1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ô nhiễm môi trường trong quá trình phát triển công nghiệp tại Việt Nam: nguyên nhân và giải pháp.

21 861 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ô Nhiễm Môi Trường Trong Quá Trình Phát Triển Công Nghiệp Tại Việt Nam: Nguyên Nhân Và Giải Pháp
Người hướng dẫn Nguyễn Quang Hồng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Học
Thể loại Đề Tài
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 3,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công nghiệp là ngành kinh tế đặc biệt quan trọng đối với bất kỳ quốc gia, vùng lãnh thổ nào. Nó là động lực cho sự phát triển của các ngành kinh tế, là cơ sở của các ngành dịch vụ, thương mại, là yếu tố trung tâm của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Công nghiệp góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo cho các quốc gia, nâng cao vị thế, hình ảnh của các quốc gia.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Lớp: Kinh tế quản lý môi trường 14

Giảng viên : Nguyễn Quang Hồng.

HÀ NỘI, 3/2010

Trang 2

Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng

trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm đang là vấn đề rất đáng lo ngại.

I.c¸c nguyªn nh©n g©y « nhiÔm m«I trêng

Tổ chức Bảo vệ môi trường Green Cross của Thụy Sĩ và Viện Blacksmith của Hoa Kỳ đã công bố kết quả nghiên cứu và đưa ra 10 nguyên nhân ô nhiễm môi trường gây tác hại nghiêm trọng nhất trên thế giới:

1 Khai thác vàng thủ công

2 Ô nhiễm mặt nước

Trang 3

3 Ô nhiễm nước ngầm

4 Ô nhiễm không khí do đốt nhiên liệu hoá thạch

Trang 4

5 Khai khoáng công nghiệp

6 Nung và sản xuất hợp kim

Trang 5

7 Chất thải phóng xạ và chất thải từ việc khai thác urani

8 Nước thải không được xử lý

Trang 6

9 Ô nhiễm không khí ở các đô thị

10 Tái sử dụng bình ắc quy

Trang 7

Ta có thể thấy được hầu hết các nguyên nhân trên chủ yếu là do tác động của nền công nghiệp gây ra Có thể nói đây là một vấn đề hết sức

nghiêm trọng mà hậu quả của sự phát triển công nghiệp đến môi trường sống ngày càng lớn

Công nghiệp là ngành kinh tế đặc biệt quan trọng đối với bất kỳ quốc gia, vùng lãnh thổ nào Nó là động lực cho sự phát triển của các ngành kinh tế, là cơ sở của các ngành dịch vụ, thương mại, là yếu tố trung tâm của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Công nghiệp góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo cho các quốc gia, nâng cao vị thế, hình ảnh của các quốc gia

Việt Nam trong những năm gần đây không ngừng đẩy mạnh công nghiệp

hóa hiện đại hóa, những lợi ích mà công nghiệp hóa hiện đại hóa mang lại được thể hiện rất rõ qua tình hình tăng trưởng kinh tế, giáo dục, xã hội trong nước Tuy nhiên công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng làm ảnh hưởng đến môi trường sống của con người Ô nhiễm môi trường chính là tác hại rõ nhất của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trong thời gian qua, Việt Nam có tốc độ phát triển công nghiệp rất nhanh, cả về tốc độ, quy mô và phân bố Hiện nay, cả nước có gần 600 khu, cụm công nghiệp đã, đang và sẽ đi vào hoạt động và 15 khu kinh tế (thực chất là một dạng khu công nghiệp) Các khu công nghiệp (KCN) được phân bố chủ yếu ở các vùng Đông Nam bộ, đồng bằng sông Hồng và ven biển miền Trung Hầu hết các KCN được xây dựng bám đường quốc lộ và nằm sát khu dân cư, nên tình trạng ách tắc giao thông và ô nhiễm môi trường

là điều không thể tránh khỏi Ô nhiễm môi trường qua khói, bụi và nguồn

Trang 8

nước thải chưa qua xử lý được thải trực tiếp ra môi trường ngày càng trầm trọng.

Hầu hết các KCN không có trạm xử lý chất thải tập trung Hiện tại, mức

độ đầu tư xử lý cục bộ các nguồn ô nhiễm của các nhà máy trong KCN còn rất thấp, cộng với tình trạng ô nhiễm do giao thông vận tải gây ra, làm cho môi trường tại một số KCN đã có dấu hiệu ô nhiễm, đặc biệt một vài nơi đã ônhiễm nặng

Tình trạng ô nhiễm tại các khu công nghiệp, sự lan rộng những chất gây ônhiễm xuất phát từ nhiều nguyên nhân, có thể do đặc thù của ngành nghề, nhưng cũng có thể do yếu tố chủ quan là quy hoạch bởi con người

Nguyên nhân chính là do sự nhận thức về bảo vệ môi trường nói chung vàmôi trường trong các KCN nói riêng của chính quyền địa phương chưa thực

sự được coi trọng; chưa coi môi trường KCN là một nhiệm vụ quản lý nhà nước, chưa đánh giá được đúng mức tầm quan trọng của môi trường trong mối quan hệ bền vững giữa hoạt động sản xuất và sinh hoạt trong KCN, cũngnhư giữa KCN với khu vực bên ngoài

Nhiều khu công nghiệp được hình thành, phân bố chủ yếu xuất phát từ

sự duy ý chí, sự nóng vội, vì thành tích, phát triển công nghiệp bằng mọi giá, thiếu tôn trọng quy luật tự nhiên, không dựa trên những tri thức về địa lý tự nhiên, địa lý kinh tế

Thực trạng cho thấy rất nhiều cụm khu công nghiệp nằm ngay sát các dòng sông để tận dụng nguồn nước đầu vào và thuận tiện xả thải Việc làm này không chỉ tác động đến người dân sở tại mà có khả năng phát tán nguồn gây ô nhiễm trên diện rộng, kéo dài rất khó kiểm soát, khắc phục, xử lý hậu

Trang 9

quả Vị trí các khu công nghiệp này cũng tạo điều kiện, tiếp tay cho các doanh nghiệp có cơ hội xả chất thải trực tiếp ra môi trường mà ít cơ nguy cơ

bị phát hiện (điển hình là các khu công nghiệp trên sông Đồng Nai, Thị Vải, Sài Gòn, Sông Nhuệ, Sông Đuống, sông Cầu bị báo chí lên án trong thời gian qua)

Hệ thống pháp luật

về bảo vệ môi trường trong KCN cũng chưa hoàn chỉnh Chưa hình thành hệ thống các quy định thống nhất về công tác quản lýmôi trường trong KCN theo các loại hình ô nhiễm (rắn, lỏng, khí) Quy định

về thẩm định môi trường đối với các dự án trong KCN còn chậm được đổi mới và chưa có chế tài mang tính ràng buộc cao…

Hơn nữa, việc quản lý, giám sát xử lý nước thải của các doanh nghiệp trong KCN lại càng khó khăn hơn khi các văn bản quy định chưa rõ ràng, tạođiều kiện cho doanh nghiệp đối phó với cơ quan chức năng Do những hạn

Trang 10

chế, bất cập của cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường và việc

tổ chức thực hiện của các cơ quan chức năng Theo thống kê của Bộ Tư pháp, hiện nay có khoảng 300 văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế, các quy trình kỹ thuật, quy trình sử dụng nguyên liệu trong sản xuất Tuy nhiên, hệ thống các văn bản này vẫn còn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, tính ổn định không cao, tình trạng văn bản mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung là khá phổ biến, từ đó làm hạn chế hiệu quả điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế trong việc bảo vệ môi trường

Quyền hạn pháp lí của các tổ chức bảo vệ môi trường, nhất là của lực lượng cảnh sát môi trường chưa thực sự đủ mạnh, nên đã hạn chế hiệu quả hoạt động nắm tình hình, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạmpháp luật về bảo vệ môi trường Các cở sở pháp lí, chế tài xử phạt đối với cácloại hành vi gây ô nhiễm môi trường và các loại tội phạm về môi trường vừa thiếu, vừa chưa đủ mạnh, dẫn đến hạn chế tác dụng giáo dục, phòng ngừa, răn đe đối với những hành vi xâm hại môi trường Rất ít trường hợp gây ô nhiễm môi trường bị xử lí hình sự; còn các biện pháp xử lí khác như buộc phải di dời ra khỏi khu vực gây ô nhiễm, đóng cửa và đình chỉnh hoạt động của các cơ sở gây ô nhiễm môi trường cũng không được áp dụng nhiều, hoặc

có áp dụng nhưng các cơ quan chức năng thiếu kiên quyết, doanh nghiệp trây

ỳ nên cũng không có hiệu quả

Các cấp chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức đối với công tác bảo vệ môi trường, dẫn đến buông lỏng quản lí, thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát về môi trường Công tác thanh tra, kiểm

Trang 11

tra về môi trường của các cơ quan chức năng đối với các cơ sở sản xuất dường như vẫn mang tính hình thức, hiện tượng “phạt để tồn tại” còn phổ biến Công tác thẩm định và đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư còn tồn tại nhiều bất cập và chưa được coi trọng đúng mức, thậm chí chỉ được tiến hành một cách hình thức, qua loa đại khái cho đủ thủ tục, dẫn đến chất lượng thẩm định và phê duyệt không cao.

Công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường trong xã hội còn hạn chế, dẫn đến chưa phát huy được ý thức tự giác, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng trong việc tham gia gìn giữ và bảo vệ môi trường

Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên trách công

tác bảo vệ môi trường còn hạn chế; phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác kiểm tra chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn Do đó, trong nhiều trường hợp, đoàn kiểm tra không thể phát hiện được những thủ đoạn tinh vi của doanh nghiệp thải các chất gây ô nhiễm ra môi trường

II Thùc tr¹ng « nhiÔm m«I trêng t¹i viÖt nam

Các khu, cụm công nghiệp là trung tâm, là nơi duy trì và phát tán nguồn gây ô nhiễm Các tác động này không chỉ diễn ra trước mắt mà diễn ra lâu dài, không chỉ diễn ra tại vị trí đặt cơ sở sản xuất mà còn lan rộng theo nguồnnước, theo gió

Những ngành công nghiệp chế biến từ trước tới nay vẫn đóng vai trò then chốt cũng thuộc diện gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất Xếp đầu bảng là công nghiệp hoá chất gây ô nhiễm không khí, đất và nước; Tiếp sau là các

Trang 12

bảng gây ô nhiễm hội tụ đủ cả bốn loại ô nhiễm là: đất, nước, không khí và môi trường.

Trước tiên là tác hại của Công nghiệp hóa hiện đại hóa là làm ô nhiễm

không khí:

Các khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp, và phương tiện giao thông hàng

năm đã thải vào không khí hàng trăm loại khí thải làm ô nhiễm không khí Qua thống kê ở một số thành phố lớn, các khu đô thị hàng năm đã thải hàng triệu m3 khí thải vào không khí

Nhà máy thép Đà Nẵng

Chỉ tính riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, hàng năm các phương tiện vận tải trên địa bàn thành phố tiêu thụ khoảng 210.000 tấn xăng và 190.000 tấn dầu Dizel Như vậy đã thải vào không khí khoảng 1100 tấn bụi, 25 tấn chì,

4200 tấn CO2, 4500 tấn NO2, 116000 tấn CO, 1,2 triệu tấn CO2, 13200 tấn Hydrocacbon và 156 tấn Aldehyt Chính vì thế, tại nhiều khu vực trong các

đô thị có nồng độ các chất ô nhiễm lên khá cao

Tại Hà Nội, vào nhưng năm 2002 - 2003 ô nhiễm trầm trọng đã xảy ra ởxung quanh các nhà máy thuộc khu công nghiệp Thượng Đình với đường kính khu vực ô nhiễm khoảng 1700 mét và nồng độ bụi lớn hơn tiêu chuẩn cho phép khoảng 2-4 lần; xung quanh các nhà máy thuộc khu công nghiệp Minh Khai – Mai Động, khu vực ô nhiễm có đường kính khoảng 2500 mét và

Trang 13

nồng độ bụi cũng cao hơn tiêu chuẩn cho phép 2-3 lần Cũng tại khu công nghiệp Thượng Đình, kết quả đo đạc các năm 2005 - 2006 cho thấy nồng độ SO2 trong không khí vượt tiêu chuẩn cho phép 2-4 lần.

Thứ hai là Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gây ô nhiễm nguồn nước: Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số

gây áp lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị

ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải

Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ

pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ôxy sinh hoá (BOD), nhu cầu ôxy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư

Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn Ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu… Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm ở Bắc Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng

Trang 14

ngàn m3/ ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực

Núi rác tại KCN giấy ở Bắc Ninh

Sự ô nhiễm trên một con sông ở TP Hồ Chí Minh

Việc khắc phục hậu quả ô nhiễm cũng rất phức tạp, kéo dài và rất tốn kém, thậm chí vượt xa tổng số ngân sách mà khu, cụm công nghiệp đó đã đóng góp cho địa phương trong suốt thời gian nó hoạt động

Trang 15

Song, hậu quả nguy hiểm nhất chính là những ảnh hưởng đến an toàn sức khoẻ người dân và huỷ hoại tài nguyên môi trường - có những tác động không thể và không bao giờ khắc phục được

Hàng loạt các “con sông chết”, “vùng đất chết”, “cánh đồng chết” kéo theo

đó là những làng ung thư, những hồ tôm, ao cá với hàng ngàn tấn cá chết hàng loạt xuất hiện khắp mọi vùng miền của đất nước

Cá dọn bể - được coi là một loại cá dễ sống và rất khỏe cũng chết

thành bè trên sông Nhuệ(tháng 3/2009)

Sông Tô Lịch ngày nay

Trang 16

Dọc lưu vực sông Đồng Nai, có 56 khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động nhưng chỉ có 21 khu có hệ thống xử lý nước thải tập trung, số còn lại đều xả trực tiếp vào nguồn nước, gây tác động xấu đến chất lượng nước của các nguồn tiếp nhận Có nơi, hoạt động của các nhà máy trong khu côngnghiệp đã phá vỡ hệ thống thuỷ lợi, tạo ra những cánh đồng hạn hán, ngập úng và ô nhiễm nguồn nước tưới, gây trở ngại rất lớn cho sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân.

Nước thải từ KCN Hoà Khánh làm hơn 1200ha đất không gieo cấy

được

Nước thải từ KCN Hoà Khánh gây lở loét

Trang 17

III C¸c gi¶I ph¸p c¬ b¶n

Bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình CHN, HĐH hiện nay là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, các tổ chức, doanh nghiệp và của mọi công dân Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về bảo vệ môi trường, điển hình là Nghị quyết số 41-NQ/

TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (Khoá IX) về bảo vệ môi trường trongthời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; Chỉ thị số 29-CT/TW ngày

21/01/2009 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị; Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi); các nghị định của Chính phủ hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ môi trường Các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp quy này đi vào cuộc sống đã bước đầu tạo ra một số chuyển biến tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường, song vẫn còn nhiều mặt chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn Để ngăn chặn, khắc phục và xử lí

có hiệu quả những hành vi gây ô nhiễm môi trường, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp chủ yếu sau đây:

- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, trong đó những chế tài xử phạt (cưỡng chế hành chính và xử lí hình) phải thực sự đủ mạnh để đủ sức răn đe các đối tượng vi phạm Bên cạnh đó, cần xây dựng đồng bộ hệ thống quản lí môi trường trong các nhà máy, các khu công nghiệptheo các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời tổ chức giám sát chặt chẽ nhằm hướng tới một môi trường tốt đẹp và thân thiện hơn với con người

- Tăng cường công tác nắm tình hình, thanh tra, kiểm tra, giám sát về môi trường (thường xuyên, định kỳ, đột xuất); phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quanchuyên môn, nhất là giữa lực lượng thanh tra môi trường với lực lượng cảnh

Trang 18

những hành vi gây ô nhiễm môi trường của các tổ chức, cá nhân Đồng thời, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác môi trường; trang bị các phương tiện kỹ thuật hiện đại để phục vụ

có hiệu quả hoạt động của các lực lượng này

-Chú trọng công tác quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công

nghiệp, các làng nghề, các đô thị, đảm bảo tính khoa học cao, trên cơ sở tính toán kỹ lưỡng, toàn diện các xu thế phát triển, từ đó có chính sách phù hợp; tránh tình trạng quy hoạch tràn lan, thiếu đồng bộ, chồng chéo như ở nhiều địa phương thời gian vừa qua, gây khó khăn cho công tác quản lí nói chung, quản lí môi trường nói riêng Đối với các khu công nghiệp, cần có quy định bắt buộc các công ty đầu tư hạ tầng phải xây dựng hệ thống thu gom, xử lí nước thải tập trung hoàn chỉnh mới được phép hoạt động, đồng thời thường xuyên có báo cáo định kỳ về hoạt động xử lí nước thải, rác thải tại đó

- Chú trọng và tổ chức thực hiện nghiêm túc việc thẩm định, đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư, trên cơ sở đó, cơ quan chuyên môn tham mưu chính xác cho cấp có thẩm quyền xem xét quyết định việc cấp hay không cấp giấy phép đầu tư Việc quyết định các dự án đầu tư cần được cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích đem lại trước mắt với những ảnh hưởng của nó đến môi trường về lâu dài Thực hiện công khai, minh bạch các quy hoạch, các dự án đầu tư và tạo điều kiện để mọi tổ chức và công dân có thể tham gia phản biện xã hội về tác động môi trường của những quy hoạch và

dự án đó

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về môi trường trong toàn xã hội nhằm tạo sự chuyển biến và nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội của người dân, doanh nghiệp trong việc gìn giữ và bảo vệ môi trường; xây dựng ý thức sinh thái, làm cho

Ngày đăng: 16/07/2013, 16:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng gây ô nhiễm hội tụ đủ cả bốn loại ô nhiễm là: đất, nước, không khí và  môi trường. - Ô nhiễm môi trường trong quá trình phát triển công nghiệp tại Việt Nam: nguyên nhân và giải pháp.
Bảng g ây ô nhiễm hội tụ đủ cả bốn loại ô nhiễm là: đất, nước, không khí và môi trường (Trang 12)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w