số các doanh nghiệp chỉ có những hoạt động quảng bá trước mắt Đơn

vị sử dụng nguồn lực xây dựng thương hiệu cao nhất chiếm tỉ trọng 4% trêndoanh thu, còn lại hầu hết chỉ dành nguồn lực từ 0.1% đến 1% trên doanh thuhàng năm Theo kinh nghiệm đối với ngành thời trang thế giới thì thôngthường nguồn lực quảng bá xây dựng và phát triển thương hiệu phải chiếm ítnhất 10% doanh thu

Về tác động của thương hiệu đối vói năng lực cạnh tranh của doanh

nghiệp thì có thể nói thương hiệu doanh nghiệp hay thương hiệu sản phẩmcủa doanh nghiệp ở một mức độ nào đó cũng góp phần tạo dựng năng lựccạnh tranh doanh nghiệp và ngược lại, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệpcũng được phản ánh phần nào qua sức mạnh của thương hiệu doanh nghiệphoặc của thương hiệu sản phẩm doanh nghiệp đó Về ngành thời trang ViệtNam, chủ yếu đều tập trung trên phương diện xuất khẩu , theo thống kê

Trang 17

khoảng 30% số lượng doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may tại Việt Nam đãđược nhiều nhà nhập khẩu biết đến tên doanh nghiệp với nhiều mức độ khácnhau thông qua quan hệ xuất nhập khẩu và đặt hàng thương xuyên, trong đóchỉ có một số rất ít doanh nghiệp Việt Nam được biết rộng rãi trong cộngđồng các nhà nhập khẩu lớn Và bên cạnh đó, tên nhiều doanh nghiệp đầu tưnước ngòai tại Việt Nam cũng chỉ được các nhà nhập khẩu biết tên thông quamối quan hệ với công ty mẹ của họ tại nước ngoài Có thể nói hoạt độngquảng bá thương hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam còn chưa mạnh mẽ vàchuyên nghiệp, trong khi cácd doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Namthì không quan tâm xây dựng thương hiệu của họ ở Việt Nam mà chủ yếu là

sử dụng thương hiệu của công ty mẹ tại nước ngoài Các thương hiệu thờitrang nước ngòai bao gồm cả thương hiệu thời trang trẻ em đều không quáchú trọng tới việc quảng bá hình ảnh của họ đối với người tiêu dùng ViệtNam bởi thực tế thương hiệu của họ đã có một chỗ đứng khá vững trên thịtrường nước ngoài Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp hay công ty nước ngòai lại

có những chiến lược đúng đắn trong tiếp cận thị trường nội địa, xây dựng vàphát triển thương hiệu thời trang của doanh nghiệp tại thị trường đầy tiềmnăng này

Còn đối với các doanh nghiệp dệt may, thời trang Việt Nam thì trong sốgần 2000 doanh nghiệp đã có khoảng 100 doanh nghiệp có thương hiệu đượcngười tiêu dùng trong cả nước biết đến với những mức độ khác nhau Cácthương hiệu như sơ mi Việt Tiến, sơ mi May 10, veston Nhà Bè, áo thunThành Công, áo thu đông Đông Xuân, vải KT Việt Thắng, vải gấm TháiTuấn, Phước Thịnh, đồ lót Vera, áo thun Hoàng Tấn, Ninomax, PT 2000, tơtằm Khaisilk…v v hay những thương hiệu thời trang trẻ em như : kicokids,Hanosimex,Vietthy kids, Anna kids, Sun&Moon…được người tiêu dùng biếtđến và bình chọn là danh hiệu Hàng Việt Nam chất lượng cao Hay một sốthương hiệu thời trang trẻ em nước ngoài như: Disney Baby của Thái Lan,Ovokids của Mỹ,Gap, …

Về vấn đề logo của các thương hiệu thời trang trẻ em tại Việt Nam:

Hầu hết các nhãn hiệu thời trang nói chung và thời trang trẻ em nói riêngtại Việt Nam đều có một hệ thống logo rõ nét, mỗi logo của một nhãn hiệuđều là một nét riêng biệt vừa dùng để nhận biết vừa dùng để khẳng định vị trí,

Trang 18

ý nghĩa của sản phẩm trên mọi lĩnh vực, hầu hết hệ thống logo của các thươnghiệu thời trang dành cho trẻ em đều mang một màu sắc tươi sáng, nổi bật, hay

sử dụng những gam màu nóng, dễ nhận biết và khá đơn giản trong thiết kế Ýnghĩa của những logo này cũng khá rõ nét để có thể thấy được và chúngthường mang ý nghĩa trong sáng, dành những sự yêu thương cho trẻ em

Một số ví dụ về logo của các thương hiệu thời trang trẻ em có mặt tạiViệt Nam như:

Trang 19

cá sấu Lacoste tràn ngập thị trường Việt Nam Logo này mang tính tượngtrưng cho sự khỏe mạnh, mong muốn sự chiến thắng từ tính chất của nhữngvận động viên thể thao, mà người sáng lập nên thương hiệu này là một vậnđộng viên Tennis

* Một số xu hướng thiết kế logo thương hiệu của các thương hiệu thời trang trẻ em:

1 Các giọt màu (Droplets): sự hội tụ và

4 Những vòng xoắn tự nhiên (Natural

spirals): cảm nhận về sự cùng tồn tại và hòa hợp

giữa trật tự và tự do

5 Hình ảnh động vật (Animorphic)

6 Xu hướng xô nghiêng (Canted): đã làm

cho các logo không có chiều sâu trở nên sống

động hơn

Trang 20

7 Gương mặt của những chữ cái

(Alpha-face): thân thiện và gần gũi hơn

8 Tạo bóng (Shadows): cảm nhận rõ rệt về vị

trí Vững chắc

9.Hiệu ứng đổi màu trong suốt (Transperancy)

Tạo ra hiệu ứng màu sắc, hấp dẫn

10 Xu hướng “Xanh” (Green) Không độc

hại, thân thiện với môi trường

Trang 21

- Về vấn đề slogan_khẩu hiệu của các thương hiệu thời trang trẻ em tại Việt Nam:

Slogan của các thương hiệu thời trang trẻ em cũng mang tính tươi trẻ,

vui nhộn Ví dụ như câu khẩu hiệu của OldNavy là “Never give up your

dreams” tạm dịch là “ Bé đừng bao giờ từ bỏ những ước mơ ”, hay của

Kico_một thương hiệu thời trang trẻ em Việt Nam là “Niềm kiêu hãnh của

mẹ” Tuy nhiên về slogan trong giới thời trang trẻ em tại những Thương hiệu

Việt lại chưa được xem trọng Hầu hết các nhãn hiệu thời trang trẻ em ViệtNam đều có Logo để phân biệt và khác biệt hóa sản phẩm của mình so vớicác đối thủ cạnh tranh khác thì câu khẩu hiệu (Slogan) của các thương hiệuthời trang này lại chưa được xem xét và cân nhắc tới Bởi vấn đề thiết kế đượcmột Logo đã khó, nó phản ánh cho mọi khía cạnh của sản phẩm thì câu khâuhiệu_Slogan lại càng cần phải cân nhắc sao cho sự truyền đạt ý nghĩa củathương hiệu, của sản phẩm, của văn hóa công ty, …v…v… và hơn nữa cũngphải phù hợp với đối tượng khách hàng đón nhận chúng như thế nào Cácthương hiệu thời trang trẻ em Việt một phần còn chưa nhận thức được tầmquan trọng của những câu khẩu hiệu có tác động tới người tiêu dùng như thếnào, một phần nhận thức được tầm quan trọng của câu khẩu hiệu thì lại chưađầu tư đúng mức về chi phí để thiết kế ra những câu khẩu hiệu chuyên nghiệpphù hợp với sự thể hiện của Logo, phù hợp với người tiêu dùng Cũng bởi dotính chất nguồn vốn còn hạn hẹp, chi phí dành cho những vấn đề về trí tuệ,sáng tạo như thế này lại khá cao, nên tạm thời họ còn chưa cân nhắc và xemxét để đầu tư vào

- Về các vấn đề khác trong hệ thống nhận diện thương hiệu của thời trang trẻ em:

Đối với vấn đề như bao bì, nhãn mác của sản phẩm thì một số thươnghiệu thời trang trẻ em cũng khá chú trọng tới phần thiết kế này Đối với mỗidòng sản phẩm lại có một túi đựng riêng in hình logo và câu khẩu hiệu củathương hiệu Tuy nhiên, để làm được những điều chuyên nghiệp như vậy thìchỉ có những thương hiệu lớn và khá mạnh, hầu hết là trên thị trường nước

Trang 22

ngoài, hay các thương hiệu nước ngòai có tiếng Còn với các thương hiệu Việtvấn đề nhận diện thương hiệu qua bao bì nhãn mác còn bị xem nhẹ, hầu hếtchỉ là các túi nilon được in tên thương hiệu, địa chỉ nhà phân phối, điện thoạiliên hệ, và một số thông tin khác Kiểu dáng bao bì còn đơn điệu và giữa cácthương hiệu là khá giống nhau nên không tạo cho khách hàng sự nhận biếtthương hiệu qua bao bì, nhãn mác.

Đối với kiểu dáng và màu sắc sản phẩm thì các thương hiệu thờitrang trẻ em đều dễ dàng được nhận biết bởi các gam màu nóng, tươi trẻ, kiểudáng của các bộ sưu tập từ các thương hiệu nước ngoài cũng như các thươnghiệu trong nước đều khá đa dạng, tạo cho người tiêu dùng có nhiều sự lựachọn phù hợp hơn Tuy nhiên, gần đây các thương hiệu thời trang trẻ em ViệtNam đã chú ý hơn tới việc thiết kế kiểu dáng và cách kết hợp màu sắc giữacác sản phẩm của họ để tạo ra sự nhận biết, sự khác biệt đối với các sản phẩmcạnh tranh Đây là một dấu hiệu tốt cho sự phát triển của ngành thời trang trẻ

em nói chung và ngành thời trang Việt Nam nói riêng

Về các ấn phẩm quảng cáo,hay những tài liệu thông tin về sản phẩmcũng phần nào ngày càng được quan tâm hơn đối với các thương hiệu Tuynhiên, lại một lần nữa phải nói rằng, vấn đề này hầu như “không có” đối vớicác thương hiệu trẻ em Việt Nam Nhưng vớt vát lại được đó là sự phát triểnkhá nhanh và mạnh mẽ của hệ thống website về các thương hiệu thời trangViệt Nam là một điểm nhấn giúp cung cấp thông tin cơ bản cần thiết chongười tiêu dùng Yếu tố này trong hệ thống nhận diện thương hiệu cũng gópphần không nhỏ tạo nên “sự nhận biết thương hiệu” trong tâm trí khách hàng

Nó cũng là một công cụ giúp quảng bá thương hiệu sản phẩm tới khách hàng,chi phí cho hoạt động này không quá cao để đầu tư vào Còn vấn đề đồngphục nhân viên bán hàng, màu sắc tại hệ thống cửa hàng cũng là một vấn đềkhá quan trọng trong quá trình nhận thức, cũng như trợ giúp trí nhớ của ngườitiêu dùng Gần đây đối với một số thương hiệu Việt, và thương hiệu nướcngoài đã có sự cải tiến rõ rệt trong việc thiết kế đồng phục nhân viên sao chophù hợp với văn hóa công ty, phù hợp với tính thẩm mỹ của trang phục và củacửa hàng Đồng thời hình dáng thiết kế, màu sắc của cửa hàng cũng khá bắtmắt, thường là các gam màu chủ đạo trong logo của thương hiệu thời trang

đó

Trang 23

Ý nghĩa của việc xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu đối với

ngành thời trang nói chung và ngành thời trang nói riêng là rất quan trọng.Một hệ thống nhận diện thương hiệu mạnh sẽ mang một ý nghĩa nhận biết rõràng trong tâm trí của người tiêu dùng Giúp họ đưa ra sự lựa chọn đối vớithương hiệu sản phẩm của công ty một cách dễ dàng, kích thích sự lựa chọncủa họ khi họ có nhu cầu mua sản phẩm trẻ em Hệ thống nhận diện thươnghiệu mang đến cho khách hàng những giá trị cảm nhận cả về lý tính lẫn cảmtính, gây ra cho khách hàng tâm lý mong muốn được sở hữu sản phẩm, đượctrải nghiệm dịch vụ mang thương hiệu của Doanh nghiệp đó

Việc xây dựng được một hệ thống nhận diện thương hiệu mạnh sẽgiúp thuận lợi cho việc bán hàng, gia tăng doanh số Lực lượng bán hàng củaDoanh nghiệp sẽ tự tin trước khách hàng với sự xuất hiện của họ trong một hệthống nhận diện thương hiệu hoàn hảo Đồng thời gia tăng niềm tin của kháchhàng khi sử dụng sản phẩm mà ở đâu họ cũng có thể thấy được thương hiệuđó

Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu sẽ làm gia tăng giá trị củaDoanh nghiệp Tạo thế mạnh cho doanh nghiệp nâng cao và duy trì vị thếcũng như uy tín với cổ đông, đối tác, nhà đầu tư Nhất là khi kêu gọi vốn đầu

tư, doanh nghiệp sẽ tạo ra ấn tượng, niềm tin với các chủ đầu tư, đối tác với

hệ thống nhận diện thương hiệu chuyên nghiệp

Một hệ thống nhận diện thương hiệu phát triển sẽ tạo niềm tự hào chonhân viên, con người làm việc trong doanh nghiệp đó Giá trị tinh thần, niềm

tự hào khi được làm việc trong một môi trường chuyên nghiệp, mang đến chokhách hàng thương hiệu nổi tiếng mà ai cũng mong muốn sở hữu nó Gópphần tạo động lực, niềm say mê và nhiệt huyết của nhân viên trong công việc,gia tăng sự gắn bó và lòng trung thành của nhân viên

Một lợi thế về cạnh tranh cũng được khẳng định khi doanh nghiệp cómột hệ thống nhận diện thương hiệu vững chắc Hồ sơ dự thầu của doanhnghiệp với đầy đủ các yếu tố nhận diện thương hiệu sẽ dễ dàng đánh bại cácđối thủ cạnh tranh trong đấu thầu, và là cơ sở để dễ dàng thành công trongthương lượng

Trang 24

Nếu có được một hệ thống nhận diện thương hiệu thì doanh nghiệp

đã góp phần quảng bá thương hiệu và tồn tại lâu hơn với những quảng cáotrên báo, đài… Ngoài ra nó cũng thể hiện tầm nhìn của doanh nghiệp và sứcmạnh của thương hiệu

Chương II: THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN OVO VIỆT NAM

2.1.Giới thiệu chung về công ty:

* Tên công ty: Công ty Cổ phần OVO Việt Nam

* Trụ sở chính: Số 214 Minh Khai, Hai Bà Trưng, Hà Nội

* Tên giao dịch: OVO VietNam company

* Tên giao dịch quốc tế: OVO VietNam company

* Tên viết tắt: OVO

Từ sau khi thành lập cho tới nay công ty Cổ phần OVO Việt Nam cũng

đã từng bước khẳng định được vị thế của mình trên thị trường Việt Nam.Công ty bước đầu cũng đã khá thành công với thương hiệu thời trang mangnhãn hiệu nước ngoài, cũng là một trong những thương hiệu khá mạnh tại Mỹnên là một tiền đề thúc đẩy cho việc phát triển tại thị trường Việt Nam

Qua hơn 5 năm thành lập và phát triển công ty ngày càng không ngừnglớn mạnh và phát triển, khẳng định vị thế của mình trong ngành thời trang trẻ

em Việt Nam

2.1.2 Lĩnh vực kinh doanh:

- Sản xuất, kinh doanh các lĩnh vực thời trang, quần áo trẻ em Công ty

phân phối các sản phẩm của công ty mẹ bên Hoa Kỳ là các sản phẩm quần áodành cho trẻ sơ sinh cho tới trẻ em 12 tuổi Các sản phẩm được gia công và

Trang 25

may tại Thái Lan sau đó chuyển về Việt Nam để phân phối tới tay người tiêudùng.

- Có 4 dòng sản phẩm chính:

1 Ovobabies: quần áo dành cho trẻ sơ sinh từ 0 đến 18 tháng

2 Ovo tolder: quần áo dành cho trẻ em nhỡ từ 1 đến 4 tuổi

3 Ovo pretty: quần áo dành cho các bé gái từ 4 đến 12 tuổi

4 Ovo kids: quần áo dành cho các bé trai từ 4 đến 12 tuổi

- Các sản phẩm của Ovo đều được sản xuất với chất liệu là 100% cottonmát, mềm mại và thấm mồ hôi tốt Là dòng sản phẩm quần áo trẻ em cao cấpvới các kiểu dáng thiết kế đa dạng và các gam màu sáng là chủ yếu và cáchình ảnh vui nhộn

2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý sản xuất của công ty:

a Cơ cấu tổ chức quản lý:

Công ty Cổ phần OVO Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo LuậtDoanh Nghiệp 2005, các luật khác có liên quan và Điều lệ công ty

Bộ máy quản lý công ty bố trí theo cơ cấu trực tuyến chức năng, tức làứng với cấp quản lý nào có người ra quyết định ở cấp đó, cụ thể có 3 cấp :

- Cấp 1: Tổng giám đốc

- Cấp 2: Giám đốc và 1 phó giám đốc

- Cấp 3: Hệ thống các phòng ban và các chi nhánh phân phối

Thông qua cơ cấu trực tuyến, các quan hệ quản lý trực tiếp được xácđịnh rõ ràng tránh chồng chéo trong xác định trách nhiệm khi có vấn đề phátsinh Theo đó khi các vấn đề được xử lý trong từng bộ phận chức năng đểkhông gây ảnh hưởng trực tiếp tới các phòng ban khác Tuy vậy các phòngban này vẫn có mối liên hệ với nhau trong quá trình tiến hành các hoạt độngchung của công ty Cơ cấu quản lý này tỏ ra rất hiệu quả trong quá trình hoạtđộng của công ty

b Cơ cấu tổ chức sản xuất:

Công ty tổ chức sản xuất theo phương thức kết hợp (kết hợp chuyên mônhoá theo sản phẩm và chuyên môn hoá công nghệ) Tuy nhiên quá trình sảnxuất của công ty lại không thuộc phạm vi Việt Nam, mà công nghệ sản xuấtdệt may được sản xuất tại Thái Lan rồi phân phối về công ty

2.1.4 Nguồn lực của công ty:

Trang 26

a Nguồn lực tài chính:

- Về tài sản, năm 2008 tỷ trong tài sản ngắn hạn tăng lên trong khi tỷtrọng tài sản dài hạn giảm xuống so với năm 2007, xu hướng này ngược lạikhi so sánh năm 2007 và năm 2006 Về nguồn vốn, cơ cấu vốn thay đổi theohướng nợ phải trả giảm, tỷ trọng vốn chủ sở hữu tăng lên Tỷ trọng nợ trênvốn và tài sản đều thấp hơn mức trung bình của ngành là một dấu hiệu tốt.Tuy nhiên tỷ trọng tài sản trên vốn chủ lại giảm, thấp hơn mức trung bình củangành, thể hiện sự mất cân đối

- Khả năng thanh toán chung của công ty khá tốt, năm 2009 đạt mứctrung bình của ngành trong khi đó năm 2008 và 2007 cao hơn mức trung bìnhcủa ngành là 4% Tuy vậy, khả năng thanh toán nhanh lại chưa tốt, năm 2009thấp, năm 2008 và năm 2007 chỉ đạt mức trung bình

- Mức sinh lợi trên tài sản (ROA) rất tốt, cao hơn mức trung bình củangành tới 8.9 lần vào năm 2009 và 0.43 lần vào năm 2007 Mức sinh lợi vốnchủ sở hữu (ROE) tương đối tốt, thường cao hơn mức trung bình của ngành,tuy vậy năm 2009 có giảm so với 2008 và 2007

- Như vậy có thể thấy tình hình tài chính của công ty tương đối tốt, vốnchủ sở hữu tăng lên, nợ thấp và khả năng thanh toán đáp ứng được yêu cầu,đặc biệt sử dụng tài sản rất hiệu quả Tuy vậy cần nâng cao khả năng thanhtoán nhanh bằng cách nhanh chóng thu hối các khoản phải thu của kháchhàng và giảm tỷ lệ hàng tồn kho

b.Cơ sở vật chất, kỹ thuật và hệ thống kênh phân phối:

Hiện nay công ty đã có hệ thống kênh phân phối rộng khắp trên cả nước

Do sản phẩm của công ty được định vị mang hình ảnh cao cấp nên công tyđặc biệt quan tâm và tập trung nhiều nguồn lực trong việc xây dựng hệ thốngkênh phân phối Công ty sử dụng hệ thống kênh có sẵn là các trung tâmthương mại lớn để đặt các cửa hàng của công ty tại đó Các cửa hàng nàyđược chia ra làm hai loại:

- Loại 1: các đại lý phụ thuộc gồm các cửa hàng thuộc sở hữu và quản lýcủa công ty

- Loại 2: gồm các cửa hàng được công ty chọn làm đại lý và thuộc sởhữu của các chủ đại lý Những đại lý này cũng phải áp dụng đầy đủ các tiêuchuẩn cho một cửa hàng của Gio

Trang 27

Một số địa điểm đại lý lớn trên cả nước như:

* Cơ cấu lao động của công ty:

lao động nữ nhiều hơn lao động nam (nữ chiếm 80%) Cơ cấu này hơi chênhlệch nhưng lại phù hợp với loại sản phẩm sản xuất, phân phối là quần áo thờitrang trẻ em Một trong những thế mạnh của Ovo Việt Nam là lực lượng laođọng tương đối trẻ, số lao động dưới 30 tuổi chiếm 68.7%, từ 31 đến 40 tuổichiếm 31.3 %

Về chất lượng lao động, số lao động có trình độ đại học, trên đại họcchiếm 10.6%, nhân viên chiếm số phần trăm còn lại có trình độ đều từ Phổthông trung học trở lên

* Các chính sách đối với người lao động:

- Chế độ làm việc: Công ty luôn bảo đảm tuân thủ các chế độ vớingười lao động trong công ty theo thỏa ước lao động tập thể và Luật Lao động

- Chính sách lương, thưởng: Lao động gián tiếp hưởng lương theo vịtrí và hiệu quả công việc, lao động trực tiếp hưởng lương theo sản phẩm Thunhập trung bình năm 2008 là 3 triệu đồng/người/tháng, tổng quỹ lương trungbình chiếm 15% tổng doanh thu hàng năm Nhằm phát huy tối đa năng lựccủa người lao động, công ty đề ra các chính sách thưởng định kỳ và đột xuất.Mức thưởng đột xuất thường là một tháng lương cơ bản, thưởng định kỳ hàngnăm theo mức độ đóng góp ngày công lao động và hệ số lương

Trang 28

- Bảo hiểm và phúc lợi: Công ty luôn tuân thủ các quy định của Nhànước về bảo hiểm và phúc lợi đối với người lao động, 100% cán bộ, côngnhân viên có hợp đồng từ một năm trở lên đều được đóng bảo hiểm, quỹ khenthưởng, phúc lợi của công ty thường chiếm 12% lợi nhuận sau thuế

- Chính sách đào tạo: Công ty thường xuyên tổ chức các lớp nângcao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý, các lớp lý luận chính trị Cáchoạt động bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho người lao động trực tiếp sản xuất

2.1.5 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh: (tham khảo tài liệu khác):

a Kết quả hoạt động kinh doanh:

- Năm 2008, doanh thu bán hàng tăng 22% so với năm 2007, thấphơn mức tăng năm 2007, doanh thu thuần tăng 22% so với 2007 thấp hơnmức 28% năm 2007, do tốc độ tăng của doanh thu nhỏ hơn tốc độ giảm củacác khoản giảm trừ Lợi nhuận gộp cũng tăng lên 13% và 31%, tuy nhiên cáckhoản chi phí tài chính thì lại tăng nhiều 75 % và 31%

- Chi phí bán hàng tăng 12% thấp hơn mức 15% của năm 2007, chiphí quản lý doanh nghiệp tăng mạnh 26% thấp hơn mức 65% của năm 2007,cần có biện pháp giảm thiểu chi phí này

- Lợi nhuận khác tăng 49,4% và 127% do thu nhập khác tăng nhiềuhơn chi phí khác, lợi nhuận sau thuế năm 2008 giảm 3% so với 2007

Nhìn chung công ty có kết quả kinh doanh khá tốt và tương đối ổn đinh,duy trì được tốc độ tăng trưởng đều

b.Tình hình tiêu thụ sản phẩm theo khu vực thị trường

Thị trường Miền Bắc là thị trường chính của công ty, nơi tiêu thụ gần 2/3sản lượng

2.2 Thị trường và khách hàng của công ty:

Dựa vào những đặc điểm của khách hàng đã phân tích ở mục 1.1.1, vàtheo đặc điểm địa lý thì cả nước được chia ra làm ba khu vực : Miền Bắc,Miền Trung, Miền Nam Ovo chọn tập trung phân phối chủ yếu trên địa bànMiền Bắc và trong địa bàn Miền Bắc thì thủ đô Hà Nội là thị trường mục tiêu.Việc lựa chọn một phần do sự chi phối về địa điểm đặt công ty và các yếu tốcạnh tranh mà thị trường thời trang trẻ em vô hình chung đã tạo thành từngkhu vực truyền thống cho mỗi công ty

Trang 29

Với OVO Việt Nam mỗi sản phẩm của công ty sẽ phục vụ cho một hoặcmột vài nhu cầu ứng với một hoặc một vài kiểu khách hàng nào đó, sự baophủ thị trường phụ thuộc vào mức độ phong phú của chủng loại sản phẩm.Việc lựa chọn thị trường mục tiêu cho từng loại sản phẩm của công tydựa trên mô hình sau:

Mô hình lựa chọn thị trường mục tiêu cho chủng loại sản phẩm

Ví dụ:Thị trường mục tiêu cùa dòng sản phẩm quần áo trẻ em sơ sinh:

- Nhu cầu: Các trẻ em sơ sinh cần được giữ ấm với các sản phẩm khônggây kích ứng da, mềm mại, thoáng và thấm mồ hôi

- Những người có nhu cầu: Chủ yếu khách hàng là những bà mẹ có trẻ sơsinh, hay người thân trong gia đình, một bộ phận rất ít những người mua tặng,biếu

- Do đó khách hàng mục tiêu lựa chọn ở đây lại là những bà mẹ có con

Và sản phẩm sẽ được thiết kế, cũng như lựa chọn những nguyên liệu sao chophù hợp với nhu cầu của những khách hàng này

2.3 Phân tích swot và nghiên cứu đối thủ cạnh tranh:

2.3.1 Tổng quan về cung cầu thị trường thời trang trẻ em tại Việt Nam:

Ngành thời trang trẻ em hiện nay đang là một trong những ngành pháttriển và có tiềm năng còn phát triển mạnh hơn nữa trong tương lai Nếu trướcđây các công ty may mặc lớn “bỏ qua” thị trường thời trang trẻ em, nhường

cầu

Tình huốn g

Con ngư ời

Trang 30

hẳn “sân chơi” cho các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ và hàng Trung Quốc thì hiệnnay, nhiều công ty đang đầu tư để khai thác thị trường đầy tiềm năng này.Trong thời gian qua thời trang Việt Nam đã có bước phát triển rất nhanh,đang gây tiếng vang và dần khẳng định vị thế trên các sàn diễn Quốc tế.Nhiều hãng thời trang cũng chú trọng xây dựng thương hiệu của mình rấtchuyên nghiệp, với sự giao thoa của các nhà thiết kế nước ngoài…Thế nhưng,mảng thời trang dành cho trẻ em vẫn chưa được chú trọng một cách thỏađáng Điểm lại, thời trang dành cho trẻ em có tên tuổi hiện cũng chỉ đếm đượctrên đầu ngón tay Những thương hiệu việt như : Việt Thy, Nhật Tân, Won,…

đã được chú trọng đưa ra nhiều mẫu mã mới, chất liệu vải tốt, phối màu nhẹnhàng và tinh nghịch Giá của những bộ thời trang này tương đối cao so vớimặt bằng thu nhập chung của xã hội, do vậy khách kén hàng Ngoài ra thì cácthương hiệu thời trang nước ngoài lại đang ngày càng xâm nhập nhanh chóng

và cũng phát triển khá nhanh tại Việt Nam như: Disney baby, Chawn, …

và một số hãng thời trang có vốn đầu tư nước ngoài thường mua thiết kếtại Nhật, Hàn Quốc,…hoặc là nhà phân phối của các hãng nước ngoài như

Mỹ, Itallia, Thụy Điển,… sản xuất với số lượng vừa phải nhưng sản phẩmdành cho bé rất cao cấp, độc đáo, chỉ dành cho một số đối tượng có thu nhậpcao trong nước Còn thời trang phổ thông cho phần lớn trẻ em thì lại chủ yếu

là hàng chợ, được các tổ hợp tư nhân từ lâu chiếm lĩnh Đó là những ngườikinh doanh năng động, chỉ cần thấy mẫu mã mới của nước ngoài là có thểtriển khai ngay cho sản xuất hàng loạt, bỏ mối cho các chợ bán giá rẻ Tuynhiên, những sản phẩm này thường chất liệu vải chưa tốt, vải bị lỗi hoặc dệtquá mỏng, đường kim mũi chỉ không sắc sảo, dễ bị tuột chỉ Đồng thời một sốlượng lớn quần áo trẻ em được sản xuất công nghiệp có nguồn gốc từ TrungQuốc đang chiếm một thị phần rất đáng kể

Có thể thấy rằng lượng cung vê quần áo trẻ em ngày càng gia tăng, hơnnữa lượng cầu cũng đang tỉ lệ thuận với lượng cung, nhưng cầu lại ngày càngđòi hỏi những hàng hóa, sản phẩm và dịch vụ với chất lượng, mẫu mã ngàycàng tốt hơn, bởi gần đây, thu nhập và mức sống của người dân ngày một cao,nhu cầu mặc đẹp cho các bé cũng tăng cao Không hài lòng với các sản phẩmcấp trung bình hoặc cấp thấp, nhiều người đã lựa chọn cho con em mình

Trang 31

những bộ thời trang khá đẹp của các công ty như: Kico, Ovo, Digitex,Hanosimex, Sanding, Thành Công…

Do nắm bắt được nhu cầu, các doanh nghiệp dệt may trong nước đã chú

ý khai thác thị trường này, nhiều doanh nghiệp tập trung đầu tư thiết kế cácsản phẩm mới, vừa độc đáo, vừa trang nhã dành cho các bé Thường sảnphẩm dành cho bé trai sẽ đơn giản với quần soọc, áo thun in nhiều hình lạ,nhưng các sản phẩm dành cho bé gái lại rất đa dạng Các nhà thiết kế đã chútrọng đến tính độc đáo và sang trọng để các em bé gái đẹp hơn, tự tin hơn khi

“diện” bộ đồ mới

Tuy nhiên trên thực tế thời trang cho các bé cũng chưa được khai thácđúng mức, các nguồn cung cho dòng thời trang này chiếm tỷ lệ thấp trongtổng doanh thu Trong khi đó, mức sống ngày càng phát triển thì nhu cầu mặcđẹp cho các bé càng lớn Do vậy, thị trường thời trang cho trẻ em còn nhiềumàu mỡ mà các nhà thiết kế thời trang trong nước có thể hướng đến khai tháchiệu quả nhưng đồng thời cũng lại là một điều kiện hết sức thuận lợi cho cácthương hiệu thời trang trẻ em nước ngoài xâm nhập và phát triển

2.3.2 Những đối thủ cạnh tranh chính của công ty OVO Việt Nam trên thị trường Miền Bắc:

Đối thủ cạnh tranh chính của Ovo trên thị trường Miền Bắc và chủ yếutại thị trường Hà nội chính là thương hiệu thời trang của Thái Lan : Disneybaby và thương hiệu Kico_một thương hiệu Việt

Công ty cổ phần Kico:

Công ty Kico Fashion co là công ty TNHH một thành viên chuyên thiết

kế, phát triển và tiêu thụ sản phẩm là các loại trang phục thời trang trẻ em,nhãn hiệu của Kico gồm: Kico và Kids collection Tại trường Hà Nội và cáctỉnh phía Bắc ước tính có khoảng 65% người tiêu dùng thương gọi Kico

là :”hàng hiệu” cho thấy Kico là một thương hiệu mạnh và đang dần phát triểnrất thuận lợi trên thị trường Miền Bắc Việt Nam Vì vậy Kico là đối thủ cạnhtranh hàng đầu của Ovo Việt Nam Với hệ thống kênh tiêu thụ rộng khắpmiền bắc và đang thực hiện những bước đầu xâm nhập vào thị trường MiềnNam Thị phần của công ty Kico chiếm lĩnh trên thị trường cũng khá lớn

Trang 32

khoảng 30.35 % trong ngành thời trang trẻ em cả nước Gần đây hàng ViệtNam chất lượng cao được khá nhiều người tiêu dùng ưa chuộng và tin dùng.Cùng với chính sách kêu gọi “người Việt dùng hàng Việt” của các doanhnghiệp khác mà Kico ngày càng khẳng định được tên tuổi của mình trên thịtrường Miền bắc Mục tiêu của Kico là đạt tới và duy trì vị trí số một trên thịtrường Miền Bắc và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu với chiến lược về sảnphẩm và tiếp tục truyền thông, xây dựng hình ảnh định vị cao cấp Kico cũngtham gia nhiều sự kiện cũng như tổ chức nhiều sự kiện, bên cạnh đó công tác

PR của Kico thực sự rất tốt nên đã để lại những ấn tượng nhất định đối vớingười tiêu dùng

Công ty Disney baby Thái Lan:

Trên thị trường thời trang trẻ em, thương hiệu Disney baby đã trở thànhmột thương hiệu khá quen thuộc Định vị xuyên suốt “ chất lượng là trên hết”

đã khẳng định mục tiêu cũng như chiến lược của Disney baby đó là đầu tưvào việc bảo đảm chất lượng sản phẩm là tốt nhất Bên cạnh sản xuất thờitrang trẻ em thì Disney baby còn sản xuất các đồ dùng liên quan tới trẻ emnhư: bình sữa, đồ chơi, túi địu,…Mở rộng lĩnh vực kinh doanh là một hướng

đi giúp tăng doanh thu, phát triển thị phần song có thể khiến công ty xaonhãng ngành kinh doanh chính và khiến người tiêu dùng lúng túng về hìnhảnh của công ty Các sản phẩm của Disney baby được cũng cấp và phân phốirộng rãi trên cả nước với giá cả và chất lượng hợp lý Disney baby cũng chútrọng đến các hoạt động truyền thông marketing, đặc biệt là quảng cáo và PR

2.3.3 Những đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn:

Được đánh giá là thị trường tiềm ẩn và sẽ rất phát triển trong tươnglai, thị trường thời trang nói chung và thị trường thời trang trẻ em nói riêng sẽ

là những thị trường để các doanh nghiệp nước ngoài cũng như trong nướcxâm nhập Đặc biệt phải kể đến đối thủ tiềm ẩn lớn nhất chính là Trung Quốc,các sản phẩm được nhập khẩu từ Trung Quốc có giá rẻ, phong phú với nguồncung dồi dào, lại có mẫu mã đẹp nên cũng tràn ngập trên thị trường thời trangViệt Nam Ngoài ra các sản phẩm xuất xứ từ các nước ASEAN cũng đang dần

Trang 33

dần gia nhập thị trường “béo bở” này tại Việt Nam và đang dần từng bướckhẳng định vững chắc hơn nữa thương hiệu của mình

2.3.4 Những lợi thế và hạn chế cơ bản của OVO Việt Nam:

* Những lợi thế:

- Công ty OVO Việt Nam được thành lập năm 2004 với số vốn đầu tưban đầu là 40 tỷ đồng Hoạt động kinh doanh của công ty luôn đạt đượcnhững thành tựu đáng kể trong những năm qua với tốc độ tăng trưởng bìnhquân trên 30%/năm Kết quả 9 tháng đầu năm 2009 cho thấy mặc dù bị ảnhhưởng của khủng hoảng kinh tế nhưng công ty vẫn hoàn thành vượt mức kếhoạch các chỉ tiêu

- Công ty có nguồn vốn khá mạnh và sự tương trợ từ công ty mẹ bên Hoa

Kỳ nên quy mô và nguồn vốn của công ty là khá ổn định

- Sản phẩm có chất lượng tốt với toàn bộ chất liệu nhập từ nước ngoàiđảm bảo về chất lượng

- Có kênh phân phối rộng khắp trên toàn quốc

- Là một thương hiệu khá lâu đời của Hoa Kỳ nên khi gia nhập thị trườngViệt Nam sẽ có được những lợi thế cạnh tranh nhất định

- Các sản phẩm có một đội ngũ thiết kế bên Hoa Kỳ đảm nhận với những

bộ sưu tập đa dạng phong phú về kiểu dáng, mẫu mã và hợp với hình thể củatrẻ em từng nước

- Việc lập kế hoạch truyền thông và quảng bá thương hiệu tại ViệtNam chưa được đẩy mạnh trong thời gian qua do vậy hệ thống nhận diệnthương hiệu của công ty vẫn chưa hoàn thiện

Trang 34

- Đội ngũ quản lý bán hàng và nhân viên bán hàng của công ty cònchưa được đào tạo bải bản và trình độ quản lý các kênh phân phối còn chưatốt gây ra một số vấn đề về các dòng chảy trong kênh như xung đột kênh,…

- Hiện tại công ty còn thiếu đội ngũ nhân lực có tri thức cao và khảnăng quản lý tốt

- Việc nắm bắt và nghiên cứu thị hiếu nhu cầu, thói quen mua sắm củangười tiêu dùng Việt Nam chưa được đẩy mạnh cũng như những nghiên cứu

về thể trạng sức khoẻ và phát triển của trẻ em Việt Nam chưa được đề cập tớinhiều

2.4 Tầm quan trọng của vấn đề xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu đối với công ty CỔ PHẦN OVO Việt Nam:

* Giá trị và ý nghĩ thương hiệu của công ty:

Thương hiệu OVO là một thương hiệu có nguồn gốc từ nước Mỹ Ýnghĩa nằm trong từ Ovo(trứng) muốn nói lên trẻ em như những gì non nớtnhất, quý giá nhất, là những mầm non và cần phải được bảo vệ trong lớp vỏtrứng cứng cáp! Thương hiệu Ovo đã được coi là một trong những thươnghiệu khá lâu đời tại Mỹ trong ngành thời trang trẻ em trên đất nước này, vì thế

mà giá trị thương hiệu này khi xâm nhập vào thị trường Việt Nam cũng đãđược khẳng định dần theo thời gian

2.4.1 Hệ thống nhận diện thương hiệu đối với chiến lược sản phẩm:

Để xây dựng được một hệ thống nhận diện thương hiệu thì phải kể đếnkhông ít những công cụ giúp truyền tải thương hiệu đó đến với người tiêudùng như: Các công cụ truyền thông _quảng cáo truyền hình, quảng cáo ngoàitrời, báo, tạp chí,…, ngay cả các công cụ phân phối sản phẩm cũng là mộttrong những hình thức để đưa hình ảnh của sản phẩm, của thương hiệu tới đối

Trang 35

với người tiêu dùng, giúp người tiêu dùng nắm bắt được phần nào thông tin

về sản phẩm của công ty Trong hệ thống nhận diện thương hiệu bao gồm têncác nhãn hiệu của hàng hoá, sản phẩm hay dòng sản phẩm của công ty vớinhững màu sắc, thiết kế bao bì khác nhau,… từ đó mới có thể giúp người tiêudùng phân biệt được giữa các dòng sản phẩm với nhau và phân biệt được vớisản phẩm của đối thủ cạnh tranh Một thương hiệu thành công đánh dấu mộtsản phẩm có lợi thế cạnh tranh bền vững Thương hiệu và hệ thống nhận diệnthương hiệu là một thành phần phi vật thể nhưng lại là phần thiết yếu của mộtdoanh nghiệp Một khi mà các sản phẩm đã đạt đến mức độ hầu như khôngthể phân biệt được bằng tính chất, đặc điểm và lợi ích công dụng thì thươnghiệu và các yếu tố xung quanh thương hiệu là yếu tố duy nhất tạo ra sự khácbiệt giữa các sản phẩm Ví dụ như dòng sản phẩm Ovo baby của công ty OvoViệt Nam và Disney baby của Disney Thái Lan có chất lượng, mẫu mã kiểudáng đều rất tốt, và đẹp đa dạng Nếu như tạo dựng được một hệ thống nhậndiện thương hiệu tốt thì khách hàng sẽ lựa chọn sản phẩm của Ovo thay vì củaDisney dựa trên hệ thống nhận diện thương hiệu vững chắc tạo sự tin tưởngnơi khách hàng Ngoài ra một trong các công cụ đưa thương hiệu tới vớingười tiêu dùng là Quảng cáo còn giúp nhắc nhở sự hiện diện của những sảnphẩm hiện có của công ty, hay đối với những sản phẩm mới quảng cáo tạo sựbiết đến và ưa thích Quảng cáo còn góp phần thúc đẩy tiêu thụ, làm tăngdoanh thu Quảng cáo, Thương hiệu và Sản phẩm giống như ba đỉnh của mộttam giác, tồn tại trong mối quan hệ tương hỗ Quảng cáo là một công cụ giúpduy trì, xây dựng và phát triển thương hiệu, thương hiệu mạnh lại giúp gâydựng uy tín cho sản phẩm, sản phẩm tốt lại tăng cường hơn cho tính trungthực của quảng cáo

Do vậy cần phải đưa ra những chiến lược về thương hiệu đồng thời sửdụng các công cụ của hệ thống nhận diện thương hiệu một cách có hiệu quảthì sẽ đem lại nhiều danh tiếng cũng như lợi nhuận cho công ty

2.4.2 Hệ thống nhận diện thương hiệu đối với chiến lược giá:

Giá cả là một biến số cực kỳ quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới việc bánhàng của Ovo, do đó ảnh hưởng tới doanh thu, vì thế mà cũng ảnh hưởng tớingân sách cho các hoạt động dành cho việc xây dựng hệ thống nhận diện

Ngày đăng: 16/07/2013, 18:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

5. Hình ảnh động vật (Animorphic) - Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu cho công ty TNHH Cổ phần Việt Nam trên toàn Miền Bắc
5. Hình ảnh động vật (Animorphic) (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w