1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích và dự báo triển vọng của thị trường cổ phiếu Việt Nam

65 570 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Và Dự Báo Triển Vọng Của Thị Trường Cổ Phiếu Việt Nam
Tác giả Viên Thị Hồng Vân
Người hướng dẫn TS. Trần Trọng Nguyên
Trường học Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Toán Tài Chính
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 2,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thị trường chứng khoán đang trở thành một điểm nóng thu hút sự quan tâm rất lớn của mọi đối tượng trong xã hội. Cùng với sự quan tâm đó, giới tham gia thị trường chứng khoán cũng bắt đầu quan tâm đến những kĩ thuật ứng dụng trong phân tích và đánh giá để đưa ra quyết định đầu tư phù hợp.

Trang 1

Lời mở đầu

Thị trường chứng khoán đang trở thành một điểm nóng thu hút sự quan tâm rấtlớn của mọi đối tượng trong xã hội Cùng với sự quan tâm đó, giới tham gia thịtrường chứng khoán cũng bắt đầu quan tâm đến những kĩ thuật ứng dụng trong

phân tích và đánh giá để đưa ra quyết định đầu tư phù hợp Hai hệ thống kĩ thuật phân tích được nói đến nhiều nhất là phân tích cơ bản và phân tích kĩ thuật Trong khi đa số chúng ta đều ít nhiều có những kiến thức nhất định về phân tích

cơ bản thì số lượng người hiểu và nắm về phân tích kĩ thuật còn hạn chế Trong

phần nghiên cứu này em sẽ sử dụng lý thuyết song Elliott trong phân tích kỹthuật để đưa ra những dự báo triển vọng của thị trường cổ phiếu Việt Nam trongnăm 2010 Chuyên đề được sự hướng dẫn của thầy giáo TS.Trần Trọng Nguyên

- Giảng viên bộ môn Toán Tài chính - Khoa Toán Kinh Tế - Trường Đại họcKinh Tế Quốc Dân

Trang 2

Chương I: Tổng quan về phân tích kỹ thuật

1.1 Lịch sử hình thành

Lịch sử của Phân tích kỹ thuật bắt nguồn từ cách đây hơn 100 năm, từmột người tên là Charles H Dow Ông là người đã sáng lập lên tạp chí phố Wall(The Wall Street Journal) Sau nhiều năm nghiên cứu, năm 1884 ông đưa ra chỉ

số bình quân của giá đóng cửa của 11 cổ phiếu quan trọng nhất thị trường Mĩthời gian đó William Peter Hamilton là người thực sự mang lại sức sống chonhững nghiên cứu của Dow bằng việc tiếp tục nghiên cứu và xuất bản cuốn sách

“The Stock Market Barometer” (Phong vũ biểu thị trường chứng khoán) vàonăm 1922 Suốt những năm 1920 và 1930, Richard W Schabacker là người đã

đã đi sâu vào những nghiên cứu của Dow và Hamilton, Schabacker là người đãđưa ra khái niệm đầu tiên về Phân tích kỹ thuật Schabacker từng là chủ biên củatạp chí Forbes nổi tiếng Ông chỉ ra rằng những dấu hiệu mà lý thuyết Dow đưa

ra được với chỉ số bình quân thị trường vẫn giữ nguyên giá trị và tầm quan trọngkhi áp dụng vào đồ thị của từng cổ phiếu riêng lẻ Điều này đã được ông thểhiện và chứng minh trong cuốn sách của mình: “Stock Market Theory andPractice, Technical Market Analysis and Stock Market Profit”

Như vậy những cơ sở đầu tiên của Phân tích kỹ thuật đã xuất hiện từ trong

lý thuyết Dow, nhưng phải đến Schabacker – người cha của Phân tích kỹ thuậthiện đại tiếp đó là Edward và Magee với “Technical Analysis of Stock Trend”

và ngày nay là John Murphy, Jack Schwager, Martin Pring, … thì mới thực sự rađời cái tên “Phân tích kỹ thuật ” và được nâng cao, tổng kết thành một hệ thống

lý luận quan trọng trong phân tích đầu tư trên thị trường chứng khoán nói riêng

và thị trường tài chính nói chung

Trang 3

Giá của chứng khoán mô tả sự nhất trí Đó là giá mà một người đồng ýmua còn người khác đồng ý bán Mức giá mà nhà đầu tư sẵn sàng mua hoặc bánphụ thuộc trước hết vào sự trông đợi của anh ta Nếu anh ta trông đợi giá chứngkhoán tăng, anh ta sẽ mua nó, nếu nhà đầu tư trông đợi giá giảm, anh ta sẽ bán

nó Những vấn đề đơn giản này là nguyên nhân của sự thách thức chủ yếu trongviệc dự báo giá chứng khoán vì chúng liên quan đến sự trông đợi của con người.Tất cả chúng ta đều biết, con người không dễ để có thể xác định số lượng cũngnhư dự đoán Thực tế này mình nó làm cho bất kỳ hệ thống thương mại cơ họcnào không thể hoạt động trước sau như một.Giá cổ phiếu được quyết định bởinhững người quản lý tiền và quản lý nhà, sinh viên và người phụ thợ rèn, bác sĩ

và nguời bắt chó, luật sư và công nhân xây dựng, sự giàu sang và sự thiếu thốn

Số lượng lớn người tham gia vào thị trường bảo đảm cho yếu tố thú vị và khôngthể dự đoán trước

1.2 Những giả định cơ sở về việc áp dụng phân tích kỹ thuật vào thị trường chứng khoán Việt Nam

Phân tích kỹ thuật là sự nghiên cứu biến động của thị trường, chủ yếuthông qua việc sử dụng các đồ thị nhằm mục đích dự đoán các xu thế biến độngcủa giá trong tương lai Thuật ngữ “biến động của thị trường” ám chỉ ba yếu tốbiến động chính cung cấp thông tin cho quá trình Phân tích kỹ thuật là giá, khốilượng giao dịch và số lượng hợp đồng chưa tất toán (open interest) Có 3 giảđịnh làm cơ sở cho việc tiếp cận Phân tích kỹ thuật:

 Biến động thị trường phản ánh tất cả

 Giá dịch chuyển theo xu thế chung

 Lịch sử sẽ tự lặp lại

Trang 4

1.2.1 Biến động thị trường phản ánh tất cả.

Đây có thể coi là nền tảng của Phân tích kỹ thuật Mọi lý thuyết, phân tíchkhác muốn được chấp nhận thì trước tiên phải hiểu và chấp nhận giả định này.Các nhà Phân tích kỹ thuật cho rằng bất cứ yếu tố nào có khả năng ảnh hưởngđến giá như tâm lý, chính trị hay các yếu tố tài chính của doanh nghiệp, tổchức đều được phản ánh rõ trong giá thị trường Do đó có người cho rằngviệc nghiên cứu biến động của giá là tất cả những gì ta cần và thực sự không thểphản đối lại ý kiến này

Trên cơ sở nhận thức chung về việc giá phản ánh những biến động trongcung, cầu Các nhà Phân tích kỹ thuật chỉ ra rằng khi giá tăng dù vì bất kì lý do

gì thì cầu phải vượt cung và thị trường tăng giá Chúng ta cũng đều biết và đồng

ý rằng động lực chính của cung và cầu là những yếu tố kinh tế căn bản, chúnglàm hình thành lên Bull Market hay Bear Market, còn đồ thị thì không tự nó làmcho thị trường dịch chuyển lên hay xuống Đồ thị chỉ có thể phản ánh tình hìnhthị trường mà thôi

1.2.2 Giá vận động theo xu thế

Khái niệm về xu thế là khái niệm vô cùng quan trọng trong Phân tích kỹthuật do đó cần hiểu kĩ về giả định này trước khi muốn tìm hiểu sâu thêm về nó.Mục đích của việc xác lập đồ thị mô tả những biến động giá trên thị trường lànhằm xác định được sớm những xu thế giá, từ đó sẽ tham gia giao dịch trên cơ

sở những xu thế này Trên thực tế những kĩ thuật ở đây đều mang tính lặp lạinhững xu thế giá có từ trước tức là mục đích của Phân tích kỹ thuật là nhằm xácđịnh sự lặp lại của những dạng biến động của giá đã xuất hiện trong quá khứ để

có thể tận dụng kinh nghiệm và đưa ra những quyết định phù hợp

Từ giả định này chúng ta còn có một hệ quả là “một xu thế giá đang vậnđộng sẽ tiếp tục theo xu thế của nó và ít khi có đảo chiều” Hệ quả này rút ra từ

Trang 5

định luật 1 về sự vận động của Newton, do đó nó cách phát biểu khác như sau:

"một xu thế đang vận động sẽ tiếp tục theo xu thế của nó cho đến khi nó đảochiều” Nhìn chung tất cả những nghiên cứu nhằm tiếp cận theo các xu thế đềunhằm để đi theo những xu thế giá hiện tại cho đến khi có dấu hiệu đảo chiều

Nếu giá dựa trên sự trông đợi của các nhà đầu tư thì việc biết một chứngkhoán nên bán vì cái gì (tức là phân tích cơ bản) trở nên ít quan trọng hơn việcbiết các nhà đầu tư khác trông đợi nó để bán vì cái gì Điều đó không có nghĩa làviệc biết một chứng khoán nên bán vì cái gì là không quan trọng Nhưng thường

có sự nhất trí khá mạnh mẽ về lợi tức trong tương lai của cổ phần mà các nhàđầu tư bình thường không thể bác bỏ

Phân tích kỹ thuật là quá trình phân tích lịch sử giá của chứng khoán đểxác định mức giá có thể trong tương lai Điều này được thực hiện bằng cách sosánh sự hoạt động của giá ở thời điểm hiện tại (tức là sự trông đợi hiện tại) với

sự hoạt động của giá có thể so sánh trong quá khứ để dự đoán được kết quả hợp

lý Một kỹ thuật viên nhiệt tình có thể xác định rõ quá trình như là một thực tế

Trang 6

rằng lịch sự tự lặp lại trong khi những cái khác sẽ đáp ứng để nói rằng chúng tanên nghiên cứu từ quá khứ.

1.3 Những yếu tố cơ bản trong phân tích kỹ thuật

1.3.1 Các trường giá

Phân tích kỹ thuật được dựa trên hầu như toàn bộ việc phân tích giá vàkhối lượng Các trường định nghĩa giá và khối lượng của chứng khoán được giảithích dưới đây:

Open: Đây là mức giá của lần giao dịch đầu tiên trong một thời kỳ (ví dụ:

lần giao dịch đầu tiên trong ngày) Khi phân tích các dữ liệu hàng ngày giá Openđặc biệt quan trọng vì nó là mức giá nhất trí sau khi tất cả các bên quan tâm cóthể “gác nó đến hôm sau”

High: Đây là mức giá cao nhất mà chứng khoán được giao dịch trong một

thời kỳ Đó là thời điểm mà tại đó có nhiều người bán hơn người mua (tức là:luôn có người bán sẵn sàng bán ở mức giá cao hơn, nhưng mức giá High miêu tảmức giá cao nhất mà người mua sẵn sàng trả tiền)

Low: Đây là mức giá thấp nhất mà chứng khoán được giao dịch trong một

giai đoạn Đó là thời điểm mà tại đó có nhiều người mua hơn người bán (tức là:luôn có người mua sẵn sàng mua ở mức giá thấp hơn, nhưng mức giá Low miêu

tả mức giá thấp nhất mà người bán sẵn sàng chấp nhận bán)

Close: Đây là mức giá cuối cùng mà chứng khoán được giao dịch trong

một thời kỳ Do tính lợi ích của nó, mức giá Close là một trường được thườngxuyên sử dụng nhất để phân tích Các kỹ thuật viên cho rằng mối quan hệ giữamức giá Open (Mức giá đầu tiên) và mức giá Close (Mức giá cuối cùng) rất có ý

Trang 7

nghĩa Mối quan hệ đó được nhấn mạnh trong biểu đồ giá đỡ nến (candlestickchart).

Volume: Đây là số lượng cổ phiếu (hoặc hợp đồng)được giao dịch trong

một thời kỳ Mối quan hệ giữa giá và khối lượng (ví dụ: tăng giá đi cùng vớităng khối lượng) rất quan trọng

Open Interest: Đây là tổng số các hợp đồng future hoặc option còn tồn tại

(ví dụ: những hợp đồng chưa được sử dụng, bị chấm dứt hoặc hết hiệu lực).Open Interest thường được sử dụng như là một chỉ số

Bid: Đây là mức giá mà một người buôn bán chứng khoán sẵn sàng trả để

mua chứng khoán (tức là: số tiền bạn sẽ nhận khi bạn bán)

Ask: Đây là mức giá mà một người buôn bán chứng khoán sẵn sàng chấp

nhận để bán chứng khoán (tức là: số tiền bạn sẽ trả để mua chứng khoán)

Những trường đơn gian này được sử dụng để tạo ra hàng trăm công cụ kỹthuật để nghiên cứu mối quan hệ giá, xu hướng giá, mẫu hình giá… Không phảitất cả các trường giá này có thể dùng được cho tất cả các kiểu chứng khoán vànhiều nhà cung cấp lời chỉ dẫn chỉ công bố một bộ phận các trường giá Bảng 1cho thấy các trường tiêu biểu được sử dụng cho một vài kiểu chứng khoán

1.3.2 Các dạng biểu đồ trong phân tích kỹ thuật

Hiện nay trên Thị trường chứng khoán các chuyên viên phân tích dùng rấtnhiều các loại biểu đồ khác nhau để phân tích, trong đó có 3 loại biểu đồ đượcdùng một cách phổ biến nhất đó là:

 Biểu đồ dạng đường (Line chart)

 Biểu đồ dạng then chắn (Bar chart)

Trang 8

 Biểu đồ hình nến (candlestick chart)

1.3.2.1 Biểu đồ dạng đường – Line chart

Dạng biểu đồ này từ trước tới nay thường được sử dụng trên Thị trườngchứng khoán, và cũng là loại biểu đồ được dùng một cách phổ biến nhất trongcác ngành khoa học khác dùng để mô phỏng các hiện tượng kinh tế và xã hội…

và nó cũng là loại biểu đồ được con người dùng trong thời gian lâu dài nhất.Nhưng hiện nay trên Thị trường chứng khoán do khoa học kỹ thuật phát triển,diễn biến của Thị trường chứng khoán ngày càng phức tạp cho nên loại biểu đồnày ngày càng ít được sử dụng nhất la trên các Thị trường chứng khoán hiện đại.Hiện nay nó chủ yếu được sử dụng trên các Thị trường chứng khoán mới đi vàohoạt động trong thời gian ngắn, khớp lệnh theo phương pháp khớp lệnh định kỳtheo từng phiên hoặc nhiều lần trong một phiên nhưng mức độ giao dịch chưathể đạt được như Thị trường chứng khoán dùng phương pháp khớp lệnh liên tục

Ưu điểm của loại biểu đồ này là dễ sử dụng, lý do chính là vì nó được sửdụng trên tất cả các Thị trường chứng khoán trên khắp thế giới từ trước tới nay.Hiện nay loại biểu đồ này ít được sử dụng để phân tích trên các Thị trườngchứng khoán hiện đại vì các Thị trường chứng khoán hiện đại ngày nay thườngdiễn biến khá phức tạp, mức độ dao động trong thời gian ngắn với độ lệch khácao, nếu dùng loại biểu đồ này để phân tích thì thường mang lại hiệu quả thấptrong phân tích

Ví dụ về biểu đồ dạng đường - line chart

Trang 9

Hình 1.1: biến động Vn-Index giai đoạn 12/2005 - 01/2008 (Line - chart)

Hiện nay trên các Thị trường chứng khoán hiện đại đang dùng một số loạibiểu đồ trong Phân tích kỹ thuật mang lại hiệu quả cao đó là Bar chart vàCandlestick chart

Trang 10

1.3.2.2 Biểu đồ dạng then chắn – Bart chart

Ví dụ về biểu đồ dạng then chắn - Bar chart

Hình 1.2: biến động Vn-Index giai đoạn 12/2005 - 01/2008 (Bar - chart)

Trên các Thị trường chứng khoán hiện đại trên thế giới hiện nay cácchuyên viên phân tích thường dùng loại biểu đồ này trong phân tích là chủ yếu

lý do chính vì tính ưu việt của nó đó là sự phản ánh rõ nét sự biến động của giáchứng khoán

Hai kí tự mà dạng biểu đồ này sử dụng đó là:

Trang 11

Loại biểu đồ này thường được áp dụng để phân tích trên các Thị trường chứngkhoán hiện đại khớp lệnh theo hình thức khớp lệnh liên tục, độ dao động của giáchứng khoán trong một phiên giao dịch là tương đối lớn.

Trang 12

Bản đã nhận thức về tầm quan trọng của phương pháp phân tích kỹ thuật từ rấtlâu Nhiều tài liệu còn cho rằng người Nhật mới là những người đầu tiên tiếnhành giao dịch hợp đồng tương lai với hàng hóa Vào những năm 1600, ngườiNhật đã thực hiện các giao dịch với hợp đồng “gạo rỗng” – ám chỉ những hợpđồng giao dịch gạo nhưng lại không hề có gạo thực – hay chính là khái niệmhợp đồng tương lai với gạo mà chúng ta áp dụng ngày nay.

Phần rộng nhất của một “cây nến” gọi là “thân” của nến Phần này mô tảthể hiện khoảng cách giữa giá mở cửa và giá đóng cửa của phiên Nếu giá đóngcửa cao hơn giá mở cửa, phần thân có màu xanh, ngược lại sẽ có màu đỏ Phầnđường thẳng “mỏng” phía trên và phía dưới gọi là “bóng” – thể hiện các mứcgiá cực điểm của phiên: cao nhất và thấp nhất Rõ ràng nhứng mức giá này cóthể nhưng không nhất thiết phải là giá đóng cửa hay giá mở cừa của phiên.Người ta đặt tên nó là biểu đồ nến bởi phần thân với phần đường thẳng giá cựcđiểm cho ta hình ảnh cây nến và phần bấc để đốt cháy của nó

Một trong những hiệu quả cơ bản của dạng biểu đồ này khiến cho người

sử dụng ưa thích là khả năng biểu đạt nhiều thông số bằng chính hình vẽ Chẳnghạn, thông qua màu ta có thể biết tình hình chung thị trường, thông qua độ dàithân, độ dài các bấc, ta có thể biết tình hình giá giao dịch Ngoài ra dạng biểu đồnày cũng có thể áp dụng cho mọi loại biểu đò: liên tục và định kỳ, theo phút,hàng ngày hoặc hàng tháng Những biến dạng khác nhau của mỗi cây nến phảnánh những đặc trưng khác nhau của tình hình thị trường Chẳng hạn biểu đồdạng Doji (phiên âm từ do-gee) có dạng như ô tròn mình khoanh thêm

Với dạng biểu đồ này, giá đóng cửa trùng với giá mở cửa, do đó mà ta sẽhầu như không thấy thân nến mà chỉ thấy bấc nến ở đây cũng sẽ có trường hợpgiá mở cửa bằng giá đóng cửa và bằng giá thấp nhất hoặc cao nhất trong ngày

Trang 13

Những cái tên mà người Nhật đặt cho các dạng thân nến cũng rất sáng tạo vàgiàu tính biểu tượng như:

 Biểu đồ hình búa: phần thân nến ở trên cùng, trùng vào giá cao nhất, bêndưới là đường bấc khá dài thể hiện giá thấp nhất, dạng biểu đồ này xuấthiện sau đợt giá xuống

 Biểu đồ hình người đàn ông treo cổ Hình mẫu này giống hệt hình mẫu cáibúa, điểm khác biệt cơ bản và duy nhất là biểu đồ hình người treo cổ chỉxuất hiện sau một đợt thị trường tăng trưởng dài

 Hình mẫu sao băng

 Hình mẫu sao mai

 Hình mẫu sao hôm

Tương tự như vậy, xem xét sự biến động giá của Phillip Morris trong hình

4, trong suốt thời kỳ dưới đây, chú ý mỗi lần giá rớt xuống mức $45.50 như thếnào, những người đầu cơ giá lên (tức là người mua) chiếm quyền điều khiển vàgiữ cho giá không bị rớt thêm nữa Điều đó có nghĩa là ở mức giá $45.50, nhữngngười mua cảm thấy đầu tư vào Phillip Morris là đáng giá (và những người bánkhông bán với giá thấp hơn $45.50) Kiểu hành vi của giá này liên quan tới mứcgiá hỗ trợ vì những người mua hỗ trợ cho mức giá $45.50

Trang 14

Hình 1.4

Liên quan tới mức giá hỗ trợ, mức độ kháng cự là một điểm mà ở đónhững người bán chiếm quyền điều khiển giá và ngăn cho chúng không tăng lêncao hơn Xem hình 1.5, chú ý mỗi lần giá tiến gần mức $51.50 như thế nào,người bán đông hơn người mua và ngăn cho giá tăng lên

Hình 1.5

Trang 15

Mức giá mà giao dịch được diễn ra là mức giá mà người đầu cơ giá lên vàngười đầu cơ giá xuống đồng ý thực hiện giao dịch Nó thể hiện sự nhất trí của

sự trông đợi Người đầu cơ giá lên nghĩ rằng giá sẽ tăng cao hơn và người đầu

cơ giá xuống nghĩ rằng giá sẽ xuống thấp hơn

Mức giá hỗ trợ cho thấy mức giá mà đa số các nhà đầu tư tin rằng giá sẽtăng cao hơn, còn mức giá kháng cự cho thấy đa số các nhà đầu tư cảm thấy giá

sẽ xuống thấp hơn

Nhưng sự trông đợi của nhà đầu tư thay đổi theo gian Trong một thờigian dài các nhà đầu tư không trông đợi Dow Industrial tăng trên 1000 (như tathấy trong hình 1.6 mức độ chống cự rất mạnh mẽ ở mức 1000) Nhưng chỉ vàinăm sau, nhà đầu tư sẵn sàng giao dịch ở mức gần 2500

Hình 1.6

Khi sự trông đợi của nhà đầu tư thay đổi, nó thường diễn ra rất đột ngột.Chú ý mức giá tăng vượt mức chống cự của Hasbro Inc trong hình 7, nó diễn ra

Trang 16

rất dứt khoát Cũng nên chú ý, cú vượt mức giá kháng cự đi kèm với mức tăngkhối lượng đáng kể.

Hình 1.7

Một khi các nhà đầu tư chấp nhận Hasbro có thể được giao dịch ở mứctrên $20 thì sẽ có nhiều nhà đầu tư hơn sẵn sàng mua với mức cao hơn (do cảgiá và khối lượng đều tăng) Cũng như thế, những người trước đây đã bán khigiá đạt đến mức $20.00 cũng bắt đầu trông đợi giá sẽ tăng cao hơn và không cònsẵn sàng bán

Sự tăng lên của mức giá hỗ trợ và mức giá kháng cự có thể là sự kiệnđáng chú ý và xảy ra thường xuyên nhất trên biểu đồ giá Sự vượt qua mức giá

hỗ trợ/kháng cự có thể được thúc đẩy bởi những thay đổi cơ bản mà nó ở mứctrên hay dưới sự trông đợi của nhà đầu tư (ví dụ sự thay đổi lợi tức, quản lý, sựcạnh tranh…) hay do sự dự đoán của bản thân (nhà đầu tư mua vì thấy giá tăng).Nguyên nhân này không quan trọng bằng ảnh hưởng của sự trông đợi mới dẫnđến một mức giá mới Hình 8 cho thấy cú vượt lên có nguyên nhân tư nhữngnhân tố cơ bản Cú vượt lên xảy ra khi Snapple đưa ra bản báo cáo lợi tức caohơn mức được trông đợi

Trang 17

Hình 1.8

Những mức giá hỗ trợ/kháng cự khác mang tính cảm xúc nhiều hơn Ví dụ,DJIA có một khoảng thời gian dài mà nó thay đổi sự trông đợi của nhà đầu tưkhi nó tiến gần đến 3000 (xem hình 9)

Hình 1.9

Trang 18

Đường cầu cho thấy số lượng cổ phiếu mà người mua sẵn sàng mua ởmức giá xác định Khi giá tăng, khối lượng người mua muốn mua giảm xuống

do có ít nhà đầu hơn sẵn sàng mua ở mức giá cao hơn

Ở mức giá xác đinh, biểu đồ cung/cầu (xem hình 10) cho thấy có baonhiêu người bán và người mua Ví dụ, biểu đồ dưới đây cho thấy,ở mức giá 42-1/2 có 10 người mua và 25 người bán

Hình 1.10

Trang 19

Hỗ trợ xảy ra ở mức giá mà đường cung cắt trục đứng của biểu đồ (ví dụ

ở biểu đồ trên là 27-1/2) Giá không thể xuống thấp hơn mức này vì không cóngười bán sẵn sàng bán ở mức giá này Kháng cự xảy ra ở mức giá mà đườngcầu cắt trục đứng của biểu đồ (ví dụ ở biểu đồ trên là 47-1/2) Giá không thểtăng lên trên mức này vì không có người mua sẵn sàng mua ở mức giá này

Trong thị trường tự do, những đường này liên tục thay đổi Vì sự trôngđợi của nhà đầu tư thay đổi, vì vậy mức giá người mua và người bán cảm thấy

có thể chấp nhận được Cú vượt lên trên mức giá kháng cự là bằng chứng của sựdịch lên trên của đường cầu vì có nhiều người mua hơn sẵn sàng trả ở mức giácao hơn Tương tự như vậy, sự thất bại của mức giá hỗ trợ cho thấy đường cungdịch chuyển xuống dưới

Nền tảng của hầu hết các công cụ phân tích kỹ thuật bắt nguồn từ lýthuyết cung cầu Biểu đồ giá chứng khoán cho chúng ta một cái nhìn tuyệt vời

về sự hoạt động của những lực lượng này

1.3.3.2 Kháng cự trở thành hỗ trợ

Khi mức giá kháng cự bị vượt qua thành công thì nó trở thành mức giákháng cự Tương tự, khi mức giá hỗ trợ bị vượt qua thành công thì nó trở thànhmức giá kháng cự

Hình 11 là một ví dụ về mức giá kháng cự trở thành mức giá hỗ trợ Khigiá vượt qua mức giá kháng cự với $45.00, mức $45.00 trở thành mức giá hỗtrợ

Đó là bởi vì một “thế hệ” mới các nhà đầu cơ giá tăng mà không mua khimức giá thấp hơn $45 (họ không trông đợi tăng giá cổ phần) bây giờ nóng lòngmua với bất kỳ mức giá nào gần mức $45

Trang 20

Hình 11

Tương tự khi mức giá xuống thấp hơn mức hỗ trợ, thì nó trở thành mứcgiá kháng cự Khi giá tiến gần tới mức giá hỗ trợ trước đây, các nhà đầu tư cốgắng giới hạn sự thua lỗ của họ bằng cách bán (Xem hình 12)

Hình 12

Trang 21

1.3.4 Xu hướng

Trong phần trước, chúng ta đã thấy mức giá support và resistence bị vượtqua như thế nào bởi sự thay đổi trong sự trông đợi của nhà đầu tư (mà nó đưađến kết quả là sự dịch chuyển đường cung/cầu) Kiểu thay đổi này thường bấtngờ và “dựa trên tin tức”

Trong phần này, chúng ta sẽ xem lại “xu hướng” Một xu hướng mô tảmột sự thay đổi chắc chắn về mặt giá (tức là: một sự thay đổi trong sự trông đợicủa nhà đầu tư) Xu hướng khác với mức giá support/resistance ở chỗ xu hướng

mô tả sự thay đổi trong khi mức giá support/resistance mô tả hàng rào của sựthay đổi Như trong hình 13, mức giá thấp vạch rõ xu hướng tăng Xu hướngtăng có thể được xem là sự tăng lên của mức giá support - những người đầu cơgiá lên đang nắm quyền điều khiển và đẩy giá lên cao hơn

Hình 13

Trang 22

Hình 14 cho thấy xu hướng giảm Mức giá cao vạch rõ xu hướng giảm.

Xu hướng giảm có thể được xem như sự giảm của mức giá resistance - nhữngngười đầu cơ giá giảm nắm quyền điều khiển và đẩy giá xuống thấp hơn

Chú ý trong hình 15 khối lượng đã tăng như thế nào khi đường xu hướng

bị vượt qua Đây là sự chứng thực quan trọng rằng xu hướng trước đây đã bịthay đổi

Trang 23

Hình 15

Với mức giá support và resistance, việc xuất hiện sự hối hận của những ngườibuôn khi có sự vượt qua đường xu hướng là phổ biến Điều này được thể hiệntrong hình 16

Hình 16

Trang 24

1.3.5 Trung bình trượt

Trung bình trượt là một trong những công cụ phân tích kỹ thuật lâu đời vàphổ biến nhất Chương này mô tả cách tính toán và ý nghĩa của số trung bìnhđộng Chi tiết về số trung bình động được cung cấp trong phần II

Trung bình trượt là mức giá trung bình của chứng khoán trong thời gianxác định Khi tính toán số trung bình động, bạn chỉ rõ khoảng thời gian để tínhtoán số trung bình động (ví dụ: 25 ngày)

Trung bình trượt đơn giản được tính bằng cách cộng giá chứng khoán của

“n” thời kỳ và chia cho “n” Ví dụ, cộng giá chứng khoán lúc đóng cửa trong 25ngày gần nhất và sau đó chia cho 25 Kết quả là giá trung bình của chứng khoáncủa 25 ngày Việc tính toán được thực hiện cho mỗi giai đoạn trong biểu đồ.Chú ý trung bình trượt không thể tính được cho đến khi có đủ dữ liệu của “n”thời kỳ Ví dụ, không thể có giá trung bình của 25 ngày cho đến khi ngày thứ 25

có trên biểu đồ Hình 17 cho thấy giá lúc đóng cửa trung bình của Caterpillar

Hình 17

Trang 25

Vì trung bình trượt trong biểu đồ trên là mức giá trung bình của chứngkhoán trong 25 ngày cuối, nó mô tả sự trông đợi của các nhà đầu tư trong 25ngày cuối Nếu giá chứng khoán ở trên trung bình trượt của nó, điều đó có nghĩa

là sự trông đợi hiện tại của các nhà đầu tư (tức là mức giá hiện tại) đang cao hơnmức trông đợi trung bình của họ trong 25 ngày cuối, và các nhà đầu tư đó đanglàm tăng giá chứng khoán Ngược lại, nếu mức giá ngày hôm nay ở dưới mứctrung bình trượt của nó, nó cho thấy sự trông đợi hiện tại của các nhà đầu tư thấphơn mức trông đợi trung bình trong 25 ngày cuối Ý nghĩa cổ điển của trungbình trượt là quan sát sự thay đổi của giá Các nhà đầu tư thường mua khi giáchứng khoán của nó cao hơn số trung bình động của nó và bán khi giá rơi xuốngdưới trung bình trượt của nó

1.3.5.1 Các thời kỳ trong trung bình trượt

Những mũi tên “Buy” được vẽ trên biểu đồ ở hình18 khi giá của Aflactăng trên trung bình trượt của 200 ngày, những mũi tên “Sell” được vẽ khi giácủa Aflac giảm xuống dưới trung bình trượt 200 ngày

Hình 18

Trang 26

Xu hướng dài hạn thường sử dụng trung bình trượt 200 ngày Bạn có thể

sử dụng phần mềm máy tính để tự động quyết định khoảng thời gian tối ưu Bỏqua các khoản tiền hoa hồng, sử dụng, trung bình trượt của các khoảng thời gianngắn hơn thường có lợi nhuận cao hơn

1.3.5.2 Điểm nổi bật trong trung bình trượt

Điểm nổi bật của kiểu hệ thống trung bình trượt này (tức là việc mua và bán khi giá vượt qua trung bình trượt của nó) là bạn luôn ở phía “đúng” của thị trường - giá không thể tăng quá nhiều mà không có sự tăng giá vượt mức giá trung bình của nó Nhược điểm là bạn sẽ luôn mua hoặc bán trễ Nếu xu hướng không duy trì ở thời kỳ quan trọng, đặc biệt gấp 2 lần độ lớn của trung bình trượt, bạn sẽ mất tiền Điều này được mô tả trong hình 19.

Hình 19

Trang 27

1.3.6 Chỉ số

Chỉ số là kết quả tính toán toán học mà có thể được áp dụng lên giá chứngkhoán và/hoặc khối lượng Kết quả là giá trị được sử dụng để dự đoán sự thayđổi giá trong tương lai

số trung bình động 12 ngày của giá chứng khoán lớn hơn số trung bình động 26ngày của giá chứng khoán

Điều này cho thấy rằng sự trông đợi hiện tại (tức là số trung bình động 12ngày) tác động làm tăng giá cổ phẩn nhiều hơn sự trông đợi trước đây (tức là sốtrung bình động 26 ngày) Nó ngụ ý sự dịch chuyển lên trên của đườngcung/cầu Khi MACD nhỏ hơn 0 nó có nghĩa là số trung bình động 12 ngày nhỏhơn số trung bình động 26 ngày, và hàm ý sự dịch chuyển xuống dưới củađường cung/cầu

1.3.6.2 Chỉ số dẫn đầu và chỉ số theo sau

Số trung bình động và MACD là những ví dụ của xu hướng đi theo sau:chỉ số “theo sau” (xem hình 20) Những chỉ số này rất tuyệt vời khi giá thay đổitương dối với xu hướng dài hạn Chúng không cảnh báo cho bạn những thay đổisắp tới, chúng đơn giản chỉ nói cho bạn biết giá đang làm gì (tức là lên hoặc

Trang 28

xuống) vì thế bạn có thể đầu tư một cách phù hợp Xu hướng mà đi theo sau chỉ

số làm cho bạn mua và bán muộn và đổi lại chúng làm giảm những rủi ro củabạn và giữ bạn ở bên đúng của thị trường

Hình 20

Như ta thấy trong hình 21, xu hướng đi theo sau chỉ số không hoạt độngtốt trong một bên thị trường

Trang 29

Hình 21

Loại chỉ số khác là chỉ số “dẫn đầu” Những chỉ số này giúp nhà đầu tưthu lợi bằng cách dự đoán giá sẽ làm gì tiếp theo Chỉ số dẫn đầu cung cấp phầnthưởng lớn cho chi phí của nguy cơ gia tăng Chúng hoạt động tốt ở một bên thịtrường “giao dịch”

Chỉ số “dẫn đầu” thường hoạt động bằng cách đo mức độ “mua quánhiều” hoặc “bán quá nhiều” của chứng khoán Điều này được thực hiện cùngvới sự thừa nhận rằng chứng khoán mà được bán quá nhiều thì nảy bật trở lại(xem hình 1.22)

Trang 30

Hình 1.22

Loại chỉ số “dẫn đầu” hoặc “theo sau”, phụ thuộc vào sở thích cá nhân.Theo kinh nghiệm của các chuyên gia, hầu hết các nhà đầu tư thành công với xuhướng theo sau hơn là dự đoán chúng Do đó nhà đầu tư thích sử dụng chỉ sốtheo sau hơn Tuy nhiên cũng đã có rất nhiều nhà đầu tư thành công thích sửdụng chỉ số dẫn đầu

1.3.6.3 Chỉ số thị trường

Tất cả các công cụ phân tích kỹ thuật được bàn đến ở trên cho đến thờiđiểm này được tính bằng cách sử dụng giá chứng khoán (ví dụ: high, low, open,

Trang 31

close, volumn…) Có một nhóm các công cụ phân tích kỹ thuật khác được thiết

kế để giúp bạn đo sự thay đổi của tất cả chứng khoán trong một thị trường cụthể Những chỉ số này thường được gọi là “chỉ số thị trường”, bởi vì chúng đotoàn toàn bộ thị trường, chứ không phải một chứng khoán riêng lẻ nào Chỉ sốthị trường thường phân tích thị trường cổ phiếu, mặc dù chúng có thể được sửdụng cho các thị trường khác (ví dụ: future)

Trong khi các trường dữ liệu cho một chứng khoán riêng lẻ được giới hạntrong mức giá open, high, low, close, volumn của nó, và rải rác trong các bảnbáo cáo tài chính, thì có một số lượng lớn các mục dữ liệu cho toàn bộ thịtrường cổ phiếu Ví dụ: số lượng các cổ phần đạt được mức giá high mới trongngày, số lượng cổ phần tăng giá… Chỉ số thị trường không thể được tính chỉ chomột chứng khoán riêng lẻ vì dữ liệu yêu cầu không thể dùng được

Chỉ số thị trường làm tăng thêm ý nghĩa sâu sắc cho phân tích kỹ thuật vìchúng chứa nhiều thông tin hơn giá và khối lượng Sử dụng chỉ số thị trường đểxác định đỉnh điểm của toàn bộ thị trường ở đâu và sau đó sử dụng chỉ sốgiá/khối lượng để xác định khi nào mua/bán một cổ phiếu riêng lẻ Cũng tương

tự như “tất cả các con thuyền lên khi thủy triều dâng lên”, cho nên sẽ ít rủi rohơn đối với việc sở hữu cổ phần khi thị trường cổ phiếu lên

Ba loại chỉ số thị trường: tiền tệ, cảm tính, và đà.

Chỉ số tiền tệ tập trung vào dữ liệu kinh tế như lãi suất Chúng có thể giúp

bạn xác định môi trường kinh tế mà các công ty đang hoạt động Các tác độngbên ngoài này trực tiếp ảnh hưởng lợi nhuận và giá cổ phiếu của các công ty Ví

dụ về chỉ sổ tiền tệ là lãi suất, cung tiền, nợ tiêu dùng và nợ chung và lạm phát

Do số lượng lớn các chỉ số thị trường, tôi chỉ bàn luận một vài chỉ số thị trường

cơ bản trong cuốn sách này

Trang 32

Chỉ số cảm tính tập trung vào sự trông đợi của nhà đầu tư – thường trước

khi mức giá thể hiện rõ những trông đợi này Với một chứng khoán riêng lẻ, giáthường chỉ là số đo mức độ cảm tính của nhà đầu tư Tuy nhiên, đối với thịtrường lớn như sàn giao dịch New York, có nhiều hơn chỉ số cảm tính có thểdùng được Những chỉ số này bao gồm số lượng các lô bán lẻ (tức là các nhà đầu

tư nhỏ nhất đang làm gì?), tỉ lệ put/call (tức là có bao nhiêu người đang mua put

so với call), tỉ lệ các nhà cố vấn đầu tư giá lên so với các nhà cố vấn đầu tư giáxuống… Các nhà đầu tư “trái ngược” sử dụng chỉ số cảm tính để xác định phầnđông các nhà đầu tư trông đợi giá sẽ như thế nào, sau đó họ làm ngược lại Dựatrên lý trí, nếu mọi người đồng ý rằng giá sẽ lên thì số lượng các nhà đầu tư cònlại không đủ để đẩy giá lên cao hơn Lý thuyết này là minh chứng tốt- hầu hếtmọi người là những người đầu cơ giá lên khi thị trường đạt đến đỉnh (khi họ nênbán) và là người đầu cơ giá xuống khi thị trường ở mức đáy (khi họ nên mua)

Loại thứ ba của chỉ số thị trường- Đà cho thấy giá đang thực sự như thế

nào gì, nhưng bằng cách xem xét sâu hơn giá Ví dụ chỉ số đà bao gồm tất cả chỉ

số giá/khối lượng mà được áp dụng cho các loại chỉ số thị trường (tức là chỉ sốMACD của chỉ số công nghiệp DOW), số lượng cổ phẩn đạt được mức giá highmới so với số lượng cổ phiếu đạt được mức giá low mới, mối quan hệ giữa các

cổ phần tăng giá với các cổ phần giảm giá, so sáng giữa khối lượng của các cổphiếu tăng giá với khối lượng của các cổ phiếu giảm giá…

1.3.7 Đường nghiên cứu

Đường nghiên cứu là công cụ phân tích kỹ thuật bao gồm các đườngthẳng được vẽ trên biểu đồ giá chứng khoán và/hoặc chỉ số Những đường này

có thể bao gồm đường support, resistance và đường xu hướng Hình 39 mô tảmột vài đường nghiên cứu

Ngày đăng: 16/07/2013, 17:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: biến động Vn-Index giai đoạn 12/2005 - 01/2008 (Line - chart) - Phân tích và dự báo triển vọng của thị trường cổ phiếu Việt Nam
Hình 1.1 biến động Vn-Index giai đoạn 12/2005 - 01/2008 (Line - chart) (Trang 9)
Hình 1.3: Biến động Vn-Index giai đoạn 12/2005 - 01/2008 (candlestick -  chart) - Phân tích và dự báo triển vọng của thị trường cổ phiếu Việt Nam
Hình 1.3 Biến động Vn-Index giai đoạn 12/2005 - 01/2008 (candlestick - chart) (Trang 11)
Hỡnh 14 cho thấy xu hướng giảm. Mức giỏ cao vạch rừ xu hướng giảm. - Phân tích và dự báo triển vọng của thị trường cổ phiếu Việt Nam
nh 14 cho thấy xu hướng giảm. Mức giỏ cao vạch rừ xu hướng giảm (Trang 22)
Hình thành sóng 1, 3 và 5 có một cấu trúc sóng đẩy. Sóng 1 là sóng dài nhất và  sóng 5 ngắn nhất - Phân tích và dự báo triển vọng của thị trường cổ phiếu Việt Nam
Hình th ành sóng 1, 3 và 5 có một cấu trúc sóng đẩy. Sóng 1 là sóng dài nhất và sóng 5 ngắn nhất (Trang 45)
Hình 3. 24: Các bước sóng Vn-Index - Phân tích và dự báo triển vọng của thị trường cổ phiếu Việt Nam
Hình 3. 24: Các bước sóng Vn-Index (Trang 53)
Hình 25: Mẫu hình H&S – 2009 - Phân tích và dự báo triển vọng của thị trường cổ phiếu Việt Nam
Hình 25 Mẫu hình H&S – 2009 (Trang 54)
Hình 26: Dấu hiệu đường RSI - Phân tích và dự báo triển vọng của thị trường cổ phiếu Việt Nam
Hình 26 Dấu hiệu đường RSI (Trang 56)
Hình 25 mô tả lại các đỉnh sóng (1), (3) và (5) có thể thấy đường RSI đi  vào vùng mua vượt quá và đây là tín hiệu xác nhận cho dấu hiệu tạo các đỉnh  sóng. - Phân tích và dự báo triển vọng của thị trường cổ phiếu Việt Nam
Hình 25 mô tả lại các đỉnh sóng (1), (3) và (5) có thể thấy đường RSI đi vào vùng mua vượt quá và đây là tín hiệu xác nhận cho dấu hiệu tạo các đỉnh sóng (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w