1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của tính độc lập và trách nhiệm của kiểm toán viên đến khoảng cách kỳ vọng kiểm toán – nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam

91 292 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 14,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu đã cho thấy hai lý do làm gia tăng “khoảng cách kỳ vọng kiểm toán” AEG là: 1 KTV và công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ chưa thực sự hoàn hảo; 2 Những người sử dụng BC

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐOÀN THỊ TÚ ANH

ẢNH HƯỞNG CỦA TÍNH ĐỘC LẬP VÀ

TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM TOÁN VIÊN ĐẾN KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN – NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐOÀN THỊ TÚ ANH

ẢNH HƯỞNG CỦA TÍNH ĐỘC LẬP VÀ

TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM TOÁN VIÊN ĐẾN KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN – NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của tính độc lập và trách nhiệm của kiểm

toán viên đến khoảng cách kỳ vọng kiểm toán – Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt

Nam” do chính tác giả thực hiện, các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung

thực và chƣa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Tất cả những phần kế thừa, tham khảo cũng nhƣ tham chiếu đều đƣợc trích dẫn đầy đủ và ghi nguồn cụ thể trong danh mục tài liệu tham khảo

Tên tác giả

Đoàn Thị Tú Anh

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG BIỂU DANH MỤC HÌNH VẼ PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.2 Câu hỏi nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Những đóng góp mới của đề tài 3

6 Kết cấu của đề tài 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 5

1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 5

1.1.1 Nghiên cứu thực nghiệm về sự tồn tại của AEG 5

1.1.2 Nghiên cứu thực nghiệm về các thành phần căn bản tạo thành AEG 7

1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 12

1.3 Nhận xét tổng quan kết quả các nghiên cứu và xác định khe hổng nghiên cứu 15

1.3.1 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu 15

1.3.2 Khe hổng nghiên cứu 16

Kết luận chương 1 17

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 18

Trang 5

2.1 Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán 18

2.1.1 Khái niệm AEG 18

2.1.2 Các thành phần của AEG 19

2.2 Tính độc lập của KTV 20

2.3 Trách nhiệm của KTV 23

2.3.1 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 - Mục tiêu tổng thể của KTV và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 23

2.3.2 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 - Trách nhiệm của KTV liên quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán BCTC 25

2.3.3 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 250 - Xem xét tính tuân thủ pháp luật và các quy định trong kiểm toán BCTC 27

2.3.4 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 265 - Trao đổi về những khiếm khuyết trong kiểm soát nội bộ với Ban quản trị và Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán 28

2.4 Lý thuyết nền tảng 29

2.4.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory) 29

2.4.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric information) 30

2.4.3 Lý thuyết niềm tin tín thác (Theory of Inspired Confidence) 31

Kết luận chương 2 33

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

3.1 Quy trình nghiên cứu 34

3.2 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 35

3.2.1 Mô hình nghiên cứu 35

3.2.2 Các giả thuyết nghiên cứu 35

3.3 Thiết kế nghiên cứu 35

3.3.1 Xây dựng thang đo 35

3.3.2 Xây dựng bảng câu hỏi 38

3.3.3 Mẫu nghiên cứu 40

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

SPSS Statistical Package for the

Social Sciences

Chương trình thống kê cho các ngành khoa học

Certified Public Accountants

Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam

Trang 7

3.3.4 Phân tích dữ liệu 41

Kết luận chương 3 43

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 44

4.1 Thống kê mô tả mẫu khảo sát 44

4.2 Kiểm định Independent Sample T-test 45

4.2.1 Kết quả kiểm định liên quan đến tính độc lập của KTV 45

4.2.2 Kết quả kiểm định liên quan đến trách nhiệm của KTV 49

4.3 Bàn luận về kết quả nghiên cứu 54

Kết luận chương 4 56

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57

5.1 Kết luận 57

5.2 Một số kiến nghị 57

5.2.1 Đối với các cơ quan quản lý và Hội kiểm toán viên hành nghề 57

5.2.2 Đối với các doanh nghiệp kiểm toán và KTV 58

5.2.3 Đối với các đơn vị sử dụng dịch vụ kiểm toán BCTC 59

5.2.4 Đối với người sử dụng BCTC 60

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 60

5.3.1 Hạn chế của đề tài 60

5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 61

Kết luận chương 5 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Danh mục tài liệu tiếng Việt

Danh mục tài liệu tiếng Anh

PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Bảng tóm tắt các công trình nghiên cứu nước ngoài

Phụ lục 2 Bảng tóm tắt các công trình nghiên cứu trong nước

Phụ lục 3 Bảng câu hỏi khảo sát

Phụ lục 4 Kết quả phân tích định lượng

Phụ lục 5 Danh sách các chuyên gia được phỏng vấn

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Thang đo tính độc lập của KTV……… ………36 Bảng 3.2 Thang đo tính trách nhiệm của KTV……… ……….37 Bảng 4.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu……… …………44 Bảng 4.2 Thống kê theo nhóm đối tƣợng liên quan đến tính độc lập của KTV….45 Bảng 4.3 Kiểm định Independent Samples T-test liên quan đến tính độc lập của KTV……… 46 Bảng 4.4 Thống kê theo nhóm đối tƣợng liên quan đến trách nhiệm của KTV… 49 Bảng 4.5 Kiểm định Independent Samples T-test liên quan đến trách nhiệm của KTV……….50

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Mô hình về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán (Porter, 1993)………… 19 Hình 3.1 Khung nghiên cứu của luận văn………34 Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu……….….35

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, cùng với xu thế toàn cầu hóa, các hoạt động kinh tế ngày càng trở nên đa dạng với nhiều mối liên kết phức tạp, báo cáo tài chính là một nguồn thông tin quan trọng để người sử dụng ra quyết định kinh tế, vì vậy, hoạt động kiểm toán càng trở nên quan trọng và trở thành nhu cầu tất yếu đối với xã hội Kiểm toán tham

gia vào quá trình “thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm

tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập” 1 Nói cách khác, kiểm toán là hoạt động nhằm nâng cao tính đáng tin cậy của các thông tin, do đó, vừa là cầu nối từ nhà đầu tư với doanh nghiệp, vừa giúp cho các hoạt động kinh tế trở nên minh bạch hơn

Tuy nhiên trong những năm gần đây, nghề nghiệp kiểm toán bị sự chỉ trích rất lớn vì đã không hoàn thành trách nhiệm do sự thất bại trong các cuộc kiểm toán dẫn đến sự sụp đổ của nhiều công ty và ngân hàng Số lượng những vụ kiện tụng về kết quả kiểm toán đối với KTV độc lập trên thế giới ngày một gia tăng đã làm cho

xã hội đặt ra câu hỏi về khả năng đáp ứng của nghề nghiệp kiểm toán đối với các

yêu cầu của xã hội Do đó, nhiều nhà nghiên cứu đã tiến hành xem xét về “khoảng

cách kỳ vọng của xã hội và khả năng đáp ứng của ngành nghề” và xem đây như là

một thách thức đối với sự tồn tại của nghề nghiệp kiểm toán Kết quả nghiên cứu đã

cho thấy hai lý do làm gia tăng “khoảng cách kỳ vọng kiểm toán” (AEG) là: (1)

KTV và công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ chưa thực sự hoàn hảo; (2) Những người sử dụng BCTC chưa hiểu đầy đủ về trách nhiệm kiểm toán, khá nhiều quan điểm cho rằng: trách nhiệm của KTV là bảo đảm BCTC được kiểm toán là chính xác tuyệt đối và không có bất cứ sai sót nào tồn tại, KTV cần phải kiểm tra 100% các nghiệp vụ kinh tế và phát hiện tất cả các sai sót và gian lận, qua đó cảnh báo tất

cả các rủi ro có thể xảy ra đến doanh nghiệp, và BCTC phải trình bày tất cả các thông tin có liên quan đến mọi hoạt động của doanh nghiệp

1 Auditing: An integrated approach, A A Arens & J K Locbbecke, Prentice Hall, 2012

Trang 11

Chính từ điều này, trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về nguyên nhân và các nhân tố ảnh hưởng đến AEG Có 2 dòng nghiên cứu chính, đó là: (1) Nghiên cứu nhằm làm rõ bản chất của AEG qua việc tìm hiểu, giải thích và xây dựng khái niệm AEG điển hình như nghiên cứu của Liggio (1974), AICPA (1993); Guy & Sullivan (1988); Porter (1993, 2004, 2012), Monroe và Woodliff (1993); (2) Nghiên cứu thực nghiệm tiến hành khảo sát sự tồn tại và thành phần của AEG như nghiên cứu của Lee (1970); Low và các cộng sự (1988); Humphrey & cộng sự (1993), Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã chứng minh về sự tồn tại AEG liên quan đến trách nhiệm của KTV như Nguyễn Ngọc Khánh Dung (2016) nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của nghề nghiệp đến các trách nhiệm kiểm toán cấu thành nên các thành phần AEG; Ngô Thị Thúy Quỳnh (2015) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới AEG liên quan đến trách nhiệm của KTV; Nguyễn Quốc Kịp (2015) chứng minh sự tồn tại của AEG đối với trách nhiệm KTV; Tuy nhiên, đến nay chưa có các nghiên cứu đề cập riêng đến 2 thành phần đó là tính độc lập và trách nhiệm của KTV Vì

vậy, tác giả đã thực hiện nghiên cứu “Ảnh hưởng của tính độc lập và trách nhiệm

của kiểm toán viên đến khoảng cách kỳ vọng kiểm toán – Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam” với mong muốn thông qua nghiên cứu này có thể đưa ra một bằng

chứng thực nghiệm về AEG tại Việt Nam Từ đó,giúp công chúng có cái nhìn đúng đắn hơn đối về nghề nghiệp kiểm toán; giúp các tổ chức lập quy, hội nghề nghiệp có thể xác định được cụ thể những quy định nào cần bổ sung, sửa đổi nhằm tăng cường hơn nữa chất lượng cuộc kiểm toán Bên cạnh đó, KTV cũng hiểu được chất lượng công việc của mình dưới góc nhìn xã hội

2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu thực nghiệm về sự tồn tại của tính độc lập và trách nhiệm của KTV ảnh hưởng đến AEG tại Việt Nam

2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Dựa trên mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu được đưa ra như sau: Câu hỏi 1: Liệu tính độc lập của KTV có ảnh hưởng đến AEG tại Việt Nam?

Trang 12

Câu hỏi 2: Liệu trách nhiệm của KTV có ảnh hưởng đến AEG tại Việt Nam?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là về hai nhân tố ảnh hưởng đến AEG tại Việt Nam: tính độc lập và trách nhiệm của KTV Qua đối tượng nghiên cứu này, luận văn xác định được sự tồn tại của các nhân tố ảnh hưởng đến AEG trong kiểm toán BCTC ở Việt Nam

Với đề tài này, đối tượng khảo sát chính gồm 2 nhóm chính:

 Nhóm các kiểm toán viên, chuyên viên kiểm toán và các trợ lý kiểm toán làm việc tại các công ty kiểm toán tại Việt Nam

 Nhóm người sử dụng BCTC gồm các nhà đầu tư, nhà quản lý tài chính, nhà phân tích BCTC, nhân viên tín dụng, nhân viên làm việc tại các công ty chứng khoán,

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là chỉ thực hiện khảo sát trên địa bàn TP

Hồ Chí Minh và chỉ tập trung vào hoạt động kiểm toán độc lập, không nghiên cứu

về kiểm toán nhà nước hay kiểm toán nội bộ Thời gian thực hiện nghiên cứu là từ tháng 11/2016 đến tháng 04/2017

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng chủ yếu là phương pháp định lượng Trong đó, dựa trên kết quả của các nghiên cứu có liên quan trước đó để xác định các nhân tố cấu thành nên AEG, thiết kế bảng khảo sát Sau đó sử dụng công cụ khảo sát là bảng câu hỏi được gửi trực tiếp, qua email và công cụ khảo sát trực tuyến là Google Docs đến các đối tượng khảo sát Các kỹ thuật phân tích với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 20.0 sau khi được sàng lọc và làm sạch thì dữ liệu được sử dụng để thực hiện phân tích thống kê mô tả và kiểm định T-test trung bình tổng thể mẫu cho từng đối tượng khảo sát

5 Những đóng góp mới của đề tài

Thông qua đề tài nghiên cứu này, tác giả đã hệ thống hóa và trình bày các

Trang 13

nghiên cứu trước tại Việt Nam và trên thế giới về các nhân tố cấu thành ảnh hưởng đến AEG đó là tính độc lập và trách nhiệm của KTV Qua kết quả nghiên cứu, tác giả đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm chỉ ra sự tồn tại của từng thành phần AEG Từ đó tác giả đưa ra những kiến nghị đề xuất phù hợp nhằm giảm thiểu AEG

Với mục tiêu nghiên cứu vấn đề trên, đề tài kỳ vọng mang lại những ý ngh a khoa học và thực tiễn sau:

Về ý nghĩa khoa học

 Bổ sung cho các kết quả nghiên cứu hiện có, cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về sự tồn tại của AEG liên quan đến tính độc lập và trách nhiệm của KTV;

 Là cơ sở cho các hướng nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này tại Việt Nam

Về ý nghĩa thực tiễn

 Kết quả nghiên cứu là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn tổng quát về AEG, từ đó tăng cường nghiên cứu sửa đổi và ban hành các chuẩn mực nghề nghiệp, phát huy vai trò của các tổ chức nghề nghiệp

 Đối với KTV: hiểu rõ được những gì xã hội kỳ vọng vào nghề nghiệp của mình, từ đó chủ động nâng cao năng lực, kỹ năng và ý thức trách nhiệm của mình trong hoạt động nghề nghiệp

 Đối với người sử dụng BCTC: đề tài cung cấp một cái nhìn toàn diện về AEG, từ đó người sử dụng có cái nhìn đúng đắn về kết quả của cuộc kiểm toán

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở bài, nội dung chính của luận văn được kết cấu chia làm 5

chương như sau:

Chương 1 Tổng quan các nghiên cứu trước

Chương 2 Cơ sở lý thuyết

Chương 3 Phương pháp nghiên cứu

Chương 4 Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 5 Kết luận và kiến nghị

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Các nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng đã bắt đầu thực hiện từ những năm

70 của thế kỷ trước, các dòng nghiên cứu chính có thể kể ra bao gồm:

1.1.1 Nghiên cứu thực nghiệm về sự tồn tại của AEG

Các nghiên cứu này bắt đầu tại Anh, Úc, Hoa kỳ, sau đó lan rộng ra các quốc gia khác như Pháp, Singapore, …

Nghiên cứu của Lee (1970) tại Anh về AEG thông qua gửi bảng câu hỏi đến các KTV, đơn vị được kiểm toán và bên thứ ba Kết quả nghiên cứu là trên 80% số người được khảo sát cho rằng mục tiêu của kiểm toán là (1) phát hiện các gian lận

và sai sót, (2) đảm bảo các công ty đã tuân thủ tất cả các quy định của pháp luật, (3) xác minh tính chính xác của sổ sách, hồ sơ và chứng từ kế toán, (4) đưa ra ý kiến kiểm toán về sự trung thực, hợp lý của BCTC của đơn vị được kiểm toán Lee kết luận rằng sự hiểu biết của KTV về mục tiêu kiểm toán có sự khác biệt so với đơn vị được kiểm toán và bên thứ ba Ông thừa nhận rằng có sự tồn tại về AEG giữa các bên và nếu các bên không cùng chung nhận thức về mục tiêu kiểm toán thì các lợi ích từ cuộc kiểm toán sẽ không được đánh giá cao và đáng tin cậy

Cũng trong thời gian này, Beck (1973) đã tiến hành một cuộc khảo sát ở Úc tương tự như Lee ở Anh Bảng câu hỏi khảo sát được gửi tới 2 nhóm đối tượng là KTV và những người sử dụng BCTC (thuộc ngành khai khoáng và thương mại), gồm 17 câu hỏi liên quan đến trách nhiệm kiểm toán và mục tiêu kiểm toán, 15 câu hỏi liên quan đến Luật kiểm toán và kế toán Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng kỳ vọng của người sử dụng dịch vụ kiểm toán lớn hơn nhiều so với những gì KTV tin rằng mình có thể và có khả năng thực hiện được liên quan đến các khía cạnh: (1) KTV đảm bảo rằng không còn gian lận trong công ty (93%); (2) tình hình tài chính công ty lành mạnh (81%); (3) việc quản lý của công ty là hữu hiệu (71%) Dựa trên phát hiện của mình, ông cũng đã kết luận rằng người sử dụng BCTC tại Úc yêu cầu không hợp lý về kết quả kiểm toán, đây chính là nguyên nhân tồn tại AEG tại Úc

Trang 15

Nghiên cứu của Low và các cộng sự (1988) đã điều tra khoảng cách kỳ vọng giữa KTV và các nhà phân tích tài chính về mục tiêu kiểm toán tại Singapore Những đối tượng khảo sát được cung cấp danh sách 13 mục tiêu của cuộc kiểm toán Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mục tiêu cơ bản của cuộc kiểm toán là đưa ra ý kiến của KTV về BCTC Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng cuộc kiểm toán cần được xem như là sự bảo đảm về tính chính xác của BCTC của một đơn vị Nói cách khác, mong đợi của các nhà phân tích tài chính về trách nhiệm của KTV trong việc ngăn chặn và phát hiện sai phạm trọng yếu từ phía KTV cao hơn những gì mà KTV

có thể thực hiện

Humphrey và cộng sự (1993) thực hiện cuộc điều tra để thu thập bằng chứng

về ý kiến và nhận thức về kiểm toán từ nhiều nhóm người khác nhau Bảng câu hỏi gồm 35 câu hỏi liên quan đến mục tiêu kiểm toán, vai trò của KTV và 19 câu hỏi liên quan đến kết quả kiểm toán Kết quả chỉ ra có sự khác biệt đáng kể liên quan đến nhận thức về vai trò của KTV, mục tiêu kiểm toán, và đánh giá kết quả kiểm toán trên các khía cạnh phản ứng với rủi ro, thiết lập các thủ tục kiểm toán phù hợp

và tư cách nghề nghiệp của KTV (không tư lợi, khách quan) Nói chung, về kỳ vọng đối với vai trò của KTV thì trong mọi trường hợp, KTV có thể biết được vai trò hạn chế của mình nhiều hơn so với khách hàng kiểm toán và người sử dụng BCTC Nhận thức về mục tiêu kiểm toán, kết quả nghiên cứu cho thấy việc thiếu hiểu biết

về mục tiêu và chức năng kiểm toán ở Anh không có nhiều khác biệt so với phát hiện thu được từ nghiên cứu của Lee (1970)

Tương tự như vậy, nghiên cứu của Monroe và Woodliff (1994) khảo sát AEG giữa KTV và người sử dụng BCTC liên quan đến mức độ tin cậy của báo cáo kiểm toán và tác động từ việc thay đổi thuật ngữ sử dụng trong báo cáo kiểm toán Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại AEG liên quan đến trách nhiệm của KTV về ngăn ngừa, phát hiện gian lận và hành vi bất hợp pháp Người sử dụng báo cáo kiểm toán mong đợi KTV thực hiện vai trò giám sát xã hội Bên cạnh đó, tồn tại khoảng cách thông tin trên báo cáo kiểm toán khi sử dụng các thuật ngữ khác nhau Thay đổi báo cáo kiểm toán có tác động đến niềm tin về mục tiêu của một cuộc kiểm

Trang 16

toán Việc sửa đổi từ ngữ trong báo cáo kiểm toán cũ giúp loại bỏ một vài sự khác biệt nhưng cũng tạo ra một vài khác biệt mới về niềm tin đối với các thông điệp được truyền tải từ báo cáo kiểm toán

Tóm lại, các nghiên cứu trên đã chứng minh bản chất của AEG là do khác biệt trong quan điểm của người sử dụng BCTC và của KTV liên quan đến các khía cạnh khác nhau của nghề nghiệp kiểm toán như vai trò, chức năng và mục tiêu kiểm toán, mức độ đảm bảo, độ tin cậy của nghề nghiệp kiểm toán và mức độ hữu ích của báo cáo kiểm toán,

1.1.2 Nghiên cứu thực nghiệm về các thành phần căn bản tạo thành AEG

Khá nhiều nghiên cứu điều tra các khác biệt giữa người sử dụng BCTC và KTV là từ các thành phần nào Nhiều nghiên cứu đã chứng minh 2 thành phần chủ chốt tạo ra sự khác biệt này là tính độc lập và trách nhiệm của KTV

1.1.2.1 Nghiên cứu về thành phần tính độc lập của KTV

Nghiên cứu của M Salehi, Ali Mansoury và Z Azary (2009) bàn về tính độc lập của KTV ảnh hưởng đến AEG Tính độc lập là yếu tố căn bản để có được sự tin cậy của công chúng vào báo cáo của KTV Nghiên cứu xác định nguyên nhân làm giảm tính độc lập là sự phụ thuộc về kinh tế của KTV đối với khách hàng, cạnh tranh trong thị trường kiểm toán, cung cấp các dịch vụ ngoài kiểm toán Những nguyên nhân này làm cho KTV không thể đưa ra một báo cáo trung thực Nghiên cứu kết luận rằng “sự độc lập của KTV là một yếu tố quan trọng để giảm AEG, bởi

vì các nhà đầu tư và những người sử dụng khác đang mong đợi nhiều hơn sự độc lập từ các KTV và công ty kiểm toán” Vì vậy, KTV phải luôn duy trì sự độc lập của mình trong cuộc kiểm toán

Nghiên cứu của Kanaka Durga (2015) về các yếu tố tạo nên AEG Kết quả nghiên cứu cho thấy, có nhiều yếu tố cấu thành nên AEG trong đó sự độc lập của KTV là yếu tố quan trọng nhất Theo đó, sự phụ thuộc kinh tế vào khách hàng, mong muốn giữ lại khách hàng quan trọng và đặc biệt là các dịch vụ phi kiểm toán làm giảm tính độc lập của KTV Vì vậy, KTV có trách nhiệm công bố đầy đủ cho các cổ đông các dịch vụ phi kiểm toán, nhất là trong những trường hợp các dịch vụ

Trang 17

biệt về AEG giữa năm 2008 và 1999 Kết quả chỉ ra các nhóm khảo sát vẫn chưa nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của KTV liên quan đến: (1) KTV phát hiện và công bố việc biển thủ tài sản và các hành vi không tuân thủ pháp luật; (2) KTV kiểm tra sự đầy đủ và hữu hiệu đối với hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng; (3) KTV phát hiện và công bố việc cố ý bóp méo thông tin được trình bày trong BCTC Đây chính là nguyên nhân tồn tại AEG ở New Zealand và Anh Mặt khác, nghiên cứu còn kết luận rằng, AEG ở New Zealand thì lớn hơn ở Anh một cách đáng kể Điều này là do việc giám sát hoạt động KTV và công khai cho doanh nghiệp về các vấn đề của BCTC đã kiểm toán tại Anh tốt hơn Kết quả còn cho thấy nội dung của chuẩn mực về báo cáo kiểm toán ít tác động đến sự hiểu biết của người sử dụng về những thông điệp được truyền tải trên báo cáo kiểm toán

Nghiên cứu của Judit Furedi-Fulop (2015) về trách nhiệm của KTV ảnh hưởng đến AEG ở Hungary nhằm tìm giải pháp phù hợp để thu hẹp AEG Với mục đích thiết lập một tiêu chuẩn trách nhiệm phù hợp, nghiên cứu đã tiến hành phân tích giả thuyết về tỷ lệ dân số dựa trên đặc điểm mẫu khảo sát các KTV và người sử dụng BCTC Kết quả cho thấy, tại Hungary, AEG bắt nguồn từ việc yếu kém trong trách nhiệm của KTV, sự khiếm khuyết trong ban hành tiêu chuẩn KTV, kỳ vọng không hợp lý và hiểu sai chức năng kiểm toán của người sử dụng BCTC Nghiên cứu này đã bổ sung thêm bước nghiên cứu qua việc kiểm địnhảnh hưởng của yếu tố nghề nghiệp đến AEG và qua đó cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định rằng luôn tồn tại AEG và các giải pháp hữu hiệu nhất cũng chỉ thu hẹp AEG đến một mức độ nhất định

Trang 18

phi kiểm toán được thực hiện nhiều hơn các dịch vụ kiểm toán Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các dịch vụ phi kiểm toán không được làm ảnh hưởng đến sự độc lập của KTV và phải nằm trong khuôn khổ pháp lý và luật pháp KTV cần tránh bất cứ điều gì làm giảm lòng tin của công chúng đối với nghiệp vụ kiểm toán BCTC

1.1.2.1 Nghiên cứu về thành phần trách nhiệm của KTV

Nghiên cứu của McEnroe và Martens (2001) so sánh nhận thức của KTV và các nhà đầu tư về trách nhiệm của KTV Kết quả nghiên cứu cho thấy so với KTV, nhà đầu tư có những kỳ vọng cao hơn trong các khía cạnh bảo đảm của kiểm toán như là: (1) Các khoản mục quan trọng đối với các nhà đầu tư và các chủ nợ đã được báo cáo hay trình bày trong các BCTC; (2) Các KTV đã thực hiện chức năng như là

“cơ quan giám sát của công chúng” đối với chủ nợ, các cổ đông của công ty được kiểm toán; (3) Hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty đã được kiểm toán có hiệu quả; (4) Các BCTC không còn có sai sót do gian lận của nhà quản lý; (5) Các BCTC không còn có sai sót nhằm che giấu hành vi gian lận của nhân viên; (6) Không có hành vi vi phạm pháp luật được thực hiện bởi công ty được kiểm toán

Nghiên cứu của Fadzly và Ahmad (2004) nhằm hai mục tiêu: thứ nhất là kiểm tra xem có hay không sự tồn tại AEG liên quan đến trách nhiệm KTV dựa vào quan điểm của KTV, đơn vị được kiểm toán và các đối tượng có lợi ích liên quan tại Malaysia; từ đó nghiên cứu tiếp tục mục đích thứ hai là xác định bản chất của AEG theo khuôn khổ của Porter (1993) Kết quả chứng minh rằng có sự tồn tại của AEG

ở Malaysia và cho thấy rằng công ty được kiểm toán và các đối tượng liên quan đặt

kỳ vọng cao hơn nhiều về trách nhiệm của KTV Tồn tại AEG đáng kể liên quan đến trách nhiệm của KTV trên các khía cạnh: (1) Ngăn ngừa và phát hiện gian lận, lập BCTC cho khách hàng kiểm toán, duy trì sổ sách kế toán cho khách hàng kiểm toán, đảm bảo hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu; (2) Trách nhiệm pháp lý của KTV đối với trường hợp có gian lận hoặc thất bại trong kinh doanh của khách hàng kiểm toán, đối với những dự báo về triển vọng kinh doanh trong tương lai

Nghiên cứu của Porter (2012) được mở rộng từ chính nghiên cứu của bà từ năm 1999 khảo sát tại New Zealand và Anh nhằm xác định và giải thích sự khác

Trang 19

với 3 nhân tố là trách nhiệm kiểm toán, độ tin cậy và tính hữu ích của thông tin trên BCTC được kiểm toán Các kết quả của nghiên cứu cho thấy có một AEG khá lớn đặc biệt liên quan đến trách nhiệm của KTV, cụ thể ở những vấn đề sau: (1) KTV

có trách nhiệm phát hiện tất cả gian lận; (2) KTV chịu trách nhiệm duy trì sổ sách

kế toán; (3) KTV chịu trách nhiệm trong việc ngăn ngừa hành vi gian lận; (4) KTV thực hiện đánh giá trong việc lựa chọn thủ tục kiểm toán; (5) KTV chịu trách nhiệm

về tính hữu hiệu và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ; (6) KTV đồng ý với các chính sách kế toán được sử dụng trong BCTC; (7) BCTC phản ánh trung thực và hợp lý; (8) Đơn vị không có gian lận; (9) BCTC đã được kiểm toán là hữu ích trong việc giám sát hoạt động của đơn vị Nghiên cứu cho rằng nguyên nhân là do những khác biệt trong nhận thức giữa KTV so với người sử dụng báo cáo kiểm toán về các

từ ngữ được sử dụng trên báo cáo, trách nhiệm của KTV và về vai trò, chức năng của kiểm toán

(2) Nghiên cứu của Lin và Chen (2004) đã thu thập được nhiều bằng chứng

về sự tồn tại của AEG ở Trung Quốc, liên quan đến mục tiêu kiểm toán, tính độc lập của KTV, trách nhiệm của KTV về phát hiện và báo cáo gian lận, và trách nhiệm đối với bên thứ ba Nguyên nhân của sự tồn tại khoảng cách này là do bối cảnh hiện tại về các điều kiện kinh tế và xã hội của Trung Quốc đang chuyển sang nền kinh tế định hướng thị trường, quy mô các doanh nghiệp nhà nước còn khá lớn Vì vậy, nhà đầu tư, cổ đông kỳ vọng kiểm toán phải có chức năng giám sát hoạt động của doanh nghiệp Bên cạnh đó, nghiên cứu đã chỉ ra rằng hầu hết các nhóm khảo sát đều đồng thuận với nhận định kiểm toán có vai trò tích cực trong nền kinh tế Trung Quốc trong việc nâng cao tính trung thực và mức độ tin cậy BCTC Cuối cùng, nghiên cứu nêu rõ, người sử dụng BCTC và KTV đều yêu cầu cần phải cải thiện sự độc lập của KTV trong cuộc kiểm toán tại Trung Quốc

(3) Nghiên cứu của R Dixon, A.D Woodhead và M Sohliman (2006) nhằm mục đích điều tra về sự tồn tại và các nhân tố cấu thành của AEG ở Ai Cập Nghiên cứu đã khảo sát để lấy ý kiến từ 300 người thuộc 3 nhóm KTV, nhân viên ngân hàng và nhà đầu tư Kết quả nghiên cứu chỉ ra các nhân tố cấu thành của AEG liên

Trang 20

quan đến trách nhiệm KTV về việc phát hiện và ngăn ngừa gian lận, đặc biệt, trách nhiệm của KTV trong việc đánh giá lựa chọn thủ tục kiểm toán, trách nhiệm về tính hữu hiệu và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ Đồng thời nhân tố về mức độ tin cậy của BCTC được kiểm toán và tính hữu dụng mà BCTC được kiểm toán mang lại để các nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định đầu tư của mình cũng rất được quan tâm

(4) Nghiên cứu của Bogdanoviciute (2011) phân tích sự tồn tại AEG giữa KTV và người sử dụng BCTC về trách nhiệm kiểm toán, tính độc lập của KTV và tính hữu ích của thông tin trên BCTC được kiểm toán trong môi trường kinh doanh tại Lithuania Kết quả cho thấy rằng có tồn tại AEG liên quan đến tính độc lập và trách nhiệm của KTV trong việc phát hiện gian lận Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy rằng KTV có nhận thức khác nhau về việc phát hiện và phòng chống gian lận, bảo đảm tính hữu ích của các BCTC được kiểm toán Nguyên nhân dẫn đến kết quả này là do quy định của các cơ quan chức năng liên quan đến vai trò và sự giám sát của KTV để lấy lại sự tin tưởng của các nhà đầu tư sau những vụ bê bối của công ty và cuộc khủng hoảng tài chính

(5) Nghiên cứu của Pourheydari & Mina Abousaiedi (2011) với mục tiêu nghiên cứu là điều tra liệu có tồn tại AEG giữa các KTV độc lập và người sử dụng BCTC ở Iran hay không Nghiên cứu dựa trên các nghiên cứu của Schelluch, Best

và cộng sự, Fadzly, Ahmad, Dixon và cộng sự để thực hiện Kết quả cho thấy không

có sự khác biệt đáng kể giữa người sử dụng và KTV về độ tin cậy và tính hữu ích của BCTC đã được kiểm toán nhưng có sự khác biệt về nhận thức trong phạm vi trách nhiệm kiểm toán đối với việc phát hiện gian lận, tính đúng đắn của kiểm soát nội bộ và lập BCTC ở Iran

(6) A Gold, U.Gronewold, và C Pott (2012) đã thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm để tìm hiểu nhận thức của người sử dụng BCTC về trách nhiệm của nhà quản lý, trách nhiệm của KTV và độ tin cậy của BCTC được kiểm toán Mục đích chính của nghiên cứu này là rút ngắn AEG theo ISA 700 được sửa đổi Khảo sát được thực hiện với các KTV có kinh nghiệm được chọn từ Big 4 và các công ty

Trang 21

không phải Big 4, các nhà phân tích tài chính được chọn từ dữ liệu Bloomberg và các sinh viên được chọn từ Đại học Erasmus Người tham gia được yêu cầu đọc một

mô tả ngắn về công ty, tóm tắt các BCTC của công ty và một báo cáo kiểm toán Sau đó người tham gia được yêu cầu để trả lời một loạt các câu hỏi liên quan đến các vấn đề sau: (1) Trách nhiệm của KTV và trách nhiệm của Ban giám đốc công ty trong việc lập BCTC, phát hiện và ngăn ngừa gian lận, và trách nhiệm liên quan đến kiểm soát nội bộ của công ty; (2) Những gian lận và nhầm lẫn, độ tin cậy của BCTC Gold và các cộng sự đã nhận thấy rằng người sử dụng BCTC đã gán trách nhiệm lớn hơn cho KTV Và mặc dù những từ ngữ mới được sử dụng trong báo cáo kiểm toán theo ISA 700 sửa đổi đã giải thích chi tiết về trách nhiệm của KTV, công việc và phạm vi của cuộc kiểm toán, nhưng các tác giả đã không tìm thấy được sự giảm thiểu AEG

(7) Nghiên cứu của Anila Devi và Shila Devi (2014) nhằm xác định các nhân

tố cấu thành nên AEG giữa KTV và người sử dụng BCTC là nhân viên ngân hàng

và nhà đầu tư Các nhân tố được sử dụng là độ tin cậy, trách nhiệm của KTV và tính hữu ích của BCTC được kiểm toán Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi với kích thước mẫu n = 300gồm 100 đối tượng từ mỗi nhóm và 259 mẫu được nhận lại Bảng câu hỏi bao gồm hai phần, phần đầu tiên thu thập dữ liệu nhân khẩu học

và phần 2 gồm 16 câu hỏi liên quan đến các biến Kiểm định Independent Sample T-test được sử dụng để nhận ra các nhân tố cấu thành nên AEG Nghiên cứu cho thấy rằng đang tồn tại khoảng cách giữa KTV và nhà đầu tư đối với độ tin cậy và tính hữu ích của BCTC được kiểm toán Nguyên nhân là từ sự thiếu kiến thức và hiểu biết về chuẩn mực kiểm toán và thực hành kiểm toán, vì vậy, để giảm thiểu khoảng cách thì cần nâng cao nhận thức và hiểu biết về kiểm toán cho người sử

dụng BCTC

1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Tại VN, trong thời gian gần đây đã có một số nghiên cứu về AEG như là: (1) Nghiên cứu của Phan Thanh Trúc (2013) đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về chất lượng kiểm toán, phân tích đặc điểm hoạt

Trang 22

động kiểm toán độc lập tại Việt Nam; phản ánh thực trạng về đánh giá các đối tượng có liên quan đến BCTC về các yếu tố ảnh hưởng chất lượng kiểm toán; chỉ ra những điểm tích cực cũng như tồn tại về thực trạng đánh giá chất lượng kiểm toán Việt Nam và nhận thức chưa tốt đối với nghề nghiệp kiểm toán, dẫn đến AEG về chất lượng kiểm toán Từ đó, tác giả đề xuất các quan điểm và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán, thu hẹp khoảng cách kỳ vọng

(2) Nhóm nghiên cứu Đại học Kinh tế - Luật (2015) thông qua kết quả khảo sát cùng với việc tham chiếu trên thang đo tương ứng, nhóm nghiên cứu cho rằng có nhiều nguyên nhân dẫn đến AEG Xuất phát từ phía KTV và công ty kiểm toán là chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng được nhu cầu người sử dụng BCTC mà nguyên nhân sâu xa từ phía năng lực chuyên môn của KTV, việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp cũng như đặc thù của công việc Từ phía người sử dụng BCTC, những quan điểm chưa đúng đắn về công việc của KTV cũng như những hiểu biết chưa đầy đủ

về BCTC cũng là nguyên nhân dẫn đến AEG Đồng thời, nhóm nghiên cứu cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm giảm thiểu khoảng cách này KTV cần tuân thủ chuẩn mực chuyên môn và đạo đức trong hành nghề, thông báo đầy đủ và chi tiết về bản chất cuộc kiểm toán BCTC Về phía nhà đầu tư, các lớp tập huấn những hiểu biết về công việc kiểm toán cũng như các chương trình về kế toán, phân tích BCTC cần được mở thường xuyên để trang bị những kiến thức đầu tư đầy đủ hơn

(3) Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Kịp (2015) cho thấy có tồn tại AEG tại Việt Nam Tác giả đã kế thừa một phần nghiên cứu của Porter & cộng sự (2012), bằng việc sử dụng lại 30 câu hỏi khảo sát, thang đo, và định ngh a AEG Qua khảo sát, tác giả đưa ra kết quả: nhóm kế toán và ngân hàng chưa hiểu đúng về trách nhiệm của KTV hiện tại, yêu cầu KTV thực hiện những trách nhiệm nằm ngoài những quy định của chuẩn mực và các luật liên quan Trong khi đó, đa số các KTV nắm rõ trách nhiệm của mình và thực hiện theo đúng yêu cầu của chuẩn mực Sự khác biệt này tạo nên AEG tại Việt Nam Cụ thể, các nhóm đã mong đợi không hợp

lý khi cho rằng KTV phải có trách nhiệm đảm bảo BCTC của đơn vị được kiểm toán là chính xác; phát hiện hành vi trộm cắp được thực hiện bởi nhân viên và Ban

Trang 23

giám đốc cho dù số tiền là trọng yếu hay không; báo cáo cho cơ quan có thẩm quyền khi có nghi ngờ về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán; kiểm tra và công bố trên báo cáo kiểm toán về độ tin cậy của những thông tin được đăng tải trên trang web của đơn vị được kiểm toán; kiểm tra và công bố trên báo cáo kiểm toán về độ tin cậy của tất cả các thông tin trong BCTC của đơn vị được kiểm toán Sau cùng, tác giả đã đề xuất những giải pháp thích hợp để thu hẹp khoảng cách này, giúp cho người sử dụng BCTC có sự nhìn nhận đúng hơn về trách nhiệm của KTV, cũng như là bổ sung các chuẩn mực để nâng cao trách nhiệm của KTV

(4) Nghiên cứu của Ngô Thị Thúy Quỳnh (2015) chỉ ra rằng có tồn tại AEG giữa KTV và nhà quản lý tại Việt Nam liên quan đến các trách nhiệm kiểm toán Nhà quản lý đặt kỳ vọng vào cuộc kiểm toán cao hơn nhiều so với nhận thức của KTV, đặc biệt là các trách nhiệm liên quan đến vai trò phát hiện và ngăn chặn sai sót, gian lận, các hành vi không tuân thủ và các dịch vụ phi kiểm toán khác Bên cạnh đó, nghiên cứu cho thấy rằng các nhà quản lý không có kiến thức kiểm toán và

có ít kinh nghiệm làm việc thường kỳ vọng cao hơn nhóm có kiến thức và kinh nghiệm làm việc lâu do họ không nhận thức được mục tiêu truyền thống và những hạn chế tiềm tàng của cuộc kiểm toán Cuối cùng, tác giả đề ra các giải pháp thu hẹp AEG mà cơ quan nhà nước và các tổ chức, hội nghề nghiệp kiểm toán; KTV và doanh nghiệp kiểm toán; đơn vị bị kiểm toán và người sử dụng BCTC được kiểm toán nên thực hiện

(5) Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Khánh Dung (2016) đã xác định được các trách nhiệm kiểm toán cấu thành nên từng bộ phận của AEG gồm: khoảng cách hợp

lý, khoảng cách hoàn thiện chuẩn mực, và khoảng cách tăng cường kết quả ở Việt Nam Không tồn tại trách nhiệm kiểm toán nào cấu thành nên khoảng cách dịch vụ như trong định ngh a của Turner & cộng sự (2010) Nghiên cứu đã xác định mức độ ảnh hưởng của nghề nghiệp đến các trách nhiệm kiểm toán cấu thành nên các thành phần AEG; cung cấp bằng chứng thực nghiệm chứng tỏ AEG luôn tồn tại giữa KTV

và người sử dụng BCTC xuất phát từ những khác biệt về vị trí nghề nghiệp của từng

Trang 24

đối tượng tham gia khảo sát, vai trò người khảo sát, người thu nhận thông tin, khác biệt về lợi ích, bất cân xứng thông tin và mâu thuẫn lợi ích

1.3 Nhận xét tổng quan kết quả các nghiên cứu và xác định khe hổng nghiên cứu

1.3.1 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu

Qua phần tổng quan các nghiên cứu được thực hiện trên thế giới có liên quan đến luận văn, có thể nói rằng AEG và các nhân tố cấu thành AEG là một trong những chủ đề được rất nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm Các nghiên cứu sau

kế thừa và phát huy kết quả các nghiên cứu trước, đưa ra những bằng chứng có tính thuyết phục cao hơn, khắc phục dần những hạn chế của những nghiên cứu trước

Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm đều cung cấp bằng chứng cho thấy luôn tồn tại AEG liên quan đến các khía cạnh kiểm toán như tính độc lập của KTV, trách nhiệm của KTV, mức độ hữu ích của BCTC được kiểm toán, mục tiêu, vai trò và chức năng của kiểm toán, mức độ đảm bảo và độ tin cậy của nghề nghiệp kiểm toán Tuy các nghiên cứu đều gắn liền với nền kinh tế tại mỗi thời điểm, tiếp cận theo hướng gắn kết với sự phát triển của nghề của kiểm toán, với nhu cầu của người

sử dụng báo cáo kiểm toán nhưng vẫn chưa có bằng chứng cho thấy các yếu tố kinh

tế, chính trị, văn hóa và xã hội tác động trực tiếp tới AEG

Nghiên cứu về AEG và các nhân tố cấu thành nên AEG tại Việt Nam vẫn còn khá mới mẻ và chưa được quan tâm nhiều Các tác giả chỉ chú trọng vào việc nghiên cứu về sự tồn tại AEG liên quan đến trách nhiệm KTV mà chưa tập trung nghiên cứu đến các thành phần khác của AEG như tính độc lập của KTV Tuy nhiên, các tác giả cũng đã đưa ra được những bằng chứng thực nghiệm về việc tồn tại AEG tại Việt Nam về sự mong đợi của xã hội đối với trách nhiệm KTV trong kiểm toán BCTC hiện nay, đánh giá kết quả thực hiện trách nhiệm của KTV theo quan điểm của người sử dụng BCTC và từ đó đưa ra các biện pháp nhằm thu hẹp khoảng cách đối với trách nhiệm KTV trong kiểm toán BCTC tại Việt Nam

Trang 25

1.3.2 Khe hổng nghiên cứu

Từ việc tổng quan các nghiên cứu trước trên thế giới và ở Việt Nam, tác giả nhận thấy ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu nào đề cập riêng 2 nhân tố cấu thành AEG quan trọng nhất là tính độc lập và trách nhiệm của KTV Do vậy, tác giả lựa chọn đối tượng này làm chủ đề nghiên cứu liên quan đến luận văn Đây có thể xem

là điểm mới của đề tài

Đề tài này có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn do bổ sung về mặt lý thuyết cũng như giúp các đối tượng có liên quan đưa ra các biện pháp phù hợp để giảm thiểu AEG, nâng cao chất lượng kiểm toán

Trang 26

Kết luận chương 1

Nghiên cứu về AEG và các nhân tố cấu thành nó đã có một quá trình hình thành và phát triển rộng rãi trên toàn thế giới Theo thời gian, các nghiên cứu sau càng trở nên hoàn thiện hơn nhờ kế thừa các nghiên cứu trước về mặt nội dung và ý ngh a Nhưng tựu chung lại, các nghiên cứu đều khẳng định có sự tồn tại AEG và

có nhiều nhân tố dẫn đến sự khác biệt về nhận thức giữa KTV và của những người

sử dụng BCTC đối với hoạt động kiểm toán

Dựa trên những nghiên cứu trước, tác giả đã phân tích và xác định khe hổng nghiên cứu để làm cơ sở vận dụng trong môi trường ở Việt Nam với nền kinh tế đang phát triển có đặc điểm và văn hóa khác biệt với các nước Trên cơ sở việc tổng quan các nghiên cứu, tác giả sẽ tiếp tục tìm hiểu các cơ sở lý luận và lý thuyết liên quan

Trang 27

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán

Qua các nghiên cứu lịch sử hình thành, phát triển kiểm toán và những thay đổi về mục tiêu, chức năng kiểm toán và trách nhiệm KTV, có thể khẳng định AEG

đã tồn tại hàng trăm năm qua (Porter & cộng sự (2005)), song hành ngay từ khi nghề nghiệp kiểm toán được hình thành, mặc dù chủ đề này chỉ mới được nghiên cứu trong vài thập kỷ gần đây

2.1.1 Khái niệm AEG

Thuật ngữ “khoảng cách kỳ vọng kiểm toán” được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra các quan điểm về khái niệm này

Liggio (1974) là người đầu tiên giới thiệu khái niệm “khoảng cách kỳ vọng kiểm toán” đến các tài liệu kiểm toán Ông định ngh a AEG là sự khác biệt giữa mức độ kỳ vọng về hiệu quả công việc kiểm toán giữa KTV và những người sử dụng BCTC

Năm 1978, Ủy ban Cohen của Hoa Kỳ đã mở rộng khái niệm này và cho rằng AEG là sự kỳ vọng hoặc yêu cầu của công chúng về những gì KTV có thể hoặc nên thực hiện một cách hợp lý

Guy & Sullivan (1988) cho rằng AEG là sự khác biệt giữa những gì công chúng tin là thuộc trách nhiệm của KTV và những gì KTV tin là thuộc trách nhiệm của mình

Năm 1993, Porter cho rằng định ngh a về AEG của Liggio và Ủy ban Cohen

là quá hẹp Bà lập luận rằng sự gia tăng trong việc chỉ trích, kiện tụng đối với KTV

là do sự thất bại của KTV trong việc đáp ứng mong đợi của xã hội, do đó làm suy yếu niềm tin vào chức năng kiểm toán Bà định ngh a AEG là sự khác biệt giữa kỳ vọng của xã hội đối với KTV và quan điểm của xã hội về kết quả hoạt động của KTV

Cũng vào năm 1993, Monroe và Woodliff đã tiến hành nghiên cứu AEG, xác định AEG như là sự khác biệt trong niềm tin của công chúng và KTV về nhiệm vụ

Trang 28

và trách nhiệm mà KTV đảm nhận và các thông điệp đƣợc chuyển tải bởi báo cáo kiểm toán

Jennings và cộng sự (1993), định ngh a AEG là sự khác biệt giữa những gì công chúng kỳ vọng từ nghề nghiệp kiểm toán và những gì mà nghề nghiệp kiểm toán thực sự có thể cung cấp Định ngh a này cũng đƣợc Lowe (1994) ủng hộ trong nghiên cứu của ông về khoảng cách kỳ vọng trong hệ thống pháp luật

Tóm lại, mặc dù có nhiều khái niệm với những từ ngữ khác nhau nhƣng tựu chung lại các khái niệm trên đều đề cập đến khoảng cách về sự nhận thức hoạt động thực tế và kỳ vọng mà KTV phải thực hiện so với cái mà KTV có thể đáp ứng đƣợc Trong luận văn này, tác giả sử dụng định ngh a và các thành phần cấu tạo AEG của Porter

2.1.2 Các thành phần của AEG

Vào năm 1993, trong nghiên cứu của mình, Porter đã xác định các thành phần cấu thành nên AEG nhƣ sau:

Khoảng cách thực hiện

Khoảng cách hợp lý

Kết quả

hạn chế

Chuẩn mực hạn chế

Kỳ vọng quá mức

Nhận thức của

công chúng về kết

quả kiểm toán

Khoảng cách kỳ vọng – hiện thực

Kỳ vọng công chúng đối với kiểm toán viên

Trách nhiệm thực tế của kiểm toán viên

Kỳ vọng hợp lý về trách nhiệm của kiểm toán viên

Hình 2.1 Mô hình về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán (Porter, 1993)

Trang 29

Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán gồm hai thành phần:

 Khoảng cách hợp lý là khoảng cách giữa những gì xã hội mong đợi KTV đạt được và những gì là hợp lý mà KTV có thể đạt được

Dựa trên định ngh a này thì kỳ vọng của xã hội có thể xảy ra hai khả năng là

kỳ vọng hợp lý và kỳ vọng bất hợp lý Trong đó, kỳ vọng của xã hội được xem là hợp lý nếu đáp ứng được tiêu chuẩn chi phí – lợi ích Còn kỳ vọng bất hợp lý là khi mong đợi của xã hội vào KTV vượt quá trách nhiệm mà KTV có thể thực hiện một cách hợp lý Khá nhiều người sử dụng BCTC mong đợi rằng KTV phải đảm bảo rằng các BCTC là chính xác, đơn vị sẽ không bị phá sản, không có gian lận tại đơn

vị, đơn vị đã tuân thủ pháp luật, Đây là những mong đợi chủ quan từ những người

sử dụng BCTC về trách nhiệm của KTV và chính điều này tạo ra khoảng cách chưa hợp lý

 Khoảng cách thực hiện là khoảng cách do dịch vụ chưa hoàn hảo

Có hai nguyên nhân làm cho dịch vụ mà nghề nghiệp kiểm toán cung cấp cho xã hội chưa hoàn hảo sau đây:

 Các công ty kiểm toán và KTV trong từng hợp đồng cụ thể có thể chưa hoàn thành hết trách nhiệm của mình, họ không thực hiện đúng đắn và đầy đủ những tiêu chuẩn chất lượng mà chuẩn mực yêu cầu

 Bản thân các chuẩn mực kiểm toán chưa đạt được các đòi hỏi hợp lý của nghề nghiệp và xã hội

2.2 Tính độc lập của KTV

Trong các nguyên tắc cơ bản về đạo đức nghề nghiệp cho người hành nghề kiểm toán được đề cập trong chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp thì độc lập là nguyên tắc đầu tiên và là nguyên tắc cơ bản nhất.Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán yêu cầu mọi KTV hành nghề và thành viên nhóm kiểm toán cung cấp dịch vụ kiểm toán (dịch vụ đảm bảo), công ty kiểm toán phải độc lập với các khách hàng sử dụng dịch vụ kiểm toán Tính độc lập không đòi hỏi người đưa ra ý kiến đánh giá nghề nghiệp phải hoàn toàn độc lập về các quan hệ kinh tế, tài chính và các

Trang 30

mối quan hệ khác vì các thành viên trong xã hội đều có mối quan hệ với nhau Các mối quan hệ về kinh tế, tài chính và các quan hệ khác cần được đánh giá thỏa đáng xem có ảnh hưởng đến tính độc lập hay không Khi thông tin nhận được xét thấy có ảnh hưởng đến tính độc lập thì các mối quan hệ đó không chấp nhận được

Tính độc lập bao gồm:

 Độc lập về tư tưởng: Là trạng thái suy ngh cho phép đưa ra ý kiến mà không chịu ảnh hưởng của những tác động trái với những đánh giá chuyên nghiệp, cho phép một cá nhân hành động một cách chính trực, khách quan và có sự thận trọng nghề nghiệp, và

 Độc lập về hình thức: Là không có các quan hệ thực tế và hoàn cảnh có ảnh hưởng đáng kể làm cho bên thứ ba hiểu là không độc lập, hoặc hiểu là tính chính trực, khách quan và thận trọng nghề nghiệp của nhân viên công ty hay thành viên của nhóm cung cấp dịch vụ đảm bảo không được duy trì

Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Việt Nam cũng đã đưa ra một khuôn khổ nhằm hỗ trợ những người hành nghề có thể xác định, đánh giá và biện pháp bảo vệ đối với những nguy cơ ảnh hưởng đến tính độc lập

Tính độc lập có nguy cơ bị ảnh hưởng do tư lợi, tự kiểm tra, sự bào chữa, quan hệ ruột thịt và sự đe dọa

 “Nguy cơ do tư lợi” diễn ra khi công ty kiểm toán hoặc một thành viên nhóm kiểm toán có thể thu được lợi ích tài chính hoặc các xung đột lợi ích cá nhân khác với khách hàng sử dụng dịch vụ bảo đảm Ví dụ, công ty kiểm toán có lợi ích tài chính trực tiếp hoặc lợi ích tài chính gián tiếp có tính chất trọng yếu tại khách hàng

sử dụng dịch vụ đảm bảo; hoặc công ty kiểm toán quá phụ thuộc vào phí dịch vụ của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo;

 “Nguy cơ tự kiểm tra” diễn ra khi: Bất kỳ sản phẩm hay đánh giá từ một hợp đồng cung cấp dịch vụ đảm bảo hoặc phi đảm bảo nào trước đây cần được đánh giá lại để có được kết luận của hợp đồng cung cấp dịch vụ đảm bảo; Hoặc khi một thành viên của nhóm kiểm toán trước đây đã từng là Giám đốc của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo, hoặc là nhân viên có chức vụ, có ảnh hưởng đáng kể và trực

Trang 31

tiếp đối với vấn đề trọng yếu của hợp đồng cung cấp dịch vụ đảm bảo Ví dụ một thành viên của nhóm kiểm toán gần đây đã hoặc đang là Giám đốc hoặc nhân viên

có ảnh hưởng đáng kể của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo

 “Nguy cơ về sự bào chữa” xảy ra khi công ty kiểm toán hoặc một thành viên nhóm kiểm toán xúc tiến, hoặc nhận thức được việc xúc tiến các giao dịch của một khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo hoặc ý kiến có thể được hiểu là vi phạm tính khách quan Đây là trường hợp công ty kiểm toán hoặc một thành viên của nhóm kiểm toán bị phụ thuộc vào khách hàng trong việc đưa ra ý kiến Ví dụ một thành viên nhóm kiểm toán vừa là người trung gian giao dịch bán các loại cổ phiếu, chứng khoán khác của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo; và vừa giữ vai trò là người bào chữa đại diện cho khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo trong vụ kiện hoặc khi giải quyết các tranh chấp với bên thứ ba

 “Nguy cơ về quan hệ ruột thịt” xảy ra khi công ty kiểm toán hoặc thành viên của nhóm kiểm toán thông cảm với lợi ích của khách hàng vì có quan hệ ruột thịt với khách hàng (như thành viên Ban Giám đốc, thành viên Hội đồng quản trị, kế toán trưởng và tương đương của khách hàng) sử dụng dịch vụ đảm bảo Ví dụ, một thành viên của nhóm kiểm toán có quan hệ gia đình ruột thịt với Giám đốc hoặc thành viên Ban Giám đốc của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo Trong một số trường hợp có các mối quan hệ khác không là quan hệ ruột thịt nhưng có ảnh hưởng đến tính độc lập, như: Giám đốc trước đây của công ty kiểm toán đang là Giám đốc, hoặc là thành viên Ban Giám đốc của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo, hoặc là nhân viên giữ chức vụ có ảnh hưởng đáng kể và trực tiếp đối với vấn đề trọng yếu của hợp đồng cung cấp dịch vụ đảm bảo;

 “Nguy cơ bị đe dọa” xảy ra khi một thành viên của nhóm kiểm toán bị đe dọa (đe dọa thật hoặc cảm thấy bị đe doạ) nhằm ngăn cản hành động theo đúng nguyên tắc khách quan và hoài nghi nghề nghiệp cần thiết từ phía Giám đốc, thành viên Ban Giám đốc hoặc nhân viên giữ chức vụ có ảnh hưởng đáng kể của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo Ví dụ, KTV bị đe dọa sẽ bị thay thế khi có bất đồng về việc

Trang 32

áp dụng một nguyên tắc kế toán; hoặc bị áp lực phải làm giảm phạm vi của dịch vụ

đã cam kết nhằm giảm phí

KTV cần nhận diện rõ khả năng đưa đến các nguy cơ này để có thể đảm bảo

và nâng cao tính độc lập của KTV, từ đó nâng cao chất lượng của cuộc kiểm toán, củng cố lòng tin công chúng vào kết quả kiểm toán

Tính độc lập được xem là điều kiện cần để đạt được mục tiêu của hoạt động kiểm toán Kết quả của cuộc kiểm toán sẽ không có giá trị nếu những người sử dụng kết quả của cuộc kiểm toán tin rằng cuộc kiểm toán thiếu tính độc lập cho dù cuộc kiểm toán được thực hiện bởi người có trình độ cao đến đâu Vì vậy, KTV phải đảm bảo độc lập ở mức độ cần thiết, đủ để họ có thể thực hiện công việc kiểm toán một cách độc lập và đưa ra những kết luận khách quan

2.3 Trách nhiệm của KTV

Do đặc điểm tính chất của ngành nghề nên KTV độc lập phải có trách nhiệm đối với công chúng, đối với khách hàng, đối với đồng nghiệp, Trách nhiệm làm cho KTV xem công tác của mình như là một phần ngh a vụ đối với xã hội để đảm bảo rằng BCTC đáng tin cậy Trách nhiệm cũng làm cho KTV cảm thấy được cống hiến và có sự cam kết mạnh mẽ đối với nghề nghiệp của mình bằng cách cung cấp dịch vụ kiểm toán chất lượng Do đó, trách nhiệm của KTV sẽ dẫn đến chất lượng kiểm toán tốt hơn

2.3.1 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 - Mục tiêu tổng thể của KTV và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 (VSA 200) quy định và hướng dẫn

trách nhiệm của KTV và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán BCTC theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

Chuẩn mực kiểm toán này quy định mục tiêu tổng thể của KTV và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện một cuộc kiểm toán BCTC là “Đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng liệu BCTC, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không, từ đó giúp KTV đưa ra ý kiến về việc liệu

Trang 33

BCTC có được lập phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng trên các khía cạnh trọng yếu hay không; Lập báo cáo kiểm toán về BCTC và trao đổi thông tin theo quy định của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, phù hợp với các phát hiện của KTV”

VSA 200 cho rằng: Để KTV có cơ sở để đưa ra ý kiến kiểm toán, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam yêu cầu KTV phải đạt được sự đảm bảo hợp lý về việc liệu BCTC, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc do nhầm lẫn hay không Sự đảm bảo hợp lý là sự đảm bảo ở mức độ cao và chỉ đạt được khi KTV đã thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp nhằm làm giảm rủi ro kiểm toán (là rủi ro do KTV đưa ra ý kiến không phù hợp khi BCTC còn có những sai sót trọng yếu) tới một mức độ thấp có thể chấp nhận được Tuy nhiên, sự đảm bảo hợp lý không phải là đảm bảo tuyệt đối, do luôn tồn tại những hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán làm cho hầu hết bằng chứng kiểm toán mà KTV dựa vào để đưa ra kết luận và ý kiến kiểm toán đều mang tính thuyết phục hơn là khẳng định

Nội dung của chuẩn mực yêu cầu KTV phải tuân thủ chuẩn mực và các quy định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan, bao gồm cả tính độc lập, liên quan đến kiểm toán BCTC

 Thái độ hoài nghi nghề nghiệp: KTV phải lập kế hoạch và thực hiện cuộc kiểm toán với thái độ hoài nghi nghề nghiệp để nhận biết các trường hợp có thể dẫn đến BCTC chứa đựng những sai sót trọng yếu

 Xét đoán chuyên môn: KTV phải thực hiện các xét đoán chuyên môn trong suốt quá trình lập kế hoạch và tiến hành cuộc kiểm toán BCTC

 Bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thích hợp và rủi ro kiểm toán: Để đạt được sự đảm bảo hợp lý, KTV phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm giảm rủi ro kiểm toán xuống một mức thấp có thể chấp nhận được, từ đó cho phép KTV đưa ra các kết luận phù hợp làm cơ sở cho việc hình thành ý kiến kiểm toán

 Thực hiện cuộc kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam:

 Tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán liên quan đến cuộc kiểm toán

Trang 34

 Sử dụng các mục tiêu quy định trong từng chuẩn mực kiểm toán liên quan, đồng thời xem xét mối liên hệ giữa các chuẩn mực kiểm toán

 Tuân thủ các quy định có liên quan của từng chuẩn mực kiểm toán

 Phải đánh giá nếu không thể đạt được một mục tiêu quy định trong một chuẩn mực kiểm toán

2.3.2 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 - Trách nhiệm của KTV liên quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán BCTC

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (VSA 240) quy định và hướng dẫn trách nhiệm của KTV và doanh nghiệp kiểm toán đối với gian lận trong quá trình kiểm toán BCTC

Theo VSA 240: Việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận trước hết thuộc về trách nhiệm của Ban quản trị và Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán Điều quan trọng là Ban Giám đốc, với sự giám sát của Ban quản trị, phải đặc biệt chú ý đến việc ngăn ngừa gian lận nhằm làm giảm bớt các cơ hội thực hiện hành vi gian lận và phát hiện gian lận, qua đó thuyết phục các cá nhân không thực hiện hành vi gian lận

vì khả năng bị phát hiện và xử phạt Khi thực hiện kiểm toán theo các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, KTV chịu trách nhiệm đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng liệu BCTC, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không Do những hạn chế vốn có của kiểm toán, nên có rủi ro không thể tránh khỏi là KTV không phát hiện được một số sai sót làm ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC, kể cả khi cuộc kiểm toán đã được lập kế hoạch và thực hiện theo các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

Nội dung chuẩn mực này yêu cầu:

 Thái độ hoài nghi nghề nghiệp: Theo VSA 200, KTV phải duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong suốt cuộc kiểm toán, phải nhận thức được khả năng có thể tồn tại sai sót trọng yếu do gian lận, cho dù trong các cuộc kiểm toán trước, KTV đã biết về tính trung thực và chính trực của Ban Giám đốc và Ban quản trị của đơn vị được kiểm toán

Trang 35

 Thảo luận trong nhóm kiểm toán: VSA 315 yêu cầu nhóm kiểm toán phải tổ chức thảo luận giữa các thành viên trong nhóm và thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể cuộc kiểm toán phải xác định các vấn đề cần trao đổi với các thành viên của nhóm kiểm toán không tham gia cuộc thảo luận nhóm

 Thủ tục đánh giá rủi ro và các hoạt động liên quan: Khi thực hiện thủ tục đánh giá rủi ro và các hoạt động liên quan nhằm tìm hiểu về đơn vị được kiểm toán

và môi trường hoạt động của đơn vị, bao gồm kiểm soát nội bộ của đơn vị, KTV phải thực hiện các thủ tục theo VSA 315 để thu thập thông tin nhằm xác định rủi ro

có sai sót trọng yếu do gian lận

 Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận: Theo VSA 315, KTV phải xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận ở cấp độ BCTC và ở cấp độ cơ sở dẫn liệu của các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh

 Biện pháp xử lý đối với rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận đã được đánh giá:

 Biện pháp xử lý tổng thể – áp dụng đối với rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận đã được đánh giá ở cấp độ BCTC

 Thủ tục kiểm toán – áp dụng đối với rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận

ở cấp độ cơ sở dẫn liệu đã được đánh giá

 Thủ tục kiểm toán đối với rủi ro đã được đánh giá liên quan đến việc Ban Giám đốc khống chế kiểm soát

 Đánh giá bằng chứng kiểm toán: KTV phải đánh giá các thủ tục phân tích được thực hiện ở giai đoạn cuối cuộc kiểm toán khi đưa ra kết luận tổng thể xem có dấu hiệu cho thấy có rủi ro chưa được phát hiện trước đó về sai sót trọng yếu do gian lận hay không

 KTV không thể tiếp tục hợp đồng kiểm toán nếu gặp phải tình huống dẫn đến yêu cầu xem xét lại khả năng tiếp tục thực hiện công việc kiểm toán do kết quả của một sai sót do gian lận hoặc nghi ngờ có gian lận

 Giải trình bằng văn bản

Trang 36

 Trao đổi với Ban Giám đốc và Ban quản trị đơn vị được kiểm toán

 Trao đổi với các cơ quan quản lý và cơ quan pháp luật có liên quan

2.3.3 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 250 - Xem xét tính tuân thủ pháp luật và các quy định trong kiểm toán BCTC

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 250 (VSA 250) quy định và hướng dẫn

trách nhiệm của KTV và doanh nghiệp kiểm toán khi xem xét tính tuân thủ pháp luật và các quy định của đơn vị được kiểm toán trong quá trình kiểm toán BCTC Thực hiện các quy định của Chuẩn mực này giúp KTV phát hiện các sai sót trọng yếu của BCTC do hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định Tuy nhiên, KTV không có trách nhiệm ngăn ngừa và không thể kỳ vọng KTV phát hiện hành

vi không tuân thủ của đơn vị được kiểm toán đối với tất cả các luật và quy định có liên quan

Nội dung của chuẩn mực này yêu cầu:

 Xem xét của KTV về tính tuân thủ pháp luật và các quy định:KTV phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về việc tuân thủ các điều khoản của pháp luật và các quy định có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định các số liệu và thuyết minh trọng yếu trong BCTC

 Các thủ tục kiểm toán khi phát hiện hoặc nghi ngờ có hành vi không tuân thủ: Nếu KTV nhận biết được thông tin liên quan đến hành vi không tuân thủ hoặc nghi ngờ không tuân thủ pháp luật và các quy định, KTV phải thu thập: (a) Hiểu biết về bản chất của hành vi và hoàn cảnh xuất hiện hành vi; (b) Những thông tin bổ sung để đánh giá ảnh hưởng có thể có đối với BCTC

 Báo cáo về phát hiện hoặc nghi ngờ có hành vi không tuân thủ

 Báo cáo với Ban quản trị đơn vị về hành vi không tuân thủ

 Báo cáo về hành vi không tuân thủ trong báo cáo kiểm toán về BCTC

 Báo cáo về hành vi không tuân thủ cho cơ quan có thẩm quyền

 Lưu vào hồ sơ kiểm toán các tài liệu về những hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định đã được phát hiện hoặc nghi ngờ, cũng như kết quả thảo luận với Ban Giám đốc, Ban quản trị và các bên liên quan ngoài đơn vị được kiểm toán

Trang 37

2.3.4 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 265 - Trao đổi về những khiếm khuyết trong kiểm soát nội bộ với Ban quản trị và Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 265 (VSA 265) quy định và hướng dẫn trách nhiệm của KTV và doanh nghiệp kiểm toán trong việc trao đổi một cách phù hợp với Ban quản trị và Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán về những khiếm khuyết trong kiểm soát nội bộ mà KTV đã phát hiện được khi kiểm toán BCTC

Trong quá trình đánh giá rủi ro, KTV xem xét kiểm soát nội bộ để thiết kế các thủ tục kiểm toán phù hợp với thực tế của đơn vị được kiểm toán nhưng không nhằm mục đích đưa ra ý kiến về tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ Bên cạnh đó, KTV có thể phát hiện những khiếm khuyết trong kiểm soát nội bộ không chỉ trong quá trình đánh giá rủi ro mà còn trong bất kỳ giai đoạn nào khác của cuộc kiểm toán

Khiếm khuyết trong kiểm soát nội bộ tồn tại khi: (i) Cách thức thiết kế, thực hiện hoặc vận hành một kiểm soát không thể ngăn chặn, hoặc phát hiện và sửa chữa một cách kịp thời những sai sót trong BCTC; hoặc (ii) Thiếu một kiểm soát cần thiết để ngăn chặn, hoặc phát hiện và sửa chữa một cách kịp thời những sai sót trong BCTC Khiếm khuyết nghiêm trọng trong kiểm soát nội bộ xảy ra khi một hoặc nhiều khiếm khuyết trong kiểm soát nội bộ kết hợp lại mà theo xét đoán chuyên môn của KTV là đủ nghiêm trọng và cần sự lưu ý của Ban quản trị đơn vị được kiểm toán

Dựa trên cơ sở công việc kiểm toán đã thực hiện, KTV phải xác định xem đã phát hiện được một hay nhiều khiếm khuyết trong kiểm soát nội bộ hay chưa Nếu phát hiện ra một hoặc nhiều khiếm khuyết trong kiểm soát nội bộ, KTV phải dựa trên cơ sở công việc kiểm toán đã thực hiện để xác định xem liệu một khiếm khuyết riêng lẻ hay các khiếm khuyết kết hợp lại có tạo nên những khiếm khuyết nghiêm trọng hay không Từ đó, KTV trao đổi bằng văn bản một cách kịp thời (ví dụ dưới hình thức thư đề nghị, thư quản lý) với Ban quản trị đơn vị được kiểm toán về những khiếm khuyết nghiêm trọng trong kiểm soát nội bộ được phát hiện trong quá

Trang 38

trình kiểm toán KTV cũng phải trao đổi một cách kịp thời với Ban Giám đốc và cấp quản lý phù hợp của đơn vị được kiểm toán về: (a) Những khiếm khuyết nghiêm trọng trong kiểm soát nội bộ mà KTV đã trao đổi hoặc có ý định trao đổi với Ban quản trị, trừ khi các nội dung này không thích hợp để trao đổi trực tiếp với Ban Giám đốc; (b) Những khiếm khuyết khác trong kiểm soát nội bộ được phát hiện trong quá trình kiểm toán mà chưa được các bên khác trao đổi với Ban Giám đốc và theo xét đoán chuyên môn của KTV là nghiêm trọng và cần sự lưu ý của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán

Trong văn bản trao đổi về những khiếm khuyết nghiêm trọng trong kiểm soát nội bộ, KTV phải trình bày các nội dung sau:

 Mô tả các khiếm khuyết và giải thích những ảnh hưởng tiềm tàng của các khiếm khuyết đó;

 Các thông tin đầy đủ để giúp Ban quản trị và Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán hiểu được bối cảnh của thông tin trao đổi

2.4 Lý thuyết nền tảng

2.4.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory)

Lý thuyết đại diện có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế, được phát triển bởi Alchial và Demsetz năm 1972, sau đó Jensen và Meckling phát triển thêm vào năm

1976 Lý thuyết này tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền

Lý thuyết về đại diện cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan hệ này đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, do vậy người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ đông Điều này làm cho xung đột sẽ phát sinh khi có thông tin không đầy đủ và bất cân xứng giữa chủ thể và đại diện trong công ty, dẫn tới phát sinh chi phí ủy nhiệm nhằm hướng người được

ủy quyền hành xử theo hướng tối đa hóa lợi ích của bên ủy quyền Cả hai bên có lợi ích khác nhau và vấn đề này được giảm thiểu bằng cách sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty

Và một trong các cơ chế đó là BCTC phải được kiểm toán nhằm đảm bảo rằng

Trang 39

BCTC được lập bởi nhà quản lý chịu sự giám sát độc lập của KTV Kiểm toán BCTC cũng được thiết lập để giảm thiểu chi phí ủy nhiệm vì các KTV có thể giám sát hành vi của các nhà quản lý hiệu quả hơn so với bên ủy nhiệm, những người không thể và cũng không cần tự kiểm tra mọi thông tin tài chính của doanh nghiệp

Do vậy, cuộc kiểm toán có chất lượng là cuộc kiểm toán đáp ứng yêu cầu của các bên có liên quan

Cùng với sự phát triển đa dạng của nền kinh tế, các thông tin tài chính cũng được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau cho các đối tượng khác nhau Tuy nhiên, do những người sử dụng kết quả kiểm toán cần sự đảm bảo rằng thông tin tài chính mà họ được cung cấp phải đảm bảo tính trung thực và hợp lý, và KTV đóng vai trò là người kiểm tra lại các thông tin dữ liệu mà người đại diện cung cấp Đây chính là lý do cho sự kỳ vọng quá lớn của các cổ đông vào trách nhiệm KTV trong kiểm toán BCTC mà lý thuyết ủy nhiệm đã giải thích

2.4.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric information)

Thông tin bất cân xứng xảy ra khi các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin làm cho một bên có lợi về thông tin còn bên kia bị bất lợi về thông tin

Lý thuyết thông tin bất cân xứng lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970

và đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện đại bằng sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế Trải qua vài thập

kỷ, lý thuyết về thị trường có thông tin bất cân xứng đã trở nên vô cùng quan trọng

và là trọng tâm nghiên cứu của kinh tế học hiện đại Thông tin bất cân xứng càng trở nên phổ biến và trầm trọng khi tính minh bạch của thông tin, khả năng tiếp cận thông tin và cơ sở hạ tầng thông tin yếu kém

Trong nền kinh tế thị trường, hiện tượng bất cân xứng xảy ra trong trường hợp những nhà quản lý doanh nghiệp có nhiều thông tin hơn so với cộng đồng nhà đầu tư và họ công bố thông tin trên BCTC không đáng tin cậy Nhà đầu tư hoàn toàn thu thập thông tin chủ yếu dựa vào báo cáo kiểm toán của công ty kiểm toán

Vì vậy có thể dẫn tới hiện tượng che đậy các thông tin bất lợi, thổi phồng các thông

Trang 40

tin có lợi hoặc cung cấp thông tin một cách không công bằng đối với các nhóm nhà đầu tư khác nhau Thông tin bất cân xứng sẽ dẫn đến hai hệ quả phổ biến nhất, đó là

sự lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức Điều này sẽ làm bóp méo quyết định tham gia thị trường của các chủ thể kinh tế, gây cung cầu ảo, thị trường bong bóng và tiềm ẩn nguy cơ sụp đổ thị trường Cho nên chất lượng BCTC là yếu tố tiên quyết giúp các nhà đầu tư có quyết định sáng suốt và chính xác nhất, giảm được sự bất cân xứng về thông tin, đồng thời nâng cao niềm tin của nhà đầu tư

Để xác minh tính trung thực và hợp lý của các thông tin trên BCTC được lập bởi các nhà quản lý, kiểm toán độc lập hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu này của nền kinh tế Cuộc kiểm toán có chất lượng sẽ giúp giảm thiểu thông tin bất cân xứng, tăng mức độ tin cậy của BCTC Những người sử sụng kết quả kiểm toán đã tin tưởng và bổ nhiệm KTV, người đủ năng lực chuyên môn nghiệp vụ, độc lập, khách quan để thay thế họ kiểm tra các thông tin trên BCTC Điều này làm tồn tại khoảng cách kỳ vọng giữa những gì KTV làm được và những gì mà cổ đông và những người sử dụng kết quả kiểm toán mong muốn

2.4.3 Lý thuyết niềm tin tín thác (Theory of Inspired Confidence)

Lý thuyết niềm tin tín thác được phát triển vào cuối những năm 1920 bởi giáo sư người Hà Lan Theodore Limperg Đây là lý thuyết cơ bản về chức năng của KTV, nhấn mạnh trách nhiệm xã hội của KTV

Theo lý thuyết này, thông tin được kiểm toán bởi KTV sẽ cung cấp độ tin cậy cao hơn, điều này không chỉ mang lại lợi ích cho cổ đông mà còn cho toàn xã hội

Lý thuyết niềm tin tín thác kết nối nhu cầu của cộng đồng về tính đáng tin cậy của thông tin tài chính với khả năng của những kỹ thuật kiểm toán để thỏa mãn nhu cầu này Lý thuyết cũng đã giải thích sự tồn tại của chức năng kiểm toán có nguồn gốc

từ niềm tin của cộng đồng vào sự hiệu quả của hoạt động kiểm toán, vào ý kiến của kiểm toán Niềm tin này là điều kiện cho sự tồn tại các chức năng kiểm toán Nếu như niềm tin này mất đi, chức năng kiểm toán cũng sẽ không còn bởi nó không còn hữu dụng

Ngày đăng: 25/09/2017, 00:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính, 2012. Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam. Hà Nội, ngày 06/12/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
2. Bộ Môn Kiểm toán, Khoa Kế toán – Kiểm toán, 2015. Kiểm toán. Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm toán
3. Hoàng Trọng và Nguyễn Chu Mộng Ngọc, 2005. Phân tích dữ liệu với SPSS. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu với SPSS
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
5. Ngô Thị Thúy Quỳnh, 2015. Giải pháp thu hẹp khoảng cách kỳ vọng giữa kiểm toán viên và nhà quản lý trong việc kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam. Luận văn Thạc s . Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp thu hẹp khoảng cách kỳ vọng giữa kiểm toán viên và nhà quản lý trong việc kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam
6. Nguyễn Đình Thọ, 2011. Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh. Nhà xuất bản Lao động – xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động – xã hội
7. Nguyễn Ngọc Khánh Dung, 2016. Nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán: trách nhiệm kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính ở Việt Nam. Luận án Tiến s . Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán: trách nhiệm kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính ở Việt Nam
8. Nguyễn Quốc Kịp, 2015. Khoảng cách kỳ vọng về trách nhiệm của kiểm toán viên trong kiểm toán Báo cáo tài chính – Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam. Luận văn Thạc s . Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoảng cách kỳ vọng về trách nhiệm của kiểm toán viên trong kiểm toán Báo cáo tài chính – Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam
10. Nguyễn Hữu Thọ, 2013. Đo lường chất lượng dịch vụ kiểm toán độc lập và sự hài lòng của khách hàng – Nghiên cứu trường hợp công ty KPMG Việt Nam. Luận văn Thạc s . Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường chất lượng dịch vụ kiểm toán độc lập và sự hài lòng của khách hàng – Nghiên cứu trường hợp công ty KPMG Việt Nam
9. Hasan Flayyeh Al qtaish. (2014). The Factors Affecting in Narrowing the Audit Expectations Gap from the Viewpoint of the Investors in Jordan.Research Journal of Finance and Accounting, Vol.5, 165-180 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Research Journal of Finance and Accounting
Tác giả: Hasan Flayyeh Al qtaish
Năm: 2014
10. Humphrey, C., Moizer, P., & Turley, S. (1993). The audit expectations gap in Britain: An empirical investigation. Accounting and Business Research, 23(sup1), 395-411 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Accounting and Business Research, 23
Tác giả: Humphrey, C., Moizer, P., & Turley, S
Năm: 1993
11. Jennings, M., Kneer D.C., and Reckers P.M. (1993). The Significance of Audit Decision Aids and Pre-case Jurist's Attitude on Perceptions of Audit Firm Culpability and Liability. Contemporary Accounting Research, Vol. 9 No.2, pp.489-507 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Contemporary Accounting Research
Tác giả: Jennings, M., Kneer D.C., and Reckers P.M
Năm: 1993
12. Kamau, C. G. (2013). Determinants of Audit Expectation Gap: Evidence from Limited Companies in Kenya. International Journal of Science and Research (IJSR), 2(1), 480-491 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Science and Research (IJSR), 2
Tác giả: Kamau, C. G
Năm: 2013
16. Lin, Z. J., & Chen, F. (2004). An empirical study of audit „expectation gap‟in the People's Republic of China. International Journal of Auditing, 8(2), 93- 115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Auditing, 8
Tác giả: Lin, Z. J., & Chen, F
Năm: 2004
17. Lowe, D.J. (1994). The expectation gap in the legal system: perception differences between auditors and judges. Journal of Applied Business Research, Vol. 10 No. 3, pp. 39-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Applied Business Research
Tác giả: Lowe, D.J
Năm: 1994
18. Mahadevaswamy, G. H., & Salehi, M. (2009). Audit expectation gap in auditor responsibilities: Comparison between India and Iran. International Journal of Business and Management, 3(11), 134 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Business and Management, 3
Tác giả: Mahadevaswamy, G. H., & Salehi, M
Năm: 2009
19. McEnroe, J. E., & Martens, S. C. (2001). Auditors' and investors' perceptions of the “expectation gap”. Accounting Horizons, 15(4), 345-358 Sách, tạp chí
Tiêu đề: expectation gap”. "Accounting Horizons, 15
Tác giả: McEnroe, J. E., & Martens, S. C
Năm: 2001
20. Monroe, G. S., & Woodliff, D. R. (1993). The effect of education on the audit expectation gap. Accounting & Finance, 33(1), 61-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Accounting & Finance, 33
Tác giả: Monroe, G. S., & Woodliff, D. R
Năm: 1993
21. Monroe, G. S., & Woodliff, D. R. (1994). Great expectations: Public perceptions of the auditor's role. Australian Accounting Review, 4(8), 42-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Australian Accounting Review, 4
Tác giả: Monroe, G. S., & Woodliff, D. R
Năm: 1994
22. Nazri Fadzly, M., & Ahmad, Z. (2004). Audit expectation gap: The case of Malaysia. Managerial Auditing Journal, 19(7), 897-915 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Managerial Auditing Journal, 19
Tác giả: Nazri Fadzly, M., & Ahmad, Z
Năm: 2004
23. Porter, B., Ó hÓgartaigh, C., & Baskerville, R. (2012). Audit Expectation – Performance Gap Revisited: Evidence from New Zealand and the United Kingdom. International Journal of Auditing, 16(2), 101-129, 215-247 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Auditing, 16
Tác giả: Porter, B., Ó hÓgartaigh, C., & Baskerville, R
Năm: 2012

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm