Để có cơ sở cho việc tiến hành đào tạo nghề, nâng cao trình độ cho lao động nông thôn Đề án 1956 nêu rõ quan điểm “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng và Nhà nước,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ MAI LOAN
VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN ĐÃ QUA ĐÀO TẠO NGHỀ THEO ĐỀ ÁN 1956
Ở HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Huế, 2017
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ MAI LOAN
VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN ĐÃ QUA ĐÀO TẠO NGHỀ THEO ĐỀ ÁN 1956
Ở HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
Định hướng đào tạo: Ứng dụng
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHÙNG THỊ HỒNG HÀ
Huế, 2017
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì côngtrình nào khác
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc./
Tác giả
Nguyễn Thị Mai Loan
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi
còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của PGS.TS Phùng Thị Hồng Hà là
người đã trực tiếp hướng dẫn chúng tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và viết luậnvăn
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo Phòng đào tạo Sau Đại học
-Trường Đại học Kinh tế Huế đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập và thực
hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn Uỷ ban nhân dân huyện Triệu Phong, Phòng Tài
nguyên và Môi trường, Phòng Lao động Thương binh và xã hội, Phòng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn, Trung tâm Giáo dục thường xuyên-Giáo dục nghềnghiệp huyện, Uỷ ban nhân dân các xã, thị trấn trên địa bàn huyện, các cá nhân đãtạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian thu thập thông tin, tài liệu, nghiên cứu làmluận văn
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn./
Tác giả
Nguyễn Thị Mai Loan
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 5TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
Họ và tên học viên: NGUYỄN THỊ MAI LOAN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế Định hướng đào tạo: Ứng dụng
Mã số:60 34 04 10 Niên khóa: 2015-2017
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHÙNG THỊ HỒNG HÀ
Tên đề tài: VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN ĐÃ QUA ĐÀO TẠO NGHỀ THEO ĐỀ ÁN 1956 Ở HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ.
động nông thôn đã qua đào tạo nghề theo Đề án 1956 trên địa bàn huyện Triệu
Phong, tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2013-2015
Đối tượng nghiên cứu: Việc làm và thu nhập của LĐNT đã qua đào tạo
nghề (Những lao động đã qua đào tạo nghề theo Đề án 1956 giai đoạn 2013 -2015)
Phương pháp nghiên cứu đã sử dụng: Phương pháp thống kê mô tả,
phương pháp so sánh, phương pháp hạch toán kinh tế, phương pháp kiểm định thốngkê
Kết quả nghiên cứu chính và kết luận
Người lao động nông thôn đã biết cách thay đổi định hướng nghề nghiệp
theo hướng chuyển đổi loại hình việc làm và quy mô công việc để tìm kiếm, tạo
việc làm nâng cao thu nhập và mang lại hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, hiệu quả của
công tác đào tạo chưa có tác động lớn đến việc sử dụng thời gian lao động củaLĐNT, thời gian nhàn rỗi trong lao động còn cao, tỷ suất sử dụng thời gian lao động
bình quân của người dân hiện nay còn rất hạn chế Vì vậy cần có những giải pháp
đồng bộ từ việc thay đổi thái độ của người học, nâng cao chất lượng công tác đào
tạo, hỗ trợ vốn vay nhằm khắc phục những khó khăn mà người lao động còn mắcphải
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
LĐTB&XH Lao động thương binh và xã hội
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Phương pháp thu thập thông tin 3
4.2 Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin 5
PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN ĐÃ QUA ĐÀO TẠO 6
1.1 Lý luận về lao động việc làm và thu nhập 6
1.1.1 Lao động, lao động nông thôn 6
1.1.2 Lý luận về việc làm 7
1.1.3 Lý luận về thu nhập 11
1.1.4 Đặc điểm việc làm và thu nhập của lao động nông thôn 12
1.2 Các chỉ tiêu đánh giá 14
1.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh việc làm 14
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh thu nhập 15
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của lao động nông thôn 17
1.3.1 Nhân tố thuộc về công tác đào tạo nghề 17
1.3.2 Nhân tố thuộc về năng lực của người lao động 19
1.3.3 Nhân tố bên ngoài 21
1.4 Khái quát nội dung đào tạo nghề theo Đề án 1956 23
1.5 Kinh nghiệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở Việt Nam 25
1.5.1 Kinh nghiệm ở một số tỉnh trong cả nước 25
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 81.5.2 Kinh nghiệm ở một số huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Trị 27
1.5.3 Bài học kinh nghiệm 29
Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN ĐÃ QUA ĐÀO TẠO Ở HUYỆN TRIỆU PHONG 31
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Triệu Phong 31
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 31
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 35
2.1.3 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 39
2.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội huyện Triệu Phong 41
2.2 Khái quát về công tác đào tạo nghề cho LĐNT theo đề án 1956 ở huyện Triệu Phong giai đoạn 2013-2015 43
2.2.1 Về cách thức tổ chức đào tạo nghề cho lao động nông thôn 43
2.2.2 Kết quả thực hiện 45
2.3 Thực trạng việc làm và thu nhập của lao động đã qua đào tạo nghề qua số liệu điều tra ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị năm 2016 51
2.3.1 Khái quát về mẫu điều tra trên địa bàn huyện Triệu Phong 51
2.3.2 Thực trạng thay đổi việc làm của lao động đã qua đào tạo nghề 53
2.3.3 Sự thay đổi về thời gian làm việc 59
2.3.4 Sự thay đổi về thu nhập 61
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của LĐNT đã qua đào tạo nghề trên địa bàn huyện Triệu Phong 65
2.4.1 Những yếu tố thuộc về công tác đào tạo nghề cho LĐNT 65
2.4.2 Các yếu tố thuộc về cá nhân người lao động 73
2.4.3 Những yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài 77
2.5 Đánh giá chung về việc làm và thu nhập của lao động nông thôn huyện Triệu Phong 85
2.5.1 Những kết quả đạt được 85
2.5.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 86
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM VÀ NÂNG CAO THU NHẬP CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN ĐÃ QUA ĐÀO TẠO NGHỀ 88
3.1 Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội huyện Triệu Phong đến năm 2020 88
3.1.1 Quan điểm, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện đến năm 2020 88
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 93.1.2 Định hướng công tác đào tạo nghề của huyện đến năm 2020 90
3.2 Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho LĐNT theo Đề án 1956 92
3.2.1 Thay đổi thái độ của người LĐNT đối với việc học nghề 92
3.2.2 Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho người lao động 93
3.2.3 Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ 94
3.2.3 Phân luồng lao động đào tạo theo nhu cầu và theo độ tuổi 95
3.2.4 Nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề 95
3.2.5 Nâng cao chất lượng quản lý giám sát 96
3.2.6 Hỗ trợ vốn 96
3.2.7 Hình thành và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm 97
PHẦN 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
Kết luận 98
Kiến nghị 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 01 104
PHỤ LỤC 02 108
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2 1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Triệu Phong năm 2014 .34
Bảng 2 2 Quy mô, cơ cấu GTSX theo ngành huyện Triệu Phong 35
Bảng 2 3 Dân số và lao động huyện Triệu Phong giai đoạn 2013-2015 36
Bảng 2 4 Chất lượng lao động của huyện Triệu Phong giai đoạn 2013-2015 38
Bảng 2 5 Tình hình tổ chức các lớp đào tạo nghề trên địa bàn huyện Triệu Phong giai đoạn 2013-2015 46
Bảng 2 6 Số lao động được đào tạo nghề giai đoạn 2013-2015 phân theo nghề đào tạo 48
Bảng 2 7 Số lượng lao động đã được đào tạo nghề phân theo thời gian đào tạo và đơn vị tổ chức giai đoạn 2013-2015 49
Bảng 2 8 Kết quả sau học nghề của LĐNT giai đoạn 2013-2015 50
Bảng 2 9 Tổng hợp mẫu phiếu điều tra theo đơn vị và ngành nghề đào tạo 52
Bảng 2 10 Sự thay đổi việc làm trước và sau điều tra 53
Bảng 2 11 Sự thay đổi việc làm trước và sau đào tạo 54
Bảng 2 12 Sự thay đổi quy mô và loại việc làm sau đào tạo 55
Bảng 2 13 Sự thay đổi thời gian làm việc của LĐ đã qua đào tạo 60
Bảng 2 14 Biến đổi thu nhập của LĐ đã qua đào tạo nghề 63
Bảng 2 15 Đánh giá của người học về chất lượng công tác đào tạo nghề 66
Bảng 2 16 Thời gian đào tạo phân theo nhóm ngành 68
Bảng 2 17 Ảnh hưởng của độ tuổi đến thu nhập và thời gian làm việc bình quân của lao động trước và sau đào tạo nghề 74
Bảng 2 18 Đánh giá của người học về mức độ ảnh hưởng của môi trường bên ngoài đến khả năng tìm kiếm việc làm sau đào tạo 78
Bảng 2 19 Tình hình thu hút lao động vào các cơ sở kinh tế trên địa bàn huyện năm 2015 81
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụthuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Một người lao động có việc làm
là khi họ chiếm được một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội, thôngqua việc làm để thực hiện quá trình lao động tạo ra sản phẩm và thu nhập cho bảnthân Ở Việt Nam, Bộ Luật Lao động quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo
ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm.”
Đối với mỗi cá nhân thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống bản
thân Vì vậy, việc làm và thu nhập luôn là vấn đề được quan tâm trong tiến trình hộinhập, phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của mỗi quốc gia Tùy vào điều kiện tự
nhiên, đặc điểm nền kinh tế khác nhau mà mỗi quốc gia có một đường lối, chínhsách khác nhau để tạo ra tỷ lệ có việc làm hay thất nghiệp khác nhau
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập CNH-HĐH đất nước,những chính sách thu hút đầu tư ngày càng được đẩy mạnh và chuyển dịch theo
hướng hoàn thiện Theo đó là hàng loạt các vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành nghề từ
nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ Cơ cấu lao động cũng theo đó dần thay đổi
theo hướng tích cực phù hợp với nền kinh tế thị trường, hội nhập với kinh tế thế giới
Tuy nhiên, do xuất phát từ một nước nông nghiệp, với hơn 2/3 dân số sống
ở khu vực nông thôn, chiếm gần 70% lực lượng lao động của cả nước, chất lượnglao động thấp không đáp ứng được nhu cầu thực tế trong quá trình phát triển nên
vấn đề việc làm và thu nhập của người lao động luôn được đặt lên hàng đầu trongquá trình phát triển KT-XH Việc chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đã dẫn đến người
lao động nông thôn (LĐNT) phải thay đổi việc làm để duy trì cuộc sống do không
còn đất để canh tác Từ đó đặt ra vấn đề phải đào tạo nghề cho LĐNT Vì chỉ có
như vậy mới có thể đảm bảo được chất lượng lao động, cải thiện đời sống của người
dân khu vực nông thôn
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã có những hành động cụ thể tíchcực nhằm giải quyết vấn đề đào tạo nghề cho LĐNT Đặc biệt là “Đề án đào tạo nghềTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12cho LĐNT đến năm 2020” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số
1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 Để có cơ sở cho việc tiến hành đào tạo nghề, nâng
cao trình độ cho lao động nông thôn Đề án 1956 nêu rõ quan điểm “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng và Nhà nước, của các cấp, các ngành và
xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.”
Triệu Phong là một huyện nằm ở phía Nam tỉnh Quảng Trị, với dân số gần
94.926 người (tính đến 31/12/2013), chủ yếu sống ở khu vực nông thôn (95,56% dân
số toàn huyện) Vì vậy, đào tạo nghề cho LĐNT là vấn đề cần được chú trọng tổchức, triển khai, thực hiện Trong những năm qua căn cứ nội dung Đề án 1956, huyện
đã xây dựng chương trình tổ chức các lớp đào tạo nghề với nội dung phong phú và đa
dạng phù hợp với đặc điểm tình hình của các phân vùng kinh tế Bên cạnh việc bố trí
tổ chức nhiều mô hình điểm về dạy nghề, huyện cũng đã chủ động bố trí thêm kinh
phí để công tác tổ chức đào tạo nghề cho LĐNT đạt hiệu quả hơn, tạo việc làm, tăng
thu nhập cho người lao động góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống, pháttriển KT-XH ở địa phương và xây dựng nông thôn mới
Tuy nhiên, để có cái nhìn khách quan về sự thay đổi của việc làm, thu nhậpcho lao động nông thôn sau khi được đào tạo nghề theo Đề án 1956, và có cơ sở để
đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm tạo nhiều việc làm và nâng cao thu nhập
cho người LĐNT tác giả chọn đề tài “Việc làm và thu nhập của lao động nông thôn đã qua đào tạo nghề theo đề án 1956 ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị” làm nội dung nghiên cứu luận văn.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 13- Đánh giá thực trạng việc làm và thu nhập của LĐNT đã qua đào tạo nghề
theo Đề án 1956 trên địa bàn huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị giai đoạn
2013-2015
- Đề xuất giải pháp nhằm tạo ra nhiều việc làm và thu nhập LĐNT ở huyệnTriệu Phong, tỉnh Quảng Trị trong thời gian tới
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Việc làm và thu nhập của LĐNT đã qua đào tạonghề
- Đối tượng khảo sát: Những lao động đã qua đào tạo nghề theo Đề án 1956
giai đoạn 2013 -2015
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
Phạm vi thời gian: Các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội từ năm
2013 đến năm 2015 Giai đoạn trước (năm 2013) và sau đào tạo nghề (năm 2015)
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập thông tin
- Số liệu thứ cấp: Bao gồm các thông tin, số liệu liên quan đến công tác
đào tạo nghề, thu nhập và việc làm của lao động nông thôn được thu thập từ UBND
huyện Triệu Phong, Phòng LĐ – TB&XH huyện, Phòng Nông nghiệp và phát triểnnông thôn huyện, Trung tâm Dạy nghề tổng hợp (DNTH) huyện Triệu Phong trong
giai đoạn từ năm 2013-2015
- Số liệu sơ cấp:
Điều tra phỏng vấn các đối tượng LĐNT đã qua đào tạo nghề trên địa bàn
huyện Triệu Phong, cuộc điều tra được thực hiện từ tháng 10 đến tháng 12 năm2016
Trong quá trình nghiên cứu, việc thu thập số liệu lao động nông thôn trên
địa bàn huyện tương đối khó khăn vì vậy luận văn chọn mẫu điều tra theo công thức
sau:
2 1- α/2P (1 - P)
d2Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 14Trong đó: Z: là giá trị lấy từ phân phối chuẩn
α: mức ý nghĩa = 0,05 => Z1- α/2= 1,96
P = 0,5 Tỷ lệ người lao động có việc làm và thu nhập nhờ ápdụng kiến thức đã được học vào trong hoạt động sản xuất, chăn nuôi thực tế
d = 9% (sai số cho phép – Độ chính xác mong muốn giữa tỷ lệ
thu được từ mẫu và tổng thể nghiên cứu)
Theo công thức trên, cỡ mẫu điều tra cần thu thập là:
N = 1,96
2
x 0,5 (1 – 0,5)
= 1190,092
Để thuận lợi cho quá trình nghiên cứu trong phạm vi nghiên cứu luận văn
tác giả xác định số lao động nông thôn cần điều tra trên địa bàn huyện là 120 người
Do đặc điểm địa lý và thời gian tác giả tổng hợp 120 mẫu điều tra từ 10 xã/đơn vị trên địa bàn huyện với cơ cấu như sau:
Bảng 1: Cơ cấu mẫu điều tra
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra)
Thông tin điều tra được tổng hợp dựa trên bảng hỏi được thiết kế sẵn tại
Phụ lục 01, bao gồm những thông tin chung về cá nhân người LĐNT và thông tin
về các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của họ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 154.2 Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin
Phương pháp thống kê, mô tả: Trên cơ sở số liệu thu thập được tác giả tiến
hành lựa chọn, sắp xếp lại các thông tin, xây dựng hệ thống các biểu đồ, bảng biểuthể hiện cách nhìn khách quan, tổng thể về công tác đào tạo nghề, việc làm và thunhập đối với người lao động nông thôn
Phương pháp so sánh: Sử dụng nguồn thông tin thu thập được sau quá
trình đào tạo nghề so sánh với nguồn thông tin trước khi được đào tạo nghề đối với
lao động nông thôn nhằm đánh giá mức độ hiệu qủa của công tác đào tạo
Phương pháp hạch toán kinh tế: Dùng để hạch toán số ngày công lao động cho
hoạt động sản xuất, tính thu nhập của một lao động/ năm trước và sau đào tạo nghề
Phương pháp kiểm định thống kê: Sử dụng phương pháp ANOVA nhằm
kiểm định xem có hay không sự khác nhau về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến
công tác đào tạo nghề, việc làm và thu nhập của các đối tượng lao động khác nhau
Với giả thiết: H0: µ1= µ2=µ3→ Giả thuyết kiểm định
H1: µ1≠ µ2≠µ3→ Giả thuyết thay thế
Với độ tin cậy <5%, bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giải thuyết H1 Điều
đó có nghĩa là có ít nhất một sự khác biệt trong cách đánh giá của các nhóm laođộng về mức độ ảnh hưởng của nhân tố đối với chất lượng công tác đào tạo nghề,
việc làm và thu nhập và của các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài đến ngànhnghề, nội dung được đào tạo
5 Cấu trúc luận văn
Bao gồm phần mở đầu, nội dung nghiên cứu, kết luận và kiến nghị, danhmục tài liệu tham khảo và phụ lục Phần nội dung nghiên cứu có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn việc làm và thu nhập của LĐNT đãqua đào tạo
Chương 2: Thực trạng việc làm và thu nhập của LĐNT đã qua đào tạo ở
huyện Triệu Phong
Chương 3: Một số giải pháp tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho LĐNT đãqua đào tạo nghề
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 16PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP
CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN ĐÃ QUA ĐÀO TẠO 1.1 Lý luận về lao động việc làm và thu nhập
1.1.1 Lao động, lao động nông thôn
Nguồn lao động: Trước hết, chúng ta biết lao động là sự tiêu dùng sức lao
động trong hiện thực, là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo
ra các sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội Theo đó, có nhiềucách hiểu khác nhau về nguồn lao động Trong phạm vi luận văn, tác giả sử dụngkhái niệm sau:
Nguồn lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng
lao động (theo quy định của Nhà nước: Nam có tuổi 15-60; Nữ có tuổi từ 15-55)đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những người đang thất nghiệp có nhu
cầu tìm việc làm Như vậy xét ở giác độ địa lý "nguồn lao động nông thôn là một bộphận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi quy định của pháp luật
và có khả năng lao động" Lực lượng LĐNT bao gồm những người trong độ tuổi lao
động có khả năng lao động đang có việc làm và những người đang thất nghiệp có
nhu cầu tìm kiếm việc làm [6]
Lao động nông thôn: Trên cơ sở những phân tích nêu trên, khái niệm
LĐNT được hiểu như sau:
LĐNT gồm những người từ đủ 15 tuổi trở lên thuộc khu vực nông thônđang làm việc trong các ngành: nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dịch
vụ và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng vì một lý dokhác nhau hiện tại chưa tham gia hoạt động kinh tế Những người trong độ tuổi lao
động có khả năng lao động nhưng hiện tại chưa tham gia lao động do các nguyênnhân như đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ gia đình, không có nhu
cầu làm việc, và những người thuộc tình trạng khác
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17Như vậy, nguồn LĐNT là một bộ phận của lực lượng lao động quốc gia,
thuộc khu vực nông thôn và là nguồn lực quan trọng trong hoạt động phát triển kinh
tế - xã hội nông thôn
Các đặc điểm của nguồn lao động nông thôn: Trên cơ sở phân tích khái
niệm lao động nông thôn, nhận thấy nguồn lao động nông thôn hiện nay rất dồi dào,
tuy nhiên đặc điểm công việc của LĐNT còn nhiều điểm hạn chế đặt ra những thách
thức cho LĐNT trong quá trình tìm kiếm việc làm và thu nhập như sau:
Một là, LĐNT có tính thời vụ, có thời kỳ căng thẳng, có thời kỳ nhàn rỗi
Điều này ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng lao động trong từng thời kỳ, đời sống sản
xuất và thu nhập của lao động nông nghiệp
Hai là, do tính chất công việc trong sản xuất nông nghiệp mà hình thành nêntâm lý hay thói quen làm việc một cách không liên tục, thiếu sáng tạo của LĐNT
Ba là, LĐNT nước ta vẫn còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu nông, sản
xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động
Bốn là, LĐNT có kết cấu phức tạp không đồng nhất và có trình độ rất khácnhau Hoạt động sản xuất nông nghiệp được tham gia bởi nhiều người ở nhiều độtuổi khác nhau trong đó có cả những người ngoài độ tuổi lao động
Năm là, thu nhập của người LĐNT còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, đặc biệt là
tại vùng ven biển, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số
Sáu là, trình độ lao động của LĐNT thấp, khả năng tổ chức sản xuất kém,ngay thực tế những người trong độ tuổi lao động thì trình độ vẫn thấp hơn so với lao
động trong các ngành kinh tế khác [7]
1.1.2 Lý luận về việc làm
Điều 13, Chương II (Việc làm) Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa Xã
hội chủ nghĩa Việt Nam: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập màkhông bị pháp luật cấm”[11] Khái niệm này cũng được vận dụng trong các cuộc
điều tra mẫu về thực trạng lao động và việc làm hàng năm của Việt Nam và được cụ
thể hóa thành ba dạng hoạt động như sau:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18- Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc bằnghiện vật cho công việc đó.
- Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân, bao gồm: sản xuất nôngnghiệp trên đất do chính thành viên được quyền sử dụng; hoặc hoạt động kinh tế phinông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần
- Làm công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dướihình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó Bao gồm sản xuất nông nghiệp trên
đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ có quyền sử dụng; hoặc hoạt động kinh tế
phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý
Theo khái niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai
điều kiện:
Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và
cho các thành viên trong gia đình Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu
thức tạo ra thu nhập của việc làm
Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật cấm Điều này chỉ rõ tính pháp lýcủa việc làm Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi và ngành nghề và hoàntoàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam trong quá trìnhphát triển nền kinh tế nhiều thành phần Người lao động hợp pháp ngày nay được
đặt vào vị trí cụ thể, có quyền tự do tìm kiếm việc làm, hoặc tạo ra việc làm chongười khác trong khuôn khổ pháp luật, không còn bị phân biệt đối xử cho dù làm
việc trong hay ngoài khu vực Nhà nước.[13]
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động lao
động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật Việc làm là phạm trù để chỉ trạng
thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất,công nghệ ) để sử dụng sức lao động đó.[12]
Trong công tác thống kê, điều tra khảo sát về lao động việc làm ở ViệtNam, các tiêu thức xác định việc làm có cụ thể hơn, việc làm của các thành viên hộ
gia đình được định nghĩa là một trong ba loại được pháp luật của Việt Nam công
nhận, bao gồm:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 19Loại 1 - Làm công: làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằngtiền mặt hoặc hiện vật cho công việc đó Người làm loại công việc này mang sức
lao động (chân tay hoặc trí óc) của mình để đổi lấy tiền công, tiền lương, không tự
quyết định được những vấn đề liên quan đến công việc mình làm như mức lương, sốgiờ làm việc, thời gian nghỉ phép
Loại 2 - Tự làm: làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân, bao gồmsản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản trên đất do chính thành viên đó sở hữu,quản lý hay có quyền sử dụng, hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp, lâmnghiệp, thủy sản do chính thành viên đó làm chủ/quản lý toàn bộ hoặc một phần;
thành viên đó chi toàn bộ chi phí và thu toàn bộ lợi nhuận trong loại công việc này
Loại 3 - Tự làm: Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không
được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó Các công
việc gồm sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản trên đất do chủ hộ hoặc mộtthành viên trong hộ sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụng; hoặc hoạt động kinh tếngoài nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộlàm chủ hoặc quản lý [8]
Vai trò và ý nghĩa của việc làm: Để đánh giá vai trò, ý nghĩa của việc làm
có thể đứng trên nhiều gốc độ khác nhau ví dụ như: ý nghĩa của việc làm trên bìnhdiện kinh tế - xã hội, bình diện chính trị - pháp lý hay ý nghĩa của việc làm dưới gốc
độ quốc gia, quốc tế, Sau đây sẽ tìm hiểu vai trò ý nghĩa của việc làm trong 3 mối
quan hệ sau:
Đối với quan hệ lao động: Việc làm có vai trò đặc biệt quan trọng Sự
quan trọng của việc làm thể hiện trước hết ở chỗ việc làm chính là điều kiện tiênquyết để thiết lập quan hệ lao động, là cầu nối để người lao động và người sử dụng
lao động thiết lập quan hệ lao động với nhau Người lao động muốn có việc làm,người sử dụng lao động là người tạo ra việc làm cho người lao động Vì vậy, việclàm là điều kiện không thể thiếu để hình thành, thiết lập nên quan hệ lao động
Không chỉ là điều kiện để hình thành nên quan hệ lao động, việc làm còn làmột nội dung của quan hệ lao động, là điều khoản quan trọng nhất của hợp đồng laoTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20động Nếu không có điều khoản này, hợp đồng lao động sẽ không thể thực hiện được
trên thực tế Bên cạnh đó, việc làm còn là cơ sở để duy trì quan hệ lao động Khi việclàm không còn tồn tại, quan hệ lao động cũng theo đó mà triệt tiêu Khi giao kết hợp
đồng lao động, thời hạn của công việc quyết định thời hạn của hợp đồng
Đối với người lao động: Đối với người lao động, việc làm có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng Việc làm tạo điều kiện và cơ hội để người lao động có thu nhập đảmbảo cuộc sống của bản thân và gia đình Mỗi cá nhân khi mới sinh ra hoặc khi già yếukhông còn khả năng làm việc thì nhìn chung đều trông dựa vào các thành viên trong
gia đình hoặc cộng đồng hiện đang còn làm việc Khi đã trưởng thành, mỗi cá nhânđều có trách nhiệm làm việc để nuôi sống bản thân và các thành viên trong gia đình
Nếu người lao động không có việc làm (thất nghiệp) sẽ ảnh hưởng không nhỏ đếncuộc sống của bản thân và gia đình Không những thế, nó còn dễ dẫn đến việc người
lao động có những xử sự tiêu cực, tham gia vào các tệ nạn xã hội Vì vậy, giải quyết
tốt vấn đề việc làm cho người lao động sẽ không chỉ đảm bảo được thu nhập và cuộcsống cho người lao động mà còn giúp họ tránh được các tệ nạn xã hội
Đối với nhà nước và xã hội: Việc làm không chỉ có ý nghĩa đối với người
lao động mà còn có ý nghĩa đối với cả nhà nước và xã hội bởi thất nghiệp và việclàm không đầy đủ, thu nhập thấp bao giờ cũng là hiện tượng xã hội có tính chất tiền
đề của đói nghèo, chậm phát triển, tiêu cực và các tệ nạn xã hội Vì vậy ở hầu hết
các quốc gia, việc làm và giải quyết việc làm luôn được coi là chính sách xã hộiquan trọng, luôn được quan tâm Sự gia tăng của thất nghiệp, thiếu việc làm sẽ làmột trong những nhân tố làm trầm trọng hơn tình trạng nghèo khổ, mất ổn định xãhội đặc biệt là đối với những nước nghèo, đang phát triển và điều đó sẽ là mối đedọa lớn đối với an ninh kinh tế và ổn định xã hội của các nước này Trong điều kiện
đó, chính sách việc làm đã và đang là một trong những chính sách cốt lõi trong hệ
thống chính sách xã hội nói riêng và tổng thể các chính sách phát triển KT-XH nóichung
Đối với Việt Nam, quốc gia được liệt vào hàng các quốc gia đang phát
triển, lại vừa trải qua một thời kỳ dài chịu sự ngự trị của cơ chế kế hoạch hóa tậpTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21trung đang chập chững bước vào ngưỡng cửa kinh tế thị trường, một quốc gia có
dân số đông, tỷ lệ thất nghiệp lớn, khả năng tạo việc làm còn hạn chế thì vấn đề việclàm càng trở nên bức xúc Ở Việt Nam, việc làm còn gắn với công cuộc xóa đóigiảm nghèo Giải quyết việc làm là một biện pháp quan trọng thiết thực xóa đóigiảm nghèo
Trong thời đại ngày nay, vấn đề lao động việc làm còn được xem là mộttrong những biểu hiện chính của xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa Vấn đề hợptác, xuất khẩu lao động cũng đặt ra đồng thời với vấn đề chấp nhận lao động nước
khác đến làm việc ở nước mình Thị trường lao động không chỉ dừng lại ở biên giới
lãnh thổ quốc gia mà đã được mở rộng ra trên phạm vi quốc tế Do vậy, vấn đề việclàm và giải quyết việc làm không chỉ được điều chỉnh bằng pháp luật quốc gia màcòn bằng pháp luật quốc tế, không chỉ trong quan hệ song phương mà còn trongkhuôn khổ các quan hệ đa phương Chính vì vậy, Việt Nam trong xu thế hội nhậpcũng không thể đi ra ngoài dòng chảy đó, nên pháp luật về việc làm của Việt Namcũng cần phải có những điều chỉnh cho phù hợp
1.1.3 Lý luận về thu nhập
Khái niệm: Thu nhập được biểu thị bằng một lượng giá trị hoặc hiện vật mà
người lao động nhận được bằng các hoạt động lao động của mình
Như vậy, với nền kinh tế quốc dân, thu nhập là tổng giá trị sản lượng hàng
hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra trong một đơn vị thời gian Với chủ doanhnghiệp tư nhân, thu nhập là lợi nhuận ròng mà họ có được sau mỗi chu kỳ sản xuấtkinh doanh Với công nhân, thu nhập là lợi nhuận ròng mà họ có được sau mỗi chu
kỳ sản xuất kinh doanh Với người công nhân, thu nhập của họ chính là tiền lương
mà họ nhận được
Còn với người LĐNT thì thu nhập có hai phần cơ bản là thu nhập tạo ra từkết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tiền công do làm thuê, và các khoản hỗ trợ
từ người thân, họ hàng, các khoản trợ cấp
Ý nghĩa: Thu nhập quyết định đến khả năng đầu tư, mở rộng quy mô sản
xuất kinh doanh của người LĐNT Sau khi trừ đi các khoản chi phí đã bỏ ra, phầnTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22dư này chính là nguồn để các hộ dân xem xét, đưa ra quyết định nên trồng thêm cây
gì, nuôi con gì, kinh doanh ngành nghề dịch vụ nào có lợi nhất hay cắt giảm diệntích các loại cây trồng, các loại vật nuôi không hiệu quả nhằm tạo ra thu nhập cao
cho gia đình khi kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh hay thời gian làm việc
Thu nhập là nhân tố quyết định đến mức sống của người dân nông thôn, vớikết quả sản xuất, kinh doanh của mình biểu hiện thông qua mức thu nhập mà họnhận được cho phép đáp ứng được các nhu cầu về vật chất lẫn tinh thần ở các mức
độ cao thấp khác nhau Tất nhiên, thu nhập cao sẽ đáp ứng được đầy đủ và tốt hơn
các nhu cầu ngày càng cao của con người bên cạnh các nhu yếu phẩm cần thiếthàng ngày so với những hộ có mức thu nhập ít hơn
Nói chung tất cả các vấn đề như nghèo đói, giáo dục, y tế, văn hóa, pháttriển kinh tế, phát triển ngành nghề đều liên quan đến thu nhập của người lao động,
đặc biệt là LĐNT với mức thu nhập còn thấp như hiện nay Nguồn vốn để họ có thể
cải thiện đời sống vật chất, tinh thần thông qua phát triển sản xuất đang là vấn đềcần được quan tâm nhằm thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng hiện đại
1.1.4 Đặc điểm việc làm và thu nhập của lao động nông thôn
Đặc điểm việc làm của lao động nông thôn: LĐNT với lối sống thuần
nông gắn với những sản phẩm độc canh và kỹ thuật canh tác lạc hậu, chủ yếu họcnghề thông qua hướng dẫn của thế hệ trước hoặc tự truyền cho nhau nên lao độngtheo truyền thống và thói quen là chính Vì vậy, đại bộ phận LĐNT chỉ thạo duynhất nghề nông, không có hoặc có rất ít sự hiểu biết về các lĩnh vực kinh doanh phinông nghiệp Điều này đã làm hạn chế tính chủ động, dám nghĩ dám làm của ngườinông dân trong việc tìm nghề mới, nhất là các nghề phi nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp luôn chịu sự tác động và chi phối mạnh mẽ của quyluật sinh học và các điều kiện tự nhiên cụ thể của từng vùng đất như: đất đai, khí hậu,thời tiết Quá trình sản xuất mang tính thời vụ trong nông nghiệp rất cao thu hút lao
động không đều, trong trồng trọt lao động tập trung chủ yếu vào thời điểm gieo trồng
và thu hoạch Điều này dẫn đến việc làm của LĐNT cũng mang tính thời vụ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23Ở nông thôn về cơ bản không có thất nghiệp hoàn toàn nhưng lao động
thiếu việc làm chiếm tỷ trọng cao Thực tế lao động nông nghiệp chia việc ra làm,nhất là trong các hộ gia đình do quỹ đất canh tác hạn hẹp nay lại càng bị giảm dần
do sự phát triển mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa Với tốc độ tăngdân số như hiện nay, đất nông nghiệp ngày càng trở nên khan hiếm, mặt khác do cơcấu ngành nghề còn nhiều bất hợp lý, nhiều vùng sản xuất phân tán nhỏ lẻ, cơ cấukinh tế chậm biến đổi đã dẫn đến tình trạng sử dụng lao động không đúng mục đích,thiếu việc làm cho người nông dân
Khả năng thu hút lao động trong các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi với cáccây trồng, vật nuôi khác nhau là khác nhau đồng thời thu nhập cũng rất khác nhau
Vì vậy, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sử dụng nhiều lao động làbiện pháp tạo việc làm ngay trong sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó các hoạt độngsản xuất tiền công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn là khu vực tạo ra việc làm thêm
đáng kể cho LĐNT, việc phát triển các hoạt động này cũng phù hợp với xu thế
CNH-HĐH nông thôn hiện nay
Việc làm trong nông thôn là những công việc thủ công giản đơn, ít đòi hỏitay nghề cao, tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai và công cụ cầm tay, dễ học hỏi, dễchia sẽ vì vậy những sản phẩm làm ra chất lượng thấp và mẫu mã thường đơn điệu,
năng suất lao động thấp nên thu nhập bình quân của LĐNT không cao [9]
Đặc điểm thu nhập của lao động nông thôn: Trong thời kỳ hiện nay, thu
nhập của LĐNT nước ta có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, thu nhập của LĐNT là rất thấp và có khoảng cách khá xa so vớithành thị Sự chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị là do cơ hội việc làm
ở thành thị là lớn hơn, năng suất lao động và hiệu quả công việc cao hơn Và đây
cũng là lý do chính hình thành nên luồng di dân từ nông thôn ra thành thị với mức
độ ngày càng tăng
Thứ hai, thu nhập của LĐNT không ổn định và phụ thuộc lớn vào điều kiện
tự nhiên Nông nghiệp nước ta cơ bản vẫn là nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, trình độcanh tác cũng như CSVC kỹ thuật còn lạc hậu, quá trình áp dụng khoa học kỹ thuậtTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24vào sản xuất còn chưa đạt hiệu quả cao Trong những năm qua, chịu tác động lớnbởi sự biến đổi khí hậu toàn cầu nên các hiện tượng thiên tai, lũ lụt, hạn hán diễn raphức tạp và ngày càng nghiêm trọng hơn, tình hình sâu bệnh cũng nhiều và thườngxuyên diễn ra đe dọa mùa màng của bà con nông dân.
1.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh việc làm
1.2.1.1 Tổng số công lao động trong năm
Tổng số công lao động trong năm là tổng số thời gian lao động (thường tínhtheo ngày, với 8 giờ lao động/ngày) trong suốt một năm, bao gồm tất cả thời gian
người lao động mà hộ gia đình sử dụng để tiến hành các hoạt động sản xuất trong
lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp, ngành nghề dịch vụ hay làm thuê ngoài
Tổng số công lao động trong năm được tính theo công thức sau:
Tổng số công lao
Công lao động cho
hoạt động nông lâm
ngư nghiệp
+
Công lao động
cho ngành nghềdịch vụ
Tỷ suất sử dụng sức lao động là tỷ số giữa số ngày lao động bình quân thực
tế của một lao động đã sử dụng vào sản xuất so với số người lao động có thể làmviệc được trong năm (tính bình quân cho một LĐNT)
Tỷ suất sử dụng lao động được tính theo công thức sau:
Tq = Ntt/Thđx 100%
Trong đó:
Tq: Tỷ suất sử dụng quỹ thời gian làm việc của LĐNT trong năm (%)
Ntt: Số ngày lao động thực tế bình quân của một lao động trong năm (ngày)
Thđ: Số ngày làm việc có thể huy động trong năm của một LĐNT (ngày).Trong phạm vi luận văn tác giả lấy bình quân 22 ngày/tháng
Quỹ thời gian làm việc của LĐNT trong năm là số ngày trung bình một lao
động có thể sử dụng trong năm vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các
ngành nghề dịch vụ khác
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 25Tỷ suất sử dụng thời gian lao động trong năm nói lên mức độ sử dụng thời
gian lao động theo ngày và từ đó chúng ta có thể thấy được tỷ lệ quỹ thời gian chưa
sử dụng hết cần phải huy động trong năm.[10]
1.2.1.3 Loại việc làm
Đối với LĐNT, việc làm được chia làm 3 loại chủ yếu sau:
Thuần nông: Là loại hình việc làm người lao động chỉ tiến hành sản xuấtnông nghiệp (ví dụ: trồng lúa, trồng hoa màu, nuôi lợn, nuôi gà ) mà không làmthêm nghề khác
Nông kiêm: Là loại việc làm trong đó người lao động vừa tiến hành sảnxuất nông nghiệp, bên cạnh đó còn tiến hành các hoạt động khác như buôn bán,nuôi trồng thủy sản, làm thuê,
Ngành nghề dịch vụ: Đây là loại việc làm mà người lao động tiến hành cáchoạt động phi nông nghiệp, không gắn với cây trồng, vật nuôi mà quan tâm đến cácsản phẩm, mặt hàng thủ công, tiểu thủ công nghiệp hay buôn bán, mở quầy tạp hóa
như biếu, tặng, lãi tiết kiệm
Thu nhập bình quân của một lao động trong năm:
+
Thu nhập từ sảnxuất ngành nghềkinh doanh dịch
vụ
+
Các khoảnthu nhậpkhác tínhthêm vàothu nhậpTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26Trong đó:
Thu từ tiền lương bao gồm:
+ Tiền lương, tiền công (không kể BHXH);
+ Phụ cấp làm thêm giờ, ăn trưa, ăn giữa ca, phụ cấp;
-Chi phí sản xuấtnông lâm nghiệp vàthủy sản
Chi phí sản xuất nông
lâm nghiệp và thủy sản =
Chi phívật chất +
Chi phídịch vụ +
Chikhác +
Các khoản đãnộp
-Chi phí từ sản xuấtkinh doanh ngànhnghề dịch vụ
Các khoản thu khác được tính vào thu nhập gồm:
+ Giá trị hiện vật và tiền của người ngoài gửi về cho biếu, mừng giúp;
+ Lương hưu, trợ cấp mất sức, trợ cấp thôi việc một lần;
+ Trợ cấp xã hội (Thương binh, liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng);+ Bảo hiểm (BH thân thể, tài sản, khác)
+ Lãi tiết kiệm, lãi cổ phần;
+ Cho thuê nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện sản xuất và vận tải,nhà ở, phương tiện sinh hoạt.[10]
Từ kết quả thu được thực tế của hộ điều tra nên phần các khoản thu khác
được tính vào thu nhập không được đưa vào trong kết quả nghiên cứu Nghĩa là thu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27nhập của hộ chỉ bao gồm: (1) thu nhập từ hoạt động nông lâm nghiệp và thủy sản;(2) thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh ngành nghề, dịch vụ và (3) thu từ tiền
lương, tiền công
Do LĐNT đã qua đào tạo nghề là một bộ phận của lao động trong gia đình
nên tách thu nhập của những lao động này ra khỏi thu nhập của hộ gia đình là mộtviệc làm rất phức tạp Hơn nữa phần lớn những lao động được đào tạo nghề lại là
lao động chính trong gia đình nên thu nhập họ tạo ra cũng chiếm tỷ lệ lớn trong cơ
cấu thu nhập của hộ Để có thể làm được việc này trên cơ sở đã trình bày ở phần
phương pháp nghiên cứu tác giả đã tiến hành tách thu nhập của lao động được đào
tạo nghề trong thu nhập của hộ theo phương pháp sau:
+ Đối với các hộ có lao động được đào tạo các ngành nghề tạo việc làm và
mang lại thu nhập trực tiếp cho bản thân lao động tham gia đào tạo thì đây chính làthu nhập của LĐNT đã qua đào tạo nghề
+ Đối với các hộ có lao động được đào tạo các ngành nghề giúp tạo việc làm
cho các thành viên khác trong hộ thì thu nhập của lao động qua đào tạo nghề này sẽtính bình quân theo công sức đóng góp của các thành viên trong gia đình để tạo rakhoản thu nhập đó trên cơ sở căn cứ vào thu nhập của từng cây, con, ngành nghề và
số công bình quân mà mỗi người đã làm để phân bổ thu nhập cho từng người
thôn
Tạo việc làm cho lao động nói chung và LĐNT đã qua đào tạo nghề nóiriêng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau Sau đây sẽ đề cập đến một số nhân
tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của LĐNT
1.3.1 Nhân tố thuộc về công tác đào tạo nghề
Nội dung đào tạo nghề
Nội dung của đào tạo nghề rất quan trọng, nó quyết định đến chất lượng lao
động sau đào tạo, đến khả năng tìm kiếm việc làm hay tự tạo việc làm của ngườiLĐNT Công tác đào tạo nghề cho LĐNT cần phải bám sát với tình hình phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước và từng địa phương, đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinhTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 28doanh để có hiệu quả thiết thực Điều này phụ thuộc nhiều vào trình độ của đội ngũ
cán bộ, giáo viên đào tạo và cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho đào tạo
Trên cơ sở đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực hoạt động của LĐNT mà chiaLĐNT thành 4 nhóm để tiến hành hoạt động dạy nghề cho phù hợp: Nhóm lao động
nông nghiệp (ở các vùng núi, vùng chuyên canh đào tạo các lĩnh vực: trồng trọt bảo vệ thực vật; lâm nghiệp, ngư nghiệp; chăn nuôi - thú y; chế biến nông lâm thủysản; làm vườn - cây cảnh; quản lý dịch vụ nông nghiệp; quản lý khai thác công trìnhthủy lợi, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn); nhóm lao động trong các làngnghề ở vùng đồng bằng; nhóm nông dân chuyển nghề sang công nghiệp, dịch vụ (ở
-vùng núi và -vùng đồng bằng, trung du đào tạo các nghề như: thủ công mỹ nghệ,
máy tính, công nghệ thông tin, sản xuất các sản phẩm công nghiệp, sửa chữa và bảotrì xe, máy và thiết bị cơ khí, truyền tải điện, vận hành máy thi công, chế biến, may
và thiết kế thời trang, gia công các sản phẩm từ gỗ, kinh doanh và quản lý, kế toán,xây dựng dân dụng và công nghiệp ) và nhóm ngành đánh bắt xa bờ ở các tỉnhduyên hải miền trung (học sửa chữa máy tàu thủy, chế biến và bảo quản thủy sản )
Phương pháp đào tạo nghề
Do tính đa dạng vùng miền và tính đặc thù của người nông dân và LĐNT
(trình độ học vấn không đồng đều, lao động theo mùa vụ, thói quen canh tác ), nênviệc tổ chức các khóa đào tạo phải rất linh hoạt về chương trình đào tạo, hình thức
đào tạo, phương thức đào tạo, phương pháp truyền đạt Chương trình đào tạo phải
gắn với học liệu sinh động, đa dạng và thiết thực, phù hợp với trình độ của người học
Đối với dạy nghề trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho LĐNT: Dạy
nghề chính quy tại trường, kết hợp dạy lý thuyết nghề tại trường và liên kết thựchành nghề tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ Đối với dạynghề trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên dưới 3 tháng được thực hiện
đa dạng, linh hoạt Dạy chính quy tại cơ sở nghề, dạy lưu động tại các xã, thị trấn,
thôn, bản; dạy theo kiểu bắt tay chỉ việc, truyền nghề tại các làng nghề truyền thống,các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, dịch vụ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29Đổi mới và phát triển chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề choLĐNT theo yêu cầu của thị trường lao động, thường xuyên chỉnh lý, biên soạn bổ
sung, cập nhật kỹ thuật, công nghệ mới cho phù hợp với nhu cầu sử dụng lao độngcủa doanh nghiệp và thị trường lao động Huy động các nhà khoa học, nghệ nhân,cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao tại các doanh nghiệp và cơ
sở sản xuất kinh doanh, các trung tâm khuyến nông - lâm - ngư, trung tâm khuyếncông và xúc tiến thuong mại, nông dân sản xuất giỏi tham gia xây dựng chươngtrình, giáo trình học liệu dạy nghề cho LĐNT
Thực hiện tốt các vấn đề trên sẽ đảm bảo chất lượng đầu ra của lao động
sau đào tạo, đáp ứng được yêu cầu của thị trường cũng như làm tốt hơn, đem lại
nhiều cơ hội việc làm hơn với thu nhập cao
Thời gian đào tạo nghề
Đối với các ngành nghề khác nhau đòi hỏi về yêu cầu kỹ thuật khác nhau
cần khoảng thời gian khác nhau để người học có thể nắm bắt và vận dụng được
Căn cứ vào đặc điểm của từng ngành nghề đào tạo mà bố trí thời gian dạy lý thuyết,
thời gian thực hành sao cho phù hợp Những ngành nghề yêu cầu đơn giản, ngườihọc chỉ cần chú ý lắng nghe, xem tài liệu là có thể áp dụng vào thực tế chỉ cần thờigian ngắn khoảng 1-3 tháng là đảm bảo yêu cầu Nhưng đối với những nội dung đàotạo phức tạp, đòi hỏi người học phải vừa quan sát, vừa thực hành, kết hợp lý thuyếtvới trực tiếp thao tác trên vật liệu, dụng cụ máy móc hỗ trợ học tập thì thời gian cầnthiết sẽ phải dài hơn trên 3 tháng
Có nghĩa thời gian đào tạo cần tỷ lệ thuận với mức độ khó khăn, phức tạpcủa ngành nghề đào tạo Đảm bảo được yêu cầu này thì mới đem lại hiệu quả cho
người học sau khi kết thúc thời gian đào tạo
1.3.2 Nhân tố thuộc về năng lực của người lao động
Trình độ văn hóa: Là sự hiểu biết cơ bản của người lao động về tự nhiên và
xã hội Trình độ văn hóa tạo ra khả năng tư duy và sáng tạo cao Người có trình độ
văn hóa sẽ có khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đồng thời trong quá trình làm việc họ không nhữngTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30vận dụng chính xác mà còn linh hoạt và sáng tạo các công cụ sản xuất để tạo ra hiệuquả làm việc cao nhất.
Trình độ chuyên môn: Là sự hiểu biết khả năng thực hành về chuyên môn
nào đó, có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc thuộc một chuyên môn nhấtđịnh Sự hiểu biết về chuyên môn càng sâu, các kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp càng
thành thạo bao nhiêu thì thời gian hao phí của lao động càng được rút ngắn từ đógóp phần nâng cao năng suất lao động Trong thời đại ngày nay, khoa học ngàycàng phát triển với tốc độ nhanh, các công cụ đưa vào sản xuất ngày càng hiện đại,
đòi hỏi người lao động có trình độ chuyên môn tương ứng Nếu thiếu trình độchuyên môn người lao động sẽ không thể điều khiển được máy móc, không thể nắm
bắt được các công nghệ hiện đại Khả năng tìm kiếm việc làm sẽ khó khăn hơn sovới lao động có trình độ chuyên môn cao
Tình trạng sức khỏe: Trạng thái sức khỏe có ảnh hưởng lớn tới khả năng
tham gia lao động cũng như tìm kiếm việc làm của người lao động Nếu người laođộng có tình trạng sức khỏe không tốt sẽ khó khăn trong việc tiếp cận các cơ hội
làm việc, dẫn đến mất tập trung trong quá trình lao động, làm cho độ chính xác củacác thao tác trong công việc cũng giảm dần, các sản phẩm sản xuất ra với chất
lượng không cao, số lượng sản phẩm cũng giảm, thậm chí dẫn đến tai nạn lao động,
thu nhập thấp
Thái độ lao động: Thái độ lao động là tất cả những hành vi biểu hiện củangười lao động trong quá trình tham gia hoạt động sản xuất và kinh doanh Nó cóảnh hưởng quyết định đến khả năng, năng suất và chất lượng hoàn thành công việc
của người tham gia lao động Một người dù có trình độ, có kỹ năng lao động tốt
nhưng thái độ làm việc không nghiêm túc, thiếu trách nhiệm trong công việc, thiếu
ý thức kỹ luật và tinh thần tự giác trong công việc thì cũng sẽ không được tuyểndụng, nếu có thì thời gian làm việc cũng không kéo dài hay thu nhập không ổn định
Do đó, bên cạnh những nhân tố khách quan như cơ chế chính sách của nhànước, sự phát triển của thị trường hàng hóa, dịch vụ hay điều kiện kinh tế - xã hội,
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31thì vấn đề việc làm và thu nhập của LĐNT đã qua đào tạo còn phụ thuộc vào nhữngyếu tố nội tại của bản thân người lao động, đó là trình độ, kỹ năng, thái độ làm việc.
1.3.3 Nhân tố bên ngoài
Các nhân tố tự nhiên: Thu nhập của LĐNT một phần rất lớn là thu từ nông
nghiệp, do đó các yếu tố về điều kiện tự nhiên ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nôngnghiệp, từ đó ảnh hưởng lớn đến việc làm và thu nhập của LĐNT Các yếu tố về
điều kiện tự nhiên bao gồm:
Vị trí địa lý: Những vùng gần các trung tâm đô thị, các trung tâm kinh tế và
văn hóa sẽ thuận lợi hơn trong việc tiếp cận với các thông tin khoa học kỹ thuật,
tiêu thụ sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cũng như mua sắm các tư liệu sản xuất phục
vụ cho sản xuất kinh doanh Ngược lại, những vùng nông thôn nằm cách xa cáctrung tâm kinh tế và văn hóa sẽ rất khó khăn trong việc phát triển sản xuất hàng hóa,sản xuất thuần nông là chính, trình độ sản xuất hạn chế dẫn tới quy mô sản xuấtnhỏ, tạo ra ít việc làm và đưa lại thu nhập thấp
Điều kiện về đất đai, địa hình: Những vùng trung du và miền núi (đặc biệt
là miền núi) có địa hình hiểm trở bị chia cắt do đó rất khó khăn trong việc phát triểngiao thông và thủy lợi cũng như hạn chế trong việc áp dụng máy móc kỹ thuật Vìvậy, năng suất lao động thấp, hạn chế trong khả năng giao lưu kinh tế và tiếp cậnvới thị trường, với các thông tin về văn hóa, khoa học kỹ thuật do vậy cũng hạn chếquá trình sản xuất kinh doanh và ảnh hưởng đến các cơ hội việc làm từ đó ảnh
hưởng đến thu nhập
Điều kiện khí hậu, thủy văn: Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những
cơ thể sống mà cơ thể và môi trường là một thể thống nhất Do vậy các điều kiện về
khí hậu và thủy văn có vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển nông nghiệp Cácvùng có khí hậu thuận lợi, điều kiện tưới tiêu thuận lợi sẽ có năng suất và chất
lượng sản phẩm nông nghiệp cao mang lại thu nhập cao cho nông dân Ngược lại
những vùng có nhiều yếu tố bất lợi về thời tiết khí hậu, khan hiếm nguồn nước sẽ
khó khăn trong phát triển sản xuất và từ đó ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống củadân cư
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32Các nhân tố kinh tế - xã hội: Nhóm các nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng
đến việc làm và thu nhập của LĐNT bao gồm:
Mức độ hoàn thiện của hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội: Đây là yếu
tố có ý nghĩa hết sức quan trọng Trước hết là hệ thống giao thông, thủy lợi, hệthống thông tin và năng lượng Hệ thống giao thông thuận lợi sẽ giảm chi phí vậntải, thuận lợi cho giao lưu kinh tế và văn hóa với các ngành nghề phi nông nghiệp
Hệ thống điện, thông tin giúp cho người dân có khả năng trang bị máy móc kỹ thuậtvào sản xuất, nâng cao năng suất lao động, thuận lợi trong việc tiếp thu những thànhtựu mới về khoa học kỹ thuật, trình độ dân trí được nâng cao Hệ thống trường học,bệnh viện có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và đàotạo nhân lực Vì vậy, hệ thống cơ sở hạ tầng KT-XH tác động một cách tổng hợp tớiquá trình phát triển KT-XH và mức sống của dân cư thông qua việc làm và thu nhập
đem lại
Nguồn vốn và công nghệ: Cầu việc làm cho người lao động nói chung và
LĐNT đã qua đào tạo nói riêng bắt nguồn từ cầu sản xuất, phát triển sản xuất (cầu
dẫn xuất) Khi sản xuất càng phát triển thì nhu cầu lao động càng lớn Muốn mởrộng sản xuất, phát triển kinh tế phải dựa vào những tiền đề vật chất Do đó tiền đềvật chất là nhân tố tiên quyết ảnh hưởng đến tạo việc làm
Nhân tố về thị trường hàng hóa, dịch vụ: Sự phát triển của thị trường hànghóa, dịch vụ là một trong những nhân tố ảnh hưởng và có tính chất quyết định đếnnhu cầu lao động và số lượng việc làm được tạo ra Thị trường càng đa dạng, cácngành nghề sản xuất càng phát triển thì nhu cầu lao động càng lớn Đối với LĐNT,hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp chuyên sản xuất các hàng hóa nôngsản cung cấp ra thị trường, sự mở rộng quy mô sản xuất, cũng như thị trường tiêuthụ rộng lớn vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thức không nhỏ khi yêu cầu về chất
lượng sản phẩm ngày càng cao trong điều kiện giảm giá thành sản xuất Đối với laođộng hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp, sự mở rộng về phạm vi hoạt động,
chủng loại các sản phẩm dịch vụ trên thị trường sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn
đối với những ngành nghề đã được đào tạo
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 33Truyền thống văn hóa, phong tục tập quán của từng địa phương, từng dân tộc: Mỗi địa phương, mỗi dân tộc có những phong tục tập quán riêng, có truyền
thống văn hóa riêng Có những phong tục truyền thống tốt đẹp có ảnh hưởng tíchcực đến sự phát triển KT-XH (truyền thống giúp đỡ nhau trong đời sống hàng ngày,
trong làm ăn kinh tế, trong khuyến học ) và ngược lại cũng có những phong tục tập
quán lạc hậu, trở thành vật cản cho sự tiến bộ xã hội (ví dụ những hủ tục như ma
chay cưới hỏi linh đình, mê tín dị đoan, ) Vì vậy, các giải pháp giải quyết việc làm
và nâng cao thu nhập cho LĐNT cần xem xét kỹ đến các yếu tố về phong tục tậpquán của mỗi vùng, mỗi địa phương, từ đó mỗi giải pháp mới có tính khả thi vàhiệu quả
Nhân tố thuộc về cơ chế chính sách: Cơ chế, chính sách tạo việc làm của
Nhà nước, của địa phương cũng là nhóm nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến tạo
việc làm cho người LĐNT Trong mỗi thời kỳ khác nhau, mỗi quốc gia, mỗi địa
phương sẽ đề ra những chính sách, cơ chế cụ thể để tạo việc làm Một cơ chế, chính
sách tạo việc làm hợp lý sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất, tạo nhiều cơ hội việc làm
Chính sách và cơ chế của Nhà nước sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến tạo
việc làm Nhóm nhân tố này rất đa dạng gồm các chính sách kinh tế vĩ mô, vi mô,chính sách vốn, chính sách phát triển khoa học, công nghệ, và có thể theo ngành,lĩnh vực, vùng như Chính sách đầu tư phát triển nông nghiệp và nông thôn, chínhsách khuyến nông, chính sách hỗ trợ nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản
1.4 Khái quát nội dung đào tạo nghề theo Đề án 1956
Với quan điểm, đào tạo nghề cho LĐNT là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước,của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng LĐNT, đáp ứng yêucầu CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn; ngày 27/11/2009, Thủ tướng Chính Phủ đã
ra Quyết định số 1956/QĐ-TTg phê duyệt đề án “ Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Với bản đề án này, công tác đào tạo nghề sẽ được đổi mới và
phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và tạo điều kiện thuậnlợi để LĐNT tham gia học nghề phù hợp với trình độ học vấn, điều kiện kinh tế vànhu cầu học nghề của mình
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34Mục tiêu tổng quát của bản đề án: Bình quân hàng năm đào tạo nghề chokhoảng 1 triệu lao động nông thôn, trong đó đào tạo, bồi dưỡng 100.000 lượt cán
bộ, công chức xã; Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạo việclàm, tăng thu nhập của lao động nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động
và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn; Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã có bản lĩnh chính trị vững vàng,
có trình độ, năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý hành chính,
quản lý, điều hành KT-XH và thực thi công vụ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Bản đề án chia làm ba giai đoạn với những mục tiêu cụ thể:
Giai đoạn 2009 - 2010
Tiếp tục dạy nghề cho khoảng 800.000 lao động nông thôn theo mục tiêu
của Dự án “Tăng cường năng lực dạy nghề” thuộc Chương trình mục tiêu quốc giagiáo dục - đào tạo đến năm 2010; Thí điểm các mô hình dạy nghề cho lao động
nông thôn với khoảng 18.000 người, 50 nghề đào tạo và đặt hàng dạy nghề cho
khoảng 12.000 người thuộc diện hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, LĐNT bị thu hồiđất canh tác có khó khăn về kinh tế Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề theo các môhình này tối thiểu đạt 80%; Phấn đấu hoàn thành “Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức xã giai đoạn 2006 - 2010” được phê duyệt theo Quyết định số40/2006/QĐ-TTg ngày 15 tháng 02 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ
Giai đoạn 2011 - 2015
Đào tạo nghề cho 5.200.000 LĐNT, trong đó: Khoảng 4.700.000 LĐNTđược học nghề (1.600.000 người học nghề nông nghiệp; 3.100.000 người học nghềphi nông nghiệp), trong đó đặt hàng dạy nghề khoảng 120.000 người thuộc diện hộnghèo, người dân tộc thiểu số, LĐNT bị thu hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế
Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong giai đoạn này tối thiểu đạt 70%; Đào tạo,bồi dưỡng nhằm nâng cao kiến thức, năng lực quản lý hành chính, quản lý kinh tế -
xã hội theo chức danh, vị trí làm việc đáp ứng yêu cầu của công tác lãnh đạo, quản
lý, điều hành và thực thi công vụ cho khoảng 500.000 lượt cán bộ, công chức xã
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 35Giai đoạn 2016 - 2020
Đào tạo nghề cho 6.000.000 LĐNT, trong đó: Khoảng 5.500.000 LĐNTđược học nghề (1.400.000 người học nghề nông nghiệp; 4.100.000 người học nghềphi nông nghiệp), trong đó đặt hàng dạy nghề khoảng 380.000 người thuộc diện hộnghèo, người dân tộc thiểu số, LĐNT bị thu hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế
Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong giai đoạn này tối thiểu đạt 80%; Đào tạo,
bồi dưỡng kiến thức, năng lực quản lý hành chính, quản lý kinh tế - xã hội chuyênsâu cho khoảng 500.000 lượt cán bộ, công chức xã đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, quản
lý kinh tế - xã hội thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Với những mục tiêu rõ ràng và phân theo từng giai đoạn cụ thể, cùng vớinhững nổ lực không ngừng nghỉ trong quá trình triển khai thực hiện của các cấp, các
ngành, đoàn thể; hy vọng công tác đào tạo nghề thực sự mang lại những kết quả khả
quan, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước, đồngthời mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người lao động, đặc biệt là bộ phận
LĐNT – nguồn lực quan trọng cho sự nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn
[3]
1.5 Kinh nghiệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở Việt Nam
Trong những năm qua công tác đào tạo nghề cho LĐNT theo Đề án 1956 đã
được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm, tổ chức thực hiện Các giải pháp đào
tạo nghề giải quyết việc làm ở các địa phương trên cả nước rất đa dạng và phong
phú, đã có một số mô hình đào tạo nghề hiệu quả đáng được học hỏi và nhân rộng
1.5.1 Kinh nghiệm ở một số tỉnh trong cả nước
Thứ nhất, mô hình dạy nghề gắn với thực hành tại chỗ ở tỉnh Bắc Kạn
Ở tỉnh Bắc Kạn các lớp nghề đào tạo chủ yếu là kỹ thuật trồng nấm, trồng
rau, sản xuất phân vi sinh, các loại cây ăn quả, sửa chữa máy nông nghiệp Tại đâyhọc viên được tham gia học lý thuyết và thực hành tại chỗ
Chẳng hạn, tại thôn Pá Danh, xã Huyền Tụng (thị xã Bắc Kạn) đang triểnkhai lớp sản xuất phân vi sinh với 30 học viên tham dự Học xong lý thuyết, mỗihọc viên đóng góp nguyên, vật liệu thực hành tại chỗ Phương pháp ủ phân vi sinhTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 36rất đơn giản, chủ yếu dùng các đồ phế thải bỏ đi, không những tiết kiệm chi phí muaphân bón hoá học mà còn giúp cải tạo đất, đảm bảo sức khoẻ cho người sử dụng,hạn chế tác động xấu đến môi trường.
Thứ hai, mô hình đào tạo nghề theo địa chỉ ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình
Huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình hiện có hơn 21 nghìn người trong độ tuổi lao
động Trong đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề chiếm hơn 30% Hiện nay, huyện
có 2 Khu Công nghiệp mới thành lập và trên 60 doanh nghiệp đã và đang hoạt độngvới nhiều ngành nghề khác nhau
Xuất phát từ thực tế đó, đào tạo nghề, cung ứng lao động cho các doanhnghiệp ngay trên địa bàn nhằm giải quyết việc làm tại chỗ cho người lao động đang
là mục tiêu mà huyện hướng đến Để thực hiện được mục tiêu đó, từ nhiều năm nayhuyện đã xác định gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm, trong đó, đặc biệt chútrọng đào tạo nghề theo địa chỉ
Ngay từ đầu năm, huyện đã triển khai điều tra, khảo sát tại 85 thôn, xóm đểnắm được số liệu cụ thể về người lao động, đồng thời, tiến hành điều tra, rà soát nhucầu sử dụng lao động tại 42 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn Qua đó, nắm
được chính xác nhu cầu lao động của các doanh nghiệp để có kế hoạch đào tạo cụ
thể Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả dạy nghề, đặc biệt, để đảm bảo việc làm cho lao
động, huyện đã chủ động ký kết với các doanh nghiệp trực tiếp hướng dẫn và truyền
nghề cho lao động bằng hình thức học và thực hành ngay tại xưởng Với việc doanhnghiệp trực tiếp đứng ra giảng dạy theo hình thức thực hành tại chỗ, người lao độngvừa nắm vững được kiến thức, đồng thời vừa đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyểndụng Chính vì vậy, tỷ lệ lao động qua đào tạo có việc làm thường đạt từ 85 - 90%
Ngoài ra, huyện cũng đã phối hợp với ngân hàng CSXH huyện triển khaithực hiện hiệu quả nguồn vốn vay từ quỹ quốc gia về việc làm
Chính nhờ các giải pháp đồng bộ trong công tác đào tạo nghề, đặc biệt là
đào tạo nghề theo địa chỉ, huyện đã tạo được nguồn lao động dồi dào, có tay nghề
cho các doanh nghiệp, đơn vị đầu tư trên địa bàn tỉnh.[7]
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 371.5.2 Kinh nghiệm ở một số huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
Kinh nghiệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với nhu cầu thực tiễn tại huyện Vĩnh Linh
Thời gian qua, công tác đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề cho LĐNT
trên địa bàn huyện Vĩnh Linh nói riêng đã đạt hiệu quả khá cao Số lượng lao độngqua đào tạo nghề đều tăng hàng năm và chất lượng qua đào tạo ngày càng đượcnâng lên Qua đào tạo, người học nghề đã tiếp cận khoa học kỹ thuật trong sản xuất,chăn nuôi, góp phần nâng cao kinh tế cho địa phương, gia đình Lớp dạy nghề chăn
nuôi thú y là một ví dụ thực tế
Tuy đã có kinh nghiệm chăn nuôi bò từ nhiều năm trước đây, nhưng chịNguyễn Thị Huế cùng nhiều bà con khác ở xã Vĩnh Trung vẫn có nhu cầu tiếp cậnthêm kiến thức KHKT nhằm áp dụng chăn nuôi bò thịt, bò sinh sản mang lại hiệuquả kinh tế cao hơn Vì thế, theo nguyện vọng của bà con, Trung tâm dạy nghề tổnghợp huyện đã mở 1 lớp dạy nghề chăn nuôi thú y với 30 học viên, giúp cho chị Huế
và bà con có nhu cầu được học nghề nhằm có kỹ năng áp dụng thực tế để vận dụngvào chăn nuôi hiệu quả
Thực hiện công tác đào tạo nghề cho LĐNT, huyện Vĩnh Linh, thườngxuyên quan tâm chỉ đạo: đào tạo nghề phải gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xãhội địa phương, trung bình mỗi năm số lượng lao động qua đào tạo nghề được nânglên cả về số lượng và chất lượng Đặc biệt là cần gắn với nhu cầu thực tiễn của
người dân và phù hợp với thực tế địa phương
Lớp dạy nghề chăn nuôi thú y này được đưa về tận thôn, vừa dạy lý thuyếtxen lẫn với thực hành, tạo điều kiện giúp cho người lao động tiếp cận nhanh và hiệuquả Nhờ đó, bà con nông dân được miễn hoàn toàn học phí và được truyền đạtnhững kiến thức về kỹ thuật nuôi bò, cũng như những căn bệnh thường gặp ở bò vàcách phòng chống, từ đó các bà con đã có thể kết hợp giữa lý thuyết và thực hành
áp dụng vào thực tế
Việc dạy nghề chăn nuôi thú y cho LĐNT ở xã Vĩnh Trung đã giúp cho
người dân có trình độ tay nghề nhất định, biết cách tổ chức sản xuất trên chính quê
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 38hương, làm giàu chính đáng cho bản thân, gia đình và xã hội Tại đây, nhiều nông
dân đã chọn học nghề chăn nuôi bò, bởi nghề này mang lại hiệu quả kinh tế khá và
ít có rủi ro Thực tế này đã góp phần tích cực vào công tác xóa đói giảm nghèo bềnvững tại các địa phương trên địa bàn huyện Đồng nghĩa với đó là đời sống vật chất,tinh thần của người dân sẽ được nâng lên, bộ mặt nông thôn đổi mới ngày thêmkhởi sắc Đó cũng là mục tiêu mà huyện Vĩnh Linh đang hướng đến khi triển khaicông tác đào tạo nghề cho nông dân [18]
Kinh nghiệm từ huyện Hải Lăng
Qua 5 năm thực hiện Đề án 1956, huyện Hải Lăng đã mở được 163 lớp dạy
nghề cho 4.542 lao động địa phương, trong đó trên 60% người lao động tìm đượcviệc làm phù hợp và có thu nhập ổn định, nhiều lao động áp dụng các kỹ năng, kiếnthức, KHKT vào phát triển chăn nuôi, trồng trọt, hình thành nên nhiều trang trại, giatrại cho thu nhập cao Nắm bắt được nhu cầu của người lao động Hải Lăng đã tổchức triển khai thực hiện, xây dựng danh mục ngành nghề, chính sách đào tạo phùhợp với nhu cầu của người học, điều kiện thực tế của huyện đáp ứng nhu cầu pháttriển kinh tế, cũng như đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động có tay nghề phù hợpvới điều kiện sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp; đẩy mạnh xã hội hóa dạynghề theo hướng khuyến khích các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch
vụ tham gia dạy nghề cho LĐNT
Ngoài việc đào tạo nghề từ các cơ sở tư nhân nhỏ ở các địa phương, UBNDhuyện tích cực chỉ đạo các ban ngành, đoàn thể tổ chức đào tạo nghề cho LĐNT quaviệc tranh thủ các nguồn vốn từ nguồn ngân sách, từ chương trình mục tiêu quốc gia
về dạy nghề và nguồn huy động từ các tổ chức kinh tế cũng như lồng ghép với các
chương trình, đề án như chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới,
đề án khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống gắn với việc phát triển các
ngành nghề đào tạo mới Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị tốt, nângcao chất lượng đội ngũ giáo viên tham gia các lớp dạy nghề cho LĐNT;
Kết quả là nhiều lao động sau khi học nghề đã áp dụng các kiến thức, kỹ
năng, KHKT vào phát triển chăn nuôi trồng trọt đạt hiệu quả cao và từng bước hình
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 39thành các trang trại, gia trại kinh tế cho thu nhập cao, các vùng chuyên canh tậptrung sản xuất hàng hóa nông nghiệp, vùng sản xuất nghuyên liệu cho các làngnghề Từ đó góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo ở địa phương, đưa tỷ lệ hộnghèo giảm từ 19,6% (2010) xuống còn 8,3% (2015).
Có thể khẳng định từ khi việc tổ chức đào tạo nghề trồng và chăm sóc cây
ném đã mang đến nhiều sự đổi thay ở vùng đất Hải Dương, rõ ràng nhất chính là
những người trồng ném, không chỉ thoát nghèo mà còn vươn lên làm giàu 5 nămqua Trung tâm DNTH huyện phối hợp với UBND xã Hải Dương tổ chức tuyểnsinh, mở 10 lớp dạy nghề và chăm sóc cây ném trên cát cho 290 học viên Trong 2tháng học, các học viên được trang bị các kiến thức cơ bản về kỹ thuật trồng, chăm
sóc cây ném trên cát, và được thực hành trực tiếp ngay trên diện tích đất canh tác
của gia đình Hiệu quả kinh tế mang lại từ mô hình này là rất lớn, từ 40 -50 triệu
đồng/ha sau khi trừ các chi phí, thu nhập gấp 3-4 lần so với trồng lúa Với hiệu quả
kinh tế đó, xã Hải Dương đã khuyến khích người dân mở rộng diện tích trồng ném
từ 20 ha (năm 2010) lên đến trên 72 ha (năm 2015) Nhiều người dân đã có cuộcsống ổn định hơn từ cây ném
Bên cạnh công tác đào tạo nghề cho LĐNT, huyện Hải Lăng luôn chú trọng
đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức xã góp phần nâng tỷ lệ laođộng qua đào tạo trong toàn huyện lên 41,8%, trong đó tỷ lệ lao động có tay nghề31%, đã tạo điều kiện thuận lợi cho LĐNT có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, nâng
cao thu nhập và cải thiện cuộc sống, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơcấu kinh tế ở Hải Lăng, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp,nông thôn [19]
1.5.3 Bài học kinh nghiệm
Từ kết quả đào tạo nghề tại một số địa phương ta có thể rút ra một số bàihọc kinh nghiệm cho địa bàn huyện Triệu Phong khi triển khai thực hiện công tác
đào tạo nghề và nâng cao chất lượng người lao động trong thời gian tới
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 40Một là, cần bám sát Đề án mà các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa
phương đã đề ra, đồng thời phải có các chính sách phát triển công tác đào tạo nghề
phù hợp với thực tế và định hướng phát triển KT-XH của địa phương
Hai là, tập trung đào tạo nghề theo nhu cầu của người học và nhu cầu củacác doanh nghiệp, đồng thời xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạonghề với các doanh nghiệp sử dụng thời gian lao động
Ba là, cần có chính sách tạo việc làm cho người lao động sau khi tham giahọc nghề
Bốn là, tăng cường công tác tuyên truyền sâu rộng về công tác đào tạo nghề
đến toàn thể lực lượng lao động trên địa bàn huyện Chú trọng công tác đầu tư trang
thiết bị dạy nghề cũng như nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ, giáo viên tham
gia công tác đào tạo nghề
Trường Đại học Kinh tế Huế