1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại NH TMCP Quốc tế

91 398 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Phòng Ngừa Và Hạn Chế Rủi Ro Tín Dụng Tại NH TMCP Quốc Tế
Tác giả Trần Tuấn Anh
Trường học Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Quốc Tế
Chuyên ngành Tài Chính Ngân Hàng
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống ngân hàng Việt Nam cần có những bước đổi mới mạnh mẽ trên tất cả các mặt, trong đó nhiệm vụ hàng đầu là phải tập trung vào vấn đề phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, vì hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động cơ bản và đặc thù trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.

Hệ thống ngân hàng Việt Nam cần có những bước đổi mới mạnh mẽ trêntất cả các mặt, trong đó nhiệm vụ hàng đầu là phải tập trung vào vấn đề phòngngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, vì hoạt động tín dụng là một trong nhữnghoạt động cơ bản và đặc thù trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàngthương mại

Ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB) là một trong những ngân hàng thươngmại hàng đầu của Việt Nam, hệ số sức mạnh tài chính đứng thứ hai trong số 4ngân hàng của Việt Nam trong danh sách xếp hạng tín nhiệm của Công ty xếphạng tín nhiệm toàn cầu Moody's Vấn đề tăng trưởng bền vững đã và đangđược đặt ra hàng đầu trong công cuộc đổi mới và hội nhập, đặc biệt là trongviệc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng các sản phẩm tín dụng có vị tríquan trọng trong hoạt động kinh doanh, có ảnh hưởng lớn đến các lĩnh vựckinh doanh khác của Ngân hàng

Với tầm quan trọng của hoạt động tín dụng và mối tương quan của hoạtđộng này với các hoạt động kinh doanh khác tại NH TMCP Quốc tế (VIB),việc nghiên cứu đo lường và đưa ra các giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi

ro tín dụng là việc hết sức cần thiết và có ý nghĩa thiết thực cho công cuộcxây dựng phát triển bền vững của NH TMCP Quốc tế (VIB)

Nhận thức được tầm quan trọng trên của vấn đề trên, em đã chọn đề tài:

“Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại NH TMCP Quốc tế” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp.

2.Mục đích nghiên cứu.

Khoá luận sẽ hệ thống lại những vấn đề có tính lý luận về rủi ro tín dụng

để khẳng định rằng rủi ro tín dụng là một tất yếu song có thể hạn chế đượcđến mức thấp nhất để đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời của Ngânhàng

Phân tích thực trạng hoạt động và thực trạng rủi ro tín dụng tại NH TMCPQuốc tế (VIB), rút ra các vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân của những tồntại

Trang 2

Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần phòng ngừa và hạnchế rủi ro tín dụng tại NH TMCP Quốc tế (VIB) trong thời gian tới.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

- Đối tượng nghiên cứu: Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh tạingân hàng TMCP Quốc tế (VIB)

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàngQuốc tế trong 2 năm 2008, 2009

4.Phương pháp nghiên cứu.

Khoá luận sẽ sử dụng các phương pháp:

- Duy vật biện chứng

- Duy vật lịch sử

- Phương pháp điều tra, phân tích, tổng hợp thống kê

- Các mẫu biểu minh hoạ

5 Kết cấu khoá luận.

Tên khoá luận: “Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụngtại NH TMCP Quốc tế”

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của NHTM

Chương 2: Thực trạng và quản lý rủi ro tín dụng tại NH TMCP Quốc

tế (VIB).

Chương 3: Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại NH TMCP Quốc tế (VIB).

Trang 3

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN LÝ RỦI

RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI

1.1 Bản chất, vai trò và đặc điểm của tín dụng Ngân hàng.

1.1.1 Bản chất của tín dụng Ngân hàng.

1.1.1.1 Khái niệm tín dụng.

Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện của tiền tệ Khi một chủ thể kinh tế

cần một lượng hàng hoá cho tiêu dùng hoặc sản xuất trong khi chưa có tiềnhoặc số tiền hiện có chưa đủ họ có thể sử dụng hình thức vay mượn để đápứng nhu cầu Có hai cách vay mượn: vay chính loại hàng hoá đang có nhu cầuhoặc vay tiền để mua loại hàng hoá đó Quan hệ vay mượn như vậy gọi làquan hệ tín dụng

Tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số vốn

đó sẽ được hoàn lại vào một ngày xác định trong tương lai Có thể định nghĩa

quan hệ tín dụng một cách đầy đủ như sau: Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi

về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.

1.1.1.2 Tín dụng ngân hàng

Là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng với các chủ thể kinh tếkhác trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay vừa làngười cho vay

Đây là quan hệ tín dụng gián tiếp mà người tiết kiệm, thông qua vai tròtrung gian của ngân hàng, thực hiện đầu tư vốn vào các chủ thể có nhu cầu vềvốn Nguồn vốn của tín dụng ngân hàng là nguồn vốn huy động của xã hộivới khối lượng và thời hạn khác nhau, do đó có thể thoả mãn các nhu cầu vốn

đa dạng về khối lượng cũng như thời hạn và mục đích sử dụng Vì nguồn vốnhuy động có tính chất nhàn rỗi tạm thời nên tín dụng ngân hàng chủ yếu đápứng các nhu cầu vốn ngắn hạn Sự tin tưởng đóng một vai trò quan trọng đến

sự tồn tại và phát triển của quan hệ tín dụng ngân hàng Sự đổ bể của một

Trang 4

khoản tín dụng không chỉ làm ảnh hưởng đến sự tồn tại của một ngân hàng

mà nó có thể gây phản ứng dây chuyền tới sự ổn định của toàn hệ thống vìchúng có mối quan hệ với nhau thông qua hệ thống thanh toán Nguy hiểmhơn điều này còn làm thiệt hại đến quyền lợi của người gửi tiền , gây ảnhhưởng không tốt đến sự ổn định xã hội Vì thế yêu cầu đảm bảo an toàn chomỗi khoản tín dụng ngân hàng đều là bắt buộc Yêu cầu này được thực hiệnngay từ trước khi cho vay thông qua đánh giá thẩm định tính khả thi của dự

án xin vay, cho đến yêu cầu thế chấp, cầm cố và bảo lãnh khi vay và theo dõi,đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay

Tín dụng ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp vốncho nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ - bởi chúng không

đủ điều kiện để tham gia vào các thị trường vốn trực tiếp Cao hơn thế, khảnăng cung ứng vốn của tín dụng ngân hàng còn góp phần đẩy nhanh nhịp độtích tụ, tập trung vốn và khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Tín dụngngân hàng còn được sử dụng như công cụ để phát triển các ngành kinh tếchiến lược theo yêu cầu của Chính phủ

1.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng

a Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội

Thứ nhất: Vai trò quan trọng nhất của tín dụng là cung ứng vốn một cách

kịp thời cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các chủ thể kinh tế trong

xã hội Nhờ đó mà các chủ thể này có thể đẩy nhanh tốc độ sản xuất cũng nhưtốc độ tiêu thụ sản phẩm

Thứ hai: Một hệ thống các hình thức tín dụng đa dạng không những thoả

mãn nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế mà còn làm cho sự tiếp cận cácnguồn vốn tín dụng trở nên dễ dàng, tiết kiệm chi phí giao dịch và giảm bớtcác chi phí nguồn vốn cho các chủ thể kinh doanh

Thứ ba: Việc mở rộng và nâng cao hiệu quả các hình thức tín dụng sẽ tạo

sự chủ động cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện kế hoạch sản xuấtkinh doanh khi nó không phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn tự có củabản thân Điều này giúp cho các nhà sản xuất tích cực tìm kiếm cơ hội đầu tưmới và nâng cao năng lực sản xuất của xã hội

Trang 5

Thứ tư: Các nguồn vốn tín dụng được cung ứng luôn kèm theo các điều

kiện tín dụng để hạn chế rủi ro đạo đức và rủi ro lựa chọn đối nghịch buộcnhững người đi vay phải quan tâm thực sự đến hiệu quả sử dụng vốn để đảmbảo mối quan hệ lâu dài với các tổ chức cung ứng tín dụng

b Tín dụng là kênh chuyển tải tác động của Nhà nước đến các mục tiêu vĩ

c Tín dụng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội

Các chính sách xã hội, về mặt bản chất được đáp ứng bằng nguồn tài trợkhông hoàn lại từ ngân sách Nhà nước Song phương thức tài trợ không hoànlại thường bị hạn chế về quy mô và thiếu hiệu quả Để khắc phục hạn chế này,phương thứ tài trợ không hoàn lại có xu hướng bị thay thế bởi phương thức tàitrợ có hoàn lại của tín dụng nhằm duy trì nguồn cung cấp tài chính và có điềukiện mở rộng quy mô tín dụng chính sách Chẳng hạn việc tài trợ vốn chongười nghèo ngày nay được thực hiện phổ biến bằng tín dụng đối với ngườinghèo với lãi suất thấp Thông qua phương thức tài trợ này, các mục tiêuchính sách được đáp ứng một cách chủ động và hiệu quả hơn Khi các đốitượng chính sách buộc phải quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảohoàn trả đúng thời hạn thì kĩ năng lao động của họ sẽ được cải thiện từng

Trang 6

bước Đây là sự đảm bảo chắc chắn cho sự ổn định tài chính của các đốitượng chính sách và từng bước làm cho họ có thể tồn tại độc lập với nguồnvốn tài trợ Đó chính là mục đích của việc sử dụng phương thức tài trợ cácmục tiêu chính sách bằng con đường tín dụng.

1.1.3 Đặc trưng của tín dụng

- Thứ nhất, là quan hệ chuyển nhượng mang tính chất tạm thời.

Đối tượng của sự chuyển nhượng có thể là tiền tệ hoặc hàng hoá dưới hìnhthức kéo dài thời gian thanh toán trong quan hệ mua bán hàng hoá Tính chấttạm thời của sự chuyển nhượng đề cập đến thời gian sử dụng lượng giá trị đó

Nó là kết quả của sự thoả thuận giữa các đối tác tham gia quá trình chuyểnnhượng để đảm bảo sự phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi và thời gian cần sửdụng lượng giá trị đó Sự thiếu phù hợp của thời gian chuyển nhượng có thểảnh hưởng đến quyền lợi tài chính và các hoạt động kinh doanh của cả hai bên

và dẫn đến nguy cơ phá huỷ quan hệ tín dụng thực chất trong quan hệ tíndụng chỉ có sự chuyển nhượng quyền sử dụng lượng giá trị tạm thời nhàn rỗitrong một khoảng thời gian nhất định mà không có sự thay đổi quyền sở hữuvới lượng giá trị đó

- Thứ hai, tính hoàn trả

Lượng vốn được chuyển nhượng phải được hoàn trả đúng hạn cả về thờigian và về giá trị bao gồm hai bộ phận: gốc và lãi Phần lãi đảm bảo cholượng giá trị hoàn trả lớn hơn lượng giá trị ban đầu Sự chênh lệch này là giátrả cho quyền sử dụng vốn tạm thời Nói cách khác, đó là giá trả cho sự hisinh quyền sử dụng vốn hiện tại của người sở hữu vì thế nó phải đủ hấp dẫn

để người sở hữu có thế sẵn sàng hi sinh quyền sử dụng đó

- Thứ ba, quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa người đi vay

và người cho vay

Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng Ngườicho vay tin tưởng rằng vốn sẽ được hoàn trả đầy đủ khi đến hạn Người đi vaycũng tin tưởng vào khả năng phát huy hiệu quả của vốn vay Sự gặp gỡ giữangười đi vay và người cho vay về điểm này sẽ là điều kiện hình thành quan hệtín dụng Cơ sở của sự tin tưởng này có thể do uy tín của người đi vay, do giátrị tài sản thế chấp và do sự bảo lãnh của người thứ ba

Trang 7

- Thứ tư, tính rủi ro

Do ngân hàng không biết rõ các thông tin về người đi vay dẫn đến rủi rohoặc rủi ro đạo đức Một mối quan hệ tín dụng được coi là hoàn hảo nếu:người đi vay hoàn trả cả gốc và lãi theo đúng hợp đồng tín dụng ký kết Tuynhiên, trên thực tế cũng xuất hiện những trường hợp không thực hiện đúngnghĩa vụ của mình dẫn đến những khoản nợ quá hạn, nợ xấu… Đây là một sựkhông lành mạnh trong tín dụng, báo hiệu rủi ro

1.2 Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng ngân hàng

1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng

Theo uỷ ban Basel: RRTD mà khách hàng vay hoặc bên đối tác khôngthực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết.Cũng theo uỷ ban này, “Rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợcủa người giao ước trong hợp đồng, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kì

sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng, trong đó sự vỡ nợđược xác định là bất kì sự vi phạm nghiêm trọng nào đó với nghĩa vụ hợpđồng khi hoàn trả nợ gốc và lãi”

Theo quyết định số 493/2005/QĐ – NHNN (ngày 22 tháng 04 năm 2005)của thống đốc NHNN Việt Nam thì “ RRTD trong hoạt động ngân hàng của

tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổchức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thựchiện nghĩa vụ của mình cam kết”

Có thể nhận dạng RRTD ở 2 đặc tính:

(1) Biên độ rủi ro: thể hiện sự thiệt hại mà rủi ro gây ra

(2) Tần số xuất hiện của rủi ro: thể hiện việc xuất hiện của rủi ro đónhiều hay ít, có quy luật hay không

1.2.2 Hậu quả của rủi ro tín dụng

* Đối với nền kinh tế, NHTM hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệtín dụng, nó có quan hệ trực tiếp và thường xuyên với các tổ chức kinh tế.Cho nên khi RRTD phát sinh sẽ tác động tiêu cực đến hầu hết các hoạt độngkinh tế xã hội:

- Khiến cho nguồn lực của ngân hàng bị sử dụng kém hiệu quả, lợinhuận của doanh nghiệp giảm sút do chậm trong khâu thanh toán và chu

Trang 8

chuyển vốn Là trung gian tài chính, với hoạt động chủ yếu là tập trung cácnguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay đáp ứng các nhu cầu về vốncho đầu tư phát triển, do vậy các NHTM phải cho vay đúng đối tượng thìnguồn vốn tín dụng mớ phát huy hiệu quả cao, nếu ngược lại thì nguồn vốn sẽ

bị sử dụng kém hiệu quả, khách hàng không có khả năng trả nợ ngân hàng

- Hệ thống thanh toán bị giảm sút, thậm chí bị tê liệt Một khi các kháchhàng vay vốn không có khả năng trả nợ những món vay thì điều này đồngnghĩa với việc các NHTM phải đối mặt với những khó khăn trong hoạt độngthanh toán Nếu với nhiều khách hàng không có khả năng trả nợ ngân hàng thìkhủng hoảng nợ - thiếu vốn có thể xảy ra và sẽ làm tê liệt hệ thống thanh toántrong nền kinh tế do các NHTM thường thành lập một hệ thống có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau

- Làm mất tác dụng của công cụ tín dụng với tư cách là một đòn bẩy kinh

tế Nguyên tắc tín dụng là tính hoàn trả (cả gốc và lãi), để đáp ứng yêu cầunày thì đòi hỏi vốn vay phải được sử dụng hiệu quả Một khi khách hàng sửdụng vốn tín dụng kém hiệu quả thì RRTD sẽ phát sinh, có nghĩa đòn bẩykinh tế bị mất tác dụng

* Đối với ngân hàng, RRTD phát sinh sẽ dẫn đến những hậu quả tiêu cựccho ngân hàng:

- Trước hết, RRTD khi xảy ra sẽ có tác động xấu tới tình hình tài chínhcủa ngân hàng Như đã biết hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản và thườngxuyên nhất của NHTM, phần lớn thu nhập của ngân hàng có được là từ hoạtđộng tín dụng Vì vậy, khi xảy ra RRTD sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuậncủa ngân hàng Khi phát sinh các khoản nợ quá hạn, Ngân hàng sẽ phải có cáckhoản chi phí để quản lý, giám sát, thu nợ, chi phí thanh lý phát mại tài sảntrong tương lai nếu không thu được nợ Nếu hoạt động tín dụng được mởrộng, chất lượng tín dụng được nâng cao thì sẽ thúc đẩy các hoạt động khácphát triển, ngược lại sẽ kìm hãm các hoạt động khác làm giảm lợi nhuận, gâyảnh hưởng xấu tới tình hình tài chính của ngân hàng RRTD ở mức độ caophản ánh năng lực hoạt động kinh doanh của NHTM không tốt làm giảm uytín của ngân hàng, lòng tin của khách hàng gửi tiền đối với ngân hàng bị giảmsút dẫn đến tình trạng rút tiền ồ ạt lại đẩy ngân hàng vào tình trạng khó khăn

Trang 9

và dễ dàng bị phá sản, từ đó dẫn đến phản ứng dây chuyền làm phá sản nhữngngân hàng có vị trí quan trọng ảnh hưởng đến nền kinh tế và chính trị của mộtquốc gia, điều này làm cho uy tín trên thị trường tiền tệ quốc tế và khu vựccủa ngân hàng bị giảm mạnh, gây khó khăn trong việc quan hệ vay vốn nướcngoài, thiết lập quan hệ đại lý, hạn chế năng lực cạnh tranh.

- Làm suy giảm năng lực thanh toán của NHTM RRTD xảy ra làm choNHTM không thu hồi được gốc và lãi số vốn đã cho vay theo kế hoạch đãđịnh, trong khi đó ngân hàng vẫn phải thanh toán các nghĩa vụ tài chính đếnhạn, đó là nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản

- Làm giảm lợi nhuận trong hoạt động NHTM Khi xảy ra RRTD,NHTM không thu hồi được nợ vay như dự kiến ban đầu, làm chậm tốc độquay vòng vốn, mất cơ hội kinh doanh, chi phí tăng cao ngoài dự kiến, thậmchí thua lỗ, thu nhập giảm sút, giảm phần nộp ngân sách nhà nước, hạn chếtích luỹ để hiện đại hoá công nghệ và đầu tư đào tạo lại cán bộ, nâng cao trình

độ Ngân hàng bị mất vốn, phải khoanh nợ, giãn nợ, thậm chí phải xoá nợ.Các ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro và phòng ngừa rủi ro nên làmgiảm thu nhập của ngân hàng

(i) Rủi ro đọng vốn Nếu huy động của NHTM lớn hơn so với cho vay

sẽ dẫn đến tình trạng đọng vốn Việc đọng vốn này khiến các NHTM phải đốimặt với rủi ro trong kinh doanh, khiến các NHTM tăng chi phí, giả thu nhậptrong kinh doanh, thậm chí có thể dẫn đến thua lỗ

(ii) Rủi ro thiếu vốn Nếu như nhu cầu vốn vay của khách hàng gia tăngnhưng nguồn vốn huy động lại không đáp ứng đầy đủ và kịp thời, hoặc nguồnvốn không đáp ứng đủ nhu cầu chi trả các khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửitiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu và các khoản chi phí khác, khi ấy NHTM sẽ đốimặt với rủi ro, thậm chí là rất nghiêm trọng một khi khách hàng tới ngân hàngthương mại để rút tiền gửi hàng loạt

Trang 10

- Rủi ro mất vốn Khi khách hàng kinh doanh thua lỗ dẫn đến phá sản thìngân hàng có nguy cơ gặp rủi ro mất vốn do không có nguồn thu hồi nợ.

1.2.4 Dấu hiệu nhận biết RRTD

1.2.4.1 Nhóm dấu hiệu phát sinh từ phía khách hàng

* Nhóm dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng Có thể pháthiện dấu hiệu rủi ro thông qua các hành vi ứng xử của khách hàng, như:

-Việc trì hoãn hoặc gây khó khăn với ngân hàng trong quá trình kiểm tratheo định kì hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính, hoạtđộng hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng mà không có sự giảithích minh bạch, thuyết phục

- Không thực hiện đầy đủ các quy định, vi phạm pháp luật trong quátrình tín dụng

- Chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các báo cáo tài chính theo yêu cầu màkhông có sự giải thích minh bạch, thuyết phục

- Không có các báo cáo hay dự toán về lưu chuyển tiền tệ

- Mức độ vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu các khoản vay vượt quánhu cầu dự kiến

- Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản giảm sút so vớiđịnh giá khi cho vay

- Khách hàng trông chờ các khoản thu nhập bất thường để đáp ứng cácnghĩa vụ thanh toán

- Tìm kiếm sự tài trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác, đặc biệt

từ đối thủ cạnh tranh của ngân hàng

- Sử dụng nhiều các khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động đầu tư dàihạn

- Chấp nhận sử dụng các nguồn vay vốn cao với mọi điều kiện

- Đề nghị gia hạn, điều chỉnh kì hạn nợ nhiều lần không rõ lý do hoặcthiếu các căn cứ thuyết phục mang tính khách quan về việc gia hạn hay điềuchỉnh kì hạn nợ

- Sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi mở tại ngân hàng, xuấthiện những thay đổi bất thường ngoài dự kiến và không giải thích được trongtốc độ và tổng mức lưu tiền gửi thanh toán của ngân hàng

Trang 11

- Chậm thanh toán các khoản lãi đến hạn, thanh toán các khoản nợ gốckhông đầy đủ, đúng hạn.

- Xuất hiện nợ quá hạn, nợ xấu do khách hàng không có khả năng hoàntrả hoặc khách hàng không muốn trả nợ, hoặc do việc tiêu thụ hàng hoá, giatăng bất thường hang tồn kho, các khoản bán chịu và các khoản nợ, giảm bấtthường giá bán hàng hoá, thu hồi công nợ chậm hơn dự tính

* Nhóm dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý, tình hình tài chính

và hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng Nhóm dấu hiệu này có tácđộng trực tiếp với chất lượng của các khoản tín dụng, nhưng tác động chậmhơn Các dấu hiệu này xuất phát từ chính hoạt động SXKD của khách hàng vàkhông dễ nhận diện nếu thiếu sự quản lý chặt chẽ, sâu sát của cán bộ tín dụng.Các dấu hiệu cụ thể:

- Có chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so với mức dựkiến khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng

- Những thay đổi bất thường trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản haymức độ hoạt động của khách hàng

- Xuất hiện ngày càng nhiều chi phí bất hợp lý như gia tăng đột biếntrong chi phí quảng cáo, tiếp khách, tập trung quá mức để gây ấn tượng nhưthiết bị văn phòng quá hiện đại, phương tiện giao thông đắt tiền

- Thay đổi thường xuyên tổ chức của ban điều hành, xuất hiện bất đồng

và mâu thuẫn trong quản trị điều hành, tranh chấp trong quá trình quản lý

- Những thay đổi từ chính sách nhà nước, đặc biệt là tác động của cácchính sách thuế, xuất nhập khẩu, thêm đối thủ cạnh tranh tác động bất lợi đếnchiến lược và kế hoạch sản xuất, kinh doanh của khách hàng

- Kết quả kinh doanh lỗ

- Khách hàng gặp rủi ro khách quan: bão lụt, hoả hoạn, tai nạn dịchbệnh xảy ra, bạn hàng của khách hàng gặp rủi ro hoặc bị phá sản, bị truy tố…

- Tỷ lệ “nợ/ vốn chủ sở hữu” tăng

1.2.4.2 Nhóm dấu hiệu xuất phát từ chính ngân hàng

Có thể nhìn nhận những dấu hiệu rủi ro từ chính NHTM Bao gồm:

- Sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của kháchhàng

Trang 12

- Cấp tín dụng dựa trên các cam kết không chắc chắn và thiếu tính bảođảm.

- Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh, vượt quá khả năng và năng lựckiểm soát cũng như nguồn vốn của ngân hàng

- Cho vay dựa trên sự kiện bất thường có thể xảy ra, chẳng hạn như sátnhập, thay đổi địa vị pháp lý từ chi nhánh lên công ty “con” hạch toán độc lập

- Chính sách tín dụng quá cứng nhắc hoặc quá lỏng lẻo để khách hànglợi dụng

- Soạn thảo các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng, hợp đồngthế chấp mập mờ không rõ ràng

- Cung cấp tín dụng với khối lượng lớn của các khách hàng không thuộcphân đoạn thị trường tối ưu của ngân hàng, tỷ lệ tín dụng cao cho một ítkhách hàng, khách hàng có trụ sở ngoài lãnh địa của ngân hàng

- Hồ sơ tín dụng không đầy đủ, thiếu sự tuân thủ hay tuân thủ không đầy

đủ các quy định hiện hành về phê duyệt tín dụng

- Có xu hướng cạnh tranh thái quá (giảm lãi suất cho vay, phí dịch vụhay thực hiện chiến lược “giữ chân” khách hàng bằng các khoản tín dụng mới

để họ không quan hệ với tổ chức tín dụng khác mặc dù biết rõ các khoản tíndụng sẽ cấp tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao)

- Chưa nhạy cảm với sự thay đổi các điều kiện môi trường kinh tế

- Cho vay hỗ trợ mục đích đầu cơ

- Thiếu kế hoạch rõ ràng để thanh lý từng khoản tín dụng

1.2.5 Các chỉ tiêu đo lường RRTD

Tín dụng là một nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của NHTM, do đó chấtlượng tín dụng là một nhân tố quan trọng quyết định đến sự tồn tại và pháttriển của ngân hàng, nó quyết định đến khả năng sinh lời, thế lực và độ antoàn trong kinh doanh của ngân hàng Có nhiều chỉ tiêu khác nhau để đánhgiá RRTD tuỳ theo mục đích phân tích, tuy mỗi chỉ tiêu có nội dung khácnhau nhưng giữ chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau

1.2.5.1 Các chỉ tiêu về phía khách hàng.

* Chỉ tiêu định tính:

Trang 13

- Sự đầy đủ cơ sở pháp lý, cơ sở kinh tế, kỹ thuật của phương án, dự ánSXKD sử dụng vốn vay ngân hàng.

- Tính khả thi của phương án, dự án kinh doanh

- Mục đích vay vốn nghiêm túc, sử dụng vốn đúng mục đích, kế hoạch trả

nợ rõ ràng

- Trách nhiệm của khách hàng vay vốn với khoản vay

- Năng lực, kinh nghiệm quản lý, kinh doanh, sức mạnh thị trường củakhách hàng

* Các chỉ tiêu định lượng:

- Thời gian thực hiện kế hoạch kinh doanh đảm bảo đúng dự kiến

- Dòng tiền tạo ra từ doanh thu bán hàng

- Lợi nhuận để tạo cho chủ vay vốn

1.2.5.2 Các chỉ tiêu về phía ngân hàng

+) Các chỉ tiêu định tính

- Việc thực hiện đúng quy trình tín dụng

- Trình độ con người trong công tác tín dụng

- Thực hiện tài sản đảm bảo

Mục tiêu phấn đấu các NHTM là không để xảy ra nợ quá hạn, tuy nhiêntrên thực tế điều này rất khó thực hiện, vì vậy việc kiểm soát, duy trì nợ quáhạn ở một mức độ hợp lý vẫn có thể chấp nhận được và chưa gây nguy hiểmcho hoạt động của ngân hàng

Trang 14

Theo thông lệ quốc tế, mức nợ quá hạn ròng tối đa mà các NHTM đượcphép duy trì là 5% tức là trong phạm vi đó thì hoạt động ngân hàng vẫn đượccoi là nằm trong trạng thái hoạt động tốt Nợ quá hạn ròng được tính bằng cáclấy toàn bộ số nợ nợ quá hạn chia cho tổng dư nợ sau khi trừ đi quỹ dự phòng.

Và tỷ lệ này phải nhỏ hơn hoặc bằng 5% “Ròng” ở đây được hiểu là: ngoàiviệc phải trừ đi số tiền trích lập dự phòng nó còn được hiểu là trong bất kì một

kì hạn nào trong tổng các kì hạn mà khách hàng phải trả cho TCTD (lãi hoặcgốc) bị quá hạn thì tổng giá trị khoản vay từ kì hạn bị quá hạn sẽ được cácTCTD chuyển sang nợ quá hạn cho dù các kì hạn trả nợ sau đó chưa đến kìhạn trả Chính vì vậy, khi thấy nợ quá hạn ròng của một NHTM quốc tế nào

đó ở mức 5%, chúng ta chưa nên vội đánh giá ngân hàng đó hoạt động yếukém Vì nó phản ánh rất thật tình hình nợ quá hạn và đằng sau đó là hàng loạtcác biện pháp chống đỡ đã được các ngân hàng chuẩn bị ngay khi nó phátsinh (trích lập dự phòng, các phương án xử lý…) có nghĩa là nợ quá hạn cao,nhưng khả năng thu hồi đối với các khoản nợ này là rất lớn vì các khoản nợquá hạn mới phát sinh đã được ngân hàng phát hiện và có hướng xử lý dứtđiểm Theo thông lệ quốc tế, bất cứ khoản vay nào không trả được nợ gốchoặc lãi đều được coi là không sinh lời và toàn bộ số dư nợ vay còn lại đượcchuyển sang nợ quá hạn Việc này nhằm cảnh báo sớm đối với các nhà quảntrị ngân hàng trước một khoản vay đã bắt đầu có vấn đề, nếu không có biệnpháp ngăn chặn kịp thời ngay tù khi nó có vấn đề thì chắc chắn hậu quả của

nó sẽ xảy ra khó lường hết được

* Chỉ tiêu nợ xấu

Theo quyết định 493/ QĐ/ NHNN về phân loại chất lượng tín dụng đểtrích lập dự phòng RR thì nợ xấu là khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5 phân theođiều 6 hoặc điều 7 của quy định này

Theo điều 6 quyết định 493 thì:

- Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: (i) Các khoản nợ quá hạn từ

90 ngày đến 180 ngày; (ii) Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạndưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại; (iii) Các khoản nợ khác được phậnloại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 4 điều này

Trang 15

- Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) bao gồm: (i) Các khoản nợ quá hạn từ 181ngày đến 360 ngày; (ii) Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại; (iii) Các khoản nợ khác đượcphân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 điều này.

- Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: (i) Các khoản nợ quáhạn trên 360 ngày; (ii) Các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý; (iii) Cáckhoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đãđược cơ cấu lại… Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 5 theo quyđịnh tại khoản 3 và khoản 4 điều này

Theo điều 7 quyết định 493:

- Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được TCTDđánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản

nợ này được TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi

- Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) bao gồm: các khoản nợ được TCTD đánhgiá là khả năng tổn thất cao

- Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ đượcTCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi, mất vốn

Một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu/ Tổng dư nợ càng cao thì chất lượng tíndụng càng thấp và ngược lại

* Tỷ lệ nợ đã cơ cấu lại

Tỷ lệ nợ đã cơ cấu lại = *100

Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN: “Nợ cơ cấu lại cuối kỳ hạn trả nợ”

là các khoản nợ mà các TCTD chấp thuận điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc giahạn trả nợ cho khách hàng do TCTD đánh giá khách hàng suy giảm khả năngtrả nợ gốc hoặc lãi đúng thời hạn ghi trong hợp đồng tín dụng nhưng TCTD

có đủ cơ sở để đánh giá khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi thời hạn trả nợ đã

cơ cấu lại

Tỷ lệ nợ đã cơ cấu lại càng tăng, chất lượng tín dụng càng giảm Vì nóphản ánh nợ không đúng bản chất Chỉ có các khoản nợ có vấn đề, không thuđược đúng hạn mới cơ cấu lại Việc cơ cấu lại nợ có thể làm giảm tỷ lệ nợ

Trang 16

xấu, nợ quá hạn nhưng đây chính là rủi ro tiềm tàng mà ngân hàng sẽ gặpphải.

* Các chỉ tiêu cơ cấu

Các chỉ tiêu về cơ cấu không trực tiếp phản ánh chất lượng tín dụngnhưng qua các chỉ tiêu cơ cấu có thể đánh giá được mức độ rủi ro cũng nhưtiềm ẩn rủi ro đối với các khoản tín dụng có ảnh hưởng tới chất lượng tíndụng

- Tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn:

Tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn =

Đây là một chỉ tiêu định lượng, xác định cơ cấu tín dụng trong trườnghợp dư nợ phân chia theo thời hạn cho vay

Như chúng ta đã biết, một khoản vay với thời hạn càng dài thì nguy cơrủi ro càng cao Chỉ tiêu này càng tăng tức là ngân hàng cho vay trung–dàihạn nhiều, RRTD càng cao, chất lượng tín dụng càng giảm Các ngân hàngcần phải xác định cơ cấu tín dụng sao cho hợp lý, đảm bảo an toàn và khảnăng thanh toán

- Tỷ trọng cho vay có đảm bảo bằng tài sản: Cho vay có đảm bảo là hìnhthức cho vay dự trên cơ sở các đảm bảo như thế chấp, cầm cố hoặc phải có sựbảo lãnh của người thứ ba đối với khoản vay Tài sản đảm bảo có ý nghĩanhằm gắn trách nhiệm của khách hàng đối với việc sử dụng vốn vay có hiệuquả và hoàn trả đúng hạn Đối với các ngân hàng thì đảm bảo tín dụng lànguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất (các lưu chuyển tiền tệ)không thể thanh toán được nợ

Tỷ trọng cho vay có đảm bảo =

Như vậy, tỷ trọng này càng lớn thì chất lượng tín dụng càng cao vàngược lại

- Tỷ trọng cho vay theo sự phát triển của các ngành nghề kinh tế, thànhphần kinh tế Tỷ trọng này thể hiện số dư nợ theo sự phát triển các ngành,nghề, thành phần kinh tế trong tổng dư nợ Trong từng thời kì Đảng và Nhà

Trang 17

nước luôn đưa ra chủ trương chính sách phát triển kinh tế theo ngành, nghề,vùng kinh tế cụ thể Do đó, có những ngành nghề đặc biệt phát triển hoặcđược khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển Nếu tỷ trọngcho vay đối với các ngành nghề đang phát triển càng cao thì chất lượng tíndụng càng được tăng cao và ngược lại.

- Tỷ trọng cho vay bằng tiền mặt, cho vay chuyển khoản

Tỷ trọng cho vay bằng tiền mặt = Việc phân chia dư nợ theo tiêu chí này cho biết, trong tổng dư nợ củachi nhánh, cho vay bằng tiền mặt là bao nhiêu, cho vay bằng chuyển khoản làbao nhiêu? Từ đó chúng ta có thể thấy được tiềm ẩn rủi ro của những khoảnnhư thế nào? Cho vay bằng tiền mặt là hình thức ngân hàng giải ngân chokhách hàng trực tiếp bằng tiền mặt Cho vay bằng tiền mặt tiềm ẩn rủi ro rấtlớn, vì ngân hàng rất khó quản lý việc sử dụng vốn của khách hàng sau khi đãgiải ngân Điều này tạo điều kiện cho khách hàng có cơ hội sử dụng vốn saimục đích Cho vay bằng chuyển khoản là việc ngân hàng cho vay dưới hìnhthức thanh toán bằng chuyển khoản cho bên thứ ba – là bên có quan hệ muabán với khách hàng vay vốn So với hình thức cho vay bằng tiền mặt thì chovay bằng chuyển khoản an toàn hơn rất nhiều Thông qua việc cho vay bằngchuyển khoản, ngân hàng có thể kiểm soát được việc sử dụng vốn của kháchhàng có đúng như trong hợp đồng tín dụng? Từ đó có thể chắc chắn đồng vốncủa ngân hàng được khách hàng sử dụng nghiêm túc đúng mục đích

Như vậy, nếu một ngân hàng tỷ lệ cho vay bằng tiền mặt quá lớn thì nguy

cơ rủi ro đối với khoản cho vay là rất cao, việc quản lý, kiểm soát khoản vay

là rất khó

* Chỉ tiêu về hiệu suất sử dụng vốn

Hiệu suất sử dụng vốn = Chỉ tiêu này phản ánh phần trăm vốn huy động được sử dụng cho hoạtđộng tín dụng Trong bảng tổng kết tài sản tín dụng chiếm tới 70% tổng tàisản có do vậy nếu hệ số này thấp tứ nguồn vốn huy động lớn mà dư nợ lại nhỏdẫn đến tình trạng ứ đọng vốn Ngược lại dư nợ tín dụng tăng quá nhanh, sẽ

Trang 18

nảy sinh vấn đề bất cập: Trong khi nguồn vốn huy động thấp quy mô chưa đủlớn mà nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng lại tăng khá nhanh và cần mộtlượng vốn ngày càng lớn Dẫn đến ngân hàng phải vay vốn từ NHNN để bùđắp khoản thiếu hụt đó Mà nguồn vốn này có lãi suất cao, làm ngân hàngphải bỏ ra một lượng cho phí lớn dẫn đến lợi nhuận ngân hàng giảm Mặtkhác, dư nợ tín dụng tăng quá nhanh có thể dẫn đến mức tăng trưởng tín dụngquá nóng tiềm ẩn nguy cơ không thu hồi được nợ.

- Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro:

Tỷ lệ trích lập DPRR = “Dự phòng rủi ro” là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho nhưngkhoản tốn thất có thể xảy ra do khách hàng của TCTD không thực hiện nghĩa

vụ theo đúng cam kết DPRR được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chiphí hoạt động của TCTD DPRR bao gồm: Dự phòng chung và dự phòngriêng

“Dự phòng chung” là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho nhữngtổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòngTCTD khi chất lượng các khoản nợ suy giảm

“Dự phòng cụ thể” là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụthể các khoản nợ theo điều 6 hoặc điều 7 quyết định 493/2005/QĐ-NHNN để

dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng chống đỡ suy giảm chất lượng tín dụngcủa từng NHTM Một ngân hàng có các khoản nợ quá hạn, nợ xấu lớn thì đòihỏi trích lập DPRR cao Để đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh cácngân hàng cần thực hiện tốt việc phân loại nợ theo nhóm để thực hiện tríchlập dự phòng đầy đủ, đảm báo đúng quy định

1.2.6 Các nguyên nhân gây ra RRTD.

Hoạt động tín dụng của ngân hàng diễn ra trong môi trường đầy biến động

và chịu tác động của nhiều nhân tố trong môi trường đó Để có thể đưa ra cácgiải pháp phòng ngừa và hạn chế RRTD một cách hiệu quả thì trước hết taphải hiểu rõ tác động của nhân tố này Có thể chia các nhân tố ảnh hưởng làmhai loại: nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan

1.2.6.1 Các nhân tố khách quan.

Trang 19

A Nhóm nhân tố thuộc về môi trường.

* Môi trường kinh tế:

Môi trường kinh tế là nhóm nhân tố tác động đầu tiên bởi lẽ bất kì mộthoạt động kinh doanh nào cũng đều diễn ra trong môi trường kinh tế nhấtđịnh Do vậy, mỗi biến tốt hay xấu của nền kinh tế đều có tác động đến hiệuquả hoạt động của ngân hàng và đều có thể là nguyên nhân trực tiếp hoặc giántiếp gây nên những RRTD

Môi trường kinh tế sẽ ảnh hưởng đến năng lực tài chính của người đi vay

và sự thành hay bại của người đi vay từ đó nó sẽ ảnh hưởng đến hoạt độngcủa ngân hàng Tình hình kinh tế cũng tác động trực tiếp đến hoạt động củangân hàng, ảnh hưởng đến nguồn cung, cầu vốn… nền kinh tế ổn định vàhưng thịnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành SXKD phát triển, đồngvốn của ngân hàng được khách hàng sử dụng có hiệu quả, khả năng trả nợngân hàng cao hay RRTD giảm đi Tuy nhiên, bên cạnh đó sự gia tăng rất lớn

về các khoản tín dụng do các doanh nghiệp sẽ mở rộng sản xuất, nhu cầu vềvốn lớn, nêu công tác quản lý tín dụng của ngân hàng không tốt sẽ dẫn đến

mở rộng tín dụng quá giới hạn cho phép, làm chất lượng các khoản tín dụnggiảm sút và RRTD tăng lên Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, hoạt độngSXKD trì trệ và gặp nhiều khó khăn Khi đó nhu cầu đầu tư giảm, vốn tíndụng của ngân hàng bị ứ đọng, khả năng thu hồi vốn vay của ngân hàng gặpnhiều khó khăn và như vậy thì chất lượng các khoản tín dụng của ngân hàngkhông được đảm bảo dẫn đến những rủi ro vay tín dụng là không thể tránhkhỏi

Trong điều kiện quốc tế hoá mạnh mẽ như ngày nay, hoạt động của cácngân hàng không chỉ chịu ảnh hưởng của môi trường trong nước mà cả môitrường quốc tế Quá trình hội nhập đã đem lại cho nước ta nhiều thuận lợi,đặc biệt về lĩnh vực kinh tế, song việc đầu tư nước ngoài vào trong nước mộtcách ồ ạt sẽ làm mất cân đối cung cầu tiền tệ, gây ra lạm phát tiền tệ ở mứccao, người dân mất dần lòng tin ở ngân hàng Họ nhận thấy dù có được hưởnglãi từ ngân hàng thì cũng không đủ bù đắp sự trượt giá của đồng tiền và nhưthế họ không còn muốn gửi tiền tại ngân hàng nữa, nguồn cung bị giảm sútnghiêm trọng Đồng thời, do tác động tiêu cực của suy thoái kinh tế, làm cho

Trang 20

SXKD đình đốn, các doanh nghiệp không có thị trường do sức mua thụt giảm,nhu cầu vốn từ đó cũng giảm dần Kinh doanh đình trệ, tất yếu các doanhnghiệp khó có khả năng trả nợ cho ngân hàng, rủi ro xảy đến cho ngân hàng Mỗi nền kinh tế khác nhau có tình hình phát triển khác nhau, do đó sẽ tácđộng tới hoạt động của ngân hàng theo chiều hướng khác nhau Dù tồn tạitrong môi trường nào, các ngân hàng cũng cần phải tìm biện pháp thích nghicho phù hợp.

* Môi trường pháp lý:

Bất kỳ một chủ thể nào tồn tại trong xã hội đều bị chi phối bởi môi trườngpháp lý, bao gồm hệ thống luật, các chế tài đi kèm bảo đảm cho pháp luậtđược thực thi, và sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể đó Các doanh nghiệpcũng không phải là một ngoại lệ Ngân hàng cũng là một doanh nghiệp, lĩnhvực kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, hoạt động kinh doanh chính củangân hàng là cho vay Trong hoạt động tín dụng ngân hàng luôn chịu sự rủi romất vốn do khách hàng cố tình không trả nợ hay do nguyên nhân khách quan

mà khách hàng mất khả năng trả nợ do đó để tồn tại và đảm bảo an toàn trongkinh doanh cũng như bảo vệ lợi ích của ngân hàng cần phải có một hệ thốngpháp luật đồng bộ, thống nhất, tạo một hành lang pháp lý vững chắc Phápluật là cơ sở để giải quyết các vấn đề khiếu nại khi có tranh chấp xảy ra, vìvậy pháp luật có vị trí hết sức quan trọng trong hoạt động ngân hàng Một sựthay đổi nhỏ trong môi trường pháp lý có thể tạo ra nhiều rủi ro hơn cho hoạtđộng của ngân hàng

Môi trường pháp luật tốt, chặt chẽ giúp cho các chủ thể tham gia quan hệtín dụng có được một chuẩn mực về pháp lý để tuân thủ và điều chỉnh hành vicủa mình phù hợp với quy định của pháp luật Chỉ trong điều kiện các chủ thểtham gia quan hệ tín dụng tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh thì quan

hệ tín dụng mới đem lại lợi ích cho cả hai phía và chất lượng tín dụng mớiđược đảm bảo và RRTD sẽ giảm đi Ngược lại, môi trường pháp luật yếukém, có nhiều khe hở, các quy định không rõ ràng sẽ tạo điều kiện cho cácchủ thể tham gia vay vốn của ngân hàng có cơ hội chiếm đoạt vốn của ngânhàng hoặc trì hoãn việc trả nợ đúng hạn, như thế hoạt động tín dụng của ngânhàng là không hiệu quả, chất lượng tín dụng giảm dẫn đến RRTD tăng lên

Trang 21

Thực tế, hiện nay Việt Nam đã đang mở cửa thị trường tiền tệ, điều kiệngia nhập thị trường này dễ dàng hơn Rõ ràng sự cởi mở hơn của pháp luậttrong kinh doanh ngân hàng đã tạo ra nhiều áp lực cạnh tranh hơn cho ngânhàng, đẩy các ngân hàng đứng trước nhiều khó khăn hơn trong quá trình hoạtđộng của mình Cùng với môi trường kinh tế, môi trường pháp lý tạo nên môitrường hoạt động cho các NHTM nói riêng và các doanh nghiệp nói chung.

* Môi trường tự nhiên, xã hội:

Thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh… là những nguyên nhân bất khả kháng nếuxảy ra một cách thường xuyên sẽ gây ra nhưng tổn thất không nhỏ đối vớingân hàng cũng như khách hàng của ngân hàng Đặc biệt các khoản tín dụngđược cấp cho ngành nông – lâm nghiệp thì môi trường tự nhiên càng ảnhhưởng trực tiếp và rõ nét Trường hợp môi trường tự nhiên khắc nghiệt, kéotheo việc đầu tư vào một số ngành công nghiệp sẽ không hiệu quả, các khoảnvay sẽ không có nguồn để trả cho ngân hàng, khả năng thu hồi nợ của ngânhàng gặp nhiều khó khăn dẫn đến rủi ro về tín dụng

Trong nhân tố xã hội, yếu tố ảnh hưởng gián tiếp gây ra RRTD đó là sựtín nhiệm giữa ngân hàng và khách hàng

Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên cơ sở tín nhiệm và lòng tin giữangười đi vay và người cho vay Một quan hệ tín dụng là sự kết hợp của 3 yếutố: nhu cầu của khách hàng, khả năng của khách hàng và sự tín nhiệm lẫnnhau giữa ngân hàng và khách hàng Một ngân hàng có uy tín lớn, sẽ tạo được

sự tín nhiệm cao đối với khách hàng, khả năng thu hút được vốn lớn, kháchhàng có tín nhiệm với ngân hàng thì thủ tục vay vốn đơn giản, dễ dàng và có

độ rủi ro thấp hơn Ngoài ra, trình độ dân trí chưa cao, sự kém hiểu biết củakhách hàng cũng là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt độngtín dụng của ngân hàng gây khó khăn cho ngân hàng trong việc quản lý tíndụng

* Do thông tin không cân xứng

Khi khách hàng đến giao dịch với ngân hàng, họ cung cấp cho ngân hàngnhững thông tin theo yêu cầu của ngân hàng nhưng liệu những thông tin đó cóđùng không thì cần phải có sự kiểm tra của ngân hàng Việc ngân hàng khôngnắm rõ thông tin là thường xuyên xảy ra, sự không cân xứng về thông tin mà

Trang 22

mỗi bên có được như vậy được gọi là “thông tin không cân xứng” Thiếuthông tin trong giao dịch có thể đưa đến sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạođức cho ngân hàng.

Việc thiếu thông tin trên thị trường tài chính, đặc biệt là thông tin vềkhách hàng đã đặt ngân hàng đứng trước nguy cơ rủi ro cao Để tránh tìnhtrạng thông tin không cân xứng, ngân hàng cần phải khai thác tối đa thông tin

từ phía khách hàng một cách tỉnh táo, đồng thời thu thập thêm thông tin vềkhách hàng từ các nguồn đáng tin cậy khác nhau Xây dựng một hệ thốngđánh giá khách hàng hiệu quả để từ đó đưa ra nhưng quyết định đúng vượtqua sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro về đạo đức của khách hàng

B Nhóm nhân tố thuộc về phía khách hàng

* Tư cách của người đi vay:

Nói đến tư cách của người đi vay là nói đến thiện chí trả nợ của người đivay Một khoản tín dụng có được thu hồi đầy đủ và đúng hạn hay không phụthuộc nhiều vào việc khách hàng có sẵn sàng trả nợ Một trong số các nguyêntắc của tín dụng là cho vay có hoàn trả, vì vậy nếu khách hàng không tôntrọng nguyên tắc này thì sẽ đẩy ngân hàng đứng trước nguy cơ RRTD Rủi ro

mà ngân hàng gặp phải là rủi ro về đạo đức khách hàng Một ngân hàng cónhiều khách hàng không có thiện chí trả nợ thì RRTD càng lớn Vì vậy,không một ngân hàng nào quyết định cho vay nếu như nghi ngờ tư cách củangười vay Tuy nhiên việc xác định tư cách khách hàng không phải là vấn đềđơn giản, nhất là đối với những khách hàng mới tiếp xúc với ngân hàng lầnđầu ngân hàng chưa có nhiều thông tin về họ Thực tế kinh doanh cho thấy,tính chân thật và khả năng trả nợ của khách hàng có thể thay đổi khi món vayđược thực hiện Có rất nhiều khách hàng thông qua việc gian lận về số liệu,giấy tờ, quyền sử dụng tài sản, sử dụng vốn vay không đùng mục đích, khôngđúng đối tượng kinh doanh, phương án kinh doanh… để lừa đảo, chiếm đoạtvốn của ngân hàng Vậy làm thế nào để đánh giá chính xác tư cách người đivay? Đây là vấn đề mà ngân hàng đang đặc biệt quan tâm và nghiên cứu Trênthực tế, khi đánh giá tư cách của một ngân hàng, ngoài việc xem xét hồ sơ củakhách hàng, ngân hàng còn phải tìm hiểu khách hàng từ bạn hàng của khách

Trang 23

hàng, từ các tổ chức tín dụng khác, từ các cơ quan quản lý nhà nước để đánhgiá khách hàng không chỉ ở hiện tại mà còn trong quá khứ.

* Năng lực của người đi vay

RRTD mà ngân hàng gặp phải không chỉ do đạo đức của khách hàng vay

mà còn do năng lực trả nợ của người đi vay Năng lực của người đi vay đóngvai trò quan trọng trong việc trả nợ cho ngân hàng Nếu khách hàng vay vốnrất có thiện chí trả nợ cho ngân hàng khi đến hạn nhưng việc sử dụng vốn củakhách hàng là không hiệu quả, khách hàng không có nguồn tài chính để trả nợngân hàng thì ngân hàng vẫn gặp rủi ro không thu hồi được nợ Năng lực củangười đi vay thể hiện ở các khía cạnh sau:

- Năng lực thị trường của DN: biểu hiện ở các mặt như: Khối lượng sảnphẩm tiêu thụ với chất lượng sản phẩm như thế nào, có phù hợp với thị hiếukhách hàng? Có đáp ứng với yêu cầu thị trường không? Vị trí của doanhnghiệp trong ngành kinh tế như thế nào? Đối thị trường trong và ngoài nước

ra sao? Quá khứ và tương lai phát triển của doanh nghiệp? Hệ thống mạnglưới tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp như thế nào? Mối quan hệ của bạnhàng, đối tác? Năng lực thị trường của doanh nghiệp biểu hiện và được lượnghoá qua tiêu thức cơ bản là sự gia tăng của doanh số tiêu thụ sản phẩm.Doanh số tiêu thụ là biểu hiện khả năng phát triển thị trường của sản phẩm và

nó cho biết khả năng phát triển của doanh nghiệp Nghiên năng lực thị trườngcủa doanh nghiệp biết được khả năng mở rộng đầu tư của doanh nghiệp cũngnhư định hướng đầu tư của doanh nghiệp nhằm kiểm tra sự phù hợp của dự ánvới khả năng sản xuất

- Năng lực sản xuất của doanh nghiệp: Biểu hiện giá trị công cụ laođộng mà chủ yếu là tài sản cố định, cụ thể là quá trình sản xuất sản phẩm,công nghệ sản xuất, các nhu cầu đầu tư trước đây có hiệu quả như thế nào?Năng lực sản xuất cho biết quy mô của doanh nghiệp và sự thích ứng của quy

mô với thị trường, cho biết cơ cấu và khả năng làm chủ giá thành sản phẩmcủa doanh nghiệp Năng lực thị trường và năng lực sản xuất tạo nên khả năngtìm kiếm lợi nhuận Mà lợi nhuận chính là nguồn trả nợ thứ nhất của ngânhàng Do đó, doanh nghiệp có năng lực thị trường và năng lực sản xuất tốt là

Trang 24

tiền đề để doanh nghiệp có lợi nhuận để trả nợ ngân hàng, rủi ro không thuhồi được nợ của ngân hàng giảm xuống.

- Năng lực tài chính của khách hàng: thể hiện trước hết ở khả năng đápứng cho hoạt động SXKD thường xuyên, ngoài ra còn thể hiện ở khả năngthanh toán của doanh nghiệp Năng lực tài chính càng cao, khả năng đáp ứngcác điều kiện tín dụng càng lớn thì rủi ro đối với ngân hàng càng giảm

- Năng lực quản lý của khách hàng: thể hiện ở khả năng nắm bắt mọivấn đề trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp và khả năng xử lý các vấn đềphát sinh một cách nhanh chóng và hợp lý nhất Năng lực quản lý còn thểhiện ở cách thức tổ chức hạch toán kế toán và quản lý tài chính phù hợp quyđịnh của pháp luật.Hệ thống tổ chức kế toán cung cấp cho ngân hàng cácthông tin về hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp nhờ đó ngân hàngnắm bắt được khả năng quản lý tài chính của doanh nghiệp

1.2.6.2 Các nhân tố chủ quan.

Các nhân tố chủ quan là các nhân tố bên trong thuộc về bản chất ngânhàng trên tất cả các mặt có liên quan tới hoạt động tín dụng và ảnh hưởng trựctiếp tới chất lượng tín dụng hay chính là các yếu tố có thể dẫn đến những rủi

ro mà ngân hàng có thể gặp phải

A Chính sách tín dụng

Chính sách tín dụng của một NHTM là một hệ thống các biện pháp liênquan đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng nhằm đạt được mục tiêu đãhoạch định của NHTM đó và hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn trong kinhdoanh của ngân hàng Bất kì một chính sách tín dụng nào trong nền kinh tếđều phải đạt được ba mục tiêu: lợi nhuận của ngân hàng, an toàn ít rủi ro, sựlành mạnh của các khoản tín dụng, một chính sách tín dụng luôn phải baoquát các vấn đề:

- Giới hạn về mặt địa lý, lĩnh vực đầu tư tín dụng

- Thể thức cho vay

- Giới hạn kỳ trả nợ, thời hạn cho vay

- Tiêu chuẩn khách hàng và tài sản bảo đảm

- Tiêu chuẩn tài chính tối thiểu mà khách hàng cần phải có

Trang 25

- Mức cho vay một khách hàng, một nhóm khách hàng.

- Thẩm quyền và thủ tục thanh lý thu hồi nợ

Qua đó có thể thấy, chính sách tín dụng là kim chỉ nam cho hoạt động tíndụng, đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi đúng quỹ đạo Một chính sách tíndụng đúng đắn, phù hợp sẽ thu hút được nhiều khách hàng, mở rộng cho vay,đảm bảo khả năng sinh lời trên cơ sở tuân thủ pháp luật và phân tán được rủi

ro Tuỳ theo đặc điểm, quy mô hoạt động của ngân hàng trong từng thời kì đểxây dựng chính sách tín dụng phù hợp, tuân theo quy định của pháp luật,tránh được những kẽ hở về thể lệ để hạn chế không cho khách hàng lợi dụngnhững kẽ hở nhằm chiếm dụng vốn gây rủi ro cho ngân hàng Để chính sáchtín dụng có hiệu quả, chính sách tín dụng phải được soạn thảo bằng văn bản,phải rõ ràng nhằm vào các mục tiêu và sách lược để đạt được mục tiêu đó, tạo

ra các khoản tín dụng lớn có khả năng thu hồi, đảm bảo khả năng sinh lời

B Quy trình tín dụng

Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàngtrong việc cấp tín dụng với các bước cụ thể được thiết lập theo một trình tựnhất định có tính liên hoàn và gắn bó chặt chẽ với nhau kể từ khi chuẩn bị hồ

sơ để nghị cấp tín dụng cho đến khi chấm dứt quan hệ tín dụng Việc xâydựng và thực hiện quy trình tín dụng chặt chẽ và hợp lý, đúng với quy địnhcho vay sẽ góp phần hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả tín dụng

C Chất lượng nhân sự

Con người chính là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong mọi hoạtđộng kinh doanh Hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn luôn tiềm ẩnnhiều rủi ro, do đó để giảm thiểu rủi ro thì đòi hỏi các ngân hàng phải có độingũ cán bộ có trình độ nghiệp vụ chuyên môn cao, khả năng nắm bắt thịtrường và phân tích thông tin tốt Ngoài ra, cán bộ tín dụng phải là người có

tư cách đạo đức tốt, có trách nhiệm cao, trung thực, liêm khiết bởi một khicán bộ tín dụng tham nhũng, hay thông đồng với khách hàng, lập hồ sơ giả,tạo tài sản đảm bảo không có thực… sẽ gây ra những tổn thất lớn cho ngânhàng

Trang 26

D Thông tin tín dụng.

Thông tin tín dụng có vai trò hết sức quan trọng trong việc quản lý chấtlượng tín dụng và quản lý rủi ro Nhờ có thông tin tín dụng mà cán bộ ngânhàng có thể phân tích khả năng hiện tại và khả năng tiềm tàng của khách hàngtrong việc sử dụng vốn vay cũng như hoàn trả vốn vay cho ngân hàng Trên

cơ sở đó ngân hàng có thể nhìn thấy được các nguy cơ rủi ro và dự kiến biệnpháp phòng ngừa rủi ro hợp lý và kịp thời Mức độ chính xác và kịp thời củacác nguồn thông tin càng lớn thì khả năng phòng ngừa RRTD càng cao

E, Kiểm soát nội bộ

Đây là hoạt động mang tính cần thiết và thường xuyên đối với mọi ngânhàng

Hoạt động kiểm soát giúp phát hiện sai sót vì nguyên nhân của các sai sótphát sinh trong quá trình thực hiện các khoản tín dụng, chính vì vậy mà banlãnh đạo có thể kịp thời khắc phục sai sót, tránh rủi ro và đảm bảo chất lượngtín dụng Công tác kiểm soát nội bộ hoạt động kinh doanh của ngân hàngcàng thường xuyên, càng chặt chẽ càng làm cho hoạt động kinh doanh đúnghướng

1.3 Quản lý RRTD.

1.3.1 Các bước quản lý rủi ro.

Quy trình quản lý rủi ro tín dụng:

Bước 1: Phân hạng danh mục rủi ro tín dụng

Bước 2: Rà soát, xếp hạng rủi ro

Bước3: Danh mục rủi ro tín dụng cần giám sát, nội dung giám sát

Bước 4: Lập phương pháp giám sát hợp lý

Bước 5: Quá trình kiểm tra, đánh giá

Bước 6: Các dấu hiệu cảnh báo về những khoản tín dụng có khả năng có

1.3.2 Biện pháp quản lý RRTD của NHTM

1.3.2.1 Các phương pháp quản lý rủi ro chủ động

- Tổ chức hợp lý và khoa học quy trình tín dụng theo hướng chặt chẽ và

có hiệu quả, tập trung vào ba giai đoạn: nghiên cứu khách hàng, giám sátkhách hàng vay và thu nợ

Trang 27

- Thực hiện đa dạng hoá khách hàng và phương thức cho vay nhằmphân tán rủi ro.

- Thẩm định kĩ lưỡng trước khi cho vay

- Xây dựng hạn mức tín dụng (giới hạn cho vay)

- Nâng cao trình độ năng lực đội ngũ cán bộ, nhất là năng lực thẩm định

dự án, thẩm định khách hàng

1.3.2.2 Các phương pháp quản lý rủi ro thụ động.

- Theo dõi sau cho vay và xử lý nợ có vấn đề, khi một khoản cho vay cóvấn đề thì không phải NHTM sẽ mất trắng NHTM cần phải tìm cách thu hồitoàn bộ hoặc một phần khoản vay Có hai sự lựa chọn đối với xử lý nợ quáhạn: khai thác hoặc thanh lý Tuy vậy cần nhấn mạnh ở đây ba nguyên tắc xử

lý nợ quá hạn là: chống xoá nợ, hạn chế gia nợ, chống đảo nợ

- Khai thác là một quá trình làm việc với người vay cho đến khi khoản

nợ được trả một phần hay toàn bộ mà không dựa vào các công cụ pháp lý để

ép buộc thu nợ

- Thanh lý đối với các khoản nợ có vấn đề,nợ khó đòi được thực hiệnkhi việc tổ chức khai thác tỏ ra không hiệu quả Các công cụ để thực hiệnthanh lý bao gồm: phát mại tài sản thế chấp, kết hợp với cơ quan pháp lý để

ép buộc thu hồi nợ, sử dụng nghiệp vụ mua bán nợ trên thị trường

- Trích lập dự phòng tổn thất thoả đáng

- Xây dựng các công cụ phái sinh

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG

TMCP QUỐC TẾ (VIB)2.1 Khái quát về môi trường kinh tế xã hội và hoạt động của ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB).

2.1.1 Đặc điểm về tình hình kinh tế xã hội Việt Nam nói chung và tình hình kinh tế xã hội TP Hà Nội nói riêng.

Trang 28

Năm 2009, trước tình hình khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thếgiới, Việt Nam đã chuyển sang mục tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế và giữ ổnđịnh kinh tế vĩ mô Kinh tế Việt Nam năm 2009 bên cạnh những điểm sángthể hiện thành tựu đạt được vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế và thách thức Việcđánh giá, nhìn nhận lại kinh tế Việt Nam năm 2009 để rút ra những bài học,chỉ rõ những thách thức và giải pháp cho năm 2010 có ý nghĩa quan trọng đốivới các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam.

2.1.1.1 Tổng quan kinh tế vĩ mô Việt Nam năm 2009.

A Gói kích thích kinh tế

Trước những tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính toàn cầu vàngăn chặn suy giảm kinh tế, từ đầu năm 2009, Chính phủ đã đưa ra gói kíchthích kinh tế Gói kích thích kinh tế đã triển khai được phân thành các cấuphần sau: (i) gói hỗ trợ lãi suất 4%; (ii) gói hỗ trợ tiêu dùng bao gồm miễnthuế thu nhập cá nhân và hỗ trợ người nghèo ăn Tết; (iii) gói hỗ trợ đầu tư baogồm miễn, giảm, giãn thuế doanh thu, thuế VAT cho các doanh nghiệp và chonông dân vay vốn không lãi suất để mua thiết bị, máy móc sản xuất côngnghiệp; (iv) đầu tư công bao gồm xây dựng kết cấu hạ tầng, nhà ở cho sinhviên và khu chung cư cho người thu nhập thấp Tuy chưa được đánh giá mộtcách sâu sắc và toàn diện về hiệu quả của gói kích thích kinh tế, nhưng về cơbản nó đã đạt được mục tiêu đề ra là ngăn chặn được đà suy giảm kinh tế.Trong đó, các cấu phần có tác động mạnh nhất là gói hỗ trợ lãi suất 4% vàchính sách miễn, giảm, giãn thuế cho doanh nghiệp Các gói này được xemnhư một liều thuốc “giải cứu” giúp nhiều doanh nghiệp vay được vốn để phụchồi và duy trì sản xuất và giải quyết việc làm Đồng thời, chúng còn góp phầnquan trọng làm cho hệ thống ngân hàng cải thiện được tính thanh khoản vàduy trì khả năng trả nợ của khách hàng Tuy nhiên, bên cạnh những kết quảtrên, gói kích thích kinh tế vẫn bộc lộ nhiều tồn tại và hệ luỵ Thứ nhất, làmphát sinh tình trạng không công bằng giữa các doanh nghiệp được vay vàkhông được vay vốn hỗ trợ lãi suất, tạo ra môi trường kinh doanh bất bìnhđẳng Thứ hai, việc thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất cùng với việc thực hiệnchính sách tài khoá mở rộng và chính sách tiền tệ nới lỏng làm cho tổngphương tiện thanh toán và tín dụng tăng ở mức cao gây nguy cơ tái lạm phát,

Trang 29

gây đột biến trên thị trường ngoại hối, thị trường vàng, thị trường bất độngsản Thứ ba, hiệu quả của gói đầu tư công và cho nông dân vay vốn mua thiết

bị máy móc còn rất hạn chế do những khó khăn về nguồn vốn và thủ tục Vìvậy, những thành công và hạn chế của gói kích thích kinh tế quả thật là nhữngvấn đề rất đáng được nghiên cứu và đánh giá để đưa ra những chính sách phùhợp trong thời gian tới

B Tăng trưởng kinh tế

Cần khẳng định rằng dưới tác động mạnh của khủng hoảng kinh tế toàn cầu,quá trình suy giảm kinh tế của Việt Nam đã không kéo dài và sự phục hồi tốc độtăng trưởng đến nhanh Hình 1 cho thấy nền kinh tế chạm đáy suy giảm tăngtrưởng trong quý I/2009 sau đó liên tục cải thiện tốc độ ở các quý sau Tốc độ tăngGDP quý II đạt 4,5%, quý III đạt 5,8% và dự đoán quý IV sẽ đạt 6,8%

Hình 1: Tăng trưởng GDP theo quý

Các chỉ số tăng trưởng cho các ngành cũng thể hiện một xu hướng phụchồi rõ rệt Giá trị sản xuất công nghiệp quý I đạt 3,2%, quý II tăng lên 7,6%

và quý III là 8,5% So với khu vực công nghiệp, thì khu vực dịch vụ chịu tácđộng ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới ở mức độ thấp hơn Nhìnchung, khu vực dịch vụ vẫn duy trì tăng trưởng khá cao, tốc độ tăng trưởngtrong quý I là 5,1%, trong quý II, 5,7% và 6,8% trong quý III Căn cứ kết quảthực hiện 9 tháng đầu năm và triển vọng các tháng tiếp theo, tốc độ tăngtrưởng giá trị khu vực dịch vụ ước thực hiện cả năm 2009 có thể đạt 6,5%.Đối với lĩnh vực nông nghiệp, do sản lượng lương thực năm 2008 đã đạt mức

Trang 30

kỷ lục so với trước, nên ngành nông nghiệp tăng không nhiều trong năm

2009 Ước thực hiện giá trị tăng thêm ngành nông, lâm, thuỷ sản tăng khoảng1,9%

Như vậy: Xu hướng phục hồi tăng trưởng là khá vững chắc và đạt đượcngay từ trước khi các gói kích cầu được triển khai trên thực tế Với mức tăngtrưởng như vậy dự báo GDP cả năm 2009 sẽ đạt 5,2%, cao hơn so với mứctăng trưởng đáy trong 20 năm qua ở mức 4,77% của năm 1999 Đây là mộtthành tựu kinh tế nổi bật trong năm 2009 nếu đặt trong bối cảnh Việt Nam làmột trong số ít nền kinh tế trong khu vực và thế giới vẫn đạt mức tăng trưởngdương

C Đầu tư phát triển

Trong bối cảnh suy giảm kinh tế, những khó khăn trong sản xuất kinhdoanh và hiệu quả đầu tư kinh doanh giảm sút đã ảnh hưởng trực tiếp đến cáchoạt động đầu tư phát triển Trước tình hình đó, Chính phủ đã thực hiện cácgiải pháp kích cầu đầu tư, tăng cường huy động các nguồn vốn, bao gồm việcứng trước kế hoạch đầu tư ngân sách nhà nước (NSNN) của các năm sau, bổsung thêm nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, vốn tín dụng đầu tư, tín dụng xuấtkhẩu, tín dụng đào tạo lại cho người lao động bị mất việc làm… Với những

nỗ lực đó, nguồn vốn đầu tư toàn xã hội năm 2009 đã đạt được những kết quảtích cực Ước tính tổng đầu tư toàn xã hội năm 2009 đạt 708,5 nghìn tỷ đồng,bằng 42,2% GDP, tăng 16% so với năm 2008 Trong đó, nguồn vốn đầu tưnhà nước (gồm đầu tư từ ngân sách nhà nước, nguồn trái phiếu Chính phủ,nguồn tín dụng đầu tư theo kế hoạch nhà nước và nguồn đầu tư của các doanhnghiệp nhà nước) là 321 nghìn tỷ đồng, tăng 43,3% so với năm 2008; nguồnvốn đầu tư của tư nhân và của dân cư là 220,5 nghìn tỷ, tăng 22,5% Nhữngkết quả này cho thấy các nguồn lực trong nước được huy động tích cực hơn.Tuy nhiên, trong khi các nguồn vốn đầu tư trong nước có sự gia tăng thìnguồn vốn FDI năm 2009 lại giảm mạnh Tổng số vốn FDI đăng ký mới vàtăng thêm ước đạt 20 tỷ USD (so với 64 tỷ USD năm 2008), vốn thực hiệnước đạt khoảng 8 tỷ USD (so với 11,5 tỷ USD năm 2008) Tổng vốn ODA kýkết cả năm ước đạt 5,456 tỷ USD, giải ngân đạt khoảng 3 tỷ USD

Trang 31

Tăng vốn đầu tư trong bối cảnh khó khăn kinh tế toàn cầu là một điểmsáng của kinh tế Việt Nam năm 2009 để vượt qua tình trạng suy giảm kinh tế.Tuy nhiên, những hạn chế trong hiệu quả đầu tư đã xuất hiện từ nhiều nămnay và càng trở thành vấn đề cần giải quyết Nếu như năm 1997, chúng ta đạtđược tốc độ tăng trưởng 8,2% với vốn đầu tư chỉ chiếm 28,7% GDP thì cũngvới tốc độ tăng trưởng xấp xỉ như vậy năm 2007 (8,5%) chúng ta phải đầu tưtới 43,1% GDP Đến năm 2009, trong khi tổng mức đầu tư toàn xã hội lên tới42,2% GDP, thì tốc độ tăng trưởng lại chỉ đạt 5,2% Chỉ số ICOR năm 2009

đã tăng tới mức quá cao, trên 8 so với 6,6 của năm 2008 Bên cạnh đó còn xảy

ra tình trạng chậm trễ trong giải ngân nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhànước và nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, lãng phí, thất thoát vốn đầu tư ở tất

cả các khâu của quá trình quản lý dự án đầu tư Những đặc điểm này là đángbáo động về cả trước mắt cũng như lâu dài

D Lạm phát và giá cả

Nếu như năm 2008 là năm chứng kiến một tốc độ lạm phát cao kỷ lụctrong vòng hơn một thập kỷ qua thì năm 2009 lại chứng kiến một mức lạmphát ở mức dưới hai con số Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả nước qua 10 thángđầu năm chỉ tăng 4,49% so với tháng 12/2008 Đây là mức tăng chỉ số giá tiêudùng khá thấp so với những năm gần đây và là mức tăng hợp lý, không gâyảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của người dân Nhiều loại hàng hoá

có ảnh hưởng mạnh trong rổ hàng hoá để tính CPI tăng thấp Chỉ số CPIlương thực tăng nhẹ trong 6 tháng đầu năm (0,59%) nhưng lại có xu hướnggiảm trong những tháng cuối năm Như vậy, nếu như lương thực, thực phẩmluôn là đầu tàu kéo lạm phát đi lên trong những năm 2007 và 2008 thì ở năm

2009 nhân tố này không còn đóng vai trò chính nữa

Hình 2: Diễn biến lạm phát hàng tháng năm 2009

Trang 32

Duy trì tốc độ tăng lạm phát và giá cả của năm 2009 ở mức một con số là một điểm sáng nữa trên bức tranh kinh tế Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thếgiới chưa thoát khỏi suy thoái kinh tế Thành tựu kiềm chế lạm phát trong năm 2009 có tác động tích cực đến ổn định kinh tế - xã hội cũng như tạo thuận lợi cho việc triển khai các chính sách kích thích kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng và đảm bảo an sinh xã hội Mặc dù xu hướng tăng của giá tiêu dùng chưa có biểu hiện rõ rệt, nhưng một số yếu tố chủ yếu có thể sẽ tác độnglàm tăng nguy cơ tái lạm phát cao trở lại Đó là tăng trưởng tín dụng đang ở mức cao do thực hiện các chính sách tài chính, tiền tệ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế; giá của các mặt hàng nước ta nhập khẩu với khối lượng lớn trên thị trường thế giới bắt đầu có xu hướng tăng cao do sự phục hồi của kinh tế toàn cầu, đặc biệt giá xăng dầu Mặt khác, những nguyên nhân cơ bản gây ra lạm phát cao ở Việt Nam năm 2008 vẫn còn Đó là sự thiếu kỷ luật tài chính trong đầu tư công và trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước

(DNNN) và tập đoàn lớn Do vậy, kích cầu đầu tư thông qua nới lỏng tín dụng

Trang 33

cho các DNNN và tập đoàn mà thiếu sự thẩm định và giám sát thận trọng chắc chắn sẽ kích hoạt cho lạm phát trở lại.

E Tỷ giá

Nhiều năm trở lại đây, Ngân hàng nhà nước (NHNN) kiên trì chính sách

ổn định đồng tiền Việt Nam so với đồng đô la Mỹ Diễn biến tỷ giá trong năm

2009 là tương đối phức tạp Mặc dù NHNN đã điều chỉnh nâng tỷ giá liênngân hàng và biên độ từ + 3% lên + 5% vào tháng 4/2009, trên thị trường tự

do giá ngoại tệ nhanh chóng áp sát mức 18.300 đồng/đôla Mỹ và đến tháng 11

đã lên trên 19.000 đồng/đôla Mỹ

Hình 3: Diễn biến tỷ giá USD/VND 2008-2009

Hình 3 cho thấy càng về cuối năm tỷ giá càng biến động và mất giá mạnh,thị trường ngoại hối luôn có biểu hiện căng thẳng, đồng thời USD tín dụng thìthừa, USD thương mại thì thiếu Các ngân hàng không có ngoại tệ để bán chodoanh nghiệp và nếu có bán thì mức tỷ giá cũng cao hơn mức tỷ giá trần doNHNN quy định Những bất ổn trên thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái đãtiếp tục gây ra những khó khăn cho hoạt động xuất nhập khẩu Hơn nữa, đồngtiền mất giá còn ảnh hưởng đến lạm phát trong nước do giá hàng nhập khẩutăng mạnh Trong bối cảnh lạm phát có xu hướng gia tăng và tính không ổnđịnh trên thị trường tiền tệ, đòi hỏi cần phải có sự lựa chọn linh hoạt cơ chếđiều hành tỷ giá để đạt được mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định thịtrường tiền tệ

Trang 34

F Thu chi ngân sách

Năm 2009, các giải pháp miễn, giảm, giãn thuế kết hợp với giảm thu từdầu thô và giảm thu do duy giảm kinh tế đã làm cho nguồn thu ngân sách bịgiảm mạnh Ước tính tổng thu ngân sách cả năm đạt 390,65 nghìn tỷ đồng,xấp xỉ so với mức dự toán (389,9 nghìn tỷ) và giảm 6,3% so với thực hiệnnăm 2008 Điểm sáng duy nhất trong hoạt động thu ngân sách năm nay là chỉ

có thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) tăng so với năm 2008 (tăng 9,8 nghìntỷ) còn các khoản thu khác đều sụt giảm Mặt khác, nhu cầu và áp lực chi tănglên cho kích thích tăng trưởng và đảm bảo an sinh xã hội Tổng chi ngân sáchước đạt trên 533 nghìn tỷ đồng, tăng 8,5% so với dự toán và 7,5% so với năm

2008 Tổng bội chi ngân sách ước khoảng 115,9 nghìn tỷ đồng, bằng 6,9%GDP, cao hơn nhiều so với mức 4,95% của năm 2008 và kế hoạch đề ra(4,82%) Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu, tình trạng khó khăntrong nước và áp lực phải tăng chi để phục hồi kinh tế và ổn định đời sốngnhân dân, tăng bội chi ngân sách là điều không tránh khỏi Tuy nhiên, bội chingân sách tăng trong bối cảnh chính sách tiền tệ nới lỏng luôn tiềm ẩn nguy

cơ lạm phát cao trở lại Điều này cũng cảnh báo độ an toàn của ngân sách trongcác năm tiếp theo nếu như không chủ động có các biện pháp cải cách để tạo nềntảng tăng nguồn thu cũng như tăng cường kỷ luật tài chính cho ngân sách

Hình 4: Bội chi ngân sách 2005-2009

Trang 35

Xuất nhập khẩu và cán cân thương mại

Năm 2009, tình hình xuất nhập khẩu khẩu của Việt Nam gặp nhiều khókhăn do khủng hoảng kinh tế toàn cầu dẫn đến sự đình trệ sản xuất và hạn chếtiêu dùng ở những nước vốn là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam như

Mỹ, Nhật Bản, EU Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2009 ước đạt khoảng56,5 tỷ USD, giảm 9,9% so với năm 2008 Tình hình xuất khẩu như vậykhông đến nỗi quá xấu nếu chúng ta nhìn vào nguyên nhân của nó Kimngạch xuất khẩu giảm là do giá cả thế giới giảm (riêng yếu tố giảm giá trong

9 tháng đầu năm làm kim ngạch xuất khẩu giảm trên 6 tỷ USD) - một yếu tốngoài tầm kiểm soát của chúng ta; trong khi đó khối lượng hàng hoá xuấtkhẩu có sự tăng đáng kể giúp chúng ta giảm thiểu được đáng kể đến tốc độtăng kim ngạch xuất khẩu và xa hơn là giảm thiểu được tác động tiêu cực đếnviệc làm và thu nhập của người lao động Vấn đề tồn tại lớn nhất của xuấtkhẩu bộc lộ trong nhiều năm qua là việc vẫn phụ thuộc nhiều vào các mặthàng khoáng sản, nông, lâm, thuỷ, hải sản Các mặt hàng công nghiệp chếbiến vẫn mang tính chất gia công Như vậy, xuất khẩu chủ yếu vẫn dựa vàokhai thác lợi thế so sánh sẵn có mà chưa xây dựng được các ngành côngnghiệp có mối liên kết chặt chẽ với nhau để hình thành chuỗi giá trị gia tăngxuất khẩu Trong thời gian tới, xuất khẩu của Việt Nam sẽ chịu thách thức lớnhơn, nhất là trong bối cảnh tác động của khủng hoảng những rào cản thươngmại mới ngày càng nhiều với các hành vi bảo hộ thương mại tinh vi tại các thịtrường lớn sẽ dành cho các mặt hàng xuất khẩu, nhất là các mặt hàng chủ lựccủa Việt Nam như khoáng sản, nông, lâm, hải sản

Bảng 1: Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam thời kỳ 2006-2009

Trang 36

Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2009 ước đạt 67,5 tỷ USD, giảm 16,4%

so với năm 2008 Điều này phản ánh những khó khăn của sản xuất trong nước

do suy giảm kinh tế Tuy nhiên, trong các tháng cuối năm, nhu cầu nhập khẩu

có thể tăng lên khi các biện pháp hỗ trợ sản xuất phát huy tác dụng Mặc dù

cả kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu đều giảm sút, nhưng do tốc

độ giảm kim ngạch xuất khẩu chậm hơn tốc độ giảm kim ngạch nhập khẩu,nên nhập siêu năm 2009 giảm xuống chỉ còn khoảng 11 tỷ USD, chiếm16,5% tổng kim ngạch xuất khẩu Như vậy, so với những năm gần đây cáncân thương mại đã có sự cải thiện đáng kể, thể hiện quyết tâm của Chính phủtrong việc kiềm chế nhập khẩu những mặt hàng không cần thiết Song mứcnhập siêu vẫn còn cao thể hiện việc phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ

và chuyển dịch cơ cấu hàng xuất nhập khẩu vẫn còn chậm

Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chính sách giảmnghèo, trong đó có chính sách hỗ trợ cho các hộ nghèo xây nhà ở, vay vốn sảnxuất, kinh doanh, cho vay học sinh, sinh viên, mua thẻ bảo hiểm y tế Đồngthời, Chính phủ cũng triển khai công tác hỗ trợ các hộ nghèo, hộ bị ảnh hưởngthiên tai, bị thiệt hại về gia súc, gia cầm, vật nuôi để ổn định sản xuất và đờisống Ngoài ra, Chính phủ cũng đã tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết30a/2008/NQ-CP của Chính phủ gắn với chương trình xây dựng nông thônmới; tổ chức, động viên các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân hỗ trợ cáchuyện nghèo thực hiện chương trình này; ứng trước vốn cho các huyện; triểnkhai các chính sách mới, trong đó có chính sách cấp gạo cho hộ nghèo ở biêngiới, thực hiện mức khoán mới về bảo vệ rừng, hỗ trợ học nghề, xuất khẩu lao

Trang 37

động và tăng cường cán bộ cho các huyện nghèo Hoạt động chăm sóc người

có công và các đối tượng chính sách tiếp tục được duy trì và mở rộng

Năm 2009 tổng số chi cho an sinh xã hội ước khoảng 22.470 tỷ đồng, tăng62% so với năm 2008, trong đó chi điều chỉnh tiền lương, trợ cấp, phụ cấpkhoảng 36.700 tỷ đồng; trợ cấp cứu đói giáp hạt và khắc phục thiên tai 41.580tấn gạo (riêng số gạo cứu trợ đợt đầu khắc phục hậu quả bão số 9 là 10.300tấn) Tổng dư nợ của 18 chương trình cho vay hộ nghèo và các đối tượngchính sách do Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện ước đến cuối năm đạt

76 nghìn tỷ đồng, tăng 45,3% so với năm 2008 Các doanh nghiệp đã hỗ trợ

62 huyện nghèo trên 1.600 tỷ đồng Kết quả các nỗ lực chung đó đã góp phần

ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số,vùng sâu, vùng xa, các đối tượng chính sách, góp phần xoá đói, giảm nghèo,giải quyết việc làm và giữ vững ổn định chính trị, xã hội Đặc biệt là đối vớingười nghèo Tỷ lệ hộ nghèo đến cuối năm 2009 giảm còn khoảng 11% Tuynhiên, tình hình suy giảm kinh tế đã ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng giảiquyết việc làm cho người lao động Dự kiến đến cuối năm 2009, có khoảng1,51 triệu lượt lao động được giải quyết việc làm, đạt 88,5% kế hoạch năm vàbằng 93,2% so với thực hiện năm 2008 Số lao động đi làm việc ở nước ngoàinăm 2009 ước đạt 7 vạn người, giảm đáng kể so với con số 8,5 vạn người củanăm 2008

2.1.1.2 Khái quát về tình hình kinh tế xã hội TP Hà Nội

Năm 2009, tổng sản phẩm nội địa tăng 6,67% so với năm 2008, trong đó

ngành công nghiệp tăng 6,85%, các ngành dịch vụ tăng 7,43%, ngành nông,lâm, thuỷ sản tăng 0,08%

So năm 2008, giá trị sản xuất công nghiệp năm nay trên địa bàn tăng

9,4% , giá trị sản xuất công nghiệp Nhà nước Trung ương tăng 5,5%, giá trị sảnxuất công nghiệp Nhà nước địa phương tăng 8,3%, giá trị sản xuất công nghiệpngoài Nhà nước tăng 11,9%, giá trị sản xuất công nghiệp khu vực có vốn đầu

tư nước ngoài tăng 9,4%

Vốn đầu tư phát triển 12 tháng năm 2009 đạt 23.635,7 tỷ đồng, tăng 7,2%

so với cùng kỳ; bằng 83,8% so với kế hoạch năm Trong đó: Vốn ngân sáchNhà nước đạt 10.546,9 tỷ đồng, tăng 22,4%; vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước

Trang 38

bằng 83,9%; vốn tự có của doanh nghiệp Nhà nước đạt 3.910,5 tỷ đồng, bằng75,2%.

Huy động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2009, Hà Nội thu hút được

340 dự án, với vốn đầu tư đăng ký khoảng 500 triệu USD Vốn đầu tư thựchiện năm 2009 dự kiến đạt 650 triệu USD Vốn đầu tư xã hội năm 2009 là147.814 tỷ đồng, tăng 18,2%

Tổng thu ngân sách trên địa bàn dự kiến cả năm 2009 đạt 73.500 tỷ đồng,

vượt 4,2% dự toán năm, tăng 1,5% so năm 2008, trong đó thu nội địa là 61.300

tỷ đồng, vượt 7,3% dự toán, tăng 0,6% Tổng chi ngân sách địa phương năm

2009 là 28.736 tỷ đồng, vượt 17,3% dự toán, giảm 9%, trong đó chi thườngxuyên là 12.597 tỷ đồng, vượt 20,7% dự toán, tăng 26,5%; chi xây dựng cơ bản

là 13.125,5 tỷ đồng, vượt 15% dự toán, tăng 38,2%

Tổng nguồn vốn huy động đến hết tháng Mười hai năm 2009 là 591.152 tỷ

đồng, tăng 27,98% so cùng kỳ năm trước, trong đó tiền gửi tiết kiệm tăng

2,10% và 38,23%, tiền gửi thanh toán tăng 1,5% và 19,28% Tổng dư nợ cho vay đến cuối tháng Mười hai năm 2009 đạt 368.710 tỷ đồng, tăng 38,9% so

cùng kỳ năm trước, trong đó dư nợ ngắn hạn tăng 2,64% và 38,27%, dư nợtrung và dài hạn tăng 1,06% và 39,79%

Tổng mức và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội năm nay dự kiến tăng

13,6% so với năm 2008, trong đó tổng mức bán lẻ tăng 19,9%

Năm 2009 kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội dự kiến giảm 7,8% so với năm trước, kim ngạch nhập khẩu giảm 17,4%.

2.1.2 Tình hình hoạt động của các NHTM Việt Nam.

Năm 2009, mặc dù chính sách tiền tệ, tỷ giá tương đối ổn định nhưng thị

trường ngân hàng năm 2009 vẫn còn quá nhiều diễn biến phức tạp, trong đó

nổi lên là các vấn đề căng thẳng ngoại tệ; huy động vốn và cho vay, đặc biệtcho vay hỗ trợ lãi suất Thực tế cũng ghi nhận những phản ứng khá nhanh củaNgân hàng Nhà nước trước biến động của thị trường vàng, ngoại tệ

Sau đây là một số điểm nổi bật trong hoạt động của ngành ngân hàng năm2009:

2.1.2.1 Chính sách tiền tệ ổn định

Trang 39

Với diễn biến có phần nới lỏng đầu năm và thắt chặt cuối năm, ngược lạinăm 2008, các chính sách tiền tệ năm 2009 được cho là ổn định với 2 lần điềuchỉnh lãi suất cơ bản Cụ thể đầu tháng 2/2009, lãi suất cơ bản bằng đồng ViệtNam giảm từ 8,5%/năm xuống 7%/năm; lãi suất cho vay tối đa của các tổchức tín dụng bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng giảm từ 12,75%/nămxuống 10,5%/năm.

Mức lãi suất nói trên duy trì đến hết tháng 11/2009 và kể từ 1/12/2009, lãisuất cơ bản được điều chỉnh tăng lên 8%/năm, kéo theo mức lãi suất cho vaytối đa của các tổ chức tín dụng với khách hàng tăng từ 10,5% lên 12%/năm Cùng với lãi suất cơ bản, biên độ tỷ giá cũng được điều chỉnh 2 lần, gồmnới rộng từ +/-3% lên +/-5% từ 24/3/2009 và thu hẹp lại từ +/-5% xuống +/-3% từ ngày 26/11/2009 Riêng lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấuđược điều chỉnh 3 lần, tỷ lệ dự trữ bắt buộc điều chỉnh 1 lần

2.1.2.2 Cho vay hỗ trợ lãi suất.

Lần đầu tiên trong lịch sử, Chính phủ đã ban hành chính sách cho vay hỗtrợ lãi suất nhằm đối phó với tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu,ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì sản xuất, kinh doanh và tạo việc làm chongười lao động Cùng với lãi suất cơ bản điều chỉnh giảm xuống 7%, từ1/2/2009, các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng bắt đầu cho vay hỗ trợlãi suất 4% theo các Quyết định 131, 443 và 497 của Thủ tướng Chính phủ về

hỗ trợ vốn lưu động không quá 8 tháng; cho vay trung và dài hạn phục vụ sảnxuất; cho vay khu vực nông nghiệp nông thôn

Tính tới 24/12/2009, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất là 412.180 tỷ đồng,trong đó dư nợ của nhóm NHTM nhà nước và Quỹ tín dụng nhân dân Trungương là 274.884 tỷ đồng, nhóm ngân hàng thương mại cổ phần là 108.085 tỷđồng; nhóm ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngânhàng 100% vốn nước ngoài là 20.747 tỷ đồng; công ty tài chính là 8.463,24 tỷđồng

Việc hỗ trợ lãi suất được cho là liều thuốc kích thích khá tốt đối với cácdoanh nghiệp nhưng với nhiều doanh nghiệp chỉ là về mặt tinh thần TheoHiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, chỉ có khoảng 20% số doanhnghiệp có nhu cầu vay hỗ trợ lãi suất tiếp cận được nguồn vốn vay Cùng với

Trang 40

đó, do chưa có hệ thống liên kết chặt chẽ giữa các ngân hàng nên xuất hiệntình trạng "đảo nợ", ngân hàng vay hỗ trợ lãi suất ở ngân hàng này để trả tiềnvay trước đó không được hỗ trợ lãi suất ở ngân hàng khác Tuy hoạt động này

bị cấm nhưng lại khó phát hiện, và xét ở khía cạnh tích cực thì nó cũng giúpnhiều doanh nghiệp thoát khỏi nguy cơ phá sản

Trong bối cảnh mới của kinh tế thế giới và trong nước, Chính phủ đãquyết định chấm dứt hỗ trợ lãi suất ngắn hạn theo đúng quyết định ban đầu,nghĩa là đến hết 31/12/2009 Riêng hỗ trợ lãi suất cho vay phục vụ sản xuất

và khu vực nông nghiệp theo Quyết định 443, 497 thì kéo dài hết năm 2010nhưng mức hỗ trợ giảm một nửa, xuống 2%

2.1.2.3 Dư nợ tín dụng tăng.

Dù chính sách tiền tệ tương đối ổn định nhưng dư nợ tín dụng trong năm

2009 lại đạt mức kỷ lục trong nhiều năm qua Bức tranh u ám của kinh tếtrong nước và thế giới cuối năm 2008, đầu năm 2009 đã buộc Chính phủ banhành một loạt biện pháp kích cầu, trong đó hoạt động cho vay nới lỏng đểkích thích sản xuất tiêu dùng

Tính đến cuối tháng 11/2009, dư nợ tín dụng trên toàn hệ thống ngân hàng

đã tăng tới 37%, vượt xa tất cả các định hướng và dự kiến (đầu năm dự kiếnchỉ tăng từ 21-23%, giữa năm định hướng tăng cả năm không quá 30%) Mứctăng dư nợ này cao hơn rất nhiều mức 21% của cả năm 2008 và cũng là mứccao hàng đầu trong thập kỷ qua

Chính tăng trưởng tín dụng nóng đã khiến Ngân hàng Nhà nước có nhiềubiện pháp thắt chặt tiền tệ vào cuối năm 2009, trong đó có việc nâng lãi suất

cơ bản Vì thế, việc tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng của các doanh nghiệp,

cá nhân cuối năm gặp rất nhiều khó khăn, nhiều ngân hàng từ chối cho vay dùvẫn còn hạn mức Dự kiến năm 2010 chủ trương thắt chặt này vẫn được duytrì, bởi Ngân hàng Nhà nước đã đặt ra mục tiêu tăng dư nợ tín dụng năm tớichỉ ở mức 25%

2.1.2.4 Thị trường ngoại tệ, vàng chao đảo

Nửa cuối năm 2009 chứng kiến sự căng thẳng và diễn biến tăng giá kỷ lụccủa đồng USD, tác động không nhỏ tới hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêudùng Trong khi các doanh nghiệp xuất khẩu có phần hưởng lợi từ tỷ giá tăng

Ngày đăng: 16/07/2013, 10:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Tăng trưởng GDP theo quý - Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại NH TMCP Quốc tế
Hình 1 Tăng trưởng GDP theo quý (Trang 29)
Hình 3: Diễn biến tỷ giá USD/VND 2008-2009 - Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại NH TMCP Quốc tế
Hình 3 Diễn biến tỷ giá USD/VND 2008-2009 (Trang 33)
Hình 4: Bội chi ngân sách 2005-2009 - Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại NH TMCP Quốc tế
Hình 4 Bội chi ngân sách 2005-2009 (Trang 34)
Bảng 2: Tình hình huy động vốn tại ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB) - Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại NH TMCP Quốc tế
Bảng 2 Tình hình huy động vốn tại ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB) (Trang 47)
Bảng 3: Tình hình dư nợ tại ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB) - Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại NH TMCP Quốc tế
Bảng 3 Tình hình dư nợ tại ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB) (Trang 50)
Bảng 4: Tỷ lệ nợ quá hạn - Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại NH TMCP Quốc tế
Bảng 4 Tỷ lệ nợ quá hạn (Trang 54)
Bảng 5: Tình hình nợ xấu tại ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB) - Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại NH TMCP Quốc tế
Bảng 5 Tình hình nợ xấu tại ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB) (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w