1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả tín dụng trung và dài hạn trong Ngân hàng TMCP

65 135 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 514,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hoạt động kinh doanh của NHTM, tín dụng trung hạn được hiểu làloại tín dụng có thời gian hoàn vốn từ 1 đến 5 năm, được sử dụng để thực hiệncác dự án đầu tư phát triển sản xuất, kin

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Ngân hàng thương mại là hệ thần kinh, trái tim của nền kinh tế, là dấu hiệu báohiệu trạng thái sức khoẻ của nền kinh tế Các ngân hàng mạnh, nền kinh tế mạnh.Ngược lại, các ngân hàng yếu, nền kinh tế sẽ yếu kém Thậm chí nếu ngân hàng đổ vỡnền kinh tế sẽ lâm vào khủng hoảng và sụp đổ

Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, ngân hàng thương mại thực sựđóng một vai trò rất quan trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu(dòng vốn) của nền kinh tế được lưu thông và có vậy mới góp phần bôi trơn chohoạt động của một nền kinh tế thị trường còn non yếu

Cùng với sự tăng trưởng và phát triển không ngừng của nền kinh tế, nhu cầuvốn đã và đang là một nhu cầu vô cùng cấp thiết cho việc xây dựng cơ sở hạtầng, trang thiết bị cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế Có vốn chúng ta mới

có thể thực hiện được công nghiệp hoá hiện đại hoá, mà đặc biệt là nguồn vốntrung dài hạn Trên nền tảng đó NHTM với tư cách là trung tâm tiền tệ- tín dụngcủa nền kinh tế đã đặt ra mục tiêu toàn ngành là: “ Tìm cách mở rộng và nângcao tỷ trọng các nguồn vốn trung- dài hạn nhằm đầu tư vào cơ sở vật chất kỹthuật, đổi mới công nghệ trực tiếp phục vụ cho việc mở rộng sản xuất và lưuthông hàng hoá”

Là một bộ phận trong hệ thống NHTM Việt Nam Chi nhánh Ngân hàng AnBình – PGD Trần Đăng Ninh đã chủ trương đẩy mạnh hoạt động tín dụng trung-dài hạn đối với các DN thuộc mọi thành phần kinh tế bên cạnh hoạt động tíndụng ngắn hạn truyền thống Trong những năm gần đây hoạt động tín dụngtrung- dài hạn của Phòng giao dịch đã đạt được kết quả đáng kể song còn không

ít những mặt hạn chế về quy mô cũng như chất lượng

Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của vấn đề trên em đã chọn

đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng trung - dài hạn tại PGD Trần Đăng Ninh -Ngân hàng An Bình”

Trang 2

Chuyên đề bao gồm 3 chương:

Chương 1: Tín dụng và hiệu quả tín dụng trung – dài hạn của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.

Chương 2: Thực trạng tín dụng trung - dài hạn tại PGD Trần Đăng Ninh Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng trung – dài hạn tại PDG Trần Đăng Ninh

Do thời gian tìm hiểu và khả năng trình độ còn hạn chế nên bài viết của

em còn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý nhận xét của các thầy

cô để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

NỘI DUNG

Chương 1 TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG TRUNG – DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1 Tín dụng trung – dài hạn của ngân hàng thương mại.

1.1.1 Khái niệm tín dụng trung – dài hạn

Trong nền kinh tế, nhu cầu tín dụng trung- dài hạn thường xuyên phát sinh,bởi các DN luôn phải tìm cách phát triển mở rộng sản xuất, đổi mới kỹ thuật, tinhọc Để củng cố và tăng cường sức cạnh tranh của DN trên thị trường Muốnlàm được điều này, đòi hỏi DN phải có một khối lượng vốn lớn với một thờigian dài Chính vì vậy, các DN thường tìm đến với các NHTM nhờ sự giúp đỡ

và các NHTM cho các DN vay khối lượng vốn lớn với thời gian dài bằng hìnhthức tín dụng trung- dài hạn

Trong hoạt động kinh doanh của NHTM, tín dụng trung hạn được hiểu làloại tín dụng có thời gian hoàn vốn từ 1 đến 5 năm, được sử dụng để thực hiệncác dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống Tín dụng

NH trung hạn được cấp cho khách hàng để mở rộng cải tạo, khôi phục, hoànthiện, hợp lý hoá quy trình công nghệ, quy trình sản xuất

Tín dụng NH dài hạn là loại tín dụng có thời gian hoàn vốn trên 5 năm,được sử dụng để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh,dịch vụ và đời sống Hình thức tín dụng này được NHTM cấp cho khách hàngnhằm hỗ trợ việc xây dựng mới, mở rộng hoặc hoàn thiện quy trình công nghệ,quy trình sản xuất

Đối với điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay, nhu cầu vốn trung-dàihạn rất lớn, trong khi các DN chưa có nhiều thời gian để tích luỹ vốn và chưa

Trang 4

tích luỹ được nhiều Đồng thời việc đầu tư trực tiếp của công chúng qua việcmua trái phiếu, cổ phiếu do các DN phát hành còn là một vấn đề rất hạn chế.Cho nên trong thực tiễn nhu cầu về vốn trung- dài hạn của các DN chủ yếuđược đáp ứng bởi vốn tự có cuả DN và đa phần còn lại bằng sự tài trợ của hệthống NHTM thông qua tín dụng trung- dài hạn

1.1.2 Các loại hình tín dụng trung – dài hạn.

Nghiệp vụ tín dụng trung – dài hạn của các ngân hàng trong những nămgần đây đã triển khai theo những hình thức sau:

- Cho vay theo dự án

Đây là hình thức cấp tín dụng dựa trên cơ sở dự án sau khi đã xem xétkhẳng định tính hiệu quả, tính khả thi của dự án đó Do vậy, công việc của NHkhông chỉ đơn thuần là cho vay mà còn thẩm định lại các vấn đề: Chi phí sảnxuất , giá thành thị trường tiêu thụ, quy trình công nghệ Bởi vì việc cấp quyếtđịnh một khoản tín dụng sẽ dàng buộc NH với người vay một khoảng thời gianquá dài 3 đến 5 năm hoặc 7 năm tuỳ theo từng dự án cho nên cần phải nghiêncứu một cách nghiêm túc và xem xét kỹ các rủi ro xảy ra Hình thức cho vaytheo dự án gồm:

+ Tín dụng hợp vốn (Cho vay đồng tài trợ):

Trong hoạt động thực tiễn của các NHTM trong lĩnh vực tín dụng, không ítcác trường hợp mức cho vay hoặc mức rủi ro mà bản thân một NH không thểđảm đương nổi, do đó dẫn đến sự liên kết phối hợp giữa các NH cùng tham giatài trợ cho một dự án

Cho vay đồng tài trợ là quá trình cho vay của một nhóm tổ chức tín dụngcho một dự án do một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phối hợp với các bên tàitrợ để thực hiện, nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả trong hoạt động sản xuấtkinh doanh của DN và tổ chức tín dụng Quan hệ tín dụng dưới hình thức đồng

Trang 5

Bên đồng tài trợ: Tối thiểu phải có từ hai NH thành viên trở lên, mỗi

NH thành viên là một tổ chức tín dụng hoặc nhiều khi cũng có thể là một chinhánh của một tổ chức tín dụng được uỷ quyền Các NH thành viên sẽ bàn bạccùng nhau chọn ra một tổ chức tín dụng làm đầu mối Nhìn chung, mọi quan hệ

về tín dụng giữa bên đồng tài trợ và bên nhận tài trợ đều được thực hiện thôngqua tổ chức tín dụng làm đầu mối

Bên nhận tài trợ: Thường là một pháp nhân hoặc cá nhân có

nhu cầu vay vốn đầu tư cho dự án

Trong các DN cổ phần khi có nhu cầu về vốn trung- dài hạn, DN có thể ratăng việc phát hành cổ phiếu, nhưng cũng có thể vay NH dưới hình thức tíndụng tuần hoàn, sau đó sử dụng phần lợi nhuận tính trả cho cổ đông để trả nợ,đồng thời tăng vốn góp của cổ đông lên

Thực chất đây là một hình thức cải biến cơ cấu tài chính của DN, chuyển

nợ vay NH thành vốn trung- dài hạn

DN vay vốn cũng có thể yêu cầu NH chuyển tín dụng tuần hoàn thành tíndụng trung- dài hạn và thậm chí có thể ra hạn kéo dài nhiều năm với điều kiện

có tài khoản đảm bảo cho khoản vay một cách chắc chắn Việc chuyển đổi này

Trang 6

thường được diễn ra vào cuối giai đoạn của hợp đồng và điều đó còn phụ thuộcvào mức độ thực hiện hợp đồng và tình hình tài chính của khách hàng vay vốn.

- Tín dụng thuê mua - dịch vụ thuê mua

Tín dụng cho thuê là một kiểu cho thuê tài sản để sử dụng chuyên môntheo hợp đồng Nếu trong hợp đồng có kèm theo lời hứa của người thuê sẽ bánlại tài sản này, chậm nhất là khi hợp đồng cho thuê theo giá thoả thuận trước thì

đó là thuê tài chính Nếu trong hợp đồng không kèm theo lời hứa thì đó gọi làthuê hoạt động hay thuê đơn giản Tài sản cho thuê bao gồm động sản và bấtđộng sản như nhà cửa máy móc, thiết bị văn phòng

+ Đối với NH - người cho thuê: Đa dạng hoá việc sử dụng vốn, mở

rộng dạng khách hàng, tăng thêm sản phẩm NH, giảm mức độ rủi ro so với cấptín dụng hoặc bảo lãnh Vì trong thời gian cho thuê, NH vẫn chỉ có quyền sởhữu pháp lý đối với thiết bị thuê nên NH có khả năng nhanh chóng chiếm lạithiết bị nếu người đi thuê không tuân thủ theo hợp đồng thuê Tín dụng thuêmua bảo đảm sử dụng đúng đắn số vốn tài trợ, tỷ lệ sử dụng vốn cao

0 + Đối với người đi thuê: Người đi thuê không phải bỏ ngay một số

tiền để mua sắm thiết bị nhưng vẫn có thiết bị sử dụng, có thể tiếp nhận được

công nghệ tiên tiến đồng thời hạn chế được sự lỗi thời nhanh chóng của thiết bị

Mô hình tín dụng dịch vụ thuê, mua có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển đấtnước, tạo điều kiện giúp đỡ các DN không đủ vốn nhưng vẫn có thể thuê đượcmáy móc, thiết bị hiện đại, thúc đẩy việc sản xuất kinh doanh, tăng năng suất vàchất lượng sản phẩm

- Nghiệp vụ đầu tư chứng khoán

Đây cũng là nghiệp vụ sinh lời của NHTM, trong nghiệp vụ này, NH đầu tưvào hai loại chứng khoán là chứng khoán Nhà nước và chứng khoán Công ty

Trang 7

1.1.3 Vai trò của tín dụng trung – dài hạn.

Tín dụng trung dài hạn là quan hệ tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng.Chứcnăng của ngân hàng là đem lại lợi ích cho cả người tiết kiệm và người đầu tư.Các bên tham gia vào quan hệ tín dụng trên cơ sở tự nguyện và cùng có lợi.Ngoài ra tham gia vào quan hệ này còn đem lại lợi ích cho chinh ngân hàng.Không chỉ có vậy ngân hàng và doanh nghiệp là hai chủ thể quan trọng hàngđầu trong nền kinh tế quốc dân, do đó việc nâng cao hiệu quả hoạt động của haichủ thể này góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế Hoạt động tíndụng trung dài hạn của ngân hàng như là công cụ để khai thác và động viên cóhiệu quả nhất lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư phục vụ cho quá trình tái sảnxuất xã hội, phù hợp với quá trình vận động của vốn

Trang 8

+ Tín dụng trung dài hạn tạo điều kiện cho việc ứng dụng tiến bộ khoahọc kỹ thuật: ngày nay khi mà khoa học kỹ thuật đã đạt được những thành tựurực rỡ, đặc biệt là những thành tựu trong những ngành khoa học ứng dụng đãtạo ra thời cơ cũng như thách thức đối với sự tồn tại và phát triển của một tổchức trên thị truờng Tuy việc ứng dụng này là rất cần thiết, song mọi doanhnghiệp đều gặp phải khó khăn đó là chi phí bỏ ra ban đầu lớn, bản thân vốn tự

có của doanh nghiệp lại có hạn Trong hoàn cảnh đó, tín dụng ngân hàng, đặcbiệt là tín dụng trung và dài hạn đã có những tác động hỗ trợ tích cực trong việcứng dụng khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất kinh doanh Từ đó doanhnghiệp không ngừng nâng cao được vị thế trên thị trường, hiệu quả của doanhnghiệp, qua đó nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM

+ Tín dụng trung dài hạn là nguồn tài trợ giúp doanh nghiệp có điềukiện mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường:

Bất cứ doanh nghiệp nào cũng muốn mở rộng sản xuất đi kèm theo đó

là mở rộng thị trường hoạt động của mình Mở rộng hoạt động sản xuất kinhdoanh không phải là hoạt động mà doanh nghiệp có thể tiến hành nhanh chóngmột sớm một chiều mà còn tuỳ thuộc vào rất nhiều yêu tố trong đó quan trọng làcần có nguồn vốn dài hạn Để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn đó, doanh nghiệp cóthể huy động vốn dưới nhiều hình thức như:

Tự tích lũy vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpmình Nguồn vốn này nó có ưu tiên là nó giúp doanh nghiệp giảm được chi phí,giảm bớt được sự phụ thuộc vào bên ngoài nhưng nó có hạn chế là doanhnghiệp không thể tích lũy một lượng vốn lớn trong một thời gian ngắn Hơn nữadoanh nghiệp chỉ có thể tích lũy khi doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu quả,

có lợi nhuận, có thể tiếp tục đầu tư

Phát hành cổ phiếu, trái phiếu: Doanh nghiệp có thể huy động được

Trang 9

phiếu hoặc trái phiếu Nếu doanh nghiệp phát hành cổ phiếu, các cổ đông cũphải phân chia quyền kiểm soát mới nếu các cổ đông cũ không mua hết lượng

cổ phiếu mới phát hành Nếu phát hành trái phiếu thì không phải doanh nghiệpnào cũng có thể bán trái phiếu trên thị trường được vì còn phụ thuộc vào nhiềuvấn đề khác như uy tín của doanh nghiệp trên thị trường Các nhà đầu tư chỉmua trái phiếu dài hạn của doanh nghiệp khi họ thực sự tin tưởng vào doanhnghiệp mà yếu tố này không phải doanh nghiệp muốn là có Hơn nữa khi pháthành cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp phải chịu chi phí giao dịch cao, chi phíphát hành, lệ phí bảo hiểm, lệ phí đăng kí Với lợi thế đặc thù, tín dụng trung dàihạn của ngân hàng được các doanh nghiệp ưa thích để bổ sung vốn cho quátrình sản xuất kinh doanh Đặc biệt đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay, nhucầu vốn xây dựng cơ bản là rất lớn trong khi các nhà kinh doanh chưa tích luỹđược nhiều, chưa có nhiều thời gian để tích luỹ vốn, tâm lí của công chúng chưamuốn đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp thì tín dụng trung dài hạn là mộtnguồn vốn quan trọng đối với doanh nghiệp nhằm cải tiến kỹ thuật mở rộng sảnxuất

+ Góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả:Trong thời hạn của khoản vay, ngân hàng thực hiện chức năng giám sát hoạtđộng sử dụng vốn với tư cách là chủ sở hữu vốn cho vay đối với các doanhnghiệp Ngân hàng căn cứ vào các nguyên tắc tín dụng, hướng các doanh nghiệp

sử dụng vốn đúng mục đích có hiệu quả, đôn đốc khách hàng vay vốn trả gốc vàlãi đúng thời hạn thoả thuận đã ký trong hợp đồng tín dụng Khác với vốn tự có

là không phải trả chi phí vốn, vốn vay ngân hàng phải chịu những điều kiệnràng buộc về lãi suất, thời hạn và mục đích sử dụng tiền vay nên các doanhnghiệp vay vốn phải có sự tính toán chi phí sản xuất hợp lý, tốc độ vòng quayvốn nhanh Để đảm bảo trả nợ ngân hàng đúng hạn và có lợi nhuận giữ lại Mặtkhác, trong quá trình kiểm tra giám sát sử dụng vốn vay, ngân hàng sẽ giúp

Trang 10

doanh nghiệp phát hiện những nhược điểm, sai sót từ đó có biện pháp khắc phụckịp thời nhằm hạn chế rủi ro có thể xảy ra đối với doanh nghiệp cũng như rủi roliên quan đối với ngân hàng thương mại Có thể nói rằng, tín dụng ngân hàng đãràng buộc trách nhiệm giữa người sở hữu và người sử dụng vốn, từ đó nâng caonăng lực quản lý vốn và quá trình sản xuất kinh doanh Đó chính là việc giúpcho nguồn vốn đầu tư đem lại hiệu quả cao

+ Tín dụng trung dài hạn là trợ thủ đắc lực của doanh nghiệp trongviệc thoả mãn và chớp cơ hội kinh doanh Nhiều doanh nghiệp khi có các dự ánđầu tư nhưng không có nguồn vốn để đáp ứng do lượng vốn cần đầu tư nhiều vàthời gian dài Nên không thể thực hiện được các dự án này Cũng có những dự

án nhiều doanh nghiệp biết và có cơ hội thực hiện nhưng không có nguồn vốn

để đáp ứng, do đó các dự án này cũng không thực hiện được Tín dụng trung dàihạn giúp doanh nghiệp thoả mãn lượng vốn đầu tư cho các dự án và chớp các cơhội kinh doanh Ngoài ra khi các doanh nghiệp đi vay vốn trung dài hạn tạiNHTM, họ có thể điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, nghĩa là họ có thể trả nợ sớm hơnthời gian quy định trong hợp đồng tín dụng khi họ không cần đến vốn trung dàihan nữa Ngược lại khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc trả nợ tại mộtthời điểm nhất định nào đó thì có thể xin ngân hàng điều chỉnh kỳ hạn trả nợhoặc gia hạn nợ

Việc trả nợ vốn vay trung dài hạn cũng được xây dựng theo một sựphân chia ổn định và hợp lý, do đó doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm cácnguồn trả nợ một cách dễ dàng hơn

- Đối với hoạt động Ngân hàng

Hoạt động của ngân hàng trong cơ chế thị trường là hoạt động trong môitrường cạnh tranh gay gắt Để có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranhgay gắt này đòi hỏi mỗi ngân hàng phải thực sự quan tâm đến hiệu quả hoạt

Trang 11

cần thiết để mang tính cạnh tranh của ngân hàng Nguồn vốn trung – dài hạn tạođiều kiện cho các DN đổi mới kỹ thuật, trang bị công nghệ mới, phương phápsản xuất mới để tạo ra hàng hoá mới Đây là điều kiện để ngân hàng mở rộngphạm vi hoạt động của mình và ngày càng khẳng định vai trò và vị trí của Ngânhàng trong nền kinh tế thị trường.

+ Tín dụng ngân hàng tạo ra lợi nhuận cho NHTM Không có hoạtđộng tín dụng thì không thể có NHTM

Các NHTM là những trung gian tài chính lớn nhất, đóng vai trò quantrọng trong việc khơi nguồn vốn từ những nơi chưa có điều kiện sinh lời đemcho vay ở những nơi có cơ hội sinh lời Như vậy, hoạt động chủ yếu của NHTMmột mặt thu hút các nguồn vốn tiền tệ nhàn rỗi trong xã hội, mặt khác phân phối

nó dưới hình thức cho vay để thu lợi nhuận NHTM hoạt động theo 3 nghiệp vụchính: nghiệp vụ nợ (huy động tạo nguồn vốn), nghiệp vụ có( cho vay đối vớinền kinh tế) và nghiệp vụ trung gian

Ba nghiệp vụ trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mặc dù cả 3nghiệp vụ đền quan trọng trong hoạt động vủa một ngân hàng thương mại,nhưng nghiệp vụ cho vay vẫn đóng vai trò quan trọng nhất vì đó là nghiệp vụđem lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng Việc cho vay thường mang lại lợi tứccao nhưng mức độ rủi ro trong nghiệp vụ cho vay thường cao hơn các loại dịch

vụ hoặc ngành sản xuất dịch vụ khác Bởi vậy, các ngân hàng nếu muốn tồn tại

và phát triển buộc phải tìm nhiều biện pháp thực hiện việc đầu tư vốn nhằm bảođảm thu được hiệu quả cao, đồng thời giảm rủi ro đến mức thấp nhất Việc đầu

tư vốn là một nghiệp vụ chủ yếu nhưng cũng rất phức tạp đối với các NHTM.Khi tiến hành cho vay, các ngân hàng đều phải tính toán cẩn trọng và phải tôntrọng những nguyên tắc tín dụng nhất định Tuy nhiên, đối tượng vay vốn rất đadạng và ngân hàng trên thực tế không thể lường trước được hết mọi rủi ro

Trang 12

+ Tín dụng trung dài hạn vừa mang lại lợi nhuận đồng thời nâng caokhả năng cạnh tranh của ngân hàng.

Tín dụng trung dài hạn là hoạt động mang tính chiến lược của cácNHTM Với những khoản tín dụng trung dài hạn có quy mô lớn, lãi suất caomang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng, đồng thời thu hút khách hàng đến vớingân hàng mình nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường

+ Khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng của mình trong tươnglai, tạo điều kiện để ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động của mình và ngàycàng khẳng định vai trò, vị thế của mình trong nền kinh tế Khi ngân hàngkhông đa dạng hoá hoạt động cho vay, đa dạng hoá khách hàng, thời hạn vaytiền thì ngân hàng không thể đứng vững được trong nền kinh té thị trường với

sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng khác

+ Mặt khác tín dụng trung dài hạn còn là cách thức khả thi để giảiquyết nguồn vốn huy động còn dư thừa tại mỗi NHTM, đồng thời là cách đểngân hàng gọi vốn có hiệu quả, thu được lợi nhuận qua đó phát triển hoạt độngcủa mình, tăng cường khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác

+ Thông qua tín dụng trung dài hạn, ngân hàng thực hiện chức năng xãhội của mình Thực hiện nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng đã thể hiện vai tròngười tài trợ lớn đối với toàn bộ nền kinh tế, góp phần mở rộng vốn đầu tư, giatăng sản phẩm xã hội và cải thiện đời sống nhân dân

- Đối với nền kinh tế

+ Tín dụng ngân hàng tác động có hiệu quả đến nhịp độ phát triểnkinh tế, thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thịtrường, tiền tệ là công cụ kinh tế phục vụ cho tất cả các mặt hoạt động kinh tế

xã hội Trong lĩnh vực và kinh doanh hàng hoá dịch vụ, mọi chu kỳ đều bắt đầubằng tiền và kết thúc cũng bằng tiền, tạo điều kiện để tái mở rộng sản xuất

Trang 13

Trong chu kỳ này, tăng nhanh vòng quay vốn tiền tệ là một trong cácyếu tố quan trọng quyết định thành công trong sản xuất kinh doanh Để rút ngắnthời gian nhằm tăng nhanh vòng quay vốn mỗi chủ thể kinh doanh phải chủđộng thực hiện nhiều biện pháp như đổi mới công nghệ đa dạng hoá các mặthàng, mở rộng thị trường, hoàn thiện nghệ thuật quản trị kinh doanh, những việclàm này cũng đòi hỏi một lượng vốn lớn, tín dụng ngân hàng sẽ đáp ứng nhucầu về vốn đó theo nguyên tắc vay mượn có hoàn trả vốn và lãi sau một thờigian như trong thoả thuận trong hợp đồng tín dụng Trường hợp nguyên tắc trên

bị vi phạm thì tổ chức kinh tế phải chịu phạt về kinh tế như phải chịu lãi xuấtquá hạn cao hơn lãi suất thông thường hoặc bị tước quyền vay vốn hay bị tướcđoạt tài sản thế chấp Để tránh những hậu quả kinh tế đó, các tổ chức kinh tếphải tìm cách tăng nhanh vòng quay của vốn thu hồi vốn để trả nợ và lãi vayngân hàng đúng hạn Chính vì vậy, các tổ chức kinh tế phải không ngừng đổimới để cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường Có thể nói tín dụng ngân hàng đãgián tiếp thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường, thúc đẩy kinh tế phát triển

+ Tín dụng trung dài hạn có vai trò quan trọng trong quá trình chuyểndịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, tăng tỷ trọngcác ngành sản xuất vật chất, là nền tảng cho phát triển kinh tế đất nước, đáp ứngnhu cầu trước mắt cũng như lâu dài Đầu tư cho vay trung dài hạn trực tiếp haygián tiếp góp phần phát triển khoa học công nghệ, tạo công ăn việc làm, ổn địnhlạm phát, nâng cao đời sống của dân cư, phát triển lực lượng lao động giúp nềnkinh tế tăng trưởng ổn định

+ Tín dụng ngân hàng nói chung và tín dụng trung dài hạn nói riênglàm giảm hệ số tiền nhàn rỗi trong lưu thông, đáp ứng nhu cầu vốn cho tái sảnxuất mở rộng Trong nền kinh tế thường xuyên xuất hiện các nguồn vốn bằngtiền tạm thời nhà rỗi của các thành phần kinh tế, đồng thời cần được giải quyết.Lúc này tín dụng ngân hàng là công cụ để giải quyết mâu thuẫn đó về cung cầu

Trang 14

vốn tiền tệ Thông qua chức năng phân phối lại vốn theo nguyên tắc có hoàn trảcủa tín dụng, các nguồn vốn được đưa vào luân chuyển thông qua hệ thốngNHTM, tạo cơ sở thúc đẩy luân chuyển vật tư hàng hoá và sử dụng vốn có hiệuquả lớn hơn Nhu cầu về vốn tăng lên theo mức độ phát triển, sản xuất kinhdoanh đòi hỏi tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu tăng đó Tín dụng ngân hàngđóng vai trò tích lũy tập trung vốn, nhờ có công cụ tín dụng các doanh nghiệp

có thể mở rộng quy mô sản xuất, nền kinh tế có thể tái sản xuất mở rộng nhanhchóng hơn, Đặc biệt đối với tín dụng trung dài hạn, nó giúp các doanh nghiệpnói riêng và cả nền kinh tế nói chung hoạt động một cách liền mạch, không ngắtquãng và là một kênh truyền dẫn vốn có hiệu quả Thông qua cho vay trung dàihạn mà xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ, góp phần đẩy nhanh quátrình tái sản xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế

+ Tín dụng trung dài hạn là đòn bẩy kinh tế quan trọng trong quá trình

mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế Đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh xuấtnhập khẩu hàng hoá là hai lĩnh vực hợp tác kinh tế quốc tế thông dụng Vốn lànhân tố quyết định đầu tiên cho việc thực hiện quá trình này Lúc này NHTM sẽ

là trợ thủ đắc lực về vốn cho các nhà đầu tư và kinh doanh xuất nhập khẩu ởcác nước đang phát triển như nước ta, để thực hiện được các chính sách pháttriển kinh tế cần thiết phải thu hút và tiếp nhận các khoản viện trợ ban đầu, vay

nợ của các nước phát triển thông qua các hình thức tín dụng quốc tế Từ đó tạomôi trường thuận lợi cho việc đầu tư vốn làm động lực cho sự tăng trưởng kinhtế

1.2.Hiệu quả tín dụng trung – dài hạn của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.

1.2.1 Khái niệm hiệu quả tín dụng trung – dài hạn.

Xét trên quan điểm của NH thì hoạt động tín dụng trung- dài hạn được

Trang 15

- Khả năng sinh lợi cho NH

- Khả năng thu hồi cả gốc và lãi đúng hạn

- Khả năng thanh khoảnh từ phía nguồn

Điều này có nghĩa là các NH khi tiến hành cho vay trung- dài hạn thì khoảncho vay đó phải đem lại thu nhập cho NH, đảm bảo trang trải được chi phí trảcho lãi suất huy động hoặc đi vay, chi phí NH và rủi ro của NH Xong khôngphải các NH cứ cho vay nhiều, mang lại nhiều lợi nhuận là có hiệu quả cao bởi

vì nếu cho vay ra mà không thu hồi được vốn cho vay hoặc cho vay không cânxứng với nguồn huy động được thì sớm hay muộn NH cũng dễ rơi vào tìnhtrạng thua lỗ, đổ bể Chính vì vậy, yếu tố hiệu quả trong kinh doanh là yếu tốquan trọng và cần thiết đầu tiên đối với sự tồn tại và phát triển của NH

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng trung – dài hạn.

- Nhóm chỉ tiêu định lượng.

+ Chỉ tiêu dư nợ:

Dư nợ trung- dài hạn

Tổng dư nợ tín dụngChỉ tiêu này cho thấy biến động tỷ trọng dư nợ trung- dài hạn trong tổng dư

nợ tín dụng của một NH qua các thời kỳ khác nhau Chỉ tiêu này cũng có thểdùng so sánh giữa các NH khác nhau để thấy được thế mạnh của NH này so vớithế mạnh của NH khác trong hoạt động tín dụng trung- dài hạn Tuy nhiên, cóthể coi đây như một chỉ tiêu định lượng để có thể thấy rõ bản chất của tín dụngtrung- dài hạn của một NH

Trang 16

+ Chỉ tiêu hệ số sử dụng vốn:

Doanh số cho vay trung- dài hạn

Nguồn vốn trung- dài hạn

NH có thể sử dụng nguồn vốn trung- dài hạn và một phần nguồn vốn ngắnhạn để cho vay trung- dài hạn Có thể hiểu đây là chỉ tiêu hệ quả phán ánh hiệuquả tín dụng Chỉ tiêu sử dụng vốn cho phép đánh giá tính hiệu quả trong hoạtđộng tín dụng của một NH Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ NH đã sử dụng mộtcách hiệu quả nguồn vốn huy động được

NH luôn cố gắng làm giảm tỷ lệ này

Nợ quá hạn tín dụng trung dài hạn x 100%

Hoặc

Tổng dư nợ tín dụng trung - dài hạnChỉ tiêu này cho thấy trong 100% dư nợ tín dụng trung- dài hạn thì có baonhiêu % là nợ quá hạn

Thể hiện tỷ lệ nợ không thanh toán đúng hạn trên tổng dư nợ Các NH cóchỉ số này thấp chứng tỏ hiệu quả tín dụng cao

Trang 17

+ Chỉ tiêu nợ khó đòi :

Nợ khó đòi trung - dài hạn

Tổng dư nợ trung - dài hạn

Rõ ràng tỷ lệ này càng cao, thì tín dụng có hiệu quả càng thấp Nợ khó đòi

có nguy cơ làm giảm lợi nhuận của NH và nếu có quá nhiều nợ khó đòi sẽ cóthể làm cho NH phá sản Các NH đang cố gắng giảm đến mức tối đa các khoản

nợ khó đòi để làm tăng hiệu quả tín dụng trung- dài hạn

+ Chỉ tiêu lợi nhuận:

Lợi nhuận từ tín dụng trung - dài hạn

Tổng dư nợ tín dụng trung- dài hạnLợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả các khoản tín dụngtrung- dài hạn bởi xét cho cùng mục đích của NHTM là lợi nhuận, hay ít nhấtcũng thu đủ để bù đắp chi phí bỏ ra

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng trung- dài hạn, nó nêulên số lãi thu được từ 1 đồng dư nợ trung- dài hạn

Hay ta xét đến chỉ tiêu:

Lợi nhuận tín dụng trung - dài hạn

Tổng lợi nhuậnChỉ tiêu này cho phép thấy rõ hơn vị trí của tín dụng trung- dài hạn tronghoạt động của NH Thu từ khoản tín dụng có hiệu quả cao sẽ đóng góp lớn vàothu nhập NH Nếu khoản tín dụng có hiệu quả không tốt thì thu không được nợgốc và lãi mà còn làm tăng chi phí của NH, nên sẽ kéo theo lợi nhuận giảmtương ứng

Trang 18

- Nhóm chỉ tiêu định tính.

Về mặt định tính, chỉ tiêu được thể hiện qua một số khía cạnh sau:

+ Chất lượng tín dụng được thể hiện thông qua khả năng đáp ứng tốt nhucầu của khách hàng, thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp vốn nhanh chóng,kịp thời, an toàn, kỳ hạn và phương thức thanh toán phù hợp với chu kỳ kinhdoanh của khách hàng

+ Chỉ tiêu định tính được thể hiện qua tốc độ tăng trưởng của nền kinh tếquốc dân, các dự án vay vốn sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao.Không những thế chất lượng tín dụng còn được thể hiện ở tình trạng xoá đóigiảm nghèo, sự lành mạnh của nền kinh tế, sự an toàn của hệ thống Ngânhàng

+ Ngoài ra chất lượng tín dụng còn được xem xét thông qua tình hình hoạtđộng sản xuất kinh doanh của Ngân hàng, tình hình khai thác tiềm năng củaNgân hàng trên địa bàn hoạt động

1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng trung và dài hạn tại

ngân hàng thương mại.

Để đạt được một tỷ trọng dư nợ trung- dài hạn bao nhiêu là hợp lý Điều đóphụ thuộc môi trường và điều kiện cụ thể của mỗi NH, trên cơ sở đó các NHTMxây dựng cho mình một chiến lược tín dụng riêng để đưa ra quy định mức độnhằm nâng cao hiệu quả tín dụng trung- dài hạn

- Các nhân tố từ phía ngân hàng.

+ Thẩm định dự án đầu tư:

Khi đến vay vốn trung- dài hạn, NH thường phải mang đến một dự án đầu

tư Thẩm định dự án đầu tư giúp NH xem xét một cách toàn diện các mặt của dự

án để xác định tính khả thi của dự án và đồng thời quyết định cho vay Cũng từviệc thẩm định NH có thể tư vấn, giúp đỡ cho chủ đầu tư sửa đổi những điểm

Trang 19

không hợp lý trong dự án để có thể thực hiện dự án hiệu quả hơn và NH có thểcho vay được

Thẩm định là một công việc đòi hỏi nhiều thời gian và kỹ thuật tính toánriêng Nếu việc thẩm định không được tiến hành chặt chẽ thì khả năng xảy ra rủi

ro đối với NH sẽ rất lớn và khoản cho vay chắc chắn sẽ có hiệu quả không cao

Để tìm được nhiều dự án có hiệu quả cao, các NH phải có đầy đủ thôngtin về dự án và các lĩnh vực có liên quan Khi đã có dự án, NH cũng phải có đầy

đủ thông tin để thẩm định tính hiệu quả của dự án vì DN khi mang dự án đến

NH chỉ muốn được NH chấp nhận và họ cũng có một số lý do khác nhau để lậpmột dự án thiếu chính xác Khi cho vay, NH cũng luôn cần thông tin về tìnhhình thực hiện dự án, về thị trường và các thông tin khác để có thể phản ứng kịpthời trước những đột biến có thể xảy ra Như vậy, thông tin tín dụng là một yếu

tố hết sức quan trọng Thông tin càng kịp thời, chính xác thì các rủi ro càngđược hạn chế và ngày càng có khả năng nâng cao hiệu quả tín dụng

+ Khả năng chuyên môn và kinh nghiệm của cán bộ tín dụng:

Tín dụng trung- dài hạn là một trong những nghiệp vụ phức tạp nhất trongcác khâu nghiệp vụ của NH, nó đòi hỏi người cán bộ tín dụng phải nắm đượcđặc thù của mỗi ngành sản xuất kinh doanh, am hiểu về pháp luật, nắm bắt đượcthông tin thị trường và điều quan trọng phải biết thẩm định dự án, có như vậythì mới có thể làm tốt được nghiệp vụ này Tín dụng trung - dài hạn được tìmkiếm, thẩm định và quyết định cho vay đều có vai trò quan trọng của cán bộ tíndụng Dựa vào mối quan hệ và các thông tin có được, cán bộ tín dụng tìm đến

dự án, để xác định nhu cầu vay của chủ đầu tư Để có thể cho vay, cán bộ tíndụng có thể tiếp thẩm định dự án hoặc có thể nhờ phòng thẩm định hỗ trợ Dù

có phòng thẩm định nhưng vai trò và trách nhiệm của cán bộ tín dụng có thểtrực tiếp thẩm định là rất quan trọng Cán bộ tín dụng là người theo sát dự án,phát hiện kịp thời thông tin và là người chịu trách nhiệm chính của khoản vay

Trang 20

Hiện nay, ngoài trình độ và kinh nghiệm, người ta thường hay đề cập đến vấn đềđạo đức của cán bộ tín dụng Cho vay là một công việc phức tạp liên quan đếntài chính và không phải ai cũng có thể không dao động trước những cám dỗ.Khi đã có những sai phạm của cán bộ tín dụng thì hậu quả thường rất lớn đốivới NH và đối với nền kinh tế

+ Chính sách tín dụng của NH:

Đối với mỗi NH và trong từng thời kỳ thường có những chính sách khácnhau Chính sách tín dụng của NH ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng các khoảncho vay, quy mô của từng khoản vay, các khoản đảm bảo và nhiều yếu tố khác.Chính sách tín dụng của NH không những phụ thuộc khá nhiều vào chính sáchcủa Chính Phủ và các cơ quan quản lý Chính sách tín dụng tạo ra sự quản lýhướng dẫn cần thiết cho các nhân viên tín dụng và rõ ràng có ảnh hưởng mạnhđến hiệu quả tín dụng

+ Chính sách lãi suất:

NHTM là định chế tài chính trung gian thực hiện đi vay để cho vay vớilãi suất cao hơn Nguồn vốn hoạt động của các NHTM chủ yếu bằng vốn huyđộng, khi huy động vào phải trả lãi suất cho người gửi tiền, và khi cho vay họ

sẽ thu được lãi suất cho vay Trong cơ chế thị trường thì lãi suất luôn biến động,phụ thuộc vào cung- cầu trên thị trường Do đó, phải có một chính sách lãi suấtphù hợp làm cơ sở cho NH nâng cao hiệu quả tín dụng trung- dài hạn tức là phảiđảm bảo các điều kiện sau đây:

Bảo vệ lợi ích của người gửi tiền, ngoài tiền lãi còn có các lợi ích khác như

sự an toàn, thanh toán lợi nhuận

Lãi suất cho vay phải bù đắp được chi phí về huy động vốn chi phí vềnghiệp vụ kinh doanh của NH có dự phòng bù đắp rủi ro và bảo đảm mức thunhập ròng hợp lý cho NH

Trang 21

0 Lãi suất phải dược thay đổi theo cung- cầu thị trường nhưng sự biếnđộng của nó luôn trong giới hạn

1 Lãi suất cho vay phải phù hợp với đối tượng của tín dụng có nghĩa là lãisuất cho vay dài hơn phải lớn hơn lãi suất ngắn hạn bởi cho vay dài hạn có mức

độ rủi ro cao hơn

+ Công tác tổ chức cho vay của NH:

Tổ chức cho vay của NH tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô NH, quy

mô các khoản tín dụng hay các loại cho vay Nhân viên tín dụng thường tiếp xúctrực tiếp với người vay, nhận đơn xin vay, phỏng vấn người vay, quyết định xemxét đơn xin vay và thu thập thông tin từ phía khách hàng Tại các NH nhỏ, cáccán bộ tín dụng cho vay trung- dài hạn có thể được sắp xếp kết hợp với các loạicho vay khác hay có thể là với các nhiệm vụ khác Mỗi nhân viên có những mứcphán quyết nhất định Tại các NH có quy mô vừa, có nhiều uỷ quyền và chuyênmôn trong hoạt động cho vay hơn Có thể có một uỷ ban cho vay để xử lý cácyêu cầu xin vay lớn đến một mức độ nhất định Tổ chức cho vay tại NH lớnthường được chuyên môn hoá thành các bộ phận phụ trách các loại cho vaykhác nhau Công tác thu thập xử lý thông tin cũng được thực hiện một cách có

hệ thống và tạo nhiều thuận lợi cho cán bộ tín dụng Tại các NH chi nhánh,công tác tổ chức cho vay về cơ bản cũng giống như tại các NHTW, nhất là cácchi nhánh lớn chỉ khác là có các mức phán quyết dành cho giám đốc chi nhánh

và mỗi chi nhánh có thể được chuyên môn hoá theo địa bàn hoặc đối tượng chovay Cách tổ chức cho vay tại các chi nhánh cũng có thể phụ thuộc nhiều vàocách tổ chức của NH cấp Trung ương

Như vậy, có thể thấy công tác tổ chức cho vay có thể hỗ trợ đắc lực chonhân viên tín dụng và công tác này ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả tín dụng

+ Khả năng về nguồn vốn trung- dài hạn:

Trang 22

Nguồn vốn cho vay bằng tiền là cơ sở để NH hoạt động tín dụng Quy mô

và cơ cấu vốn quyết định lựa chọn các hình thức đầu tư, nguyên tắc cơ bản mà

NH luôn tuân thủ trong khi cho vay là: Chỉ được phép cho vay trung- dài hạnkhi có nguồn vốn trung- dài hạn Vì đầu tư trung- dài hạn là đầu tư cho tươnglai, xong các NH phải tính toán và chấp nhận rủi ro theo quy mô của từng khoảnđầu tư

Nếu NH lạm dụng một lượng lớn nguồn vốn ngắn hạn quá quy định chophép để cho vay trung- dài hạn thì có thể xảy ra tình trạng: NH không thanhtoán kịp thờicho những khoản huy động ngắn hạn trong khi các khoản vaytrung- dài hạn chưa đến hạn và gửi tiền mới thì chưa huy động được

- Các nhân tố từ phía người xin vay:

+ Nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp: Bất kỳ loại hàng hóa hay dịch vụ

nào muốn tiêu thụ được thì cần phải có người mua Tín dụng ngân hàng cũngvậy, ngân hàng không thể cho vay nếu như không có người vay Xét trong phạm

vi toàn bộ nền kinh tế thì nhu cầu vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triểnluôn là cần thiết nhưng với từng NHTM thì không phải lúc nào cũng như vậy

Do số lượng doanh nghiệp có quan hệ với ngân hàng là có hạn và có những lúcnhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp này không cao, chẳng hạn trong giai đoạnhoạt động kinh doanh gặp khó khăn các doanh nghiệp thường có xu hướng thuhẹp sản xuất Trong trường hợp đó nhu cầu vốn trung và dài hạn của các doanhnghiệp sẽ không cao và do đó ngân hàng sẽ gặp khó khăn nếu muốn mở rộng tíndụng

+ Khả năng của doanh nghiệp trong việc đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng của ngân hàng: Để đảm bảo an toàn, tránh rủi ro khi cho vay,

các NHTM thường đặt ra những điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng nhằm phân loại,chọn ra những khách hàng có thể hay không thể cho vay Chỉ những khách hàng

Trang 23

nào đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của ngân hàng thì mới được xem xét cho vay.Những điều kiện tiêu chuẩn này có thể rất khác nhau tuỳ theo ngân hàng cụ thể,song nhìn chung các ngân hàng đều quan tâm tới một số vấn đề sau: tính hợp lý,hợp pháp của mục đích sử dụng vốn, năng lực tài chính, năng lực sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, tính khả thi của dự án, các biện pháp bảo đảm Rõràng khả năng của doanh nghiệp trong việc đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn tíndụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng của ngân hàng Bởi nếu đa

số các khách hàng không thể đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng, có thể dođiều kiện đặt ra quá khắt khe, không thực tế hoặc do khả năng của các doanhnghiệp quá thấp, thì ngân hàng không thể mở rộng cho vay trong khi vẫn bảođảm an toàn tín dụng

+ Khả năng của doanh nghiệp trong việc quản lý và sử dụng khoản vay có hiệu quả: Khi cho vay thì ngân hàng trông đợi khoản trả nợ sẽ được lấy

từ chính kết quả hoạt động của dự án chứ không phải bằng cách phát mại tài sảnthế chấp, cầm cố Điều này lại phụ thuộc vào hiệu quả quản lý và sử dụng vốnvay của doanh nghiệp Có nhiều yếu tố cần thiết để đảm bảo cho việc sử dụngvốn vay của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao, trong đó có một số nhân tố giữ vaitrò quyết định như vị thế, năng lực thị trường của doanh nghiệp, năng lực côngnghệ, chất lượng đội ngũ nhân sự, trình độ quản lý của doanh nghiệp

Như vậy các DN khi đến vay đều phải tính đến chất lượng hiệu quả sửdụng vốn vay Nếu họ thực hiện có hiệu quả dự án và có lợi nhuận thì có thểlàm tăng hiệu quả của khoản vay Tuy nhiên, rất có thể trong quá trình quản lý,chủ đầu tư mắc phải những sai sót nhất định, dẫn tới thiệt hại cho bản thân họ vàthiệt hại cho NH để kiếm lợi riêng NH chỉ có thể giảm thiểu những rủi ro nàybằng cách thẩm định chặt chẽ dự án, quản lý sát sao việc thực hiện, nắm bắt kịpthời các thông tin để đưa ra những quyết định chính xác

Trang 24

- Nhân tố khách quan

+ Môi trường kinh tế - xã hội

• Môi trường tự nhiên: Nói chung môi trường tự nhiênkhông tác động trực tiếp tới hoạt động tín dụng của ngân hàng mà vai trò của nóthể hiện qua sự tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,đặc biệt là các doanh nghiệp mà hoạt động của chúng phụ thuộc nhiều vào điềukiện tự nhiên như các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nông nghiệp,ngư nghiệp Điều kiện tự nhiên diễn biến thuận lợi hay bất lợi sẽ ảnh hưởng đếnhiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng tới khả năngtrả nợ cho ngân hàng

• Môi trường kinh tế: Là một tế bào trong nền kinh tế, sự tồntại và phát triển của ngân hàng cũng như doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất nhiềucủa môi trường này Sự biến động của nền kinh tế theo chiều hướng tốt hay xấu

sẽ làm cho hiệu quả hoạt động của ngân hàng và doanh nghiệp biến động theo.Đặc biệt, trong điều kiện quốc tế hóa mạnh mẽ như hiện nay, hoạt động của cácngân hàng và doanh nghiệp không chỉ chịu ảnh hưởng của môi trường kinh tếtrong nước mà cả môi trường kinh tế quốc tế Những tác động do môi trườngkinh tế gây ra có thể là trực tiếp đối với ngân hàng hoặc tác động xấu đến hiệuquả kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó gián tiếp ảnh hưởng tới chất lượng tíndụng ngân hàng

• Môi trường chính trị, xã hội: Sự ổn định của môi trườngchính trị, xã hội là một căn cứ quan trọng để ra quyết định của các nhà đầu tư.Nếu môi trường này ổn định thì các nhà đầu tư sẽ yên tâm thực hiện việc mởrộng đầu tư và do đó nhu cầu vốn tín dụng ngân hàng trung và dài hạn tăng lên.Ngược lại nếu môi trường bất ổn thì họ sẽ tìm cách thu hẹp sản xuất để bảo toànvốn, hạn chế rủi ro khi đó nhu cầu vốn tín dụng ngân hàng

Trang 25

+ Môi trường pháp lý:

Môi trường pháp lý không chặt chẽ nhiều khe hở và bất cập sẽ tạo cơ hộicho các doanh nghiệp yếu kém làm ăn bất chính, lừa đảo lẫn nhau và lừa đảongân hàng Môi trường pháp lý không chặt chẽ và thiếu sự ổn định cũng khiếncác nhà đầu tư trung thực e dè, không dám mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuấtkinh doanh do đó hạn chế nhu cầu về vốn tín dụng ngân hàng

1.2.4 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả tín dụng trung – dài hạn.

Việc nâng cao tín dụng trung- dài hạn sẽ đưa lại nhiều lợi ích cho DN, cho

NH và nền kinh tế Nếu NH có một nguồn vốn ổn định trong thời gian dài, dùngnguồn vốn này sẽ tạo lợi nhuận cao hơn rất nhiều so với việc dùng nó cho vayngắn hạn Cụ thể:

- Về phía ngân hàng: Bên cạnh khoản cho lợi nhuận hấp dẫn, tín dụng

trung- dài hạn còn là vũ khí cạnh tranh rất có hiệu quả giữa các NH với nhau.Với sản phẩm này, NH sẽ phục vụ tốt hơn cho các DN và ngày càng nhiềukhách hàng đến với NH Khi đã xác định nâng cao hiệu quả cho vay trung- dàihạn, các NH không chỉ nhìn vào lợi ích trước mắt mà mong đợi lợi ích lâu dàihơn đó là: “Nâng cao tín dụng trung – dài hạn để đẩy mạnh cho vay ngắn hạn”

- Về phía doanh nghiệp: DN được vay vốn để đầu tư đổi mới tài sản cố

định sẽ đạt được các mục tiêu, tăng số lượng, chất lượng của sản phẩm, giáthành hạ, tăng tiêu thụ dẫn đến tăng lợi nhuận Đó chính là cơ sở để DN tồn tại

và phát triển

Các khoản vay trung- dài hạn sẽ được trả dần theo định kỳ dựa trên hiệuquả kinh doanh thực tế của DN DN được hưởng một khoản thời gian ân hạn,trong thời gian đó, DN không phải trả lãi Thậm chí một số kỳ hạn của món vaycũng có thể thương lượng với NH để ra hạn khi có sự biến động trong thu nhậpcủa DN

Trang 26

Một lý do khác làm cho các khoản vay trung dài hạn tại NH ngày một giatăng là do sự ra đời của các DN có quy mô vừa và nhỏ, cũng tìm đến các nhàtài chính NH để vay vốn trang bị tài sản cố định Còn đối với một số DN làm ănkém hiệu quả, NH sẽ thực hiện đúng quy trình và điều khiển vay vốn, thậm chí

từ chối cấp tín dụng Từ đó bản thân DN phải tự đổi mới lại tổ chức sản xuất,kinh doanh có hiệu quả hơn để được vay vốn, hoặc phải sát nhập với DN lớnnếu không muốn phá sản

-Xét trên phương diện toàn nền kinh tế: hoạt động tín dụng trung- dài

hạn của các NH nếu có hiệu quả sẽ tác động tốt tới mọi lĩnh vực kinh tế- chínhtrị- xã hội Phát triển cho vay tín dụng trung- dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể cáckhoản bao cấp từ ngân sách cho đầu tư sản xuất kinh doanh, góp phần giảm bớtthâm hụt ngân sách Tín dụng NH góp phần đẩy mạnh quá trình tích tụ và tậptrung vốn của nền kinh tế Mặc dù là một đơn vị kinh doanh nhưng các NHquốc doanh vẫn là bộ phận của Nhà nước Hoạt động tín dụng trung- dài hạnnhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế quốc gia thông qua các chínhsách ưu đãi trong tín dụng Về nguyên tắc, NH ưu đãi đối với những công trìnhsản xuất trực tiếp và thực hiện trực tiếp các điều kiện vay vốn cố định với các

DN kinh doanh dịch vụ

Trang 27

- Năm 2005: Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) trở thành cổ đông chiến lược

của ABBANK

Các cổ đông lớn khác: Tổng công ty tài chính Dầu Khí (PVFC) , Tổng công tyXuất Nhập Khẩu Hà Nội (GELEXIMCO)

- Tháng 7/11/2006: ABBANK đã phát hành công phiếu của EVN cùng với

ngân hàng Deustch Bank và quỹ đầu tư Vina Capital

- Tháng 6/12/2006: ký hợp đồng triển khai core banking solutions với

Temenos và khai trương trung tâm thanh toán quốc tế tại Hà Nội

Trang 28

- Tháng 1/2007: tạp chí Asia Money bình chọn ABBANK là nhà phát hành trái

phiếu công ty bản tệ tốt nhất Châu Á

- Tháng 3/2007: ABBANK ký hợp đồng liên kết chiến lược với Agribank

- Tháng 4/2007: ABBANK trở thành thành viên của mạng thanh toán PAYNET

- Tháng 5/2007: ABBANK được ban tổ chức hội chợ tài chính- ngân hàng- bảo

hiểm Banking Expo 2007 trao giải thưởng Quả Cầu Vàng – the Best Banker chongân hàng “phát triển nhanh các sản phẩm dịch vụ công nghệ cao”

- Tháng 10/2007: tăng vốn điều lệ lên 2300 tỷ đồng

Trang 29

2.1.1.3 Lĩnh vực hoạt động

Trang 30

Với vốn điều lệ trên 2.700 tỉ đồng, mạng lưới gần 70 điểm giao dịch tại

20 tỉnh thành trên toàn quốc vào cuối năm 2008, ABBANK đang phục vụ hàngngàn khách hàng doanh nghiệp và hàng vạn khách hàng cá nhân

Các nhóm khách hàng mục tiêu hiện nay của ABBANK bao gồm:

- Đối với khách hàng Doanh nghiệp: ABBANK sẽ cung ứng sản phẩm,

dịch vụ tài chính ngân hàng trọn gói như: sản phẩm cho vay, sản phẩm baothanh toán, sản phẩm bảo lãnh, sản phẩm tài trợ xuất nhập khẩu, sản phẩm tàikhoản, dịch vụ thanh toán quốc tế

- Đối với các khách hàng cá nhân: ABBANK cung cấp nhanh chóng và

đầy đủ chuỗi sản phẩm tín dụng tiêu dùng và các sản phẩm tiết kiệm linh hoạt

Ví dụ: Cho vay trả góp mua nhà, đất, xây sửa nhà; cho vay trả góp mua nhà, đất

30 năm và có bảo hiểm nhân thọ cho người vay; cho vay trả góp mua ô tô; chovay tiêu dùng tín chấp; cho vay sản xuất kinh doanh trả góp; cho vay bổ sungvốn lưu động; cho vay tiêu dùng thế chấp linh hoạt.; các sản phẩm iết kiệmYOUsaving: tiết kiệm theo thời gian thực gửi, tiết kiệm bậc thang, và các dịch

vụ thanh toán, chuyển tiền trong và ngoài nước

- Với các khách hàng đầu tư: ABBANK thực hiện các dịch vụ ủy thác và

tư vấn đầu tư cho các khách hàng công ty và cá nhân Riêng với các khách hàngcông ty, ABBANK cũng cung cấp thêm các dịch vụ tư vấn tài chính, tư vấn pháthành và bảo lãnh phát hành trái phiếu, đại lý thanh toán cho các đợt phát hànhtrái phiếu Định vị và sự khác biệt của ABBANK với các ngân hàng khác là việccung ứng các giải pháp tài chính linh hoạt, hiệu quả và an toàn với dịch vụ thânthiện, lấy nhu cầu và sự hài lòng của khách hàng là trọng tâm của mọi mô hìnhkinh doanh và cơ cấu tổ chức, bảo đảm chất lượng phục vụ tốt và đồng nhất trênnền tảng công nghệ, quy trình chuẩn, và sự chuyên nghiệp của nhân viên

2.1.2 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG

Trang 31

- Kết quả kinh doanh :

Bảng 1: Kết quả kinh doanh

với KH 2008

2007

So với 2007

-IX Lợi nhuận sau thuế 49.407 161.750

69%

-( Nguồn : Báo cáo tài chính năm 2008)

Thu nhập dịch vụ: tăng trưởng 290%, một phần nhờ hoạt động thu phí tín dụng,phí ngoại hối tăng trưởng gấp 3 lần năm trước, bảo lãnh tăng trưởng 4 lần năm

Trang 32

trước Thu nhập đầu tư giảm 54% so năm trước do tình hình khó khăn chungcủa thị trường Chi phí hoạt động tăng 68% so với năm 2007:

Lợi nhuận trước thuế năm 2008 là 65,4 tỉ đồng, đạt 88% kế hoạch điều chỉnh

- Hoạt động tín dụng:

Năm 2008 hoạt động tín dụng của khối ngân hàng đều bị ảnh hưởng vàgiảm so với năm trước do thực hiện chủ trương thắt chặt tiền tệ của Chính phủ,NHNN điều chỉnh lãi suất bất thường, các doanh nghiệp đều bị đình trệ sản xuấtkinh doanh và các ngân hàng đều gặp khó khăn về nguồn vốn và giải ngân

Bảng 2: Cơ cấu dư nợ

( Nguồn: Báo cáo thường niên 2008)

- Hoạt động của Khối khách hàng cá nhân

Từ ngày 01/12/2008 Ngân hàng đã triển khai Giao dịch 1 cửa cho toàn hệthống ABBANK:

+ Tăng trưởng tốt huy động từ khu vực dân cư góp phần duy trì ổn định thanhkhoản toàn hệ thống

+ Xây dựng bước đầu một bộ sản phẩm huy động đa dạng – trong đó có sảnphẩm YOUlife là 1 sản phẩm tiên tiến trên thị trường do tính chất kết hợp vớibảo hiểm nhân thọ dành cho người gửi tiền;

+ Đảm bảo về cơ bản các điểm giao dịch của ABBANK đều có dịch vụ chi trảkiều hối Western Union; bước đầu đã triển khai thành công dịch vụ YOUauto-Pay thanh toán tiền điện tự động với Điện lực Tp.HCM;

Ngày đăng: 23/09/2017, 23:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w