Nghiên cứu thực trạng sản xuất rau tại khu vực xã Thanh Xuân. Nghiên cứu hàm lượng nitrat tồn dư trong rau của một số loại hình canh tác tại xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội. Nghiên cứu hàm lượng nitrat trong đất trồng rau hữu cơ và đất trồng rau thông thường. Đề xuất các giải pháp giảm thiểu lượng nitrat trong rau, nâng cao chất lượng nông sản. 6. Kết quả nghiên cứu Thực trạng trồng rau tại xã Thanh Xuân. Nghiên cứu thực trạng sản xuất rau tại khu vực xã Thanh Xuân. Nghiên cứu hàm lượng nitrat tồn dư trong rau của một số loại hình canh tác tại xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội. Nghiên cứu hàm lượng nitrat trong đất trồng rau hữu cơ và đất trồng rau thông thường. Đề xuất các giải pháp giảm thiểu lượng nitrat trong rau, nâng cao chất lượng nông sản. 6. Kết quả nghiên cứu Thực trạng trồng rau tại xã Thanh Xuân.
Trang 1khăn, nhưng nhờ sự dẫn dắt tận tình của Ths Bùi Văn Năng cũng như nhậnđược sự giúp đỡ từ các thầy cô giáo trong khoa, các thầy cô giáo trung tâmphân tích môi trường mà tôi đã hoàn thành khóa luận này Tôi xin cảm ơnthầy Bùi Văn Năng và các thầy cô giáo trong Khoa Quản lý tài nguyên rừng
và Môi trường, trường Đại học Lâm Nghiệp về sự giúp đỡ tâm huyết củamình
Đề tài khóa luận này được thực hiện trong khoảng thời gian và kinhnghiệm còn hạn chế, nên không tránh khỏi những sai sót, rất mong sự góp ýcủa thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn
Đại học Lâm Nghiệp, ngày…, tháng…, năm… Sinh viên
Lê Công Đức Anh
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Cải xanh thông thường CXTT
Rau muống thông thường RMTT
Đậu cove leo hữu cơ 1 ĐHC1Đậu cove leo hữu cơ 2 ĐHC2Đậu cove leo thông thường ĐTT
Đồng bằng sông Cửu Long ĐBSCL
DANH MỤC BẢNG
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Trang 5TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
1 Tên đề tài khóa luận: “Đánh giá mức độ tồn dư nitrat trong rau, đất trồng rau của các mô hình thâm canh rau tại xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn – thành phố Hà Nội”.
2 Sinh viên thực hiện: Lê Công Đức Anh
3 Giáo viên hướng dẫn: Ths Bùi Văn Năng
4 Mục tiêu nghiên cứu
5 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng sản xuất rau tại khu vực xã Thanh Xuân
- Nghiên cứu hàm lượng nitrat tồn dư trong rau của một số loại hình canh táctại xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội
- Nghiên cứu hàm lượng nitrat trong đất trồng rau hữu cơ và đất trồng rauthông thường
- Đề xuất các giải pháp giảm thiểu lượng nitrat trong rau, nâng cao chất lượngnông sản
6 Kết quả nghiên cứu
- Thực trạng trồng rau tại xã Thanh Xuân
• Rau hữu cơ.
+ Mô hình rau hữu cơ ở xã Thanh Xuân – Sóc Sơn – Hà Nội đượcthành lập năm 2008, đến nay diện tích trồng rau hữu cơ là 25ha, chia làm 25nhóm, phân bố ở 5 thôn: thôn Trung, Na, Bái Thượng, Thanh Nhàn, Chợ Nga.+ Kĩ thuật chăm sóc: vật tư đầu vào không chất hóa học, phân ủ mục chếphẩm EM ủ khoảng 60-70oC
+ Lượng phân bón 1 sào Bắc Bộ: 300-500kg
Trang 6+ Kiểm tra chất lượng môi trường tại ruộng trước khi xuống giống là 6 tháng.
+ Thời điểm bón phân: bón lót khi mới trồng, bón thúc tiếp theo lúc rau
được 1 tuần tuổi đối với rau ngắn ngày, 20 ngày tuổi với rau dài ngày
• Rau thông thường.
+ Rau thông thường ở xã Thanh Xuân chủ yếu trồng với quy mô nhỏ lẻ,
hộ gia đình với mục đích tự cung, tự cấp cho gia đình, hoặc có thể bán ra chợđịa phương
+ Loại phân bón bao gồm phân chuồng và phân hóa học
+ Lượng phân bón chưa được định lượng cụ thể
- Xác định hàm lượng nitrat tồn dư trong rau, trong đất trồng rau của các môhình thâm canh
+ Theo quyết định 867/1998/QĐ-BYT về giới hạn hàm lượng nitrat trongrau, thì số mẫu vượt quá tiêu chuẩn chiếm 63,16% tổng số mẫu nghiên cứu
+ Hàm lượng nitrat trong đất trồng rau dao động từ 74,29 mg/kg đất ÷721,5 mg/kg đất
- Tìm ra mối liên hệ giữa hàm lượng nitrat trong rau, trong đất trồng rau củacác mô hình thầm canh rau
+ Qua nghiên cứu, nhận thấy loài cải xanh hấp thụ nitrat lớn nhất vớihàm lượng trung bình 1516,65 mg/kg rau
+ Nghiên cứu chỉ ra hầu hết các mẫu rau hữu cơ có hàm lượng nitrat tồn
dư ít hơn mẫu rau thông thường
+ Nghiên cứu cho thấy được mối quan hệ giữa hàm lượng nitrat trongrau và trong đất Hàm lượng nitrat trong đất cao dẫn đến tồn dư nitrat trongrau cũng cao
- Đề tài đã đề xuất 4 giải pháp để nhằm hạn chế khả năng tích lũy, tồn dư nitrattrong rau, nhằm quản lý hiệu quả chất lượng nông sản
Trang 7MỞ ĐẦU
“Cơm không rau như đau không thuốc”, rau củ quả đã trở thành mộtthứ thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hàng ngày Chúng cung cấprất nhiều vitamin, tinh bột, chất xơ, khoáng vi lượng – những thứ cần thiếtcho sự phát triển sinh trưởng, phát triển sinh lý của con người Không chỉ làdinh dưỡng mà nhiều loại rau, củ quả còn có khả năng làm tăng miễn dịch cho
cơ thể, có thể ức chế sự hoạt động của các tế bào, sinh vật gây hại trong cơthể Ví dụ súp lơ xanh được coi là thực đơn tốt có đặc tính phòng ngừa cácbệnh ung thư, rau cải xanh ngừa táo bón, ung thư bàng quang,…
Rau quan trọng và có lợi tới sức khỏe con người là thế, nhưng trongkhoảng thời gian gần đây người tiêu dùng đang đặt ra một câu hỏi là “Có nên
ăn rau nữa không?” Vấn đề rau không sạch, thực phẩm bẩn đang được ngườingười, nhà nhà lo lắng trong mỗi bữa ăn hàng ngày, không may mua phải raubẩn thì ngược với lợi ích của nó, rau trở thành vũ khí giết người lợi hại Vì lợinhuận tức thời mà người trồng rau đang có những mánh khóe nhằm tạo đượcsản phẩm tốt về số lượng, hình thức mà chưa hề đảm bảo chất lượng để cungcấp cho thị trường Những hành vi phun thuốc trừ sâu, thuốc kích thích sinhtrưởng, ngay cả bón phân bón hóa học quá mức cũng được coi là nhữngnguyên nhân tạo ra rau bẩn Thật là khó phân biệt được rau bẩn và rau sạchhiện nay
Tưởng chừng phân bón hóa học là nguồn dinh dưỡng thiết yếu cho câytrồng Nhưng sử dụng chúng một cách không hợp lý dẫn đến ô nhiễm môitrường Hàm lượng nitrat trong phân đạm kích thích sự sinh trưởng của thựcvật nên vào cuối vụ rau thường được bón rất nhiều để đạt được năng suất cao.Mặc dù là dinh dưỡng của cây nhưng hàm lượng quá nhiều thì lượng nitrat sẽtích lũy trong rau, trong đất, trong nước ngầm Con người ăn phải chúng thì sẽbiến đổi thành nitrit nguy hại đối với sức khỏe con người Nitrit sẽ oxi hóahemoglobin có trong máu, làm xuất hiện hiện tượng thiếu máu Nitrit tác dụngvới các axitamin tạo thành Nitrosamines – tác nhân gây ung thư dạ dày
Trang 8Sóc Sơn là địa phương sản xuất rau lớn, mà trong đó xã Thanh Xuân –Sóc Sơn là nơi điển hình trồng rau của thành phố, không chỉ tự cung tự cấp
mà còn là nơi xuất rau cho thị trường thành phố Hà Nội Vì vậy vấn đề chấtlượng rau cần được quan tâm đúng mực Xã Thanh Xuân hiện nay đang tồntại 2 mô hình sản xuất rau chính là mô hình sản xuất rau hữu cơ và mô hìnhsản xuất rau thông thường Với sự ảnh hưởng của nitrat đến con người như đãnêu trên, để đánh giá thực trạng tồn dư hàm lượng nitrat trong rau giữa các
mô hình canh tác rau, đánh giá hiệu quả sử dụng phân bón của nông dân đối
với rau trồng, khóa luận đã lựa chọn đề tài “Đánh giá mức độ tồn dư nitrat trong rau, đất trồng rau giữa các mô hình thâm canh rau tại xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.” Kết quả của khóa luận sẽ chỉ ra
sự khác biệt về hàm lượng nitrat trong rau được trồng theo các phương thứckhác nhau, cũng như sự khác biệt về hàm lượng nitrat tồn dư của các loại raukhác nhau Từ đó đề xuất ra những giải pháp giảm thiểu hàm lượng nitrattrong rau, đảm bảo chất lượng nông sản
Trang 9CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái niệm về rau
- Rau là tên gọi chung của các loại thực vật có thể ăn được dưới dạng lá là phổbiến tuy nhiên trong thực tế có nhiều loại ăn hoa, củ, quả cũng có thể gộpchung vào các loại rau
1.2 Vai trò của rau [13]
- Trong ăn uống hàng ngày, rau tươi có vai trò đặc biệt quan trọng Tuy lượngprotid và lipid trong rau tươi không đáng kể, nhưng chúng cung cấp cho cơthể nhiều chất hoạt tính sinh học, đặc biệt là các muối khoáng có tính kiềm,các vitamin, các chất pectin và axit hữu cơ Ngoài ra trong rau tươi còn cóloại đường tan trong nước và chất xenluloza
- Một đặc tính sinh lý quan trọng của rau tươi là chúng có khả năng gây thèm
ăn và ảnh hưởng tới chức phận tiết của tuyến tiêu hoá Tác dụng này đặc biệt
rõ rệt ở các loại rau có tính tinh dầu như rau mùi, rau thơm, hành, tỏi Ăn rautươi phối hợp với những thức ăn nhiều protid, lipid, glucid làm tăng rõ rệt sựtiết dịch của dạ dày Thí dụ: trong chế độ ăn có cả rau và protid thì lượng dịch
vị tiết ra tăng gấp hai lần so với chế độ ăn chỉ có protid Cũng vì vậy, bữa ăn
có rau tươi tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiêu hoá và hấp thu các thành phầndinh dưỡng khác
- Ngoài ra men trong rau tươi có ảnh hưởng tốt tới quá trình tiêu hoá, nhưcác men trong củ hành có tác dụng tương tự men pepsin của dịch vị, cácmen của cải bắp và xà lách cũng có tác dụng tương tự trypsin của tuyếntuỵ
- Về thành phần và giá trị dinh dưỡng của rau tươi có khác nhau tuỳ theo từngloại rau Lượng protid trong rau tươi nói chung thấp (dao động từ 0,5-1,5%).Tuy vậy có nhiều loại rau người ta thấy một hàm lượng protid đáng kể nhưnhóm đậu tươi, đậu đũa (4-6 %), rau muống (2,7%), rau sắng (3,9%), rau ngót(4,1 %), cần tây (3,1%), su hào, rau dền, rau đay (1,8-2,2%) Về glucid, trongrau tươi có các loại đường đơn dễ hấp thu , tinh bột, xenluloza và các chất
Trang 10pectin Hàm lượng trung bình của glucid trong rau tươi khoảng 3-4 %, cónhững loại có tới 6-8% Chất xenluloza của rau có vai trò sinh lý lớn vì cấutrúc của nó mịn màng hơn xenluloza của ngũ cốc Trong rau, xenluloza ở dướidạng liên kết với các chất pectin tạo thành phức hợp pectin-xenluloza có tácdụng kích thích mạnh chức năng nhu động ruột và tiết dịch của ruột giúp tiêuhoá dễ dàng.
- Rau tươi là nguồn vitamin và muối khoáng quan trọng Nhu cầu về vitamin vàmuối khoáng của con người được cung cấp qua bữa ăn hàng ngày qua rautươi Hầu hết các loại rau tươi thường dùng của nhân dân ta đều giàu vitaminnhất là vitamin A và C là những vitamin hầu như không có hoặc có chỉ có rất
ít trong thức ăn động vật Các chất khoáng trong rau tươi cũng rất quan trọng.Trong rau có nhiều chất khoáng có tính kiềm như kali, canxi, magiê Chúnggiữ vai trò quan trọng trong cơ thể và cần thiết để duy trì kiềm toan Trong cơthể những chất này cho những gốc tự do cần thiết để trung hoà các sản phẩmaxít do thức ăn hoặc do quá trình chuyển hoá tạo thành Đặc biệt rau có nhiềukali ở dưới dạng kali cacbonat, muối kali của các axít hữu cơ và nhiều chấtkhác dễ tan trong nước và dịch tiêu hoá Các muối kali làm giảm khả năngtích chứa nước của protid ở tổ chức, do đó có tác dụng lợi tiểu Lượng magiêtrong rau tươi cũng rất đáng chú ý, dao động từ 5-75mg Đặc biệt là các loạirau thơm, rau dền, rau đậu có nhiều magiê
- Rau còn là nguồn chất sắt quan trọng Sắt trong rau được cơ thể hấp thu tốthơn sắt ở các hợp chất vô cơ Các loại rau đậu, xà lách là nguồn mangan tốt.Tóm lại rau tươi có vai trò quan trọng trong dinh dưỡng; bữa ăn hàng ngàycủa chúng ta không thể thiếu rau
1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên Thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên Thế giới
- Trên thế giới rau là loại cây được trồng từ lâu đời Người Hy Lạp Ai Cập cổđại đã biết trồng rau và sử dụng rau bắp cải như một nguồn thực phẩm Từnăm 2000 trở lại đây diện tích trồng rau trên thế giới tăng bình quân mỗi nămtrên 600.000 ha, sản lượng rau cũng tăng dần qua các năm Theo FAO, 2006:
Trang 11tích tăng lên 18.003.909 ha, sản lượng tăng từ 218.336.847 tấn lên đến249.490.521 tấn [3]
- Theo FAO nhu cầu tiêu thụ rau quả trên thị trường thế giới tăng khoảng 3,6%/năm trong khi khả năng tăng trưởng sản xuất chỉ 2,6%/ năm có nghĩa là cungchưa đủ cầu Các nước càng phát triển công nghiệp thì nhu cầu nhập nội rauquả ngày càng tăng, đời sống nhân dân càng nâng cao thì nhu cầu rau quả tươingày càng lớn, giá cả ngày càng cao Kim ngạch xuất khẩu nông sản ở thịtrường thương mại thế giới WTO với số dân gần 5 tỷ người trị giá khoảng 635
tỷ USD/năm trong đó rau quả là mặt hàng lớn nhất, chiếm thị phần 105 tỷUSD Trong khi lúa gạo, cà phê, cao su mỗi loại chỉ đạt 10 tỷ USD, mỗi nămthị trường EU nhập 80 triệu tấn trái cây tươi và 60 triệu tấn rau tươi, trong đónhập từ các nước đang phát triển như Việt Nam khoảng 40% [16]
- Rau được dùng kết hợp với các loại hoa quả thực phẩm rất tốt cho sức khoẻ
do có chứa các loại vitamin, các chất chống ôxi hoá tự nhiên, có khả năngchống lại một số bệnh như ung thư Do vậy nhu cầu tiêu thụ rau quả ngàycàng tăng Người dân Nhật Bản tiêu thụ rau quả nhiều hơn người dân của bất
cứ quốc gia nào trên thế giới, mỗi năm Nhật Bản tiêu thụ 17 triệu tấn rau cácloại, bình quân mỗi người tiêu thụ 100 kg/năm Xu hướng hiện nay là sự tiêuthụ ngày càng nhiều các loại rau tự nhiên và các loại rau có lợi cho sức khoẻ.Trung bình trên thế giới mỗi người tiêu thụ 154 - 172g/ngày (FAO, 2006).Theo dự báo của Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) do tác động của các yếu tốnhư sự thay đổi cơ cấu dân số, thị hiếu tiêu dùng và thu nhập dân cư, tiêu thụnhiều loại rau sẽ tăng mạnh trong giai đoạn 2005 - 2010, đặc biệt là rau ăn lá.Việc tiêu thụ rau diếp và các loại rau ăn lá khác tăng 22 - 23%, trong khi mứctiêu thụ khoai tây và các loại rau ăn củ chỉ tăng 7 - 8 % [3]
1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau ở Việt Nam
Việt nam có lịch sử trồng rau từ lâu đời, với điều kiện khí hậu rất thíchhợp cho sinh trưởng, phát triển và tạo hạt của các loại rau, kể cả rau có nguồngốc á nhiệt đới và ôn đới Cho tới nay có khoảng 70 loài thực vật được sửdụng làm rau hoặc được chế biến thành rau Riêng rau trồng có khoảng hơn
Trang 1230 loài trong đó có khoảng 15 loài là chủ lực, trong số này có hơn 80% là rau
ăn lá Diện tích rau tập trung ở 2 vùng chính là vùng đồng bằng Sông Hồng vàvùng đồng bằng Nam Bộ Trong các loại rau thì rau muống được trồng phổbiến nhất trên cả nước, tiếp đến là bắp cải được trồng nhiều ở miền Bắc Đốivới nông dân, rau là loại cây trồng cho thu nhập quan trọng cho nông hộ
Tuy vậy sản xuất rau của Việt Nam chủ yếu vẫn theo quy mô hộ giađình khiến cho sản lượng hàng hóa không nhiều Bên cạnh đó sản xuất phụthuộc nhiều vào phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật và môi trường sản xuất bịảnh hưởng khá lớn bởi chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt Việc chạytheo lợi nhuận, áp dụng thiếu chọn lọc các tiến bộ khoa học kỹ thuật cùng với
sự thiếu hiểu biết của người trồng rau đã làm cho sản phẩm rau xanh bị ônhiễm NO3-, kim loại nặng, vi sinh vật gây bệnh và hóa chất bảo vệ thực vật.Vấn đề ô nhiễm rau xảy ra ở hầu khắp các vùng trồng rau trong cả nước Đó
là những nguyên nhân làm cho các sản phẩm rau của Việt Nam chưa hấp dẫnđược người tiêu dùng trong nước cũng như người tiêu dùng quốc tế
Hiện nay vấn đề an toàn thực phẩm đang là nỗi lo của tất cả mọi người,mọi ngành Rau là thực phẩm được sử dụng, hàng ngày ở tất cả các gia đình,
vì vậy để đảm bảo sức khoẻ người sử dụng trong những năm gần đây Nhànước và các địa phương đã có rất nhiều chủ trương giải pháp nhằm nhanhchóng phát triển các mô hình trồng rau an toàn [3]
Thực trạng sản xuất rau an toàn ở Đồng bằng sông Cửu Long theo CụcTrồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, những năm gần đây,ĐBSCL có diện tích rau tăng nhanh Tính đến năm 2015, toàn vùng cókhoảng 246 240 ha trồng rau, chiếm khoảng 30% diện tích trồng rau cả nước.Một số khu vực có diện tích trồng rau lớn như: Tiền Giang 46600 ha, SócTrăng 37700 ha Trong đó diện tích rau ăn lá 106 154 ha, rau ăn trái là 77068
ha và còn lại một số loại rau ăn củ và rau khác Năng suất trung bình ởĐBSCL cao hơn 4,7% năng suất của các tỉnh phía Nam, sản lượng rau an toàn
4400 tấn/năm (Viện khoa học kỹ thuật miền Nam) Trong những năm gần đây,
Trang 13rau chủ yếu của cả nước Tuy nhiên ngành sản xuất rau chỉ mới hướng đếnphục vụ thị trường trong nước Năm 2014, có 244000 ha sản xuất rau, đạtnăng suất 16,25 tấn/ha với sản lượng 3863 tấn/năm (Viện khoa học kỹ thuậtmiền Nam) Do diện tích 2015 so với 2014 tăng khoảng 2240 ha, sản lượngtăng khoảng 500000 tấn/năm, tốc độ bình quân 7,9 %/năm nên năng suất cũngtăng khoảng 0,75 tấn/ha Nguyên nhân chủ yếu là do năm 2015, rau an toànhướng tới sản xuất theo công nghệ cao, mô hình hiện đại, đặc biệt mô hìnhnhà kính, nhà lưới sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt đã áp dụng phổ biến tại cácvùng ĐBSCL.
Bảng 1 1 Diện tích và sản lượng trồng rau an toàn ĐBSCL qua các năm.
Năm 2013 2014 2015 Chênh lệch năm 2014 - 2015
1.4 Tổng quan về nitrat
A, Khái niệm về nitrat
- Nitrat là những chất có chứa gốc NO3-, có thể là KNO3, NaNO3 là thành phầnchủ yếu có trong phân đạm NO3- cùng với NH4+ là 2 thành phần dinh dưỡngcủa cây, cây sử dụng các gốc này để sinh trưởng và phát triển
Trang 14B, Vai trò, tác động của nitrat đến hệ sinh thái và con người [9][10]
• Đối với thực vật: NO3- là nhân tố kích thích sự sinh trưởng của thực vật, giúpcây gia tăng sinh khối
• Đối với con người:
- Trong điều kiện tự nhiên: NO3- tồn tại góp phần giúp thực vật sinh trưởng, và hàmlượng tồn tại không nhiều, an toàn cho người sử dụng rau, củ, quả
- Trong việc dùng phân đạm để kích thích sự sinh trưởng của cây, người ta bónvào cuối vụ thu hoạch để tăng năng suất rau, nitrat không chuyển hóa hếttrong rau dẫn đến tích lũy, tồn dư lượng nitrat, hàm lượng này gây hại đến sứckhỏe con người Lượng tồn dư này nếu chúng ta ăn hoặc uống liên tục thì khinitrat vào cơ thể người sẽ tham gia phản ứng khử ở dạ dày và đường ruột dotác dụng của các men tiêu hóa, từ đó sinh ra Nitrit (NO2-) và dẫn đến 2 tác hạichính sau:
+ Nitrit có tác dụng oxi hóa Hemoglobin chứa trong hồng cầu biếnHemoglobin thành Methemoglobin, từ đó cơ thể sẽ không làm tròn chức năng
hô hấp có các biểu hiện như khó thở, ngột ngạt, với hàm lượng cao hơn có thểgây ức chế oxy dẫn đến hiện tượng thiếu oxy trong máu làm cho cơ thểchoáng váng và ngất, trường hợp ngộ độc trầm trọng nếu không được cứuchữa gấp sẽ dấn đến tử vong
+ Nitrit trong cơ thể dễ tác dụng với các axit amin tạo thành Nitrosamines - chính là chất hình thành tế bào ung thư Ung thư rõ nhất là:Ung thư dạ dày, ung thư thực quản, ung thư ruột kết
1.5 Tổng quan về các mô hình trồng rau.
1.5.1 Mô hình nông nghiệp hữu cơ (rau hữu cơ)
Trang 15các nguồn hiện có trong nông trại và các vật tư theo tiêu chuẩn của quy trìnhsản xuất” [4].
- Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “nông nghiệp hữu cơ là hệ thống canhtác và chăn nuôi tự nhiên, không sử dụng hóa chất làm phân bón và thuốc trừsâu, giúp giảm thiểu ô nhiễm, bảo đảm sức khỏe cho con người và vật nuôi”[4]
B, Vai trò của nông nghiệp hữu cơ
• Đối với môi trường [4]
- Sản xuất nông nghiệp hữu cơ là phương thức sản xuất thân thiện với môitrường, sử dụng những nguyên liệu, năng lượng có sẵn trong tự nhiên để phục
vụ sản xuất, dựa vào nguồn tài nguyên có thể tái tạo được (tài nguyên hữucơ)
- Tránh được việc khai thác quá mức tài nguyên không thể tái tạo nhằm phụ vụphát triển nông nghiệp
- Phân hữu cơ giúp tăng độ mùn cho đất, không gây hại đến khả năng sinhtrưởng, phát triển của sinh vật đất, tăng kết cấu đất, tránh suy thoái đất
- Góp phần giảm thiểu biến đổi khí hậu
Ở Việt Nam, nông nghiệp hữu cơ đã biết đến từ lâu nhưng nó mới chỉđược quan tâm trong một vài năm trở lại đây, nhất là khi những vấn đề mất antoàn vệ sinh thực phẩm đến mức báo động Tuy nhiên sản xuất nông nghiệphữu cơ ở Việt Nam hiện tại vẫn chỉ là những bước đầu với quy mô và phạm vichưa lớn
Một số mô hình rau tiêu biểu: [14]
Dự án ADDA - VNFU về canh tác hữu cơ
Với sự hỗ trợ của chính phủ Đan Mạch thông qua Tổ chức hỗ trợ pháttriển nông nghiệp châu Á (ADDA), Hội Nông dân Việt Nam đã thực hiện dự
án này trong 7 năm, từ 2005 đến 2012 Mục đích của dự án là nhằm nâng caonhận thức và hiểu biết kỹ thuật về canh tác NNHC cho các nhóm/ hộ nôngdân, đồng thời hỗ trợ họ sản xuất được các sản phẩm hữu cơ đạt chuẩn Ngườidân tham gia dự án được tập huấn về các khâu của quá trình sản xuất, thịtrường, tiêu thụ và liên kết khách hàng Dự án đã tạo được sự quan tâm phốihợp của Hội Nông dân 9 tỉnh/ thành phố (Lào Cai, Tuyên Quang, Bắc Giang,
Trang 16Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Hà Nội, Hòa Bình và Hà Tĩnh) Dự án đã tổchức được 155 lớp tập huấn cho nông dân và các đối tượng khác tham gia vềcanh tác NNHC Đã xây dựng được nhiều nhóm sản xuất sản phẩm hữu cơtrên tổng diện tích 70 ha mô hình tại 9 tỉnh, đối tượng là rau, lúa, cam, vải,nho, chè và cá nước ngọt.
Theo báo cáo, sản phẩm từ các mô hình được sản xuất theo tiêu chuẩnsản phẩm hữu cơ, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và đáp ứng thị hiếu củangười tiêu dùng đô thị Một số nhóm NNHC đã hoạt động khá thành công, ví
dụ như nhóm rau hữu cơ của xã Đình Bảng, Bắc Ninh đã sản xuất rau an toàntrên diện tích 5000m2, cung cấp sản phẩm thường xuyên cho các khu côngnghiệp và nhà hàng/khách sạn trong vùng Nhóm rau hữu cơ tại Hà Nội và HòaBình thường xuyên cung cấp 2,5 - 3 tấn rau/ngày cho thị trường Hà Nội, đảmbảo thu nhập ổn định cho nông dân tham gia dự án
Một trong các ví dụ thành công này là Nhóm hộ nông dân ở xã TânĐức tỉnh Phú Thọ Xã thành lập tổ sản xuất rau hữu cơ từ tháng 1/2008, đếnnăm 2010 nhóm đã quy hoạch được 3 vùng sản xuất rau hữu cơ với tổng số
198 hộ nông dân tham gia Nhóm nông dân sản xuất rau hữu cơ của xã hiện
đã có thể tự vận hành được công việc, từ khâu lựa chọn vùng trồng thích hợp(bao gồm cả việc thuê phân tích chất lượng mẫu đất và mẫu nước), chuẩn bịphân hữu cơ hoai mục, thực hiện nghiêm quy trình sản xuất và quản lý, truynguyên nguồn gốc sản phẩm, phát triển mạng lưới thị trường và đáp ứng yêucầu về chất lượng theo tiêu chuẩn PGS
Ecolink-Ecomart với sản phẩm chè và rau hữu cơ
Ecolink được thành lập năm 2003 để hỗ trợ các hộ nông dân nhỏ sảnxuất và tiêu thụ chè Ecomart Việt Nam hiện nay được hình thành từ việc sápnhập giữa Ecomart cũ và Ecolink
Bên cạnh chè hữu cơ là sản phẩm chính, Ecolink - Ecomart hiện đangsản xuất và tiêu thụ 20 chủng loại rau hữu cơ, đáp ứng nhu cầu rau xanh giaotận nhà cho khoảng 2000 khách hàng (trong đó có khoảng 500 khách hàng
Trang 17thường xuyên), kể cả việc mua bán qua mạng Với sản phẩm rau hữu cơ, công
ty đang áp dụng phương pháp PGS để kiểm soát và đảm bảo chất lượng
Organik Đà Lạt với sản phẩm rau hữu cơ
Công ty Organik Đà Lạt đóng tại phường Xuân Thọ, thành phố Đà lạt,tỉnh Lâm Đồng, là địa bàn lý tưởng để sản xuất rau theo phương pháp hữu cơ.Chủ công ty là TS.Nguyễn Bá Hùng, bắt đầu sự nghiệp bằng việc nghiên cứusản xuất và tiêu thụ cây giống rau từ năm 1997, sản xuất rau trên đất thuê từnăm 2003 và mua đất lập trang tại sản xuất rau từ tháng 10-2006 Ý tưởng củaông Hùng về việc thành lập công ty bắt nguồn từ việc quan sát thấy có nhiềukhách hàng và nhà hàng, khách sạn 5 sao ở Đà Lạt cần mua các sản phẩm rauhữu cơ được sản xuất ngay tại địa phương Với ý tưởng đó, ông Hùng đãthành lập và phát triển Organik Đà Lạt khá thành công
Công ty cho biết hiện đang sản xuất khoảng 150 chủng loại rau cácloại, cung cấp cho nhiều khách sạn cao cấp tại các thành phố: Đà Lạt, Hồ ChíMinh, Đà Nẵng, Hà Nội, Công ty cổ phần suất ăn hàng không của hãngPacific và khoảng 1000 khách hàng ngoại quốc đang làm việc tại Việt Nam.Công ty cũng đang xuất khẩu sản phẩm rau hữu cơ sang thị trường Đài Bắc vàmột số nước láng giềng
• Đối với chất lượng sản phẩm
- Giàu dinh dưỡng, không độc hại
1.5.2 Mô hình sản xuất nông nghiệp thông thường (rau thông thường)
A, Khái niệm
- Mô hình sản xuất nông nghiệp thông thường là việc sử dụng các loại hợp chấthóa học như phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật nhằm mục đích tăng năngsuất cây trồng
B, Vai trò của nông nghiệp thông thường
• Đối với môi trường
- Do sử dụng nguyên liệu, năng lượng khai thác, chế biến các mỏ khoáng sản.Giảm khả năng phục hồi của tài nguyên thiên nhiên
- Tăng khả năng phát thải các chất ô nhiễm hóa học vào môi trường
Trang 18- Ảnh hưởng tiêu cực đến vi sinh vật đất.
- Làm tính chất đất thay đổi, về lâu dài ảnh hưởng đến khả năng sản xuất củađất, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng
• Đối với chất lượng sản phẩm
- Tăng khả năng tích tụ các chất dư thừa trong rau, làm suy giảm chất lượngsản phẩm
- Sản phẩm trở nên gây hại đối với người sử dụng khi hàm lượng các nguyên tốtrong rau vượt khỏi mức an toàn
Trang 19CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đề xuất được giải pháp phù hợp để giảm lượng nitrat tồn dư trong đất trồng
và trong các loại rau
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
A, Đối tượng nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu của đề tài là:
- Các loại rau:
+ Rau ăn lá: Cải xanh (Brassica Juncea L.), rau muống (Ipomoea
aquatica), bắp cải (Brassica oleracea nhóm Capitata).
+ Rau ăn thân: cà rốt (Daucus carota subsp Sativus), su hào ( Brassica oleracea nhóm Gongylodes)
+ Rau ăn quả: cà chua (Solanum lycopersicum), đậu cove leo (Phaseolus
vulgaris L.).
Trang 20Hình 2 1 Cải xanh (Brassica Juncea L.)
Hình 2 2 Bắp cải (Brassica oleracea nhóm Capitata)
Trang 21Hình 2 4 Cà rốt (Daucus carota subsp Sativus)
Hình 2 5 Su hào (Brassica oleracea nhóm Gongylodes)
Hình 2 6 Cà chua (Solanum lycopersicum)
Trang 22
Hình 2 7 Đậu cove leo (Phaseolus vulgaris L.)
- Đất: mẫu đất lấy tại chính nơi lấy mẫu rau
B, Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là:
- Phạm vi không gian: xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, TP.Hà Nội
- Phạm vi thời gian: Thời gian thực hiện từ ngày 13/02/2017 đến 13/05/2017
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
- Nghiên cứu thực trạng sản xuất rau tại khu vực xã Thanh Xuân
- Nghiên cứu hàm lượng nitrat tồn dư trong rau của một số loại hình canh táctại xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội
- Nghiên cứu hàm lượng nitrat trong đất trồng rau hữu cơ và đất trồng rauthông thường
- Đề xuất các giải pháp giảm thiểu lượng nitrat trong rau, nâng cao chất lượngnông sản
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
- Thu thập tài liệu thứ cấp là việc dùng các tư liệu được công bố của các côngtrình nghiên cứu khoa học, các văn bản mang tính pháp lý, những tài liệu điềutra cơ bản của các cơ quan có thẩm quyền… liên quan đến lĩnh vực nghiêncứu của đề tài một cách chọn lọc Cách kế thừa này giúp giảm tải khối lượngcông việc cần làm, nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng khoa học trong bàibáo cáo Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp dùng để thu thập các thông tin
Trang 23+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn
2.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa kết hợp phỏng vấn
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Phương pháp này đòi hỏi người
nghiên cứu phải tiến hành đi ra hiện trường để khảo sát, thu thập thông tin.Mục đích thu thập thông tin một cách khách quan, giúp đánh giá được độ tincậy của các tài liệu thứ cấp Ngoài ra đi thực địa còn giúp bổ sung những kiếnthức mới, đầy đủ hơn, đánh giá được hiện trạng môi trường ở các ruộng rau
- Phương pháp phỏng vấn: Phương pháp này là cách thu thập thông tin bằng
việc tiếp xúc với những người nông dân trồng rau, những người có kiến thức trồng rau trong lô đất lấy mẫu khảo sát
Mục đích tìm hiểu:
+ Diện tích trồng rau của chủ hộ
+ Thời gian canh tác
+ Các loại hình canh tác rau
+ Khảo sát các loại rau ưu thế
+ Kĩ thuật trồng, chăm sóc rau
2.4.3 Phương pháp lấy mẫu, bảo quản mẫu phân tích
2.4.3.1 Lựa chọn vị trí các điểm lấy mẫu
• Loại rau và đất trồng rau hữu cơ:
- Do mô hình trồng rau hữu cơ được thực hiện theo quy trình nghiêm ngặt giống nhau nên chọn 2 thôn để làm mẫu thử nghiệm đó là Bái Thượng (điểm 1), thôn Na (điểm 2)
• Loại rau và đất trồng rau thông thường:
- Chọn các thôn là: Chợ Nga
2.4.3.2 Nguyên tắc lấy mẫu
A, Mẫu rau lấy theo TCVN 9016:2011
Trang 24+ Vật dụng dùng để thu, cắt mẫu rau như dao, kéo…
+ Vật dụng dùng để chứa, đựng rau sau khi lấy mẫu
Chú thích: Vật chứa mẫu trực tiếp: túi nilon, túi dẻo, túi giấy không
thấm nước…, vật chứa mẫu gián tiếp: sọt, thùng nhựa, khay nhựa, hộp giấy,hộp xốp… Trên dụng chứa cần ghi thông tin chủ lô ruộng sản xuất, địa chỉ, sơ
đồ giải thửa và diện tích của lô ruộng, chủng loại rau cần lấy mẫu Dụng cụlấy mẫu phải sạch, khô, sắc bén, không gỉ, không gây dập nát và không làmthay đổi thành phần hóa học của sản phẩm
+ Tấm lược mẫu: Tấm phẳng dùng để hỗn hợp và giản lược mẫu
Chú thích: Tấm lược mẫu được làm từ chất dẻo, nilon, giấy, loại không
thấm nước Tấm lược mẫu phải sạch, khô, không làm thay đổi tính chất vật lý
và hoá học của mẫu
+ Mẫu được lấy tại thời điểm thu hoạch, tránh thời gian nắng gắt hayđang mưa
Trang 25- Trình tự lấy mẫu:
Tính mẫu thử nghiệm Tính mẫu đơn cho 1 mẫu thử nghiệm
Hỗn hợp mẫu
Giản lược mẫu
Bao gói, ghi nhãn
Bảo quản, vận chuyển
+ Mẫu cây phát triển bình thường, không biến dạng, không sâu bệnh hại,cách bờ 1m, bỏ hàng ngoài cùng
+ Đối với rau ăn quả: lấy quả đều từ gốc lên thân, nhánh, trừ quả trên ngọn
+ Đối với rau ăn lá: lấy phần thân, lá ngọn ăn được, còn lại bỏ hết
Ruộng rau (nhà kính, nhà lưới thời kì thu hoạch)
Mẫu ban đầu (mẫu đơn, mẫu điểm)
Mẫu chung (mẫu hỗn hợp)
Mẫu phòng thử nghiệm Mẫu lưu
Hình 2 8 Sơ đồ trình tự lấy mẫu
Trang 26+ Đối với rau ăn thân dưới đất như cà rốt: cần đào kĩ tránh bỏ sót củ.
- Số lượng mẫu:
+ Thôn Bái Thượng lấy 7 mẫu rau: cải xanh, bắp cải, su hào, rau muống,
cà chua, đậu cove leo
+ Thôn Na lấy 7 mẫu rau: cải xanh, bắp cải, su hào, rau muống, cà chua,đậu cove leo
+ Rau thông thường ở thôn Chợ Nga chỉ lấy 5 mẫu: Cải xanh, bắp cải,rau muống, cà chua, đậu cove leo Do mô hình rau thông thường không có càrốt, su hào
Bảng 2 1 Bảng phân chia lượng mẫu lấy cần lấy
Số mẫu thử nghiệm
Bảng 2 2 Kích cỡ mẫu thử nghiệm tối thiểu cần lấy
Phân loại
rau
thử nghiệm lựa chọn
Kích cỡ mẫu thử nghiệm theo TCVN 9016:2011
Tỷ lệ giữa cỡ mẫu lựa chọn
và TCVN
Rau ăn
quả Đậu cove leoCà chua 0,2 kg2 quả 20 quả1kg 1/101/5
- Kích cỡ mẫu đơn tối thiểu (kg, cây, củ, quả, bắp): được tính theo
công thức sau:
m =