1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Trả lời 23 câu hỏi triết học cơ bản ôn thi môn triết

99 252 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 183,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

· Vật chất là nguồn gốc tự nhiên, xã hội của ý thức: YT không tồn tại tự nó mà muốn tồn tại phải thông qua VC, đầu tiên YT tồn bộ óc của con người, bộ óc con người là vật chất tựnhiên, t

Trang 1

TRẢ LỜI 23 CÂU HỎI TRIẾT HỌC CƠ BẢN ÔN THI MÔN TRIẾT

Mục lục

Câu 1 Lý luận là gì? Tư duy lý luận là gì? Vai trò của triết học Mác trong việc nâng cao năng lực tư duy lý luận? Bình luận nhận định của Ph.Ăngghen: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”… “Cứ mỗi lần khoa học đạt được thành tựu mới thì triết học phải thay đổi hình thức tồn tại của chính mình”.

Câu 2 Phân tích cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp cách mạng ở nước ta?

Câu 3 Phân tích cơ sở triết học (lý luận & phương pháp luận) trong khẳng định của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”.

Câu 4 Bằng lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng: “Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới”.

Câu 5 Phân tích cơ sở triết học (lý luận & phương pháp luận) trong câu nói của C.Mác: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”.

Câu 6 Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc toàn diện của phép biện chứng duy vật Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế

gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?

Câu 7 Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phát triển của phép biện chứng duy vật Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế

gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?

Câu 8 Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc lịch sử - cụ thể của phép biện chứng duy vật Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?

Câu 9 Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc lịch sử – cụ thể Tại sao nói: “Nguyên tắc lịch sử – cụ thể là ‘linh hồn’ phương pháp luận của chủ nghĩa Mác” Đảng CSVN đã vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào thực tiễn cách mạng VN hiện nay?

Câu 10 Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phân tích mâu thuẫn (phân đôi cái thống nhất) Đảng CSVN đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay?

Trang 2

Câu 11 Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phân tích lượng – chất Đảng CSVN đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay?

Câu 12 Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phủ định biện chứng Đảng CSVN đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào quá trình xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay?

Câu 13 Bằng lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng, cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ

là một quá trình khó khăn, lâu dài, phức tạp; cái mới có thể thất bại tạm thời nhưng cuối cùng nó sẽ chiến thắng cái cũ.

Câu 14 Giải thích câu nói của V.I.Lênin: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm”.

Câu 15 Giải thích câu nói của V.I.Lênin: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức”.

Câu 16 Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế

gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?

Câu 17 Hình thái kinh tế xã hội là gì? Vạch ra ý nghĩa của học thuyết hình thái kinh tế – xã hội? Phân tích tư tưởng của Mác: “Sự phát triển hình thái kinh tế – xã hội là quá trình lịch

sử – tự nhiên” Đảng CSVN đã vận dụng học thuyết hình thái KT-XH như thế nào vào thực tiễn cách mạng VN hiện nay?

Câu 18 Chủ nghĩa duy vật lịch sử là gì? Giải thích luận điểm của V.I.Lênin: “Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học Một lý luận hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị”.

Câu 19 Phân tích nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Tại sao nói quy luật này là quy luật cơ bản và phổ biến nhất của xã hội lòai người Đảng CSVN đã vận dụng quy luật này như thế nào vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.

Câu 20: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Đảng CSVN đã vận dụng mối quan hệ biện chứng này như thế nào vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay?

Câu 21: Giai cấp là gì? Bằng lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng: “ trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội”.

Câu 22: Nhà nước pháp quyền là gì? So sánh NNPQ TS và NN PQ XHCN Phân tích cơ sở kinh tế, cơ sở chính trị và cơ sở XH của NN PQ XHCN Việt Nam.

Câu 23 Phân tích quan điểm của triết học Mac – Lenin về bản chất con người và về vấn đề giải phóng con người.

Trang 3

Câu 1 Lý luận là gì? Tư duy lý luận là gì? Vai trò của triết học Mác trong việc nâng cao năng lực tư duy lý luận? Bình luận nhận định của Ph.Ăngghen: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”… “Cứ mỗi lần khoa học đạt được thành tựu mới thì triết học phải thay đổi hình thức tồn tại của chính mình”.

Gợi ý của thầy:

* Các khái niệm

- Lý luận là gì? Định nghĩa theo quan niệm Mác xít (Sách phần 2 trang 91) Phân loại lý luận

- Tư duy lý luận là gì? -> ta phải làm rõ các khái niệm “tư duy là gì?”, “lý luận là gì”, “mốiquan hệ giữa chúng” Cụ thể:

o Tư duy: phản ánh 1 hệ thống khái niệm, phạm trù, là hình thức phản ánh 1 cách trừu tượng,khái quát giúp ta nắm được bản chất của thế giới CCCC tư duy trừu tượng, là sản phẩm của quátrình con người nhận thức thế giới

§ Tư duy còn là công cụ của quá trình nhận thức đó, là một số những nguyên tắc đòi hỏi ta phảinắm bắt để xử lý Tư duy phản ánh bản tính biện chứng của thế giới

§ Mục đích của tư duy: so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp….giúp ta nắm bắt bản chất vàquy luật của thế giới, vừa là sự phản ánh cao cấp

o Có 2 loại tư duy:

§ Tư duy hình tượng: phân tích, mổ xẻ các khái niệm, phạm trù trừu tượng

§ Tư duy lý luận: thông qua các phạm trù trừu tượng để nắm bắt bản chất sự vật, tư duy này dotriết học mang lại

- CCCC Triết học Mác (phép biện chứng duy vật) có vai trò nâng cao năng lực tư duy cho conngười, góp phần xây dựng tư duy biện chứng, năng lực phản ánh thế giới một cách trình tự, kháiquát để nắm bắt thế giới trong mối quan hệ chằng chịt, là tư duy phản ánh bản chất biện chứngcủa thế giới Như vậy, phép biên chứng vừa là sản phẩm vừa là công cụ giúp ta nắm bắt tính chấtbiện chứng của thế giới

- Tư duy biện chứng bị chi phối bởi các nguyên lý, quy luật, phạm trù của phép biện chứng, bộc

lộ thành những tính chất của nó “suy nghĩ thế nào?”, “phản ánh thế nào”

=> Vì vậy, ta phải rèn luyện phong cách tư duy biện chứng

Chú ý: tư duy lý luận bao gồm tư duy lý luận, tư duy siêu hình và tư duy biện chứng

* Bình luận câu nói của Engels:

- Trước đây những dân tộc khác nhau có những nền khoa học phát triển không như nhau.Tuy nhiên hiện nay, khoa học thuộc về cộng đồng do thế giới đã hòa nhập

- Đỉnh cao khoa học: tiếp cận những vấn đề phức tạp nhất của giới khoa học ở thời điểm,giai đoạn đó Muốn lao vào đối đầu, giải quyết với các vấn đề khoa học ở đỉnh của sự phát triểnthì không thể ko có triết học hướng dẫn

- CCCC Các nhà khoa học phải học triết học để nắm vững tư duy lý luận Vì nó mang lại tưduy lý luận hay còn gọi là thế giới quan, phương pháp luận giúp cho các nhà khoa học có khảnăng xử lý những vấn đề do khoa học đặt ra

- Ngược lại, khoa học cũng có vai trò rất quan trọng đối với triết học Nếu triết học mang đến cho khoa học tư duy lý luận để các nhà khoa học nghiên cứu và khám phá thế giới thì khoa

Trang 4

học cũng mang đến cho triết học những thành tựu của mình để luận chứng cho những nguyên lý, quy luật phạm trù của nó Vì vậy, khi khoa học phát triển và đạt được những thành tựu mới, buộctriết học phải thay đổi cơ sở lý luận của mình hay hoàn thiện chính mình.

Trả lời của nhóm:

❖ Lý luận là gì?

➢ Là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối quan hệ bảnchất, những quy luật của sự vật, hiện tượng Là sản phẩm từ nhận thức lý luận của nhữngnhà lý luận và có tên tuổi (CN MÁC, nho giáo, cơ học Newton…)

➢ Phân loại lý luận

Tùy theo phạm vi phản ánh và vai trò phương pháp luận của nó mà lý luận có những cấp

độ khác nhau Phân chia thành lý luận ngành và lý luận triết học

+ Lý luận ngành: là lý luận khái quát những tri thức kinh nghiệm thành những quy luậtcủa một ngành nào đó nhất định Nó làm cơ sở dể sáng tạo tri thức cũng như phươngpháp luận cho hoạt động của ngành đó

+ Lý luận triết học: là một hệ thống những quan niệm chung nhất về thế giới và conngười, là thế giới quan và phương pháp luận nhận thức và hoạt động của con người

❖ Tư duy lý luận là gì?

➢ Tư duy: là sự phản ánh 1 hệ thống khái niệm, phạm trù, là hình thức phản ánh 1 cách trừutượng, khái quát giúp ta nắm được bản chất của thế giới CCCC tư duy trừu tượng, là sảnphẩm của quá trình con người nhận thức thế giới

➢ Tư duy còn là công cụ của quá trình nhận thức đó, là một số những nguyên tắc đòi hỏi taphải nắm bắt để xử lý Tư duy phản ánh bản tính biện chứng của thế giới

➢ Mục đích của tư duy nhằm so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp … giúp ta nắm đượcbản chất và quy luật của thế giới, vừa là sự phản ánh cao cấp

➢ Có 2 loại tư duy:

■ Tư duy hình tượng: phân tích, mổ xẻ các khái niệm, phạm trù trừu tượng.

■ Tư duy lý luận: thông qua các phạm trù trừu tượng để nắm bắt bản chất sự vật, tư duy

này do triết học mang lại

❖ Vai trò của triết học Mác trong việc nâng cao năng lực tư duy lý luận?

➢ Triết học Mác (phép biện chứng duy vật) có vai trò nâng cao năng lực tư duy cho conngười, góp phần xây dựng tư duy biện chứng, năng lực phản ánh thế giới một cách trình

tự, khái quát để nắm bắt thế giới trong mối quan hệ chằng chịt, là tư duy phản ánh bảnchất biện chứng của thế giới Như vậy, phép biện chứng vừa là sản phẩm vừa là công cụgiúp ta nắm bắt tính chất biện chứng của thế giới

➢ Tư duy lý luận bao gồm tư duy lý luận, tư duy siêu hình và tư duy biện chứng Tư duy lýluận cao nhất là tư duy biện chứng Tư duy biện chứng bị chi phối bởi các nguyên lý, quy

Trang 5

luật, phạm trù của phép biện chứng, bộc lộ thành những tính chất của nó “suy nghĩ thếnào?”, “phản ánh thế nào” => Vì vậy, ta phải rèn luyện phong cách tư duy biện chứng

❖ Bình luận nhận định của Ph.Ăngghen: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”… “Cứ mỗi lần khoa học đạt được thành tựu mới thì triết học phải thay đổi hình thức tồn tại của chính mình”.

➢ Trước đây những dân tộc khác nhau có những nền khoa học phát triển không như nhau.Tuy nhiên hiện nay, khoa học thuộc về cộng đồng do thế giới đã hòa nhập

➢ Đỉnh cao khoa học: tiếp cận những vấn đề phức tạp nhất của giới khoa học ở thời điểm,giai đoạn đó Muốn lao vào đối đầu, giải quyết với các vấn đề khoa học ở đỉnh của sựphát triển thì không thể ko có triết học hướng dẫn

➢ Nhận định trên của Ph.Ănghen hàm ý mối quan hệ giữ triết học và khoa học

■ Các nhà khoa học phải học triết học để nắm vững tư duy lý luận Vì nó mang lại tư duy

lý luận hay còn gọi là thế giới quan, phương pháp luận giúp cho các nhà khoa học cókhả năng xử lý những vấn đề do khoa học đặt ra Khoa học phải tìm hiểu, lý giải nhữngvấn đề vô cùng phức tạp, đầy khó khăn mà không có tư duy lý luận thì các nhà khoa họckhông thể luồng sâu vào tìm hiểu và giải quyết những vấn đề đó Ví dụ cuối thế kỷ 19,đầu thế kỷ 20 nếu không có tư duy biện chứng thì các nhà khoa học không thể nào luồngsâu vào giải quyết những vấn đề của khoa học được, như ánh sáng sóng hay hạt, tư duysiêu hình thì cho rằng: nếu là sóng thì không phải là hạt, còn nếu là hạt thì không phải làsóng Chỉ có tư duy biện chứng cho rằng: Sóng và hạt là những cái đối lập nhau nhưngthống nhất với nhau, bản chất ánh sáng lưỡng tính sóng – hạt

■ Ngược lại, khoa học cũng có vai trò rất quan trọng đối với triết học Nếu triết học mang

đến cho khoa học tư duy lý luận để các nhà khoa học nghiên cứu và khám phá thế giới

thì khoa học cũng mang đến cho triết học những thành tựu của mình để luận chứng cho những nguyên lý, quy luật phạm trù của nó Những thành tựu của khoa học sẽ làm cơ sở

cho triết học, để triết học củng cố những nguyên lý, quy luật, phạm trù của mình, củng

cố lòng tin của mọi người vào triết học, phát triển triết học theo hướng sâu sắc hơn, toànvẹn hơn Vì vậy, khi khoa học phát triển và đạt được những thành tựu mới, buộc triếthọc phải thay đổi cơ sở lý luận của mình hay hoàn thiện chính mình Ví dụ: sở dĩ chủnghĩa duy vật siêu hình thay đổi hình thức thành chủ nghĩa duy vật biện chứng là dothành tựu: Thuyết tiến hóa, định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, ánh sánglưỡng tính sóng – hạt…

Câu 2 <Nhóm Marketing 2> Phân tích cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng Đảng Cộng sản Việt Nam đã

và đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp cách mạng ở nước ta?

Gợi ý trả lời của thầy:

- Lưu ý: Hỏi cái gì đều trả lời vắn tắt theo quan điểm Mac xit hết, đừng có chép trong sách,trong sách nó nói tùm lum, nói để ta hiểu thêm thôi, còn đi thi người ta hỏi lý luận là gì thì trả lờingắn gọn theo quan điểm của Mac Xit, còn nếu mà các anh chị chép hết thì xin thưa sẽ không kịpthời gian đâu, làm được 1 câu là cùng thôi mà thầy cũng cho từng ấy điểm à, mà viết bậy là thầy

Trang 6

trừ điểm luôn:)

- Câu 2, câu 3 và mấy câu có phân tích cơ sở triết học, cơ sở lý luận thì nhớ phân tích chia

nó ra thành những yếu tố bộ phận để tiện lợi trong quá trình nghiên cứu, xem xét, khám phá; vậythì phân tích cơ sở lý luận cũng như yếu tố khách quan Cơ sở lý luận nó là gì? Phân tích mối

quan hệ qua lại giữa vật chất và ý thức, (không phải chép trong slide của thầy mà phải đi giải thích cho thầy từng luận điểm đó, hãy tưởng tượng rằng thầy chưa hiểu không biết gì cả và mình

cố làm cho thầy hiểu:) ) Sau đó phân tích tiếp các yêu cầu, giải thích, mổ xẻ nó ra cho thầy xem

yêu cầu cơ bản là gì, được hiểu ra những yêu cầu nhỏ ra sao? Nếu không tuân theo những yêucầu đó thì mắc những bệnh gì? Lỗi gì?

- Ở đây có 1 câu nữa là Đảng CSVN đã và đang vận dụng nguyên tắc này vào sự nghiệpđổi mới của đất nước ta hiện nay thì chúng ta lưu ý là trước đổi mới là vi phạm nó còn trong quátrình đổi mới là làm theo nó, còn vi phạm nó thì sẽ sai những cái gì? Câu 2 và câu 3 như nhau,nhưng câu 3 hẹp hơn câu 2; câu 3 chỉ nói đến 1 luận điểm cơ bản thôi “ vật chất quyết định ýthức” và nó chỉ nói đến 1 yêu cầu thôi là xuất phát từ hiện thực khách quan phải tôn trọng và làmtheo quy luật khách quan, nhưng nếu các anh chị làm luôn cả 1 cái nguyên tắc đó cũng được

Trả lời của nhóm (Nguyễn Văn Sa):

a Cơ sở lý luận:

Nguyên tắc khách quan trong xem xét được xây dựng dựa trên nội dung của nguyên lý về tínhthống nhất vật chất của thế giới Yêu cầu của nguyên tắc này được tóm tắt như sau: khi nhậnthức khách thể (đối tượng), sự vật,hiện tượng tồn tại trong hiện thực – chủ thể tư duy phải nắmbắt, tái hiện nó trong chính nó mà không được thêm hay bớt một cách tùy tiện

- “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.

“Vật chất là một phạm trù triết học”

Thuộc tính chung nhất của vật chất là “thực tại khách quan” tồn tại bên ngoài không lệ thuộc

vào cảm giác

Vật chất “Đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác chụp lại, chép lại, phản ánh”.

Vật chất tồn tại khách quan, nhưng không tồn tại trừu tượng mà tồn tại hiện thực qua các sự vật

cụ thể

- “ Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.,hayý thức chỉ là hình ảnh của thế

giới khách quan được di chuyển vào óc người và cải biến đi”.

Trang 7

Bản chất của ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người một cách năngđộng, sáng tạo.

Phản ánh mang tính chất chủ động, tích cực, sáng tạo: Nó không phản ánh y nguyên mà phản

ánh có chọn lọc theo mục đích, yêu cầu của con người Lênin viết “Ý thức không chỉ phản ánh hiện thực mà còn sáng tạo hiện thực”

- Vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó vật chất quyết định ý thức và ý thức tác động trở lại với vật chất.

* tính quyết định của vật chất đối với ý thức:

- Vật chất là cái có trước ý thức, tư duy

- Vật chất là nguồn gốc của ý thức

- Vật chất quyết định ý thức

Ví dụ như: Cơ sở vật chất, điều kiện vật chất, môi trường sống của con người không tốt, không

đảm bảo thì nhận thức của con người bị hạn chế nhiều mặt Khi cơ sở vật chất, điều kiện vậtchất, môi trường sống của con người tốt đảm bảo thì nó giúp con người nhận thức tốt hơn

* vai trò của ý thức đối với vật chất

- Bản than ý thức nó không thể thay đổi được gì trong hiện thực

- Khi thông qua lực lượng vật chất và bằng lực lượng vật chất, ý thức đi vào hoạt động thực tiễncủa con người, khi đó nó sẽ tác động trở lại các tiến trình vật chất

- Vật chất hóa ý thức càng sâu rộng, sức tác động của ý thức càng lớn

Ví dụ: Trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, chúng ta đã phạm sai lầm trong việc xác định

mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế,nóng vội muốn xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, vi phạm nhiều quy luật khách quan

Cương lĩnh Đại hội VII đã chỉ rõ:"Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan" Từ đó rút ra bài học quan trọng là: "Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan".

*Những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan trong xem xét:

Nguyên tắc khách quan trong xem xét có mối liên hệ mật thiết với các nguyên tắc khác của lôgíc

Trang 8

biện chứng Nó thể hiện ở yêu cầu cụ thể sau:

Ø Trong hoạt động thực tiễn:

Chủ thể phải:

Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, phát hiện ra những quy luật chi phối nó

Hai là: Dựa trên các quy luật khách quan đó, chúng ta vạch ra các mục tiêu, kế họach, tìmkiếm các biện pháp, phương thức để tổ chức thực hiện Kịp thời điều chỉnh, uốn nắn họat độngcủa con người đi theo lợi ích và mục đích đã đặt ra

Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức có nghĩa là phát huy vai trò tri thức, tình cảm,

ý chí, lý trí ….tức là phát huy vai trò nhân tố con người trong họat động nhận thức và họat độngthực tiễn cải tạo hiện thực khách quan, vươn lên làm chủ thế giới

b Đảng Cộng Sản Việt Nam đã vận dụng như thế nào vào sự nghiệp cách mạng của Việt

Trang 9

chính trị, lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội ….)thành động lực mạnh mẻ thúc đẩy công cuộc đổi mới

- Đảng ta rút ra những bài học kinh nghiệm từ những sai lầm, thất bại trước đổi mới, Đảng ta kết luận: “Mọi đường lối, chủ trương của đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”.

Ø Biết phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò của các yếu tố chủ quan ( tri thức, tình cảm … ) tức phát huy vai trò nhân tố con người trong họat động nhận thức và thực tiển:

- Coi sự thống nhất giữa tình cảm ( nhiệt tình cách mạng, lòng yêu nước, ý chí quật cường

….) và tri thức ( kinh nghiệm dựng nước và giữ nước, hiểu biết khoa học ) là động lực tinh thầnthúc đẩy công cuộc đổi mới

- Coi trọng công tác tư tưởng, đẩy mạnh giáo dục tư tưởng

- Kiên quyết khắc phục và ngăn ngừa tái diễn bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩa và hànhđộng giản đơn, nóng vội theo nguyện vọng chủ quan ảo tưởng mà bất chấp quy luật khách quan,coi thường tình hình thực tế

Câu 3 <Nhóm Nhân sự 1> Phân tích cơ sở triết học (lý luận & phương pháp luận) trong khẳng định của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”.

Đảng ta khẳng định: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọngquy luật khách quan”, để khẳng định được như vậy đảng ta đã dựa trên cơ sở triết học là cơ sở lýluận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng Đó là mối quan hệ giữa vậtchất và ý thức, từ đó vạch ra các yêu cầu cơ bản dựa trên mối quan hệ đó

Khái niệm Vật chất: ‘‘Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đemlại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồntại không lệ thuộc vào cảm giác”

Khái niệm Ý thức: “Ý thức là toàn bộ hoạt động tinh thần diễn ra trong đầu óc của con người,phản ánh thế giới vật chất xung quanh, hình thành và phát triển trong quá trình lao động và địnhhình thể hiện ra bằng ngôn ngữ”

Theo bản thể luận của chủ nghĩa DVBC ta có:

Vật chất là nguồn gốc; nội dung, hình thức thể hiện; vai trò và sức tác động của ý thức Cụ thể

Trang 10

· Vật chất có trước ý thức: Vật chất là cái tồn tại vĩnh viễn không phụ thuộc vào ý thức của

con người, ở một giai đoạn phát triển nhất định của mình VC sản sinh ra YT Do đó, ý thức là tưduy của con người phản ánh thế giới vật chất => trong quá trình nhận thức đối tượng phải tôntrọng cái tồn tại trước không được xuất phát từ ý thức từ ý thức, từ tư duy, từ ý kiến chủ quancủa con người về đối tượng mà phải xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ bản chất đốitượng Không được cưỡng ép đối tượng tuân theo ý thức mà phải bắt ý thức, tư duy tuân theo đốitượng Không được ép đối tượng thỏa mãn một sơ đồ chủ quan mà phải rút ra những sơ đồi từđối tượng, tái tạo trong ý thức, tư duy các hình tượng, tư tưởng – logic phát triển của chính đốitượng đó

· Vật chất là nguồn gốc (tự nhiên, xã hội) của ý thức: YT không tồn tại tự nó mà muốn

tồn tại phải thông qua VC, đầu tiên YT tồn bộ óc của con người, bộ óc con người là vật chất (tựnhiên), thông qua thực tiễn lao động, YT được vật chất hóa và có được sự tồn tại mới trong cácvật phẩm do con người sáng tạo ra (đó là vật chất xã hội – vật chất mang ý thức)

+ Vật chất quyết định vai trò và tác dụng của ý thức: ý thức không là gì nếu nó không xâm nhậpvật chất, do đó sức mạnh của ý thức con người không phải ở chỗ tác rời điều kiện VC, thoát lyđiều kiện khách quan mà là biết dựa vào điều kiện vật chất đã có phản ánh đúng qui luật kháchquan để cải tạo thế giới một cách chủ động sáng tạo và có hiệu quả

Mặt khác, bản thân ý thức lại có tính độc lập tương đối của nó, sự phản ánh của ý thức đối vớivật chất là sự phản ánh chủ quan, phản ánh tính chủ động và sáng tạo của con người thông quahoạt động thực tiễn xã hội của con người tác động trở lại đối với vật chất => thông qua hoạt độngthực tiễn, các nhân tố ý thức (Tri thức, tình cảm, ý chí, niềm tin, lý trí…) xâm nhập vào cácLLVC qua đó thể hiện vai trò tác dụng của YT đến VC

v Phương pháp luận - các yêu cầu cơ bản của nguyên tắc khách quan

Trong hoạt động nhận thức-thực tiễn chủ thể phải:

· Phải xuất phát từ hiện thực khác quan và tôn trọng nó

+ Xuất phát từ hiện thực khách quan để phát hiện ra những quy luật chi phối nó; cho dù hiệnthực khách quan đó có tồn tại như thế nào

+ Dựa trên các quy luật khách quan đó vạch ra các chương trình, mục tiêu, kế hoạch; tìm kiếmcác biện pháp, công cụ, phương thức để tổ chức thực hiện các chương trình, mục tiêu, kế hoạchđó; kịp thời điều chỉnh, uốn nắn hoạt động của con người theo lợi ích và mục đích được đặt ra

Trang 11

· Phải biết phát huy tính năng động sáng tạo chủ quan

+ Biết phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, của nhân tố con người trong mọi lĩnh vực,điều kiện hoạt động

+ Vạch ra chiến lược, sách lược đúng và biết cách thực hiện chúng Thực hiện tích cực “Ba dám”– Dám nghĩ, dám làm, dám chịu; cụ thể như dám đưa ra các giả thuyết khoa học có giá trị vềkhách thể, đồng thời biết cách tiến hành kiểm chứng các giả thuyết đó bằng thực nghiệm

+ Khắc phục sự thụ động, ỷ lại hay đổ lỗi cho hoàn cảnh mà lẫn trốn trách nhiệm cá nhân

Tuân thủ các yêu cầu cơ bản của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng sẽ

giúp chúng ta tránh được chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, tự ý, tùy tiện,… cũng như thái độ thờ ơ,thụ động trước hiện thực qua đó năng cao tinh thần, thái độ dám nghĩ dám làm và dám chịu,không ngừng vương lên, đặc biệt là trong nghịch cảnh…

Bài học kinh nghiệm của Đảng:

Trong quá trình xác định đường lối Cách mạng và chỉ đạo thực tiễn Đảng Cộng Sản Việt Namluôn luôn quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Đảng cộng sản Việt Nam

"luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Năng lực nhậnthức và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự dẫn đầu đúng đắn của Đảng" là một bàihọc kinh nghiệm lớn rút ra từ thực tiễn Cách mạng nước ta Đó chính là biểu hiện coi quan điểmvật chất, các quy luật khách quan có vai trò quyết định được ý thức đối với nhận thức

Đảng ta thừa nhận đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan, muốnnhanh chống thực hiện nhiều mục tiêu của CNXH trong điều kiện mới ở chặng đường đầu tiên.Chúng ta đã có những thành kiến không đúng trên thực tế chưa thật sự thừa nhận những quy luậtcủa sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan (quy luật cung cầu, cạnh tranh giá trị) do đókhông chú ý vận dụng chúng vào việc chế định các chủ trương chính sách kinh tế làm cho nềnkinh tế trì trệ, khủng hoảng trầm trọng

Để khác phục được khuyết điểm, chuyển biến tình hình, Đảng ta trước hết phải thay đổi nhậnthức, đổi mới tư duy Phải nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với hệ thống quy luậtkhách quan, trong đó các quy luật đặc thù của CNXH ngày càng chi phối mạnh mẽ phươnghướng phát triển chung của xã hội Tiêu chuẩn đánh giá sự vận dụng đúng đắn các quy luật thôngwua chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước là sản xuất phát triển, lưu thông qua chủtrương chính sách của Đảng và Nhà nước là sản xuất phát triển, lu thông thông suốt, đời sống vậtchất và tinh thần nhân dân từng bước được ổn định và nâng cao, chế độ XHCN ngày càng đượccủng cố Điều đó là điều kiện đảm bảo sự dẫn dắt đúng đắn của Đảng Mọi chủ trương chínhsách gây tác động ngược lại là biểu hiện sự vận động không đúng quy luật khách quan, phảiđược sửa đổi hay bãi bỏ

Trang 12

Câu 4 <Nhóm Nhân sự 2> Bằng lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng: “Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới”.

Bằng lý luận:

- Trang 19, quyển 2: Phạm trù ý thức

- Ý thức là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan, nó mang bản tính phản ảnh, sáng tạo

- Ý thức tồn tại trong bộ óc con người, thông qua thực tiễn lao động, nó được vật chất hóa và có được sự tồn tại mới trong các vật phẩm do con người sáng tạo ra

- Ý thức có nhiều thành phần như tri thức,tình cảm, niềm tin… trong đó tri thức là thành phần quan trọng, tri thức là kết quả của quá trình con người nhận thức thế giới & phản ảnh những hiểubiết của con người về thế giới

- Tình cảm: là những rung động tâm lý khá ổn định, phản ánh thái độ của con người trước hiện thực Tri thức và tình cảm thống nhất và chuyển hóa lẫn nhau, sự thống nhất giữa chúng tạo ra động lực tinh thần mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động của con người, góp phần làm cho con người trở thành chủ thể sáng tạo ra lịch sử

- Ý thức có tính độc lập tương đối so với vật chất, thông qua các hoạt động thực tiễn, ý thức con người xâm nhập vào hiện thực vật chất, nhờ đó nó có được sức mạnh của cái tinh thần, dựa trên sức mạnh này, ý thức tác động đến thế giới, góp phần làm biến đổi thế giới Vì vậy ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo nên thế giới

- Bằng thực tiễn lao động con người ngày càng cải tiến và chinh phục thế giới, nhằm phục vụ cuộc sống con người ngày tốt hơn

Như vậy, thông qua các hoạt động thực tiễn, đặc biệt là lao động, con người không chỉ phản ảnh

mà còn góp phần sáng tạo nên thế giới

Câu 5 <Nhóm Nghiên cứu> Phân tích cơ sở triết học (lý luận & phương pháp luận) trong câu nói của C.Mác: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”.

Trả lời của nhóm:

C.Mác đã nói rõ rằng, "tư tưởng căn bản không thể thực hiện được cái gì hết Muốn thực hiện tưtưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn" Tư tưởng nói ở đây là tư tưởngkhoa học Như vậy, theo C.Mác, tự bản thân khoa học không thể tạo ra bất kỳ một tác động nào,

mà phải thông qua sự vận dụng và hoạt động thực tiễn của con người thì nó mới phát sinh tác

Trang 13

dụng Ý tưởng này còn được C.Mác diễn giải trong Lời nói đầu Góp phần phê phán triết họcpháp quyền của Hêgen bằng một câu có âm hưởng mạnh mẽ và có sức hấp dẫn, lôi cuốn độc giả:

"Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng" Ở đây, "Vũ khí của sự phê phán" và "lý luận" làkhoa học, tư tưởng khoa học, lý luận khoa học, còn "sự phê phán của vũ khí” và "lực lượng vậtchất" là hoạt động vật chất, hoạt động thực tiễn của con người Như vậy, C Mác đã giải trình rất

rõ răng, lý luận khoa học phải thông qua hoạt động của con người thì mới trở thành lực lượng vậtchất

Tri thức khoa học khi được con người ứng dụng, sử dụng trong sản xuất, được "chuyển hoá", vậtchất hoá thành máy móc, công cụ sản xuất thì nó trở thành lực lượng sản xuất Ngày nay, khi màquá trình ứng dụng khoa học vào sản xuất diễn ra một cách mau chóng, kịp thời thì rõ ràng làkhoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

Rõ ràng, ngày nay khoa học ngày càng đóng vai trò to lớn trong nền sản xuất xã hội nói riêng,trong đời sống nhân loại nói chung Nói đúng về một sự thật hiển nhiên về vai trò, tác dụng tíchcực, to lớn của khoa học và kỹ thuật (gần đây người ta thường nói và viết là "khoa học côngnghệ") Nhận đinh khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp là nhận định đúng đắn, dựatrên quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử

Để vận dụng được khoa học vào sản xuất trực tiếp, tức là để khoa học trở thành lực lượng sảnxuất trực tiếp thì phải có phát minh, sáng tạo, phải có sự phát triển của hệ thống máy móc Hơnnữa, C.Mác còn chỉ rõ: "Có một lực lượng sản xuất khác mà tư bản có được không mất khoản chiphí nào, đó là sức mạnh của khoa học Nhưng tư bản chỉ có thể chiếm hữu được sức mạnh ấycủa khoa học bằng cách sử dụng máy móc (phần nào cả trong quá trình hoá học) Sự tăng dân số

là một lực lượng sản xuất mà tư bản có được không phải chi phí gì cả Nhưng vì để có thể được

sử dụng trong quá trình sản xuất trực tiếp, bản thân những lực lượng ấy cần đến một bản thể dolao động tạo ra, nghĩa là tồn tại dưới dạng lao động vật hoá" Như vậy, theo C.Mác, khoa học chỉtrở thành lực lượng sản xuất trực tiếp khi tồn tại dưới dạng lao động được vật hoá thành máymóc

Khoa học vốn là sản phẩm của tư duy, của trí tuệ Nếu không thông qua hoạt động của người laođộng (công nhân, nông dân, tầng lớp trí thức…), mà chỉ tự bản thân nó thôi, thì như Mác nóikhoa học không thể biến thành cái gì cả, không thể sinh ra tác động tích cực hay tiêu cực

Ngày nay, muốn xây dựng và phát triển kinh tế tri thức với những đặc trưng cơ bản, quan trọng

và quyết định nhất hàm lượng khoa học, trí tuệ, chất xám kết tinh rất nhiều ở sản phẩm lao động thì phải ra sức đẩy mạnh công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học vào sản xuất một cách triệt

đế hơn, trực tiếp hơn so với các nền kinh tế trước đó

Câu 6 <Nhóm Chiến lược> Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc toàn diện của phép biện chứng duy vật Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?

Gợi ý trả lời của thầy: Câu 6 và câu 7 như nhau, xem gợi ý câu 7.

Trang 14

và sâu sắc những mâu thuẫn trong sự phát triển của hiện thực, đưa lại chìa khoá để nghiên cứutổng thể những quá trình phức tạp của tự nhiên, xã hội và tư duy Vì vậy, phép biện chứng duyvật được áp dụng phổ biến trong lĩnh vực và có vai trò quyết định trong sự vật, hiện tượng Phépbiện chứng duy vật không chỉ đưa ra hướng nghiên cứu chung, đưa ra các nguyên tắc tiếp cận sựvật, hiện tượng nghiên cứu mà đồng thời còn là điểm xuất phát để đánh giá những kết quả đạtđược.

Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến - một trong hainguyên lý cơ bản của phép duy vật biện chứng Đây là một phạm trù của phép biện chứng duyvật dùng để chỉ sự quy định, tác động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượnghay giữa các mặt của một sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan

Triết học Mác khẳng định: Cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng là thuộc tính thốngnhất vật chất của thế giới Các sự vật, hiện tượng dù đa dạng và khác nhau đến mấy thì chúng chỉ

là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là vật chất mà thôi Ngay bản thân ýthức vốn không phải là vật chát nhưng cũng chỉ là sự phát triển đến đỉnh cao của một thuộc tính,của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc con người, nội dung của ý thức có mối liên hệchặt chẽ với thế giới bên ngoài

Theo triết học Mác, mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng là khách quan vốn có của bản thânchúng, đồng thời mối liên hệ còn mang tính phổ biến và tính phổ biến ấy được thể hiện ở nhữngvấn đề sau đây:

Xét về mặt không gian, mỗi sự vật hiện tượng là một chỉnh thể riêng biệt, song chúng tồn tạikhông phải trong trạng biệt lập tách rời tuyệt đối với các sự vật hiện tượng khác Ngược lại,trong sự tồn tại của mình thì chúng tác động lẫn nhau và nhận sự tác động của các sự vật hiệntượng khác Chúng vừa phụ thuộc nhau, chế ước nhau, làm tiền đề cho nhau tồn tại và phát triển

Đó chính là hai mặt của quá trình tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng Ănghen đã khẳngđịnh: "Tất cả thế giới mà chúng ta có thể nghiên cứu được là một hệ thống, một tập hợp gồm cácvật thể liên hệ khăng khít với nhau và việc các vật thể ấy có mối liên hệ qua lại với nhau đã cónghĩa là các vật thể này tác động qua lại lẫn nhau và sự tác động qua lại ấy chính là sự vậnđộng"

Trong đời sống xã hội ngày nay không có một quốc gia, dân tộc nào mà không có mối quan hệ,liên hệ với quốc gia, dân tộc khác về mọi mặt của đời sống xã hội Đây chính là sự tồn tại, pháttriển cho mỗi quốc gia, dân tộc Trên thế giới đã và đang xuất hiện xu hướng toàn cầu hoá, khuvực hoá mọi mặt của đời sống xã hội Các quốc gia dân tộc ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, tácđộng lẫn nhau trên con đường phát triển của mình

Trang 15

Vận dụng trong hoạt động thực tiễn chủ thể phải:

- Đánh giá đúng vai trò của từng mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố,mặt,…) chi phối sự vật

- Thông qua hoạt động thực tiễn, sử dụng đồng bộ nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thíchhợp (mà trước hết là những công cụ, phương tiện, biện pháp vật chất) để biến đổi những mối liên

hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) để biến đổi những mối liên hệ, quan

hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) của bản thân sự vật, đặc biệt là những mốiliên hệ, quan hệ (…) bên trong, cơ bản, tất nhiên, quan trọng… của nó

- Nắm vững sự chuyển hóa các mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,

…)của bản thân sự vật; kịp thời sử dụng các công cụ, phương tiện, biện pháp bổ sung để pháthuy hay hạn chế hay hạn chế sự tác động của chúng, nhằm lèo lái sự vật vận động, phát triểntheo đúng quy luật và hợp lợi ích của chúng ta

- Quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc toàn diện sẽ giúp chủ thể khắc phục được chủ nghĩaphiến diện, chủ nghĩa chiết trung, chủ nghĩa ngụy biện,… trong hoạt động thực tiễn và nhận thứccủa chính mình

+ Chủ nghĩa phiến diện là cách xem xét chỉ thấy một mặt, một mối quan hệ, tính chất nào đó màkhông thấy được nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, nhiều tính chất của sự vật

+ Chủ nghĩa chiết trung là cách xem xét chỉ chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vậtchứ không rút ra được mặt bản chất, không thấy được mối liên hệ cơ bản của sự vật, mà coichúng như nhau, kết hợp chúng một cách vô nguyên tắc, tùy tiện

+ Chủ nghĩa ngụy biện là cách xem xét qua đó đánh tráo cái cơ bản với cái không cơ bản, cái chủyếu với cái thứ yếu,… hay ngược lại nhằm đạt được mục đích hay lợi ích của mình một cách tinhvi

- Trong xã hội nguyên tắc toàn diện đòi hỏi chúng ta không chỉ liên hệ nhận thức với nhận thức

mà còn liên hệ nhận thức với cuộc sống; phải chú ý đến lợi ích của các chủ thể (các cá nhân haygiai tầng) khác nhau trong xã hội và biết phân biệt đâu là lợi ích cơ bản (sống còn) và lợi íchkhông cơ bản (sống còn) và lợi ích không cơ bản; phải biết phát huy (hay hạn chế) mọi tiềmnăng hay nguồn lực từ khắp các lĩnh vực hoạt động xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, ) từ cácthành phần kinh tế

Câu 7 <Nhóm Tài chính> Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phát triển của phép biện chứng duy vật Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?

Gợi ý trả lời của thầy:

- Câu 6 và câu 7 như nhau, có khác là gì? Một cái là toàn diện, 1 cái là phát triển Cách làmthì cũng như vậy, làm sáng rõ, mổ xẻ, phân tích cho thầy chi tiết, khái niệm vận động, khái niệmphát triển hay khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến (mổ xẻ chi tiết ra); rồi từ đó làm sáng

rõ yêu cầu của nguyên tắc toàn diện, giải thích cái nguyên tắc đó ra, nếu không tuân thủ nó thìmắc phải những bệnh gì? (chỉ rõ ra)

Trang 16

- Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhậnthức và hoạt động thực tiễn? => Bằng thực tiễn là bằng hiện thực cuộc sống, lấy hiện thực cuộcsống làm minh họa Ví dụ ngày nay, nhờ những tri thức khoa học, những thành quả khoa học màcon người chúng ta hiểu sâu sắc hơn về thế giới và giúp chúng ta cải tạo triệt để thế giới Nhờnhững hiểu biết tri thức về sinh đẻ mà con người phát hiện ra bí mật của công nghệ sinh đẻ vàngày nay chúng ta đã cải tạo việc sinh đẻ, muốn con trai có con trai, muốn con gái có con gái,muốn không có con thì không có con, muốn có con thì có con Cái đó gọi là bằng thực tiễn, bằnghiện thực, bằng cuộc sống Ngày nay Đảng ta ra sức nghiên cứu, nghiền ngẫm, khám phá nhữngqui luật thế giới và vận dụng nó để cải tạo đất nước, để lèo lái đất nước đi theo đúng quy luật đểmang lại đất nước một tương lai rực rỡ hơn C đời ta cũng vậy, phải nắm được quy luật về conngười, về tình yêu gì đó để cải tạo con người, cải tạo tình yêu, biến vợ xấu thành vợ đẹp, biến vợhung dữ thành vợ diệu hiền, tức là cải tạo thế giới, mà cũng có thể cải tạo con người, cải tạo giađình, cải tạo tự nhiên, biến sa mạc thành những cánh đồng màu mỡ, biến rừng rú thành nhữngthành phố nguy nga tráng lệ, ví dụ như các tiểu Vương quốc Ả rập các anh chị thấy chưa? Samạc cháy bỏng mà các anh chị đến đó 1 lần không muốn về, nhờ vào đâu vậy? Phải nhờ tri thức

và thực tiễn không? nhưng mà tri thức phải thông qua hoạt động thực tiễn, cái đầu phải thôngqua cái tay mới được

- Nguyên lý được khái quát từ kết quả hoạt động thực tiễn – nhận thức lâu dài của con người Nóvừa là cơ sở lý luận của học thuyết, vừa là công cụ tinh thần để nhận thức (lý giải – tiên đoán) vàcải tạo thế giới

- Có hai loại nguyên lý: nguyên lý của khoa học (công lý, tiên đề, quy luật nền tảng) và nguyên

lý của triết học Phép biện chứng duy vật có hai nguyên lý cơ bản Đó là nguyên lý về mối liên

hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển

7.2 Nguyên tắc là gì?

- Nguyên tắc là những yêu cầu nền tảng đòi hỏi chủ thể phải tuân thủ đúng trình tự nhằm đạt mụcđích đề ra một cách tối ưu

7.3 Mối liên hệ giữa nguyên lý và nguyên tắc

- Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý thể hiện qua các nguyên tắc tương ứng Nghĩa là cơ

sở lý luận của các nguyên tắc là các nguyên lý: cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện và nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển là nội dung nguyên lý về sự phát triển…

7.4 Những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phát triển

· Trong hoạt động nhận thức yêu cầu chủ thể phải:

Trang 17

- Phát hiện nhưng xu hướng biến đổi, chuyển hóa, những giai đoạn tồn tại của bản thân sự vật trong sự tự vận động và phát triển của chính nó;

- Xây dựng được hình ảnh chỉnh thể về sự vật như sự thống nhất các xu hướng, những giai đoạn thay đổi của nó; từ đó phát hiện ra quy luật vận động, phát triển (bản chất) của sự vật

· Trong hoạt động thực tiễn yêu cầu chủ thể phải:

- Chú trọng đến mọi điều kiện, khả năng…tồn tại của sự vật nhận định đúng các xu hướng,những giai đoạn thay đổi có thể xảy ra đối với nó;

- Thông qua hoạt động thực tiễn, sử dụng nhiều công cụ, phương tiện biện pháp thích hợp (

mà trước hết là công cụ, phương tiện, biện pháp vật chất) để biến đổi những điều kiện, phát huy hay hạn chế những khả năng…tồn tại của sự vật nhằm lèo lái sự vật vận động, phát triển theo hướng hợp quy luật và có lợi cho chúng ta

7.5 Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển

Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển là nội dung nguyên lý về sự phát triển

· Sự vận động và sự phát triển

- Vận động là thuộc tính cố hữu, là phương thức tồn tại của vật chất; vận động được hiểu như sự thay đổi nói chung “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”

- Phát triển là khuynh hướng vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp,

từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, do mâu thuẫn trong bản thân sự vật gây ra Phát triển là một khuynh hướng vận động tổng hợp của hệ thống sự vật Trong đó, sự vận động có thay đổi những quy định về chất (thay đổi kết cấu – tổ chức) của hệ thống sự vật theo khuynh hướng tiến

bộ giữ vai trò chủ đạo; còn sự vận động có thay đổi những quy định về chất cảu sự vật theo xu hướng thoái bộ và sự vận động chỉ có thay đổi những quy định về lượng của sự vật theo xu hướng ổn định giữ vai trò phụ đạo, cần thiết cho xu hướng chủ đạo trên

+ “Hai quan điểm cơ bản…về sự phát triển (sự tiến hóa): sự phát triển coi như là giảm đi và tăng lên, như lặp lại; và sự phát triển coi như sự thống nhất của các mặt đối lập Quan điểm thứ nhất thì chết cứng, nghèo nàn, khô khan Quan điểm thứ hai là sinh động Chỉ có quan điểm thứ 2 mớicho ta chìa khóa của “sự vận động”, của tất thảy mọi cái “đang tồn tại”; chỉ có nó mới cho ta chìakhóa của những “bước nhảy vọt”, của “sự gián đoạn của tính tiệm tiến”, của “sự chuyển hóa thành mặt đối lập:, của “sự tiêu diệt cái cũ và sự nảy sinh ra cái mới”

- Phát triển như sự chuyển hóa: giữa các mặt đối lập; giữa chất và lượng; giữa cái cũ và cáimới; giữa cái riêng và cái chung; giữa nguyên nhân và kết quả; giữa nội dung và hình thức; giữa bản chất và hiện tượng; giữa tất nhiên và ngẫu nhiên; giữa khả năng và hiện thực

- Phát triển là quá trình tự thân của thế giới vật chất, mang tính khách quan, phổ biến và đadạng: phát triển trong giới tự nhiên vô sinh; phát triển trong giới tự nhiên hữu sinh; phát triển trong xã hội; phát triển trong tư duy, tinh thần

· Nội dung nguyên lý

- Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều không ngừng vận động và phát triển

- Phát triển mang tính khách quan – phổ biến, là khuynh hướng vận động tổng hợp tiến lên

từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của mọt hệ

Trang 18

thống vật chất, do việc giải quyết mâu thuẫn, thực hiện bước nhảy về chất gây ra và hướng theo

Gợi ý trả lời của thầy:

- Câu 8 và câu 9 cùng 1 nhóm chủ đề Cơ sở lý luận thì trong sách có nói rồi, nguyên tắc

lịch sử cụ thể được hiểu theo 2 nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp, nhưng ở đây chỉ cần trình bày cho thầy nghĩa hẹp thôi Nghĩa rộng của nguyên tắc lịch sử cụ thể là tổng tất cả những yêu cầu

được rút ra từ toàn bộ nội dung phép biện chứng, và nếu ta phân tích cơ sở lý luận của nó theonghĩa rộng là gì thì phân tích 2 nguyên lý, 3 quy luật và 6 cặp phạm trù Còn nếu hiểu theo nghĩahẹp thì nguyên tắc lịch sử cụ thể là tổng 2 nguyên tắc (nguyên tắc toàn diện và nguyên tắc pháttriển) và vì vậy cơ sở lý luận của nó chính là 2 nguyên lý, vậy thì các anh chị khi giới thiệu xong

nó thì các anh chị chỉ cần phân tích theo nghĩa hẹp thôi, phân tích nội dung 2 nguyên lý, phân tích các yêu cầu của nó làm sáng rõ yêu cầu đó, (nhớ là phân tích ra:) ).

- Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được gì trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, chúng tra sẽ tránh gì? Sự xem xét, nhìn nhận, đánh giá, xử lý chung chung trừu tượng, không xét lịch sử phạm vi cụ thể những vấn đề sẽ dẫn đến hiểu biết không đúng và xử lý không hợp tình hợp lý và không hiệu quả Việc tuân thủ nguyên tắc này tránh được bệnh hình thức, bệnh trừu tượng chung chung, bệnh đại khái, bệnh gì cũng xem như đại khái, nói chung chung, nói trừu tượng

Trả lời của nhóm:

❖ Cơ sở lý luận

➢ Trong hoạt động nhận thức, chủ thể phải tìm hiểu quá trình hình thành, tồn tại và pháttriển cụ thể của những sự vật cụ thể trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Nghĩa là:

■ Phải biết sự vật đã ra đời và đã tồn tại như thế nào, trong những điều kiện, hoàn cảnh

nào, bị chi phối bởi những quy luật nào Hiện giờ sự vật đang tồn tại như thế nào trongnhững điều kiện, hoàn cảnh ra sao, do những quy luật nào chi phối Trên cơ sở đó, phảinắm bắt sự vật có thể sẽ phải tồn tại như thế nào (trên những nét cơ bản) trong tươnglai Trong hoạt động thực tiễn, chủ thể phải xây dựng được những đối sách cụ thể, áp

Trang 19

dụng cho những sự vật cụ thể, đang tồn tại trong những điều kiện, hoàn cảnh,quan hệ

cụ thể mà không nên áp dụng những khuôn mẫu chung chung cho bất cứ sự vật nào,trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh, quan hệ nào

■ Nguyên tắc LSCT được V.I Lênin cô đọng trong nhận định: “Xem xét mỗi vấn đề

theo quan điểm sau đây: một hiện tượng nhất định đã xuất hiện trong lịch sử như thếnào, những hiện tưtưởng đó đã trải qua những giai đoạn phát triển chủ yếu nào,vàđứng trên quan điểm của sự phát triển đó để xem xét hiện nay nó đã trở thành thế nào”Điều này có nghĩa là nguyên tắc LSCT đỏi hỏi phải phân tích sự vật cụ thể trongnhững tình hình cụ thể để thấy được Sự vật đang (đã hay sẽ) tồn tại thông qua nhữngchất, lượng nào; thể hiện qua những độ nào; đang (đã hay sẽ) thực hiện những bướcnhảy nào để tạo nên những chất, lượng mới nào? Sự vật đang (đã hay sẽ) bị tác độngbởi những mâu thuẫn nào; những mâu thuẫn đó đang nằm ở giai đoạn nào, có vai trò

như thế nào đến sự vận động, phát triển của sự vật? Sự vật đang (đã hay sẽ) trải qua

những lần phủ định biện chứng nào; cái cũ nào đang (đã hay sẽ) phải mất đi, cái mớinào đang (đã hay sẽ) xuất hiện? Trong mối quan hệ với những sự vật khác, những điều

gì được coi là những cái riêng hay cái đơn nhất, điều gì là cái chung hay cái đặc thù,cáiphổ biến; chúng quy định nhau, chuyển hóa lẫn nhau như thế nào Bản chất của sự vật

là gì, nó được thể hiện qua những hiện tượng nào; hiện tượng nào là giả tượng, hiệntượng nào là điển hình Nội dung của sự vật là gì, nó đang (đã hay sẽ) tồn tại thông quanhững hình thức nào; hình thức nào phù hợp với nội dung của sự vật, hình thức nàokhông phù hợp với nội dung, cái gì làm cho nội dung của sự vật biến đổi?Trong bảnthân sự vật, hiện thực là gì; hiện thực đó đang (đã hay sẽ) nảy sinh ra những khả năngnào; mỗi khả năng đó, trong những điều kiện cụ thể nào có độ tất yếu hiện thực hóa rasao? Nguyên tắc LSCT đòi hỏi chúng ta phải bao được các sự kiện xảy ra trong nghiêncứu khoa học hay các biến cố xảy ra trong các tiến trình lịch sử nhân loại Tuy nhiên,

nó không chophép chúng ta kết hợp các sự kiện khoa học như những cái ngẫu nhiênthuần túy của tự nhiên hay mô tả các biến cố lịch sử như những cái vụn vặt đơn lẻ của

xã hội, mà nó đòi hỏi chúng ta phải tái hiện chúng, mô tả chúng trên cơ sở vạch rađược cái tất yếu lô gích, cái chung (quy luật, bản chất) của chúng, chỉ ra được nhữngtrật tự nhân quả quy định chúng Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta phải xây dựng đượcbức tranh khoa học về thế giới, để qua đó chúng ta nhận thức được tính muôn vẻ của tự

Trang 20

nhiên, tính phong phú của lịch sử trong sự thống nhất.

■ Nguyên tắc LSCT đã được các lãnh tụ của giai cấp vô sản vận dụng: Xuất phát từ tình

hình cụ thể của CNTB ở giai đoạn tiền độc quyền, tự do cạnh tranh mà C Mác chorằng, cách mạng XHCN chỉ có thể thắng lợi ở tất cả các nước TBCN tiên tiến Quanđiểm lịch sử cụ thể

■ Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là cơ sở hình thành

quan điểm lịch sử cụ thể Mọi sự vật hiện tượng của thế giới đều tồn tại, vận động vàphát triển trong những điều kiện không gian và thời gian cụ thể xác định Điều kiệnkhông gian và thời gian có ảnh hưởng trực tiếp tới tính chất, đặc điểm của sự vật Cùngmột sự vật nhưng nếu tồn tại trong những điều kiện không gian và thời gian cụ thểkhác nhau thì tính chất, đặc điểm của nó sẽ khác nhau, thậm trí có thể làm thay đổihoàn toàn bản chất của sự vật

❖ Yêu cầu của quan điểm lịch sử cụ thể : Quan điểm lịch sử có 3 yêu cầu:

➢ Thứ nhất: Khi phân tích xem xét sự vật, hiện tượng phải đặt nó trong điều kiện không

gian và thời gian cụ thể của nó, phải phân tích xem những điều kiện không gian ấy có ảnhhưởng như thế nào đến tính chất, đặc điểm của sự vật, hiện tượng Phải phân tích cụ thểmọi tình hình cụ thể ảnh hưởng đến sự vật, hiện tượng

➢ Thứ hai: Khi nghiên cứu một lý luận, một luận điểm khoa học nào đó cần phải phân tích

nguồn gốc xuất xứ, hoàn cảnh làm nảy sinh lý luận đó Có như vậy mới đánh giá đúng giátrị và hạn chế của lý luận đó Việc tìm ra điểm mạnh và điểm yếu có tác dụng trực tiếpđến quá trình vận dụng sau này

➢ Thứ ba: Khi vận dụng một lý luận nào đó vào thực tiễn phải tính đến điều kiện cụ thể của

nơi được vận dụng Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu việc nhận thức các tình huốngtrong hoạt động thực tiễn cần xét đến tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tácđộng; xác định rõ vị trí vai trò khác nhau của mối liên hệ cụ thể trong những tình huống

cụ thể để đưa ra các biện pháp đúng đắn phù hợp với đặc điểm cụ thể của đối tượng cầntác động nhằm tránh quan điểm phiến diện, siêu hình, máy móc

❖ Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?

➢ Tránh được việc áp dụng một cách máy móc khi vận dụng lý luận vào thực tiễn, rút kinhnghiệm được từ những sai lầm trước đây Vd: Trong quá trình xây dựng đi lên CNXH,

Trang 21

Việt Nam không hoàn toàn áp dụng rập khuôn theo đường lối của Liên Xô nên đã không

đi vào vết xe đổ của Liên Xô Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các quốc gia đều chịu sự tácđộng của thị trường và khu vực và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này Vì vậyViệt Nam đã có sự điều chỉnh tất yếu, đó là xây dựng nền kinh tế thị trường theo địnhhướng XHCN

➢ Khắc phục được quan điểm đại khái chung chung (tư duy siêu hình) trong nhận thức, tưduy và trong hoạt động thực tế

➢ Khắc phục được bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều một cách hiệu quả.

Câu 9 <Nhóm Nghiên cứu> Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc lịch sử – cụ thể Tại sao nói: “Nguyên tắc lịch sử – cụ thể là ‘linh hồn’ phương pháp luận của chủ nghĩa Mác” Đảng CSVN đã vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào thực tiễn cách mạng VN hiện nay?

Gợi ý trả lời của thầy:

- Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc lịch sử – cụ thể =>xem câu 8

- “Tại sao nguyên tắc lịch sử cụ thể là linh hồn, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác” =>

ở đây các anh chị cần làm rõ từng bước một: Chủ nghĩa Mác bao gồm mấy bộ phận hợp lại tạothành? 3 bộ phận, triết học (là cốt lõi nhất), kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học Trongtriết học thì phép biện chứng là quan trọng nhất, vì vậy nó là cái lõi của cái lõi của chủ nghĩaMác Mà nguyên tắc lịch sử cụ thể thì có lý luận từ toàn bộ nội dung phép biện chứng nếu hiểutheo nghĩa rộng, (còn nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì nó có cơ sở lý luận là 2 nguyên lý, mà 2nguyên lý là cái nền tảng của phép biện chứng), do vậy là nó là “cái lõi của cái lõi của cái lõi”của chủ nghĩa Mác nữa.Và vì vậy nếu hiểu theo nghĩa rộng thì nó là tổng hợp những nguyên tắcyêu cầu rút ra từ toàn bộ theo nghĩa rộng, còn nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì được rút ra từ 2nguyên tắc nền tảng, nguyên tắc toàn diện và nguyên tắc phát triển Do đó nó được coi là linhhồn phương pháp luận của chủ nghĩa Mác (Linh hồn là gì, là cái nền tảng cơ sở, ví dụ anh lớptrưởng hay ai đó là linh hồn của lớp ta tức là gì, là tiêu biểu cho lớp ta, đại diện lớp ta, anh ta cònthì lớp ta còn, anh ta vui thì lớp ta vui, anh ta buồn thì lớp ta buồn.)

- Đảng ta đã vận dụng nguyên tắc này như thế nào? là vận dụng để xây dựng con đường đi lên CNXH ở VN một cách lịch sử cụ thể tức biết nước ta hiện giờ xuất phát từ trình độ nào? Kinh tế ra sao? Bối cảnh trong nước thế nào? Bối cảnh thế giới ra sao? Và vì vậy con đường đi lên CNXH là phải làm gì, xây dựng cái gì, phát triển cái gì? Chúng ta xuất phát từ nền kinh tế rất

là thấp kém, tiểu nông, lúa nước lạc hậu không có điều kiện, ngày nay lực lượng sản xuất đa dạng, trong thời đại mà cách mạng khoa học công nghệ diễn ra như vũ bão, vì vậy chúng ta phải xây dựng đất nước như thế nào? Phải xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chủ động hội nhập kinh tế thế giới Về kinh tế phải làm gì? Chính trị phải làm gi? Văn hóa tư tưởng phải làm gi? Quan hệ trong nước phải xử lý ra sao? Quan hệ đối

Trang 22

ngoại chúng ta phải làm gi?… Tại sao chúng ta phải lấy giáo dục làm hàng đầu, tại sao chúng ta phải công nghiệp hóa hiện đại hóa,… làm rõ ra.

Trả lời của nhóm:

Cơ sở lý luận của nguyên tắc lịch sử - cụ thể là toàn bộ nội dung lý luận của phép biện chứngduy vật với tính cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển, tức là một hệ thốngcác nguyên lý, quy luật, phạm trù nói về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển xảy ra trongtoàn bộ thế giới Cơ sở lý luận này xuất phát từ sự phản ánh phương thức tồn tại cụ thể của sự vậttrong hiện thực:

Một mặt, mỗi sự vật, hiện tượng hay quá trình tồn tại trong hiện thực đều được tạo thành từnhững yếu tố, bộ phận khác nha; có muôn vàn sự tương tác (mối liên hệ, quan hệ) với nhau vàvới các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau; qua đó nó bộc lộ ra thành những đặc điểmtính chất không giống nhau

Mặt khác, mỗi sự vật hiện tượng hay quá trình đều tồn tại trong tiến trình phát sinh, phát triển vàdiệt vong của chính mình; quá trình này thể hiện một cách cụ thể bao gồm mọi sự thay đổi và sựphát triển diễn ra trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, tương tác với những sự vật, hiệntượng hay quá trình khác nhau trong không gian theo những thời gian không như nhau

Yêu cầu cơ bản

Trong hoạt động nhận thức, chủ thể phải tìm hiểu quá trình hình thành, tồn tại và phát triển cụthể của những sự vật cụ thể trong những điều kiện, hoàn cảnh, quan hệ cụ thể Nghĩa là:

- Phải biết được sự vật đã ra đời và đã tồn tại như thế nào, trong những điều kiện, hoàncảnh nào, bị chi phối bởi những quy luật nào

- Hiện giờ sự vật hiện đang tồn tại như thế nào trong những điều kiện, hoàn cảnh ra sao, donhững quy luật nào chi phối;

- Trên cơ sở đó, phải năm bắt được sự vật có thể sẽ tồn tại như thế nào (trên những nét cơbản) trong tương lai

Trong hoạt động thực tiễn, chủ thể phải xây dựng được những đối sách cụ thể, áp dụng chonhững sự vật cụ thể đang tồn tại trong những điều kiện, hoàn cảnh, quan hệ cụ thể mà không nên

áp dụng những khuôn mẫu chung chung cho bất cứ sự vật nào, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh,quan hệ nào

Nguyên tắc LS-CT được V.I Lênin cô đọng trong nhận định: “Xem xét mỗi vấn đề theo quanđiểm sau đây: một hiện tượng nhất định đã xuất hiện trong lịch sử như thế nào, những hiện tượng

đó đã trải qua những giai đoạn phát triển chủ yếu nào, và đứng trên quan điểm của sự phát triển

đó để xem xét hiện nay nó đã trở thành thế nào”

Trang 23

Điều này có nghĩa là nguyên tắc LS-CT đỏi hỏi phải phân tích sự vật cụ thể trong những tìnhhình cụ thể để thấy được:

- Sự vật đang (đã hay sẽ) tồn tại thông qua những chất, lượng nào; thể hiện qua những độ nào;đang (đã hay sẽ) thực hiện những bước nhảy nào để tạo nên những chất, lượng mới nào?

- Sự vật đang (đã hay sẽ) bị tác động bởi những mâu thuẫn nào; những mâu thuẫn đó đang nằm ởgiai đoạn nào, có vai trò như thế nào đến sự vận động, phát triển của sự vật?

- Sự vật đang (đã hay sẽ) trải qua những lần phủ định biện chứng nào; cái cũ nào đang (đã haysẽ) phải mất đi, cái mới nào đang (đã hay sẽ) xuất hiện?

- Trong mối quan hệ với những sự vật khác, những điều gì được coi là những cái riêng hay cáiđơn nhất, điều gì là cái chung hay cái đặc thù / cái phổ biến; chúng quy định nhau, chuyển hóalẫn nhau như thế nào?

- Bản chất của sự vật là gì, nó được thể hiện qua những hiện tượng nào; hiện tượng nào chỉ là giảtượng, hiện tượng nào là điển hình …

- Nội dung của sự vật là gì, nó đang (đã hay sẽ) tồn tại thông qua những hình thức nào; hình thứcnào phù hợp với nội dung của sự vật, hình thức nào không phù hợp với nội dung, cái gì làm chonội dung của sự vật biến đổi?

- Trong bản thân sự vật, hiện thực là gì; hiện thực đó đang (đã hay sẽ) nảy sinh ra những khảnăng nào; mỗi khả năng đó, trong những điều kiện cụ thể nào có độ tất yếu hiện thực hóa rasao?

Nguyên tắc LS-CT đòi hỏi chúng ta phải bao được các sự kiện xảy ra trong nghiên cứu khoa họchay các biến cố xảy ra trong các tiến trình lịch sử nhân loại

Tuy nhiên, nó không cho phép chúng ta kết hợp các sự kiện khoa học như những cái ngẫu nhiênthuần túy của tự nhiên hay mô tả các biến cố lịch sử như những cái vụn vặt đơn lẻ của xã hội, mà

nó đòi hỏi chúng ta phải tái hiện chúng, mô tả chúng trên cơ sở vạch ra được cái tất yếu lô gích,cái chung (quy luật, bản chất) của chúng, chỉ ra được những trật tự nhân quả quy định chúng.Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được bức tranh khoa học về thế giới, để qua đóchúng ta nhận thức được tính muôn vẻ của tự nhiên, tính phong phú của lịch sử trong sự thốngnhất

Nguyên tắc LS-CT đã được các lãnh tụ của giai cấp vô sản vận dụng: Xuất phát từ tình hình cụthể của CNTB ở giai đoạn tiền độc quyền, tự do cạnh tranh mà C Mác cho rằng, cách mạngXHCN chỉ có thể thắng lợi ở tất cả các nước TBCN tiên tiến

Cơ sở khẳng định nguyên tắc lịch sử - cụ thể (LS-CT) là “linh hồn” phương pháp luận của triết học Mác – Lênin

Trang 24

Triết học Mác-Lênin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy triết họctrong lịch sử nhân lọai.

Triết học Mác-Lênin xem xét lịch sử xuất phát từ con người và cho rằng con người là sản phẩmcủa lịch sử

Dựa vào các quy luật khác quan và học thuyết của Mác – Lênin về hình thái kinh tế - xãhội, Đảng ta đã vận dụng những lý luận này vào thực tiễn cách mạng Việt Nam trong thời kỳ quá

độ đi lên chủ nghĩa xã hội Theo sự vận động và phát triển của hình thái kinh tế - xã hội thì chủnghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là CNXH là sự phát triển tất yếu lịch sử của CNTB Đối với đấtnước ta một quốc gia chưa trãi qua thời kỳ phát triển TBCN thì để đi tới CNXH, Đảng ta đã chọnlựa con đường phát triển rút ngắn - hay nói theo cách của Lênin phát triển không phải trãi quagiai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa

Tuy nhiên do trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ, nhận thức của Đảng và Nhà nước ta

về quá trình “phát triển rút ngắn” chưa đầy đủ, toàn diện cộng với bệnh chủ quan duy ý chí, nóngvội nên việc vận dụng “bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” đã có nhiều sai lầm, muốnrút ngắn thật nhanh quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội nên đã “bỏ qua” quá giới hạn, vi phạm cácquy luật khách quan khi muốn tạo ra những bước nhảy vọt về kinh tế trong khi điều kiện chưa

cho phép Văn kiện ĐH Đảng lần VI đã nêu “Do chưa nhận thức đầy đủ rằng thời kỳ quá độ

đi lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử tương đối dài, phải trải qua nhiều chặng đường và do tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần thiết, Đại hội IV chưa xác định những mục tiêu của chặng đường đầu tiên”

Việc sai lầm do “bỏ qua những bước đi cần thiết” được thể hiện trong các chủ trương chínhsách lớn của Đảng trong thời kỳ trước đổi mới Trước nhất đó là việc bỏ qua bước trung gian quá

độ kinh tế hàng hóa TBCN, phủ nhận các hình thức, bước đi mang tính quá độ từ sản xuất nhỏlên sản xuất lớn - nội dung mà trước đây CNTB ra đời nó đã từng thể hiện Chính vì vậy, việcphát triển lực lượng SX không được chú trọng, đã để kéo dài quá lâu trình độ SX thấp, thủ công,đầu tư công nghiệp nặng không đúng hướng, đầu tư dàn đều, tràn lan không chú ý chiều sâu.Trong việc đề ra chủ trương, chính sách, Đảng và Nhà nước ta đã bỏ qua không chú ý vận dụngnhững thành tựu khoa học kỹ thuật, những quy luật của SX hàng hóa đang tồn tại khách quanvàp việc chế định các chủ trương, chính sách kinh tế

Cũng trong thời kỳ này, Đảng và Nhà nước ta do chủ quan, nóng vội muốn cải tạo nhanhquan hệ SX nên đã áp đặt một mô hình quan hệ sản xuất “cao hơn” trình độ lực lượng sản xuất

Nó thể hiện qua việc “nóng vội muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi XHCN” để chỉ cònlại 2 thành phần kinh tế: quốc doanh và tập thể Trong việc tổ chức hình thức sản xuất, chúng ta

đã có xu hướng tổ chức quá nhanh mô hình sản xuất, tập đoàn, hợp tác xã … với quy mô lớn màkhông tính đến khả năng trang bị kỹ thuật, trình độ quản lý và năng lực của cán bộ Đồng thời

việc xác lập quan hệ SX cũng không đồng bộ “về nội dung cải tạo, thường nhấn mạnh việc thay đổi quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất mà không coi trọng giải quyết các vấn đề tổ chức quản lý

Trang 25

và chế độ phân phối” Bên cạnh đó, việc duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan

liêu bao cấp, có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương, chính sáchkinh tế đối ngoại khép kín đã làm kìm hãm, phá hoại sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫnđến sản xuất đình trệ, kinh tế không phát triển, lạm phát gia tăng Mặt khác trong kiến trúcthượng tầng, đã buông lỏng chuyên chính vô sản, bộ máy nhà nước nặng nề, nhiều tầng, nhiềunấc, cồng kềnh kém hiệu lực dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội

Từ Đại hội VI (1986), Đảng ta đã tự phê phán nghiêm túc về những sai lầm mắc phải, nhận thứclại quan niệm bỏ qua chế độ TBCN một cách đúng đắn, đầy đủ hơn Quan điểm đó đã được Đạihội VII, Đại hội VIII và Đại hội IX bổ sung hoàn thiện hơn Văn kiện Đại hội IX của Đảng đãkhẳng định “Quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị tríthống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN “Điều này có nghĩa là trong thời

kỳ quá độ đi lên CNXH, chúng ta không thể để quan hệ sản xuất tư hữu thống trị, không để chochính quyền rơi vào tay tư sản, không được để mất vai trò lãnh đạo của Đảng, không được đểNhà nước mất vai trò quản lý kinh tế - xã hội, kinh tế Nhà nước mất vai trò chủ đạo Bên cạnhviệc bỏ qua những nội dung trên, khi xây dựng mới cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầngCNXH thì phải chủ động kế thừa biện chứng những nhân tố hợp lý của cả cơ sở hạ tầng và kiếntrúc thượng tầng của CNTB

Về lộ trình đi lên CNXH, Đại hội IX cũng đã khẳng định: “Xây dựng CNXH bỏ qua chế độ

TBCN tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả lĩnh vực là một sự nghiệp rất khó khăn phức tạp cho nên phải trãi qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế - xã hội có tính chất quá độ” (VK9 – Tr85)

Như vậy, rõ ràng nhận thức lý luận của Đảng về quá trình quá độ đi lên CNXH đã xác địnhđây là một quá trình lâu dài để tạo ra sự biến đổi về chất (đối với quan hệ SX, lực lượng SX, kiếntrúc thượng tầng), nó phải trải qua nhiều chặng đường, bước đi thích hợp và nhiều hình thứctrung gian về tổ chức kinh tế - xã hội

Như chúng ta biết, trong quan niệm triết học Mác - Lênin, tiến trình phát triển của lịch sử nhânloại được qui định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất Mọi sự phát triển rút ngắn đều phảinhằm mục đích cuối cùng là tạo ra sự phát triển vượt bậc, thậm chí là nhảy vọt của lực lượng sảnxuất và do vậy, về thực chất, phát triển rút ngắn chỉ có thể là rút ngắn các giai đoạn hay bước đitrong tiến trình phát triển liên tục của lực lượng sản xuất Nước ta còn nghèo, lực lượng SX kémphát triển nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế là rất lớn cho nên phải tập trung sức phát triểnLLSX Trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, với tốc độ phát triểnnhư vũ bão của khoa học và công nghệ sản xuất, trình độ sản xuất, kỹ năng lao động, trình độ tổchức và quản lý sản xuất của con người được tăng lên đáng kể Điều đó cho phép chúng ta có thểrút ngắn các giai đoạn phát triển hay hình thức công nghệ của sự phát triển lực lượng sản xuấtĐồng thời với việc tạo ra sự phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất qua con đường CNH-HĐH, Đảng cũng đã xác định việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong giai đoạn quá độ

Trang 26

là một tất yếu khách quan, đây là bước đi tuần tự trong việc phát triển Các chủ trương chính sáchcủa Đảng và Nhà nước ta từ sau Đại hội VI đến nay đã khẳng định: các thành phần kinh tế lànhững bộ phận cấu thành phần kinh tế thống nhất, được phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranhlành mạnh với nhau Trong xu hướng vận động chung, thành phần kinh tế Nhà nước phải giữ vaitrò chủ đạo, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển.

Sự phát triển của LLSX đòi hỏi phải có quan hệ SX phù hợp Đại hội 9 đã xác định: “Phát triển

lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất trên cả 3 mặt: sở hữu, quản lý và phân phối”

Đại hội Đảng lần VII đã nêu: để phù hợp với sự phát triển của LLSX, chúng ta phải thiết lậptừng bước quan hệ SX XHCN từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu, phát triển nềnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có

sự quản lý của Nhà nước Như vậy, từ việc phát triển kinh tế nhiều thành phần, Đảng ta đã thừanhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu về tư liệu SX và các loại hình tổ chức kinh tế gắn liềnvới các hình thức sở hữu đó do lịch sử để lại, phù hợp với từng thành phần kinh tế Chính điềunày đã tạo ra sức sống động cho sự phát triển kinh tế, tạo ra được nhiều sản phẩm do khơi dậytiềm năng, sức sản xuất và năng động vốn có của các thành phần kinh tế Văn kiện Đại hội IXcũng đã xác định việc xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu không thể xác lậpnhanh chóng ồ ạt như trước đây mà phải là một quá trình kinh tế - xã hội lâu dài, qua nhiều bước,nhiều hình thức từ thấp đến cao …

Song song với sự đổi mới về kinh tế là sự đổi mới về kiến trúc thượng tầng bắt đầu từ việc đổi

mới về chính trị, văn kiện Đaị hội 8 đã chỉ rõ “kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị"

Câu 10 <Nhóm Ngân hàng> Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phân tích mâu thuẫn (phân đôi cái thống nhất) Đảng CSVN đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay?

Gợi ý trả lời của thầy:

- Cần làm rõ quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Trước hết làm rõ mâuthuẫn biện chứng là gi?Muốn làm rõ mâu thuẫn biện chứng cần làm rõ: mặt đối lập là gi? Thốngnhất giữa các mặt đối lập là gi? Đấu tranh các mặt đối lập là gì và chuyển hóa giữa các mặt đốilập là gi? Cuối cùng rút ra mâu thuẫn biện chứng là gì?Vạch ra mâu thuẫn thì nó tồn tại nhữnggiai đoạn nào? Xuất hiện thế nào, hình thành ra sao, hiện hữu thế nào, giải quyết ra sao? Xem xét

sự vận động của một mâu thuẫn? sau đó phân loại mâu thuẫn: bên trong và bên ngoài, cơ bản vàkhông cơ bản, chủ yếu và thứ yếu thấy được vai trò của chúng khác nhau; Sau đó chỉ rõ ra mâuthuẫn đặc biệt là giải quyết mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của mọi sự vật phát triển Tức làlàm rõ 4 luận điểm của nội dung quy luật bằng cách triển khai cụ thể như vậy Sau đó phân tích

Trang 27

nguyên tắc mâu thuẫn ha là nguyên tắc phân đôi thống nhất, trong nhận thức phải làm gì? Trongthực tiễn phải làm chi ? Nhớ là lý luận như thế nào thì phương pháp phải làm rõ điều đó

- Đảng CSVN vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào quá trình xây dựng nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN ở VN: đầu tiên ta thấy nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở

VN bản thân nó là 1 mâu thuẫn, mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường với định hướng XHCN, kinh

tế thị trường vận hành theo cơ chề thị trường do các quy luật khách quan tự phát chi phối và kếtquả nó thường phân hóa dữ dội đưa đến sự giàu nghèo, bất bình đẳng, bất công trong xã hội,xung đột tranh chấp giữa các tầng lớp người, nhưng định hướng XHCN là có sự dắt dẫn của nhànước XHCN lèo lái hướng đến sự công bằng, hướng đến sự bình đẳng, hướng đến lợi ích củađông đảo quần chúng nhân dân lao động…Vì vậy nếu ta giải quyết không đúng mâu thuẫn nàythì chúng ta sẽ dẫn đến tình trạng: khi chúng ta quá đề cao định hướng XHCN, quá đề cao sựcông bằng, bình đẳng chúng ta sẽ làm mất đi động lực phát triển kinh tế, các anh chị phá sâu vàokinh tế hoặc là ta quá chú ý đến lợi ích kinh tế, đến sự phát triển kinh tế chúng ta sẽ làm cho sựcông bằng bình đẳng, định hướng XHCN nó mờ nhạt đi, nhiều lúc chúng ta vì phát triển kinh tế

mà chúng ta quên đi sự công bằng, bình đẳng trong XH, đó là một việc bất hợp lý cần phải giảiquyết mâu thuẫn đó Rồi mâu thuẫn gì nữa? mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế, mâu thuẫncủa mặt trái và mặt phải của nền kinh tế thị trường, mâu thuẫn giữa phát triển văn hóa và pháttriển kinh tế … là rõ ra và Đảng ta đã nhận thức được những mâu thuẫn đó và có biện pháp để xử

lý nó VD: khi đưa ra đường lối chính sách kinh tế chúng ta phải tính đến sự công bằng, tính đến

sự bình đẳng, bình đẳng ở khâu nào? Lập kế hoạch lập ra đường lối chiến lược đền khâu thựchiện và giám sát thực thi những kế hoạch đó, phải đảm bảo kinh tế phải phát triển và XH phảicông bằng

Trả lời của nhóm:

PHẦN 1: PHÂN TÍCH CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ YÊU CẦU PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA NGUYÊN TẮC PHÂN TÍCH MÂU THUẪN (PHÂN ĐÔI CÁI THỐNG NHẤT)

10.1.1 Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

Mặt đối lập: Sự vật là một tập hợp các yếu tố (thuộc tính) tương tác với nhau và với môi trường.

Sự tương tác này lam cho các yếu tố tạo nên bản chất sự vật có một sự biến đổi nhất định, trong

đó có vài yếu tố (biến đổi) trái ngược nhau Những yếu tố trái ngược nhau (bên cạnh những yếu

tố khác hay giống nhau) tạo nên cơ sở của các mặt đối lập trong sự vật Mặt đối lập tồn tại kháchquan và phổ biến

Thống nhất của các mặt đối lập là các mặt đối lập khẳng định nhau, nương tựa vào nhau, thâm

nhập lẫn nhau, tồn tại không tách rời nhau (mặt đối lập này lấy mặt đối lập kia làm điều kiện,tiền đề cho sự tồn tại của mình); là các mặt đối lập đồng nhất nhau, tức trong chúng chứa nhữngyếu tố giống nhau cho phép chúng đồng tồn tại trong sự vật; là các mặt đối lập tác động ngangnhau, tức sự thay đổi trong mặt đối lập này tất yếu sẽ kéo theo sự thay đổi trong mặt đối lập kia

và ngược lại

Đấu tranh của các mặt đối lập: Dù tồn tại trong sự thống nhất, song các mặt đối lạp luôn đấu

tranh với nhau, tức chúng luông tác động qua lại theo xu hướng phủ định, bài trừ hay loại bỏ lẫn

Trang 28

nhau Hình thức và mức độ đấu tranh của các mặt đối lập rất đa dạng, trong đó thủ tiêu lẫn nhau

là một hình thức đấu tranh đặc biệt của các mặt đối lập

Chuyển hóa của các mặt đối lập (giải quyết mâu thuẫn biện chứng): Sự thống nhất mang tính

tương đối gắn liền với sự ổn định của sự vật; Sự đấu tranh mang tính tuyệt đối gắn liền với sựvận động, thay đổi của bản thân sự vật Mâu thuẫn biện chứng phát triển tương ứng với quá trìnhthống nhất các mặt đối lập chuyển từ mức độ trừu tượng sang cụ thể; còn sự đấu tranh các mặtđối lập chuyển từ mức bình lặng sang quyết liệt Điều này làm xuất hiện các khả năng chuyểnhóa của các mặt đối lập Khi điều kiện khách quan hội đủ, một trong các khả năng đó sẽ biếnthành hiện thực, các mặt đối lập tự thực hiện quá trình chuyển hóa Mâu thuẫn biện chứng sẽđược giải quyết khi các mặt đối lập tự phủ định chính mình để biến thành cái khác Có haiphương thức chuyển hóa:

· Một là, mặt đối lập này chuyển hóa thành mặt đối lập kia ở một trình độ mới

· Hai là, cả hai mặt đối lập cùng chuyển hóa thành những cái thứ ba nào đó màquy luật khách quan và điều kiện, tình hình cho phép

Mâu thuẫn biện chứng, tức sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, tồn tại khách quan,

phổ biến và rất đa dạng (mâu thuẫn bên trong – mâu thuẫn bên ngoài; mâu thuẫn cơ bản – mâuthuẫn không cơ bản; mâu thuẫn chủ yếu – mâu thuẫn thứ yếu; mâu thuẫn trong tự nhiên – mâuthuẫn trong xã hội – mâu thuẫn trong tư duy;… Các mâu thuẫn khác nhau có vai trò không giốngnhau đối với sự vận động, phát triển của bản thân sự vật) Sự tác động của mâu thuẫn biện chứnglên bản thân sự vật là nguồn gốc, động lực của mọi sự tự vận động, phát triển xảy ra trong thếgiới

Bốn luận điểm của nội dung quy luật:

● Mọi sự vật đều liên hệ lẫn nhau và luôn vận động, phát triển; Vận động, phát triển do cácmâu thuẫn gây ra; Các mâu thuẫn biện chứng khác nhau tác động không giống nhau đếnquá trình vận động và phát triển của sự vật

● Mỗi mâu thuẫn biện chứng đều trải qua ba giai đoạn: sinh thành (sự xuất hiện của cácmặt đối lập) – hiện hữu (sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập) – giải quyết (sựchuyển hóa của các mặt đối lập)

● Mâu thuẫn biện chứng được giải quyết, cái cũ mất đi, cái mới ra đời với những mâuthuẫn biện chứng mới hay thay đổi vai trò tác động của các mâu thuẫn biện chứng cũ

● Mâu thuẫn biện chứng là nguồn gốc của mọi sự vận động và phát triển Vận động và pháttriển xảy ra trong thế giới vật chất mang tính tự thân

Qúa trình diễn biến của mâu thuẫn được mô hình hóa như sau:

Hai mặt đối lập

_

Khác nhau→đối lập→xung đột→mâu thuẫn→đấu tranh→chuyển hóa

Nội dung: Bất cứ sự vật nào cũng có 2 mặt đối lập trong bản thân nó tạo thành một mâu thuẫnbiện chứng Qúa trình phát triển của một mâu thuẫn là quá trình các mặt đối lập tương tác lẫnnhau và trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau: Khi mới hình thành mâu thuẫn thể hiện

Trang 29

chỉ là sự khác nhau của 2 mặt, sau đó chúng đối lập, xung đột, mâu thuẫn và đấu tranh với nhau,nếu có điều kiện 2 mặt đối lập sẽ chuyển hóa lẫn nhau Mâu thuẫn được giải quyết, sự thống nhấtcủa các mặt đối lập cũ bị phá vỡ, để hình thành sự thống nhất của các mặt đối lập mới Mâuthuẫn lại được hình thành và phát triển làm cho sự vận động và phát triển không ngừng.

10.1.2 Phân loại mâu thuẫn

Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài

a Mâu thuẫn bên trong: là mâu thuẫn thể hiện sự tác động qua lại các mặt đối lập trong lòng sựvật, là sự quy định sự tồn tại của sự vật VD: sự sống = đồng hóa- dị hóa; xã hội tư bản = vô sản-

tư bản

b Mâu thuẫn bên ngoài: là mâu thuẫn giữa các sự vật, biểu hiện quan hệ, liên hệ giữa các sự vật

→Quan hệ giữa 2 loại mâu thuẫn: Cơ sở để phân loại mâu thuẫn này là theo phạm vi, cho nêncác loại mâu thuẫn này chỉ là tương đối

Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản

a Mâu thuẫn cơ bản: là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sự phát triển tất cảcác giai đoạn của sự vật, tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của sự vật Mâu thuẫn này thay đổithì sự vật thì sự vật cũng chuyển hóa Trong một sự vật có thể tìm tại nhiều mâu thuẫn không cơbản

b Mâu thuẫn không cơ bản: là mâu thuẫn đặc trưng cho sự vật về một phương diện nào đókhông quy định bản chất của sự vật Trong đó một sự vật có thể tồn tại nhiều mâu thuẫn

→Quan hệ giữa 2 loại mâu thuẫn: Muốn nhận thức đúng bản chất sự vật thì phải căn cứ vào mâuthuẫn cơ bản

Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu

a Mâu thuẫn chủ yếu: là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu trong 1 giai đoạn phát triển của sự vật, nóchi phối các mâu thuẫn khác trong cùng giai đoạn Trong cùng một giai đoạn có thể có nhiềumâu thuẫn chủ yếu, những mâu thuẫn này có thể là một trong những mâu thuẫn trên

b Mâu thuẫn thứ yếu: là mâu thuẫn ra đời cùng mâu thuẫn chủ yếu, nhưng không có vai tròquyết định những mâu thuẫn khác, chỉ góp phần giải quyết mâu thuẫn chủ yếu

→Quan hệ giữa 2 mâu thuẫn: Hai mâu thuẫn này có thể chuyên hóa, cho nên không tuyệt đốihóa một mâu thuẫn nào

Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng

a Mâu thuẫn đối kháng;là mâu thuẫn mà lợi ích cơ bản của các giai cấp, các tầng lớp đối lập vớinhau VD: nông dân với địa chủ, vô sản với tư sản

b Mâu thuẫn không đối kháng:là mâu thuẫn mà lợi ích cơ bản của các giai cấp, các tầng lớpthống nhất với nhau VD: nông dân với công nhân, tiểu tư sản với tư sản

Trang 30

→Quan hệ giữa 2 mâu thuẫn: Mâu thuẫn này chỉ có trong xã hội, giải quyết mâu thuẫn đối khángphải bằng đấu tranh giai cấp, còn mâu thuẫn không đối kháng giải quyết bằng tương trợ cùngphát triển.

10.1.3 Sự phân đôi cái thống nhất và nhận thức các bộ phận mâu thuẫn của nó

Mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên và xã hội đều là một thể thống nhất của các mặt,các khuynh hướng, các bộ phận chúng vừa liên hệ, ràng buộc vừa bàì trừ, phủ định lẫn nhau Do

đó sự nhận thức toàn diện, sâu sắc về sự vật, hiện tượng không thể nào có được nếu không phânchia thể thống nhất ấy thành các mặt, các bộ phận và nghiên cứu chúng một cách tỉ mỉ Mỗi mặtđược nghiên cứu một cách sâu sắc, từ mặt này đến mặt kia, mặt này được tạm thời trừu tượnghóa khỏi mặt kia Phân chia thể thống nhất ấy thành từng mặt, từng bộ phận, và nghiên cứuchúng dưới dạng thuần túy, trong sự tách rời tạm thời giữa chúng là khả năng, là điều kiện duynhất đầu tiên để tư duy nhận thức đi sâu, xâm nhập vào bên trong cái kết cấu của sự vật và pháthiện ra các mối liên hệ, các quá trình nội tại của chúng Ở đây cần phân biệt “sự phân đôi” nhưcái vốn có của quá trình phát triển của tự nhiên, của xã hội và tư duy, là phép biện chứng kháchquan, và “sự phân chia” với tính cách là một thao tác của tư duy biện chứng - là “phép biệnchứng chủ quan” Sự phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy được thực hiện bằngcách phân chia cái thống nhất thành các mặt, các bộ phận mâu thuẫn với nhau Khi sự triển khaicủa các mặt đối lập đã đạt đến một giai đoạn nhất định thì mâu thuẫn được giải quyết và sự vậtchuyển sang một trạng thái mới về chất Chính vì thế mà Mác, Ăngghen mới khẳng định rằngcác sự vật, hiện tượng “phát triển trong mâu thuẫn và bằng mâu thuẫn” xem đó như là bản chấtcủa sự vận động, sự phát triển biện chứng Mác viết: “Tình trạng cùng tồn tại của hai mặt mâuthuẫn nhau, sự đấu tranh của chúng, sự dung hợp của chúng thành một phạm trù mới- là bản chất

cả sự vận động biện chứng”

Lênin cũng đã phân biệt hai quan điểm về sự phát triển Đối với quan điểm siêu hình, phát triểnchỉ là sự tăng giảm về lượng, lặp lại Còn đối với quan điểm biện chứng thì phát triển là “sự phânđôi các thống nhất thành những mặt đối lập bài trừ lẫn nhau…”

Còn “sự phân đôi cái thống nhất và nhận thức các bộ phận của nó” mà chúng ta bàn ở đay làthuộc về nhận thức luận, là một nguyên tắc của phương pháp nhận thức biện chứng Nó là “hìnhảnh chủ quan” do đó phải phù hợp với nội dung khách quan mà nó phản ánh Sự “phân đôi” cóthể được thực hiện một cách biện chứng, khoa học mà cũng có thể là ngụy biện, phản khoa học,tùy thuộc vào việc nó có phản ánh đúng đắn sự thật khách quan, phản ánh sự vật đúng như nó

Trang 31

đang tồn tại, đang phát triển trong thực tế, hay đó chỉ là sự gán ghép, xuyên tạc, bịa đặt vì mộtmục đích nào đó.

Một trong những biểu hiện cuản thuật ngụy biện là phân đôi cái thống nhất thành các bộ phậnđối lập một cách chủ quan, tùy tiện không đúng với hiện thực, dẫn đến tạo ra mâu thuẫn mộtcách hư câu, chủ quan có hại cho nhận thức và cho thực tiễn Biểu hiện khác của thuật ngụy biện

là chỉ nhìn thấy ở bất kỳ mâu thuẫn nào cũng có hai mặt: tốt và xấu, tích cực và tiêu cực, tiến bộ

và lạc hậu Thay vì phân tích một cách cụ thể tính chất, đặc điểm, vai trò của mỗi mặt (ở đâychúng ta nhận thấy rằng bất cứ mặt nào trong hai bộ phận đối lập tạo nên thể thống nhất cũngđều chứa đựng cái mới, cái tiến bộ, cái tích cực nhưng đồng thời cũng có yếu tố lạc hậu, lỗi thời,tiêu cực, tất nhiên là những yếu tố đó ở hai mặt không ngang nhau), những người sử dụng thuậtngụy biện chỉ đơn giản là gán ghép tính chất tích cực, tiến bộ cho một mặt và tính chất tiêu cực,lạc hậu cho mặt kia và trên cơ sở đó họ đặt ra nhiêm vụ xóa bỏ mặt xấu, mặt tiêu cực và giữ lạimặt tốt, mặt tích cực Về điểm này chúng ta cũng cần nhớ lại câu nói của Mác trong khi phê pháncách nhìn nhận ấu trĩ đó của Pruđông: “Kẻ nào tự đặt cho mình thủ tiêu mặt xấu thì lập tức đãchấm dứt ngay sự vận động biện chứng rồi”

Như vậy “phân đôi cái thống nhất và nhận thức các bộ phận mẫu thuẫn của nó” đòi hỏi khôngnhững phải phân đôi một cách đúng đắn, phù hợp với thực tế khách quan mà còn phải nhận thứccác bộ phận đối lập ấy một cách chính xác, khoa học bằng cách phân tích một cách khách quancác tính chất, đặc điểm, xu hướng vận động, vai trò của mỗi mặt tạo nên cái toàn vẹn đó

PHẦN 2: ĐẢNG CSVN ĐANG VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC NÀY NHƯ THẾ NÀO VÀO QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

10.2.1 Những mâu thuẫn trong quá trình xây dựng và phát triển nền KTTT định hướng XHCN ởViệt Nam

Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mâu thuẫn cơ bản trong quá trình xây dựng nền KTTT định hướng XHCN.

Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hànhtheo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thì vấn đề lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất là một vấn đề hết sức phức tạp Xét tiên phương diện triết học, thì lực lượng sản xuất là nộidung, còn quan hệ sản xuất là hình thức, lực lượng sản xuất là yếu tố động, luôn luôn thay đổi,

và là yếu tố quyết định quan hệ sản xuất Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhấtđịnh thì quan hệ sản xuất lúc này tỏ ra không còn phù hợp nữa và trở thành yếu tố kìm hãm Để

Trang 32

mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển thì cần thay đổi quan hệ sản xuất cũ đã lỗi thời, lạchậu bằng quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn phù hợp với lực lượng sản xuất.

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ biện chứng với nhau, nó là thước

đo để đánh giá sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Ở Việt Nam, mặc dù Nhà nước đã có rấtnhiều chính sách để cân đối sao cho lực lượng sản xuất - quan hệ sản xuất phát triển song songđồng bộ Nhưng thực tế cho thấy, khi bắt tay vào xây dựng và phát triển nền KTTT thì lực lượngsản xuất luôn tỏ ra mâu thuẫn với quan hệ sản xuất

Tính cạnh tranh và năng động là một trong những điểm cơ bản của nền KTTT, thì ngượclại chúng ta lại chậm tháo gỡ các vưỡng mắc về cơ chế, chính sách để tạo động lực và điều kiệncho doanh nghiệp Nhà nước nâng cao hiệu quả hoạt động, phát huy vai trò chủ đạo trong nềnkinh tế quốc dân Việc thí điểm cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước còn chậm chạp Chưa quantâm tổng kết thực tiễn, kịp thời chỉ ra phương hướng, biện pháp đổi mới kinh tế hợp tác, để hợptác xã nhiều nơi tan rã hoặc chỉ còn là hình thức, cản trở sản xuất phát triển, chưa kịp thời đúckết kinh nghiệm, giúp đỡ các hình thức kinh tế hợp tác với phát triển Chưa giải quyết tốt một sốchính sách để khuyến khích kinh tế tư nhân phát huy tiềm năng, đồng thời chưa quản lý tốt thànhphần kinh tế này Quản lý kinh tế hợp tác liên doanh với nước ngoài còn nhiều sơ hở, kinh tế vĩ

mô còn những yếu tố thiếu vững chắc Công tác tài chính, ngân hàng, giá cả, kế hoạch hoá quyhoạch xây dựng, quản lý đấtđai còn yếu kém, thủ tục đổi mới hành chính còn chậm Thươngnghiệp Nhà nước bỏ trống một số trận địa quan trọng, chưa phát huy tốt vai trò chủ đạo trên thịtrường Quản lý xuất nhập khẩu còn nhiều sơ hở, tiêu cực, một số trường hợp gây ra tác độngxấu với sản xuất Chế độ phân phối thu nhập còn bất hợp lý, bội chi ngân sách và nhập siêu cònlớn Đó là một số hạn chế của quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất vàđiều đó làm cho quá trình phát triển kinh tế của ta gặp nhiều khó khăn

Một trong những vấn đề bức xúc đối với chúng ta hiện nay đó là việc làm, tình trạng thấtnghiệp là một biểu hiện rõ ràng để chứng tỏ được rằng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất có mất sự cân đối

Khi quan hệ sản xuất phù hợp, nó không những giải phóng được sức sản xuất mà còn tạotiền đề để thúc đẩy bước phát triển của lực lượng sản xuất Vì vậy vấn đề cần đặt ra là làm thếnào để giải quyết được mâu thuẫn này

Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã và đang từng bước khắc phục những khó khăn kể trên.Cần đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính sách vàthủ tục hành chính để huy động tối đa nguồn lực, tạo sức bật mới cho phát triển sản xuất, kinhdoanh của mọi thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu khác nhau Mọi doanh nghiệp, mọicông dân được đầu tư kinh doanh theo hình thức do luật định và được pháp luật bảo vệ Mọi tổchức kinh doanh theo các hình thức sở hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều được khuyến

Trang 33

khích phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, đôi bên cùng có lợi, là một bộ phận cấuthành quan trọng của nền KTTT định hướng XHCN Phát triển mạnh các doanh nghiệp nhỏ vàvừa, từng bước hình thành tập đoàn kinh tế mạnh.

Tiếp tục đổi mới và phát triển KTNN để thực hiện tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.Phát triển doanh nghiệp Nhà nước trong những sản xuất và dịch vụ quan trọng: xây dựng cáctổng Công ty Nhà nước đủ mạnh để làm nòng cốt trong những tập đoàn kinh tế lớn, có năng lựccạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế

Đổi mới cơ chế quản lý, phân biệt quyền của chủ sở hữu và quyền kinh doanh của doanhnghiệp Chuyển các doanh nghiệp Nhà nước sang hoạt động theo cơ chế Công ty TNHH hoặcCông ty cổ phần Bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm đầy đủ trong sản xuất, kinhdoanh của các doanh nghiệp, cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật xoá bỏ bao cấp của Nhà nướcđối với doanh nghiệp

Thực hiện chủ trương cổ phần hoá những doanh nghiệp mà Nhà nước không nắm giữ100% vốn để huy động thêm vốn, tạo động lực và cơ chế quản lý năng động thúc đẩy doanhnghiệp có hiệu quả

Phát triển kinh tế tập thể với các hình thức hợp tác đa dạng phát triển hợp tác xã kinhdoanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tạo điều kiện mởrộng quy mô sản xuất, kinh doanh phù hợp với nền KTTT

Hình thành đồng bộ và tiếp tục phát triển hoàn thiện các loại thị trường đi đôi với việc xâydựng khuôn khổ pháp lý thể chế, để thị trường hoạt động năng động, có hiệu quả, có trật tự kỷcương trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai minh bạch, hạn chế và kiểm soát độcquyền kinh doanh

Phát triển thị trường vốn và tiền tệ, tổ chức và vận hành an toàn hiệu quả thị trường chứngkhoán, thị trường bảo hiểm Hình thành và phát triển thị trường bất động sản, thị trường laođộng Tạo điều kiện công ăn việc làm cho người dân từ đó nâng cao đời sống xã hội

Và việc cuối cùng là việc đổi mới chế độ sở hữu, đó là mấu chốt quan trọng nhất trong việccân bằng mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Hiện nay ở nước ta, một số hình thức sở hữu đã được hình thành một số hình thức khácđang được khôi phục hoặc mới bắt đầu hình thành chế độ nhiều hình thức sở hữu trong nền kinh

tế là hoàn toàn có cơ sở khách quan Đó là những thay đổi diễn ra trong suốt quá trình phát triểnkinh tế Trình độ lực lượng sản xuất và xã hội hoá sản xuất trong các khu vực kinh tế quốc doanhkhông giống nhau Có những khoảng cách đáng kể trong phát triển kinh tế ở các xí nghiệp, cácngành, các vùng khác nhau Chính vì vậy mà cần điều chỉnh lại cơ cấu quan hệ sản xuất

Trong việc đổi mới các quan hệ sở hữu, xác lập nhiều hình thức sở hữu cần phải xem xét,đánh giá đúng, tăng cường vai trò chủ đạo của các hình thức sở hữu Nhà nước, bằng cách cải tổ

Trang 34

khu vực này: những xí nghiệp nào cần được duy trì, những xí nghiệp nào cần được giải thể vàviệc giải thể sẽ ra sao, là những vấn đề hết sức phức tạp Chính vì thế trong quá trình phát triểnKTTT theo định hướng XHCN càng đòi hỏi phải có sự điều hành hợp lý của Nhà nước.

Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích xã hội.

Trong hoạt động kinh tế, lợi ích là mục tiêu hàng đầu, vì vậy để thực hiện tăng trưởng kinh

tế cần phải coi trọng mọi lợi ích: lợi ích cá nhân, lợi tích tập thể và lợi ích xã hội Trong nềnKTTT, mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội chẳng những không bị mất đi mà còn cónhững diễn biễn phức tạp hơn Trước hết là phải nói đến ưu điểm của nền KTTT, nó tạo điềukiện cho mọi cá nhân phát huy năng lực, trí tuệ, thị trường được tạo ra là một thị trường tự do, tự

do giao dịch KTTT có sự quản lý của Nhà nước, một mặt nó đảm bảo tính ổn định của thịtrường, mặt khác nó lại tạo điều kiện tốt cho hoạt động tham nhũng, buôn lậu của một số ngườilạm dụng chức trách của mình Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội nếu không đượcgiải quyết đúng đắn sẽ biểu hiện thành những hiện tượng bất công bằng xã hội Trong mối quan

hệ này, nếu lợi ích cá nhân bị vi phạm thì xã hội sẽ mất đi một động lực to lớn của sự phát triển

xã hội Còn ngược lại, nếu cá nhân có lợi, nhưng lợi ích xã hội bị vi phạm, thì nạn nhân của sựbất công lại là cộng đồng xã hội

Ví dụ: Vì lợi ích cá nhân mà trong hoạt động sản xuất kinh doanh, người ta có thể phá hoạimôi trường sống, có thể làm những việc phi pháp, phi đạo đức, phi nhân tính, để có lợi cho bảnthân, làm thất thoát tài sản của Nhà nước Trong trường hợp này hậu quả do cá nhân đó tạo ralàm ảnh hưởng đến cộng đồng xã hội

Chúng ta cần phân biệt lợi ích chính đáng với lợi ích ích kỷ cá nhân Lợi ích chính đángcủa cá nhân là động lực phát triển của xã hội, là cái mà xã hội phải tôn trọng và phát huy, còn lợiích ích kỷ của cá nhân là nguồn gốc của chủ nghĩa cá nhân, là nguyên nhân đến sự thoái hoá,biến chất, trộm cắp, tham nhũng của một số cá nhân trong bộ máy của Nhà nước Nếu xã hộikhông có những biện pháp tích cực và có hiệu quả thì những tệ nạn này chẳng những khônggiảm đi, mà trái lại càng gia tăng, vì cùng với sự phát triển kinh tế, của cải xã hội, phúc lợi tậpthể sẽ tăng lên và những thứ này lại được giao cho cá nhân trực tiếp quản lý

Thực tế cho thấy rằng ở Việt Nam, trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa thì tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị,đạo đức và lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ Đảng viên là rất nghiêm trọng Sở dĩ cótình trạng trên là do nguyên nhân chủ quan trong quá trình thực hiện đường lối của Đảng:

Việc tổ chức thực hiện Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng chưa tốt, kỷ luật, kỷcương chưa nghiêm Tình trạng tuỳ tiện, thiếu ý thức tổ chức, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm,không chấp hành chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước, vi phạm

Trang 35

nguyên tắc tập trung dân chủ, làm cho đường lối của Đảng khó đi vào cuộc sống Công tác chỉđạo, điều hành ở các cấp, các ngành còn bất cập, thiếu kiểm tra, đôn đốc và chưa có sự phối hợpchặt chẽ, hiệu lực và hiệu quả chưa cao Nhiều cán bộ, Đảng viên vi phạm pháp luật và Điều lệcủa Đảng còn chưa được xử lý thật kiên quyết.

Một số quan điểm, chủ trương chưa rõ, chưa có sự nhận thức thống nhất và chưa đượcthông suốt ở các cấp, các ngành Cải cách hành chính tiến hành chậm, thiếu kiên quyết, hiệu quảthấp Tổ chức bộ máy Nhà nước còn cồng kềnh, trùng lặp chức năng với nhiều tầng nấc trunggian và những thủ tục hành chính phiền hà, không ít trường hợp trên và dưới, trung ương và địaphương hành động không thống nhất, gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế xã hội và là giảmđộng lực phát triển Một số người và cơquan do lợi ích cá nhân, cục bộ không muốn đẩy mạnhcải cách hành chính, cải cách tổ chức bộ máy Nhà nước

Trên đây là những tiêu cực của một số cá nhân có chức quyền và lạm dụng nó để tiến hànhmưu lợi riêng cho mình, gây tổn thất nặng nề cho nền kinh tế quốc dân Còn đối với các chủ thểsản xuất kinh doanh bất chấp pháp luật để chạy theo lợi nhuận Hiện tượng làm hành giả, hànglậu vẫn tiếp tục phát triển làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm

Như vậy, chính mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội nảy sinh trong nền kinh tếthị trường, càng cho thấy rõ được tầm quan trọng trong vai trò quản lý của Nhà nước đối với việcphát triển kinh tế Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những tiêu cực trong xã hội đó là sự quản lýyếu kém, không đồng bộ của Nhà nước Chính vì vậy mà trong Nghị quyết Trung ương Đảng lầnthứ IX, chủ trương chỉnh đốn Đảng, tạo ra sự thống nhất về quan điểm, ý chí và hành động trongtoàn Đảng, lãnh đạo tổ chức thực hiện, xây dựng và kiện toàn bộ máy Nhà nước trong sạch, vữngmạnh Cần nhận thức rằng: "Đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của

sự nghiệp đổi mới"

Mâu thuẫn giữa KTTT và mục tiêu xây dựng con người XHCN.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng "muốn xây dựng CNXH trước hết phải có con ngườiXHCN Yếu tố con người giữ vai trò cực kỳ là quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, bởi conngười là chủ thể của mọi sáng tạo, của mọi nguồn của cải vật chất và văn hoá Con người pháttriển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phung phí về tinh thần, trong sáng về đạo đức làđộng lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, là mục tiêu của CNXH Chúng ta phải bắt đầu từcon người làm điểm xuất phát

Đất nước bước vào thời kỳ đổi mới Nền kinh tế chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu, baocấp sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN Cơ chế thị trường đã tác động mạnh mẽ tớiđời sống xã hội trên tất cả các lĩnh vực

Trang 36

KTTT là môi trường kinh tế thuận lợi cho việc xác lập, địa vị chủ thể của cá nhân, phát huynăng lực cá nhân, hình thành tính tích cực tự giác của cá nhân người lao động, giải phỏng cánhân hoạt động kinh tế khôi phục thuộc vào kế hoạch độc đoán, lôi cuốn họ vào thị trường traođổi và trở thành chủ thể của sự vận hành kinh tế KTTT đòi hỏi mọi người phải quan tâm đến giátrị của sản phẩm lao động tức là phải quan tâm đến hiệu quả kinh tế trong nhận thức và hoạtđộng của con người Nếu như trước đây chúng ta quá nhấn mạnh đến giá trị tinh thần mà xemnhẹ lợi ích vật chất, không quan tâm đến lợi ích cá nhân, thì giờ đây cơ chế thị trường đòi hỏiphải nhìn nhận đúng mức lợi ích vật chất và lợi ích cá nhân là động lực của sản xuất KTTT làmbiến đổi những chuẩn mực đánh giá năng lực và phẩm chất con người, cũng như những địnhhướng giá trị xã hội.

Bản chất của KTTT là cạnh tranh, năng động và sáng tạo không ngừng Nó đòi hỏi mỗingười phải nỗ lực, độc lập và sáng tạo trong hoạt động của mình để có thể vượt lên thực tại,đứng vững và khẳng định mình trong thử thách KTTT là một loại hình kinh tế mà trong đó cácmối quan hệ kinh tế giữa con người với con người được biểu hiện thông qua thị trường, tức làthông qua việc mua bán, trao đổi hàng hoá tiền tệ trên thị trường Trong KTTT, các quan hệ hànghoá tiền tệ phát triển, mở rộng, bao quát trên mọi lĩnh vực, có ý nghĩa phổ biến đối với người sảnxuất và tiêu dùng KTTT phản ánh đầy đủ trình độ văn mình và phát triển xã hội, là nhân tố pháttriển sức sản xuất, tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xã hội tiến lên Tuy nhiên, KTTT cũng có nhữngkhuyết tật như: sự cạnh tranh lạnh lùng, tính tự phát mù quáng dẫn đến phá sản, thất nghiệp,khủng hoảng chu kỳ

Xuất phát từ sự phân tích trên đây, chúng ta đã thấy rằng đổi mới ở nước ta hiện nay,không thể xây dựng con người nếu thiếu yếu tố KTTT Do hậu quả của nhiều năm chiến tranh,nền kinh tế kém phát triển, mô hình kinh tế không còn phù hợp, nước ta đã bị tụt hậu nghiêmtrọng so với các nước trong khu vực và trên thế giới Trong bối cảnh đó, KTTT là điều kiện rấtquan trọng đưa nền kinh tế nước ta ra khỏi khủng hoảng và đi vào phục hồi, đẩy mạnh tốc độtăng trưởng, bắt kịp bước tiến của thời đại

Trong những năm qua, KTTT ở nước ta đã được nhân dân hưởng ứng rộng rãi, và đi vàocuộc sống rất nhanh chóng, làm cho nền kinh tế sôi động hơn Đây là kết quả đáng mừng và cầnđược phát huy, nó thể hiện sự vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của xã hội Quá trìnhbiện chứng đi lên CNXH từ khách quan đang trở thành nhận thức chủ quan trên quy mô toàn xãhội

Tuy nhiên, cần phải thấy rõ rằng, không phải cứ xây dựng được KTTT là nhữgn phẩm chấttốt đẹp của con người được hình thành KTTT luôn luôn tác động hai mặt Bên cạnh nhiều yếu tốtích cực, KTTT đang làm nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội Việc tuyệtđối hoá lợi ích cá nhân, chỉ chú trọng đến lợi ích vật chất mà chà đạp lên những giá trị tinh thần

Trang 37

truyền thống đang làm tha hoá và biến chất một lớp người trong xã hội KTTT làm cho conngười phụ thuộc vào vật (hàng hoá), tiền tệ, giá trị trao đổi và quan hệ trảo đổi hàng hoá Trongquan niệm của họ "tiền là điều kiện cao nhất" tâm lý sùng bái đồng tiền lan tràn trở thành thứ

"bái vật giáo tiền tệ" Tiền tệ là giá trị trao đổi ai có tiền là có quyền lực xã hội và dựa vào quyềnlực này mà chiếm đoạt tất cả những thứ mà người đó cần Họ quyết tâm làm giàu bằng bất cứ giánào, bằng mọi cách và bằng mọi con đường với đủ phương kế Đó là một nguyên nhân sinh racác tệ nạn xã hội như tham nhũng, buôn lậu, chiếm đoạt tài sản của Nhà nước và của công dân Tác động tự phát của cơ chế thị trường biểu hiện đa dạn, nhiều hình, nhiều vẻ, song nó tậptrung ở lối sống thực dụng không tình người Đồng tiền làm băng hoại đạo đức và chi phối ngay

cả những quan hệ vốn là thiêng liêng như quan hệ giữa cha mẹ với con cái, quan hệ vợ chồng,quan hệ thầy trò, thậm chí ngay cả trong tình yêu

Những phân tích trên đây cho thấy, KTTT và mục tiêu con người XHCN là một mâu thuẫnbiện chứng trong thực tiễn nước ta hiện nay Đây thực chất là 2 mặt đối lập của mâu thuẫn xãhội Giữa KTTT và quá trình xây dựng con người vừa có sự thống nhất, vừa có sự đấu tranh.KTTT vừa tạo ra những điều kiện để xây dựng và phát huy con người, vừa tạo ra những độc tố

để huỷ hoại hoặc con người

Việc giải quyết mâu thuẫn này là một việc không hề đơn giản Đối với nước ta, mâu thuẫngiữa KTTT và quá trình xây dựng con người được giải quyết bằng vai trò lãnh đạo của Đảng,bằng sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Đảng ta xác định "sản xuất hàng hoákhông đối lập với CNXH mà là thành tựu phát triển nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan,cần thiết cho công cuộc xây dựng XHCN và cả khi CNXH được xây dựng" Như vậy, Đảng vạch

rõ sự thống nhất giữa KTTT và mục tiêu xây dựng con người CNXH Việc áp dụng cơ chế thịtrường đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý tầm vĩ mô của Nhà nước, đồng thời xác nhận đầy

đủ chế độ tự chủ của các đơn vị sản xuất kinh doanh Thực hiện tốt vấn đề này sẽ phát huy đượcnhững tác động tích cực to lớn, cũng như ngăn ngừa hạn chế khắc phục những tiêu cực, khiếmkhuyết của nền KTTT Các hoạt động sản xuất kinh doanh phải hướng vào phục vụ công cuộcxây dựng nguồn lực con người cần phải tiến hành các hoạt động văn hoá, giáo dục nhằm loại bỏtâm lý sùng bái đồng tiền, bất chấp đạo lý, coi thường các giá trị nhân văn Phải ra sức phát huycác giá trị tinh thần nhân đạo, thẩm mỹ cácdi sản văn hoá nghệ thuật của dân tộc Đây chính làcông cụ, phương tiện quan trọng để tác động góp phần giải quyết những mâu thuẫn nêu trên

Mâu thuẫn giữa KTTT với việc thực hiện công bằng xã hội.

Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là những vấn đề gay cấn trong nền KTTT, đặcbiệt là thị trường tự do Quan niệm và giải quyết mối quan hệ này ở từng nước có khác nhau, tuỳtheo mô hình phát triển kinh tế, chế độ chính trị - xã hội, truyền thống văn hoá của nước đó

Trang 38

Nhìn chung, trong các nền KTTT ở các nước phương Tây các nhà lý luận chỉ đề cao cácnhân tố kinh tế và kỹ thuật của sự tăng trưởng mà không chú ý thoả đáng đến các nhân tố xã hội,nhân tố con người Họ ra sức chứng minh: tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là 2 mục tiêumâu thuẫn không thể dung hoà Nếu muốn tăng trưởng nhanh thì phải hy sinh công bằng xã hội.Còn nếu để cao công bằng xã hội thì không tăng trưởng được theo họ, bất bình đẳng xã hộikhông chỉ là kết quả của tăng trưởng kinh tế mà còn là nguyên nhân của sự tăng trưởng ấy.Đất nước ta đã trải qua hơn 15 năm đổi mới Việc phát triển nền KTTT đã có nhiều tácdụng tích cực đến mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế Song cơ chế thịtrường cũng tạo ra nhiều vấn đề tiêu cực trong xã hội, trong đó, công bằng xã hội là một trongnhững vấn đề gay cấn nhất Với cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung nền kinh tế và quan liêubao cấp đối với mọi hoạt động xã hội trước đây đã làm cho chúng ta tự bằng lòng với mình rằngchúng ta đã có CNXH, và đã lầm tưởng "chủ nghĩa bình quân" là công bằng xã hội, mà thựcchất, đó chỉ là sự cao bằng trong phân phối các sản phẩm xã hội Chúng ta đã nêu ra và thực hiệnnguyên tắc phân phối trong CNXH đó là nguyên tắc phân phối theo lao động và đó được coi lànguyên tắc duy nhất để thực hiện công bằng xã hội Như vậy, trước đây chúng ta mới chỉ giảiquyết được một phần quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ Sự cống hiến ở dây cũng được hiểumột cách phiến diện - cống hiến về mặt lao động và cũng chủ yếu ở trình độ cơ bắp.

Bước vào nền KTTT, cách hiểu và thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động một cáchđơn giản như vậy sẽ không còn phù hợp Vì khi điều kiện xã hội thay đổi thì những tiêu chí haynội dung cơ bản của công bằng xã hội cũng phải thay đổi theo Ở nước ta, vấn đề kết hợp tăngtrưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội đã được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm Xuất phát

từ quan niệm mới về CNXH, về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, tăngtrưởng kinh tế được coi là phương tiện cơ bản nhất để phát triển, bản thân nó là một tiêu chí của

sự tiến bộ xã hội Trong khi đó, công bằng xã hội là lý tưởng thúc giục chúng ta vươn tới Nếu đichệch hướng XHCN thì tăng trưởng kinh tế khó có thể song hành với công bằng xã hội Đảng tanhấn mạnh: "Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước

và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tưliệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người có cơ hộiphát triển và sử dụng tốt năng lực của mình"

Tuy nhiên, ở đây có vấn đề cần phải phân định rõ: phương thức tạo ra sự công bằng xã hộitrong từng bước tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam như thế nào? Chúng ta đang là một nước nghèo,đời sống nhân dân còn thấp, hậu quả chiến tranh lại rất nặng nề, số người thuộc diện "chínhsách", nhóm yếu thế khá lớn, đòi hỏi phải có các hình thức trợ cấp xã hội phù hợp, trong khi phảigiải quyết hợp lý chính sách tiền lương, nếu không thì hạn chế động lực của những người lao

Trang 39

động Thêm vào đó, chúng ta còn phải tính đến những yếu kém của kết cấu hạ tầng xã hội, tâm lý

ỷ lại vào sự bao cấp của Nhà nước trong nhân dân, vấn đề việc làm khó khăn

Thực tế những năm đổi mới đã chứng minh rằng, việc thực hiện tăng trưởng kinh tế gắnliền với tiến bộ, công bằng xã hội là chủ trương đúng Tăng trưởng kinh tế tạo cơ sở, điều kiệnthuận lợi cho phát triển xã hội, ngược lại, phát triển xã hội tạo ra động lực phát triển đất nước,trong đó trước hết là chủ yếu là phát triển kinh tế

Như vậy, công bằng xã hội là vấn đề rộng lớn, liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế, chínhtrị, văn hoá, xã hội Trong thời gian đó, ở nước ta, để tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ,công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, vai trò của Nhà nước phải được tăng cườngtrên các mặt

Thứ nhất: Nhà nước phải tạo ra môi trường, điều kiện cho phát triển sản xuất thu hút laođộng, giải quyết việc làm

Thứ hai: Nhà nước cần tưng cường đầu tư cho giáo dục - đào tạo, dạy nghề, nhất là ở cácvùng nông thôn, miền núi

Thứ ba: Nhà nước cần có chính sách bảo trợ xã hội đối với những người tàn tật, cô đơn,mất sức lao động Một xã hội công bằng, văn minh là xã hội có nền kinh tế phát triển cao, conngười được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, được tự do, ấm no, hạnh phúc, làm theo năng lực,hưởng theo lao động, đồng thời, mọi người có sự quan tâm đến nhau Con người không chỉ làchủ thể của xã hội, của sự phát triển, mà còn là chủ thể của tương lai vì sự phát triển nhanh, bềnvững, vì sự tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường nhân tính và văn hoá

10.2.2 Những biện pháp khắc phục, hoàn thiện cơ chế KTTT theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay

Nước ta đã và đang đặt nền kinh tế vào quỹ đạo của nền KTTT và dang ở giai đoạn vậnhành cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN sao cho trôichảy thuận lợi để đưa sự nghiệp CNH - HĐH đi tới thành công Nghị quyết Đại hội Đại biểu lầnthứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: "Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế vớimục tiêu xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, hình thành tương đối đồng bộ cơ chế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN" Việt Nam sau những năm đổi mới

đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải tiếp tục có những biệnpháp nhằm hoàn thiện hơn nữa cơ chế kinh tế ở nước ta hiện nay

1 Tiếp tục đổi mới công tác kế hoạch hoá trên cơ sở tôn trọng và sử dụng các quy luật kinh

tế của thị trường (quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cạnhtranh) sự đổi mới cần được tiến hành trên nhiều bình diện: chức năng kế hoạch hoá, công nghệ

kế hoạch hoá, phương pháp quản lý, con người xây dựng kế hoạch v.v

Trang 40

2 Tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường theo định hướng XHCN:

- Hình thành thị trường lao động theo định hướng XHCN để chuyển đổi từ phương thứcphân bổ nguồn lực theo kế hoạch tập trung - pháp lệnh sang phương thức phân bổ thông qua thịtrường có sự quản lý của Nhà nước là một sự cải cách lớn trong thể chế kinh tế thị trườngXHCN

- Hình thành thị trường bất động sản theo định hướng XHCN là một hình thức để thực hiệnquyền sở hữu toàn dân về đất đai, về mặt kinh tế tức quan hệ chuyển nhượng có bồi thường chứkhông có sự chuyển dịch quyền sở hữu

- Hình thành thị trường chứng khoán

3 Tiếp tục đổi mới chính sách tài chính - tiền tệ theo hướng tăng cường sử dụng các quan

hệ gián tiếp, giảm sự can thiệp, và điều hành theo mệnh lệnh hành chính, điều hành, lãi suất, tỷgiá linh hoạt theo quan hệ cung cầu trên thị trường vốn

4 Tiếp ttục xây dựng một cơ cấu thị trường có nhiều chủ thể sản xuất kinh doanh hàng hoátham gia thuộc các thành phần kinh tế khác nhau

Thực hiện một chính sách thương mại trung tính tạo ra một sân chơi bằng phẳng cho mọidoanh nghiệp, cải cách các quy chế thương mại phù hợp với một nền kinh tế mở, hướng về xuấtkhẩu

5 Con người là nguyên nhân của mọi nguyên nhân Khẩn trương xây dựng một đội ngũ

nhân lực có đủ năng lực để vận hành cơ chế thị trường có hiệu quả đi đôi với việc nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế.

Câu 11 <Nhóm Nghiên cứu và Nhóm Chiến lược> Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phân tích lượng – chất Đảng CSVN đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay?

Gợi ý trả lời của thầy: Quy luật lượng chất cũng vậy, phân tích tương tự như các câu trên.

Trả lời của nhóm:

* Cơ sở lý luận

Nguyên tắc phân tích lượng- chất có cơ sở lý luận là quy luật “ Chuyển hóa từ sự thay đổi vềlượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại”, để nắm được quy luật này, trước hết ta cần nắmđược các khái niệm sau:

- Chất: phạm trù chỉ tính quy định vốn có của sự vật, đặc trưng cho sự vật là nó, giúp phânbiệt nó với sự vật khác

Ngày đăng: 24/09/2017, 16:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w