2.1.1.6 Định hướng cho ngành 2.1.1.6.1 Nhu cầu nhà ở của người dân Theo bộ trưởng Trịnh Đình Dũng phát biểu tại Hội nghị tổng kết năm 2013, triển khai nhiệm vụ năm 2014 ngành xây dựng
Trang 1PHÂN TÍCH NGÀNH HÀNG VÀ TÌNH HÌNH THỰC TIỄN CỦA CÔNG TY
XI MĂNG HÀ TIÊN 1
2.1 Phân tích ngành hàng
2.1.1 Tình hình ngành công nghiệp xây dựng tại Việt Nam
2.1.1.1 Tổng quan ngành hàng trong những năm gần và bước thực hiện kế hoạch 5
năm
Ngành công nghiệp xây dựng là nhóm ngành có thực lực kinh tế lớn nhất, trong nhiều năm trước đã trở thành động lực, đầu tàu tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế Qua nửa chặng đường thực hiện kế hoạch 5 năm 2011-2015, trong vòng 3 năm 2011-2013, ngành công nghiệp đã đạt được những thành công nhất định, được thể hiện qua biểu đồ sau:
Nguồn: -kế hoạch 5 năm- tính và ước tính của tài chính kế toán Riêng vốn đầu tư chỉ mới
có 2 năm 2011, 2012
Trang 2Mục tiêu đề ra về công nghiệp xây dựng cho thời kì 2011- 2015 đều ở mức khá cao so với kết quả thực hiện của thời kỳ 2006- 2010, hoặc chủ yếu dựa vào kết quả của năm xuất phát (2010) với nhiều kết quả cao hơn so với năm trước
Từ biểu đồ ta nhận thấy rằng:
Chỉ tiêu Kế hoạch 5 năm
(%)
Thực hiện 2013) (%)
(2011-Tỉ lệ hoàn thành
kế hoạch (%) Tốc độ tăng GDP
Tỷ trọng trong
Tỷ trọng lao động CN-XD và
dịch vụ
Tỷ trọng vốn đầu
Nhận xét: Với những kết quả đặt được trong 3 năm 2011-2013, thì khả năng hoàn thành
hoặc vượt kế hoạch là điều hoàn toàn nằm trong tầm tay Từ đó làm tiền đề cho các kế hoạch 5 năm tiếp theo cũng như thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ hơn của ngành công nghiệp xây dựng
Với tỷ trọng lao động CN- XD và dịch vụ chiếm tỷ trọng cao tạo cơ hội giải quyết vấn nạn thất nghiệp của người lao động, đặc biệt là lao động phổ thông
Thêm vào đó là nguồn vốn đầu tư vào các ngành công nghiệp xây dựng tại Việt Nam chiếm
1 tỷ trọng khá cao, đảm bảo về vấn đề tài chính của ngành, tạo bước đệm cho sự phát triển
Trang 3Ngoài ra, nó còn là cầu nối cho việc tiếp tục thu hút sự đầu tư của nước ngoài vào thị trường công nghiệp Việt Nam nói chung, ngành công nghiệp xây dựng nói riêng
Nhưng mặt khác, cũng có nhiều vấn đề được lưu tâm cụ thể là: liệu ngành công nghiệp nước ta có tiếp tục tạo sức hút với các nguồn vốn từ nước ngoài không?nếu có thể vậy ngành công nghiệp xây dựng của nước ta có trở nên bị phụ thuộc vào tài chính từ nước ngoài chăng?
Bên cạnh đó là tốc độ tăng trưởng GDP, nếu giữ mục tiêu 7.8-8%/năm của kế hoạch 5 năm, thì 2 năm còn lại phải tăng 10,57-10.91%/ năm Đây là chỉ tiêu khá cao, lại trong tình trạng tăng trưởng tín dụng thấp, tổng cầu còn tương đối yếu… đây là một vấn đề cũng cần được suy xét và cân nhắc
2.1.1.2 Tốc độ tăng trưởng GDP của ngành
Năm 2010, GDP công nghiệp – xây dựng tăng 7.17%, cao nhất so với 2 năm trước Tỷ trọng trong GDP của ngành công nghiệp- xây dựng đạt 41.64%, cũng như mức cao nhất
từ trước tới 2010
Rõ nhất là tăng trưởng GDP do nhóm ngành công nghiệp- xây dựng vẫn giữ được tốc độ cao hơn tốc độ tăng GDP của toàn bộ nền kinh tế Cụ thể là: năm 2011 tăng 6.68% so với tăng 6.24%, năm 2012 tăng 5.7% so với tăng 5.25% , 6 tháng 2013 tăng 5.18% so với 4.9%,
dự báo cả năm tăng 5.5% so với 5.4%, bình quân trong 3 năm tăng 6% so với tăng 5.4%
Nhận xét: Với tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ như thế, càng khẳng định vai trò đầu tàu, chủ
đạo trong nền kinh tế nói chung, nhóm ngành công nghiệp nói riêng, cũng như góp phần
to lớn vào sự phát triển nước nhà
Trang 4Ta có: GDP=C+I+G+X-M , mà GDP tăng, tức là giá trị bằng tiền của tổng sản phẩm quốc nội trong ngành công nghiệp xây dựng tăng Từ đó có thể thấy rằng: giá trị tiêu dùng tiền của hộ gia đình(C), đầu tư(I), chính phủ(G), xuất khẩu(X) tăng và chi tiêu cho nhập khẩu (M)giảm Hay:
Tiêu dùng tăng tạo điều kiện cho ngành công nghiệp tăng năng xuất lao động để đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Đẩy mạnh xuất khẩu ra thị trường nước ngoài, hạn chế nhập khẩu
Mà việc thực hiện điều đó thực sự còn rất khó khăn khi hầu hết các trang thiết bị máy móc phục vụ cho ngành tại Việt Nam hầu hết phụ thuộc vào việc nhập từ nước ngoài Và cần
có các chiến lược như thế nào trong tình trạng cạnh tranh cao như hiện nay
2.1.1.3 Nguồn vốn đầu tư
Ngành công nghiệp – xây dựng đã thu hút một lượng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội chiếm tỷ trọng khá cao và có xu hướng tăng lên ( năm 2010 chiếm 41,3%, năm 2011 chiếm 42,9%, năm 2012 chiếm 43.9%)
Nhóm ngành này cũng thu hút lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm tỷ trọng lớn nhất Tính từ năm 1988 đến tháng 7/2013, lượng vốn FDI của các dự án còn hiệu lực đầu tư vào nhóm ngành công nghiệp- xây dựng đạt trên 138,3 tỷ USD, chiếm khoảng 62.2% tổng số
Nhận xét: tạo nền tảng tài chính vững chắc cho ngành công nghiệp xây dựng, triển khai
được nhiều dự án xây dựng, thu hút thêm đầu tư từ nước ngoài
Nhưng không ngoại trừ khả năng tiêu sài không đúng mục đích, gây lãng phí Và quá phụ thuộc vào vốn nước ngoài mà không tự chủ được về tài chính
2.1.1.4 Nguồn nhân lực
Số lao động đang làm việc trong nhóm ngành xây dựng , nếu năm 2005 mới chiếm 18.1% tổng số, năm 2010 chiếm 20,9%, thì từ năm 2011 đến nay đã chiếm 21,3% Đáng lưu ý, năng suất lao động của ngành này trong năm 2012 đã đạt 114.3 triệu đồng
Trang 5Ngành công nghiệp xây dựng đã và đang thu hút một khối lượng lớn nguồn lực lao động,
đặc biệt là lao động có kinh nghiệm và trình độ
Nhận xét: nguồn lao động dồi dào và có trình độ, đào tạo được đội ngũ lao động chuyên
nghiệp, đảm bảo hoạt động, tăng năng suất lao động và sự phát triển mạnh mẽ của ngành Tạo công ăn việc làm cho người lao động, nhất là những lao động phổ thông
Trên phương diện khác, ngành công nghiệp xây dựng hiện nay tuy cũng có những người lao động lành nghề và có kinh nghiệm nhưng nhóm ngành này cần phải cố gắng nhiều hơn nữa để thu hút những lao động trẻ và có trình độ chuyên môn cao
2.1.1.5 Quản lý của Nhà Nước
Theo bộ tưởng Trịnh Đình Dũng, năm 2013 là năm mà Bộ Xây Dựng đã tập trung cao độ cho việc hoàn thiện hệ thống thể chế quản lý nhà nước với những quan điểm, tư tưởng đổi mới mạnh mẽ theo hướng tăng cường kiểm tra, giám sát đầu tư xây dựng
Tăng cường kiểm soát phát triển đô thị theo qui hoạch và kế hoạch, gắn việc tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản với thực hiện chiến lược phát triển nhà ở quốc gia, đặc biệt là phát triển nhà ở xã hội
Ngoài ra Dự thảo Luật Xây dựng (sửa đổi) đã trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII, với quan điểm đổi mới căn bản là phân định rõ các dự án đầu tư xây dựng sử dụng các nguồn vốn khác phải có phương thức và phạm vi quản lý khác nhau
Cùng với Dự thảo Luật Xây dựng, Bộ đã trình Chính phủ ban hành nhiều Nghị định quan trọng như: Nghị định số 15/2013/NĐ-CP về quản lý chất lượng công trình xây dựng, Nghị định số 11/2013/NĐ-CP về quản lý đầu tư phát triển đô thị, Nghị định số 188/2013/NĐ-
CP về phát triển và quản lý NOXH… Đây là những Nghị định quan trọng nhằm kiểm soát chặt chẽ chất lượng công trình xây dựng, việc đầu tư phát triển đô thị theo quy hoạch và
kế hoạch…
Trang 6Nhận xét: việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước nhằm hạn chế thất thoát, lãng phí,
nâng cao hiệu sử dụng vốn đầu tư cũng như chất lượng công trình
Từ đó cũng góp phần vào việc hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống quản
lý của nhà nước
2.1.1.6 Định hướng cho ngành
2.1.1.6.1 Nhu cầu nhà ở của người dân
Theo bộ trưởng Trịnh Đình Dũng phát biểu tại Hội nghị tổng kết năm 2013, triển khai nhiệm vụ năm 2014 ngành xây dựng diễn ra ngày 7/1/2013, có các định hướng cho ngành công nghiệp xây dựng như sau:
Bộ xây dựng tập trung chỉ đạo và hỗ trợ các địa phương rà soát, xác định nhu cầu nhà ở
xã hội và xây dựng chương trình phát triển nhà ở của địa phương phù hợp với chiến lược phát triển nhà ở quốc gia, và tình hình phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương
Cùng với việc tập trung xây dựng nhà ở xã hội, bộ còn triển khai các chương trình hỗ trợ nhà cho các hộ nghèo tại nông thôn, nhà cho các hộ thường xuyên bị lụt
Ngoài ra, đất nước ngày càng phát triển,bên cạnh nhu cầu “ ăn ngon, mặc đẹp’ xuất hiện nhu cầu được ở trong các ngôi nhà sạch sẽ, khang trang Hay đơn giản là các khu chung cư
để thõa mãn nhu cầu nhà ở của người dân
2.1.1.6.2 Nhu cầu của nhà nước
Năm 2014, nhà nước cũng có nhiều kế hoạch đầu tư các công trình hạ tầng kỹ thuật như: cầu cống, sân bay, bến cảng, các công trình xã hội như trường học, bệnh viện…
2.1.1.6.3 Nhu cầu khác
Nước ta là một nước trong thời kì phát triển và hội nhập, nhà nước cũng như các tư nhân Việt Nam đầu tư phát triển các công ty, nhà hàng, khách sạn… từ đó nhu cầu về xây dựng cũng tăng cao
Trang 7Đất nước ngày càng phát triển, có nhiều chủ đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, nhu cầu xây dựng các khu chế xuất, khu công nghiệp, các tòa nhà … cũng vì thế mà tăng đáng
kể
Nhận xét: có rất nhiều công trình, dự án đã và đang được triển khai, đảm bảo cho sự tồn
tại và phát triển của các ngành công nghiệp nói chung, ngành công nghiệp xây dựng nói riêng
Góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, giảm tình trạng thất nghiệp cho người lao động, và “ấm “lại thị trường bất động sản vốn khá trầm trong thời gian qua, tạo
đà cho sự phát triển của các ngành công nghiệp khác và đất nước
TÓM LẠI: mặc dù có nhiều vấn đề cần được suy xét, nhưng nhìn chung, ngành công nghiệp xây dựng vẫn là một ngành dẫn đầu trong các ngành công nghiệp của Việt Nam, nhờ nó mà nhiều vấn đề xã hội như nghề nghiệp, nhà ở …được giải quyết đáng
kể Từ đó góp phần phát triển đất nước
Đây là một ngành tương đối năng động và có nhiều tiềm năng phát triển mạnh Tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp trong nhóm ngành này phát triền, và nhắc đến đây, không thể không nhắc đến ngành công nghiệp gắn liền và được coi như ngôi sao sáng trong ngành công nghiệp xây dựng, đó là ngành công nghiệp sản xuất xi măng 2.1.2 Tình hình trong ngành sản xuất xi măng
Năm 2014 này, tình hình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp xi-măng dự báo chưa mấy khả quan, nhất là áp lực cạnh tranh trên thị trường xi-măng ngày càng gia tăng do sẽ
có thêm năm dây chuyền sản xuất măng đi vào hoạt động, trong khi nguồn cung măng hiện đã dư thừa Bối cảnh cạnh tranh khốc liệt đó buộc mỗidoanh nghiệp sản xuất xi-măng phải tự tìm kiếm, lựa chọn cho mình hướng đi hiệu quả nhất
Trang 8xi-2.1.2.1 Những điểm sáng của ngành sản xuất xi măng
Theo thống kê của Bộ xây dựng, hiện nay, tổng công suất các nhà máy xi măng đang hoạt động trên cả nước đạt hơn 70 triệu tấn Tổng sản lượng tiêu thụ năm 2013 khoảng 61 triệu tấn, đạt 107% so với kế hoạch năm, tăng 13.9% so với năm 2012 Trong đó, tiêu thụ nội địa khoảng 47 triệu tấn , tăng 1.5 triệu tấn; xuất khẩu khoảng 14 triệu tấn, tăng gần 6 triệu
so với cùng kỳ
Mặc dù trong năm 2013, xuất khẩu được xem như là “cứu cánh” cho nhiều doanh nghiệp, song thực tế cho thấy, hiệu quả xuất khẩu vẩn chưa cao Đặc thù của sản phẩm xi măng là năng và cồng kềnh cho nên chi phí vận tải chiếm tỷ trọng khá lớn trong giá thành, thêm vào đó là xảy ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh tại các thị trường xuất khẩu
Nhận xét: cũng chính sự phát triền mạnh mẽ của ngành công nghiệp xây dựng nên ngành
sản xuất xi măng cũng có những bước tiến vượt trội Cũng nhờ đó mà nhu cầu sử dụng xi măng cũng không ngừng tăng cao, tạo cơ hội cho việc tăng gia sản xuất, đáp ứng nhu cầu, phục vụ cho sự phát triển của đất nước
Tạo bước đà cho việc đẩy mạnh xuất khẩu, vươn ra thị trường thế giới
Nhu cầu về xi măng như” một miếng bánh ngon mà đứa trẻ nào cũng muốn giành” Ngoài cạnh tranh trong nước còn cạnh tranh trên thị trường nước ngoài nên các doanh nghiệp cần
cố gắng nâng cao chất lượng sản phẩm, có các chiến thuật, chiến lược như thế nào để tạo lòng tin cho người tiêu dùng Cũng như tăng sức cạnh tranh trên thị trường…đây là việc các doanh nghiệp cần suy xét
Câu hỏi khó cho các doanh nghiệp muốn vươn ra thị trường nước ngoài cần có thiết kế sản phẩm phù hợp và lựa chon hình thức vận tải nào tối ưu nhất để giảm thiểu chi phí cho việc vận chuyển
Trang 92.1.2.2 Các ứng dụng khoa học công nghệ
Có thề nói, trong 10 năm qua, công nghệ sản xuất xi măng trên thế giới đã có những bước tiến vượt bậc tại Việt Nam, các tinh hoa công nghệ cũng được các nhà đầu tư quan tâm ứng dụng
Theo một số chuyên gia trong ngành, có thể đánh giá tổng quát về tình hình ứng dụng công nghệ sản xuất và năng lực vận hành của các nhà máy sản xuất xi măng trong nước trong năm 2012 như sau:
Về cơ bản các công ty đã làm chủ được các dây chuyền công suất lò từ 3300 tấn clinker/ ngày trở lên ( lò 2500 tấn clinker/ ngày hoàn toàn trong tầm tay)
Trình độ công nghệ xi măng có bước đột phá trong lĩnh vực nghiển xi măng, trong đó nổi bật là trong nhiều năm gần đây, một số dự án đưa vào sử dụng công nghệ nghiền HOROMILL, lá công nghệ khá tối ưu ( năng suất cao,tiết kiệm năng lượng, linh hoạt trong điều chỉnh cỡ hạt) Tuy nhiên cũng đã có dự án phải trả giá do thiếu kinh nghiệm khi lần đầu tiên nhập khẩu loại thiết bị này
Về công nghệ thiết bị của các lò 3300 tấn clinker / ngày trở lên, tại Việt Nam đã đạt trình độ tiên tiến của thế giới, cho phép linh hoạt trong vận hành và hiệu chỉnh chất lượng và có thể đốt bằng nhiều loại nhiên liệu, than, hoặc các nhiên liệu thay thế
Bắt đầu có các doanh nghiệp dịch vụ được chuyên hóa: dọn dẹp vệ sinh công nghiệp, thay thế sửa chữa vật liệu phụ tùng như các doanh nghiệp hàn phục chế con lăn, bàn nghiền, hoặc nhận hợp đồng phụ trách các khâu sản xuất nào đó ( như khai thác mỏ, vận chuyển, đóng bao…)
Khả năng tiếp thu và chuyển gia công nghệ thấp
Công nghệ sản xuất vật tư phụ tùng ngày càng phát triển nhưng manh mún, chưa có định hướng chiến lược toàn ngành Chất lượng phụ tùng chưa ổn định: gạch chịu lửa,
bi đạn, tấm lót, vòng bi cỡ nhỏ…giá thành chưa cạnh tranh
Mặt khác do cơ sở hạ tầng (điện, giao thông…) trình độ vận hành, năng lực quản lý…còn yếu kém nên quá trình khai thác thiết bị, công nghệ còn hạn chế, sản xuất đạt
Trang 10hiệu quả chưa cao Đa số các nhà máy mới đạt ở mức vận hành duy trì sản xuất bình thường, chưa có nhà máy nào đạt trình độ tối ưu
Có các dây chuyền sản xuất đạt hiệu suất lao động cao như năm 2013 đã có tới 4 dây chuyền xi măng mới đi vào sản xuất với công suất sấp xỉ 5 triệu tấn Dự kiến trong nửa cuối năm 2014, có thêm 5 dây chuyền với công suất hơn 7 triệu tấn sẽ đưa vào vận hành, tiếp tục đẩy nguồn cung lên cao
Nhận xét: việc vận dụng các tinh hoa công nghệ góp phần đáng kể vào việc tăng năng suất
lao động, gia tăng khả năng cạnh tranh
Các thiết bị ngày càng hiện đại, hiệu suất cao, đảm bảo cho việc đẫy mạnh cung, phục vụ nhu cầu của khách hàng
Giảm thiểu một lượng chi phí đáng kể như thuê mướn nhân công, thất thoát nguyên liệu trong quá trình sản xuất … cho doanh nghiệp
Tạo điều kiện chuyên môn hóa, cơ khí hóa nhà máy, cơ sở sản xuất
Nhưng đối thủ cạnh tranh trong ngành cũng mạnh hơn, hơn thua nhau bởi thiết bị công nghệ., khả năng đón đầu công nghệ
Việc vận hành mà công nhân chưa có kinh nghiệm có thể gây rủi ro, hoặc sử dụng công nghệ chưa đạt hiệu quả
2.1.2.3 Đối thủ cạnh tranh
Ngành sản xuất xi măng được xem như là một “ngôi sao sáng” trong bầu trời các ngành công nghiệp xây dựng Thật vậy, đây là một ngành năng động và có nhiểu tiềm năng phát triển mạnh mẽ đã và đang thu hút 1 lượng lớn các nhà thầu đầu tư vào lĩnh vực này
Và cũng như bao ngành công nghiệp khác, đây cũng là một thương trường khốc liệt, với đầy rẫy đối thủ, vừa có, mạnh có… và có khả năng cạnh tranh cao
Áp lực cạnh tranh ngày càng lớn vì hầu hết các doanh nghiệp đang chạy đua hàng ngày để đón đầu công nghê, hay tìm kiếm thị trường…
Trang 11Tuy nhiên cũng có nhiều doanh nghiệp cạnh tranh không lành mạnh, như tình trạng “ chơi xấu” tại các thị trường xuất khẩu, tình trạng bán phá giá…
Trước tình hình cạnh tranh gay gắt như hiện tại,các doanh nghiệp không ngừng tìm các hướng đi riêng với những chiến thuật, chiến lược marketing mới nhằm tạo sự chuyên biệt, tăng khả năng cạnh tranh như sản xuất các dòng sản phẩm phù hợp, chuyên dụng với các phân khúc thị trường nhỏ hơn( xi măng chịu phèn của công ty cổ phần Hà Tiên 1), cải thiện phương pháp bàn hàng theo hướng đa chủng loại sản phẩm, chuyển từ chiết khấu, giảm giá sang chế độ chăm sóc khách hàng( cả vật chất đến tinh thần)
Nhận xét: đối thủ cạnh tranh là yếu tố luôn được các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm vì
nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Nhưng, trong thương trường nhiều đối thủ cạnh tranh như vậy, nếu doanh nghiệp có khả
năng tạo sự khác biệt, gây dựng uy tín và lòng tin đối với khách hàng thì sẽ đem lại cho doanh nghiệp một tài sản vô giá
Trước áp lực cạnh tranh gay gắt như thế, doanh nghiệp nếu không có chiến lược, chiến thuật tốt… dễ đánh mất thị phần, và cũng có thể bị phá sản
2.1.2.4 Nguyên vật liệu
Nguyên liệu sản xuất xi măng 1 phần nhỏ được nhập trong nước còn hầu hết là phải nhập
từ thị trường nước ngoài như: clinker, thạch cao nhập chủ yếu từ Thái Lan…
Các công nghệ máy móc thiết bị phải nhập khẩu từ nước ngoài, các dây chuyền công nghệ, các trang thiết bị chính hầu hết được xuất xứ từ các nước công nghiệp có truyền thống về
xi măng như Tây Âu, Nhật Bản…
Trong năm 2013, giá nguyên vật liệu đầu vào như điện, than, dầu, tiếp tục tăng , trong đó: giá than tăng từ 37 đến 41% từ tháng 4, giá điện tăng 5% từ tháng 8 năm 2013
Nhận xét: nguồn nguyên liệu là yếu tố tác động trực triếp đến hoạt động của doanh nghiệp
cũng như chất lượng của sản phẩm
Trang 12Vì nguồn nguyên liệu hầu hết là ngoại nhập nên việc chủ động trong nguồn nguyên liệu đối với từng doanh nghiệp là không thể, phải phụ thuộc vào nước ngoài
Dễ rơi vào tình trạng bị bán ép giá
Khó khăn trong việc vận chuyển
Tạo sức ép cạnh tranh về công nghệ và nguồn nguyên vật liệu
Chi phí doanh nghiệp bỏ ra cho các nguồn nguyên liệu như than, điện… ngày càng tăng, nếu không có phương thức thích hợp để giảm thiểu tình trạng này thì doanh nghiệp rất dễ
bị ngưng hoạt động vì chi phí quá lớn
2.1.2.5 Nguồn lao động
Đây là một ngành thu hút nguồn lao động dồi dào, đặc biệt là lao động phổ thông
Còn thiếu các lao động có tay nghề, có trình độ, đa số các kỹ sư và công nhân vận hành mất khá nhiều thời gian để thành thạo công việc
Vấn đề là cần có đội ngũ kỹ sư có đủ trình độ chuyên môn và ngoại ngữ để tiếp thu, làm chủ được hoàn toàn thiết bị công nghệ nhập khẩu; giảm thiểu sự phụ thuộc vào nước ngoài; nhất là sau một số năm khi thiết bị đã xuống cấp, gặp sự cố hiểm hóc, phải thay thế sửa chữa…
Nhận xét: một cơ sở sản xuất dù máy móc thiệt bị hiện đại đến đâu vẫn không thể vận
hành tốt nếu không có bàn tay con người
Nếu một doanh nghiệp chỉ có các lao động phổ thông thỉ việc cạnh tranh trên thương trường
là điều vô củng khó khăn, và năng suất lao động của người lao động cũng chưa được khai thác tối ưu
Vấn đề bức thiết nhất cần được giải quyết ngay đó là đào tạo được đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn tốt
Trang 132.1.2.6 Định hướng phát triển trong năm 2014
Trong tình hình kinh tế như hiện nay, với chức năng quản lý nhà nước, Bộ Xây Dựng sẽ tập trung nghiên cứu và dự báo kịp thời tình hình cung cầu xi măng của cả nước Đôn đốc các nhà máy xi măng triển khai nghiên cứu lắp đạt thiết bị tận dụng nhiệt thừa khí thải lò nung để phát điện
Bên cạnh sự hỗ trợ từ Nhà Nước, bản thân các doanh nghiệp cũng “ tự thân vận động”, chủ động điều tiết hoạt động, đảm bảo sản xuất hiệu quả Áp lực cạnh tranh lớn đòi hỏi các doanh nghiệp phải chủ động tình toán, giảm bớt mục tiêu kế hoạch trong năm 2014, xây dựng các giải pháp chủ động, phù hợp với tình hình thực tế
Đẩy mạnh áp dụng khoa học kỹ thuật và sáng kiến vào sản xuất
Nghiên cứu các sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu của thị trường đồng thời đẩy mạnh chương trình tái cơ cấu doanh nghiệp, nâng cao năng lực quản trị, tăng cường phối hợp hài hòa giữa các đơn vị thành viên trong sản xuất, tiêu thụ, tìm kiếm thị trường xuất khẩu, phân vùng tiêu thụ, tránh chồng chéo, cạnh tranh nội bộ
Ngoài các yếu tố đã nêu trên, trong giai đoạn tới, trước yêu cầu nghiêm ngặt về bảo vệ môi trường chống biến đổi khí hậu, nên định hướng công nghệ ở các khía cạnh sau:
Đảm bảo yếu tố tiết kiệm năng lượng và mục tiêu phát triển bền vững
Hiệu suất thiết bị cao nhưng vẫn đảm bảo tuổi thọ
Tái sử dụng các vật tư tiêu hao như: vỏ bao, cliker phế phẩm, bi đạn…
Tận dụng tối đa nhiệt khí thải phục vụ cho phát điện, sấy…
Sử dụng rác thải có nhiệt trị cao thay thế một phần nhiên liệu
Dễ dàng thay thế, lắp đặt, tính phổ dụng của linh kiện, thiết bị… để giảm thiểu thời gia gián đoạn trong sản xuất khi thiết bị gặp sự cố
Khả năng phục chế dễ dàng và hạ giá thành với các thiết bị mài mòn: con lăn, bàn nghiền,…
Các thiết bị điều khiển thông minh, có tính toán đến khả năng gặp sự cố hoặc gặp thảm họa như lũ lụt, động đất… có thể gây thảm họa cho môi trường
Trang 14Nhận xét: các vấn đề được đề cập trên cũng như là các mục tiêu chung cho toàn ngành nói
chung và các đơn vị sản xuất xi măng nói riêng
Rõ ràng Nhà Nước ta cũng giành một mối quan tâm và ưu ái đặc biệt cho nhóm ngành này Cũng nhờ những ưu ái đó, nếu doanh nghiệp biết nắm bắt, tận dụng cơ hội đó một cách tối
đa thì khả năng thành công và đưa doanh nghiệp phát triểnlà rất lớn
Các mục tiêu và các đề xuất về các kiến nghị mới trong ngành cũng như kim chỉ nam cho
sự vận hành của các doanh nghiệp Nếu biết áp dụng các đề xuất trên một cách linh hoạt thì chắc chắn sẽ đem lại những kết quả tốt
Với việc hoạt động theo hướng bảo vệ môi trường, vừa bảo vệ được môi trường, hướng tới cộng đồng, gây dựng được sự tin yêu của người tiêu dùng, mà bản thân doanh nghiệp cũng
có lợi như giảm chi phí về nguồn nhiên liệu, sử dụng các thiết bi một cách tối ưu… nhưng mặt khác, nếu doanh nghiệp nào vận hành gây ô nhiễm môi trường rất dễ bị người tiêu dùng tẩy chay, mất lòng tin nơi người tiêu dùng thì sẽ phải trả giá đắt…
Tỷ giá hối đoái tăng
Thời tiết không thuận lợi, đặc biệt là năm 2013, mưa kéo dài, ảnh hưởng nghiêm trọng tới các máy móc, đặc biệt là các dây chuyền sản xuất xi măng cũ
…
Nhận xét: các yếu tố này tác động gián tiếp nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động
và sự tồn tại của doanh nghiệp, như: dây chuyền máy móc, nguồn vốn,…
Trang 15Đây là những yếu tố tác động ngoài khả năng kiểm soát của doanh nghiệp, các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng như nhau, do đó, hơn thua nhau là khả năng doanh nghiệp giảm thiểu mức tối đa các tác động xấu này
Tóm lại: Có nhiều yếu tố tác động đến doanh nghiệp, có loại doanh nghiệp có khả năng kiểm soát, có loại ngoài khả năng kiểm soát, nhưng tác động của nó tại ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Do đó, các doanh nghiệp cần có những phương án mới, chuyên biệt để tồn tại trong thương trường khốc liệt này
Và một trong những công ty thành công và có vị thế vững chắc trong ngành sản xuất
xi măng đó là công ty cổ phần Hà Tiên 1
2.2 Tình hình thực tiễn của công ty cổ phần Hà Tiên 1 từ năm 2010 đến nay
Hà Tiên 1 đang dẫn đầu vể thị phần tiêu thụ xi măng trong khu vực IV với 39%, vượt xa công ty đứng thứ 2 là công ty Holcim(25%) Xi măng Hà Tiên 1 đang chiếm khoảng 8% thị phần thị trường xi măng cả nước
Hệ thống phân phối của công ty chủ yếu tập trung tại khu vực IV với các kênh phân phối
đa dạng, có thể cung cấp sản phẩm đến tay người tiêu dùng một cách thuận tiện nhất
Trang 16Tổng quan:
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số: 0301446422
Cầu Kho, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 17Nhận xét: nhìn chung công ty cổ phần Hà Tiên 1 đã có một nền tảng khá vững chắc không
chỉ trong ngành sản xuất xi măng mà cả trong tình cảm của người tiêu dùng Cũng chính
vì thế nên việc mở mang và phát triển công ty là việc có tính khả thi cao
Là một công ty đứng đầu và chiếm thị phần cao thuận lợi cho việc tăng năng suất lao động, đảm bảo đầu ra cho công ty, và khả năng chiếm lĩnh thị trường miền nam
Có những thành tích đáng nể, thể hiện được sự tin tưởng của khách hàng đối với công ty, như thế tạo uy tín cũng như thương hiệu của công ty, có được các nguồn tiêu thụ tốt, các khách hàng trung thành…
Nhưng vì vốn như là một “ ông hoàng” trong ngành sản xuất xi măng nên công ty cũng chịu nhiều áp lực về phía đối thủ cạnh tranh, cũng như nếu làm không tốt dễ mất lòng tin của khách hàng… mà đây lại là yếu tố tác động mạnh đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
2.2.2 Lịch sử hình thành
Công ty cổ phần Hà Tiên 1 là một công ty mạnh, và có một bề dày lịch sử:
Công ty Xi măng Hà Tiên 1 tiền thân là Nhà máy Xi măng Hà Tiên do hãng
VENOT.PIC của Cộng hòa Pháp cung cấp thiết bị Năm 1964, Nhà máy chính thức
đưa vào hoạt động với công suất ban đầu là 240.000 tấn clinker/năm tại Kiên Lương, 280.000 tấn xi măng/năm tại Nhà máy Thủ Đức
Năm 1974, Nhà máy Xi măng Hà Tiên đã ký thỏa ước tín dụng và hợp tác với hãng
POLYSIUS (Pháp) để mở rộng nhà máy, nâng công suất thiết kế từ 300.000 tấn xi măng/năm lên đến 1.300.000 tấn xi măng/năm Thỏa ước này sau giải phóng được chính quyền Cách Mạng trưng lại vào năm 1977
Năm 1981, Nhà máy xi măng Hà Tiên được tách ra thành Nhà máy xi măng Kiên Lương
và Nhà máy xi măng Thủ Đức Và đến năm 1983, hai Nhà máy được sáp nhập và đổi tên là Nhà máy Liên Hợp xi măng Hà Tiên
Năm 1993, Nhà máy lại tách thành hai công ty là Nhà máy Xi măng Hà Tiên 2 (Cơ sở
sản xuất tại Kiên Lương) với công suất là 1.100.000 tấn clinker/năm và 500.000 tấn xi
Trang 18măng/năm; Nhà máy Xi măng Hà Tiên 1 (cơ sở sản xuất tại Thủ Đức - Tp HCM) với công suất là 800.000 tấn xi măng/năm
Ngày 01/04/1993, Công ty Cung ứng Vật tư số 1 được sáp nhập vào Nhà máy Xi măng
Hà Tiên 1 theo quyết định số 139/BXD – TCLĐ của Bộ Xây dựng
Ngày 30/09/1993, Nhà máy Xi măng Hà Tiên 1 được đổi thành Công ty Xi măng Hà Tiên 1 theo quyết định số 441/BXD-TCLĐ của Bộ Xây Dựng
Ngày 21/01/2000, Công ty Xi măng Hà Tiên 1 đã thực hiện cổ phần hoá Xí nghiệp Vận tải trực thuộc Công ty thành Công ty Cổ phần Vận tải Hà Tiên, trong đó Công ty Xi măng Hà Tiên 1 nắm giữ 30% cổ phần tương đương 14,4 tỷ đồng
Ngày 06/02/2007, Công ty Xi măng Hà Tiên 1 đã chính thức làm lễ công bố chuyển từ doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần theo Quyết định số 1774/QĐ-BXD của
Bộ Xây dựng về việc điều chỉnh phương án cổ phần và chuyển Công ty Xi măng Hà Tiên 1 thành Công ty cổ phần Xi măng Hà Tiên 1 và chính thức hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4103005941 của Sở Kế hoạch – Đầu tư Tp.HCM cấp ngày 18/01/2007 với vốn điều lệ ban đầu là 870 tỷ đồng
Ngày 29/12/2009, Với sự đồng ý của gần 78% số cổ phần có quyền biểu quyết, phương
án sát nhập Công ty Cổ phần Xi măng Hà Tiên 2 (HT2) vào Công ty Cổ phần Xi măng
Hà Tiên 1 (HT1) đã được thông qua Sau khi sát nhập, doanh nghiệp sẽ có tên mới – Công ty Cổ phần Xi măng Vicem Hà Tiên Trụ sở chính của Công ty: 360 Bến Chương Dương, Phường Cầu Kho, Quận 1, Tp.HCM
Ngày 08/06/2010, Chính thức giao dịch số lượng cổ phiếu chuyển đổi từ Công ty CPXM Hà Tiên 2 sang Công ty CPXM Hà Tiên 1 tại sàn chứng khoán TPHCM
Ngày 25/06/2010, Nhận được giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đánh dấu bước khởi đầu của một giai đoạn phát triển mới của Công ty CPXM Hà Tiên 1 sau sáp nhập -Trụ sở chính của Công ty tại địa chỉ: 360 Bến Chương Dương, phường Cầu Kho, Quận
1, Tp HCM
-Các chi nhánh mới được thành lập:
Trạm nghiền Phú Hữu, địa chỉ: phường Phú Hữu, quận 9 - TPHCM
Trang 19 Trạm nghiền Thủ Đức, địa chỉ: Km 8, Xa lộ Hà Nội, Phường Trường Thọ, Quận Thủ Đức – TPHCM
Nhà máy xi măng Bình Phước, địa chỉ: Xã Thanh Lương, Huyện Bình Long, Tỉnh Bình Phước
Trạm nghiền Long An, địa chỉ: Khu Công nghiệp Long Định, Huyện Bến Lức, Tỉnh Long An
Nhà máy xi măng Kiên Lương, địa chỉ: Quốc Lộ 80, Thị trấn Kiên Lương, Tỉnh Kiên Giang
Ngày 23/01/2011, Công ty cổ phần xi măng Hà Tiên 1 (Vicem Hà Tiên) chính thức tiếp quản Trạm nghiền Xi măng Cam Ranh từ Công ty Cổ phần Xây lắp Đà Nẵng, đơn vị thành viên của Tổng Công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam Địa chỉ: Thôn Hòn Quy
- xã Cam Thịnh Đông - Tp.Cam ranh - Tỉnh Khánh Hòa
Hiện nay công ty hoạt động trong môi trường sạch và xanh với công suất thiết kế
7.300.000 tấn xi măng/năm với 2 Nhà máy và 4 Trạm nghiền
Nhận xét: với một bề dày lịch sử với bao thăng trầm đã giúp cho xi măng Hà Tiên tích tũy
thêm ngày càng nhiều kinh nghiệm cũng như ngày càng trưởng thành hơn, phát triển để hoàn thiện hơn
Thêm vào đó, công ty cũng nhờ đó mà tích lũy được một nguồn vốn lớn, vững chắc, và có các chiến lược thu hút nguồn vốn gần như nhanh nhay, kịp với xu hướng thời đại Tạo tiền
đề cho sự phát triển
Cũng nhờ 1 quá trình dài không ngừng phấn đấu đã giúp công ty gây dựng được lòng tin,
ấn tượng tốt đẹp đối với khách hàng cũng như khẳng định vị thế của mình trên thương trường
2.2.3 Những thành tích đạt được
Từ khi thành lập đến hiện nay, công ty cổ phần Hà Tiên 1 không ngừng cố gắng, nỗ lực phấn đấu và đã đạt được nhiều thành tựu đáng nể: