1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển hoạt động tự doanh tại Công ty chứng khoán Phố wall

59 302 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển hoạt động tự doanh tại Công ty chứng khoán Phố wall
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 575,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2008-2009 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tác động xấu đến cả nền kinh tế VIỆT NAM từ trước tới nay. Hết năm 2009 thị trường chứng khoán VIỆT NAM vẫn chưa có sự khởi sắc, theo nhiều chuyên gia kinh tế thì khả năng phục hồi của thị trường chứng khoán nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung phải đến quý III năm 2010.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Năm 2008-2009 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giớitác động xấu đến cả nền kinh tế VIỆT NAM từ trước tới nay Hết năm 2009thị trường chứng khoán VIỆT NAM vẫn chưa có sự khởi sắc, theo nhiềuchuyên gia kinh tế thì khả năng phục hồi của thị trường chứng khoán nóiriêng và của cả nền kinh tế nói chung phải đến quý III năm 2010 Như ta đãbiết vai trò của công ty chứng chứng khoán phần lớn được thể hiện bởi vai tròcủa thị trường chứng khoán.Thị trường chứng khoán giúp huy động vốn trung

và dài hạn cho các doanh nghiệp cổ phần mà ngân hàng thương mại chưa thểđáp ứng được, là phương tiện thu hút vốn nước ngoài thông qua các nhà đầu

tư nước ngoài mua chứng khoán Việt Nam.Thị trường chứng khoán là nơi thuhút nguồn vốn trong xã hội để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, là công cụgiúp Nhà nước thự hiện chiến lược huy động vốn phục vụ cho chương trìnhphát triển kinh tế xã hội, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước Có thể nói thị trường chứng khoán được coi là phong biểu vũ củanền kinh tế Khi nền kinh tế đang trong giai đoạn hưng thịnh sẽ làm cho giá cảchứng khoán tăng lên, do đó làm cho thị trường chứng khoán tăng theo,ngược lại kinh tế suy thoái sẽ dẩn đến các hoạt động giảm sút của thị trường.Thông qua đó giúp cho nhà nước, các doanh nghiệp, công chúng biết đượchiệu quả công tác quản lý và đầu tư của mình Nền kinh tế dao động theo mộtchu kỳ hình sin với bốn pha : suy thoái khủng hoảng, phục hồi, và hưng thịnh.Bây giờ khi đáy của hình sin đã xuống, chắc chắn sẽ đến nhịp thứ hai là tăngtrưởng khi những gói giải pháp kích cầu có hiệu quả, kinh tế đi vào ổn đinh.Đây là cơ sở cho thị trường chứng khoán phục hồi và phát triển mạnh mẽ tạomột kênh huy động vốn gián tiếp quan trọng cho nền kinh tế, do đó các công

ty chứng khoán cũng phải đầu tư mạnh mẽ về nhiều mặt cả về mặt số lượngnhân viên lẫn chất lượng để hoàn thiện chính mình và cạnh tranh cùng pháttriển Và để cạnh tranh nhau một cách lành mạnh thì các CTCK phải nhanhchóng phát triển các nghiệp vụ của mình bởi khi nhà đầu tư đánh giá về một

Trang 2

công ty chứng khoán họ sẽ đánh giá xem nghiệp vụ của các CTCK đó có tốthay không, dịch vụ ra sao và một trong những hoạt động thể hiện phần lớnđiều đó là hoạt động tự doanh, nó mang lại một phần lợi nhuận cốt lõi choCTCK.

Hoạt động tự doanh nếu triển khai tốt sẽ giúp một CTCK nâng cao tiềmlực tài chính, song nếu hoạt động yếu kém thì có thể gây tổn thất nặng nề chochính CTCK đó Trên cơ sở em đã thực tập tại CTCK Phố wall và nhận thức

được tầm quan trọng của hoạt động tự doanh em quyết định chọn đề tài “Phát

triển hoạt động tự doanh tại Công ty chứng khoán Phố wall” làm chuyên đề

tốt nghiệp của mình

Trang 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH CỦA CÔNG

TY CHỨNG KHOÁN

I Những vấn đề chung về Công ty chứng khoán

1 khái niệm và phân loại công ty chứng khoán.

1.1.Khái niệm

Công ty chứng khoán là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật của từng nước để thực hiện hoạt động kinh doanh chứng khoán Theo quy định để được coi là công ty chứng khoán doanh nghiệp phải tham gia vào một hoặc một số loại hình kinh doanh sau:

 Môi giới chứng khoán

 Tự doanh

 Bảo lãnh phát hành chứng khoán

 Quản lý danh mục đầu tư

 Tư vấn đầu tư

Ngoài các loại hình kinh doanh trên công ty chứng khoán chỉ được phép thực hiện một số hoạt động có liên quan đến chứng khoán như tư vấn tài chính, lưu

ký chứng khoán…

1.2.Phân loại Công ty chứng khoán.

1.2.1 Theo mô hình và tổ chức Công ty chứng khoán

Theo mô hình này các Công ty chứng khoán hoạt động với tư cách là chủthể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ Mô hình nàychia thành hai loại:

 Mô hình đa năng một phần: theo mô hình này các Công ty chứng khoánmuốn kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm phải lập công ty hoạtđộng tách rời

 Mô hình đa năng toàn phần: Các Công ty chứng khoán được kinhdoanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ

Ưu điểm của mô hình này là:

Trang 4

Công ty chứng khoán có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh nhờ đógiảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung và có khả năng chịu đựngcác biến động của thị trường chứng khoán.

Công ty chứng khoán sẽ tận dụng được thế mạnh chuyên môn và vốn

để kinh doanh chứng khoán

Nhược điểm của Mô hình này là:

Không phát triển được thị trường cổ phiếu vì các Công ty chứng khoán

có xu hướng bảo thủ và thích hoạt động cho vay hơn là hoạt động bảo lãnhphát hành cổ phiếu, trái phiếu

 Đồng thời, các Công ty chứng khoán cũng rất dễ gây lũng đoạn thị trường

và các biến động trên thị trường chứng khoán

Hoạt động chuyên doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyênmôn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không đượctham gia kinh doanh chứng khoán

Ưu điểm của mô hình

 Hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng

 Tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển

 Mô hình này được áp dụng ở rất nhiều nước Tuy nhiên trong thời giangần đây, các nước này có xu hướng xoá bỏ dần hàng rào ngăn cách hailoại hình kinh doanh là tiền tệ và chứng khoán và ngày nay các công tychứng khoán lớn đã mở rộng kinh doanh cả trong lĩnh vực bảo hiểm vàkinh doanh tiền tệ

1.2.2 Theo hình thức tổ chức công ty chứng khoán

 Công ty hợp danh:

- Định nghĩa: là loại hình kinh doanh từ hai chủ sở hữu trở lên

- Thành viên tham gia vào quá trình ra quyết định quản lý được gọi làthành viên hợp danh Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn,tức là phải chịu trách nhiệm với những khoản nợ của công ty hợp danh bằngtoàn bộ tài sản của mình

Trang 5

- Còn đối với các thành viên không tham gia điều hành công ty được gọi làthành viên góp vốn, họ chỉ chịu trách nhiệm đối với những khoản nợ của công

ty giới hạn trong số vốn góp của họ

- Thông thường khả năng huy động vốn của công ty hợp danh bị giới hạntrong số vốn mà các hội viên có thể đóng góp

Công ty Đây là loại hình công ty đòi hỏi trách nhiệm của những thành viêngiới hạn trong số vốn mà họ đã góp do đó điều này gây tâm lý nhẹ nhàng hơnđối với người đầu tư

Mặt khác về phương diện huy động vốn cũng đơn giản và linh hoạt hơn sovới công ty hợp danh Đồng thời vấn đề tuyển đội ngũ quản lý cũng năngđộng hơn, không bị bó hẹp trong một số đối tác như trường hợp công ty hợpdanh Vì những lý do đó rất nhiều công ty chứng khoán hiện nay hoạt độngdưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn

Giấy chứng nhận cổ phiếu không thể hiện một món nợ của công ty mà thểhiện quyền lợi của người sở hữu nó đối với tài sản của công ty Công ty vẫntồn tại khi quyền sở hữu của công ty bị thay đổi

Ưu điểm của công ty cổ phần

 Đây là một loại công ty tồn tại liên tục không phụ thuộc vào việc thay đổi

cổ đông hoặc cổ đông nghỉ hưu hay qua đời

 Rủi ro mà chủ sở hữu của công ty phải chịu được hạn chế ở mức nhấtđịnh Nếu công ty thua lỗ và phá sản,cổ đông chỉ bị thiệt hại ở mức vốn đãđầu tư vào công ty

 Quyền sở hữu được chuyển đổi dễ dàng thông qua việc mua bán cổ phiếu

Trang 6

 Ngoài ra, đối với công ty chứng khoán nếu tổ chức theo hình thức công ty

cổ phần và được niêm yết tại sở giao dịch thì coi như họ đã được quảngcáo miễn phí

 Hình thức tổ chức quản lý chế độ báo cáo và công bố thông tin tốt hơn haihình thức trên

 trách nhiệm hữu hạn

Đây là loại hình công ty đòi hỏi trách nhiệm của những thành viên giới hạntrong số vốn mà họ đã góp do đó điều này gây tâm lý nhẹ nhàng hơn đối vớingười đầu tư

Mặt khác về phương diện huy động vốn cũng đơn giản và linh hoạt hơn sovới công ty hợp danh Đồng thời vấn đề tuyển đội ngũ quản lý cũng năngđộng hơn, không bị bó hẹp trong một số đối tác như trường hợp công ty hợpdanh Vì những lý do đó rất nhiều công ty chứng khoán hiện nay hoạt độngdưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn

Giấy chứng nhận cổ phiếu không thể hiện một món nợ của công ty mà thểhiện quyền lợi của người sở hữu nó đối với tài sản của công ty Công ty vẫntồn tại khi quyền sở hữu của công ty bị thay đổi

Ưu điểm của công ty cổ phần

 Đây là một loại công ty tồn tại liên tục không phụ thuộc vào việc thay đổi

cổ đông hoặc cổ đông nghỉ hưu hay qua đời

 Rủi ro mà chủ sở hữu của công ty phải chịu được hạn chế ở mức nhấtđịnh Nếu công ty thua lỗ và phá sản,cổ đông chỉ bị thiệt hại ở mức vốn đãđầu tư vào công ty

 Quyền sở hữu được chuyển đổi dễ dàng thông qua việc mua bán cổ phiếu

Trang 7

 Ngoài ra, đối với công ty chứng khoán nếu tổ chức theo hình thức công ty

cổ phần và được niêm yết tại sở giao dịch thì coi như họ đã được quảngcáo miễn phí

 Hình thức tổ chức quản lý chế độ báo cáo và công bố thông tin tốt hơn haihình thức trên

2 Điều kiện thành lập công ty chứng khoán.

2.1.Điều kiện về vốn

Hoạt động chuyên doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên mônhoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán Vốn pháp định của công ty chứng khoán thườngđược quy định cụ thể cho từng loại hình kinh doanh Một công ty càng tham gia vào nhiều loại hình thì càng cần phải có nhiều vốn trên cơ sở các yếu tố khác nhau như quy mô thị trường, giao dịch dự kiến, khả năng tài chính của các tổ chức tài chính tham gia thị trường… Mỗi một quốc gia khác nhau có các quy định khác nhau về mức vốn pháp định đối với các công ty chứng khoán

2.2.Điều kiện về nhân sự

Nhân tố con người bao giờ cũng chiếm vị trí quan trọng nhất trong sựthành công của tất cả các ngành nghề kinh doanh khác nhau Trong lĩnh vựcthị trường chứng khoán cũng không phải là ngoại lệ vì đây là một ngành có

kỹ thuật phức tạp, rủi ro cao, kiến thức thì phải sâu rộng mới có thể làm việcđược nên đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ nhanh nhạy, tinh thông nghiệp vụ và

có tư cách đạo đức nghề nghiệp Các cá nhân trong công ty chứng khoán cóvai trò đặc biệt quan trọng và có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hoạt động của cáccông ty Vì vậy điều kiện về nhân sự luôn được đặt ra trong quy định phápluật của các nước khi xem xét cấp giấy phép hoạt động kinh doanh cho cáccông ty chứng khoán Điều kiện đó là những người quản lý hay nhân viên củacông ty chứng khoán phải có đầy đủ kiến thức và kinh nghiệm cũng như độtín nhiệm tính trung thực

Thông thường tất cả các nước đều yêu cầu nhân viên của công tychứng khoán phải có giấy phép hành nghề Ví dụ pháp luật Trung Quốc quy

Trang 8

định nhân viên quản lý chính và nhân viên nghiệp vụ phải có tư cách hànhnghề chứng khoán, pháp luật cộng hoà Aó quy định một trong các điều kiện

để được cấp giấy phép hoạt động cung cấp các dịch vụ đầu tư là người quản

lý phải có trình độ nghề nghiệp, kinh nghiệm và phẩm chất để thực hiện cácdịch vụ đầu tư…

2.3 Điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật

Trong lĩnh vực chứng khoán, để các nhà đầu tư có thể tiếp xúc nhau dễdàng trong việc mua hay bán chứng khoán thì các công ty chứng khoán cầnphải có sàn giao dịch để làm địa điểm tiếp xúc với nhà đầu tư, cần có địa điểm

và thiết bị nhận lệnh, truyền lệnh, công bố thông tin liên quan đến chứngkhoán và giao dịch chứng khoán nên để đảm bảo hiệu quả hoạt động của cáccông ty chứng khoán pháp luật các nước cũng quy định điều kiện về cơ sở vậtchất, kỹ thuật khi cấp giấy phép hoạt động cho các công ty chứng khoán làmột trong ba điều kiện không thể thiếu về điều kiện thành lập

Ví dụ một trong các điều kiện quan trọng để thành lập công ty chứngkhoán ở Trung Quốc là công ty phải có địa điểm kinh doanh cố định và cóthiết bị giao dịch đủ tiêu chuẩn, điều kiện về trụ sở kinh doanh và các điềukiện về kỹ thuật phù hợp với bản chất của các dịch vụ đầu tư cũng là mộttrong các điều kiện để uỷ ban về các công ty đầu tư và công ty tín dụng củaPháp xem xét khi cấp giấy phép hoạt động cho các công ty đầu tư của nướcnày

3 Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán.

3.1 Nhóm nguyên tắc mang tính đạo đức

 Nguyên tắc 1: Tuân thủ pháp luật và các quy chế nội bộ

Thành viên phải xây dựng và duy trì các quy trình có hiệu quả để đảm bảo rằng các thong tin “nôi gián” phải tách biệt khỏi các chức năng giao dich và

tư vấn Các công ty có trách nhiệm tổ chức cho cán bộ, nhân viên tìm hiểu cácquy định về pháp luật và quy chế nội bộ, thường xuyên cập nhật kiến thức pháp luật, đảm bảo cán bộ, nhân viên hiểu rõ các quy định pháp luật trong phạm vi hoạt động của mình

Trang 9

 Nguyên tắc 2: Hoạt động chuyên nghiệp

Thành viên phải thực hiện các hoạt động của mình trên cơ sở độc lập, trung thực và mẫn cán, công bằng và vì lợi ích của khách hàng Tại mọi thời điểm trong giờ làm việc, thành viên phải hoạt động một cách chuyên nghiệp và không được thực hiện bất cứ hành động nào gây ra tác động tiêu cực cho uy tín của thị trường chứng khoán

Độc lập: Việc tổ chức các phòng ban, ban trong công ty phải tránh độc lập,tránh xảy ra xung đột lợi ích giữa các bộ phận trong công ty và giữa công

ty với khách hàng Trong quan hệ với khách hàng, thành viên phải đảm bảo khách quan, không đan xen lợi ích của mình vào các lời tư vấn Thành viên không được nhân bất kỳ một khoản phí hay thù lao nào có thể ảnh hưởng đến tính khách quan trong việc giao dịch

Trung thực và cẩn trọng: Thành viên phải đảm bảo rằng mọi hoạt động củamình dựa trên cơ sở trung thực và cẩn trọng, không tham gia vào các hoạt động có thể dẫn đến việc hiểu lầm của khách hàng Thàng viên có trách nhiệm bảo đảm bí mật thông tin về tài sản và giao dịch của khách hàng, trừtrường hợp có yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thầm quyền Các thông tin bảo mật cần phải được bảo quản đầy đủ nhằm tránh tình trạng công bố khi chưa được phép hoặc sử dụng sai mục đích

Công bằng và vì lợi ích của khách hàng: Mọi hoạt động của thành viên phải hướng tới lợi ích của khách hàng, trường hợp có xung đột lợi ích giữathành viên và khách hàng thì phải ưu tiên lợi ích của khách hàng Trong hoạt động bảo lãnh phát hành, tư vấn phát hành hay tư vấn niêm yết, nếu

có mâu thuẫn lợi ích giữa tổ chức phát hành và nhà đầu tư thì thành viên phải ưu tiên lợi ích của nhà đầu tư

Chống rửa tiền: Thành viên phải xác minh danh tính của các đối tác tiềm năng Thành viên phải xác minh và báo cáo mọi giao dịch có nghi vấn

 Nguyên tắc 3 Nghĩa vụ thông tin

Thành viên phải đảm bảo thông tin mà họ cung cấp cho khách hàng là chínhxác, rõ rang, phù hợp và kịp thời Thành viên có trách nhiệm thông tin đến khách hàng trên cơ sở công bằng thông qua các phương tiện công bố thông

Trang 10

tin của công ty tại trụ sở hay trên trang web Các thông tin cá nhân do kháchhàng cung cấp cần phải được bảo quản cẩn mật và không được sử dụng sai mục đích.

Chính xác: Thông tin cho khách hàng phải chính xác đáng tin cậy, các nguồn cung cấp thông tin phải được nêu rõ Nếu thành viên có bất kỳ sự nghi ngờ nào về nguồn thông tin thì phải thông báo rõ cho khách hàng.Phù hợp: Thông tin do thành viên cung cấp cho khách hàng phải phù hợp với đối tượng và yêu cầu của khách hàng, không được chứa đựng những yếu tố không liên quan và có thể gây nhầm lẫn, không được che giấu những yếu tố quan trọng có thể ảnh hưởng đến quyết định của khách hàng.Kịp thời: Thông tin phải được thành viên cung cấp kịp thời cho khách hàng ngay khi có thể và những thay đổi về thông tin phải được cập nhật ngay lập tức nếu thành viên nhận thấy thông tin này có thể ảnh hưởng tới quyết định của khách hàng

Công bằng: Thành viên có trách nhiệm công bố thông tin công bằng tới tất

cả các nhà đầu tư, bất kể đó là nhà đầu tư tổ chức hay cá nhân thông qua trang web của mình Thành viên không được sử dụng lợi thế có trước thông tin để giao dịch cho chính mình

 Nguyên tắc 4: Tránh xung đột lợi ích

Thành viên phải tránh xung đột lợi ích với nhà đầu tư Trong trường hợp không thể tránh được xung đột thì phải ưu tiên cho lợi ích của khách hàng Thành viên có trách nhiệm công bố những lợi ích liên quan của mình với các nhà đầu tư Thành viên có nghĩa vụ công bố các quyền lợi liên quan và đối xử công bằng với các nhà đầu tư

3.2 Nhóm nguyên tắc mang tính tài chính

Đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán, báo cáotheo quy định của UBCKNN Đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết kinhdoanh chứng khoán với khách hàng

CTCK không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để kinhdoanh, ngoại trừ trường hợp số tiền đó dùng phục vụ cho giao dịch của kháchhàng

Trang 11

CTCK phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản củamình CTCK không được dùng chứng khoán của khách hàng làm vật thế chấp

để vay vốn trừ trường hợp được khách hành đồng ý bằng văn bản

4 Vai trò của công ty chứng khoán

4.1 Đối với tổ chức phát hành

Để có tiền đầu tư vào một dự án cần phải có một khoản vốn nhất đinh,

để một doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh chưa cần nói đến

đã có lãi hay chưa cũng cần phải có một khoản vốn nhất định…nhưng nếu cácdoanh nghiệp, các chủ đầu tư tự đi huy động vốn hoặc đi vay thì không phải

là điều đơn giản, vì vậy cần phải có một một trung gian đứng ra đảm nhiệmvai trò này tròng nền kinh tế đó chính là các ngân hàng, các quỹ đầu tư, cáccông ty chứng khoán

Các tổ chức này có vai trò làm chiếc cầu nối và đồng thời là các kênhdẫn cho vốn chảy từ một hay một số bộ phận nào đó của nền kinh tế có dưthừa vốn (vốn nhàn rỗi) đến các bộ phận khác của nền kinh tế đang thiếu vốn(cần huy động vốn) Các công ty chứng khoán thường đảm nhiệm vai trò nàyqua các hoạt động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán

4.2 Đối với thị trường chứng khoán

Khi đầu tư chứng khoán các nhà đầu tư luôn muốn có được khả năngchuyển tiền mặt thành chứng khoán có giá và ngược lại trong một môi trườngđầu tư ổn định Các công ty chứng khoán đảm nhận được chức năng chuyểnđổi này sẽ giúp cho nhà đầu tư phải chịu ít thiệt hại nhất khi tiến hành đầu tư

Ví dụ trong hầu hết các nghiệp vụ đầu tư ở sở giao dịch chứng khoán

và thị trường OTC hiện nay một nhà đầu tư có thể hàng ngày chuyển đổi tiềnmặt thành chứng khoán và ngược lại mà không chịu bất cứ thiệt hại đáng kểnào đối với giá trị khoản đầu tư của mình Nói cách khác, một số nhân tố bênngoài có thể ảnh hưởng đến giá trị của các khoản đầu tư chẳng hạn như tinđồn về một vấn đề nào đó trong nền kinh tế nhưng nói chung giá trị của mộtkhoản đầu tư không giảm đi do cơ chế mua bán

Trang 12

Luôn tạo ra các sản phẩm mới

Việt Nam đang bắt đầu bước vào thời kì hội nhập,do đó dung lượng cáccông ty thuộc tất các lĩnh vực các ngành trong nền kinh tế đang tăng vẫn tốc

độ chóng mặt do đó chủng loại chứng khoán cũng phát triển theo với tốc độrất cao do một số nguyên nhân là dung lượng thị trường tăng như nói ở trên,biến động thị trường ngày càng lớn và đặc biệt nhận thức rõ ràng hơn củakhách hàng đối với thị trường tài chính và sự nỗ lực tiếp thị của các công tychứng khoán Ngoài cổ phiếu và trái phiếu đã được biết đến các công tychứng khoán hiện nay còn bán trái phiếu chính phủ (TW&ĐP) chứng quyền,trái quyền, các hợp đồng tương lai, hợp đồng lựa chọn và các sản phẩm lai tạo

đa dạng khác phù hợp với thay đổi trên thị trường và môi trường kinh tế

Thực hiện tư vấn đầu tư

Các công ty chứng khoán với đầy đủ các nghiệp vụ không chỉ thực hiệnmệnh lệnh của khách hàng mà còn tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn khácnhau thông qua nghiên cứu thị trường rồi cung cấp các thông tin đó cho cáccông ty và các cá nhân đầu tư

4.3 Đối với Nhà quản lý

Ngành công nghiệp chứng khoán nói chung và các công ty chứngkhoán nói riêng thông qua các Sở giao dịch chứng khoán và thị trường OTC,

có chức năng cung cấp một cơ chế giá cả nhằm giúp nhà đầu tư có sự đánhgiá đúng đắn thực tế và chính xác giá trị khoản đầu tư của mình Các sở giaodịch chứng khoán niêm yết giá cổ phiếu của các công ty từng ngày một trêncác báo cáo tài chính, ngoài ra chứng khoán của nhiều công ty lớn khôngđược niêm yết ở Sở giao dịch cũng có thể được công bố trên các tờ báo tàichính

Công ty chứng khoán còn có một chức năng quan trọng là can thiệptrên thị trường, góp phần điều tiết giá chứng khoán Theo quy định của Nhànước công ty chứng khoán bắt buộc phải giành ra một tỷ lệ nhất định giaodịch của mình để mua chứng khoán vào khi giá chứng khoán trên thị trườngđang giảm và bán ra khi giá chứng khoán trên thị trường tăng cao

Trang 13

4.4 Đối với nhà đầu tư

Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư và quản lý danhmục đầu tư, CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, từ đógiúp nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư Đối với hàng hoá thông thường,mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và người bán Tuynhiên trên TTCK sự biến động thường xuyên của giá cả chứng khoán cũngnhư mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí, công sức

và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư Nhưng thông quacác CTCK, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp cácnhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả

5 Các hoạt động của công ty chứng khoán

5.1 Hoạt động môi giới chứng khoán

5.1.1.Khái niệm:

Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong

đó một công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịchthông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC

mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việcgiao dịch đó

5.1.2 Chức năng của hoạt động môi giới chứng khoán

 Cung cấp dịch vụ với hai tư cách:

- Nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư

- Nối liền những người bán với những người mua

 Đáp ứng những nhu cầu tâm lý của khách hàng khi cần thiết: trở thànhngười bạn, người chia sẻ những lo âu, căng thẳng và đưa ra những lờiđộng viên kịp thời

- Khắc phục trạng thái xúc cảm quá mức mà điển hình là sợ hãi và thamlam để giúp khách hàng có những quyết định tỉnh táo

- Đề xuất thời điểm bán hàng một cách hợp lý

5.1.3 Những nét đặc trưng của nghề môi giới chứng khoán

 Lao động cật lực thù lao xứng đáng

 Những phẩm chất cần có: kiên nhẫn, giỏi phân tích tâm lý và ứng xử

Trang 14

 Nỗ lực cá nhân là quyết định, đồng thời không thể thiếu sự hỗ trợ củacông ty trong việc cung cấp thông tin và kết quả phân tích cũng như việcthực hiện các lệnh của khách hàng.

5.1.4 Các kỹ năng của người môi giới chứng khoán

Kỹ năng truyền đạt thông tin:

Phẩm chất hay thái độ của người môi giới đối với công việc, với bản thân

và với khách hàng được truyền đạt rõ ràng tới hầu hết các khách hàng màngười môi giới thực hiện giao dịch Để thành công trong việc bán hàng (cungứng dịch vụ mua, bán) người môi giới phải đặt khách hàng lên trên hết vàdoanh thu của mình là yếu tố thứ yếu Đây là điểm then chốt trong hoạt độngdịch vụ tài chính và phải được thể hiện ngay từ khi tiếp xúc với khách hàng

Kỹ năng tìm kiếm khách hàng:

Có nhiều phương pháp để tìm kiếm khách hàng, nhưng tựu chung có thểđược gộp vào 6 phương cách sau: những đầu mối được gây dựng từ công tyhoặc các tài khoản chuyển nhượng lại; những lời giới thiệu khách hàng; mạnglưới kinh doanh; các chiến dịch viết thư; các cuộc hội thảo; gọi điện làmquen

Kỹ năng khai thác thông tin:

Một trong những nguyên tắc trong nghề môi giới là phải tìm hiểu kháchhàng, biết được khả năng tài chính, mức độ chấp nhận rủi ro của khách hàng.Ngoài ra nó còn giúp cho nhà môi giới tăng được khối lượng tài sản quản lý,

có chiến lược khách hàng thích hợp

5.2 Nghiệp vụ tự doanh

Tự doanh là việc CTCK tự tiến hành các giao dịch mua bán chứng khoáncho mình Hoạt động tự doanh của CTCK được thực hiện thông qua cơ chếgiao dịch trên SGDCK hoặc thị trường OTC Tại một số thị trường vận hànhtheo cơ chế khớp giá (quote driven) hoạt động tự doanh của CTCK được thựchiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường Lúc này, CTCK đóng vai trò lànhà tạo lập thị trường, nắm giữ một số lượng chứng khoán nhất định của một

số loại chứng khoán và thực hiện mua bán chứng khoán với các khách hàng

để hưởng chênh lệch giá

Trang 15

Mục đích của hoạt động tự doanh là nhằm thu lợi nhuận cho chính công

ty thông qua hành vi mua, bán chứng khoán với khách hàng Nghiệp vụ nàyhoạt động song hành với nghiệp vụ môi giới chứng khoán, vừa phục vụ lệnhgiao dịch cho khách hàng đồng thời cũng phục vụ cho chính mình, vì vậytrong quá trình hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa thực hiện giaodịch cho khách hàng và cho bản thân công ty Do đó, luật pháp của các nướcđều yêu cầu tách biệt rõ ràng giữa các nghiệp vụ môi giới và tự doanh,CTCK phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnhcho mình Thậm chí luật pháp một số nước còn quy định có 2 loại hìnhCTCK là công ty môi giới chứng khoán chỉ làm chức năng môi giới vàCTCK có chức năng tự doanh

 Khác với nghiệp vụ môi giới, CTCK chỉ làm trung gian thực hiện lệnh chokhách hàng để hưởng hoa hồng, trong hoạt động tự doanh CTCK kinhdoanh bằng chính nguồn vốn của công ty Vì vậy, CTCK đòi hỏi phải cónguồn vốn rất lớn và đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn, khả năngphân tích và đưa ra những quyết định đầu tư hợp lý, đặc biệt trong trường

hợp đóng vai trò Các hình thức giao dịch trong hoạt động tự doanh:

khoán trên Sở giao dịch, lệnh của họ có thể thực hiện với bất kỳ khách hàngnào không được xác định trước

Giao dịch trực tiếp: Là giao dịch tay đôi giữa hai công ty chứng

khoán hay giữa CTCK với một khách hàng thông qua thương lượng Đối tượngcủa các giao dịch trực tiếp là các loại chứng khoán đăng ký giao dịch ở thị trườngOTC

Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành

Để thực hiện thành công các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng,đòi hỏi tổ chức phát hành phải cần đến các CTCK tư vấn cho đợt phát hành vàthực hiện bảo lãnh, phân phối chứng khoán ra công chúng Đây là nghiệp vụbảo lãnh phát hành của các CTCK và là nghiệp vụ chiếm tỷ lệ doanh thu khácao trong tổng doanh thu của các CTCK

Trang 16

Như vậy, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là việc CTCK có chức năng bảolãnh (sau đây gọi tắt là tổ chức bảo lãnh - TCBL) giúp tổ chức phát hành thựchiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phốichứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khiphát hành Trên TTCK, tổ chức bảo lãnh phát hành không chỉ có các CTCK

mà còn bao gồm các định chế tài chính khác như ngân hàng đầu tư, nhưngthông thường việc CTCK nhận bảo lãnh phát hành thường kiêm luôn việcphân phối chứng khoán, còn các ngân hàng đầu tư thường đứng ra nhận bảo lãnhphát hành (hoặc thành lập tổ hợp bảo lãnh phát hành) sau đó chuyển phan phốichứng khoán cho các CTCK tự doanh hoặc các thành viên khác

Khi một tổ chức muốn phát hành chứng khoán, tổ chức đó gửi yêu cầubảo lãnh phát hành đến CTCK CTCK có thể sẽ ký một hợp đồng tư vấn quản

lý để tư vấn cho tổ chức phát hành về loại chứng khoán cần phát hành, sốlượng chứng khoán cần phát hành, định giá chứng khoán và phương thứcphân phối chứng khoán đến nhà đầu tư thích hợp Để được phép bảo lãnh pháthành, CTCK phải đệ trình một phương án bán và cam kết bảo lãnh lên Uỷ banchứng khoán Khi các nội dung cơ bản của phương án phát hành được Uỷ banchứng khoán thông qua CTCK có thể trực tiếp ký hợp đồng bảo lãnh hoặcthành lập nghiệp đoàn bảo lãnh để ký hợp đồng bảo lãnh giữa nghiệp đoàn và

tổ chức phát hành

Khi Uỷ ban chứng khoán cho phép phát hành chứng khoán và đến thờihạn giấy phép phát hành có hiệu lực, CTCK (hoặc nghiệp đoàn bảo lãnh) thựchiện phân phối chứng khoán Các hình thức phân phối chứng khoán chủ yếu là:

 Bán riêng cho các tổ chức đầu tư tập thể, các quỹ đầu tư, quỹ bảohiểm, quỹ hưu trí

 Bán trực tiếp cho các cổ đông hiện thời hay những nhà đầu tư cóquan hệ với tổ chức phát hành

 Bán rộng rãi ra công chúng

 Đến đúng ngày theo hợp đồng, công ty bảo lãnh phát hành phảigiao tiền bán chứng khoán cho tổ chức phát hành Số tiền phải thanh toán làgiá trị chứng khoán phát hành trừ đi phí bảo lãnh

Trang 17

5.4 Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư

Đây là nghiệp vụ quản lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu tư vàochứng khoán thông qua danh mục đầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng trên

cơ sở tăng lợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng Quản lý danh mục đầu

tư là một dạng nghiệp vụ tư vấn mang tính chất tổng hợp có kèm theo đầu tư,khách hàng uỷ thác tiền cho CTCK thay mặt mình quyết định đầu tư theo mộtchiến lược hay những nguyên tắc đã được khách hàng chấp thuận hoặc yêucầu (mức lợi nhuận kỳ vọng; rủi ro có thể chấp nhận…)

quát bao gồm các bước như sau:

 Bước 1: Xúc tiến tìm hiểu và nhận quản lý: CTCK và khách hàng tiếpxúc và tìm hiểu về khả năng tài chính, chuyên môn từ đó đưa ra các yêu cầu

về quản lý vốn uỷ thác

 Bước 2: Ký hợp đồng quản lý: CTCK ký hợp đòng quản lý giữa kháchhàng và công ty theo các yêu cầu, nội dung về vốn, thời gian uỷ thác, mụctiêu đầu tư, quyền và trách nhiệm của các bên, phí quản lý danh mục đầu tư

 Bước 3: Thực hiện hợp đồng quản lý: CTCK thực hiện đầu tư vốn uỷthác của khách hàng theo các nội dung đã được cam kết và phải đảm bảo tuânthủ các quy định về quản lý vốn, tài sản tách biệt giữa khách hàng và chínhcông ty

 Bước 4: Kết thúc hợp đồng quản lý: Khách hàng có nghĩa vụ thanhtoán các khoản chi phí quản lý theo hợp đồng ký kết và xử lý các trường hợpkhi công ty chứng khoán bị ngưng hoạt động, giải thể họ

5.5 Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán

Cũng như các loại hình tư vấn khác, tư vấn đầu tư chứng khoán là việcCTCK thông qua hoạt động phân tích để đưa ra những lời khuyên, phân tíchcác tình huống và có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khác liên quanđến phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng

Trang 18

Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán được phân loại theo các tiêu chí sau:

 Theo hình thức của hoạt động tư vấn: Bao gồm tư vấn trực tiếp(gặp gỡ khách hàng trực tiếp hoặc thông qua thư từ, điện thoại) và tư vấn giántiếp (thông qua các ấn phẩm, sách báo) để tư vấn cho khách hàng

 Theo mức độ uỷ quyền của tư vấn: bao gồm tư vấn gợi ý (gợi ýcho khách hàng về phương cách đầu tư hợp lý, quyết định đầu tư là của kháchhàng) và tư vấn uỷ quyền (vừa tư vấn vừa quyết định theo sự phân cấp, uỷquyền thực hiện của khách hàng)

 Theo đối tượng của hoạt động tư vấn: Bao gồm tư vấn cho ngườiphát hành (tư vấn cho tổ chức dự kiến phát hành: cách thức, hình thức pháthành, xây dựng hồ sơ, bản cáo bạch… và giúp tổ chức phát hành trong việclựa chọn tổ chức bảo lãnh, phân phối chứng khoán) và tư vấn đầu tư (tư vấncho khách hàng đầu tư chứng khoán trên thị trường thứ cấp về giá, thời gian,định hướng đầu tư vào các loại chứng khoán…)

Hoạt động tư vấn là việc người tư vấn sử dụng kiến thức, đó chính là vốnchất xám mà họ đã bỏ ra để kinh doanh nhằm đem lại lợi nhuận (hiệu quả)cho khách hàng

Nhà tư vấn đòi hỏi phải hết sức thận trọng trong việc đưa ra các lờikhuyên đối với khách hàng, vì với lời khuyên đó khách hàng có thể thu về lợinhuận lớn hoặc thua lỗ, thậm chí phá sản, còn người tư vấn thu về cho mìnhkhoản thu phí về dịch vụ tư vấn (bất kể tư vấn đó thành công hay không).Hoạt động tư vấn đòi hỏi phải tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản sau:

 Không đảm bảo chắc chắn về giá trị chứng khoán: Giá trị chứngkhoán không phải là một số cố định, nó luôn thay đổi theo các yếu tố kinh tế,tâm lý và diễn biến thực tiễn của thị trường

 Luôn nhắc nhở khách hàng rằng những lời tư vấn của mình dựatrên cơ sở phân tích các yếu tố lý thuyết và những diễn biến trong quá khứ, cóthể là không hoàn toàn chính xác và khách hàng là người quyết định cuốicùng trong việc sử dụng các thông tin từ nhà tư vấn để đầu tư, nhà tư vấn sẽ

Trang 19

không chịu trách nhiệm về những thiệt hại kinh tế do những lời khuyên đưara.

 Không được dụ dỗ, mời chào khách hàng mua hay bán một loạichứng khoán nào đó, những lời tư vấn phải được xuất phát từ những cơ sởkhách quan là quá trình phân tích, tổng hợp một cách khoa học, logic các vấn

đề nghiên cứu

là các nhà tạo lập thị trường

II Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán.

Khái niệm và mục đích hoạt động tự doanh của công ty chứngkhoán

1.1Khái niệm:

Hoạt động tự doanh là việc công ty chứng khoán tự tiến hành các dịch vụmua bán các chứng khoán cho chính mình bằng nguồn vốn của chính công tychứng khoán

Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán có thể được thực hiện trên cácthị trường giao dịch tập trung hoặc thị trường OTC

Tại một số nước hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán còn được thựchiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường (ví dụ ở Mĩ)

1.2.Mục đích của hoạt động tự doanh:

nhằm thu lợi cho chính mình, tuy nhiên để đảm bảo sự ổn định và tính minhbạch của thị trường pháp luật các nước đều yêu cầu các công ty chứng khoánkhi thực hiện hoạt động tự doanh phải đáp ứng một số điều kiện cơ bản sau:

 Vốn: Để thực hiện hoạt động tự doanh các công ty chứng khoánphải có đủ số vốn nhất định theo quy định của pháp luật

 Con người: kinh doanh chứng khoán là một lĩnh vực đặc thù có

sự chi phối rất lớn của nhân tố con người và thông tin, nhân viên thực hiện nghiệp vụ tự doanh của công ty phải có một trình độ chuyên môn nhất định, có khả năng tự quyết cao và đặc biệt là tính nhạy cảm trong công việc

2.Yêu cầu đối với công ty chứng khoán trong hoạt động tự doanh.

Trang 20

o Tách biệt quản lý: Các CTCK phải có sự tách biệt giữa nghiệp vụ

tự doanh và nghiệp vụ môi giới để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong hoạtđộng Sự tách biệt này bao gồm tách biệt về:

 Yếu tố con người

 Quy trình nghiệp vụ

 Vốn và tài sản của khách hàng và công ty

o Ưu tiên khách hàng: CTCK phải tuân thủ nguyên tắc ưu tiênkhách hàng khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh Điều đó có nghĩa là lệnh giaodịch của khách hàng phải được xử lý trước lệnh tự doanh của công ty.Nguyên tắc này đảm bảo sự công bằng cho khách hàng trong quá trình giaodịch chứng khoán Do có tính đặc thù về khả năng tiếp cận thông tin và chủđộng trên thị trường nên các CTCK có thể dự đoán trước được diễn biến củathị trường và sẽ mua hoặc bán tranh của khách hàng nếu không có nguyên tắctrên

o Góp phần bình ổn thị trường: Các CTCK hoạt động tự doanhnhằm góp phần bình ổn giá cả thị trường Trong trường hợp này, hoạt động tựdoanh được tiến hành bắt buộc theo luật định Luật các nước đều quy định cácCTCK phải dành một tỷ lệ % nhất định các giao dịch của mình (ở Mỹ là 60%)cho hoạt động bình ổn thị trường Theo đó, các CTCK có nghĩa vụ mua vàokhi giá chứng khoán giảm và bán ra khi giá chứng khoán tăng lên nhằm giữgiá chứng khoán ổn định

o Hoạt động tạo thị trường: Khi được phát hành, các chứngkhoán mới chưa có thị trường giao dịch Để tạo thị trường cho các chứngkhoán này, các CTCK thực hiện tự doanh thông qua việc mua và bán chứngkhoán, tạo tính thanh khoản trên thị trường cấp hai Trên những TTCK pháttriển, các nhà tạo lập thị trường (Market - Makers) sử dụng nghiệp vụ muabán chứng khoán trên thị trường OTC để tạo thị trường Theo đó, họ liêntục có những báo giá để mua hoặc bán chứng khoán với các nhà kinh doanhchứng khoán khác Như vậy, họ sẽ duy trì một thị trường liên tục đối vớichứng khoán mà họ kinh doanh

3.Vai trò của hoạt động tự doanh đối với công ty chứng khoán.

Trang 21

 Tự doanh chứng khoán mang lại doanh thu không nhỏ cho CTCK Bất

cứ một CTCK nào hoạt động trên TTCK đều quan tâm tới nghiệp vụ này

 Tự doanh chứng khoán đã tạo ra tính thanh khoản cho các chứngkhoán Việc mua đi bán lại các cổ phiếu của các CTCK trên TTCK đã giúpcho việc hoán chuyển từ chứng khoán ra tiền và ngược lại từ tiền ra chứngkhoán một cách dễ dàng Do đó đã tạo ra tính thanh khoản cho các chứngkhoán

 Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán đã đem lại cho các CTCK thông tin

về chứng khoán trên thị trường, biết được các diễn biến về tình hình biếnđộng của các loại chứng khoán trên TTCK từ đó đưa ra các chiến lược kinhdoanh hợp lý

 Tự doanh chứng khoán còn tạo ra các mối quan hệ giữa CTCK và cácbạn hàng từ đó nảy sinh các mối quan hệ tốt đẹp khác

4 Quy trình hoạt dộng tự doanh của công ty chứng khoán

Các công ty chứng khoán tuỳ vào cơ cấu tổ chức của mình sẽ có các quytrình nghiệp vụ riêng, phù hợp Quy trình của nghiệp vụ có thể chia thànhnăm giai đoạn sau:

 Giai đoạn 1: Xây dựng chiến lược đầu tư

Trong giai đoạn này, công ty chứng khoán phải xác định được chiến lượctrong hoạt động tự doanh của mình Đó có thể là chiến lược đầu tư chủ động,thụ động hoặc đầu tư vào một số ngành nghề, lĩnh vực cụ thể nào đó

 Giai đoạn 2: Khai thác tìm kiếm các cơ hội đầu tư

Sau khi xây dựng được chiến lược đầu tư của công ty, bộ phận tự doanh

sẽ triển khai tìm kiếm các nguồn hàng hoá, cơ hội đầu tư trên thị trường theomục tiêu đã định

 Giai đoạn 3: Phân tích, đánh giá chất lượng cơ hội đầu tư

Trong giai đoạn này, bộ phận tự doanh có thể kết hợp với bộ phận phântích trong công ty tiến hành thẩm định, đánh giá chất lượng của các khoản đầu

tư Kết quả của giai đoạn này sẽ là kết luận cụ thể về việc công ty có nên đầu

tư hay không và đầu tư với số lượng, giá cả bao nhiêu là hợp lý

 Giai đoạn 4: Thực hiện đầu tư

Trang 22

Sau khi đã đánh giá, phân tích các cơ hội đầu tư, bộ phận tự doanh sẽtriển khai thực hiện các hoạt động giao dịch mua, bán chứng khoán Cơ chếgiao dịch sẽ tuân theo các quy định của pháp luật và các chuẩn mực chungtrong ngành.

 Giai đoạn 5: Quản lý đầu tư và thu hồi vốn

Trong giai đoạn này, bộ phận tự doanh có trách nhiệm theo dõi cáckhoản đầu tư, đánh giá tình hình và thực hiện những hoán đổi cần thiết, hợp

lý Sau khi thu hồi vốn, bộ phận tự doanh sẽ tổng kết, đánh giá lại tình hìnhthực hiện và lại tiếp tục chu kỳ mới

Sơ đồ 1: Quy trình hoạt động tự doanh của một CTCK

Nghiên cứu đầu tư

Phân tích rủi ro, lợi nhuận

Mục tiêu đầu tư

Trang 23

5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán.

5.1 Nhân tố khách quan.

Môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động tự doanh của cácCTCK Tuỳ từng luật chứng khoán của các nước khác nhau mà các CTCK có

sự khác biệt trong nghiệp vụ tự doanh chứng khoán

Ví dụ: ở nước quy định mức vốn pháp định đối với nghiệp vụ tự doanhthì các CTCK sẽ có các chiến lược khác nhau trong nghiệp vụ tự doanh

Môi trường pháp lý còn ảnh hưởng tới sự thành bại trong nghiệp vụ tự doanhchứng khoán của các CTCK Việc không chặt chẽ trong luật chứng khoán sẽảnh hưởng tới tự doanh chứng khoán của các CTCK UBCKNN đã ban hànhluật và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2007 với việc hạn chế cácCTCK trong hạn mức tự doanh, các CTCK sẽ không được các Ngân hàng mẹrót nhiều tiền vào hoạt động tự doanh như trước kia đã phần nào ảnh hưởngtới hoạt động tự doanh của các CTCK có ngân hàng mẹ đỡ đầu

Nhu cầu về cổ phiếu, trái phiếu

Bên cạnh nhân tố môi trường pháp lý thì nhu cầu về chứng khoán cũng lànhân tố quan trọng ảnh hưởng nghiệp vụ tự doanh của các CTCK Một TTCKphát triển thật sự thì nhu cầu về cả cổ phiếu lẫn trái phiếu phải cao thì thịtrường đó mới thực sự phát triển, ở Việt Nam hiện nay mới chỉ có nhu cầu về

cổ phiếu là cao, còn nhu cầu về trái phiếu thì cũng chưa cao lắm, mà mới cònđang ở dạng tiềm năng, trái phiếu cũng chưa được đưa vào danh mục đầu tư do

có tính thanh khoản thấp hơn nhiều so với cổ phiếu

Trang 24

Ngược lại, thì với một TTCK chậm phát triển tất yếu sẽ kéo theo sự chậm chễcủa nghiệp vụ tự doanh trong các CTCK.

5.2 Nhân tố chủ quan

Năng lực của các CTCK

Một CTCK khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán trên TTCKđòi hỏi phải có năng lực nhất định Với một CTCK mà có đội ngũ kinh doanhgiỏi, nắm bắt thông tin về chứng khoán trên thị trường tốt, hiểu được đối thủcạnh tranh thì công ty đó sẽ thành công trong việc tự doanh chứng khoán trênTTCK

Năng lực về nhân sự

Nguồn nhân lực của một CTCK sẽ quyết định tới việc tự doanh chứngkhoán của các CTCK Một CTCK với nguồn nhân lực hạn chế, trình độhiểu biết về chứng khoán và TTCK hạn chế thì sẽ không thể tự doanh đượctrên thị trường và ngược lại với đội ngũ nhân lực đông đảo, có trình độ hiểubiết về chứng khoán và TTCK thì sẽ đảm bảo việc thành công trong việc tựdoanh chứng khoán

Năng lực về tài chính

Quy mô về vốn kinh doanh cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới nghiệp

vụ tự doanh chứng khoán của các CTCK Khi một CTCK muốn thực hiệncác chiến lược tự doanh chứng khoán của mình thì đều phụ thuộc vào quy mô

về vốn của công ty mình

Quy mô về vốn kinh doanh của một CTCK phụ thuộc vào nhiều yếu tố.Nếu một CTCK được thành lập từ một ngân hàng mẹ thì sẽ có được mộtlượng vốn không nhỏ từ ngân hàng mẹ, lượng vốn kinh doanh cũng sẽ tăngqua từng năm nếu CTCK tự doanh có lãi Ngược lại nếu một công ty chứngkhoán thành lập mà không có một ngân hàng mẹ đứng đằng sau thì công tychứng khoán chắc chắn sẽ không có một nguồn lực lớn về tài chính cũng như

về nhân sự cho công ty và công ty sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong các vấn

đề tổ chức, tìm kiếm khách hàng và một khi công ty hoạt động không hiệuquả do thiếu vốn hoặc thiếu nhân sự rất có thể sẽ dẫn đến phá sản

Trang 25

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN PHỐ WALL

I Giới thiệu chung về công ty chứng khoán Phố wall

1 Qúa trình hình thành và phát triển của công ty chứng khoán Phố wall

1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty chứng khoán phố Wall

- Công ty Cổ phần chứng khoán Phố Wall (WSS) - tên giao dịch quốc tế

là Wall Street Securities, được thành lập bởi các cổ đông là: Công ty cổ phần Cáp và Vật liệu viễn thông, Công ty cổ phần may Đức Giang, và một số cổ đông cá nhân

- Ngày 20/12/2007 WSS được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp Giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán số 86/UBCK-GP

- Ngày 30/1/2008, WSS trở thành thành viên giao dịch thứ 65 của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội theo Quyết định số 45/QĐ-

TTGDHN

- Ngày 29/2/2008, Tổng Giám đốc đã ký Quyết định số 73/QĐ-SGDHCMchấp nhận WSS là thành viên giao dịch thứ 73 của Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM

- Ngày 1/3/2008 Căn cứ các Quyết định số 09/QĐ-HĐQT, 10/QĐ-HĐQT,11/QĐ-HĐQT, 12/QĐ-HĐQT ngày 28/2/2008 của HĐQT, WSS bổ nhiệm Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Phó Tổng Giám đốc thường trực

- Ngày 22/4/2008, WSS chính thức đi vào hoạt động, khai trương sàn giaodịch trung tâm tại số 212 phố Trần Quang Khải, Hà Nội

- Ngày 1/7/2008, WSS ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện với Ngân hàngCông thương Việt Nam Chi nhánh Chương Dương (Vietinbank Chuong Duong) và Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam(VietinbankSC).Theo thỏa thuận hợp tác chiến lược này, các bên cam kết hỗ trợ nhau mở rộng phát triển kinh doanh nhằm khai thác tối ưu nhất tiềm năng của thị trường truyền thống cũng như các lĩnh vực kinh doanh khác mà các bên cùng quan tâm

Trang 26

1.2 CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN PHỐ WALL.

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC:

http://wss.com.vn/GioithieuWSS/Sodotochuc/tabid/214/Default.aspx

Trang 27

+ BỘ MÁY QUẢN LÝ

Đại hội đồng cổ đông: Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyền lực cao

nhất của Công ty, bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết và ngườiđược cổ đông ủy quyền

Hội đồng Quản trị: Hội đồng Quản trị do Đại hội đồng cổ đông bầu

ra, là cơ quan quản lý cao nhất của Công ty, có nghĩa vụ quản trị Công ty giữa

2 kỳ đại hội Hiện tại Hội đồng Quản trị của Công ty gồm có 5 thành viên,nhiệm kỳ của Hội đồng Quản trị và của mỗi thành viên là 3 năm

Ban Kiểm soát: Ban Kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, có

nhiệm vụ kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ trong quản trị và điều hành hoạt độngkinh doanh, các báo cáo tài chính của Công ty Hiện tại Ban Kiểm soát Công

ty gồm có 3 thành viên, nhiệm kỳ của Ban Kiểm soát và của mỗi thành viên là

3 năm

Ban Tổng Giám đốc: Ban Tổng Giám đốc do Hội đồng Quản trị bổ

nhiệm, có nhiệm vụ tổ chức điều hành và quản lý mọi hoạt động kinh doanhcủa Công ty theo chiến lược và kế hoạch kinh doanh hàng năm đã được Đạihội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị thông qua Giám đốc là người đại diệntrước pháp luật của Công ty, thành viên ban Giám đốc có nhiệm kỳ là 3 năm

1.3 Chức năng và nhiệm vụ của công ty chứng khoán phố Wall.

Ngày 20/12/2007, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đã có công văn số86/UBCK-GP cấp giấy phép thành lập và hoạt động chính thức cho Công ty

Cổ phần Chứng khoán Phố Wall, bao gồm các hoạt động: Môi giới chứngkhoán; Tự doanh chứng khoán; Tư vấn đầu tư chứng khoán và Lưu ký chứngkhoán

Việc ra đời Công ty Cổ phần Chứng khoán Phố Wall là bước khởi đầu củaviệc việc thực hiện kế hoạch xây dựng một tập đoàn tài chính hàng đầu củaViệt Nam Tập đoàn Phố Wall hiện gồm có: Công ty Cổ phần Chứng khoánPhố Wall, Công ty Cổ phần Vàng Phố Wall, Công ty Cổ phần Đầu tư và Pháttriển đô thị Phố Wall, Quỹ tín dụng Nhân Dân Hoàng Mai Trong thời gian tới

Trang 28

đây, tập đoàn sẽ tiếp tục phát triển Ngân hàng Phố Wall, Công ty Cổ phầnBảo hiểm Phố Wall, Công ty Quản lý quỹ Phố Wall và Công ty Cổ phầnTruyền thông Phố Wall.

Công ty vinh dự được trở thành một trong những Công ty chứng khoán thamgia vào thị trường chứng khoán Việt Nam với các dịch vụ đa dạng:

+ Môi giới đầu tư chứng khoán

+ Tự doanh chứng khoán

+ Lưu ký chứng khoán

+ Tư vấn đầu tư chứng khoán

+ Tư vấn tài chính doanh nghiệp

+ Tư vấn quản trị doanh nghiệp

+ Tư vấn sáp nhập và mua bán doanh nghiệp

Một số thế mạnh nổi trội của WSS: được thể hiện ở vị trí đứng đầu về ứngdụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán và quản trịdoanh nghiệp; Công ty có tầm nhìn chiến lược; Có vị trí văn phòng giao dịchđặt tại một số trung tâm tài chính của một số thành phố Nhằm mang lại chokhách hàng những sản phẩm tốt nhất và dịch vụ tốt nhất Đặc biệt, WSS rấtcoi trọng tới đội ngũ nhân sự Hiện nay, Công ty đã tuyển dụng được đội ngũcán bộ giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán vàcác chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thông tin, được đào tạo từ các trườngđại học danh tiếng trong nước và quốc tế

Bằng sức mạnh trí tuệ, công nghệ thông tin hiện đại, vốn và tinh thần đoànkết của tập thể cán bộ công nhân viên, WSS sẽ không ngừng phấn đấu đểmang lại cho khách hàng những giá trị nổi trội thông qua các dịch vụ hoànhảo nhất với phương châm thành công của khác hàng là sự thành công củaWSS

Mỗi phòng ban khác nhau đều có chức năng riêng như:

Phòng Môi giới chứng khoán với hai chức năng cơ bản là:

Cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng: công ty thông qua cácnhân viên bán hàng cung cấp cho khách hàng các báo cáo nghiên cứu những

Trang 29

khuyến nghị đầu tư Nguồn quan trọng nhất của các báo cáo nghiên cứu này

là từ bộ phận nghiên cứu trong công ty

Cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính giúp khách hang thựchiện giao dịch theo yêu cầu và vì lợi ích của họ Qúa trình này bao gồm hàngloạt các công việc sau: hướng dẫn khách hang mở tài khoản tại công ty, tiếnhành giao dịch, xác nhận giao dịch, thanh toán và chuyển kết quả giao dịchcho khách hàng

hàng

Phòng phân tích

Với chức năng cơ bản là đưa ra các sản phẩm phân tích tốt từ đó có thể giúp công ty kinh doanh và tư vấn cho khách hàng có hiệu quả

Phòng phân tích của công ty bao gồm hai chức năng cơ bản là:

 Phân tích cho hoạt động tự doanh của công ty

 Phân tích để phục vụ các khách hàng chiến lược của công tycũng như các khách hàng tiềm năng

Vì vậy phòng phân tích có vai trò đặc biệt quan trọng trong một công ty chứng khoán, nó không những tự đưa ra các sản phẩm cho chính mình mà còn

là mắt xích quan trọng để kết nối khách hàng với công ty và hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty hoạt động có hiệu quả hay không có phụ thuộc rất lớn vào các sản phẩm từ phòng phân tích này

Phòng Tự doanh

WSS đầu tư kinh doanh cho chính Công ty bằng vốn của mình, vốnvay tín dụng và vì mục tiêu thu nhập Hoạt động tự doanh là điều kiện songsong bắt buộc phải có để công ty có thể triển khai thực hiện hoạt động bảolãnh phát hành, một hoạt động quan trọng liên quan trực tiếp đến việc huyđộng vốn của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán mà hiện naycông ty đang triển khai rất mạnh mẽ Hoạt động tự doanh được hỗ trợ rấtnhiều từ hoạt động tư vấn, bảo lãnh phát hành cũng như dịch vụ tư vấn tàichính của công ty, những thông tin có được từ các hoạt động này là nhữngyếu tố quan trọng giúp WSS xây dựng được một danh mục đầu tư hợp lý, antoàn Dựa vào những am hiểu sâu sắc về thị trường và sự lớn mạnh của hoạt

Ngày đăng: 16/07/2013, 10:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4/ Trang Web của Ngân hàng Ngoại thương http://www.vcbs.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang Web của Ngân hàng Ngoại thương
1/ Trang web của UBCKNN http://www.ssc.gov.vn Link
2/ Trang web của TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh http://www.vse.org.vn Link
3/ Trang web của TTGDCK Hà Nội http:// www.hastc.org.vn Link
1/ UBCKNN, Giáo trình Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - 2002 Khác
2/ UBCKNN, Tài liệu giảng dạy, Pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản Thống kê - 2006 Khác
3/ UBCKNN, Giáo trình phân tích và đầu tư chứng khoán, Nhà xuất bản chính trị quốc gia - 2003 Khác
4/ Vũ Ngọc Nhung – Hồ Ngọc Cẩn, 144 câu hỏi đáp về thị trường chứng khoán Việt Nam, Nhà xuất bản thống kê, 2002 Khác
5/ Giáo trình Thị Trường Vốn, Nhà xuất bản Đại học kinh tế Quốc Dân 2008, Chủ Biên: TS. Phạm Văn Hùng* Các tạp chí, báo chuyên ngành Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Quy trình hoạt động tự doanh của một CTCK . - Phát triển hoạt động tự doanh tại Công ty chứng khoán Phố wall
Sơ đồ 1 Quy trình hoạt động tự doanh của một CTCK (Trang 22)
Bảng 1: Số lượng tài khoản giao dịch của NĐT trong nước năm 2009 - Phát triển hoạt động tự doanh tại Công ty chứng khoán Phố wall
Bảng 1 Số lượng tài khoản giao dịch của NĐT trong nước năm 2009 (Trang 31)
Bảng 3: Tình hình hoạt động môi giới cổ phiếu cho NĐT trong nước - Phát triển hoạt động tự doanh tại Công ty chứng khoán Phố wall
Bảng 3 Tình hình hoạt động môi giới cổ phiếu cho NĐT trong nước (Trang 32)
Bảng 2: Số lượng tài khoản NĐT nước ngoài năm 2009 Địa điểm - Phát triển hoạt động tự doanh tại Công ty chứng khoán Phố wall
Bảng 2 Số lượng tài khoản NĐT nước ngoài năm 2009 Địa điểm (Trang 32)
Bảng 5: Tình hình hoạt động môi giới cổ phiếu cho NĐT nước ngoài năm - Phát triển hoạt động tự doanh tại Công ty chứng khoán Phố wall
Bảng 5 Tình hình hoạt động môi giới cổ phiếu cho NĐT nước ngoài năm (Trang 33)
Bảng 4: Tình hình hoạt động môi giới trái phiếu cho NĐT trong nước năm 2009 - Phát triển hoạt động tự doanh tại Công ty chứng khoán Phố wall
Bảng 4 Tình hình hoạt động môi giới trái phiếu cho NĐT trong nước năm 2009 (Trang 33)
Bảng 10: Danh mục đầu tư cổ phiếu theo ngành của WSS năm 2009 - Phát triển hoạt động tự doanh tại Công ty chứng khoán Phố wall
Bảng 10 Danh mục đầu tư cổ phiếu theo ngành của WSS năm 2009 (Trang 40)
Bảng 11: Danh mục đầu tư trái phiếu của WSS năm 2009 - Phát triển hoạt động tự doanh tại Công ty chứng khoán Phố wall
Bảng 11 Danh mục đầu tư trái phiếu của WSS năm 2009 (Trang 42)
Bảng 12: Kế hoạch lợi nhuận và cổ tức 2008-2009 - Phát triển hoạt động tự doanh tại Công ty chứng khoán Phố wall
Bảng 12 Kế hoạch lợi nhuận và cổ tức 2008-2009 (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w