1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quan hệ kinh tế Ấn Độ ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay và xu hướng phát triển (LA tiến sĩ)

192 281 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 192
Dung lượng 2,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ kinh tế Ấn Độ ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay và xu hướng phát triển (LA tiến sĩ)Quan hệ kinh tế Ấn Độ ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay và xu hướng phát triển (LA tiến sĩ)Quan hệ kinh tế Ấn Độ ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay và xu hướng phát triển (LA tiến sĩ)Quan hệ kinh tế Ấn Độ ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay và xu hướng phát triển (LA tiến sĩ)Quan hệ kinh tế Ấn Độ ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay và xu hướng phát triển (LA tiến sĩ)Quan hệ kinh tế Ấn Độ ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay và xu hướng phát triển (LA tiến sĩ)Quan hệ kinh tế Ấn Độ ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay và xu hướng phát triển (LA tiến sĩ)Quan hệ kinh tế Ấn Độ ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay và xu hướng phát triển (LA tiến sĩ)Quan hệ kinh tế Ấn Độ ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay và xu hướng phát triển (LA tiến sĩ)Quan hệ kinh tế Ấn Độ ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay và xu hướng phát triển (LA tiến sĩ)Quan hệ kinh tế Ấn Độ ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay và xu hướng phát triển (LA tiến sĩ)Quan hệ kinh tế Ấn Độ ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay và xu hướng phát triển (LA tiến sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

NGÔ MINH ĐỨC

QUAN HỆ KINH TẾ ẤN ĐỘ - ASEAN

TỪ ĐẦU THẾ KỶ 21 ĐẾN NAY VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

NGÔ MINH ĐỨC

QUAN HỆ KINH TẾ ẤN ĐỘ - ASEAN

TỪ ĐẦU THẾ KỶ 21 ĐẾN NAY VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

Mã số : 62 31 01 06

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 GS TS NGUYỄN QUANG THUẤN

2 TS NGÔ VĂN VŨ

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các thông tin, số liệu sử dụng trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, có độ tin cậy cao

và được công bố theo đúng quy định

Kết quả nghiên cứu của luận án dựa trên quá trình nghiên cứu nghiêm túc của chính tác giả và là kết quả trung thực, không trùng lặp với các đề tài khác và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Nghiên cứu sinh

Ngô Minh Đức

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện viết luận án, mặc dù gặp nhiều khó khăn về thời gian, thông tin, tư liệu Tuy nhiên, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô

giáo, anh em, bạn bè và gia đình để hoàn thành luận án “Quan hệ kinh tế Ấn Độ -

ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay và xu hướng phát triển”

Với lòng biết ơn trân trọng nhất, em xin cảm ơn GS.TS Nguyễn Quang Thuấn

và TS Ngô Văn Vũ đã tận tình hướng dẫn, định hướng vấn đề nghiên cứu một cách đúng đắn để em có thể hoàn thành luận án đúng thời gian quy định

Trong quá trình làm đề tài, bản thân tác giả đã cố gắng tìm hiểu tài liệu, học hỏi kinh nghiệm để tổng hợp, đánh giá Tuy nhiên, do sự hiểu biết còn hạn chế, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều vì vậy không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của thầy, cô giáo và độc giả

Trân trọng!

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ……… ii

MỤC LỤC ………iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH ……….………….x

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 2

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 3

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 4

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 5

7 Cơ cấu của luận án 5

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ KINH TẾ ẤN ĐỘ - ASEAN 6

1.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 6

1.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 10

1.3 Khoảng trống nghiên cứu 14

Tiểu kết chương 1 15

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO SỰ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ KINH TẾ ẤN ĐỘ - ASEAN 16

2.1 Cơ sở lí luận phát triển quan hệ kinh tế 16

2.1.1 Khái quát về quan hệ kinh tế quốc tế 16

2.1.2 Lí thuyết về thương mại quốc tế 20

2.1.3 Lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài 33

2.2 Cơ sở thực tiễn thúc đẩy sự phát triển quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN 37

2.2.1 Sức hấp dẫn từ khu vực kinh tế Ấn Độ 37

Trang 6

2.2.2 Sức hấp dẫn từ khu vực kinh tế ASEAN năng động 42

2.2.3 Các nhân tố thúc đẩy quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN 48

Tiểu kết chương 2 51

CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ ẤN ĐỘ - ASEAN TỪ ĐẦU THẾ KỈ 21 ĐẾN NAY 53

3.1 Thực trạng quan hệ thương mại giữa Ấn Độ - ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay 53

3.1.1 Những nội dung chính của Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ (AIFTA) 53

3.1.2 Tác động của AIFTA đến nền kinh tế Ấn Độ 55

3.1.3 Thực trạng xuất nhập khẩu của Ấn Độ - ASEAN giai đoạn 2000 – 2015 61

3.1.4 Những lợi ích của Ấn Độ và các nước trong khối ASEAN 70

3.1.5 Các yếu tố hạn chế quan hệ thương mại Ấn Độ - ASEAN 89

3.2 Thực trạng quan hệ đầu tư trực tiếp giữa Ấn Độ - ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay 96

3.2.1 Môi trường đầu tư của Ấn Độ - ASEAN 96

3.2.2 Cán cân đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa Ấn Độ - ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay 111

3.3 Một số đánh giá chung về thực trạng quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN giai đoạn 2000 - 2015 117

3.3.1 Cân bằng thương mại Ấn Độ - ASEAN giai đoạn 2000 – 2005 117

3.3.2 Cân bằng thương mại Ấn Độ - ASEAN giai đoạn 2006 – 2015 117

Tiểu kết chương 3 119

CHƯƠNG IV: XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ KINH TẾ ẤN ĐỘ - ASEAN ĐẾN NĂM 2025 121

4.1 Xu hướng phát triển quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN đến năm 2025 121

4.1.1 Các nhân tố chính 121

4.1.2 Tiềm năng thương mại giữa Ấn Độ và ASEAN 128

4.1.3 Cơ hội phát triển quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN 136

Trang 7

4.2 Định hướng và một số giải pháp đối với Việt Nam nhằm đạt được lợi ích từ

quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN 142

4.2.1 Việt Nam trong quan hệ Ấn Độ - ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay 142

4.2.2 Một số giải pháp giúp Việt Nam phát triển từ mối quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN 144

Tiểu kết chương 4 148

KẾT LUẬN 149

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤC 1 164

PHỤ LỤC 2 166

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN Association of Southeast Asian

Nations

Hiệp hội các Quốc gia Đông

Nam Á

AEC ASEAN Economic Community Cộng đồng kinh tế ASEAN

AIFTA ASEAN-India Free Trade Area Hiệp định thương mại tự do

Sáng kiến vùng Vịnh Bengal về hợp tác Kinh tế và Kỹ thuật đa

Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi

CGE Computable General

Equilibrium Mô hình cân bằng tổng thể

CECA Comprehensive Economic

EIU Economist Intelligence Unit Cơ quan tình báo kinh tế Anh

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FTA Free Trade Area Khu vực thương mại tự do

FPI Foreign Portfolio Investment Đầu tư gián tiếp nước ngoài

FIE Foreign Invested Enterprises Doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

GNP Gross National Product Tổng sản phẩm quốc gia

Trang 9

GTAP Global Trade Analysis Project Dự án phân tích thương mại toàn

cầu

IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế

LPI Logistics Performance Index Chỉ số năng lực quốc gia về

MFN Most Favoured Nation Nguyên tắc tối huệ quốc

MGC Mekong–Ganga Cooperation Tổ chức hợp tác Mekong – Sông

Hằng

MNE Multinational Enterprises Công ty đa quốc gia

NEP National Elint Plan Chính sách kinh tế mới

OECD Organization for Economic

Cooperation and Development

Tổ chức Hợp tác và Phát triển

Kinh tế

PTA Preferential Trade Arrangement Thỏa thuận thương mại ưu đãi

PPF Production Possibility Frontier Đường giới hạn khả năng

sản xuất

RCA Revealed Comparative

Advantage Index Chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu

RID Revealed Import Dependence

Index

Chỉ số phụ thuộc nhập khẩu hiện

hữu

RBI Reserve Bank of India Ngân hàng dự trữ Ấn Độ

SMEs Small and Medium Enterprise Doanh nghiệp vừa và nhỏ

UAE United Arab Emirates Các tiểu vương quốc Ả rập thống

nhất

UNCTAD United Nation Conference on

Trade and Development

Diễn đàn Thương Mại và Phát triển Liên Hiệp Quốc

GVA Gross value added Tổng giá trị gia tăng thực tế

WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Các cấp độ hội nhập chính sách kinh tế khu vực 29

Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng GDP của Ấn Độ và một số quốc gia khu vực Nam Á giai đoạn 2010 - 2016……… 38

Bảng 2.3: Tăng trưởng tổng giá trị gia tăng thực tế theo ngành tính trên giá cơ bản 38

Bảng 2.4: Tốc độ tăng trưởng GDP của ASEAN giai đoạn 2010 - 2016……… 43

Bảng 2.5: Tổng giá trị kim ngạch thương mại của ASEAN giai đoạn 1999 – 2000 43

Bảng 2.6: Một số chỉ số thương mại của ASEAN năm 2014 – 2015 46

Bảng 2.7: Một số chỉ số về đầu tư trực tiếp nước ngoài của ASEAN năm 2014 – 2015 47

Bảng 2.8: Các mốc thời gian đánh dấu quan hệ Ấn Độ - ASEAN 48

Bảng 3.1: Lộ trình ưu đãi thuế AIFTA của một số sản phẩm 54

Bảng 3.2: So sánh danh mục thuế xuất nhập khẩu của Ấn Độ và các quốc gia ASEAN năm 2009 và 2013 57

Bảng 3.3: Độ mở thương mại của Ấn Độ với ASEAN năm 2014 59

Bảng 3.4: Thương mại hàng hoá Ấn Độ - ASEAN giai đoạn 2000 – 2016 62

Bảng 3.5: Thương mại hàng hoá của Ấn Độ với các nước ASEAN giai đoạn 2005 - 2015 66

Bảng 3.6: Các nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Ấn Độ sang thị trường ASEAN 68

Bảng 3.7: Các nhóm mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Ấn Độ từ thị trường ASEAN 69

Bảng 3.8: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Ấn Độ - Brunei giai đoạn 2000 - 2015 71

Bảng 3.9: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Ấn Độ - Cambodia giai đoạn 2000 - 2015 72

Bảng 3.10: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Ấn Độ - Indonesia giai đoạn 2000 - 2015 74

Bảng 3.11: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Ấn Độ - Lào giai đoạn 2000 - 2015 75

Bảng 3.12: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Ấn Độ - Malaysia giai đoạn 2000 - 2015 77

Bảng 3.13: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Ấn Độ - Myanmar giai đoạn 2000 – 2015 78

Bảng 3.14: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Ấn Độ - Philippines giai đoạn 2000 – 2015 80

Bảng 3.15: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Ấn Độ - Singapore giai đoạn 2000 – 2015 82

Bảng 3.16: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Ấn Độ - Thái Lan giai đoạn 2000 – 2015 84

Trang 11

Bảng 3.17: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Ấn Độ - Việt Nam giai đoạn 2000 – 2015 86

Bảng 3.18 Chỉ số LPI toàn cầu và xếp hạng của các quốc gia ASEAN năm 2016 90

Bảng 3.19 Chỉ số kết nối tàu biển quốc gia (LSCI) 2006 – 2016 93

Bảng 3.20: Giao thương qua biên giới ASEAN và một số nước năm 2016 95

Bảng 3.21: Dòng vốn FDI vào Ấn Độ giai đoạn 2000 – 2015 100

Bảng 3.22: Dòng vốn FDI vào ASEAN giai đoạn 2000 – 2015 108

Bảng 3.23: Dòng vốn FDI vào thị trường ASEAN từ các đối tác trong giai đoạn 2000 – 2015 112

Bảng 3.24: Dòng vốn FDI vào Ấn Độ từ ASEAN và thế giới 114

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Định lý Heckscher – Ohlin 23

Hình 2.2: Mối quan hệ giữa các yếu tố xác định lợi thế cạnh tranh quốc gia 26

Hình 2.3: Mô hình hấp dẫn trong thương mại quốc tế 32

Hình 2.4: Mô hình về lợi ích cận biên 34

Hình 2.5: Thực trạng thương mại giữa Ấn Độ với các khu vực giai đoạn 2008 – 2015 42

Hình 3.1: Cơ cấu xuất khẩu của Ấn Độ sang ASEAN 63

Hình 3.2: Cơ cấu nhập khẩu của Ấn Độ từ ASEAN 63

Hình 3.3: Cơ cấu thị trường xuất khẩu của ASEAN 2004 64

Hình 3.4: Cơ cấu thị trường xuất khẩu của ASEAN 2014 64

Hình 3.5: Cơ cấu thị trường nhập khẩu của ASEAN 2004 64

Hình 3.6: Cơ cấu thị trường nhập khẩu của ASEAN 2014 64

Hình 3.7: Dòng chảy FDI vào Ấn Độ giai đoạn 2000 - 2015 101

Hình 3.8: Thực trạng dòng chảy FDI của ASEAN 6 trong giai đoạn 2000 - 2015 110

Hình 3.9: Cơ cấu thị phần đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực ASEAN 113

Hình 4.1: Cơ cấu hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) ……… 138

Hộp 3.1: Đánh giá quan hệ đầu tư Ấn Độ - ASEAN giai đoạn 2000- 2015 và xu hướng đến năm 2020 115

Hộp 4.1: Đánh giá tiềm năng thương mại Ấn Độ - ASEAN 132

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, bên cạnh xu hướng toàn cầu hoá của thế giới thì kinh tế châu Á đang tăng trưởng, chính trị châu Á đang chuyển động, xã hội châu Á đang hội nhập, các quốc gia châu Á đang xác định lại quan hệ với nhau để cùng nhau phát triển Điều này dẫn đến sự ra đời của hàng loạt các tổ chức kinh tế, các khu vực mậu dịch tự do, thị trường chung, Các tổ chức này xuất hiện ngày càng nhiều và chi phối mạnh mẽ đến nền kinh tế các nước cũng như toàn cầu Cùng xu hướng phát triển đó, Ấn Độ và các quốc gia ASEAN đã thể hiện mong muốn xây dựng và phát triển quan hệ kinh tế từ Hội nghị các quốc gia châu Á tại New Delhi tháng 3/1947 Tuy nhiên, phải đến những năm đầu của thế kỉ 21 thì mong muốn đó mới trở thành hiện thực khi Hiệp định khung giữa ASEAN - Ấn Độ về Hợp tác kinh tế toàn diện được kí kết tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN - Ấn Độ lần thứ hai năm 2003

Khu vực mậu dịch tự do Ấn Độ - ASEAN là một vùng rộng lớn, một khu vực mậu dịch với thị trường hơn 1,88 tỷ dân, với tổng GDP gần 4.900 tỷ USD (2015) Trong nhiều thập kỷ, thông qua chính sách hướng Đông của mình, Ấn Độ đã tập

trung vào mối quan hệ với các nước nước láng giềng phía Đông Chính sách “hành

động hướng Đông” nhằm thay thế cho “chính sách hướng Đông” thể hiện mong

muốn một cách mạnh mẽ và mãnh liệt hơn bao giờ hết của chính quyền Modi hiện tại là nâng tầm mối quan hệ với các nước phía Đông bao gồm cả khu vực ASEAN

và Đông Bắc Á Các động lực của chính sách “hành động hướng Đông” được phản

ánh qua những mục tiêu của Ấn Độ trong mối quan hệ với ASEAN: mong muốn phát triển thị trường, nhu cầu đa dạng hoá nguồn cung năng lượng, quyết tâm cạnh tranh ảnh hưởng với Trung Quốc Về phía các quốc gia ASEAN, việc phát triển quan hệ kinh tế với Ấn Độ góp phần thúc đẩy kinh tế song phương đồng thời tạo cục diện quốc tế hoá khu vực Biển Đông nhằm tạo sự ổn định địa chính trị và an ninh trong khu vực

Với những lợi ích mang tính chiến lược mà hai bên có thể nhận được trong việc thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa Ấn Độ và ASEAN ngày càng phát triển thì vấn

đề nghiên cứu thực trạng quan hệ kinh tế của hai bên trong giai đoạn từ đầu thế kỉ

21 đến nay là một nhu cầu cấp thiết Tuy nhiên, cho tới nay, mặc dù đã có những đề tài nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau về mối quan hệ giữa Ấn Độ - ASEAN,

Trang 14

nhưng một nghiên cứu và đánh giá mang tính tổng quát về quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay là một vấn đề tương đối mới mẻ, chưa được nghiên cứu và giải quyết thấu đáo

Bên cạnh đó, nhìn từ phía các quốc gia ASEAN, việc nghiên cứu về khu vực thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ hiện nay cũng còn nhiều hạn chế Đồng thời, Hiệp định về dịch vụ và Hiệp định về đầu tư giữa Ấn Độ - ASEAN được kí dựa trên Hiệp định Khung mới có hiệu lực từ ngày 1/7/2015 và Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) mới được thành lập vào tháng 12/2015 Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề

tài “Quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay và xu hướng phát triển” làm luận án tiến sĩ

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Trong khuôn khổ một luận án, khi tiếp cận với đề tài này, tôi đặt ra các mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

Mục đích luận án: Nghiên cứu một cách có hệ thống thực trạng quan hệ kinh

tế Ấn Độ - ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay và xu hướng phát triển

Nhiệm vụ luận án:

Thứ nhất, thông qua việc khái quát lại những khái niệm về quan hệ kinh tế

quốc tế, thương mại quốc tế, chính sách thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế và trình bày những lý thuyết về quan hệ thương mại quốc tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm luận giải các cơ sở thực tiễn cho sự phát triển quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN

Thứ hai, phân tích thực trạng quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN từ đầu thế kỷ

21 đến nay dựa trên hai nội dung cơ bản là quan hệ thương mại hàng hoá, quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài từ đó đưa ra các nhận định, đánh giá về thực trạng quan

hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN

Thứ ba, phân tích, đánh giá các cơ hội, thách thức, xu hướng phát triển của

quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN trong tương lai nhằm khẳng định vị trí, vai trò và lợi ích của mối quan hệ này Từ đó, đưa ra một số gợi ý giúp Việt Nam đạt được những lợi ích từ mối quan hệ này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tuợng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quan hệ kinh tế Ấn

Độ - ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay và xu hướng phát triển Trong đó, tác giả luận án chủ yếu nhìn từ góc độ của Ấn Độ

Trang 15

Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Nội hàm của quan hệ

kinh tế quốc tế rất rộng, bao gồm Thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, di chuyển quốc tế về hàng hoá sức lao động, quan hệ quốc tế về khoa học và công nghệ, di chuyển quốc tế về tiền tệ, Trong luận án này, nghiên cứu sinh tập trung phân tích thực trạng quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN dựa trên 2 trụ cột chính là thương mại

và đầu tư trong giai đoạn từ đầu thế kỉ 21 đến nay Tuy nhiên, do thực tiễn mối quan

hệ này chưa phát triển đến mức độ tương xứng với tiềm năng của hai bên nên tác giả tập trung vào mối quan hệ thương mại hàng hoá Ấn Độ - ASEAN, quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa Ấn Độ - ASEAN, từ đó đưa ra các đánh giá về thực trạng quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN

Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Luận án tập trung vào nghiên cứu quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN giai đoạn 2000 - 2015, đồng thời mở rộng nghiên cứu xu hướng phát triển đến năm 2025 của quan hệ này nhằm đánh giá và gợi ý những giải pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN

Phạm vi nghiên cứu về không gian: Luận án nghiên cứu chủ yếu tập trung vào

Ấn Độ, các quốc gia trong khối ASEAN

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Cách tiếp cận nghiên cứu

- Tiếp cận từ góc độ lợi ích, tức là nghiên cứu mối quan hệ này trên cơ sở xem xét lợi ích mà nó mang lại cho cả Ấn Độ và ASEAN Nếu xét về kinh tế, có thể lợi ích kinh tế trong ngắn hạn không thật rõ rệt, không thật nhiều nhưng nó mang lại lợi ích chính trị to lớn và đó là một trong những động lực thúc đẩy quan hệ kinh tế của

Ấn Độ - ASEAN Về lâu dài, quan hệ này sẽ mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho cả hai bên

- Tiếp cận hệ thống tức là không xem xét mối quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN 1 cách biệt lập mà đặt nó trong bối cảnh với các mối quan hệ khác (chính trị, văn hoá, ) và trong xu thế chung của khu vực, thế giới (khu vực hoá, toàn cầu hoá, chủ nghĩa bảo hộ, )

4.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được sử dụng xuyên suốt luận án để nghiên cứu, đánh giá quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN giai đoạn

2000 – 2015 Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như sau:

Trang 16

- Phương pháp thu thập thông tin: Thông tin phục vụ nghiên cứu được thu thập qua các sách giáo trình, tạp chí chuyên ngành, số liệu thống kê của Ấn Độ, các quốc gia ASEAN và các tổ chức quốc tế, các thư viện Quốc gia, thư viện một số trường đại học ; từ kết quả nghiên cứu, công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, kết hợp kết quả quan sát, tổng hợp và xử lý số liệu thứ cấp của tác giả

- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia (chuyên sâu): Được tác giả sử dụng để

phỏng vấn, trao đổi, thảo luận với một số chuyên gia nghiên cứu về Ấn Độ và ASEAN về các vấn đề liên quan đến quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN để từ những góc nhìn khác nhau góp phần giúp đề tài có những nhận định, đánh giá chính xác hơn về quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN

- Phương pháp thống kê: Phương pháp này sử dụng để xem xét mối tương quan giữa các chỉ số kinh tế, nhất là trong mối quan hệ thương mại và đầu tư trực tiếp

- Phương pháp mô tả: Phương pháp này được sử dụng để mô tả diễn biến của các mốc hội nhập kinh tế, diễn biến của quan hệ kinh tế giữa Ấn Độ và ASEAN, mô

tả diễn biến của bối cảnh quốc tế,

- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng nhằm mục đích so sánh các mốc quan hệ giữa Ấn Độ với các quốc gia ASEAN, sự thay đổi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, giá trị kim ngạch thương mại và đầu tư song phương,

- Phương pháp diễn dịch: Phương pháp này được sử dụng khi nghiên cứu lý thuyết về quan hệ kinh tế quốc tế, các công trình nghiên cứu có liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án

- Phương pháp quy nạp: Từ những bằng chứng về thực trạng quan hệ kinh tế

Ấn Độ - ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đên nay, sự thay đổi trong chính sách thương mại của hai bên, phương pháp này được sử dụng để gợi ý một số giải pháp giúp Việt Nam có những chính sách phù hợp trong mối quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Luận án là công trình nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về quan hệ kinh

tế Ấn Độ - ASEAN trong giai đoạn 2000 – 2015

- Luận án đã phân tích và chỉ ra được những kết quả và những hạn chế trong quan hệ kinh tế của hai đối tác này nhất là trên các lĩnh vực thương mại hàng hoá và đầu tư trực tiếp Đây là hai lĩnh vực được cả hai phía đánh giá là hết sức quan trọng song trên thực tế sự gia tăng của tốc độ và quy mô của hai loại hình hợp tác này không tương xứng với tiềm lực và nhu cầu của cả Ấn Độ và ASEAN

Trang 17

- Luận án góp phần cung cấp nguồn tư liệu đáng tin cậy cho việc nghiên cứu

và hoạch định chính sách của Việt Nam đối với Ấn Độ và ASEAN Đặc biệt là khi Việt Nam tham gia sâu hơn vào Hiệp định Thương mại tự do Ấn Độ - ASEAN

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN trên hai trụ cột chính là thương mại hàng hoá và đầu tư, đồng thời đưa ra những kết luận khoa học về về mối quan hệ này thông qua cách tiếp cận hệ thống và tiếp cận từ góc độ lợi ích Luận án làm sáng tỏ một số nội dung trong quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN giai đoạn 2000 – 2015 và xu hướng phát triển quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN trong tương lai gần

- Công trình “Quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN từ đầu thế kỉ 21 đến nay và xu

hướng phát triển” là tư liệu tham khảo cho những ai quan tâm tới hoạt động thương

mại quốc tế, nhất là thương mại quốc tế giữa Ấn Độ và ASEAN

- Những nội dung mà luận án đưa ra là một thông tin mang tính tham khảo cho các nhà nghiên cứu về quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN Các số liệu của công trình được trích dẫn nguồn rõ ràng, có độ tin cậy cao, hi vọng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích về lĩnh vực kinh tế quốc tế

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, cơ cấu của Luận án được chia làm 4 chương với những nội dung như sau:

Chương I Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến quan hệ kinh tế Ấn

Trang 18

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

QUAN HỆ KINH TẾ ẤN ĐỘ - ASEAN 1.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Trần Thị Lý (cb) (2002), “Sự điều chỉnh chính sách của Cộng hoà Ấn Độ từ

1991 đến 2000”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội [2] Cuốn sách nhằm giới thiệu với

bạn đọc bối cảnh cũng như quá trình điều chỉnh chính sách của Ấn Độ trong giai đoạn 1991 – 2000 Sự sụp đổ của Liên bang Xô viết và các nước Đông Âu đã làm cho Ấn Độ mất đi nguồn đào tạo nhân lực, nguồn viện trợ chính, cùng các thị trường xuất khẩu quan trọng Thêm vào đó, còn rất nhiều nguyên nhân khác (ảnh hưởng của cuộc chiến tranh vùng Vịnh, tình hình chính trị bất ổn tại khu vực Nam

Á, khó khăn xuất phát từ nội tại của Ấn Độ, ) đã làm cho Ấn Độ phải có một sự điều chỉnh mạnh mẽ trong chính sách đối ngoại Tác giả đã đi sâu nghiên cứu, phân

tích chính sách “Nhìn về hướng Đông” (1992) từ thời Thủ tướng Narasimha Rao

trong bối cảnh Ấn Độ bắt đầu tiến hành công cuộc cải cách, mở cửa mạnh mẽ khi môi trường quốc tế có nhiều thay đổi sau Chiến tranh lạnh Khu vực Đông Nam Á được Ấn Độ quan tâm đặc biệt với vị trí địa chiến lược, địa chính trị quan trọng trong quan hệ quốc tế Sự mô tả và phân tích khá chi tiết của tác giả trong sự điều chỉnh chính sách của Ấn Độ góp phần cho những nghiên cứu sau hiểu rõ phần nào cách nhìn mới của Ấn Độ về khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng trong giai đoạn 1991 – 2000

Trần Đình Thiên (2005), “Liên kết kinh tế ASEAN: vấn đề và triển vọng”, Nxb Thế giới [3] Cuốn sách là kết quả của việc thực hiện đề tài nhánh “Liên kết

kinh tế ASEAN trong đầu thập niên của thế kỷ XX” Tác giả đã nhận định rằng,

ASEAN đã và đang có những cơ hội lớn để bứt phá, nhưng đồng thời cũng đang đứng trước những thách thức rất lớn Các quốc gia ASEAN riêng biệt chắc chắn sẽ tiếp tục đi lên, thậm chí nhiều quốc gia trong đó sẽ lập kỳ tích tăng trưởng và phát triển Tuy nhiên, tương lai của ASEAN với tư cách là một khối liên kết sẽ như thế nào? Đối với Việt Nam, tương lai của ASEAN là một vấn đề hệ trọng Việt Nam đang nỗ lực hết sức cho một ASEAN phát triển và hùng mạnh Nỗ lực này dựa trên

cơ sở thực tiễn và lịch sử Tác giả tập trung nghiên cứu ba nội dung chính: Thứ nhất

là những vấn đề hiện tại của liên kết khu vực, đánh giá khả năng lợi thế phát triển

và sức cạnh tranh của ASEAN; thứ hai là bối cảnh mới của sự liên kết kinh tế ASEAN bao gồm toàn cầu hoá kinh tế và xu hướng phát triển của châu Á và thứ ba

Trang 19

là đánh giá tính khả thi và triển vọng liên kết kinh tế ASEAN trong thập niên đầu

của thế kỷ XXI Tác giả đã cố gắng làm sáng tỏ cái gọi là “thực trạng” liên kết

kinh tế ASEAN, lý giải một số xu hướng lớn đang diễn ra tuy nhiên, việc dự báo

cơ chế hình thành liên kết ASEAN còn chưa được cụ thể

Ngô Xuân Bình (cb) (2013), “Những vấn đề kinh tế - chính trị cơ bản của Ấn

Độ thập niên đầu thế kỉ XXI và dự báo xu hướng đến năm 2020”, Nxb Từ Điển

Bách Khoa [7] Cuốn sách miêu tả khá đầy đủ các nội dung liên quan về vấn đề kinh tế - chính trị của Ấn Độ trong những năm gần đây, đồng thời đưa ra một cái nhìn toàn diện, sâu sắc về thực trạng phát triển của Ấn Độ, đánh giá những tác động tích cực và tiêu cực của quốc gia này đến sự phát triển chung của thế giới trong đó

có Việt Nam

Võ Xuân Vinh (2013),“ASEAN trong chính sách hướng đông của Ấn Độ”,

Nxb Khoa học xã hội [8] Trong tác phẩm này, tác giả đã tổng quan lại chính sách hướng đông của Ấn Độ, đánh giá vai trò của ASEAN trong chính sách hướng đông

và phân tích tác động của chính sách đối với quan hệ Ấn Độ - ASEAN trong bối cảnh hiện nay

Nguyễn Cảnh Huệ (2007) [4], “Những nhân tố chính chi phối sự phát triển

của quan hệ ASEAN - Ấn Độ từ đầu thập niên 90 đến nay”, Kỷ yếu Hội thảo khoa

học: ASEAN – 40 năm: Thành tựu và triển vọng được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh Bài viết đã khái quát những yếu tố khách quan cũng như chủ quan chi phối mối quan hệ giữa hai bên, đồng thời cũng đánh giá lại những thành tựu hợp tác trên các khía cạnh chính trị, kinh tế và chỉ ra triển vọng của quan hệ giữa ASEAN - Ấn

Độ trong thời gian tới

Nguyễn Cảnh Huệ (2009), “Quan hệ Ấn Độ - ASEAN thời kỳ sau Chiến tranh

lạnh”, Kỷ yếu hội thảo quốc tế với chủ đề “Mối quan hệ Ấn Độ - Đông Nam Á: Sự cam kết chiến lược hay sự hội nhập khu vực”, Trường Đại học Khoa học xã hội và

nhân văn, thành phố Hồ Chí Minh.[5] Trong bài viết của mình, tác giả đồng ý với quan điểm ASEAN là một trọng tâm trong chính sách hướng Đông của Ấn Độ và đánh giá việc Ấn Độ tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực với ASEAN thời kỳ sau Chiến tranh lạnh Quá trình phát triển quan hệ Ấn Độ - ASEAN được tác giả đề cập một cách chi tiết và đánh giá đúng thực trạng quan hệ Ấn Độ - ASEAN trên các lĩnh vực chính trị - kinh tế, an ninh, khoa học – công nghệ, y tế, văn hoá Tuy nhiên, việc gợi ý cho việc phát triển quan hệ này trong bối cảnh hội nhập khu vực còn chưa được cụ thể hoá

Trang 20

Trần Nam Tiến (2016), “Ấn Độ với Đông Nam Á trong bối cảnh quốc tế mới”,

Nhà xuất bản Văn hoá – Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh [6] Trong cuốn sách này, tác giả viết về việc chuyển trọng tâm chính sách hướng Đông sang hành động hướng Đông một cách mạnh mẽ của Ấn Độ ở Đông Á với việc xác định Đông Nam

Á là trọng tâm Có thể nói, động thái này là một bước ngoặt mới trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ hiện nay và trong tương lai Chính sách này không chỉ nhằm vào lợi ích kinh tế đơn thuần mà còn hướng đến lợi ích chính trị, an ninh nhằm khẳng định vị thế cường quốc trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của Ấn

Độ Tiếng nói của Ấn Độ trong khu vực Ấn Độ Dương – Đông Nam Á chắc chắn sẽ không ngừng được nâng lên rõ rệt mà còn tạo lập được thế cân bằng trong cấu trúc

an ninh khu vực Châu Á Trong tổng thể quan hệ Ấn Độ - ASEAN thì quan hệ Ấn

Độ - Việt Nam là một mối quan hệ đặc biệt bởi những cơ sở thuận lợi và những ý nghĩa mang tính thông điệp trong sự kết nối đối với khu vực Trong bối cảnh mà

“chính sách hướng Đông” đã có bước tiến mạnh mẽ và chuyển sang giai đoạn mới

là “hành động phía Đông” thì Việt Nam càng đóng vai trò quan trọng trong ưu tiên chiến lược của Ấn Độ tại Đông Nam Á Khu lựa chọn Việt Nam, Ấn Độ cho thấy mình đang là một nhân tố quan trọng tại Châu Á – Thái Bình Dương Đặc biệt khi Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng tại Biển Đông thì Ấn Độ cũng mong muốn thể hiện vai trò của mình cùng với những quốc gia có đồng quan điểm về an ninh, hợp tác tại Biển Đông như Việt Nam

Luận án tiến sĩ của Hoàng Thị Điệp (Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã

hội Việt Nam) hoàn thành năm 2006 với đề tài “Quá trình phát triển quan hệ Việt

Nam - Ấn Độ từ năm 1986 đến năm 2004” [1] Luận án đã hệ thống lại một cách

khá chi tiết, toàn diện về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2004 Một giai đoạn được xem là sơ khai trong nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ Bên cạnh đó, tác giả cũng đã cung cấp những cứ liệu và luận chứng thuyết phục để khẳng định mối quan hệ Việt Nam - Ấn Độ được xây đắp trên cơ sở

có sự thống nhất giữa lãnh đạo hai bên về các mặt văn hoá, lịch sử

Tarun Das Colette Mathur Frank – Jurgen Richter, “Ấn Độ - sự trỗi dậy của

một cường quốc”, người dịch: Kiến Văn – Huyền Trang (2013), Nhà xuất bản Từ

điển bách khoa, Hà Nội [9] Cuốn sách này đã khái quát những thành tựu đáng kinh ngạc của nền kinh tế Ấn Độ trong thời gian qua trên nhiều lĩnh vực Trước đây, khi nói đến Ấn Độ, chúng ta đã quen với một Ấn Độ có tỷ lệ tăng trưởng thấp, đầy những rào cản đối với doanh nghiệp và hoạt động thương mại quốc tế Tuy nhiên,

Trang 21

sau quá trình tự do hoá, chúng ta đã được chứng kiến sự tăng tốc một cách mạnh mẽ của Ấn Độ, đưa Ấn Độ thành một trong những cường quốc trên thế giới Những số liệu và phân tích sơ lược đã cho thấy sự phát triển kinh tế và những thay đổi ấn tượng của Ấn Độ theo xu hướng toàn cầu hoá Nội dung cuốn sách gồm 10 trụ cột chính, đó là: cải cách kinh tế, cải cách tài chính, địa chính trị, sản xuất, thương mại

và đầu tư nước ngoài, năng lượng, công nghệ thông tin, nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, các vấn đề xã hội

Ngô Xuân Bình (cb) (2013), “Nghiên cứu Ấn Độ tại Việt Nam năm 2013”,

Nhà xuất bản Khoa học xã hội [38] Trong công trình này, tác giả đã tập hợp những bài nghiên cứu của các học giả Việt Nam trong năm 2013 về Ấn Độ và quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trên tất cả các lĩnh vực Với nội dung gồm 4 phần: Phần một tập trung

vào những vấn đề “Kinh tế và Hội nhập” với các nghiên cứu về vấn đề kinh tế của

Ấn Độ, quan hệ kinh tế của Ấn Độ với một số quốc gia và những liên quan đến Việt

Nam; Phần hai tập trung vào những vấn đề “Chính trị và An ninh” với các nghiên

cứu về Hiến pháp Ấn Độ và sự biến đổi tư tưởng chính trị ở Ấn Độ; Phần ba tập

trung vào những vấn đề “Văn hoá – Xã hội” ở Ấn Độ với những bài viết đa dạng từ

sự ảnh hưởng về văn hoá và tôn giáo của Ấn Độ đến những vấn đề môi trường sống

và giáo dục; Phần bốn tập trung vào “quan hệ Ấn Độ với các nước và Việt Nam”, tác giả đã phần nào giới thiệu cho người đọc những nội dung cơ bản nhất về một đất nước

có bề dày lịch sử như Ấn Độ

Phạm Bình Minh (cb) (2012), “Cục diện thế giới đến 2020”, Nhà xuất bản

chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội [37] Cục diện thế giới – bức tranh toàn cảnh về tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, của thế giới đang có nhiều biến động Cuộc chạy đua về khoa học – công nghệ, sự hồi sinh của Nga, sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, Ấn Độ và nhiều quốc gia mới nổi đã dẫn đến sự dịch chuyển tương quan sức mạnh toàn cầu Trong tác phẩm này, tác giả tập trung phân tích về cục diện thế giới, cục diện khu vực, những nhân tố tác động và xu hướng phát triển của nó đến năm 2020; phân tích về cục diện khu vực châu Á – Thái Bình Dương; đưa ra một số dự báo về quan hệ giữa các nước lớn (Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Nga) đến năm 2020,

Ngô Xuân Bình (cb) (2013), “Việt Nam - Ấn Độ và Tây Nam Á: Những mối

liên hệ trong lịch sử và hiện tại”, Nxb Từ điển Bách khoa [10] Cuốn sách tập trung

ở ba nội dung chính, đó là Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, quan hệ Việt Nam – Tây Nam Á và quan hệ Ấn Độ - Tây Nam Á Mục đích của cuốn sách là khúc mở đầu

Trang 22

cho những hoạt động hợp tác và nghiên cứu tiếp theo về khu vực Ấn Độ và Tây Nam Á, góp phần tích cực đẩy mạnh hợp tác trên cách lĩnh vực nhằm xây dựng một Châu Á năng động, hoà bình, hợp tác và phát triển

Đặng Đình Quý, Nguyễn Minh Ngọc (2013),“Biển đông: Quản lý tranh chấp

và định hướng giải pháp”, Nxb Thế giới [53] Trong cuốn sách này, tác giả chia

thành 5 chương: Chương 1: Biển Đông và các vấn đề địa chính trị đánh giá vai trò của biển Đông dưới góc độ chiến lược và tính toán địa chính trị của các bên; Chương 2: Chính trị nội bộ và chính sách của các bên ở biển Đông nghiên cứu các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến quyết sách của các nước về vấn đề Biển Đông; Chương 3: Quân sự hóa và hệ lụy đối với biển Đông đánh giá xu thế hiện đại hóa quân sự ở khu vực và tác động đến tranh chấp biển Đông; Chương 4: Lợi ích và chính sách của các nước liên quan ngoài khu vực Biển Đông tập trung nghiên cứu các chủ thể có lợi ích ngày càng lớn ở biển Đông như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga

và Hàn Quốc; Chương 5: Biển Đông trong quan hệ Mỹ - ASEAN - Trung Quốc xem xét những tương tác chính sách giữa Mỹ, ASEAN và Trung Quốc, những chủ thể được xem là quan trọng nhất trong vấn đề biển Đông Nhìn chung, công trình này đã đưa ra những nhận định đa chiều, đánh giá về diễn biến tình hình biển Đông; các vấn đề pháp lý quốc tế ở Biển Đông; điều kiện, thách thức, cơ hội cho việc hợp tác, quản lý và giải quyết tranh chấp trên Biển Đông trong bối cảnh mới

Ngoài ra, thông tin về quan hệ Ấn Độ - ASEAN có thể tìm thấy trong một

số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: [13], [19], [22], [24], [39], [45], …

1.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước

Prabir De (cb) (2014) chủ biên xuất bản cuốn sách “ASEAN – INDIA

deepening economic partnership in Mekong region” [54] Trong công trình này, tác

giả đã tập trung làm rõ cơ hội, thách thức hợp tác giữa Ấn Độ và các quốc gia thuộc khu vực Mekong trong bối cảnh mới Bên cạnh đó, tác giả còn tổng hợp, khái quát thực trạng hợp tác kinh tế, đầu tư, kim ngạch thương mại giữa hai bên, gợi mở những vấn đề, giải pháp để tăng cường và đẩy mạnh hơn nữa mối quan hệ kinh tế trong thời gian tới

Nagesh Kumar, Rahul Sen, Mukul Asher (2006) đã xuất bản cuốn sách “India

– ASEAN: Economic Relations meeting the challenges of globalization” [55] Trong

tác phẩm này, nhóm tác giả đã tổng quan lại quá trình hội nhập toàn cầu hoá của Ấn

Độ và ASEAN thời gian qua, đồng thời nhận định rằng nền kinh tế của Ấn Độ và

Trang 23

các quốc gia trong khối ASEAN là thị trường lớn và năng động Hai bên đang tiến hành cải cách để làm sâu sắc hơn quá trình hội nhập của mình trong và ngoài khu vực Quan hệ đối tác Ấn Độ - ASEAN được kỳ vọng không chỉ gói gọn trong khía cạnh kinh tế mà bao hàm những vấn đề xoay quanh vị thế của quốc gia Tác giả đã đánh giá thế mạnh cũng như hạn chế của Ấn Độ và ASEAN, cơ hội cũng như thách thức trong vấn đề hội nhập kinh tế, các vấn đề liên quan đến tự do hóa thương mại trên cả hai bình diện song phương và đa phương đồng thời cũng đề cập đến tiềm năng hợp tác tiểu vùng và các tác động đến an ninh chính trị từ quan hệ kinh tế Tuy nhiên, việc đưa ra các kiến nghị cũng như giải pháp nhằm tận dụng những cơ hội cũng như hạn chế thách thức trong bối cảnh toàn cầu hoá nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN còn chưa được cụ thể

Trong nghiên cứu của Mohit Anand (2009) về “India – ASEAN Relations –

Analysing Regional Implications” [56], tác giả đã nêu bật quá trình xây dựng mối

quan hệ giữa Ấn Độ và ASEAN và xu hướng tác động của khu vực đến mối quan

hệ này Mối quan hệ giữa Ấn Độ - ASEAN phát triển dựa trên nền tảng chủ yếu là quan hệ kinh tế và trong bối cảnh khu vực có những biểu hiện chuyển dịch địa chính trị mới sẽ tác động đến quan hệ này theo chiều hướng nào Báo cáo đã cố gắng cập nhật những thông tin, phân tích động thái ảnh hưởng để từ đó gợi ý những chính sách đối ngoại phù hợp trong bối cảnh mới

Trong cuốn sách được tái bản và bổ sung lần thứ 6 của V N Khanna (2010),

“Foreign Policy of India” [61] đã cập nhật một cách đầy đủ chính sách đối ngoại và

quan hệ quốc tế của Ấn Độ Chính sách đối ngoại của Ấn Độ là một cuốn sách bao trùm tốt nhất cho sinh viên đại học quan hệ quốc tế và khoa học chính trị Cuốn sách bao gồm các chương về chính sách đối ngoại và lợi ích quốc gia, các yếu tố hình thành chính sách đối ngoại của Ấn Độ, các nguyên tắc và mục tiêu của chính sách đối ngoại của Ấn Độ, Ấn Độ và các nước láng giềng, Ấn Độ và Liên Hợp Quốc Ngoài ra, tác giả dành nhiều phần để phân tích những yếu tố tác động đến mối quan hệ cũng như sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ đối với ASEAN và định hướng phát triển quan hệ kinh tế giữa hai bên

Sirpa Tenhunen (2012) đã xuất bản cuốn sách “An Introduction to Changing

India: Culture, Politics and Development” [57] cung cấp một cái nhìn toàn diện về

những thay đổi nhanh chóng xảy ra ở Ấn Độ, đặc biệt là trong các lĩnh vực văn hoá, chính trị, kinh tế và công nghệ, vấn đề môi trường, dân số và giới tính Sau khi tiến hành nghiên cứu nhân học về quan hệ họ hàng, các vấn đề giới tính, chính trị, giai

Trang 24

cấp và đẳng cấp, vấn đề dân số và sự phát triển của công nghệ thông tin ở Ấn Độ từ những năm 1990, các tác giả đã vẽ lên một bức tranh chân thực và sống động về xã hội của Ấn Độ

Cuốn sách Thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược ASEAN - Ấn Độ (Dynamics of ASEAN – India strategic partnership) tổng hợp những bài nghiên cứu tại hội thảo bàn tròn lần thứ hai của mạng lưới các chuyên gia tư vấn chính sách ASEAN – India (ASEAN - India Network of Think - Tanks) được tổ chức vào ngày 10/9/2013 tại Vientiane, Lào [59] Các bài viết tập trung phân tích đánh giá về thực trạng hợp tác kinh tế giữa ASEAN - Ấn Độ và đề xuất các giải pháp kết nối, hợp tác phát triển văn hoá, xã hội Bên cạnh đó còn gợi mở những ý tưởng nhằm đẩy mạnh quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai bên

Cuốn sách ASEAN - Ấn Độ: Hội nhập và phát triển (ASEAN – India: Integration and development) tổng hợp những bài nghiên cứu tại hội thảo bàn tròn lần thứ ba của mạng lưới các chuyên gia tư vấn chính sách ASEAN – India (ASEAN

- INDIA Network of Think - Tanks) được tổ chức vào ngày 25 – 26/8/2014 tại Hà Nội [60] Cuốn sách tập trung phân tích, đánh giá về thực trạng hợp tác thương mại, đầu tư trong khu vực Đồng thời, đề xuất các giải pháp kết nối, khung chính sách mềm nhằm tạo môi trường kinh doanh hấp dẫn, đẩy mạnh việc kí kết các hiệp định hợp tác trên tất cả các lĩnh vực giữa ASEAN - Ấn Độ

Vishal Sarin (2016) đã xuất bản cuốn sách “India - ASEAN Trade and

Economic Relations” [58] nói về sự chuyển hướng trong vấn đề đối ngoại của Ấn

Độ với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) bắt đầu áp dụng Chính sách Hướng Đông năm 1991 ASEAN có 10 quốc gia thành viên, cụ thể là Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan

và Việt Nam Ấn Độ trở thành đối tác đối thoại của ASEAN vào năm 1992 và đối tác đối thoại đầy đủ vào năm 1996 Trải qua quá trình dài duy trì và phát triển, Ấn

Độ và ASEAN đã ký Hiệp định Thương mại Hàng hóa thuộc Hiệp định Khung đối tác kinh tế toàn diện song phương (2009) Hiệp định Thương mại Hàng hóa cung cấp cơ sở cho việc loại bỏ trên 80% thuế quan xuất nhập khẩu của danh mục hàng hoá áp thuế theo lộ trình đến năm 2019 Tác giả cũng phân tích, đánh giá tiềm năng hiện thực hoá Hiệp định Dịch vụ và Hiệp định đầu tư được công bố trong Hội nghị cấp cao kỷ niệm ASEAN-Ấn Độ (2012) tại New Delhi và được kí chính thức năm

2013 Cuốn sách này cung cấp một góc nhìn khá toàn diện về thương mại và quan

hệ kinh tế giữa Ấn Độ và ASEAN

Trang 25

Luận án tiến sĩ của Sapna Hooda (2011) về “A Study of FDI and Indian

economy” [62] nghiên cứu quán trình phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của Ấn

Độ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế toàn cầu và tác động của FDI đến nền kinh tế Ấn Độ giai đoạn 1991 – 2008 Sapna đã dùng phương pháp bình phương tối thiểu thông thường (OLS)1 để giải quyết mục tiêu nghiên cứu Các kết quả thực nghiệm cho thấy tằng đầu tư trực tiếp nước ngoài là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Ấn Độ

Trong một nghiên cứu của Balasubramanyam V N Sapsford David (2007)

về chủ đề “Does India need a lot more FDI”, tác giả tập trung so sánh dòng vốn

đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Ấn Độ và Trung Quốc, nhận thấy rằng FDI vào Ấn

Độ chỉ bằng 1/10 của Trung Quốc Báo cáo cũng tìm ra nguyên nhân của việc vì sao

Ấn Độ để mất lượng lớn FDI Một trong những nguyên nhân chính là do chính sách

tự cường của Ấn Độ, muốn dùng nguồn lực nội tại để phát triển các ngành sản xuất, dịch vụ

Trong bài báo của Rahul Sen, Mukul G Asher and Ramkishen S Rajan

(2004) [64] về “ASEAN-India Economic Relations: Current Status and Future

Prospects” có xem xét tương lai của mối quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN Bài viết

cung cấp một cái nhìn tổng quan về quan hệ kinh tế song phương thông qua hiệp định thương mại tự do của ASEAN - Ấn Độ và các khía cạnh khác nhau của dòng chảy thương mại quốc tế giữa ASEAN và Ấn Độ Nền móng cho việc tăng cường quan hệ kinh tế đã được củng cố thông qua chương trình ký kết thành lập Hiệp định khung cần thiết để thiết lập FTA Sự tin tưởng lẫn nhau là một yếu tố quan trọng trong việc duy trì sự năng động của mối quan hệ kinh tế mới nổi này

Chandrima Sikdar, Biswajit Nag (2011) công bố nghiên cứu “Impact of

India-ASEAN Free Trade Agreement: A cross-country analysis using applied general equilibrium modelling” [65] Bằng cách sử dụng mô hình cân bằng tổng

thể2, nhóm tác giả đã đã phân tích tác động của các hiệp định thương mại với Ấn

Độ và các nước thành viên ASEAN Nghiên cứu áp dụng dự án phân tích thương

1 OLS viết tắt của Ordinary Least Squares được gọi là phương pháp bình phương tối thiểu thông thường trong kinh tế lượng dùng để ước lượng mối tương quan giữa các biến khác nhau trong nền kinh tế.

2 Lý thuyết cân bằng tổng thể là một nhánh của kinh tế học, được xem thuộc kinh tế vi mô Lý thuyết này tìm cách giải thích cung – cầu và giá của tổng thể một nền kinh tế với rất nhiều mặt hàng Lý thuyết này chứng minh rằng giá cân bằng của các mặt hàng tồn tại và khi giá thị trường của tất cả các mặt hàng đạt tới trạng thái cân bằng thì nền kinh tế đó đạt tới cân bằng tổng thể.

Trang 26

mại toàn cầu (GTAP) đang được ứng dụng phổ biển để đánh giá chính sách thương mại quốc tế của quốc gia, hiệp định thương mại tự do Mô hình cân bằng tổng thể (CGE) với hệ thống cơ sở dữ liệu được cập nhật và tính toán trong việc định dạng nhóm hàng và vùng lãnh thổ Đây là một công cụ phân tích để hiểu rõ sự năng động của các biến kinh tế lớn trong một môi trường mô phỏng Sử dụng cơ sở dữ liệu này, một số mô phỏng được thực hiện trong nghiên cứu này, liên quan đến kịch bản khác nhau của (a) tự do hóa thương mại của Ấn Độ đối với Malaysia, Singapore và Thái Lan; (b) tự do hóa với tất cả 10 quốc gia ASEAN (lộ trình đến năm 2019);

và (c) tự do hóa đầy đủ nếu thuế quan trên tất cả các sản phẩm giao dịch giữa Ấn

Độ và các nước thành viên ASEAN được loại bỏ hoàn toàn

Các kết quả của các mô phỏng này sau đó được sử dụng để đánh giá tác động của tự do hóa Ấn Độ và ASEAN các thành viên cũng như một số nước khác Các tác động phúc lợi của FTA đối với các nước liên quan đã được nghiên cứu trong trường hợp một thị trường cạnh tranh hoàn hảo và thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, và (b) tăng theo quy mô đặc trưng cho cơ cấu sản xuất trong nền kinh tế Ấn

Độ Vì vậy, nghiên cứu này cho thấy khả năng khác nhau của phúc lợi và ý nghĩa kinh tế vĩ mô khác, điều này góp phần hoạch định chính sách để đánh giá mức độ thích hợp của chính sách trong nước

Ngoài ra, những yếu tố tác động đến quan hệ Ấn Độ - ASEAN từ 1991 đến

2010 cũng được đề cập vắn tắt trong một số tác phẩm giới thiệu chung về đất nước

Ấn Độ và chính sách đối ngoại của Ấn Độ sau chiến tranh lạnh như [86], [88], [89], [92] …

1.3 Khoảng trống nghiên cứu

Thông qua quá trình tổng quan tài liệu nghiên cứu trong nước và quốc tế, có thể thấy rằng, công trình nghiên cứu về quan hệ Ấn Độ - ASEAN tương đối nhiều, đa dạng và phong phú, đề cập đến nhiều khía cạnh nội dung khác nhau liên quan đến đề tài như chính sách đối ngoại của Ấn Độ, liên kết kinh tế ASEAN, bối cảnh quốc tế, tranh chấp biển Đông, Những nghiên cứu này đều có nhận thức chung thống nhất ở điểm ASEAN là đối tác hợp tác quan trọng của Ấn Độ và ngược lại Đây là những tài liệu có giá trị giúp tác giả khẳng định tầm quan trọng của quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN và cơ sở để mối quan hệ này phát triển trong tương lai, nhất là khi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra một cách mạnh mẽ như hiện nay Tuy nhiên, những tài liệu này chưa mang tính hệ thống, chuyên sâu và mỗi tài liệu chỉ đề cập đến

Trang 27

một lĩnh vực nào đó mà luận án quan tâm hoặc mốc thời gian đánh giá lĩnh vực đó đã quá cũ, giá trị tham khảo trong bối cảnh hiện nay không còn nhiều

Mặc dù, cả Ấn Độ và ASEAN đều có những tuyên bố mạnh mẽ trong việc tăng cường thúc đẩy quan hệ song phương nhưng thực tế thực hiện thì quan hệ kinh tế Ấn

Độ - ASEAN đạt được không tương xứng với tiềm năng và nhu cầu của hai bên Vì vậy, việc phân tích, chỉ ra được những kết quả và hạn chế trong quan hệ kinh tế của hai đối tác này, nhất là trên các lĩnh vực thương mại hàng hoá và đầu tư trực tiếp giai đoạn 2000 – 2015 có ý nghĩa thực tiễn Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm giúp Việt Nam có những chính sách phù hợp trong mối quan hệ với Ấn Độ và ASEAN

Tiểu kết chương 1

Chương 1 tác giả luận án tập trung vào phân tích đánh giá các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước Những công trình đó có liên quan mật thiết tới đề tài luận án, một mặt cung cấp cơ sở dữ liệu cần thiết phục vụ cho đề tài, mặt khác giúp tác giả tìm ra điểm mới để đi sâu vào tìm hiểu đánh giá, làm cho luận án đảm bảo đầy đủ tính mới, tính khoa học

Dựa trên những lý thuyết về kinh tế quốc tế, tác giả xây dựng nội dung cho đề tài luận án, tránh đi lạc vấn đề nghiên cứu, đảm bảo tính khách quan, chính xác khoa học, đồng thời cũng làm rõ khoảng trống nghiên cứu cũng như sự cần thiết phải nghiên cứu của đề tài này

Như vậy, phần tổng quan tài liệu là tiền đề để tác giả phát triển ý tưởng, xây dựng nội dung, đi sâu vào phân tích, đánh giá vấn đề nghiên cứu

Trang 28

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO SỰ PHÁT TRIỂN

QUAN HỆ KINH TẾ ẤN ĐỘ - ASEAN 2.1 Cơ sở lí luận phát triển quan hệ kinh tế

2.1.1 Khái quát về quan hệ kinh tế quốc tế

2.1.1.1 Khái niệm về quan hệ kinh tế quốc tế

Kinh tế quốc tế ngày càng quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hoá trở nên mạnh mẽ và hội nhập nhanh chóng của thị trường kinh tế quốc tế Càng ngày, các doanh nghiệp, người tiêu dùng và các chính phủ nhận ra rằng cuộc sống của họ bị ảnh hưởng không chỉ bởi những gì diễn ra tại nơi họ đang sống mà còn bởi những

gì đang xảy ra trên thế giới Người tiêu dùng có thể đi vào các cửa hàng tại một quốc gia nhưng có thể mua hàng hóa và dịch vụ từ khắp nơi trên thế giới Các sản phẩm của doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh với các sản phẩm của doanh nghiệp nước ngoài và cũng có thể mở rộng thị trường ra nước ngoài

Khái niệm kinh tế quốc tế được định nghĩa trong cuốn “Kinh tế học quốc tế:

Lý thuyết và Chính sách” của Paul Krugman, Maurice Obstfeld và Marc Melitz

(2015) như sau: “Kinh tế quốc tế sử dụng các phương pháp cơ bản phân tích những

động cơ và hành vi của các thành phần kinh tế trong thương mại quốc tế” Theo

Krugman, các vấn đề kinh tế quốc tế bao gồm các tác động kinh tế giữa các quốc gia có chủ quyền Bảy chủ đề xoay quanh nội dung nghiên cứu kinh tế quốc tế: lợi ích thương mại, mô hình thương mại, bảo hộ, cán cân thanh toán, xác định tỷ giá hối đoái, chính sách hợp tác quốc tế và các thị trường vốn quốc tế [106]

Theo một quan điểm khác của Steve Suranovic, một giáo sư kinh tế và quan

hệ quốc tế nổi tiếng tại Đại học George Washington ở Washington, DC Trong cuốn sách “Thương mại quốc tế: Lý thuyết và chính sách” xuất bản năm 2010, Suranovic cho rằng kinh tế quốc tế là một lĩnh vực nghiên cứu đánh giá các tác động của thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, vay nợ quốc tế Có thể chia thành hai nội dung chính là thương mại quốc tế và tài chính quốc tế [107]

Theo giáo trình Kinh tế quốc tế do PGS TS Đỗ Đức Bình, TS Nguyễn Thường Lạng (2008) làm chủ biên, Kinh tế quốc tế là môn khoa học nghiên cứu vấn

đề phân phối và sử dụng tài nguyên giữa các quốc gia thông qua con đường mậu

dịch nhằm đạt tới sự cân đối cung cầu về hàng hoá, dịch vụ, tiền tệ trong phạm vi mỗi quốc gia và tổng thể nền kinh tế toàn cầu.[47]

Trang 29

Trên cơ sở những khái niệm đó, theo tác giả luận án, quan hệ kinh tế quốc tế

phản ánh các mối quan hệ kinh tế ở tầm quốc gia có chủ quyền, nghiên cứu những quy luật hình thành quan hệ kinh tế và tác động kinh tế lẫn nhau giữa các quốc gia, giữa các nền kinh tế và các khu vực kinh tế trên thế giới

2.1.1.2 Khái niệm về thương mại quốc tế

Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, con người từ rất lâu đã thấy được lợi ích của hoạt động trao đổi thương mại giữa các vùng miền, quốc gia Tuy nhiên, việc chuyển hoá hoạt động đó sang hình thức học thuyết thì chỉ thực sự phát triển kể từ thế kỉ XV

Hiện nay, có thể nói thương mại quốc tế định hình cuộc sống hàng ngày của chúng ta và thế giới chúng ta đang sống Gần như mỗi lần chúng ta thực hiện hoạt động mua hoặc bán, chúng ta đã tham gia vào nền kinh tế toàn cầu Người Ấn Độ lái xe ô tô sản xuất tại Nhật Bản, người Mỹ lái xe ô tô sản xuất tại Đức, người Nhật Bản mặc quần áo xuất tại Trung Quốc, dùng đồng hồ Nhật và xem phim Mỹ, người

Ai Cập uống coca cola Mỹ còn người dân Thụy Điển chạy bộ bằng những đôi giày của Mỹ Sản phẩm của các quốc gia trên toàn thế giới xuất hiện khắp mọi nơi phục vụ cho nhu cầu của tất cả khách hàng

Năm 1995, nhóm tác giả gồm Markusen, Melvin, Kaempfer and Maskus chủ biên cuốn sách Thương mại quốc tế: Lý thuyết và thực tiễn Cuốn sách này cung cấp một cách toàn diện góc nhìn các nội dung của lý thuyết thương mại và được giới học giả đánh giá cao Theo quan điểm của tác giả thì thương mại quốc tế là một nội dung của kinh tế học quốc tế, trong đó diễn ra sự mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các chủ thể quan hệ kinh tế quốc tế [108]

Trong tác phẩm “Thương mại quốc tế: Lý thuyết và Chính sách” của Paul

Krugman, Maurice Obstfeld và Marc Melitz được xuất bản năm 2014, nhóm tác giả cho rằng Thương mại quốc tế là một nội dung của kinh tế học được áp dụng mô hình kinh tế vi mô nhằm giải thích hoạt động kinh tế quốc tế Nội dung của nó bao gồm các phân tích một cách cơ bản cung - cầu của thị trường quốc tế; hành vi của các doanh nghiệp và của người tiêu dùng; cơ cấu thị trường cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền nhóm và độc quyền; và ảnh hưởng của biến dạng thị trường [109] Trong giáo trình Luật Kinh tế quốc tế của Asif H Qureshi và Adreas R Ziegler đồng chủ biên năm 2011 đã đề cập thương mại quốc tế là hoạt động trao đổi của thương mại hàng hóa và thương mại dich vụ vượt ra khỏi biên giới quốc gia Dưới góc nhìn của các luật gia thì thương mại quốc tế đơn giản chỉ là một hoạt

Trang 30

động cụ thể, tức là việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ thông qua các hợp đồng thương mại quốc tế [110]

Trên cơ sở những khái niệm đó, theo quan điểm của tác giả luận án, thương

mại quốc tế có thể hiểu một cách đơn giản đó là hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ vướt ra khỏi biên giới của một quốc gia

2.1.1.3 Chính sách thương mại quốc tế

Theo giáo trình Kinh tế quốc tế do PGS TS Đỗ Đức Bình, TS Nguyễn Thường Lạng làm chủ biên thì Chính sách thương mại quốc tế là các quan điểm, nguyên tắc, biện pháp thích hợp của quốc gia dùng để điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế của quốc gia đó trong một thời gian nhất định, nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô của quốc gia [47]

Có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau sẽ đưa ra những chính sách thương mại tương ứng Có những chính sách theo quan điểm tự do, có những chính sách theo quan điểm bảo hộ nhưng tựu chung, có thể bao hàm ba nội dung chính sách chính sau:

Thứ nhất, chính sách mặt hàng là một thành quan trọng trong chính sách

thương mại quốc tế, gồm danh mục các hàng hoá khuyến khích xuất nhập khẩu, hàng hoá hạn chế xuất nhập khẩu và hàng hoá cấm xuất nhập khẩu

Thứ hai, chính sách thị trường luôn đồng hành với chính sách thương mại

quốc tế, khó có thể tách biệt Chính sách này tập trung sử dụng các biện pháp mở rộng, thâm nhập các thị trường trọng điểm và tiềm năng ở nước ngoài

Thứ ba, chính sách hỗ trợ bao gồm các công cụ hỗ trợ và giải pháp kinh tế

nhằm tác động gián tiếp đến các hoạt động thương mại quốc tế của quốc gia đó như chính sách đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu, chính sách tín dụng ưu đãi xuất nhập khẩu, chính sách tỷ giá hối đoái,

Các công cụ và giải pháp chủ yếu trong chính sách thương mại quốc tế

Thuế quan có thể được hiểu một cách đơn giản là một loại thuế đánh vào hàng hoá xuất, nhập khẩu nhằm đạt được những mục đích của cơ quan quản lý nhà nước như tăng thu ngân sách nhà nước, hạn chế nhập khẩu hoặc xuất khẩu, gồm thuế quan xuất khẩu và thuế quan nhập khẩu

Hạn ngạch là quy định của Nhà nước về số lượng tối đa hàng hoá được phép nhập khẩu hay xuất khẩu đối với thị trường cụ thể trong một thời gian nhất định Quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật đối với hàng hoá: Các cơ quan quản lý nhà nước đưa ra những tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể với những nhóm hàng hoá để bảo vệ

Trang 31

lợi ích của người tiêu dùng, kiểm soát hàng hàng hoá kém chất lượng và mức độ gây ô nhiễm môi trường

Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là một hình thức của hàng rào mậu dịch phi thuế quan Trên tinh thần tự nguyện thông qua những cuộc thương lượng mậu dịch, quốc gia nhập khẩu yêu cầu quốc gia xuất khẩu hạn chế số lượng hàng xuất khẩu sang nước mình, nếu không thì sẽ áp dụng biện pháp trả đũa thương mại như giảm giá đồng nội tệ, tăng thuế nhập khẩu đối với mặt hàng đó,

Trợ cấp xuất khẩu là chính sách dùng để hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu hàng hoá, đặc biệt ưu tiên những hàng hoá mới tham gia xuất khẩu Trợ cấp xuất khẩu có thể được thực hiện bằng cách Nhà nước hỗ trợ về vốn, hỗ trợ về tín dụng ưu đãi, trợ giá,

2.1.1.4 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài

Theo khái niệm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), “FDI là nhằm đạt được những

lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp” [111]

Khái niệm về FDI của IMF nhấn mạnh hai nội dung quan trọng gồm: (1) Lợi

ích lâu dài, khi tiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, các nhà đầu tư thường đặt

ra mục tiêu lợi ích dài hạn Mục tiêu lợi ích dài hạn đòi hỏi phải có một quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp, đồng thời nhà đầu tư có một mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với việc quản lý doanh nghiệp; (2)

Quyền quản lý doanh nghiệp: khái niệm nhấn mạnh đến quyền quản lý thực sự của

doanh nghiệp, có nghĩa là quyền được tham gia vào các quyết định quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp như thông qua chiến lược hoạt động của công ty, thông qua phê chuẩn kế hoạch hành động do người quản lý hàng ngày của doanh nghiệp đưa ra, quyết định việc phân chia lợi nhuận doanh nghiệp, quyết định phần vốn góp giữa các bên, tức là những quyền ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp

Tổ chức Hợp tác Kinh tế và phát triển (OECD) cho rằng, đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài của doanh nghiệp

đi đầu tư (chủ đầu tư) với một doanh nghiệp nhận đầu tư Mối quan hệ kinh tế này

có sức ảnh hưởng đáng kể đối với quyền quản lý doanh nghiệp thể hiện thông qua các vấn đề: (1) Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; (2) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có;

Trang 32

(3) Tham gia vào một doanh nghiệp mới; (4) Cấp tín dụng dài hạn (trên 5 năm) [112]

Có thể thấy rằng, quan điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Tổ chức Hợp tác Kinh tế và phát triển (OECD) có sự tương đồng khá lớn Cả hai đều nhấn mạnh đến quyền quản lý doanh nghiệp trong mục tiêu dài hạn của hoạt động đầu tư trực tiếp từ quốc gia này sang quốc gia khác

Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) [134], “Đầu tư trực tiếp nước

ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một quốc gia (chủ đầu tư) có được một tài sản ở một quốc gia khác (nơi tiếp nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó” Chức

năng quản lý là yếu tố để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong đa số các trường hợp, cả chủ đầu tư lẫn tài sản mà chủ đầu tư có được ở quốc gia tiếp nhận đầu tư là các đơn vị kinh doanh thì được gọi là “công ty mẹ” và “công ty con” Theo Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc (UNCTAD) [135], dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là vốn được cung cấp bằng hình thức trực tiếp bởi các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các doanh nghiệp nhân đầu tư Vốn FDI được cấu thành bởi ba nội dung: vốn cổ phần, vốn tái đầu tư và các khoản vay trong nội bộ công ty

Tại Việt Nam, Luật Đầu tư năm 2005 được Quốc hội khoá XI thông qua đã đưa ra các khái niệm về “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước ngoài” nhưng không có khái niệm về “đầu tư trực tiếp nước ngoài” Tuy nhiên, qua sự tổng hợp

những khái niệm trên, có thể nhận định rằng: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một

hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia của chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp

2.1.2 Lí thuyết về thương mại quốc tế

Thương mại xuất hiện từ rất sớm đi cùng với sự phát triển của văn minh loài người Con người rất sớm đã thấy được lợi ích của sự trao đổi thương mại giữa các nước Tuy nhiên, các lí luận về thương mại quốc tế thực sự phát triển kể từ thế kỉ

XV Trải qua quá trình dài và không ngừng bổ sung hoàn thiện các luận điểm học thuyết phù hợp với sự chuyển hoá tình hình thương mại quốc tế, hiện nay có rất nhiều học thuyết luận giải cho việc hình thành quan hệ thương mại quốc tế, đáng chú ý là:

Trang 33

2.1.2.1 Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith 3

Adam Smith (1723 – 1790), là một nhà kinh tế chính trị học nổi tiếng người Scotland, là người mở đường cho việc phát triển lý luận về kinh tế Tác phẩm “Của

cải của các quốc gia” (Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations)

xuất bản năm 1776 là một tác phẩm kinh điển, góp phần mở đường tạo ra kinh tế học hiện đại và cung cấp những quan điểm cơ bản cốt lõi thúc đẩy quan hệ thương mại giữa các quốc gia [113]

Xuất phát điểm từ một chân lý đơn giản là lợi ích của các bên trong quan hệ thương mại Từ quan hệ thương mại nhỏ lẻ đến quan hệ thương mại quốc tế, các bên tham gia đều phải có những lợi ích nhất định thoả mãn yêu cầu tối thiểu của các bên Từ đó ông đưa ra lý thuyết cho rằng thương mại giữa hai nước với nhau là xuất phát từ lợi ích của cả hai bên dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối của từng quốc gia Theo Adam Smith, một hàng hoá được coi là có lợi thế tuyệt đối khi chi phí sản xuất tính theo giờ công lao động quy chuẩn để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá đó phải thấp hơn nước khác Vậy, nếu mỗi quốc gia chuyên môn vào những ngành sản xuất có lợi thế tuyệt đối và xuất khẩu mặt hàng này sang quốc gia khác để đổi lấy mặt hàng mà mình có mức bất lợi tuyệt đối thì các quốc gia, các công ty sẽ đạt được lợi ích tối đa Ông tin tưởng rằng, tất cả mọi quốc gia đều có lợi ích từ hoạt động ngoại thương và đã ủng hộ mạnh mẽ tự do kinh doanh, hạn chế tối đa sự can thiệp của chính phủ vào hoạt động kinh doanh nói chung, trong đó có xuất nhập khẩu

Cũng theo học thuyết của A.Smith, lợi thế tuyệt đối được quyết định bởi các điều kiện tự nhiên về địa lý, khí hậu và kỹ năng tay nghề chỉ quốc gia đó mới có Adam Smith cho rằng ngoại thương có vai trò rất lớn nhưng không phải là nguyên nhân duy nhất của sự giàu có Sự giàu có là do công nghiệp, tức là do hoạt động sản xuất đem lại chứ không phải do hoạt động lưu thông Theo ông, hoạt động kinh tế (bao gồm cả hoạt động sản xuất và lưu thông) phải được tiến hành một cách tự

do, do quan hệ cung cầu và biến động giá cả thị trường quy định

3 Adam Smith (1723-1790) là nhà triết học, kinh tế người Scotland Ông được coi là cha đẻ của kinh tế học hiện đại với tác phẩm Của cải của các Quốc gia (1776) Quan điểm của ông về mối quan hệ giữa thương mại và tăng trưởng kinh tế là thương mại sẽ làm mở rộng thị trường thúc đẩy chuyên môn hoá sản xuất gia tăng, từ đó dẫn đến tăng năng suất lao động và tăng trưởng của nền kinh tế.

Trang 34

2.1.2.2 Lý thuyết về lợi thế tương đối của David Ricardo

David Ricardo (1772 – 1823), là một nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh Ông đã tiếp bước Adam Smith trong việc bổ sung luận điểm lợi thế so sánh và đóng góp lớn vào việc phát triển thuyết giá trị lao động Hạn chế của học thuyết lợi thế tuyệt đối là không giải thích được vì sao một quốc gia có lợi thế tuyệt đối hơn hẳn

so với quốc gia khác, hoặc một quốc gia không có một lợi thế tuyệt đối nào vẫn có thể tham gia và có được lợi ích trong quá trình hợp tác và phân công lao động quốc

tế để phát triển hoạt động thương mại quốc tế

Để khắc phục những hạn chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối và cũng để trả lời cho câu hỏi trên, năm 1817, David Ricardo đã cho xuất bản tác phẩm kinh điển

“Những nguyên lý của kinh tế chính trị” [114] Tại đây, ông đã đưa ra lý thuyết lợi thế so sánh nhằm giải thích tổng quát và chính xác hơn về sự xuất hiện lợi ích trong thương mại quốc tế Mỗi quốc gia sẽ được lợi khi nó chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối thấp (hay tương đối có hiệu quả hơn các nước khác); ngược lại, mỗi quốc gia sẽ được lợi nếu

nó nhập khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối cao (hay tương đối không hiệu quả bằng các nước khác) Nguyên tắc lợi thế so sánh cho rằng một quốc gia có thể thu được lợi ích từ thương mại bất kể lợi thế đó tuyệt đối

có hiệu quả hơn hay tuyệt đối không hiệu quả bằng các nước khác trong việc sản xuất hàng hóa

Như vậy có thể kết luận rằng, một trong những luận điểm quan trọng nhất của lợi thế so sánh là những lợi ích từ chuyên môn hoá sản xuất, mặt khác thương mại quốc tế phụ thuộc vào lợi thế so sánh chứ không phải là lợi thế tuyệt đối Lợi thế so sánh là điều kiện cần và đủ đối với lợi ích của thương mại quốc tế Lợi thế so sánh

có độ bao phủ rộng hơn và lợi thế tuyệt đối của Adam Smith là một trường hợp đặc biệt của lợi thế so sánh Mô hình về lợi thế so sánh là một công cụ cực kỳ hữu ích cho việc giải thích lý do vì sao trao đổi thương mại quốc tế xảy ra và phân tích ảnh hưởng của thương mại quốc tế đến lợi ích của quốc gia và khu vực Đây có thể xem

là lý thuyết khởi đầu và cơ bản xuyên suốt bất kỳ quá trình phân tích, nghiên cứu cơ

sở thương mại quốc tế trong đó có quan hệ thương mại Ấn Độ - ASEAN

2.1.2.3 Mô hình Heckscher – Ohlin

Kế thừa và phát triển lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo, hai nhà kinh

tế học nổi tiếng Thuỵ Điển là Eli Hecksher (1879-1852) và Bertil Ohlin

Trang 35

(1899-1979) đã cho ra đời tác phẩm “Thương mại liên khu vực và quốc tế” xuất bản năm

1933 bằng việc đưa ra mô hình Heckscher – Ohlin Đây là một mô hình toán cân bằng tổng thể trong lý thuyết thương mại quốc tế và phân công lao động quốc tế nhấn mạnh sự khác biệt về nguồn lực (lao động, vốn, đất đai) là nguồn gốc của hoạt động ngoại thương [136]

Lí thuyết này dựa trên các giả thuyết: hai quốc gia (A) và (B) có sở thích giống nhau và tỷ lệ các yếu tố sản xuất khác nhau Hai quốc gia này sử dụng 2 yếu

tố sản xuất là lao động (L) và vốn (K) trong đó: các yếu tố sản xuất này hoàn toàn linh hoạt trong phạm vi một nước nhưng không linh hoạt giữa các nước và chúng có thể thay thế cho nhau Hai loại hàng hoá được sản xuất là bia và vải với điều kiện (1) Bia là hàng hoá thâm dụng vốn tương đối; (2) Vải là hàng hoá thâm dụng lao động tương đối; (3) Không có sự đảo ngược các yếu tố sản xuất khi có sự thay đổi trong giá các yếu tố Thị trường hàng hoá và các yếu tốt sản xuất được giả thiết là cạnh tranh hoàn hảo

Mô hình Heckscher – Ohlin đưa ra định lý: Một quốc gia có lợi thế so sánh trong việc sản xuất và do đó sẽ xuất khẩu những sản phẩm thâm dụng các yếu tố sản xuất mà nó dồi dào một cách tương đối và nhập khẩu các sản phẩm thâm dụng các yếu tố mà nó khan hiếm một cách tương đối

(Nguồn: James Riedel & Dinh Cong Khai, Bài giảng Lý thuyết và chính sách thương mại quốc tế, Mô hình Heckscher – Ohlin, nguồn lực và thương mại)

Hình 2.1: Định lý Heckscher – Ohlin

Trang 36

Trong trường hợp này, nước A được coi là dồi dào tương đối về lao động sẽ sản xuất mặt hàng vải (mặt hàng có hàm lượng lao động cao) còn nước B được coi

là dồi dào tương đối về vốn sẽ sản xuất mặt hàng bia (mặt hàng sử dụng nhiều vốn)

Lí thuyết H – O được xem là một trong những nền tảng lý luận giải thích tính tất yếu của việc phát triển quan hệ thương mại quốc tế nói chung và quan hệ thương mại Ấn Độ - ASEAN nói riêng Trên thực tế, Ấn Độ là một quốc gia giàu tiềm năng, việc nghiên cứu lợi thế so sánh của Ấn Độ và đưa ra chính sách thương mại nhằm tăng cường và phát huy thế mạnh của mình trong việc thúc đẩy quan hệ thương mại với ASEAN là một vấn đề phức tạp cần được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng ASEAN không chỉ là đơn thuần là một khu vực mà là một tập hợp các quốc gia có trình độ văn hoá, nền kinh tế, thể chế, khác nhau, vì thế việc đánh giá đúng lợi thế so sánh của Ấn Độ và vận dụng lợi thế đó nhằm thúc đẩy mối quan hệ kinh

tế của Ấn Độ - ASEAN càng quan trọng và không thể bỏ qua lý thuyết H – O được

2.1.2.4 Lí thuyết mới về thương mại của Paul Krugman

Paul Krugman là một nhà kinh tế học người Mỹ, được coi là người khơi nguồn của thuyết “Thương mại mới” Lí thuyết “Thương mại mới” đã trở nên phổ biến từ những năm của thập niên 60, 70 của thế kỉ trước khi tự do thương mại quốc tế chuyển sang giai đoạn mới

Học thuyết “Thuyết thương mại cũ” dựa trên quan điểm của Ricardo phân tích quốc gia này khác quốc gia kia về năng suất và các nguồn lực (vốn, lao động, .)

mà quốc gia ấy sở hữu Những khác biệt đó là chi phối các hoạt động thương mại

Mặc dù, “Thuyết thương mại cũ” về cơ bản đã giải thích được đa số các hiện

tượng thương mại toàn cầu nhưng vẫn còn đó một số hiện tượng quan trọng mà nó không giải thích được Ví dụ như kim ngạch thương mại giữa Pháp và Đức là rất lớn và hai nước cũng khá tương đồng về tài nguyên cũng như khí hậu Quan hệ thương mại giữa Mỹ và Canada cũng vậy Bên cạnh đó, thương mại hàng hoá giữa các quốc gia phát triển cùng một mặt hàng (Mỹ vừa xuất khẩu ô tô vừa nhập khẩu ô tô) Để trả lời những câu hỏi đó, Paul Krugman đã chứng minh được rằng “thương mại nội ngành” hoàn toàn có thể là kết quả của (sự đa dạng) chủng loại sản phẩm và đặc tính sản xuất Lí do chính là quy mô sản xuất trong công nghiệp mà kinh tế học

gọi là “tính tiết kiệm do quy mô” (economies of scale) thể hiện số lượng sản xuất

càng cao thì giá phí bình quân càng thấp [49]

Trang 37

Paul đã tìm ra hai đặc tính để giải thích cho vấn đề trên đó là (1) lợi thế quy mô của nhà sản xuất và (2) sự ưa thích đa dạng nhãn hiệu của người tiêu dùng Chính vì hai đặc tính này mà người sản xuất sẽ dần dần trở thành độc quyền đối với nhãn hiệu sản phẩm của mình, kể cả khi phải chịu sự cạnh tranh giữa các nhãn hiệu khác Học thuyết của Paul Krugman giải thích tại sao thương mại quốc tế vẫn có thể diễn ra giữa những nước có lợi thế tương đối về công nghệ và nhân tố sản xuất tương tự nhau Ví dụ Mỹ và Đức cùng có lợi thế tương đối về vốn và công nghệ những Mỹ vẫn xuất khẩu xe Cadilac, Ford và nhập xe BMW, Mercedes, Audi từ Đức Sở dĩ điều này xảy ra vì sự ưa thích tính đa dạng nhãn hiệu của người tiêu dùng cho phép cả các hãng ô tô như Cadilac, Ford, BMW, Mercedes có lợi thế tương đối trong sản xuất những nhãn hiệu của mình Cho tới ngày nay, lí thuyết thương mại mới của Paul Krugman (cùng với sự đóng góp lớn của nhiều nhà kinh tế Bhagwati, Dixit, Helpman, Norman, .) đã trở thành lí thuyết chính trong ngành thương mại quốc tế, bổ sung cho lí thuyết lợi thế so sánh của Ricardo và Heckscher – Ohlin Những nghiên cứu về thương mại quốc tế hơn 40 năm qua hầu hết đều dựa trên những nền tảng của lí thuyết này

2.1.2.5 Lí thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia của M Porter

Micheal Eugene Porter, là chuyên gia hàng đầu về chiến lược, chính sách cạnh tranh quốc gia người Mỹ Ông là cha đẻ của lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia được đưa ra vào những năm 1990 Lí thuyết này giải thích tại sao một số quốc gia

có khả năng cạnh tranh cao về một số sản phẩm dựa trên cơ sở lập luận khả năng cạnh tranh của một ngành công nghiệp được thể hiện tập trung ở khả năng sáng tạo

và đổi mới của ngành đó [137]

Porter đã xây dựng lý thuyết về bốn thuộc tính lớn của một quốc gia hình thành nên môi trường cạnh tranh cho các công ty tại nước đó, và những thuộc tính này thúc đẩy hoặc ngăn cản sự tạo ra lợi thế cạnh tranh của quốc gia:

(1) Điều kiện về các yếu tố sản xuất: vị thế của một quốc gia về các yếu tố sản xuất

Ví dụ như nguồn lao động có kỹ năng hoặc cơ sở hạ tầng cần thiết để cạnh tranh trong một ngành cụ thể

(2) Các điều kiện về cầu: nhu cầu trong nước đối với hàng hóa hoặc dịch vụ của một ngành

(3) Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan: sự sẵn có hoặc không sẵn có của các ngành hỗ trợ và liên quan có năng lực cạnh tranh quốc tế

Trang 38

(4) Chiến lược, cơ cấu mức độ cạnh tranh nội bộ ngành: các điều kiện quản lý các công ty được tạo ra, tổ chức, và quản trị như thế nào và bản chất của đối thủ cạnh tranh trong nước

Nguồn: Charles W.L.Hill (2009), “International Business: Competing in the

Global Marketplace”, McGraw-Hill Education

Hình 2.2: Mối quan hệ giữa các yếu tố xác định lợi thế cạnh tranh quốc gia

Bốn nhóm yếu tố trên cấu thành mô hình dạng hình thoi, như là một hệ thống tác động hỗ trợ đan xen nhau nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh của quốc gia Bên cạnh 4 yếu tố trên, các cơ hội và vai trò của chính phủ cũng là các yếu tố tác động quan trọng đến khả năng cạnh tranh của một quốc gia

Theo Micheal E Porter, khái niệm có ý nghĩa duy nhất về năng lực cạnh tranh

ở cấp độ quốc gia là năng suất Mục tiêu chính yếu của một quốc gia là tạo ra một mức sống cao và ngày càng cao cho các công dân của mình Năng suất là giá trị của sản lượng được sản xuất ra bởi một đơn vị lao động hay vốn Năng suất phụ thuộc vào cả chất lượng lẫn các tính năng của sản phẩm (mà quyết định giá cả của chúng)

và tính hiệu quả qua đó sản phẩm đó được sản xuất ra Năng suất là nhân tố quyết định quan trọng nhất của mức sống dài hạn của một quốc gia, nó là nguyên nhân sâu xa của thu nhập quốc gia bình quân đầu người Năng suất của nguồn nhân lực quyết định tiền lương của người làm việc; năng suất mà qua đó vốn được sử dụng quyết định lợi tức mà vốn có thể đem lại cho người nắm giữ [50]

Chiến lược, cơ cấu mức độ cạnh tranh nội bộ ngành

Điều kiện về các

yếu tố sản xuất

Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan

Các điều kiện về

cầu

Trang 39

Mức sống của một quốc gia tuỳ thuộc vào sức mạnh của nền kinh tế ở quốc gia đó Điều này thể hiện qua kết quả đạt được các mức năng suất cao và gia tăng năng suất theo thời gian của các doanh nghiệp trong nước Sự tăng trưởng bền vững yêu cầu rằng một nền kinh tế phải liên tục tự nâng cấp mình Các công ty của một quốc gia phải không ngừng cải thiện năng suất trong các ngành hiện hữu bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm

Thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài có thể vừa nâng cao năng suất của một quốc gia vừa làm giảm năng suất đó Chúng hỗ trợ việc gia tăng năng suất quốc gia thông qua việc cho phép một quốc gia chuyên môn hóa trong những ngành và phân khúc ngành nơi mà các công ty quốc gia đó có năng suất cao hơn và nhập khẩu khi các công ty của họ kém năng suất hơn Tuy nhiên, nếu năng suất của một ngành không cao hơn các đối thủ nước ngoài của ngành đó thì năng lực cạnh tranh ngành của quốc gia yếu, dẫn đến làm giảm mức sống của chính quốc gia đó

Lí thuyết của M Porter đã xem xét khả năng cạnh tranh dưới trạng thái động, nghĩa là khả năng này có thể thay đổi theo thời gian Lí thuyết này mới hơn lí thuyết lợi thế so sánh là chuyển từ lợi thế so sánh của ngành sang lợi thế cạnh tranh của một quốc gia

Lí thuyết này có giá trị trong việc định hướng, xây dựng chính sách cạnh tranh của các chính phủ và việc hoạch định chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp Các chính phủ chỉ nên bảo hộ các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh Đối với các ngành không có khả năng cạnh tranh, chính phủ chỉ nên có những biện pháp hỗ trợ cần thiết để cải thiện khả năng cạnh tranh của chúng thông qua 4 nhóm yếu tố (đã được nêu ở trên)

2.1.2.6 Lí thuyết về hội nhập kinh tế và các liên kết kinh tế quốc tế

Jacob Viner (1892 – 1970), nhà kinh tế học người Canada gốc Rumani, giáo

sư kinh tế tại trường Đại học Princeton Ông là người đặt nền móng xây dựng khung lí thuyết cơ bản của hội nhập kinh tế (1950), đưa ra các hiệu ứng của sự sáng tạo thương mại và sự chệch hướng của thương mại, các thuật ngữ được dùng cho sự thay đổi giữa các dòng hàng hoá giữa các khu vực do sự thay đổi của thuế hải quan xuất phát từ việc thiết lập một cộng đồng kinh tế chung Ông xem xét các dòng chảy thương mại hàng hoá giữa hai quốc gia trước và sau khi hội nhập và so sánh với các phần còn lại của thế giới Các phát hiện của ông đóng góp rất lớn cho việc hình thành lý thuyết hội nhập kinh tế

Công trình “Lý thuyết về hội nhập kinh tế” của Bela Balassa (1828 – 1991) - một giáo sư kinh tế trường Đại học Yale, Mỹ xuất bản năm 1961 được các nhà

Trang 40

nghiên cứu về hội nhập kinh tế sử dụng như là khung khái niệm chung trong quá trình phân tích những vấn đề hội nhập kinh tế, mặc dù ông không phải là người mở đường cho lý thuyết này

Học thuyết của Balassa gồm 5 quá trình:

- Khu vực tự do trao đổi

- Cộng đồng hải quan chung

Thông qua việc xây dựng Cộng đồng chung về tiền tệ trong mô hình của hội nhập, ông đã nhìn trước được sự suy giảm của trật tự tiền tệ thế giới trong tương lai tại thời điểm ông nghiên cứu Đó là sự chấm dứt Hệ thống Breton Wood (1841 – 1971) với sự kết thúc chế độ Bản vị Vàng Uỷ ban châu Âu đã thực hiện giai đoạn đầu của các chính sách tiền tệ chung sau đó 10 năm kể từ khi Balassa đưa ra những

tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ như sau [51]:

Thoả thuận thương mại ưu đãi (Preferential Trade Arrangement/ PTA): Các quốc gia tham gia thoả thuận này điều chỉnh một phần hàng rào thương mại hàng hoá, giữ ở mức độ ưu đãi thương mại trên cơ sở cắt giảm thuế quan, mức độ cắt giảm và duy trì hàng rào đó với các quốc gia kí thoả thuận

Khu vực thương mại tự do (Free Trade Area/ FTA): Các quốc gia tham gia kí thoả thuận phải thực hiện việc cắt giảm và loại bỏ hầu hết hàng rào thương mại, thuế quan và các hạn chế về định lượng (có thể bao gồm cả việc giảm và bỏ một

số hàng rào phi thuế quan) trong thương mại hàng hoá nội khối nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan độc lập đối với các nước ngoài FTA

Ngày đăng: 25/09/2017, 18:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Thị Điệp (2006), “Quá trình phát triển quan hệ Việt Nam - Ấn Độ từ năm 1986 đến năm 2004”, Luận án tiến sĩ, Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quá trình phát triển quan hệ Việt Nam - Ấn Độ từ năm 1986 đến năm 2004”
Tác giả: Hoàng Thị Điệp
Năm: 2006
2. Trần Thị Lý (cb) (2002), “Sự điều chỉnh chính sách của Cộng hoà Ấn Độ từ 1991 đến 2000”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sự điều chỉnh chính sách của Cộng hoà Ấn Độ từ 1991 đến 2000”
Tác giả: Trần Thị Lý (cb)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
3. Trần Đình Thiên (2005), “Liên kết kinh tế ASEAN: vấn đề và triển vọng”, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Liên kết kinh tế ASEAN: vấn đề và triển vọng”
Tác giả: Trần Đình Thiên
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2005
4. Nguyễn Cảnh Huệ (2007), “Những nhân tố chính chi phối sự phát triển của quan hệ ASEAN - Ấn Độ từ đầu thập niên 90 đến nay”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: ASEAN – 40 năm: Thành tựu và triển vọng, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những nhân tố chính chi phối sự phát triển của quan hệ ASEAN - Ấn Độ từ đầu thập niên 90 đến nay”
Tác giả: Nguyễn Cảnh Huệ
Năm: 2007
5. Nguyễn Cảnh Huệ (2009), “Quan hệ Ấn Độ - ASEAN thời kỳ sau Chiến tranh lạnh”, Kỷ yếu hội thảo quốc tế với chủ đề “Mối quan hệ Ấn Độ - Đông Nam Á: Sự cam kết chiến lược hay sự hội nhập khu vực”, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quan hệ Ấn Độ - ASEAN thời kỳ sau Chiến tranh lạnh”," Kỷ yếu hội thảo quốc tế với chủ đề "“Mối quan hệ Ấn Độ - Đông Nam Á: Sự cam kết chiến lược hay sự hội nhập khu vực”
Tác giả: Nguyễn Cảnh Huệ
Năm: 2009
6. Trần Nam Tiến (2016), “Ấn Độ với Đông Nam Á trong bối cảnh quốc tế mới”, Nhà xuất bản Văn hoá – Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ấn Độ với Đông Nam Á trong bối cảnh quốc tế mới”
Tác giả: Trần Nam Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá – Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2016
7. Ngô Xuân Bình (cb) (2013), “Những vấn đề kinh tế - chính trị cơ bản của Ấn Độ thập niên đầu thế kỉ XXI và dự báo xu hướng đến năm 2020”, Nxb Từ Điển Bách Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những vấn đề kinh tế - chính trị cơ bản của Ấn Độ thập niên đầu thế kỉ XXI và dự báo xu hướng đến năm 2020”
Tác giả: Ngô Xuân Bình (cb)
Nhà XB: Nxb Từ Điển Bách Khoa
Năm: 2013
8. Võ Xuân Vinh (2013),“ASEAN trong chính sách hướng đông của Ấn Độ”, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ASEAN trong chính sách hướng đông của Ấn Độ”
Tác giả: Võ Xuân Vinh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2013
9. Tarun Das Colette Mathur Frank – Jurgen Richter, “Ấn Độ - sự trỗi dậy của một cường quốc”, người dịch: Kiến Văn – Huyền Trang (2013), Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ấn Độ - sự trỗi dậy của một cường quốc”
Tác giả: Tarun Das Colette Mathur Frank – Jurgen Richter, “Ấn Độ - sự trỗi dậy của một cường quốc”, người dịch: Kiến Văn – Huyền Trang
Nhà XB: Nhà xuất bản Từ điển bách khoa
Năm: 2013
10. Ngô Xuân Bình (cb) (2013), “Việt Nam - Ấn Độ và Tây Nam Á: Những mối liên hệ trong lịch sử và hiện tại”, Nxb Từ điển Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Việt Nam - Ấn Độ và Tây Nam Á: Những mối liên hệ trong lịch sử và hiện tại”
Tác giả: Ngô Xuân Bình (cb)
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2013
11. Hoàng Trung Dũng (2009), “Ấn Độ: Những thách thức của ngành gia công”, Tạp chí Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, số. 282. tr. 14 - 15, ISSN 0868-3808 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ấn Độ: Những thách thức của ngành gia công”
Tác giả: Hoàng Trung Dũng
Năm: 2009
12. Trần Văn Tùng (2007), “Bối cảnh quốc tế và tác động của nó tới con đường phát triển kinh tế của Trung Quốc và Ấn Độ”, Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi& Trung Đông, số 2, tr. 29-38, -ISSN 1859-0519 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bối cảnh quốc tế và tác động của nó tới con đường phát triển kinh tế của Trung Quốc và Ấn Độ”
Tác giả: Trần Văn Tùng
Năm: 2007
13. Trịnh Hải Yến (2009), “Các quy định pháp lý về đầu tư giữa ASEAN với các đối tác”, Tạp chí Thương mại, số 8, tr. 15-19, ISSN 0866-7500 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Các quy định pháp lý về đầu tư giữa ASEAN với các đối tác”
Tác giả: Trịnh Hải Yến
Năm: 2009
14. Nguyễn Văn Lịch (2008), “Đặc khu kinh tế của Ấn Độ”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế & chính trị thế giới, số 7, tr. 41-47, ISSN 0868-2984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đặc khu kinh tế của Ấn Độ”
Tác giả: Nguyễn Văn Lịch
Năm: 2008
15. Nguyễn Yến Khanh (2009), “Đẩy mạnh buôn bán với thị trường Ấn Độ”, Tạp chí Thương mại, số 25, tr. 24, ISSN 0866-7643 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đẩy mạnh buôn bán với thị trường Ấn Độ”
Tác giả: Nguyễn Yến Khanh
Năm: 2009
16. Hoàng Kim Thủy (2010), “Hiệp định AIFTA và những lợi ích đối với Việt Nam”, Tạp chí Thương mại, số 24, tr. 21-23, ISSN 0866-7643 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hiệp định AIFTA và những lợi ích đối với Việt Nam”
Tác giả: Hoàng Kim Thủy
Năm: 2010
17. Lê Nguyễn Hương Trinh (2004), “Hiệu ứng phá giá tiền tệ lên ngoại thương Ấn Độ”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 2, tr. 40-50, ISSN 0868- 2984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hiệu ứng phá giá tiền tệ lên ngoại thương Ấn Độ”
Tác giả: Lê Nguyễn Hương Trinh
Năm: 2004
18. Bùi Minh Sơn (1997), “Kinh tế Ấn Độ trên con đường hội nhập, hội nhập toàn cầu và quan hệ hợp tác kinh tế Ấn Độ - Đông Nam Á”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3, tr. 101-109, ISSN 0868-2739 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kinh tế Ấn Độ trên con đường hội nhập, hội nhập toàn cầu và quan hệ hợp tác kinh tế Ấn Độ - Đông Nam Á”
Tác giả: Bùi Minh Sơn
Năm: 1997
19. Lê Hải Vân (2012), “Kinh tế Ấn Độ trong nền kinh tế toàn cầu”, Tạp chí Kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương, số 381, tr. 39-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kinh tế Ấn Độ trong nền kinh tế toàn cầu”
Tác giả: Lê Hải Vân
Năm: 2012
20. Hoàng Phong (2007), “Nền kinh tế Ấn Độ: Doanh nghiệp là trung tâm của sự thành công”, Tạp chí Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, số 32, tr. 37-39, ISSN 0868-3808 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nền kinh tế Ấn Độ: Doanh nghiệp là trung tâm của sự thành công”
Tác giả: Hoàng Phong
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w