1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến nghị các giải pháp cơ bản phát triển lao động kỹ thuật trong ngành Công nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập

91 689 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiến nghị các giải pháp cơ bản phát triển lao động kỹ thuật trong ngành công nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập
Tác giả Nguyễn Vân Anh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế hoạch & Phát triển
Thể loại Chuyên đề thực tập
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông thường hai thuật ngữ “lao động giản đơn” và “lao động lành nghề” hay được dùng để chỉ hai khái niệm tương phản nhau. Lao động giản đơn là những lao động mà bất cứ một người nào với một sức khỏe bình thường và điều kiện lao động bình thường cũng có thể tạo ra.

Trang 1

CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA LAO ĐỘNG KỸ THUẬT VỚI PHÁT

TRIỂN KINH TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP

I Một số khái niệm về lao động kỹ thuật:

1 Khái niệm lao động kỹ thuật và cơ sở phân loại lao động kỹ thuật.

1.1 Khái niệm LĐKT:

Ngày nay thuật ngữ lao động kỹ thuật đã trở nên quen thuộc trong đời sống hàng ngày Ta có thể bắt gặp từ này rất nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, các mặt báo cũng như các kênh truyền hình Tuy nhiên, quan niệm về nghĩa của cụm từ này rất khác nhau

Thông thường hai thuật ngữ “lao động giản đơn” và “lao động lành nghề” hay được dùng để chỉ hai khái niệm tương phản nhau Lao động giản đơn là những lao động mà bất cứ một người nào với một sức khỏe bình thường và điều kiện lao động bình thường cũng có thể tạo ra Hay nói cách khác, lao động giản đơn là lao động không đòi hỏi phải đào tạo về chuyên môn cũng có thể thực hiện được một công việc nào đó Còn lao động lành nghề là lao động đã qua đào tạo, huấn luyện, có trình độ chuyên môn và có kinh nghiệm tích lũy trong thực tiễn để thực hiện công việc phức

tạp mà lao động giản đơn không làm được (theo từ điển Bách khoa Việt Nam)

Nhưng thực chất cả lao động lành nghề và lao động giản đơn đều không phải là lao động kỹ thuật

Trong một số các nghiên cứu, thống kê lao động- việc làm hàng năm, thuật ngữ “lao động chuyên môn kỹ thuật” được sử dụng để chỉ những người lao động được đào tạo từ sơ cấp trở lên đến đại học và sau đại học, phần còn lại là lao động không có chuyên môn kỹ thuật Như vậy theo quan điểm này thì lao động đã qua đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm 2 loại: lao động kỹ thuật mang tính thực hành (được đào tạo từ các cơ sở đào tạo nghề) và lao động chuyên môn mang tính hàn lâm ( được đào tạo theo hệ cao đẳng, đại học và sau đại học)

Theo phạm vi nghiên cứu của đề tài, ta xét tới vấn đề phát triển đội ngũ lao đông kỹ thuật cho ngành công nghiệp nên đối tượng nghiên cứu ở đây chỉ là lao động

mang tính thực hành Do đó, ta có thể hiểu khái niệm lao động kỹ thuật như sau: lao

động kỹ thuật là lao động được đào tạo, cấp bằng hoặc chứng chỉ của các bậc đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân, hoặc là những người công nhân kỹ thuật không bằng nhưng vẫn có khả năng thực hành nghề để đáp ứng được nhu cầu của

Trang 2

thị trường lao động ở các ngành nghề khác nhau, các trình độ khác nhau nhằm tạo

ra hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xã hội Bên cạnh đó, lao động chuyên môn

lại là lao động được đào tạo theo hệ thống giáo dục mang tính hàn lâm: cao đẳng, đại học và sau đại học có nhiệm vụ đào tạo lao động chuyên môn gắn với công việc quản

lý, nghiên cứu khoa học và lao động chuyên gia…

Hình 1: Phân loại lao động

Nguồn: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội

1.2 Cơ sở phân loại LĐKT:

Trong chiến lược phát triển giáo dục và quy hoạch mạng lưới các trường dạy nghề giai đoạn 2009- 2020 và quy hoạch mạng lưới các trường dạy nghề giai đoạn 2010-2020 do Chính phủ phê duyệt đã xác định cần phải xây dựng được đội ngũ lao động kỹ thuật lành nghề, có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, đảm bảo khả năng

Tổng số dân

Lực lượng lao động Không thuộc lực lượng

Trang 3

Theo đó ta phải xây dựng được hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành hợp lý, đảm bảo lượng đầu ra đáp ứng được nhu cầu và cơ cấu lao động theo ngành nghề của thị trường.

Đặc điểm đặc trưng của hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành là tính thực hành

về kỹ thuật và nghề nghiệp, đòi hỏi người lao động phải có kiến thức và kỹ năng nghề cần thiết ở mức độ nhất định và khả năng ứng dụng kiến thức được học vào thực tế làm việc Do đó hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành đòi hỏi phải được hình thành và phát triển bắt đầu từ bậc trung học cơ sở (theo sơ đồ 2)

Hiện nay hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành ở nước ta thực hiện các chương trình đào tạo lao động kỹ thuật theo các trình độ sau:

- Bán lành nghề: đủ năng lực hành nghề để thực hiện những nhiệm vụ và kỹ năng nghề đơn giản, lặp đi lặp lại thành thông lệ hay những công nghệ và kỹ năng có thể dự đoán được

- Lành nghề: đủ năng lực hành nghề để thực hiện những nhiệm vụ và kỹ năng nghề trong phạm vi rộng đáng kể, để có thể thực hiện một số công việc và kỹ năng nghề phức tạp, không theo thông lệ với yêu cầu trách nhiệm của cá nhân người lao động, khả năng hợp tác với đồng nghiệp và làm việc theo tổ, nhóm

- Trình độ cao: đủ năng lực hành nghề để thực hiện những nhiệm vụ và kỹ năng nghề ở phạm vi rộng, có thể thực hiện một số công việc kỹ năng nghề với mức

độ phức tạp cao trong những điều kiện làm việc khác nhau không theo thông lệ, với yêu cầu trách nhiệm và có sự độc lập, cũng như khả năng hướng dẫn, quản lý và giám sát công việc của người lao động khác

Trang 4

Hình 2: Hệ thống giáo dục quốc dân

Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo.

2.Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của lao động kỹ thuật:

2.1 Tác động của công tác đào tạo nghề:

Việt Nam đang trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, điều này tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế Việt Nam hòa nhập cùng các nền kinh tế phát triển khác, có thể tiếp thu học hỏi kinh nghiệm từ các nước đi trước Tuy nhiên cũng

có vô số khó khăn đặt ra đối với chúng ta, đặc biệt là yêu cầu lao động có chuyên môn kỹ thuật để phát triển các ngành nghề hiện đại ngày càng cao Trước hoàn cảnh

đó, giải pháp cần chú trọng trước tiên chính là đổi mới công tác đào tạo nghề Vậy thế nào là công tác đào tạo nghề?

Theo tài liệu của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thì đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khoá học thực hành được một nghề trong

xã hội Khái niệm trên đã không dừng lại ở ý nghĩa đào tạo nghề là đào tạo về kỹ năng thực hành kỹ thuật mà còn bao hàm cả ý nghĩa giáo dục về thái độ, hành vi và

kỷ luật khi tham gia lao động Lao động kỹ thuật được đào tạo tốt có khả năng vận dụng các khiến thức được giảng dạy vào thực tiễn nhanh và hiệu quả Bởi vậy công

Trang 5

tác đào tạo nghề được chú trọng phát triển hợp lý sẽ tạo ra nguồn lao động kỹ thuật theo kịp với nhu cầu và thực trạng phát triển của nền kinh tế xã hội.

2.2 Tác động của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Cơ cấu kinh tế là phạm trù kinh tế, là thuộc tính của hệ thống kinh tế, thể hiện tính chất và trình độ phát triển hệ thống kinh tế của một quốc gia Hình thức biểu hiện của cơ cấu kinh tế là tỷ trọng của các bộ phận hợp thành, còn bản chất của nó là quan hệ tương tác giữa các bộ phận hợp thành

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là việc chuyển cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác, mà trạng thái ấy được quyết định bởi các bộ phận hợp thành và kiểu kết cấu Mỗi trạng thái được thể hiện trước hết qua tỷ trọng của mỗi bộ phận cấu thành nên hệ thống, rồi thể hiện qua tính vững chắc của hệ thống và chất lượng phát triển của hệ thống kinh tế Bởi vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Những tiêu chí cơ bản phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vĩ mô bao gồm: tỷ trọng của các phần tử cơ cấu của hệ thống (theo GDP, lao động) và các chỉ tiêu chất lượng (như năng suất lao động, tiêu hao điện năng trên một đồng GDP, tỷ lệ hộ đói nghèo, tỷ lệ người thất nghiệp…) Ở đây chỉ xét tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế dưới góc độ chuyển dịch theo các ngành nghề cơ bản trong hệ thống kinh tế quốc dân Khi cơ cấu các nhóm ngành thay đổi, nhu cầu lao động trong từng nhóm ngành cũng thay đổi theo.Việt Nam tham gia hội nhập, các nhóm ngành sử dụng nhiều công nghệ hiện đại có xu hướng ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng kéo theo nhu cầu lao động

kỹ thuật chất lượng cao cũng tăng theo Bởi vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế là tiền đề của chuyển dịch cơ cấu lao động

2.3 Tác động của chuyển giao công nghệ.

Chuyển giao công nghệ là hoạt động tiếp thu các công nghệ hiện đại từ nước

sở hữu công nghệ sang nước muốn sử dụng công nghệ đó Đối với các quốc gia đang phát triển, do hạn chế về vốn cũng như cở sở vật chất, việc nghiên cứu ứng dụng một công nghệ mới vào sản xuất rất khó khăn Giải pháp của các nước này thường là mua công nghệ từ các nước phát triển khác và triển khai vào trong nước Để thích ứng với công nghệ mới được chuyển giao, làm chủ được công nghệ, xử lý hệ thống thông tin

kỹ thuật, lắp đặt vận hành, bảo trì công nghệ, tổ chức sản xuất, cải tiến hoàn thiện công nghệ nhập ngoại…, các nước đang phát triển cũng yêu cầu phải có một lực lượng lao động đủ trình độ chuyên môn kỹ thuật Quá trình chuyển giao diễn ra càng nhanh và nhiều khi nhu cầu mua công nghệ của các nước đang phát triển càng cao và đặc biệt là trong xu thế thế toàn cầu hóa ngày nay

Trang 6

Như vậy tốc độ chuyển giao công nghệ cao đã là động lực kích thích nhu cầu lao động kỹ thuật của các doanh nghiệp tăng theo tương ứng Chuyển giao công nghệ nhanh tạo điều kiện thúc đẩy phát triển đội ngũ lao động kỹ thuật trên toàn quốc nói chung và từng ngành kinh tế ứng dụng công nghệ hiện đại nói riêng.

2.4 Tác động của xu thế toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức:

Toàn cầu hóa kinh tế là xu hướng không thể đảo ngược của kinh tế thế giới hiện đại Toàn cầu hóa kinh tế không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế của một nước mà còn ảnh hưởng đến rất nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội khác, trong đó có lĩnh vực đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Để hội nhập với kinh tế thế giới, chúng ta cần phải bắt nhịp chung với các tri thức của nhân loại Điều này đòi hỏi các nước đang phát triển phải đổi mới hệ thống đào tạo và thực thi các chính sách ưu tiên phát triển công tác đào tạo Bao gồm việc đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy; nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy…

và các chế độ, chính sách nhằm khuyến khích, hỗ trợ đối với giảng viên cũng như các học viên Mục tiêu cuối cùng của các hoạt động trên là tạo ra được đội ngũ lao động

kỹ thuật vừa nắm vững lý thuyết, vừa có kỹ năng nghề nghiệp và có khả năng thích ứng với sự thay đổi của công nghệ Việc đổi mới phải được thực hiện theo hướng cập nhật các tri thức khoa học- công nghệ hiện đại của khu vực và thế giới, lấy học viên làm trung tâm, tăng cường khả năng thực hành của học viên và ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy

Toàn cầu hóa còn tạo điều kiện thuận lợi cho các nước học hỏi, trao đổi kinh nghiệm cho nhau Đối với các nước đang phát triển, nó sẽ mở ra những cơ hội mới được giao lưu, hợp tác phát triển đào tạo với các nước phát triển có hệ thống đào tạo tiên tiến Những cở sở đào tạo liên kết với nước ngoài hoặc chương trình cử lao động

đi học tập tại nước phát triển sẽ tạo điều kiện phát triển đội ngũ lao động kỹ thuật trong nước cả về số lượng cũng như chất lượng Như vậy dưới ảnh hưởng của toàn cầu hóa, cung và cầu lao động kỹ thuật chất lượng ngày càng tăng

3.Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng lao động kỹ thuật:

Đánh giá chất lượng lao động thực chất là đánh giá trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng của lao động cũng như sức khỏe của họ Điều này lại phụ thuộc vào hoạt động giáo dục đào tạo và các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe Đối với lao động

kỹ thuật, ta có thể sử dụng một số chỉ tiêu cụ thể để đánh giá chất lượng lao động như: trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng suất lao động hiệu quả,

Trang 7

thời gian lao động hiệu quả, sức khỏe người lao động, ý thức tổ chức kỷ luật trong lao động…

3.1 Trình độ văn hóa:

Trình độ văn hóa của người lao động là sự hiểu biết của người lao động đối với những kiến thức phổ thông về tự nhiên Trong chừng mực nhất định, trình độ văn hóa của dân số biểu hiện mặt bằng dân trí của quốc gia đó Trình độ văn hóa được biểu hiện thông qua quan hệ tỷ lệ như:

- Số lượng người biết chữ và chưa biết chữ

- Số người có trình độ tiểu học (cấp I)

- Số người có trình độ trung học cơ sở (cấp II)

- Số người có trình độ trung học phổ thông (cấp III)

- Số người có trình độ đại học và trên đại học,…

Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực là một chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng của nguồn nhân lực Trình độ văn hóa cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học vào thực tiễn

Trình độ văn hóa còn quyết định tới khả năng tiếp thu và thực hành nghề trong thực

tế của các lao động kỹ thuật Các lao động có trình độ văn hóa cao hơn sẽ có nhiều khả năng và cơ hội được đào tạo chuyên sâu hơn, trở thành lao động kỹ thuật trình độ cao Đối với đội ngũ lao động kỹ thuật, theo cấu trúc trong sơ đồ 2, các lao động đều

có trình độ ở mức trung học cơ sở và trung học phổ thông Do đó tỷ lệ lao động có trình độ văn hóa ở bậc trung học cở sở với bậc trung học phổ thông sẽ phản ánh một phần chất lượng của đội ngũ lao động kỹ thuật

3.2 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động:

Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, kinh nghiệm, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó, trình độ chuyên môn được hình thành và phát triển thông qua quá trình đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học, Người lao động có chuyên môn nhất định sẽ có khả năng chỉ đạo, quản lý công việc thuộc chuyên môn đó Do đó trình độ chuyên môn của người lao động được đo bằng:

- Tỷ lệ cán bộ qua đào tạo trung cấp

- Tỷ lệ cán bộ qua đào tạo cao đẳng và đại học

- Tỷ lệ cán bộ được đào tạo trên đại học

Trình độ kỹ thuật của người lao động được dùng để chỉ trình độ của người lao động được đào tạo ở các trường kỹ thuật, trường dạy nghề… Sau quá trình đào tạo,

Trang 8

người lao động kỹ thuật được trang bị kiến thức nhất định tùy theo đặc điểm từng ngành nghề khác nhau, những kỹ năng thực hành về công việc của ngành nghề đó Trình độ kỹ thuật của người lao động kỹ thuật được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu:

- Số lao động được đào tạo và lao động phổ thông

- Số người có bằng kỹ thuật và không có bằng

- Trình độ tay nghề theo bậc thợ

Trình độ chuyên môn và kỹ thuật của người lao động tuy là hai phạm trù khác nhau nhưng thường liên quan, kết hợp chặt chẽ với nhau trong phân tích chất lượng nguồn nhân lực Chúng đồng thời biểu hiện thông qua chỉ tiêu giữa số lượng lao động được đào tạo và không được đào tạo trong từng tập thể người lao động thuộc phạm vi nghiên cứu

3.3 Năng suất lao động hiệu quả:

Năng suất lao động theo định nghĩa của tổ chức OECD là chỉ tiêu kinh tế phản ánh hiệu quả làm việc trong một thời gian nhất định, xác định băng cách so sánh một bên là chỉ tiêu kết quả sản xuất (tính bằng giá trị hiện vật, quy ước là Q) và một bên

là chỉ tiêu lao động làm việc (tính theo ngày hoặc thời gian làm việc: ngày công, giờ công, quy ước là L) Nói cách khác, năng suất lao động chính là tỷ số giữa sản lượng đầu ra với số lượng đầu vào được sử dụng Thước đo sản lượng đầu ra là GDP(Gross Domestic Product) tính theo giá cố định và điều chỉnh theo lạm phát Ba thước đo thường sử dụng nhất của lượng đầu vào là: thời gian làm việc, sức lao động và số người tham gia lao động Theo cách định nghĩa trên ta có thể cụ thể hóa năng suất lao động thành công thức: P = GDP/ L

Một doanh nghiệp có năng suất lao động thấp cũng đồng nghĩa với việc khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đó là không cao Do năng suất thấp nên hao phí tạo ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh sẽ cao Hao phí đó bao gồm hao phí về thời gian lao động, hao phí nguyên vật liệu, không khai thác được triệt để năng lực làm việc… và kết quả làm cho hiệu quả lao động thấp

Năng suất lao động là một chỉ tiêu thực tế được dùng để đánh giá chất lượng lao động kỹ thuật Bên cạnh ý nghĩa phản ánh thực trạng hiệu quả lao động của người công nhân kỹ thuật, chỉ tiêu này cho phép so sánh với thực tế năng suất lao động giữa các vùng, miền khác nhau và với các quốc gia với nhau để đánh giá chất lượng của đội ngũ công nhân kỹ thuật nước ta

Trang 9

Thời gian lao động hiệu quả là số giờ lao động làm việc hết công suất Mức thời gian lao động luôn là cố định đối với từng ngành lao động cụ thể Tuy nhiên số giờ lao động hiệu quả đối vời từng lao động lại khác nhau, điều này phụ thuộc vào năng lực làm việc, khả năng tập trung và ý thức đối với công việc của từng lao động Năng suất lao động được đánh giá dựa trên khối lượng công việc được xử lý trong thời gian làm việc, còn thời gian lao động hiệu quả là số giờ thực tế mà người lao động làm việc hết khả năng của mình Thời gian lao động hiệu quả được đánh giá dựa trên so sánh năng suất lao động thực tế với năng suất lao động mục tiêu Giả thiết thời gian lao động thực tế là To h/ngày với năng suất mục tiêu là No , khi lao động làm việc đủ thời gian bắt buộc To với năng suất thực tế là N1 thì thời gian lao động hiệu quả của lao động bằng (To * N1)/ No.

Do N1 khác No nên thời gian lao động bắt buộc và thời gian lao động hiệu quả là khác nhau Ở các nước đang phát triển, thời gian lao động hiệu quả luôn nhỏ hơn thời gian lao động bắt buộc do năng suất lao động chưa cao (N1 < No) Như vậy

ta có thể dựa trên tiêu chí thời gian lao động hiệu quả để đánh giá hiệu quả lao động cũng như chất lượng đội ngũ lao động của một chủ thể sản xuất kinh doanh, của một doanh nghiệp hay của cả một quốc gia

3.5 Chỉ số phản ánh tình trạng sức khỏe người lao động:

Sức khỏe không đơn thuần là không có bệnh tật mà còn là loại trạng thái thoải mái về tinh thần và xã hội Sức khỏe là tổng hòa nhiều yếu tố được tạo nên từ bên trong và bên ngoài, kết hợp giữa thể chất và tinh thần Có nhiều loại chỉ tiêu biểu hiện trạng thái về sức khỏe, tuy nhiên theo quy định của Bộ Y tế nước ta, có 3 loại chính dùng để đánh giá trạng thái sức khỏe là:

A : Thể lực tốt, không có bệnh tật gì

B : Trung bình

C : yếu, không có khả năng lao động

Bên cạnh đó, Bộ Y tế còn kết hợp với Bộ Quốc phòng căn cứ vào 8 chỉ tiêu để đánh giá:

- Chỉ tiêu thể lực chung: chiều cao, cân nặng, vòng ngực

Trang 10

- Thần kinh tâm thần.

- Da liễu

Tuy nhiên sức khỏe người lao động hiện nay vẫn được đánh giá theo 2 chỉ tiêu cơ bản nhất là chiều cao và cân nặng Căn cứ vào 2 chỉ tiêu trên để chia ra thành 6 trạng thái: rất tốt, tốt, khá, trung bình, kém và rất kém Sức khỏe người lao động ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả làm việc và năng suất lao động do đó quyết định nhiều tới chất lượng lao động

3.6 Ý thức lao động và kỷ luật của người lao động:

Ý thức tổ chức và kỷ luật lao động là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng lao động nói chung trong đó bao gồm cả các lao động kỹ thuật

Ý thức kỷ luật quyết định khả năng tập trung trong công việc, tinh thần tập thể, thái

độ chấp hành các quy định của tổ chức và hiệu quả công việc được giải quyết

Ở các nước phát triển, ý thức tổ chức được coi là điều kiện đầu tiên quyết định hiệu quả trong công việc của người lao động Tư tưởng một nền kinh tế với cơ cấu các ngành công nghiệp hiện đại đặt ra yêu cầu thái độ lao động nghiêm túc đã hình thành từ rất sớm trong ý thức người lao động Do đó khối lượng công việc được giải quyết là rất lớn, tạo đà cho tăng trưởng GDP Đây là một trong những nguyên nhân chính tạo ra khoảng cách tăng trưởng giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển

4 Nội dung của phát triển lao động kỹ thuật chất lượng cao.

4.1 Khái niệm phát triển LĐKT.

Khái niệm phát triển lao động kỹ thuật và phát triển nguồn nhân lực về cơ bản được quan niệm gần giống nhau Tuy nhiên, phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển toàn diện và lâu dài bao gồm giáo dục, đào tạo cho con người chưa trưởng thành và đã trưởng thành, còn phát triển lao động kỹ thuật chỉ giới hạn ở giai đoạn con người đã trưởng thành thông qua hoạt động đào tạo nghề nghiệp và hoạt động nghề nghiệp (ứng dụng kiến thức được đào tạo vào thực hành nghề) Như vậy phát triển lao động kỹ thuật gắn bó chặt chẽ với đào tạo lao động kỹ thuật cho người trưởng thành

Do đó ta có thể hiểu phát triển lao động kỹ thuật là không chỉ là quá trình làm biến đổi về chất lượng mà còn cả về số lượng và cơ cấu lao động kỹ thuật để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thị trường lao động và của nền kinh tế xã hội

Quá trình đó bao gồm tất cả các khâu đào tạo nghề, phân bố và sử dụng lao động kỹ

Trang 11

thuật qua đào tạo theo nhu cầu của từng ngành sản xuất khác nhau nhằm phát huy cao nhất hiệu quả của nguồn lực đó để phát triển đất nước.

4.2 Nội hàm của phát triển lao động kỹ thuật chất lượng cao.

4.2.1 Đảm bảo cung cầu lao động trên thị trường:

Phát triển lao động kỹ thuật bao hàm phát triển cả về số lượng và chất lượng lao động Phát triển về số lượng không dừng lại ở ý nghĩa tăng về quy mô, cơ cấu lao động mà còn phải đảm bảo số lao động đầu ra từ các cơ sở đào tạo nghề đáp ứng đủ nhu cầu thực tế của thị trường

Một thực trạng đang diễn ra được rất nhiều doanh nghiệp trong nước quan tâm

là tình trạng thiếu hụt cầu lao động kỹ thuật có chất lượng Trong khi đó chất lượng cung lao động lại chưa cao, số người đã qua đào tạo đáp ứng được nhu cầu thực tế còn rất thấp, đa số còn hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp Các doanh nghiệp sau khi tuyển dụng lao động thực tế vẫn phải bỏ ra một khoản kinh phí không nhỏ để đào tạo lại lao động Như vậy để đảm bảo hiệu quả phát triển lao động kỹ thuật, vấn đề đặt ra

là phải nắm bắt được nhu cầu lao động thực tế của thị trường, trên cơ sở đó triển khai các chương trình đào tạo với nội dung và phương pháp phù hợp Khi đó số lượng học viên đầu ra có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường cả về số lượng cũng như chất lượng

4.2.2 Nâng cao chất lượng lao động kỹ thuật:

Nâng cao chất lượng lao động kỹ thuật đồng nghĩa với việc không ngừng nâng cao trình độ nghề nghiệp và khả năng hành nghề của người lao động trong quá trình đào tạo và trong cả quá trình làm việc Việc làm đó chuyển người lao động lên trình

độ cao hơn và họ có khả năng làm được các công việc phức tạp tương ứng Nâng cao chất lượng lao động kỹ thuật bao gồm các nội dung sau:

- Nâng cao sự hiểu biết và kiến thức nghề thông qua lý thuyết các chương trình giảng dạy và đào tạo nghề

- Nâng cao kỹ năng nghề nghiệp bằng các hình thức tăng cường thực hành và kiến tập nghề trong các doanh nghiệp

- Cải thiện thái độ, tác phong nghề nghiệp và thói quen làm việc, thực hiện tác phong công nghiệp trong lao động

4.2.3 Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động kỹ thuật:

Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động kỹ thuật là nội dung quan trọng nhất của phát triển lao động kỹ thuật Sử dụng hiệu quả lao động kỹ thuật cũng đồng nghĩa với việc nâng cao được năng suất lao động, hạ thấp chi phí lao động trong đơn vị sản

Trang 12

phẩm và dịch vụ để tạo lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm dịch vụ, cho doanh nghiệp và nâng cao sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế Đặc biệt trong xu hướng hiện nay, khi các công nghệ sử dụng nhiều vốn ứng dụng trong sản xuất đang dần thế chỗ cho công nghệ sử dụng nhiều lao động thì cầu lao động kỹ thuật có trình độ cao ngày càng tăng Do đó, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng lao động kỹ thuật phải được thực sự chú ý, giảm thiểu đến mức thấp nhất tình trạng thất nghiệp của lao động kỹ thuật

Vậy muốn phát triển một đội ngũ lao động kỹ thuật chất lượng cao, các biện pháp, chính sách đưa ra phải thực hiện được đồng bộ các nội dung trên

II Sự cần thiết phải phát triển đội ngũ lao động kỹ thuật chất lượng cao trong ngành công nghiệp:

1 Vai trò việc nâng cao chất lượng lao động đối với phát triển kinh tế:

1.1 Tăng trưởng kinh tế:

Tăng trưởng kinh tế là một trong những mục tiêu quan trọng của phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia, đồng thời nó cũng là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển của quốc gia đó Tăng trưởng kinh tế chỉ đạt được khi phát huy tối đa tính năng

và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu vào, đặc biệt các thế mạnh đang sở hữu Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra thu nhập quốc dân bao gồm 3 yếu tố cơ bản là: nguồn vốn (K), nguồn lao động (L), và các yếu tố không định lượng được gọi chung là TFP bao gồm nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, trình độ khoa học công nghệ… Trong đó lao động là một đầu vào đặc biệt của quá trình sản xuất kinh doanh Con người sử dụng đối tượng lao động (nguồn lực khoa học và công nghệ) tác động vào tư liệu lao động (tài nguyên thiên nhiên và nguồn vốn) để tạo ra sản phẩm cho xã hội Như vậy con người là đối tượng duy nhất có khả năng vận hành hiệu quả các nguồn vốn tài chính, khoa học công nghệ ứng dụng vào sản xuất Đồng thời con người cũng chính là đối tượng duy nhất đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn vốn lao động vào sản xuất kinh doanh để tạo

ra tăng trưởng

Chất lượng lao động bao gồm những hiểu biết về văn hóa xã hội, những kỹ năng thực hành được đào tạo, kinh nghiệm được tích lũy và ý thức tổ chức kỷ luật trong lao động Do đó một đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn tốt và có ý thức lao động luôn là một động lực quan trọng thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm hàng hóa dịch vụ, là tiền đề cho tăng trưởng kinh tế Bởi vây nâng cao chất

Trang 13

lượng lao động nói chung và lao động kỹ thuật nói riêng chính là hình thức đầu tư cho tăng trưởng kinh tế.

1.2 Chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế:

Cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế là phạm trù có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong tổng thể nền kinh tế quốc dân Cơ cấu kinh tế biểu hiện là tỷ trọng giữa các bộ phận hợp thành bao gồm các chỉ tiêu số lượng (như GDP, lao động…) và các chỉ tiêu chất lượng (như năng suất lao động, tỷ lệ hộ đói nghèo, tỷ lệ phổ cập giáo dục…) Cơ cấu lao động phản ánh tỷ trọng lao động giữa các ngành, các vùng, các trình độ khác nhau Như vậy cơ cấu lao động là một trong những bộ phận hợp thành của cơ cấu kinh tế Khi nền kinh tế chuyển sang hình thức phát triển mới, phát triển những ngành có hàm lượng khoa học và công nghệ ngày càng hiện đại, cơ cấu nền kinh tế sẽ chuyển dịch theo tương ứng Các ngành công nghệ cao ngày càng chiếm ưu thế hơn những ngành sử dụng nhiều lao động giản đơn Theo hướng đó, cơ cấu lao động trong các ngành này cũng thay đổi theo Những lao động có chuyên môn kỹ thuật, có trình độ cao ngày càng chiếm ưu thế thay cho những lao động giản đơn

Mặt khác, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng tác động trở lại quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế Số lượng lao động có năng lực, trình độ chuyên môn vững càng tăng, khi tham gia vào lao động, hiệu quả lao động càng được cải thiện Số lượng sản phẩm dịch vụ hàng hóa tạo ra ngày càng nhiều kích thích nền kinh tế tập trung đầu tư phát triển vào các ngành này Kết quả của quá trình trên là cơ cấu nền kinh tế chuyển dần theo xu hướng tỷ trọng những ngành sử dụng nhiều lao động lành nghề ngày càng tăng

1.3 Tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế:

Cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh là một quy luật bất biến, là bản chất của nền kinh tế thị trường Để có cạnh tranh và thành công trong cạnh tranh, chủ thể cạnh tranh phải thiết lập cho mình một năng lực đủ mạnh, dựa trên việc tận dụng hiệu quả các lợi thế cạnh tranh mà mình sở hữu Vị thế cạnh tranh của một nước, một doanh nghiệp hay cụ thể một sản phẩm hàng hóa dịch vụ là đều là kết quả tác động tổng hợp của hàng loạt các yếu tố trong thời gian lâu dài Các yếu tố đó bao gồm điều kiện tài nguyên, lao động, công nghệ trong nước, hạ tầng kỹ thuật, môi trường thể chế, năng lực quản lý…

Trong điều kiện nền kinh tế hiện đại, lợi thế cạnh tranh truyền thống (dựa và nguồn lực tài nguyên và chí phí nhân công rẻ) đang giảm sút dần vai trò và tầm quan trọng của mình Thay vào đó, vị thế của tri thức, công nghệ và kỹ thuật cao ngày càng

Trang 14

được khẳng định đối với ý nghĩa nâng cao năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, của một ngành và của cả một quốc gia Sự thay đổi này tác động mạnh mẽ tới

tư duy phát triến Nhu cầu lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật của các quốc gia và các doanh nghiệp ngày càng tăng để đảm bảo khả năng phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ hiện đại Nhu cầu đó đặt ra bài toán với các nhà quản lý là phải đào tạo được nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật đủ về số lượng và đáp ứng được yêu cầu chất lượng của từng ngành cụ thể khác nhau Như vậy nâng cao chất lượng đôi ngũ lao động cũng chính là hình thức nâng cao khả năng cạnh tranh của từng ngành nói riêng và nói chung cả nền kinh tế

1.4 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài:

Theo xu hướng phát triển của thời đại, các nước phát triển trên thế giới đã chuyển sang hình thái hiện đại của nền kinh tế tri thức Đặc trưng của nền kinh tế này

là tỷ trọng các ngành kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào các thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ ngày càng chiếm ưu thế Việc sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống

Trong điều kiện đó, các quốc gia phát triển có xu hướng đầu tư vốn, công nghệ, hợp tác phát triển với nhau để tận dụng hiệu quả nguồn lao động nước bạn Như vậy chất lượng nguồn lao động ngày càng trở thành thế mạnh để thu hút vốn đầu

tư từ nước ngoài phát triển các ngành hàm lượng công nghệ cao trong nước Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đồng nghĩa với việc tạo ra lợi thế cạnh tranh cho quốc gia trong điều kiện nền kinh tế tri thức

Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng đang từng bước chuyển mình từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Theo nhận định của các nhà chuyên môn, nền kinh tế Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ của nền văn minh công nghiệp nhưng đã có những biểu hiện của văn minh tri thức Để đẩy nhanh tiến độ chuyển dịch trên, Việt Nam cần đặc biệt chú trọng phát triển đội ngũ lao động chất lượng cao

mà thuận lợi rõ ràng khi triển khai được công tác trên là nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài vào trong nước sẽ tăng nhanh chóng

2 Vai trò của lao động kỹ thuật trong phát triển ngành công nghiệp:

2.1 Lao động kỹ thuật là yếu tố đầu vào thúc đẩy quá trình phát triển của ngành công nghiệp:

Theo quan điểm kinh tế học hiện đại, sản xuất là quá trình tổng hợp tất cả các nguồn

Trang 15

dùng của xã hôi Có nhiều hình thức đầu vào khác nhau, đặc trưng theo từng ngành, từng nhóm ngành, từng quốc gia và tổng hợp lại thành 3 yếu tố cơ bản: vốn (K), lao động (L), các yếu không định lượng được (TFP) như trình độ khoa học công nghệ, nguồn lực tài nguyên… Gọi Y là tổng sản phẩm đầu ra của nền kinh tế quốc dân, các nhà kinh tế định nghĩa Y chính là hàm tổng hợp của các yếu tố trên: Y = f

Như vậy cải thiện chất lượng lao động kỹ thuật chính là việc đầu tư cho nguồn vốn nhân lực- một trong ba yếu tố đầu vào của sản xuất để thúc đẩy quá trình phát triển của ngành công nghiệp theo xu thế hiện đại

2.2 Lao động kỹ thuật đồng thời là đối tượng thụ hưởng các thành quả do ngành công nghiệp tạo ra:

Mục đích cuối cùng của sản xuất là để tiêu dùng, và người lao động nói chung (bao hàm cả các lao động kỹ thuật) chính là người hưởng thụ thành quả mà họ tạo ra Trong nền kinh tế thị trường, khối lượng và cơ cấu tiêu dùng là một trong những yếu

tố quan trọng quyết định quy mô và cơ cấu sản xuất, kinh doanh Vì vậy, những khu vực đông dân cư, có mức nhu cầu cao và phong phú, thường là những điểm hấp dẫn cho đầu tư kinh doanh phát triển

Để lao động là người hưởng lợi ích của phát triển thì mọi quốc gia đều nhấn mạnh mục tiêu phát triển là vì con người và coi con người là động lực của sự phát triển Việc nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn kỹ thuật của các cá nhân sẽ giúp

họ có nhiều cơ hội việc làm hơn Khi thu nhập từ việc làm tăng, họ sẽ có điều kiện cải thiện đời sống, nâng cao chất lượng cuộc sống Kết quả là tăng nhu cầu xã hội,

Trang 16

kích thích sản xuất và cải thiện chất lượng sản phẩm làm ra Đồng thời số lượng sản phẩm làm ra ngày càng nhiều với chất lượng không ngừng nâng cao là các tác động trở lại

để tăng khả năng tiêu dùng của người lao động

Như vậy lao động kỹ thuật có vai trò rất đặc biệt đối với quá trình tăng trưởng

và phát triển kinh tế của một quốc gia Lao động có tác động hai chiều, một mặt vừa

là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh, để tạo ra của cải hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội Mặt khác, họ chính là đối tượng thụ hưởng các thành quả đó Nhận thức được vai trò quan trọng của lao động với quá trình phát triển kinh tế, mục tiêu đặt ra là phải nâng cao chất lượng nguồn lao động, kích thích tái sản xuất mở rộng, tạo đà cho phát triển kinh tế phù hợp với xu thế phát triển của Thế giới

3 Các yêu cầu mới đặt ra đối với LĐKT trong quá trình hội nhập:

3.1 Một vài nét về quá trình hội nhập thương mại Quốc tế ở Việt Nam:

3.1.1 Điều kiện gia nhập WTO của Việt Nam:

Sự kiện gia nhập WTO của Việt Nam là kết quả của cả một quá trình nỗ lực cải cách kinh tế và tích cực hội nhập vào nền kinh tế thế giới Trong 2 thập kỷ qua, Việt Nam

đã tiến hành một chương trình cải cách sâu rộng, tạo ra sự chuyển biến lớn trong phương thức vận hành của nền kinh tế đáp ứng các điều kiện hội nhập Các điều kiện

đó bao gồm:

- Tạo ra một thị trường ngày càng mở cửa cho hàng nhập khẩu: bằng cách tiếp

tục cắt giảm các mức thuế quan, bãi bỏ các hình thức miễn thuế quan nhằm khuyến khích xuất khẩu hoặc hạn chế nhập khẩu và duy trì thuế xuất khẩu

- Mở cửa thị trường bằng các biện pháp ngoài thuế quan: bao gồm cấm trợ cấp xuất

khẩu, cải tổ sâu sắc khung pháp luật kinh tế và tư pháp, tăng cường mở cửa cho đầu tư nước ngoài, tiếp tục quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước

- Xóa bỏ hạn ngạch xuất khẩu nhưng hàng hóa Việt Nam vẫn gặp nhiều khó khăn

trong việc tiếp cận các thị trường lớn(Mỹ và Châu Âu): một trong những lợi ích mà

Việt Nam nhận được khi gia nhập WTO là được các nước công nghiệp phát triển xóa

bỏ hạn ngạch xuất khẩu đối với một số mặt hàng có lợi thế Tuy nhiên Việt Nam vẫn vấp phải nhiều khó khăn khi tiếp cận với thị trường Mỹ và Châu Âu do chúng ta bị xếp vào các nước chưa có nền kinh tế thị trường với các quy chế thực thi riêng

- Hiệp định gia nhập WTO bao trùm tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế: để

đáp ứng được các điều kiện tiền hội nhập, các chính sách, biện pháp Việt Nam áp dụng không phải tác động lên một ngành đơn lẻ nào mà là tổng thể nền kinh tế quốc

Trang 17

dân Trước khi gia nhập WTO, Việt Nam đã cắt giảm đáng kể các mức thuế quan, tự

do hóa các ngành dịch vụ (viễn thông, ngân hàng…) để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài…

Tháng 1/2007, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO sau hơn 10 năm đàm phán (1995) Và chính các nỗ lực cải tiến, thay đổi chính sách, thể chế của Chính phủ Việt Nam đã mang lại thành công này

3.1.2 Các định hướng phát triển kinh tế của Việt nam sau khi gia nhập WTO:

Việt Nam đã không ngừng nỗ lực đạt được các điều kiện ban đầu để trở thành thành viên của Tổ chức thương mại lớn nhất Thế giới Tuy nhiên định hướng phát triển tiếp theo sau khi gia nhập vào sân chơi ấy đặt ra cho Việt Nam nhiều nhiệm vụ phải thực hiện hơn Bên cạnh các cơ hội thuận lợi của một thị trường mở, hệ thống chính sách phát triển thông thoáng, chúng ta phải đối mặt đồng thời với các nguy cơ tiềm ẩn khi năng lực cạnh tranh còn có hạn Do đó, việc định hướng, đề ra chiến lược

cụ thể để phấn đấu là vô cùng quan trọng Những định hướng ấy bao gồm các nội dung sau:

Thứ nhất: Tiếp tục thay đổi một cách sâu sắc nhận thức và tư duy trong xây dựng

chính sách và điều hành quản lý Nhà nước theo hướng từ trực tiếp, hành chính, mệnh lệnh sang gián tiếp thông qua việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chí

và các đòn bẩy kinh tế

Thứ hai: Cần áp dụng các chính sách để hạn chế nhập siêu và thâm hụt thương

mại, đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, khuyến khích việc sử dụng hàng hóa sản xuất trong nước để góp phần ổn định kinh tế vĩ mô

Thứ ba: Tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trên cả ba cấp

độ: Nhà nước, doanh nghiệp và ngành hàng Phát huy nội lực, bảo vệ thị trường trong nước, xây dựng chiến lược và quy hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ tư: Tiếp tục đẩy mạnh vận động các nước công nhận Việt Nam có nền

kinh tế thị trường, tham gia tích cực vào vòng đàm phán Đô-ha, tiếp tục thực thi đầy

đủ các cam kết gia nhập WTO, tận dụng tốt những quyền lợi mà thành viên WTO được hưởng; xử lý hài hòa, thống nhất mối quan hệ giữa cam kết gia nhâp WTO với khuôn khổ pháp lý hiện hành, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư

Thứ năm: Thực hiện chính sách phát triển kinh tế gắn liền với đảm bảo an sinh

xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; xây dựng hoàn thiện các cơ chế,

Trang 18

chính sách an sinh xã hội, giảm khoảng cách giàu- nghèo trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Thứ sáu: Các Bộ, ngành, địa phương cần nâng cao chất lượng nội dung các

Chương trình hành động sau khi gia nhập WTO, xác định rõ nguồn lực cần thiết để đảm bảo cho việc triển khai thực hiện những nhiệm vụ đề ra; xử lý hài hòa các vấn đề

có tính chất liên ngành, liên vùng như chiến lược, quy hoạch phát triển của địa phương, đảm bảo hiệu quả đầu tư, phát triển cơ sở hạ tần; bảo vệ môi trường sinh thái… ; xây dựng thể chế và cơ chế theo dõi, kiểm tra, giám sát, đánh giá và điều chỉnh việc triển khai Chương trình hành động của Chính phủ và các chương trình hành động của bộ, ngành và địa phương thiêt thực, phù hợp với thực tế của bộ, ngành, địa phương

Thứ bảy: Tăng cường công tác dào tạo, nâng cao chất lượng cán bộ quản lý,

công chức, viên chức, các doanh nhân và người lao động, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Nhận thức được vai trò quan trọng của đội ngũ lao động kỹ thuật trong điều kiện nền khoa học công nghệ trên Thế giới ngày càng hiện đại, Việt Nam cũng đang thực sự chú trọng tới công tác phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Điều

đó được thể hiện rất rõ trong các định hướng đào tào, phát triển lao động của nước ta thời gian tới

3.2 Các yêu cầu mới đặt ra đối với LĐKT trong quá trình hội nhập:

3.2.1.Thực trạng LĐKT trước khi gia nhập:

Trước khi gia nhập WTO Việt Nam luôn khẳng định lợi thế phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động do lực lượng lao động dồi dào và giá nhân công rẻ Tuy nhiên lợi thế đó cũng đồng nghĩa với thực trạng lao động thất nghiệp còn nhiều, năng suất, hiệu quả lao động chưa cao Không có chế độ ưu đãi cho các lao động ngoài biên chế và cách thức quản lý chất lượng lao động còn kém, điều này khiến họ không có tinh thần phấn đấu, thiếu trách nhiệm trong giải quyết công việc, thời gian lao động thực tế ngắn hơn quy định…

Lao động kỹ thuật được coi là lao động đã qua đào tạo, nhưng thực chất chất lượng lao động cũng còn hạn chế Các hạn chế đó bao gồm thiếu kinh nghiệm, bí quyết chuyên môn; thiều hiểu biết về các khía cạnh kinh tế và điều kiện sản xuất kinh doanh, kiến thức chuyên môn và ngoại ngữ chưa đáp ứng yêu cầu; kiến thức kỹ thuật còn hạn chế, trình độ thực hành của các lao động mới chưa cao… Một trong nhưng

Trang 19

chế Theo một khảo sát năm 2001 của Sở Lao động thương binh xã hội thành phố Hồ Chí Minh về tình hình sử dụng lao động tại 1.013 doanh nghiệp trên địa bàn thành phố, với tổng số lao động 379.561 người cho thấy chỉ có 33% số doanh nghiệp hài lòng về lao động qua đào tạo, 66% chưa hài lòng

Lý do chưa hài lòng với lao động kỹ thuật đã qua đào tạo ở các khu công nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh được tập hợp như sau: (% : tỷ lệ doanh nghiệp bằng lòng với lý do trên)

Bảng 1: Tỷ lệ doanh nghiệp đồng ý với các hạn chế của LĐKT

trong các khu công nghiệp thành phố HCM

- Thiếu hiểu biết về các khía cạnh kinh tế và điều kiện sản

xuất kinh doanh

15%

- Kiến thức và ngoại ngữ chưa đáp ứng yêu cầu 20%

- Lý do khác (ít động lực làm việc, năng suất lao động

thấp, không có tinh thần trách nhiệm)

3.2.2 Các yêu cầu mới đặt ra đối với LĐKT đáp ứng yêu cầu hội nhập:

Khi điều kiện lao động dồi dào và giá nhân công rẻ không còn trở thành lợi thế thu hút vốn đầu tư phát triển trong điều kiện nền kinh tế mở, khi trình độ khoa học công nghệ của các nước phát triển ngày càng hiện đại giúp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia thì công việc cấp thiết mà các nước đi sau như Việt Nam cần chú tâm thực hiện là phát triển đội ngũ lao động chất lượng cao Trong phần II.1 và II.2

đã giải thích rõ vai trò của phát triển đội ngũ lao động kỹ thuật với phát triển kinh tế

và cụ thể là trong ngành công nghiệp, do đó việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

đó là hoàn toàn phù hợp và thiết thực Tất cả các chính sách trợ vốn, xóa đói giảm nghèo… mà chính phủ đã và đang triển khai chỉ là giải pháp tình thế tạm thời, không

Trang 20

phải là sự phát triển ổn định, bền vững Muốn phát triển ổn định, bền vững, cần phải

có chiến lược giáo dục đào tạo để trang bị cho mỗi lao động một kỹ năng nghề nghiệp tốt, giúp họ có thể tự tìm kiếm được việc làm, có thu nhập cao, biết tự bảo vệ sức khỏe của mình và con cái, đặc biệt biết thích ứng nhanh với công nghệ đổi mới

mà không bị tái thất nghiệp

Trong điều kiện hội nhập vào thị trường thế giới, một nguồn lực lao động tốt

sẽ là điều kiện tất yếu tạo nên lợi thế cho phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Từ thực trạng lao động kỹ thuật nước ta những năm qua, ta có thể nhận thấy một vài yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ này khi Việt Nam tham gia hội nhập là:

- Nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật người lao động: bằng cách trang bị

cho người lao động những kiến thức chuyên môn kỹ thuật hiện đại để họ có khả năng lao động trong các ngành công nghiệp chứa hàm lượng công nghệ cao và ngày càng đổi mới Bên cạnh việc nắm vững các kiến thức lý thuyết căn bản, các lao động kỹ thuật cũng cần có khả năng thực hành nghề tốt, trình độ hiểu biết sâu rộng trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế

- Nâng cao trình độ hiểu biết của người lao động đối với các vấn đề khác của

nền kinh tế: người lao động kỹ thuật trong điều kiện mới cần có khả năng hiểu biết

rộng về các vấn đề khác của nền kinh tế, của xã hội, đặc biệt các vấn đề liên quan đến quyền hạn, lợi ích của chính mình

- Nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp đối với người lao

động: đây là điều kiện cơ bản đối với lao động ở tất cả các nước phát triển, tuy nhiên

lao động Việt Nam chưa đạt được điều kiện cơ bản đó Khi đã hội nhập, Việt Nam cần phải đặc biệt khắc phục hạn chế này bằng các biện pháp cải cách trong quản lý lao động vào giáo dục ý thức ngưới lao động

- Khả năng thích ứng linh hoạt đối với công nghệ hiện đại: vì trình độ công

nghệ trên thế giới ngày càng phát triển nên việc đổi mới công nghệ trong sản xuất phải được thực hiện thường xuyên Điều này yêu cầu các lao động kỹ thuật trong thời mới cần phải có khả năng thích ứng công nghệ linh hoạt, không bị công nghệ “bỏ rơi” và tụt hậu

- Đổi mới chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu thị trường: đây là nhiệm vụ

quan trọng nhất để đạt được tất cả các đòi hỏi trên Chung quy chỉ có cải cách hệ thống đào tạo nghề mới có thể thực hiện được tốt nhiệm vụ cải thiện chất lượng nguồn nhân lực

Trang 21

Bởi vì các kỹ năng, ý thức, trình độ lành nghề của lao động chỉ có thể hình thành và hoàn thiện trong môi trường các cơ sở đào tạo nghề.

Thị trường lao động Việt Nam đang thực sự thiếu một đội ngũ lao động có chuyên môn kỹ thuật tốt Vậy để giải quyết bài toán phát triển đội ngũ lao động chất lượng cao đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi của các doanh nghiệp, các chính sách, giải pháp đặt ra phải đồng bộ thực hiện được tất cả các yêu cầu trên

III Kinh nghiệm phát triển đội ngũ lao động kỹ thuật ở một số nước:

Việt Nam tham gia hội nhập khi điều kiện nền kinh tế còn nhiều khó khăn, chất lượng đội ngũ lao động kỹ thuật còn nhiều hạn chế Tuy nhiên, là một nước đi sau, Việt Nam có thuận lợi là có thể học hỏi kinh nghiệm từ các nước đi trước, nhất

là những nước xuất phát điểm có nhiều điểm tương đồng với điều kiện Việt Nam Ở đây lấy điển hình các nước là Trung Quốc, Hàn Quốc và Xing- ga- po

1 Kinh nghiệm từ Trung Quốc:

Trong việc đào tạo CNKT, các nước trên thế giới đã cho chúng ta nhiều bài học quý báu Trung Quốc - từ khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949, Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) đã trải qua một quá trình điều chỉnh sửa đổi, cải cách, hoàn thiện và phát triển vững chắc Từ khi Trung Quốc bước vào kỷ nguyên lịch sử mới của cải cách và mở cửa với thế giới bên ngoài vào năm 1978, GDNN rất được coi trọng để phát triển NNL đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc

tế và hiện đại hoá đất nước Năm 1991, Hội đồng Nhà nước đưa ra “Quyết định về phát triển nghề và giáo dục kỹ thuật một cách mạnh mẽ” xác định nhiệm vụ và mục tiêu để phát triển dạy nghề “Đề cương về cải cách và phát triển giáo dục tại Trung Quốc” do Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản và Hội đồng Nhà nước đồng soạn thảo năm 1993 yêu cầu chính quyền địa phương các cấp nhận thức tầm quan trọng to lớn của GDNN, đề ra những kế hoạch tổng quát và phát triển GDNN một cách mạng mẽ nhằm động viên mọi sáng kiến của tất cả các ngành, xí nghiệp, cơ sở và mọi thành phần xã hội cung cấp dạy nghề dưới các hình thức và trình độ khác nhau Năm 1996,

“Luật dạy nghề” đầu tiên được chính thức thực hiện, đưa ra cơ sở pháp lý để bảo vệ phát triển và hoàn chỉnh dạy nghề “Quyết định tăng cải cách giáo dục và quảng bá chất lượng giáo dục” của Hội đồng Nhà nước năm 1999 nhấn mạnh hệ thống giáo dục áp dụng trong nền KTTT định hướng XHCN Ngoài ra, kinh phí cho GDNN được bố trí thông qua nhiều nguồn khác nhau: phân phối ngân sách của chính phủ, quĩ tự lập của các xí nghiệp, quĩ tài trợ, tiền quyên góp, vốn vay không lãi, phí tự nguyên do học viên đóng góp Nhà nước quy định bắt buộc dùng 1,5% số tiền phải

Trang 22

trả cho công nhân trong xí nghiệp vào việc huấn luyện công nhân “Nhân lực là nguồn lực chủ yếu của Trung Quốc và đất nước Trung Quốc phải biến dân số hùng mạnh của mình thành một nguồn lực lớn với nguồn nhân tài phong phú” - Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào nói Với chiến lược này Trung Quốc đã đạt những thành tựu đáng kể Đó là:

• Triển khai nhanh chóng mô hình dạy nghề: trong 15 năm, từ năm 1986 đến năm

2001, tỉ lệ học sinh chính qui cấp 3, trong số học sinh trung học, giảm từ 81% xuống còn 54,7%, trong khi tỉ lệ học sinh trung học nghề tăng từ 19% lên 45,3%; các cơ sở dạy nghề cấp 2 đã cho tốt nghiệp 50 triệu học sinh, bồi dưỡng hàng triệu CNKT, nhà quản lý và các lao động khác có trình độ cấp hai và sơ cấp với tay nghề và kỹ thuật cao;

• Có bước tiến lớn trong cấu trúc đội ngũ giáo viên dạy nghề, về cơ bản đáp ứng nhu cầu dạy nghề nhiều dạng khác nhau với trình độ khu vực và quốc tế;

• Tăng chất lượng dạy nghề;

• Phát triển nhanh chóng dạy nghề tại vùng nông thôn;

• Hợp tác và trao đổi quốc tế về dạy nghề được đẩy mạnh Thành tựu sau 20 năm đổi mới, năm 1998, kinh tế phát triển nhanh chóng và bền vững, GDP trong năm 1998

là 7,9553 ngàn tỉ Nhân dân tệ, gấp 2,07 lần GDP năm 1991 nếu so về giá cả Từ năm 1991 đến 1997, GDP tăng trưởng hàng năm với tỉ lệ bình quân 10,8%

2 Kinh nghiệm từ các nước NICs ( Hàn Quốc, Xinh-ga-po):

2.1 Kinh nghiệm từ Hàn Quốc:

Hàn Quốc là một nước có hoàn cảnh lịch sử khá đặc biệt nhưng đã biết vươn mình từ một nước rất nghèo về tài nguyên thiên nhiên, GDP/đầu người 90,9 đô-la năm 1962 trở thành một quốc gia có nền kinh tế hùng hậu đứng thứ 11 trên thế giới với GDP/đầu người đạt 22.029 đô la năm 2005 Bí quyết của Hàn Quốc là dựa vào phát triển nguồn nhân lực trong một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên để phát triển kinh tế Giáo dục là nhân tố chủ yếu để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chính sách về giáo dục luôn được xây dựng phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế Chính phủ Hàn Quốc đưa ra một chiến lược tham gia toàn diện vào quá trình toàn cầu hoá vào giữa thập kỷ 1990, mà quan trọng nhất là hệ thống giáo dục phải được cải thiện triệt

để, để đào tạo một số lượng đủ những công dân trẻ, sáng tạo và dám làm, những nhà lãnh đạo tương lai của đất nước Trong bản báo cáo của Chính phủ về giáo dục mang tên “Hình ảnh Hàn Quốc trong Thế kỷ 21” đã khẳng định: “Giáo dục và Đào tạo phải

Trang 23

hướng tới mục tiêu bồi dưỡng tính sáng tạo, tinh thần kỷ luật tự giác, tính cạnh tranh, phát triển khả năng vànhân cách bảo vệ, phát huy sức mạnh, ý chí dân tộc, năng lực trí tuệ của người Hàn Quốc lên những trình độ cao nhất, đưa Hàn Quốc trở thành một quốc gia có vai trò chủ chốt trong các vấn đề của thế giới” Trong những năm gần đây, tỷ lệ ngân sách chi cho giáo dục và đào tạo ở Hàn Quốc luôn ở mức 18 – 20% Hướng tới tương lai đó là mục tiêu của nền giáo dục Hàn Quốc hiện đại Cùng với sự phát triển kinh tế, người dân Hàn Quốc đang cố gắng tạo ra những điều kiện tốt nhất

có thể cho việc đào tạo thế hệ trẻ

2.2 Kinh nghiệm từ Xinh- ga- po:

Xinh-ga-po là một đảo quốc nhỏ nằm ở cực nam bán đảo Mã Lai với diện tích 692,7 km2 và dân số 4,5 triệu người Điều kiện tài nguyên của Xinh-ga-go hầu như không có, nguyên liệu phục vụ sản xuất đều phải nhập từ bên ngoài, thậm chí nhập khẩu cả lương thực và thực phẩm Tuy nhiên dựa vào lợi thế vị trí lãnh thổ, nằm trên đường thông thương trên biển của nhiều nước từ Châu Âu sang Châu Á, Xinh-ga-po

đã tập trung phát triển và đạt được những thành công lớn đối với một số ngành công nghiệp đứng hành đầu Châu Á và thế giới như: cảng biển, công nghiệp đóng tàu và sửa chữa tàu, công nghiệp lọc dầu, chế biến, điện tử và lắp ráp máy móc tinh vi Bên cạnh đó, Xinh-ga-po cũng được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức Ngay từ khi mới thành lập, Xinh- ga-po đã đề ra chính sách phát triển giáo dục, đào tạo và chủ trương là xây dựng nền giáo dục mang nét đặc trưng của dân tộc Các chính sách phát triển giáo dục đều hướng tới sự ưu tiên cho các học viên có năng lực và đảm bảo chất lượng đầu ra phù hợp với đòi hỏi từng ngành nghề

Chính phủ Xing- ga-po luôn coi việc khai thác và sử dụng nguồn lực là nội dung quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế Nguyên Thủ tướng Lý Quang Diệu

đã nói: “Biến tài năng trời phú của một dân tộc thành kỹ năng chuyên môn là nhân tố trọng đại quyết định thành tựu phát triển đất nước” Vào thập kỷ 1980, ngân sách dành cho giáo dục của Xinh- ga-po mỗi năm tăng trung bình khoảng 30% Mức chi cho giáo dục và đào tạo này chỉ đứng thứ hai sau ngân sách quốc phòng, đã vượt các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản… vào thập niên 1990 Chính phủ Xinh-ga-po đã định hướng từ lâu về một nền kinh tế tri thức, nhất là với một nước hạn chế về điều kiện tài nguyên thì chiến lược phát triển bền vững chính là tập trung đầu tư cho phát triển nguồn vốn con người Việc không ngừng tăng cường đầu tư cho con người, tích cực thúc đẩy cải cách và điều chỉnh giáo dục chính là nhân tố quan trọng thúc đẩy

Trang 24

nền kinh tế Xinh- ga-po phát triển nhanh chóng, phù hợp với xu thế phát triển ngày càng mạnh của nền kinh tế tri thức.

3 Học hỏi từ các nước áp dụng vào quá trình phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam:

Lợi thế của một nước đi sau như Việt Nam là có thể nhìn thấy con đường phát triển từ mô hình thành công của các nước đi trước Nhìn chung đây là các quốc gia có điều kiện ban đầu nhiều điểm tương đồng với chúng ta hiện nay Các điểm tương đồng đó thể hiện ở:

Thứ nhất, Việt Nam và các nước trong khu vực đều có điểm xuất phát tương

đối thấp trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Về cơ cấu kinh tế, cơ cấu dân số và lao động hiện nay của Việt Nam đang ở vào trình độ của Hàn Quốc vào đầu 1960 và của các nước ASEAN vào những năm 1970-1980, tức là

về cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở nông thôn và phần đông lực lượng lao động vẫn làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp; trình độ

kỹ thuật – công nghệ của Việt Nam nhìn chung còn rất thấp, về cơ bản vẫn phải dựa chủ yếu vào các ngành sử dụng nhiều lao động có giá trị gia tăng thấp giống như các nền kinh tế khu vực trong thời kỳ đầu phát triển

Thứ hai, Việt Nam và các nước trong khu vực đều chịu áp lực cao đối với việc

phát triển nguồn nhân lực (NNL) Đối với Việt Nam hiện nay, áp lực đối với việc phát triển NNL, một mặt xuất phát từ vấn đề lao động – việc làm, mặt khác, từ yêu cầu của quá trình Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa và hội nhập với nền kinh tế thế giới

Thứ ba, Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Á đều có những thuận lợi cơ bản

để phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo, đó là: đều chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Nho giáo, với truyền thống coi trọng giáo dục, coi trọng nền tảng gia đình vững chắc, coi con người là vốn quý nhất; cần cù lao động, chịu khó; ham học hỏi; cầu tiến, có ý chí vươn lên để phát triển; và đặc biệt đều có cơ cấu dân số tương đối trẻ Điều này tạo thuận lợi cho quá trình học tập và đào tạo, tiếp thu kiến thức một cách năng động sáng tạo, sớm đưa đất nước hòa nhập vào quỹ đạo phát triển của nền kinh tế hiện đại

Bên cạnh đó, vẫn có những khác biệt trong bối cảnh phát triển NNL của Việt Nam hiện nay với các nước Đông Á trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa là:

- Áp lực và thách thức đối với phát triển NNL ở Việt Nam hiện nay là cao hơn

do sự tụt hậu hơn so với một số nước trong khu vực; sự nhận thức của thế giới về

Trang 25

phát triển NNL đã cao hơn trước; công nghệ và tri thức trên thế giới hiện nay đã cao hơn nhiều so với cách đây hơn ba thập kỷ.

- Nhiều nước trong khu vực và trên thế giới đang tập trung ưu tiên cho chiến lược NNL nên đã gây ra những khó khăn rất lớn trong cạnh tranh để phát triển và sử dụng NNL Như vậy, áp lực phát triển NNL ở Việt Nam hiện nay không chỉ do các yếu tố chủ quan bên trong như đói nghèo, kém phát triển mà còn do các yếu tố từ bên ngoài của trào lưu phát triển NNL nói chung trên thế giới

Dựa trên những điểm giống nhau, Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm phát triển từ các nước đi trước, xây dựng cho mình một chiến lược phát triển nguồn LĐKT phù hợp với điều kiện thực tại: tập trung phát triển, hoàn thiện hệ thống giáo dục đào tạo nghề; đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; sử dụng điểm mạnh coi trọng học hành và chăm lao động để có các chính sách khích lệ tinh thần làm việc, cống hiến hết mình cho tăng trưởng và phát triển kinh tế Mặt khác, do đòi hỏi ngày càng cao việc phát triển đội ngũ lao động qua đào tạo phục vụ phát triển nền kinh tế với cơ cấu ngành nghề đa dạng, hiện đại và đặc biệt là áp lực do chất lượng lao động hạn chế hơn nhiều so với các nước trong khu vực đã đặt ra với Việt Nam yêu cầu phát triển mạnh hơn, tạo ra những bước đột phá mới, táo bạo cho nguồn lao động qua đào tạo

Tuy nhiên nhìn chung, sự thuận lợi trong việc phát triển nguồn nhân lực nói chung và lực lượng lao động kỹ thuật nói riêng là lớn hơn so với những hạn chế Do

xu thế phát triển toàn cầu và nền kinh tế tri thức nên đã tạo cơ hội lớn hơn trong việc

sử dụng tri thức vào mục đích phát triển của quốc gia Hơn nữa, hiệu ứng lan tỏa kiến thức hiện nay là rất lớn so với trước đây đã tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong việc tiếp thu các công nghệ và kinh nghiệm giáo dục, đào tạo từ các nước khác

Và cuối cùng, mặt bằng công nghệ và tri thức cao hơn cũng là cơ hội song cũng là thách thức đối với Việt Nam hiện nay Việt Nam cần phải nắm bắt được những điểm mạnh và thuận lợi của mình để đề ra chiến lược phát triển đội ngũ lao động kỹ thuật phù hợp nhất giúp đạt được mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội trong điều kiện hội nhập

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ LAO ĐỘNG KỸ THUẬT TRONG

NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY

Trang 26

I Phân tích thực trạng lao động kỹ thuật trong ngành công nghiệp ở Việt Nam trong thời gian qua:

1 Quy mô, cơ cấu lao động kỹ thuật trong ngành công nghiệp:

1.1 Quy mô LĐKT:

Việt Nam là một quốc gia có quy mô dân số lớn, năm 2009 đạt hơn 86 triệu dân với quy mô lao động luôn tăng qua các năm Năm 2004, Việt Nam có hơn 43 triệu người nằm trong lực lượng lao động (chiếm 52,7% tổng dân số) Năm 2006 có trên 45 triệu lao động (tăng 2% so với 2005), đến năm 2008 đạt xấp xỉ 48 triệu người Lực lượng lao động dồi dào và lao động trẻ chiếm tỷ lệ cao, số lao động từ 15- 34 tuổi chiếm hơn 50% trong tổng dân số Lực lượng lao động kỹ thuật và lao động qua đào tạo của Việt Nam cũng không ngừng tăng lên qua các năm Năm 2004 nước ta có 9,469 triệu người thì năm 2008 tăng lên thêm 13,12% đạt 10,742 triệu lao động kỹ thuật:

Bảng 2: Số lao động kỹ thuật trong cơ cấu lao động cả nước

Nguồn số liệu: Tổng cục Thống kê

Tuy nhiên trong cơ cấu lao động trên, số lao động kỹ thuật lại chiếm tỷ lệ không cao Năm 2004, số LĐKT trong tổng lực lượng lao động cả nước là 22,5%; đến năm

2008, tỷ lệ trên là 23,6% Như vậy số lượng lao động kỹ thuật tăng đều qua các năm nhưng cơ cấu LĐKT trong tổng lực lượng lao động không thay đổi nhiều

Mặt khác, thực tế trên thị trường lao động trong nước, cầu LĐKT có chất lượng tốt của các doanh nghiệp công nghiệp và cả của các doanh nghiệp sản xuất nói chung luôn cao Hàng năm nước ta có khoảng 1,4 triệu người tham gia vào lực lượng lao động, đây là con số không nhỏ so với nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp Tuy nhiên, trong tổng số người thuộc lực lượng lao động ấy chỉ có 30% lao động đã qua đào tạo và 20% lao động qua đào tạo nghề Nguồn cung ấy chưa đủ để đáp ứng nhu

Trang 27

cầu lao động kỹ thuật thực tế của các doanh nghiệp Lao động giản đơn nhiều trong khi cầu lao động kỹ thuật và lao động đã qua đào tạo luôn thiếu hụt.

Do đó, công việc hiện nay chúng ta cần quan tâm giải quyết là tăng số lượng và tăng tỷ trọng các LĐKT có chất lượng tốt trong tổng cơ cấu lực lượng lao động quốc dân đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, cả về số lượng và chất lượng Theo dự thảo định hướng chiến lược phát triển hệ thống các trường dạy nghề giai đoạn 2011-

2020 thì mục tiêu đến năm 2020, số LĐKT được đào tạo phải chiếm trên 50% tổng lực lượng lao động (khoảng 27,5 triệu người được đào tạo nghề) để đáp ứng đủ nhu cầu lao động của các doanh nghiệp trong nước

1.2 Cơ cấu LĐKT:

Thực trạng của đội ngũ lao động kỹ thuật Việt Nam hiện nay là vừa yếu lại vừa thiếu, bởi vậy chúng ta phải có các chính sách và biện pháp để khắc phục điểm yếu trên Nhưng muốn đưa ra được các chính sách phù hợp, ta phải phân tích được cụ thể các tồn tại và nguyên nhân của chúng Trong đó, các tồn tại trong cơ cấu LĐKT được xét theo các tiêu chí sau:

1.2.1 Theo trình độ chuyên môn kỹ thuật:

Hiện nay, cơ cấu lao động qua đào tạo trong nước cho thấy nhiều bất cập trong khâu đào tạo và sử dụng Tại các nước phát triển, cấu trúc lao động đã qua đào tạo thường là 1 - 12 - 24, tức là ứng với một lao động có trình độ cao đẳng trở lên thì cần có 12 lao động có trình độ trung cấp và 20 công nhân kỹ thuật Tuy nhiên, cấu trúc này ở Việt Nam là 1 - 0,8 – 3,7 tương ứng với khoảng 100 lao động có trình độ cao đẳng trở lên thì hiện mới có 80 lao động trung cấp và 370 công nhân kỹ thuật Số liệu cơ cấu lao động qua đào tạo ở từng trình độ đào tạo năm 2008 được thể hiện cụ thể trong bảng sau:

Bảng 3: Cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo

Đơn vị: 1000 người

Trang 28

Theo cấu trúc này, thực trạng chúng ta đang sử dụng không hiệu quả nguồn lao động đã qua đào tạo Số lượng đào tạo nhiều nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp và nền kinh tế Tình trạng “thừa thầy thiếu thợ” vẫn diễn ra phổ biến.Không chỉ vậy mà sự chuyển biến theo hướng tích cực để thay đổi cấu trúc này

ở nước ta cũng đang diễn ra với tốc độ rất chậm chạp Năm 2000, cấu trúc này của cả nước là 1 – 0,9 – 2,7 thì đến năm 2004 cũng chỉ tăng được tỷ lệ của công nhân kỹ thuật lên cấu trúc 1- 0,9 - 2,8 và đến năm 2008 là 1- 0,8 – 3,7 Nhìn chung chính sách hướng đào tạo nghề của nước ta thời gian qua đã chú trọng đến việc đào tạo để tăng

số lượng công nhân kỹ thuật thực tế nhưng so với tổng thể cơ cấu đào tạo vẫn là bất hợp lý Tỷ lệ công nhân kỹ thuật trong cơ cấu lao động đã tăng hơn qua các năm nhưng số lượng LĐKT trình độ từ cao đẳng trở lên vẫn đào tạo quá tràn lan Hiện nay, mục tiêu phát triển hợp lý mà Đảng và nhà nước ta vẫn đang hướng đến là cấu trúc đội ngũ lao động của cả nước phải là 1- 4- 10 Để đạt được mục tiêu này, nhiệm

vụ chính là thuộc về hệ thống giáo dục đào tạo nghế nước ta

Theo cơ cấu này (hình 3), thực trạng lao động không có chuyên môn kỹ thuật của nước ta còn quá lớn, nhất là trong ngành nông- lâm- ngư nghiệp Tỷ lệ này thể hiện thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp – nông thôn của Việt Nam còn nhiều hạn chế Bên cạnh đó, tỷ lệ LĐKT trong khối ngành công nghiệp và xây dựng là cao nhất và cũng đông nhất, 39,59% tổng số lao động toàn ngành Sở dĩ như vậy vì công nghiệp và xây dựng là những ngành đòi hỏi lao động phải là những người có trình độ, có khả năng vận hành máy móc thiết bị và ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất Tuy nhiên, số lao động không có chuyên môn kỹ thuật trong ngành công nghiệp vẫn chiếm tới hơn 50% tổng số lao động toàn ngành, đây là một trong những nguyên nhân khiến các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp luôn cần tuyển thêm LĐKT

Trang 29

Nguồn: Tổng cục thống kê

Trong ngành công nghiệp và xây dựng, cơ cấu trình độ đào tạo của các lao động có chuyên môn kỹ thuật là 1- 0,8- 9,4 (tương ứng cứ 100 công nhân LĐKT trong ngành công nghiệp có trình độ cấp đẳng trở lên thì có 80 công nhân kỹ thuật có bằng trung cấp chuyên nghiệp và 940 công nhân kỹ thuật không bằng và trình độ sơ cấp) Cơ cấu này là bất hợp lý với chiến lược phát triển kinh tế trọng tâm là ngành công nghiệp của nước ta Số lượng lao động đào tạo hệ hàn lâm quá cao trong khi nhu cầu lao động có tính thực hành nghề thực tế lại chưa được đáp ứng đầy đủ Trong khi đó, lao động không có chuyên môn kỹ thuật và lao động giản đơn vẫn chiếm đại đa số và nhìn chung đây là tình trạng giống nhau trong cơ cấu tất cả các nhóm ngành kinh tế, không riêng ngành công nghiệp

Dưới đây là số liệu về cơ cấu LĐKT theo các nhóm nghề chính trong ngành công nghiệp của nước ta qua các năm:

Bảng 4: Cơ cấu LĐKT theo nhóm nghề chính trong ngành Công nghiệp

Trang 30

Công nghiệp Công nghiệp

Sảnxuất&phân phối

Nguồn: Các cuộc điều tra lao động- việc làm của BLĐTBXH

Từ các kết quả trên, ta nhận thấy LĐKT trong công nghiêp tập trung chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, tiếp theo là xây dựng, sản xuất & phân phối điện, khí đốt, nước; cuối cùng là công nghiệp khai thác mỏ Số liệu đã phản ánh được thứ tự các ngành ưu tiên phát triển của nước ta hiện nay Công nghiệp chế biến chủ yếu chế biến các loại nông sản và thủy hải sản luôn được coi là một trong những ngành công nghiệp quan trọng của Việt Nam hiện nay vì giải quyết được số lượng lớn việc làm cho lao động qua đào tạo nhưng ở trình độ thấp Quy mô ngành lớn, do đó, LĐKT tập trung trong ngành này cũng đông hơn các ngành công nghiệp khác Tuy nhiên, LĐKT

ở tất cả các nhóm ngành thuộc ngành công nghiệp đều có một đặc điểm chung là doanh nghiệp phải đào tạo lại trước khi có thể sẵn sàng tham gia làm việc cho doanh nghiệp Các lao động đều không có trình độ hoặc trình độ quá thấp, buộc doanh nghiệp phải tốn thêm thời gian và tiền bạc để đào tạo lại Mặc dù thời gian đào tại rất ngắn nhưng chi phí đào tạo không phải nhỏ, nhưng quan trọng hơn là lao động qua đào tạo lại mới có thể thích ứng được với đặc thù công việc của doanh nghiệp Điều này cũng phản ánh phần nào công tác đào tạo nghề kém hiệu quả ở nước ta hiện nay

Trang 31

Lao động nông thôn chủ yếu tập trung sản xuất trong nhóm nông- lâm- ngư nghiệp với tỷ trọng LĐKT chỉ có 3% tổng số lao động nông thôn LĐKT tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị, trong các khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung và các ngành dịch vụ Tuy nhiên LĐKT trong các khu vực này cũng chỉ chiếm tỷ lệ 56,6% tổng số người lao động.

Theo sự phân bố vị trí địa lý các vùng trong cả nước, ta có bảng số liệu phản ánh tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật từng vùng như sau:

Trang 32

Bảng 5: Tình hình phân bổ lao động có CMKT theo vùng

Vùng Lao động có Chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật

1000 người % 1000 người % 1000 người % 1000 người % 1000 người % 1000 người %

Trang 33

Xét trên cả nước, lao động có chuyên môn kỹ thuật tập trung chủ yếu ở 4 vùng: Đồng bằng sông Hồng (27%) , Đông Nam Bộ (22%) , Đông Bắc (14%) , Đồng bằng sông Cửu Long (13%) Thấp nhất là khu vực Tây Bắc (2%) Tình hình phân bố lao động như trên cũng phản ánh được phần nào trình độ phát triển công nghiệp ở từng vùng Vùng ĐB sông Hồng và Đông Nam Bộ là hai nơi tập trung nhiều khu công nghiệp nhất nước ta với những vùng kinh tế trọng điểm của cả nước Do đó các LĐKT tập trung ở những vùng này với mật độ đông nhất Để đảm bảo chính sách phát triển đồng đều về LĐKT giữa các vùng miền trên cả nước, Đảng và nhà nước ta cần có những chế độ đãi ngộ khác nhau khuyến khích người lao động làm việc và chuyển công tác giữa các vùng.

Nguồn: các cuộc điều tra lao động- việc làm của Bộ Lao động

Nhìn chung tỷ lệ LĐKT trong tổng lực lượng lao động nước ta tăng đều qua các năm Trong giai đoạn trước khi hội nhập, tỷ lệ LĐKT tăng lên hàng năm cả nước

Trang 34

chỉ ở mức 0,5- 0,8% thì sau khi Việt Nam gia nhập WTO, tỷ lệ này đã tăng lên 1,1%

ở cả lao động nam và nữ Tuy nhiên tỷ lệ gia tăng này vẫn chưa thể coi là đột phá Mặt khác, trong cơ cấu LĐKT nam và nữ, có một đặc điểm có thể dễ dàng nhận ra là

tỷ lệ LĐKT nam trong tổng lực lượng lao động nam luôn cao hơn tỷ lệ LĐKT của nữ

từ 7,5- 8,5% Năm 2008, tỷ lệ LĐKT nam là 27,8% cao hơn tỷ lệ LĐKT nữ (19,3%)

là 8,5% Như vậy, tỷ lệ LĐKT nữ nước ta luôn thấp hơn mức trung bình của cả nước Tuy nhiên qua cơ cấu đó ta cũng thấy được phần nào cái nhìn tích cực của xã hội đối với sự phát triển của phụ nữ, vai trò ngày càng quan trọng của người phụ nữ trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội

2 Đánh giá chất lượng đội ngũ lao động kỹ thuật hiện nay.

2.1 Trình độ văn hóa của người lao động:

Một trong những ưu thế của nguồn nhân lực Việt Nam là trình độ văn hóa của người lao động khá cao Việc đầu tư cho giáo dục đã làm thay đổi đáng kể

cơ cấu trình độ văn hóa của người lao động Trình độ học vấn của người lao động không ngừng tăng qua các năm, không ngoại trừ các LĐKT

Theo sơ đồ hệ thống giáo dục quốc dân của nước ta (hình 2), lực lượng LĐKT là những lao động có trình độ văn hóa từ Trung học cơ sở trở lên, chiếm

đa số là các lao động đã tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông Năm

2003, đội ngũ LĐKT trong ngành công nghiệp và xây dựng là 6.758 triệu người,chiếm 16,36% tổng lực lượng lao động của cả nước Trong đó có 55,76%

là lao động có bằng tốt nghiệp cấp II, 33,9% LĐKT có bằng tốt nghiệp cấp III và 10,34% LĐKT có trình độ trên cấp III Đến năm 2008, tỷ lệ LĐKT đã tăng lên chiếm 23,8% cơ cấu lao động cả nước với 50,16% lao động có trình độ văn hóa cấp II, 40,3% lao động có trình độ văn hóa cấp III và 9,54% lao động trình độ trên cấp III Thực trạng trên đã chứng minh rằng trình độ văn hóa của LĐKT nước ta ngày càng được cải thiện Xu hướng chuyển dịch này hoàn toàn phù hợp với chiến lược phát triển giáo dục của Đảng ta Có được điều đó là do truyền thống con người Việt Nam vốn rất hiếu học, ham hiểu biết, có khả năng sáng tạo, tiếp thu và làm chủ khoa học công nghệ hiện đại Đây là một lợi thế lớn để Việt Nam tận dụng phát triển đội ngũ LĐKT chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế- xã hội trong môi trường thương mại quốc tế

2.2 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động:

Trang 35

Qua phân tích ở trên ta có thể thấy trình độ văn hóa của lực lượng LĐKT nước

ta tương đối cao nhưng trình độ chuyên môn kỹ thuật hay trình độ nghề nghiệp của người lao động lại thấp Tỷ lệ lao động không có chuyên môn kỹ thuật chiếm 65,3% tổng lực lượng lao động, chỉ có 34,7% lao động có chuyên môn kỹ thuật Và vẫn xảy

ra hiện tượng thất nghiệp đối với các LĐKT kể cả các lao động chuyên môn kỹ thuật trình độ cao Các tỷ lệ về thực trạng này được thể hiện trong bảng thống kê sau:

Bảng 7: Cơ cấu lao động theo tình trạng hoạt động và chuyên môn kỹ thuật

trong năm 2007

Không có CMKT

CNKT không có bằng

Đào tạo nghề ngắn hạn

Đào tạo nghề dài hạn

Cao đẳng, đại học và trên đại học

Nguồn: Các cuộc điều tra lao động- việc làm của BLĐTBXH

Năm 2007 nước ta có 8980 lao động chuyên môn kỹ thuật trong ngành công nghiệp chiếm 34,7% cơ cấu lao động của cả nước Trong đó có 18,3% công nhân kỹ thuật không có bằng; 2,7% lao động qua đào tạo nghề ngắn hạn; 7,4% lao động qua đào tạo nghề dài hạn và 6,4% lao động đào tạo ở mức cao đẳng và đại học trở lên Tỷ

lệ LĐKT đã thấp, số lượng lao động đào tạo không chính quy (CNKT không có bằng) lại chiếm đa số, cơ cấu LĐKT của Việt Nam còn rất bất hợp lý

Một thực trạng còn tồn tại nữa đối với LĐKT nước ta là tình trạng thất nghiệp đối vẫn xảy ra Thực tế nhu cầu LĐKT của các doanh nghiệp vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ nhưng LĐKT được đào tạo ra vẫn thất nghiệp Cơ cấu thất nghiệp của công nhân kỹ thuật không có bằng là 8,2% ; của lao động được đào tạo nghề ngắn hạn là 2,1% ; của lao động được đào tạo nghề dài hạn là 11,7% và của lao động đào tạo cấp cao đẳng và đại học trở lên là 10,1% Tỷ lệ thất nghiệp của lao động được đào tạo ở cấp cao đẳng và đại học trở lên (10,1%) cao hơn công nhân kỹ thuật không có bằng (8,2%) và đào tạo nghề ngắn hạn (2,1%) Nguyên nhân chính của hiện tượng trên là

Trang 36

do chất lượng đào tạo ở từng cấp độ đào tạo vẫn chưa thỏa mãn đòi hỏi của các doanh nghiệp và cơ cấu lao động được đào tạo ra không khớp với cơ cấu nhu cầu lao động Để giải quyết tình trạng thất nghiệp nói chung và đặc biệt đối với các LĐKT đã qua đào tạo, nhiệm vụ chủ yếu thuộc về chức năng của hệ thống giáo dục đào tạo nghề nước ta.

2.3 Năng suất lao động:

Trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội hiện nay, phát triển nguồn nhân lực tốt là yếu tố quan trọng nhất quyết định tới khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Để đánh giá chất lượng lao động, năng suất lao động là chỉ tiêu luôn được đề cập đến Năng suất lao động và tăng năng suất lao động đã trở thành yếu tố quyết định khả năng tăng khối lượng hàng hóa dịch vụ, tạo ra tăng trưởng kinh tế Ta có bảng biểu thị năng suất lao động ở ba khu vực kinh tế của Việt Nam như sau (lấy tốc độ tăng năng suất khu vực nông nghiệp làm chuẩn):

Bảng 8: Quan hệ năng suất lao động ở 3 khu vực giai đoạn 2001- 2008

Nguồn: “Thực trạng về lao động- việc làm ở VN”, NXB Thống kê 2009

Theo số liệu thống kê ở trên, tốc độ tăng năng suất lao động trong ngành công nghiệp là nhanh nhất Năm 2008, Năng suất lao động bình quân một người của khu Vực II theo giá thực tế là 62,76 triệu đồng, gấp 4.5 lần năng suất khu vực I và gấp 1,3 lần năng suất khu vực III Kết quả đó phù hợp với định hướng CNH- HĐH mà Đảng

và nhà nước đã đề ra Tuy nhiên, so với các nước phát triển khác, năng suất lao động bình quân của Việt Nam vẫn còn rất thấp

Năng suất lao động của Việt Nam nếu tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái năm

2008 (bình quân khoảng 16,548 VND/USD) đạt 1.459 USD/người, còn thấp xa so

Trang 37

với mức năng suất lao động năm 2008 của nhiều nước trong khu vực (Indonesia 2.780 USD, Philippines 2.834 USD, Thái Lan 3.462 USD, Malaysia 15.721 USD, Singapore 50.216 USD, Nhật Bản 80.942 USD ) Ngành công nghiệp có năng suất lao động cao nhất, nhưng số lượng lao động chiếm tỷ trọng thấp (19,23%), tốc độ tăng chậm Nguyên nhân của tình trạng trên là do cơ cấu các ngành công nghiệp tính gia công và khai thác nguyên nhiên vật liệu còn cao, giá trị tăng thêm thấp Khi định hướng phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam trong thời gian tới ngày càng hiện đại, trình độ công nghệ sản xuất được nâng lên thì cải thiện chất lượng LĐKT để theo kịp công nghệ, vận hành được công nghệ, nâng cao năng suất lao động là công việc cấp thiết hiện nay.

2.4 Thời gian lao động hiệu quả:

Thời gian lao động hiệu quả là tiêu chí đánh giá chất lượng lao động phù hợp với đặc điểm lao động Việt Nam dựa trên chuẩn mực về năng suất lao động và thời gian lao động Ở các nước phát triển cũng như nhiều quốc gia trong khu vực, cùng số thời gian làm việc như nhau, nhưng năng suất lao động thực tế của các nước đó cao hơn Việt Nam nên thời gian lao động thực tế của họ cũng nhiều hơn Nếu lấy năng suất lao động 1 ngày của Việt Nam là 1 thì ta có thời gian để lao động của Việt Nam đạt được năng suất bằng các nước trong khu vực như sau:

Bảng 9: Thời gian lao động Việt Nam cần thực hiện để đạt năng suất trung

bình tương đương với các nước trong khu vực

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ trang web: http://www.nangsuatchatluong.vn

Nhìn chung, thời gian lao động hiệu quả của lao động Việt Nam là thấp hơn các nước trong khu vực Với các nước phát triển như Nhật Bản, thời gian lao động một ngày của họ gấp 55.478 lần thời gian lao động một ngày của Việt Nam Hay số giờ để 1 lao động Nhật Bản đạt năng suất lao động tương đương một ngày của 1 lao động Việt Nam là 30 phút, đối với lao động Singapore là 43 phút

Bên cạnh đó, tại nhiều doanh nghiệp Việt Nam, người lao động làm vẫn chưa hết số thời gian quy định Thời gian quy định một ngày lao động là 8 tiếng, nhưng nhiều lao

Trang 38

động đã không làm hết số giờ quy định trên hoặc làm hết nhưng hiệu quả công việc giải quyết được rất thấp Đây là tình trạng xảy ra phổ biến tại các doanh nghiệp nhà nước Các nguyên nhân dẫn tới thực tế trên là do phương thức quản lý lao động còn yếu kém, mang tính hình thức, chấm công theo số lượng chứ không theo chất lượng công việc được giải quyết

Vậy một trong các tiêu chí để nâng cao chất lượng lao động Việt Nam bao gồm

cả các lao động kỹ thuật là nâng cao thời gian lao động hiệu quả của từng người và thay đổi phương thức quản lý lao động theo hiệu quả công việc được giải quyết

2.5 Yếu tố về sức khỏe, tâm lý người lao động:

Khi so sánh tình trạng sức khỏe của lao động Việt Nam với các nước khác, sử dụng các chỉ tiêu về tình trạng sức khỏe đã được quy định, ta có thể thấy so với các nước Châu Á có cùng trình độ phát triển, điều kiện kinh tế tương đồng như Việt Nam

là In-đô-nê-xi-a, Phi-lip-pin, Lào… thì thể lực của lao động Việt Nam có nhiều điểm vượt hơn Nhưng nếu đem so sánh với các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Úc…,thể lực lao động Việt Nam thật sự còn kém xa: thể lực lao động VN kém cả về chiều cao, cân nặng cũng như sức bền, sự dẻo dai Điều này ảnh hưởng lớn đến khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến, hạn chế cường độ làm việc trong các ngành công nghiệp hiện đại do áp lực công việc lớn, đòi hỏi cao Do đó nó làm giảm đáng kể sức cạnh tranh của lao động Việt Nam với lao động các nước trong khu vực và thế giới Thanh niên Việt Nam không chỉ thấp, bé, nhẹ cân mà còn yếu về sức mạnh cơ bắp, sức dẻo dai và sức bền Các chỉ số về thể lực như cân nặng, chiều cao trung bình của lực lượng lao động Việt Nam là 162,5cm; 49,7kg và có sự chênh lệch lớn giữa thành thị- nông thôn, giữa các vùng miền trên cả nước

Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới WHO với những lao động từ 16 tuổi trở lên, đánh giá về dinh dưỡng của lao động Việt Nam cho thấy:

Số người gầy chiếm 48,7% và tăng theo lứa tuổi

Số người trung bình chiếm 50% và giảm theo lứa tuổi

Số người béo chiếm 1,3% và giảm theo lứa tuổi

Trọng lượng và chiều cao của lao động Việt Nam thường thấp hơn so với các nước trong khu vực Con số cụ thể là nam thanh niên Việt Nam 18 tuổi thấp hơn Nhật Bản 8cm, trong khi cùng lứa tuổi đó ở nữ là thấp hơn 4cm Tuổi thọ bình quân khỏe mạnh của Việt Nam chỉ đạt 60,2 tuổi, xếp thứ 116/174 nước trên thế giới Tính trung bình, mỗi người dân có tới 12 năm ốm đau so với 72,2 tuổi thọ

Trang 39

nhưng với thể lực còn nhiều hạn chế cũng là trở ngại lớn đối với vấn đề nâng cao chất lượng lao động của ta (bao gồm cả lao động kỹ thuật) Do vậy một trong những biện pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là quan tâm phát triển hệ thống chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng cho người lao động.

2.6 Ý thức lao động và tổ chức kỷ luật của người lao động:

Hiện nay vấn đề mà các doanh nghiệp công nghiệp nước ta đang quan tâm

là nhu cầu lao động kỹ thuật chưa được tuyển đủ do số lượng LĐKT đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng không cao Bên cạnh đó, điều đáng lo ngại nhất, theo ý kiến đánh giá của các doanh nghiệp là ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong làm việc của các nhân công kỹ thuật chưa cao Thực trạng này thể hiện tính lao động thiếu chuyên nghiệp của Việt Nam mà được bắt nguồn từ nền văn minh nông nghiệp Các lao động luôn bị ảnh hưởng và tiếp thu các thói quen xấu từ khi còn nhỏ và trong môi trường sống Ý thức kỷ luật lao động chưa cao biểu hiện ở: chấp hành giờ giấc làm việc chưa chặt chẽ, chưa có tác phong công nghiệp, khả năng phát huy sáng kiến tự nâng cao trình độ thấp, tính hợp tác và phối hợp làm việc nhóm còn yếu

Theo kết quả điều tra đánh giá của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp thuộc thành phố Hồ Chí Minh về thái độ tác phong nghề nghiệp của các lao động Kỹ thuật trong công ty mình cho thấy: chỉ có 27% đồng ý với ý kiến tốt, 9% đồng ý với ý kiến khá, đa số cho là trung bình (36%) và có 28% (trên ¼

ý kiến được hỏi) cho là yếu và kém (hình 4)

Hình 4: Biểu đồ đánh giá về chất lượng CNKT tại các

doanh nghiệp Công nghiệp

Trang 40

Nguồn: Tạp chí khoa học Công nghệ

Như vậy chỉ có chưa đến 50% số doanh nghiệp được điều tra cho rằng họ hoàn toàn hài lòng về thái độ làm việc của lao động trong công ty Con số này còn quá nhỏ so với yêu cầu của các doanh nghiệp Mặt khác, ý thức tổ chức kỷ luật lao động ở các nước phát triển được coi là điều kiện cơ bản nhất khi một người tham gia lao động Nhờ ý thức lao động tốt, năng suất lao động của công nhân kỹ thuật các nước phát triển rất cao, khối lượng công việc được giải quyết trong thời gian lao động được quy định lớn và chất lượng lao động ngày càng hoàn thiện Các nước đi sau như Việt Nam, muốn theo kịp các nước phát triển, nhiệm vụ đáng quan tâm nhất, được coi như giải pháp bền vững là phát triển được nguồn lao động có chuyên môn kỹ thuật tốt Trong đó, việc nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, định hướng tác phong công nghiệp cho lao động khi làm việc là công việc đầu tiên cần thực hiện từ khi học viên còn học trong các cơ sở đào tạo nghề

3 Những thách thức đặt ra đối với lao động kỹ thuật Việt Nam khi tham gia hội nhập:

3.1 Nhu cầu lao động có tay nghề cao ngày càng tăng:

Trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay, khi khoa học và công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất chính thì lao động kỹ thuật ngày cang có vai trò quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Tuy nhiên tỷ lệ lao động này trong tổng lực lượng lao động lại không cao, chiếm 23% trên tổng số lao động và LĐKT hoạt động trong ngành công nghiệp- xây dựng chỉ chiếm 16% tổng số Hàng năm, số người mới tham gia vào đội ngũ lao động nước ta là 1,5 triệu lao động với cơ cấu

Ngày đăng: 16/07/2013, 17:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bài viết: “Phát triển bền vững, xây dựng nguồn nhân lực kỹ thuật cao”- TS. Võ Thị Xuân, Đại học sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững, xây dựng nguồn nhân lực kỹ thuật cao
9. Bài viết: “Công nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế Quốc tế”, TS. Nguyễn Xuân Dũng – NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế Quốc tế
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
11. Báo cáo: “Tìm kiếm con đường phát triển và đánh giá tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam đến năm 2020” – Việc chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm kiếm con đường phát triển và đánh giá tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam đến năm 2020
13. Thông báo “Kết luận về chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2010- 2020” của văn phòng Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận về chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2010- 2020
4. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng – số 2(31)2009 Khác
7. Thực trạng về lao động việc làm ở Việt Nam - NXB Thống kê Hà Nội 2009 Khác
8. Tổng cục Tống kê: kết quả điều tra các doanh nghiệp hàng năm Khác
10. Nghị định số 75/2006/NĐ-CP: Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục Khác
12. Kết quả điều tra thực trạng đào tạo dạy nghề và việc làm của Tổng cục dạy nghề Khác
14. Kết quả đánh giá của Diễn Đàn kinh tế Thế giới (WEF) 2008 về các vần đề kinh tễ- xã hội của Việt Nam Khác
16. Một số webside tham khảo: vietnamnet.vn ; nangsuatchatluong.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1:   Phân loại lao động -  Kiến nghị các giải pháp cơ bản phát triển lao động kỹ thuật trong ngành Công nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập
Hình 1 Phân loại lao động (Trang 2)
Hình 2:   Hệ thống giáo dục quốc dân -  Kiến nghị các giải pháp cơ bản phát triển lao động kỹ thuật trong ngành Công nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập
Hình 2 Hệ thống giáo dục quốc dân (Trang 4)
Bảng 2: Số lao động kỹ thuật trong cơ cấu lao động cả nước -  Kiến nghị các giải pháp cơ bản phát triển lao động kỹ thuật trong ngành Công nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bảng 2 Số lao động kỹ thuật trong cơ cấu lao động cả nước (Trang 26)
Bảng 3:  Cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo -  Kiến nghị các giải pháp cơ bản phát triển lao động kỹ thuật trong ngành Công nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bảng 3 Cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo (Trang 27)
Bảng 5: Tình hình phân bổ lao động có CMKT theo vùng -  Kiến nghị các giải pháp cơ bản phát triển lao động kỹ thuật trong ngành Công nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bảng 5 Tình hình phân bổ lao động có CMKT theo vùng (Trang 32)
Bảng 6:  Cơ cấu LĐKT nam và nữ trong khối ngành công nghiệp và xây dựng  giai đoạn 2000- 2008 -  Kiến nghị các giải pháp cơ bản phát triển lao động kỹ thuật trong ngành Công nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bảng 6 Cơ cấu LĐKT nam và nữ trong khối ngành công nghiệp và xây dựng giai đoạn 2000- 2008 (Trang 33)
Bảng 7: Cơ cấu lao động theo tình trạng hoạt động và chuyên môn kỹ thuật  trong năm 2007 -  Kiến nghị các giải pháp cơ bản phát triển lao động kỹ thuật trong ngành Công nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bảng 7 Cơ cấu lao động theo tình trạng hoạt động và chuyên môn kỹ thuật trong năm 2007 (Trang 35)
Bảng 8: Quan hệ năng suất lao động ở 3 khu vực giai đoạn 2001- 2008 -  Kiến nghị các giải pháp cơ bản phát triển lao động kỹ thuật trong ngành Công nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bảng 8 Quan hệ năng suất lao động ở 3 khu vực giai đoạn 2001- 2008 (Trang 36)
Bảng 10: Quy mô vốn dành cho đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật -  Kiến nghị các giải pháp cơ bản phát triển lao động kỹ thuật trong ngành Công nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bảng 10 Quy mô vốn dành cho đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật (Trang 47)
Bảng 11: Giới thiệu về năm cơ sở đào tạo dạy nghề ở Việt Nam được phân tích Giai -  Kiến nghị các giải pháp cơ bản phát triển lao động kỹ thuật trong ngành Công nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bảng 11 Giới thiệu về năm cơ sở đào tạo dạy nghề ở Việt Nam được phân tích Giai (Trang 57)
Hình 6: Đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới(WEF) 2008 về tình trạng các  vấn đề đáng lo ngại nhất của Việt Nam -  Kiến nghị các giải pháp cơ bản phát triển lao động kỹ thuật trong ngành Công nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập
Hình 6 Đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới(WEF) 2008 về tình trạng các vấn đề đáng lo ngại nhất của Việt Nam (Trang 63)
Bảng 12: Dự báo nhu cầu LĐKT trên cả nước năm 2015 và 2020 -  Kiến nghị các giải pháp cơ bản phát triển lao động kỹ thuật trong ngành Công nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bảng 12 Dự báo nhu cầu LĐKT trên cả nước năm 2015 và 2020 (Trang 76)
Bảng 13: Dự báo nhu cầu LĐKT trong ngành công nghiệp và trong cơ cấu ngành công nghiệp -  Kiến nghị các giải pháp cơ bản phát triển lao động kỹ thuật trong ngành Công nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bảng 13 Dự báo nhu cầu LĐKT trong ngành công nghiệp và trong cơ cấu ngành công nghiệp (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w