1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu hiện trạng ấu trùng sán lá có khả năng lây truyền cho người nhiễm trên cá ở Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam

141 474 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 3,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặt vấn đề Sán lá truyền lây qua cá (SLTQC) hiện vẫn đang là một vấn nhức nhối đối với sức khỏe cộng đồng các nƣớc thuộc khu vực Châu Á. SLTQC nhƣ sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis và Opisthorchis viverrini gây ra các bệnh lý về gan mật, nhƣ xơ gan, tắc ống mật và thậm chí là có thểdẫn tới ung thƣ đƣờng ống mật ở ngƣời bệnh [1–3]. Con ngƣời nhiễm SLTQC do ăn gỏi cá hoặc cá nấu chƣa chín có nhiễm ấu trùng các loài sán này. Do vậy, việc nghiên cứu về ấu trùng SLTQC trên cá là yêu cầu cấp bách nhằm tạo cơ sở khoa học để kiểm soát SLTQC, bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Ở nƣớc ta, những năm gần đây, SLTQC trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản (NTTS) đã bắt đầu đƣợc quan tâm bởi nó liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm. Đã có nhiều nghiên cứu khảo sát về ấu trùng SLTQC tại nhiều vùng trong cả nƣớc nhƣ đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và miền Trung. Những khảo sát này đều đã ghi nhận sự hiện diện ấu trùng SLTQC trên động vật thủy sản (cá) nhƣ một mối nguy đối với sức khỏe cộng đồng. Đặc biệt, ấu trùng của các loài sán lá ruột nhỏ nhƣ Haplorchis pumilio chƣa từng đƣợc ghi nhận trên ngƣời thì thì nay xuất hiện phổ biến ở cá. Trong khi đó, ấu trùng sán lá gan nhỏ C. sinensis, đƣợc cho là nhiễm phổ biến trên ngƣời [4–6] và động vật thủy sản [5,7] thì những nghiên cứu gần đây lại ít gặp và có mức độ nhiễm thấp trên động vật thủy sản, cá [8–11]. Khu vực miền núi phía Bắc (MNPB) là vùng thƣợng nguồn của hệ thống sông ngòi tạo nên vùng châu thổ sông Hồng; nơi này có các hệ thống sông suối, hồ chứa lớn, là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của động vật thủy sản nhƣ cá, tôm,… đây là nguồn thực phẩm quan trọng của ngƣời dân và cũng có thể là mối nguy với sức khỏe bởi SLTQC do tập quán ăn gỏi cá ở đây [12]. Hiện nay, hầu nhƣ chƣa có khảo sát nào về vấn đề SLTQC trên các động vật thủy sản tại MNPB, ngoại trừ có báo cáo về ấu trùng sán lá ruột Centrocestus formosanus nhƣng là trên khía cạnh tác nhân gây bệnh cho cá [13]. Chính vì vậy, cần thiết phải tiến hành khảo sát về ấu trùng SLTQC tại đây nhằm bổ sung thông tin về vùng dịch tễ, đối tƣợng nhiễm và sự biến động mùa vụ để thấy đƣợc bức tranh tổng thể về hiện trạng SLTQC ở Việt Nam nói chung. Hơn nữa, hầu hết các nghiên cứu về SLTQC ở Việt Nam trong thời gian gần chủ yếu trung vào điều tra, khảo sát nhằm xác định vùng phân bố của SLTQC, mức độ nhiễm và đối tƣợng nhiễm. Tập quán ăn gỏi cá vẫn khá phổ biến không chỉ ở khu vực ĐBSH [14] mà cả MNPB [12]. Trong khi đó, những mô hình can thiệp thử nghiệm nhằm giảm thiểu sự lây nhiễm ấu trùng SLTQC trong nuôi hệ thống NTTS vẫn chƣa thực sự hiệu quả [10,15,16]. Do vậy cần phải có những nghiên cứu xác định các điều kiện để vô hiệu hóa khả năng lây nhiễm của ấu trùng SLTQC cho con ngƣời, đây là cơ sở khoa học để xây dựng các hƣớng dẫn trong bảo quản, chế biến sản phẩm thủy sản đảm bảo an toàn với SLTQC nhƣ sán lá gan nhỏ C. sinensis. Với kinh nghiệm, hiểu biết và trăn trở của bản thân về vấn đề SLTQC ở Việt Nam, chúng tôi đã triển khai Đề tài “Nghiên cứu hiện trạng ấu trùng sán lá có khả năng lây truyền cho người nhiễm trên cá ở Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam” làm Luận án tiến sỹ với những mục tiêu cụ thể nhƣ sau: Mục tiêu nghiên cứu 1) Xác định đƣợc thành phần ấu trùng sán lá truyền qua cá và sự phân bố của chúng trên cá ở khu vực miền núi phía Bắc; 2) Xác định đƣợc sự biến động mùa vụ của ấu trùng sán lá truyền qua cá phổ biến trên cá ở khu vực miền núi phía Bắc; 3) Xác định đƣợc các điều kiện chế biến và bảo quản có khả năng bất hoạt ấu trùng sán lá truyền qua cá;

Trang 1

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

BÙI NGỌC THANH

NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG ẤU TRÙNG SÁN LÁ

CÓ KHẢ NĂNG LÂY TRUYỀN CHO NGƯỜI NHIỄM TRÊN CÁ Ở KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH ix

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Đặt vấn đề 1 Mục tiêu nghiên cứu 2 Nội dung nghiên cứu _ 2 Những đóng góp mới của Luận án _ 3 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4 1.1 Đặc điểm vòng đời sán lá truyền qua cá _ 4 1.2 Nghiên cứu sán lá truyền lây qua cá trên thế giới 5 1.2.1 Sán lá truyền qua cá trên người 5 1.2.2 Ấu trùng sán lá truyền qua cá ở động vật thủy sản _ 8 1.3 Nghiên cứu sán lá truyền lây qua cá trong nước 12 1.3.1 Sán lá truyền qua cá trên người _ 12 1.3.2 Sán lá truyền qua cá trên động vật _ 14 1.3.3 Ấu trùng sán lá truyền qua cá trên ốc _ 16 1.3.4 Ấu trùng sán lá trên cá 17 1.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực miền núi phía Bắc _ 29 1.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 29 1.4.2 Đặc điểm hồ Thác Bà, Yên Bái _ 30

Trang 3

1.5 Những tồn tại trong nghiên cứu về sán lá truyền qua cá 32 CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34 2.1 Cách tiếp cận _ 34 2.2 Đối tượng nghiên cứu 35 2.3 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 35 2.4 Phương pháp thu mẫu, bảo quản và định danh cá _ 36 2.5 Kỹ thuật phân lập và định loại sán lá truyền qua cá _ 39 2.5.1 Phân lập ấu trùng sán lá từ cá _ 40 2.5.2 Định loại sán lá truyền qua cá 42 2.6 Xác định điều kiện bất hoạt và lưu giữ ấu trùng sán lá truyền qua cá _ 45 2.6.1 Bố trí các thí nghiệm xác định điều kiện bất hoạt _ 46 2.6.3 Kỹ thuật xác định ấu trùng bất hoạt 54 2.6 Phân tích và xử lý số liệu _ 54 CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 56 3.1 Thành phần ấu trùng sán lá nhiễm trên cá ở khu vực miền núi phía Bắc 56

3.1.1 Ấu trùng sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis _ 56 3.1.2 Ấu trùng sán lá ruột nhỏ Haplorchis pumilio 59 3.3.3 Ấu trùng sán lá ruột nhỏ Haplorchis taichui _ 62 3.3.4 Ấu trùng sán lá ruột nhỏ Haplorchis yokogawai 64 3.3.5 Ấu trùng sán lá ruột nhỏ Procerovum varium 65 3.1.6 Ấu trùng sán lá ruột nhỏ Centrocestus formosanus 66

3.2 Kết quả khảo sát nhanh ấu trùng sán ở khu vực miền núi phía Bắc _ 68 3.2.1 Tình hình nhiễm ấu trùng sán lá trên cá _ 68 3.2.2 Thành phần ấu trùng sán lá nhiễm trên cá ở các loại hình mặt nước _ 68 3.3 Kết quả nghiên cứu về sán lá nhiễm trên cá tại hồ Thác Bà _ 75 3.3.1 Ấu trùng sán lá ruột nhỏ _ 75 3.3.2 Ấu trùng sán lá gan nhỏ 79

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Sán lá truyền qua cá trên người tại một số vùng dịch tễ ở nước ta 14

Bảng 1.2: Sán lá truyền qua cá trên động vật tại một số vùng dịch tễ ở nước ta 15

Bảng 1.3: Danh mục loài cá đã được xác định nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ 23

Bảng 1.4: Danh mục loài cá đã được xác định nhiễm ấu trùng sán lá ruột nhỏ 24

Bảng 2.1: Địa điểm thu mẫu khảo sát ấu trùng sán lá truyền qua cá 35

Bảng 2.2: Các loài cá thu được ở khu vực miền núi phía Bắc 36

Bảng 2.3: Các loài cá thu được ở hồ Thác Bà, Yên Bái 38

Bảng 2.4: Thí nghiệm thực nhằm xác định điều kiện bất hoạt ấu trùng sán lá 46

Bảng 2.5: Thí nghiệm đông lạnh nhằm bất hoạt ấu trùng sán lá ruột nhỏ 47

Bảng 2.6: Thí nghiệm đông lạnh bất hoạt ấu trùng sán lá gan nhỏ 48

Bảng 2.7: Thí nghiệm đông lạnh bất hoạt ấu trùng sán lá gan nhỏ trong cá 48

Bảng 2.8: Thí nghiệm gia nhiệt nhằm bất hoạt ấu trùng sán lá ruột nhỏ 49

Bảng 2.9: Thí nghiệm gia nhiệt nhằm bất hoạt ấu trùng sán lá gan nhỏ 50

Bảng 2.10: Thí nghiệm ngâm muối nhằm bất hoạt ấu trùng sán lá gan nhỏ 50

Bảng 2.11: Thí nghiệm ướp muối cá nhằm bất hoạt ấu trùng sán lá gan nhỏ 51

Bảng 2.12: Thí nghiệm bất hoạt ấu trùng sán lá gan nhỏ bằng praziquantel 52

Bảng 2.13: Thí nghiệm dùng nước chanh để bất hoạt ấu trùng sán lá gan nhỏ 53

Bảng 2.14: Thí nghiệm bất hoạt ấu trùng sán lá gan nhỏ bằng rượu gạo 53

Bảng 2.15: Tiêu chí căn cứ xác định ấu trùng sán lá bất hoạt 54

Bảng 3.1: Ấu trùng các loài sán lá truyền qua cá ở khu vực miền núi phía Bắc 56

Bảng 3.2: Loài cá nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis 58

Bảng 3.3: Loài cá nhiễm ấu trùng sán lá ruột nhỏ Haplorchis pumilio 60

Bảng 3.4: Loài cá nhiễm ấu trùng sán lá ruột nhỏ Haplorchis taichui 63

Bảng 3.5: Loài cá nhiễm ấu trùng sán lá ruột nhỏ Haplorchis yokogawai 64

Bảng 3.6: Loài cá nhiễm ấu trùng sán lá ruột nhỏ Procerovum varium 66

Bảng 3.7: Loài cá nhiễm ấu trùng sán lá ruôt nhỏ Centrocestus formosanus 67

Bảng 3.8: Tỉ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng sán lá trên cá 68

Trang 5

Bảng 3.9: Thành phần và mức độ nhiễm ấu trùng sán lá theo thủy vực 69

Bảng 3.10: Thành phần và mức độ nhiễm ấu trùng sán lá trên cá ao 70

Bảng 3.11: Thành phần ấu trùng sán lá nhiễm trên cá sông suối 71

Bảng 3.12: Thành phần ấu trùng sán lá trên cá hồ chứa 73

Bảng 3.13: Ấu trùng sán lá ruột nhỏ nhiễm trên cá hồ Thác Bà 75

Bảng 3.14: Thành phần, tỉ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng sán lá 77

Bảng 3.15: Tỉ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ 79

Bảng 3.16: Biến động mùa vụ ấu trùng sán lá gan nhỏ trên cá tại hồ Thác Bà 81

Bảng 3.17: Vật chủ của sán lá gan nhỏ ở khu vực miền núi phía Bắc 106

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Vòng đời sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis 4

Hình 1.2: Các tinh thuộc khu vực miền núi phía Bắc, Việt Nam 30

Hình 1.3: Khu vực vùng của hồ Thác Bà, Yên Bái 31

Hình 2.1 Cách tiếp cận của nghiên cứu 34

Hình 2.2: Quy trình chung để xác định thành phần ấu trùng sán nhiễm trên cá 39

Hình 2.3: Quy trình phân lập ấu trùng sán lá truyền qua cá 40

Hình 2.4: Ấu trùng sán thoát khỏi bào nang 43

Hình 3.1: Ấu trùng sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis 57

Hình 3.2: Sự khác biệt về kích cỡ ấu trùng sán lá gan nhỏ và sán lá ruột nhỏ 57

Hình 3 3: Bào nang ấu trùng Haplorchis pumilio 60

Hình 3 4: Bào nang ấu trùng Haplorchis taichui 62

Hình 3 5: Bào nang ấu trùng Haplorchis yokogawai 64

Hình 3 6: Bào nang ấu trùng Procerovum varium 65

Hình 3 7: Bào nang ấu trùng Centrocestus formosanus 66

Hình 3.8: Tép dầu, vật chủ ấu trùng sán lá gan nhỏ ở hồ Thác Bà, Yên Bái 80

Hình 3.9: Mương xanh, vật chủ của sán lá gan nhỏ tại hồ Thác Bà 82

Hình 3.10: Biến động ấu trùng sán lá gan nhỏ theo tháng trên cá tại hồ Thác Bà 83

Hình 3.11: Biến ấu trùng sán lá gan nhỏ trên Tép dầu hồ Thác Bà 84

Hình 3.12: Tỷ lệ sống sót của ấu trùng H pumilio trong điều kiện đông lạnh 85

Hình 3.13: Ấu trùng sán lá ruôt nhỏ H pumilio trong điều kiện đông lạnh 87

Hình 3.14: Tỉ lệ sống sót của ấu trùng C sinensis trong điều kiện đông lạnh 88

Hình 3.15: Tỉ lệ sống sót của ấu trùng C sinensis trong cá đông lạnh 89

Hình 3.16: Ấu trùng sán lá gan nhỏ C sinensis trong cá đông lạnh 90

Hình 3.17: Tỉ lệ sống sót của ấu trùng H pumilio trong điều kiện gia nhiệt 91

Hình 3.18: Ấu trùng sán lá ruột nhỏ H pumilio trong điều kiện gia nhiệt 92

Hình 3.19: Tỉ lệ ấu trùng C sinensis sống sót trong điều kiện gia nhiệt 93

Trang 7

Hình 3.20: Tỉ lệ sống sót của ấu trùng C sinensis trong điều kiện muối 94

Hình 3.21: Tỉ lệ sống sót của ấu trùng C sinensis trong cá ướp muối 95

Hình 3.22: Ấu trùng sán lá gan nhỏ C sinensis trong điều kiện muối 96

Hình 3.23: Tỉ lệ sống của ấu trùng C sinensis lưu giữ trong kháng sinh 97

Hình 3.24: Tỉ lệ ấu trùng C sinensis bất hoạt trong praziquantel 98

Hình 3.25: Tỉ lệ sống sót của ấu trùng C sinensis trong nước chanh 100

Hình 3.26: Tỉ lệ sống sót của ấu trùng C sinensis trong rượu 101

Hình 3.27: Ấu trùng sán lá gan nhỏ C sinensis trong điều kiện đông lạnh 110

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU Đặt vấn đề

Sán lá truyền lây qua cá (SLTQC) hiện vẫn đang là một vấn nhức nhối đối với sức khỏe cộng đồng các nước thuộc khu vực Châu Á SLTQC như sán lá gan

nhỏ Clonorchis sinensis và Opisthorchis viverrini gây ra các bệnh lý về gan mật,

như xơ gan, tắc ống mật và thậm chí là có thểdẫn tới ung thư đường ống mật ở người bệnh [1–3] Con người nhiễm SLTQC do ăn gỏi cá hoặc cá nấu chưa chín có nhiễm ấu trùng các loài sán này Do vậy, việc nghiên cứu về ấu trùng SLTQC trên

cá là yêu cầu cấp bách nhằm tạo cơ sở khoa học để kiểm soát SLTQC, bảo vệ sức khỏe cộng đồng

Ở nước ta, những năm gần đây, SLTQC trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản (NTTS) đã bắt đầu được quan tâm bởi nó liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm

Đã có nhiều nghiên cứu khảo sát về ấu trùng SLTQC tại nhiều vùng trong cả nước như đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và miền Trung Những khảo sát này đều đã ghi nhận sự hiện diện ấu trùng SLTQC trên động vật thủy sản (cá) như một mối nguy đối với sức khỏe cộng đồng Đặc biệt, ấu trùng

của các loài sán lá ruột nhỏ như Haplorchis pumilio chưa từng được ghi nhận trên người thì thì nay xuất hiện phổ biến ở cá Trong khi đó, ấu trùng sán lá gan nhỏ C sinensis, được cho là nhiễm phổ biến trên người [4–6] và động vật thủy sản [5,7] thì

những nghiên cứu gần đây lại ít gặp và có mức độ nhiễm thấp trên động vật thủy sản, cá [8–11]

Khu vực miền núi phía Bắc (MNPB) là vùng thượng nguồn của hệ thống sông ngòi tạo nên vùng châu thổ sông Hồng; nơi này có các hệ thống sông suối, hồ chứa lớn, là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của động vật thủy sản như cá, tôm,… đây là nguồn thực phẩm quan trọng của người dân và cũng có thể là mối nguy với sức khỏe bởi SLTQC do tập quán ăn gỏi cá ở đây [12] Hiện nay, hầu như chưa có khảo sát nào về vấn đề SLTQC trên các động vật thủy sản tại MNPB, ngoại

trừ có báo cáo về ấu trùng sán lá ruột Centrocestus formosanus nhưng là trên khía

cạnh tác nhân gây bệnh cho cá [13] Chính vì vậy, cần thiết phải tiến hành khảo sát

Trang 9

về ấu trùng SLTQC tại đây nhằm bổ sung thông tin về vùng dịch tễ, đối tượng nhiễm và sự biến động mùa vụ để thấy được bức tranh tổng thể về hiện trạng SLTQC ở Việt Nam nói chung

Hơn nữa, hầu hết các nghiên cứu về SLTQC ở Việt Nam trong thời gian gần chủ yếu trung vào điều tra, khảo sát nhằm xác định vùng phân bố của SLTQC, mức

độ nhiễm và đối tượng nhiễm Tập quán ăn gỏi cá vẫn khá phổ biến không chỉ ở khu vực ĐBSH [14] mà cả MNPB [12] Trong khi đó, những mô hình can thiệp thử nghiệm nhằm giảm thiểu sự lây nhiễm ấu trùng SLTQC trong nuôi hệ thống NTTS vẫn chưa thực sự hiệu quả [10,15,16] Do vậy cần phải có những nghiên cứu xác định các điều kiện để vô hiệu hóa khả năng lây nhiễm của ấu trùng SLTQC cho con người, đây là cơ sở khoa học để xây dựng các hướng dẫn trong bảo quản, chế biến

sản phẩm thủy sản đảm bảo an toàn với SLTQC như sán lá gan nhỏ C sinensis

Với kinh nghiệm, hiểu biết và trăn trở của bản thân về vấn đề SLTQC ở Việt

Nam, chúng tôi đã triển khai Đề tài “Nghiên cứu hiện trạng ấu trùng sán lá có

khả năng lây truyền cho người nhiễm trên cá ở Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam” làm Luận án tiến sỹ với những mục tiêu cụ thể như sau:

Mục tiêu nghiên cứu

1) Xác định được thành phần ấu trùng sán lá truyền qua cá và sự phân bố của chúng trên cá ở khu vực miền núi phía Bắc;

2) Xác định được sự biến động mùa vụ của ấu trùng sán lá truyền qua cá phổ biến trên cá ở khu vực miền núi phía Bắc;

3) Xác định được các điều kiện chế biến và bảo quản có khả năng bất hoạt ấu trùng sán lá truyền qua cá;

Nội dung nghiên cứu

Để đạt được những mục tiêu nêu trên, Đề tài đã thực hiện 3 nội dung nghiên cứu chính như sau:

1) Nghiên cứu thành phần ấu trùng sán lá có khả năng gây bệnh cho người trên cá tại một số tỉnh (Thái Nguyên, Yên Bái, Lào Cai, Điện Biên, và Sơn

Trang 10

La) thuộc khu vực miền núi phía Bắc;

2) Nghiên cứu sự biến động của ấu trùng sán lá gan nhỏ C sinensis trên một

số loài cá tại khu vực hồ Thác Bà, Yên Bái;

3) Nghiên cứu điều kiện bất hoạt và lưu giữ ấu trùng sán lá truyền qua cá;

Những đóng góp mới của Luận án

Đưa Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam vào trong bản đồ phân bố chung

của sán lá truyền qua cá (ấu trùng của 6 loài sán lá gồm C sinensis, H pumilio, H taichui, H yokogawai, C formosanus và P varium) ở Việt Nam, trong đó đặc biệt

là nghiên cứu đã xác định được vùng dịch tễ mới và hết sức quan trọng của sán lá

gan nhỏ C sinensis là vùng hồ Thác Bà, Yên Bái, đây không chỉ là đóng góp mới

với Việt Nam mà cả với khu vực

Nghiên cứu đã phát hiện thêm 6 loài vật chủ mới gồm Tép dầu, Ngão gù, cá Nhưng, Cháo thường, Dầm đất và Bống hoa vào danh mục vật chủ của sán lá gan

nhỏ tại Việt Nam, trong đó đặc biệt là cá Tép dầu T houdemeri được xác định như vật chủ đặc trưng, vật chủ chỉ thị của sán lá gan nhỏ C sinensis ở Việt Nam Việc

xác định được vật chủ chỉ thị có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc khảo sát xác định vùng dịch tễ của sán lá gan nhỏ này

Nghiên cứu đã bổ sung cơ sở khoa học mới về điều kiện bất hoạt ấu trùng

sán lá truyền qua cá, đặc biệt là ấu trùng sán lá gan nhỏ C sinensis góp phần xây

dựng các hướng dẫn trong việc chế biến và bảo quản đúng quy trình nhằm đảm bảo

an toàn đối với ấu trùng sán lá trong các sản phẩm thủy sản

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Đặc điểm vòng đời sán lá truyền qua cá

SLTQC có vòng đời phức tạp qua nhiều giai đoạn vật chủ khác nhau; vật chủ trung gian thứ 1 (ốc, nhuyễn thể), vật chủ trung gian thứ 2 (cá, tôm) và vật chủ cuối cùng hay vật chủ chính (người và động vật ăn cá) Hình 1.1 là vòng đời của sán lá

gan nhỏ C sinensis, đại diện cho SLTQC

Hình 1.1: Vòng đời sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis

Sán lá gan nhỏ C sinensis trưởng thành sản sinh ra trứng (b), trứng thoát ra

ngoài theo phân của vật chủ cuối cùng, vào môi trường nước Ốc (B) – Vật chủ trung gian thứ 1, trong môi trường nước đã thụ động hoặc chủ động nhiễm trứng sán

Nguồn: [17]

Trang 12

trong quá trình lọc mùn bã hữu cơ làm thức ăn Trong vật chủ ốc phù hợp, trứng sẽ phát triển qua một số giai đoạn (c, d, e, f) để thành trùng đuôi gọi là cercariae (f) Cercariae được thải ra ngoài môi trường nước khi đã phát triển hoàn thiện, sau đó xâm nhập vào cá – Vật chủ trung gian thứ 2 (C) Cercariae rụng đuôi, xâm nhập qua

da, di chuyển đến các mô và phát triển thành bào nang gọi là metacercariae (g) trong loài vật chủ cá phù hợp Người hoặc động vật ăn (A) cá sống hoặc cá nấu chưa chín có chứa ấu trùng, nang ấu trùng bị phá vỡ trong tá tràng, sán non thoát khỏi nang và phát triển thành sán trưởng thành (a) trong túi mật và đường ống mật trong gan [17]

1.2 Nghiên cứu sán lá truyền lây qua cá trên thế giới

1.2.1 Sán lá truyền qua cá trên người

1.2.1.1 Sự phân bố của sán lá truyền qua cá

Người được xem là vật chủ chính của SLTQC Tổng kết qua những công trình nghiên cứu đăng trên tạp chí quốc tế, Nguyễn Mạnh Hùng và cs (2013) đã công bố; toàn cầu có 12 loài sán lá gan nhỏ thuộc họ Opisthorchiidae và 47 loài sán

lá ruột nhỏ thuộc 3 họ trong đó 36 loài thuộc họ Heterophidae, 10 loài thuộc họ Echinostomatidae và 1 loài thuộc họ Nanophyetidae [18] Hầu hết các nghiên cứu

về SLTQC đều quan tâm đến nhóm sán lá gan nhỏ trong đó đặc biệt là C sinensis

và O viverrini

Sán lá gan nhỏ C sinensis phân bố chủ yếu ở các quốc gia và khu vực bao

gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, khu vực miền Bắc Việt Nam và vùng Viễn Đông Nga [1,19–21] Hiện có khoảng 200 triệu người có nguy cơ lây nhiễm và hơn 15 triệu

người đã nhiễm C sinensis trên toàn cầu, trong đó Trung Quốc có số người nhiễm

nhiều nhất, khoảng 13 triệu người [17], Hàn Quốc có khoảng 1,4 triệu người nhiễm

C sinensis và nơi có tỉ lệ nhiễm cao nhất (40-48%) là cộng đồng dân cư gần Sông

Nakdong [22] Vùng Viễn Đông thuộc Nga, đặc biệt khu vực gần Sông Amur, ước

tính có khoảng 3000 người nhiễm sán lá gan nhỏ C sinensis [23,24]

Vùng dịch tễ của O viverrini chủ yếu là các khu vực thuộc hệ thống sông

Trang 13

Mekong qua các nước Thái Lan, Lào, Căm-Phu-Chia và Việt Nam Trong đó, Thái

Lan là vùng dịch tễ lớn nhất của sán lá gan nhỏ O viverrini, tỉ lệ nhiễm trung bình

là 14%, ước tính khoảng 7 triệu người nhiễm theo kết quả điều tra năm 1980-1981

[25] Sau nhiều nỗ lực can thiệp, Thái Lan hiện có khoảng 6 triệu người nhiễm O viverrini [26] Tại Lào, có khoảng 1,7 triệu người nhiễm sán lá gan nhỏ O viverrini năm 1992 [24] Vùng dịch tễ của O viverrini trên người tại Lào cũng nằm dọc theo

sông Mekong, như tỉnh Khammuane, Saravane hoặc Savannakhet, nơi có tỉ lệ nhiễm tương ứng là 32,2%; 21,5% và 25,9% [27], một số vùng của huyện Saravane còn được ghi nhận tỉ lệ nhiễm loài sán lá gan này tới 58,5% trong báo cáo cách đây khoảng 10 năm [28] Tại Căm – Pu - Chia, trong một điều tra nghiên cứu tập trung

vào sán lá gan nhỏ O viverrini tại một số cộng đồng người sống dọc sông Mekong cho thấy tỉ lệ nhiễm O viverrini là trên 10% [29] và trước đó O viverrini cũng

được báo cáo tại đây [30]

Sán lá gan nhỏ O felineus, mới đây tiếp tục được ghi nhận trên người ở khu

vực phía Tây Siberia (Liên Bang Nga) như Tomsk Oblast, Khanty Mansiysk Autonomous Okrug [31] Một điều tra dịch tễ trên người dựa trên phương pháp Kato-Katz, các nhà khoa học đã cho biết có tới 55,3% số người được xét nghiệm

dương tính với trứng của O felineus tại cộng đồng dân cư khu vực phía Tây Siberia

[32]

1.2.1.2 Vấn đề sức khỏe cộng đồng

Một số loài SLTQC có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng như sán lá gan nhỏ Sán lá gan nhỏ có thể tồn tại trong ống mật của người bệnh tới

26 năm [33] Năm 2009, Hiệp hội nghiên cứu ung thư quốc tế đã xếp sán lá gan nhỏ

C sinensis và O viverrini vào nhóm tác nhân gây ung thư (nhóm 1) ở người [34]

Phân tích dựa trên hàng loạt các công trình nghiên cứu được xuất bản đăng trên tạp chí quốc tế cho thấy nguy cơ (Incidence Risk Ratio - IR) dẫn đến ung thư của các nhóm người; 1) nhiễm sán lá gan nhỏ, 2) nhiễm vi rút gây viêm gan B và 3) nhiễm vi rút viêm gan C tương ứng là là 4,8; 2,6 và 1,8 Như vậy, có thể thấy nhiễm sán lá gan nhỏ có nguy cơ dẫn đến ung thư gan ở người cao hơn so với người nhiễm

Trang 14

vi rút viêm gan B và viêm gan C [35] Tại Hàn Quốc, một nghiên cứu dịch tễ đã chứng minh điều tương tự; nghiên cứu tại 3 vùng có tỉ lệ người chết do ung thư

đường ống mật là 0,3; 1,8 và 5,5 trên 100.000 người thì tỉ lệ người nhiễm C sinenis

tương ứng là 2,1%, 7,8%, và 3,3% [36] Phân tích những bệnh nhân bị bệnh ung thư gan cũng cho thấy mối tương quan chặt chẽ của những người có tiền sử ăn gỏi cá

nước ngọt với kết quả xét nghiệm máu dương tính sán lá gan nhỏ C sinensis và bệnh

ung thư gan [37] Và có khoảng 10% số bệnh nhân bị ung thư đường ống mật là do

nhiễm sán lá gan nhỏ C sinensis [20]

Sán lá gan nhỏ O viverrini có thể gây một số những bệnh lý về gan bao gồm

tiến triển xơ hóa mô gan và ung thư đường ống mật Gần 25% số người nhiễm sán

lá gan nhỏ này bị xơ hóa và 1% tiển triển thành ung thư đường ống mật [38] Theo thống kê, có khoảng 10.000 đến 20.000 ca bệnh ung thư đường ống mật mới được chỉ định phẫu thuật mỗi năm [3] Trong một nghiên cứu tại khu vực Đông Bắc Thái

Lan, 47.258 người được sàng lọc thì có 42,2% người nhiễm O viverrini và 2.661

trường hợp được xác định đã bị ung thư đường ống mật [39]

Sán lá ruột nhỏ hầu hết không gây bệnh nghiêm trọng như sán lá gan nhỏ trừ một số trường hợp nhiễm nặng Bệnh lý thông thường gây ra bởi sán lá ruột nhỏ là hiện tượng teo lông nhung ruột, tăng sinh tế bào niêm mạc với mức độ khác nhau

[40] Nghiêm trọng hơn, một số loài như Stellantchasmus falcatus, Haplorchis spp

và Procerovum spp ký sinh lạc chỗ ở người, có thể dẫn đến tử vong; vị trí lạc chỗ

gây nguy hiểm là van tim, não bộ và tủy sống [41] Trứng của sán lá ruột nhỏ

Heterophyes heterophyes đã được tìm thấy đóng kén trong não của bệnh nhân có

triệu chứng thần kinh là một bằng chứng cụ thể về hiện tượng lạc chỗ của SLTQC [42]

Rất khó để thống kê đầy đủ về những tổn thất/thiệt hại do SLTQC gây ra cho

xã hội trên toàn cầu Chỉ riêng Thái Lan, hàng năm nước này mất khoảng 120 triệu

đô la Mỹ cho chi phí y tế (khám và chữa bệnh) và giảm công lao động do người bệnh không thể tham gia vào hoạt động sản xuất [26]

Trang 15

1.2.2 Ấu trùng sán lá truyền qua cá ở động vật thủy sản

1.2.2.1 Những nghiên cứu về ấu trùng sán lá truyền qua cá ở động vật thủy sản

Các nhà ký sinh trùng học người Nhật bản là những người đã góp công lớn

trong việc làm sáng tỏ vòng đời của sán lá gan C sinensis là đại diện cho những

loài SLTQC nói chung và những hiểu biết về dịch tễ học của bệnh Harujiro Kobayashi là người đầu tiên xác định cá thuộc họ cá chép là ký chủ trung gian thứ 2

của C sinensis vào năm 1912 [43]

Trung Quốc là vùng dịch tễ của SLTQC, đặc biệt là sán lá gan nhỏ C sinensis Nghiên cứu điều tra dịch tễ học trên cá nước ngọt và tôm tại 32 điểm, 9

vùng thuộc Đồng bằng Sông Pearl Tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ trung bình trên cá là 37,09% (2,160/5,824) với cường độ là 14.269 ấu trùng trên mỗi cá nhiễm

và 0,460 ấu trùng/g Trong đó cá nuôi nhiễm 36,69% với 10,743 ấu trùng/cá nhiễm

và 0,312 ấu trùng/g; cá tự nhiên nhiễm tới 40,50% với 41,829 ấu trùng/cá nhiễm và 8,812 ấu trùng/g Tôm nhiễm 3,07% với cường độ 1,00 ấu trùng/tôm nhiễm Cá

Pseudorasbora parva và Ctenopharyngodon idellus (Trắm cỏ) có tỷ lệ nhiễm cao

nhất [44]

Shen và cs (2010) cũng đã có nghiên cứu dịch tễ học về hiện trạng sán lá gan nhỏ trên cá tư nhiên tại các Sông thuộc các địa hạt Sanjiang, Rongan, Rongshui, Liucheng, Liuzhou và Xiangzhou, Trung Quốc Tổng số 16.204 cá thể thuộc 35 loài

thu được, đã tìm thấy C sinensis trên 32 loài với tỷ lệ nhiễm chung là 10,5% và

cường độ 4,6 metacercariae/g Tỷ lệ nhiễm cao nhất 21,5% và cường độ 9,9/g trên cá

P parva, tiếp theo là Zacco platypus 17,8% và 8,9/g Có sự dao động về tỷ lệ nhiễm

giữa các vùng; Xiangzhou 12,3% Sanjiang 9,1% và Liuzhou 9,7% và giữa các mùa trong năm; cao ở mùa Hè và Thu, nhưng thấp hơn ở mùa Xuân và Đông Cá sống các tầng đáy có tỷ lệ nhiễm cao hơn so với tầng mặt và tầng giữa Các loài cá ăn tạp và ăn thực vật nhiễm cao hơn so với các loài cá ăn động vật [44]

Năm 2007 - 2008, Hàn Quốc đã có một khảo sát toàn quốc về hiện trạng ấu

trùng sán lá gan nhỏ C sinensis trên cá nước ngọt Khảo sát thực hiện tại 34 vùng

Trang 16

trong cả nước và thu được 677 mẫu cá thuộc 21 loài khác nhau Trong đó 8 loài thuộc 17 vùng khác nhau dương tính Tỷ lệ và cường độ nhiễm khác nhau giữa các

loài: cá P parva nhiễm với tỉ lệ 48% (1- 1.142 ấu trùng/cá), Pungtungia herzi nhiễm 60% (1-412 ấu trùng/cá); Pseudogobio esocinus nhiễm 15,7% (1-23 ấu trùng/cá); Acheilognathus intermedia nhiễm 29% (1-7 ấu trùng/cá); Odontobutis interrupta nhiễm 21% (1-4 ấu trùng/cá); Zacco temmincki nhiễm 33% (1- 6 ấu trùng/cá), Z platypus nhiễm 3,6% (1-4 ấu trùng/cá) và Hemibarbus labeo nhiễm với

tỉ lệ 26,3% và cường độ trung bình là 1 ấu trùng/cá [45] Một nghiên cứu khác trên

diện rộng về sán lá gan nhỏ ở 2 loài cá là P herzi và Squalidus japonicus coreanus tại

3 vùng địa lý khác nhau Bắc, Trung và Nam, Hàn Quốc Tỷ lệ và cường độ nhiễm trên 2 loài cá này ở miền Bắc được ghi nhận là rất thấp; 0,7% và 2,6 ấu trùng/cá trong khi đó miền Trung nhiễm 12,8% và 164 ấu trùng/cá và miền Nam tỷ lệ nhiễm rất cao 39,5% và 159 ấu trùng/cá [46] Bên cạnh sán lá gan nhỏ, sán lá ruột nhỏ cũng được xác nhận có sự phân bố khá phức tạp tại Hàn Quốc Có 8 loài sán lá ruột nhỏ bao gồm

M yokogawai, M takahashii, M miyatai, C armatus, E hortense, E cinetorchis, E japonicus, hoặc P muris phát hiện nhiễm trên cá nước ngọt và 6 loài bao gồm H nocens, H continua, P summa, S falcatus, S fuscata, và S lari nhiễm trên cá nước

lợ [40]

Hồ Nhật Nguyệt, miền Trung của Đài Loan cũng được biết đến như là vùng dịch tễ bệnh sán lá gan nhỏ Clonorchiasis Một nghiên cứu điều tra về thành phần loài và tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá trên cá Mương xanh đã được thực hiện tại hồ này vào tháng 10 năm 1995 Số lượng ấu trùng sán thu được dao động từ 2 đến 2,185 ấu trùng/cá, trung bình là 254 ấu trùng/cá với tổng số 11,443 ấu trùng Ấu trùng được

phân loại là 4,064 (96,23%) H taichui; 90 (2,13%) H pumilio, chỉ 2 (0,05%) là C sinensis và 67 (1,59%) ấu trùng chưa định loại [47] Wang và ctv (2002) đã ghi nhận H pumilio, H taichui và C sinensis nhiễm với tỷ lệ lần lượt là 16,2%, 3,3%

và 0,9% trên cá cá Trắm cỏ thu được từ các ao nuôi tại thị trấn Meinug, Đài Loan [48]

Tại Thái Lan, 9 loài cá tự nhiên thuộc họ cá chép thu tại Hồ chứa nhân tạo và

Trang 17

tự nhiên tại huyện Ban Pao, tỉnh Chiang Mai, Thái Lan có nhiễm sán lá gan nhỏ O viverrini, ngoài ra còn phát hiện ấu trùng sán lá ruột nhỏ họ Heterophidae như H taichui, H pumilio và Centrocestus spp Đặc biệt sán lá ruột nhỏ H taichui nhiễm cao hơn 384 lần so với sán lá gan nhỏ O viverrini Trong số các loài cá, Puntius leiacanthus nhiễm H taichui với cường độ cao nhất; 182 ấu trùng/cá trong khi đó P orphoides nhiễm O viverrini nặng nhất; 1,4 ấu trùng/cá [49]

Hồ chứa lớn không những là môi trường sống cho các loài động vật thủy sản

mà còn là môi trường sinh thái phù hợp cho sự phát triển của sán lá truyền qua cá Thu mẫu và xét nghiệm tới 62 loài cá khác nhau tại 2 hồ chứa là Mae Ngad và Mae Kuang Udomtara tại tỉnh Chiang Mai, Thái Lan Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện

ít nhất 2 loài sán lá ruột nhỏ là Haplorchis taichui và Haplorchoides sp., nhiễm với

tỷ lệ; 83,9 và 74,2% tương ứng ở các hồ chứa nói trên [50]

1.2.2.2 Tính đặc trưng vật chủ của metacercariae

Một số loại ấu trùng SLTQC được xem là có vật chủ trung gian (loài cá) đặc trưng Theo Rhee et al (1980) đó là a xít linoleic trong nhớt được tiết ra từ biểu mô

cá nó giúp vật chủ kháng lại ấu trùng cercariae [51] Nghiên cứu trước đây cho thấy

nhớt tiết ra từ biểu mô của cá vàng Cyprinus carpio và Aplocheilus latipes không

chỉ hoạt hóa với cercariae mà còn cả với metacercariae [52] Khả năng hoạt hóa của thành phần hóa học này khác nhau ở mỗi loài cá cũng như tác dụng đặc hiệu với

mỗi loại ấu trùng sán Đây cũng chính là lý do cá P parva là vật chủ đặc trưng của

ấu trùng sán lá gan nhỏ C sinensis Bởi theo nghiên cứu, nhớt của P parva cần đến 8,5 giờ để làm chết cercariae của C sinensis trong khi đó nhớt của loài cá khác chỉ

mất đến 3-6 phút, mà thông thường, cercariae chỉ cần cần 2-3 phút để xâm nhập qua

Trang 18

Lan, nhiều loài cá thuộc họ cá Chép như Puntius orphoides, P leiacanyhus, Cyclochelicthys apogon, C armartus, C siaja và Hampala dispar được xác định nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ O viverrini [56]

1.2.2.3 Biến động mùa vụ ấu trùng sán lá truyền qua cá

Trong thí nghiệm gây nhiễm cercariae của C sinensis với cá Trắm cỏ, ở

nhiệt độ dưới 10oC, ấu trùng này không thể xâm nhập được vào cá, chỉ một số lượng nhỏ ấu trùng xâm nhập được ở nhiệt độ 15o

C Nhiệt độ tối ưu nhất cho ấu trùng nhiễm vào cá là 25oC Ở nhiệt độ này, có 84,5% ấu trùng phát triển một cách hoàn thiện sau 20 ngày nhưng ở nhiệt độ 15oC để 75,6% ấu trùng phát triển hoàn

thiện phải mất tới 50 ngày [57] Nghiên cứu tại Trung Quốc cho thấy ấu trùng C sinensis bắt đầu xuất hiện và nhiễm trên cá vào giai đoạn tháng 4 khi nhiệt độ tăng

lên từ 16 đến 22,9oC và có xu hướng tăng cao vào tháng 6 và 7 khi nhiệt độ là

24-27oC rồi sau đó giảm dần [53]

Tại Hàn Quốc, nghiên cứu trước đây cho thấy, ấu trùng C sinensis nhiễm

trên cá nhiều nhất là vào tháng 9 và thấp nhất vào tháng 12 và tháng 1 [58] Tuy

nhiên, nghiên cứu gần đây lại cho thấy ấu trùng C sinensis thường thấy nhiễm

nhiều trên cá giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 7, đỉnh điểm là tháng 6 (giai đoạn mùa Hè) do cercariae thường ít thoát ra khỏi ốc giai đoạn từ tháng 11 đến tháng 3 (giai đoạn mùa Đông) [55] Huang và Khaw (1964) đã có khảo sát về mùa vụ nhiễm ấu

trùng trên cá Pseudorasbora parva tại Đài Loan cho thấy; tỉ lệ cá P parva nhiễm ấu trùng C sinensis là 100% vào mùa Hè (tháng 6-8) với 418 ấu trùng/cá, 96,6% vào

mùa Thu - Đông (tháng 9-11) với 309 ấu trùng/cá; 80% vào Đông - Xuân (tháng 2) với 96 ấu trùng/cá; rồi lại dần tăng lên vào giai đoạn Xuân - Hè (tháng 3-5) với

12-227 ấu trùng/cá Đáng lưu ý là cường độ nhiễm tăng một cách đột biến vào tháng 5,

từ 152 ấu trùng/cá vào tháng 4 lên đến 313 ấu trùng/cá vào tháng 5 chỉ sau 1 tháng [53]

Tại Thái Lan, lượng ấu trùng sán lá gan nhỏ O viverrini trong cá cũng biến động theo mùa vụ tại vùng Đông Bắc - vùng dịch tễ của sán lá gan nhỏ O viverrini

Nghiên cứu cho thấy, sự biến động khác nhau tùy theo vật chủ nhưng lượng ấu trùng

Trang 19

tìm thấy trên cá có xu hướng cao hơn vào cuối mùa mưa từ tháng 7 đến tháng 1 và thấp hơn vào mùa Hè từ tháng 3 đến tháng 6 [59] Tương tự, điều tra nghiên cứu tại Chiang Mai, Thái Lan, cho thấy ấu trùng sán lá ruột nhỏ họ heterophyid cũng biến động theo mùa vụ Tỷ lệ nhiễm ấu trùng các loài sán lá ruột trên cá cao nhất 95% trong thời kỳ mùa đông tháng 11 đến tháng 1 và thấp nhất 90% trong giai đoạn mùa Hè; tháng 2 đến tháng 4 [60]

1.2.2.4 Điều kiện bất hoạt ấu trùng sán lá truyền qua cá

Nghiên cứu khả năng sống sót của ấu trùng sán lá gan nhỏ C sinensis trong cá

-20oC ấu trùng này chết sau 3-7 ngày [61] Quy chế số 852/2004 của Nghị viện và Hội đồng cộng đồng Châu Âu có quy định; ấu trùng sán trong sản phẩm thủy sản phải được bất hoạt (không còn khả năng lây nhiễm) bằng phương pháp đông lạnh ở -100C trong 10 ngày, –200C trong 3 - 4 ngày, -280C trong vòng 28 giờ hoặc -350C trong vòng 15 giờ Theo khuyến cáo của Bộ Y tế, USSR - Cộng hòa liên bang Soviet

(1990), ấu trùng sán lá gan nhỏ O felineus trong cá cần được bảo quản ở -280C trong

32 giờ hoặc -400C trong 7 giờ để bất hoạt chúng Fattakhov (1989) cho biết đông lạnh

cá ở -28, -35 và -400C sẽ cần 20 giờ, 8 giờ và 2 giờ tương ứng để bất hoạt ấu trùng

sán lá gan nhỏ O felineus [62]

Muối cũng được sử dụng như một biện pháp làm bất hoạt ấu trùng sán Trong điều kiện nước muối (3 mg muối/10 mg cá) ử ở 26oC, ấu trùng sống từ 5-15

ngày [61] Ở nồng độ muối 13,6% ấu trùng Opisthorchis sp trong cá được lên men

sẽ bị chết sau 24 giờ [63] nhưng ở độ muối 20%, ấu trùng bị bất hoạt sau 5 giờ [64]

Tuy nhiên, ấu trùng C sinensis ở cá nhiễm tự nhiên trong để bất hoạt dung dịch

nước muối 30% cần phải mất 8 ngày [61]

1.3 Nghiên cứu sán lá truyền lây qua cá trong nước

1.3.1 Sán lá truyền qua cá trên người

Trước đây, Tổ chức Y tế thế giới, đã báo cáo có khoảng 1 triệu người nhiễm

sán lá gan nhỏ; C sinensis ở miền Bắc và O viverrini ở miền Trung Tây Nguyên,

Trang 20

Việt Nam [24] Một số khảo sát cũng đã xác nhận về sự phân bố của sán lá gan nhỏ trên người ở nhiều tỉnh thành trong cả nước, đặc biệt là một số vùng dịch tễ quan trọng như Nam Định, Ninh Bình và Phú Yên [4,65,66]

Trong giai đoạn 10 năm qua, đã có nhiều điều tra trên người tại các vùng dịch tễ hoặc vùng có nguy cơ nhiễm SLTQC Nhìn chung, có sự biến động rất khác biệt giữa các vùng; tỉ lệ nhiễm sán lá trên người thường rất thấp ở các tỉnh phía Nam, cao dần ở khu vực miền Trung đến khu vực các tỉnh đồng bằng Bắc bộ Tỉ lệ nhiễm sán lá trên người được báo cáo chỉ 0,6% đối với các hộ nuôi trồng thủy sản tại 5 huyện thuộc tỉnh Nghệ An [67] Trong khi đó, tại Nam Định tỉ lệ nhiễm SLTQC trên người là 64,9% Nghiên cứu cũng xác định được 1 loài sán lá gan nhỏ

là C sinensis và 4 loài sán lá ruột nhỏ bao gồm H pumilio, H taichui, H yokogawai và S falcatus Chọn lựa môt số trường hợp dương tính SLTQC để đãi phân thu sán; có 51,5% thu được sán lá gan nhỏ C sinensis trường thành, hầu như

100% số người này đều thu được sán lá ruột nhỏ trưởng thành từ 1 - 4 loài, đặc biệt

là H pumilio chiếm đến 90,4% [68] Ở một địa điểm khác tại Nam Định, sán lá gan nhỏ C sinensis cũng được xác định nhiễm tới 26%, trong đó nam giới nhiễm nhiều

hơn nữ giới 3,6 lần do thói quen ăn gỏi chủ yếu ở nam giới [69] Giải thích cho sự khác nhau này, nghiên cứu tập trung vào nhóm đối tượng ăn gỏi cá tại Hải Hậu, Nam Định, xét nghiệm đối tượng có nguy cơ này cho thấy có 40,2% mẫu dương tính với SLTQC [70] Tại Ninh Bình, nghiên cứu gần đây cho thấy có 16,5 - 20,5%

và 31,7% người nhiễm SLTQC lần lượt ở các huyện Gia Viễn và Kim Sơn [11,71] Những điều tra khác trên người được triển khai bởi Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và

Côn trùng Trung ương xác nhận vùng dịch tễ của sán lá gan nhỏ C sinensis ở Hà Nam, Thanh Hóa, Hòa Bình và Hà Nội và O viverrini ở Phú Yên, Bình Định,

Quảng Trị và Đắc Lắc [72] Một vùng dịch tễ của sán lá truyền lây qua cá mới gần đầy vừa được phát hiện tại huyện Lục Yên, Yên Bái Kết quả xét nghiệm phân dương tính với trứng sán lá lên tới 35% [73]

Hầu hết các khảo sát về SLTQC trên người (Bảng 1.1) trong thời gian qua đều được trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện bởi Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng Trung ương dựa trên phương pháp xét nghiệm mẫu phân hay gọi là Kato-

Trang 21

Katz Sự tương đồng về hình thái trứng của các loài SLTQC trong tiêu bản Katz là một trở ngại trong chẩn đoán đòi hỏi các kỹ thuật viên xét nghiệm cần có kinh nghiệm Tuy nhiên, hầu hết các khảo sát trên người chỉ dừng lại ở việc xác định tỉ lệ nhiễm SLTQC nói chung Để xác định rõ hơn về thành phần loài SLTQC thì cần phải cho bệnh nhân uống thuốc và đãi phân để thu sán trường thành - đây là việc hết sức phức tạp

Kato-Bảng 1.1: Sán lá truyền qua cá trên người tại một số vùng dịch tễ ở nước ta

SLTQC: Sán lá truyền qua cá *Opisthorchis viverrini

1.3.2 Sán lá truyền qua cá trên động vật

Những nghiên cứu đã xác định chó, mèo là vật chủ lưu trữ quan trọng đối với

sán lá gan nhỏ C sinensis tại khu vực miền Bắc nước ta [5,74] và O viverrini ở

miền Trung Tây Nguyên [5,65] Những nghiên gần đây, ngoài sán lá gan nhỏ, hàng loạt các loài sán lá ruột nhỏ cũng đã được phát hiện nhiễm trên nhiều vật chủ lưu trữ khác nhau như chó, mèo, lợn, gà, vịt và chuôt (Bảng 1.2)

Động vật nuôi như chó, mèo và lợn là nguồn lây truyền SLTQC chính trong vùng dịch tễ Tại cùng một địa điểm ở Nghệ An, mặc dù người chỉ xác định nhiễm

Trang 22

dưới 1% [67], tuy nhiên tỉ lệ nhiễm ở mèo, chó và lợn tương ứng là 48,6%; 35,0%

và 14,4% và có đến 7 loài sán lá ruột nhỏ được xác nhận tại nghiên cứu này [73] Kết quả nghiên cứu này cùng phù hợp với một công bố gần đây về thành phần loài

ấu trùng tìm được trên cá [76]

Bảng 1.2: Sán lá truyền qua cá trên động vật tại một số vùng dịch tễ ở nước ta

SLTQC: Sán lá truyền qua cá; *Clonorchis sinensis; **Opisthorchis viverrini; # mèo từ lò mổ

Tại Nam Định, kết quả điều tra về vật chủ lưu trữ phản ảnh đúng tình hình nhiễm sán trên người [68], tỉ lệ nhiễm được công bố là 70,2% ở mèo; 56,9% ở chó

và 7,7% ở lợn Nghiên cứu xác định được 1 loài sán lá gan nhỏ C sinensis và 11 loài sán lá ruột nhỏ thuộc các giống Haplorchis, Stellantchasmus, Stictodora và Centrocestus [77] Cũng tại vùng dịch tễ này; vịt, gà và chuột cũng được xem là vật

chủ chính của một số loài sán lá ruột nhỏ mặc dù tỉ lệ nhiễm thấp [78,79]

Tại Ninh Bình, chó, mèo và lợn cũng được xác nhận là vật chủ chính của SLTQC bởi tỉ lệ nhiễm khá cao, tương ứng là 32,7%; 9,0%, và 6,0% trong đó có sán

lá gan nhỏ C sinensis [11] Nghiên cứu gần đây của Dao et al (2013, 2016) đã công

bố loài O viverrini được phát hiện nhiễm trên vịt nuôi tại Bình Định thuộc khu vực miền Trung với tỉ lệ nhiễm là 34,3% [80,81], đây vốn là vùng dịch tễ của O viverrini Nhóm tác giả cũng cung cấp bằng chứng về phân tử giữa những mẫu

Trang 23

nghiên cứu so sánh với các trình tự của loài O viverrini đã công bố trên GenBank

Tuy nhiên Nawa et al (2015) đã phân tích và cho rằng nhóm tác giả trên đã nhầm

lẫn về định loại giữa loài O viverrini và O paragenimus, cũng như khoảng cách di truyền giữa những mẫu nghiên cứu so với loài O viverrini là quá lớn, vượt qua

khoảng cách biến dị trong loài [84]

Mới đây, nghiên cứu tại các lò mổ mèo, chủ yếu tại Thái Bình đã phát hiện

42,9% mèo tìm thấy sán lá gan nhỏ C sinensis trong gan, mật với cường độ 2- 1.724 sán/mèo và 2,0% sán lá gan nhỏ O viverrini 20-140 sán/mèo [82] Việc có mặt C sinensis trên mèo thu tại lò mổ ở Thái Bình không lạ, nhưng ngạc nhiên là

O viverrini được phát hiện trên mèo tại đây mặc dù tỉ lệ thấp Ở các tỉnh phía Nam,

mèo tại các lò mổ ở Đồng Tháp và Tây Ninh cũng được xác nhận nhiễm sán lá gan

nhỏ O viverrini với tỉ lệ nhiễm lần lượt là 2,5% và 17,8% [83]

1.3.3 Ấu trùng sán lá truyền qua cá trên ốc

Ốc là vật chủ trung gian thứ 1 của sán lá truyền lây qua cá Các dạng ấu trùng khác nhau của sán lá truyền qua cá được mô tả khi phát hiện nhiễm trên một

số loài ốc; ấu trùng Parapleurolophocercous nhiễm trên ốc T scabra, M tuberculata, B fuchsiana và S messageri trong khi đó pleurolophocercous nhiễm trên B fuchsiana và S messageri [85] Tuy nhiên, trong giới hạn nhất định, nghiên

cứu chưa xác định chính xác loại ấu trùng nào thuộc loài sán cụ thể Nhưng ở một nghiên cứu khác, dạng ấu trùng parapleurolophocercous được mô tả tương tự như

trong nghiên cứu này đã được xác định là H pumilio [86] Trong môi trường tự

nhiên, paraleurolophocercous chiếm khoảng 40% tất cả các dạng ấu trùng cercariae

nhiễm trên ốc, đặc biệt là loài M tuberculata, vật chủ phổ biến nhất ở tất cả các môi

trường (kênh mương, ruộng và ao) Loại ấu trùng này còn được phát hiện trên các

loài ốc thuộc họ Thiariidae và S mesageri tại Nam Định [87] Ấu trùng parapleurolophocercous phát hiện nhiễm trên ốc Bithynidae (B fuchsiana và P striatus) và Thiaridae (M tuberculata…) ở miền Bắc [88] Ở Ninh Bình, M tuberculata và B fuchsiana là loài phổ biến nhất, tuy nhiên parapleurolophocercous cercariae chỉ phát hiện trên ốc M tuberculata [11]

Trang 24

Mặc dù, tỉ lệ ốc nhiễm ấu trùng rất nhỏ nhưng rủi ro lây truyền rất lớn bởi nó

có thể thải ra một lượng lớn ấu trùng Nhóm ấu trùng parapleurolophocercous phát triển thành các loài sán lá ruột nhỏ trong khi đó pleurolophorcercous phát triển thành cả sán lá ruột và sán lá gan nhỏ Những kết quả nghiên cứu trên cho thấy ấu trùng nhóm parapleurolophocercous chiếm ưu thế [11,85,87,88] Điều này giải thích tại sao sán lá ruột nhỏ là những loài chủ yếu nhiễm trên vật chủ cuối cùng và cá tại các tỉnh miền Bắc [15,68,75,77,89] Hình thái ấu trùng cercariae của sán khá phức

tạp – khó xác định dựa vào hình thái, cả C sinensis và O viverrini đã phát trên cá

nước ngọt, động vật (chó, mèo…) và người nhưng vẫn chưa rõ về ấu trùng của

chúng ở các vật chủ tiềm năng là ốc B fuchsiana và P manchouricus

1.3.4 Ấu trùng sán lá trên cá

1.3.4.1 Một số kết quả nghiên cứu về ấu trùng sán lá trên cá

Có 2 loài sán lá gan nhỏ bao gồm C sinensis và O viverrini và ít nhất 14

loài sán lá ruột nhỏ được xác định nhiễm trên cá ở nước ta [90] Ấu trùng sán lá gan

nhỏ C sinensis phát hiện ở các tỉnh thuộc khu vực ĐBSH và O viverrini ở khu vực miền Trung và ĐBSCL Trong số các loài sán lá ruột nhỏ, H pumilio là loài phổ

biến nhất và chỉ phát hiện ở cá nước ngọt Mức độ nhiễm ấu trùng sán lá ruột nhỏ cao nhất ở khu vực ĐBSH, rồi đến khu vực miền Trung và thấp nhất là ở khu vực ĐBSCL

Ở khu vực ĐBSH: Báo cáo đầu tiên về hiện trạng nhiễm ấu trùng SLTQC ở Việt Nam được thực hiện bởi Lê Văn Châu và cộng sự (1997) tại huyện Kim Sơn,

tỉnh Ninh Bình Ấu trùng sán lá gan nhỏ C sinensis được xác định trên cá Mè trắng

với tỷ lệ nhiễm 44,47%, cá Chép 25%, cá Trắm cỏ 13,33%, cá Trôi việt 13,85% và

cá Rô đồng là 32% [5] Hà Duy Ngọ (2003) có công bố thứ 2 về ấu trùng sán lá gan

nhỏ C sinensis trên cá tại 2 tỉnh Nam Định và Ninh Bình Các loài cá được xác định

nhiễm loại ấu trùng này bao gồm cá Rô phi đen, cá Diếc, cá Thiểu và cá Quả [7] Giai đoạn năm 2002-2003, Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng Trung Ương đã thực hiện một Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu mầm bệnh giun sán ký sinh trên thịt lợn,

trâu, bò và cá nước ngọt tại Hà Nội” Báo cáo cho thấy ấu trùng sán lá gan nhỏ C

Trang 25

sinensis nhiễm ở 7/10 loài cá bao gồm cá Diếc (21,7%), Trắm cỏ (13,3%), Trê đen

(6,7%), Chép 3,3%, cá Chuối (3,3%), Rô phi đen 1,7% và cá Trôi việt cùng nhiễm

tỷ lệ 1,7% [91] Những nghiên cứu về ấu trùng sán lá gan nhỏ C sinensis trên cá phản ánh đúng hiện trạng sán lá gan nhỏ C sinensisi công bố trên người [4,24]

Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây lại cho thấy ấu trùng sán lá gan nhỏ có

tỷ lệ nhiễm rất thấp trong khi đó ấu trùng nhiều loài sán lá ruột nhỏ có tỷ lệ nhiễm cao [8–11,89] mà hầu hết các loài sán lá ruột này chưa được công bố trong các nghiên cứu trước đây, cụ thể; nghiên cứu trên cả cá nuôi (829 mẫu) và cá tự nhiên

(714 mẫu), Phan et al., (2010a) phát hiện ấu trùng của 6 loài sán lá truyền qua cá (C sinensis, H pumilio, H taichui, H yokogawai, P varium và C formosanus) trên 23 loài cá nước ngọt tại Nam Định Tuy nhiên, ấu trùng sán lá gan nhỏ C sinensis chỉ

phát hiện nhiễm trên 1 cá thể duy nhất (0,1%) trong khi đó ấu trùng sán lá ruột nhỏ

H pumilio nhiễm phổ biến với tỷ lệ nhiễm chung là hơn 59,8% [8] Một nghiên cứu

khác, xét nghiệm 3820 cá thể thuộc 17 loài cá trong 61 ao nuôi thương phẩm tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, Phan et al., (2010b) đã xác định tỷ lệ nhiếm ấu

trùng SLTQC là 72% Ngoài ấu trùng sán lá gan nhỏ C sinensiscòn có ấu trùng của

5 loài sán lá ruột nhỏ gồm H pumilio, H taichui, H yokogawai, C formosanus và

P varium Tuy nhiên, ấu trùng sán lá gan nhỏ C sinensis chỉ phát hiện nhiễm trên

cá Mè trắng (1/1185 mẫu kiểm tra) trong khi đó ấu trùng sán lá ruột nhỏ như H pumilio nhiễm trên tất cả các loài cá kiểm tra Cá Rohu nhiễm 58%, Mè trắng 86%,

Mrigal 74%, Trắm cỏ 87%, cá Diếc 65%, Chày mắt đỏ 71%, Chim trắng 73%, Rô phi vằn 24%, Chép 82%, Trôi việt 38%, Trê vàng 78%, cá Chuối sộp 88%, Rô đồng 94%, Mè vinh 50%, Mương xanh 33%, Mè hoa 100% và Thát lát 100% [89] Ấu

trùng C sinensis, H pumilio, H taichui và C formosanus cũng được phát hiện nhiễm trên cá giống tại Nam Định và Ninh Bình Trong đó C sinensis nhiễm với tỷ

lệ 1,5% trên cá Trắm cỏ, Rohu và cá Mè trắng nhưng không phát hiện ở cá Mrigal

và Chim trắng Trong khi đó, tỷ lệ nhiễm ấu trùng H pumilio là 55,6% và C formosanus là 41,0% ngoại trừ ấu trùng H taichui nhiễm thấp 0,3% trên cá Trắm cỏ

và Mè trắng [9] Tương tự, ấu trùng sán lá nhỏ chỉ phát hiện với tỷ lệ 0,05% trên cá hương và cá giống tại Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình và Thanh Hóa trong khi đó

Trang 26

ấu trùng sán lá ruột nhỏ chiếm tới 94% [10]

Nước thải sinh hoạt có thể chứa nhiều trứng giun sán là nguy cơ rủi ro cho sự lan truyền của giun sán Mặc dù vậy, nghiên cứu hiện trạng nhiễm ấu trùng sán trên

cá trong hệ thông nuôi cá sử dụng nước thải tại Nam Định và Hà Nội lại cho thấy tỷ

lệ nhiễm khá thấp Ấu trùng các loài sán là ruột H pumilio, H taichui và C formosanus được phát hiện nhiễm trên cá Chép, Trắm cỏ, Mè trắng và Rô phi vằn

nhưng tỷ lệ nhiễm thấp từ 2,0 - 6,2% [92] Ấu trùng của 6 loài sán lá ruột bao gồm

H taichui, H pumilio, C formosanus, P varium, S falcatus và H continua cũng

được ghi nhận nhiễm trên cá nuôi nước thải tại Hà Nội và Nam Định trong một nghiên cứu khác [93] Cả 2 nghiên cứu trên đối tượng nuôi nước thải đều không

phát hiện ấu trùng sán lá gan nhỏ C sinensis điều đó cho thấy điều kiện môi trường

sinh thái có vai trò quan trọng đối với ấu trùng sán lá gan nhỏ

Tỷ lệ nhiễm ấu trùng C sinensis trên cá nuôi trong ao tại xã Hợp Thịnh, Kỳ

Sơn, Hòa Bình là 20,8% (51/245 mẫu kiểm tra), cụ thể tỷ lệ nhiễm trên cá Trắm cỏ

là 55,2% (48/87 mẫu), Mè trắng 4,3% (2/46 mẫu) và Mè hoa 100% (1/1 mẫu) trong khi đó cá tự nhiên có nguồn gốc từ đầm hồ, sông suối và đồng ruộng trong vùng đều

không nhiễm ấu trùng này [94] Ngược lại, ấu trùng sán lá gan nhỏ C sinensis lại

không nhiễm trên các loài cá nuôi như Mè trắng, Trắm cỏ tại Gia Viễn, Ninh Bình nhưng lại phát hiện trên cá tự nhiên đó là cá Mương 12,5% (1/8) Tỷ lệ nhiễm ấu

trùng sán (C sinensis, Haplorchis spp., P varium và C formosanus) nói chung trên

cá tại đây là khá cao 56,1% [11] Tương tự, ấu trùng C sinensislại được phát hiện

trên cá Mương và cá Thiểu với tỷ lệ tương ứng 21,95% (92/419) và 43,75% (7/16) thu được tại Ninh Bình đều là các loài cá tự nhiên[95] Nghiên cứu gần đây ghi nhận có đến 7 loài cá bao gồm Mè trắng, Rohu, Trắm cỏ, Chép, Diếc, Rô đồng và

Rô phi vằn thu được tại các tỉnh Hải Dương, Hà Nội và Nam Định nhiễm ấu trùng

sán lá gan nhỏ C sinensis, trong đó cá Mè trắng nhiễm cao nhất 53,33%, cá Diếc

nhiễm 44% [14]

Cá nước lợ và mặn cũng nhiễm ấu trùng sán lá truyền qua cá Nguyễn Thị Hà (2008) báo cáo cá Song chấm nâu, cá Bống bớp và cá Đối mục nuôi nước lợ tại

Trang 27

Nam Định có nhiễm ấu trùng sán lá truyền qua cá với tỷ lệ cao Ấu trùng S falcatus

ở cá Bống bớp chiếm 87,22% (cường độ nhiễm 30,57 ấu trùng/cá), cá Song chấm nâu 17,92% (cường độ nhiễm 6,95 ấu trúng cá), đặc biệt là cá Đối mục có tỷ lệ nhễm

87,80% và cường độ trung bình 345,36 ấu trùng/cá Metagonimus sp cũng được xác định nhiễm trên cá Bống bớp với tỷ lệ 21,11% (5,22 ấu trùng/cá) Ấu trùng sán H continua nhiễm trên cá Bống bớp (11,39%; 3,44 ấu trùng/cá) và cá Song chấm nâu (16,35%; 6,95 ấu trùng/cá) Ấu trùng P varium nhiễm trên cá Bống bớp với tỷ lệ 63,61% và cường độ 5,99 ấu trùng/cá Ấu trùng C formosanus phân lập được từ cá

Bống bớp và cá Song với tỷ lệ tương ứng là 3,09% (1,29 ấu trùng) và 5,03% (1,4 ấu

trùng), ấu trùng S lari nhiễm nhiều trên cá Bống bớp (69,44%; 9,99 ấu trùng) và cá

Đối (32,95%; 16,81 ấu trùng) nhưng cá Song chấm nâu chỉ nhiễm với tỷ lệ 4,4% và

cường độ 1,93 ấu trùng/cá Ấu trùng Echinostoma sp cũng được phát hiện trên cá Bống bớp 38,06% với 7,42 ấu trùng/cá [96] Ấu trùng 2 loài sán lá ruột nhỏ H continua và P varium cũng được ghi nhận có nhiễm trên cá song nuôi lồng tại Cát

bà, Hải Phòng Ấu trùng P varium nhiễm 10% ở cá Song chấm nâu (E coioides) và 1,2% ở cá Song dẹt (E bleekeri) trong khi đó ấu trùng H continua chỉ nhiễm trên cá

Song dẹt với tỷ lệ 1,2% [97]

Khu vực miền Trung: Phát hiện đầu tiên về hiện trạng nhiễm ấu trùng sán lá

truyền qua cá là ấu trùng sán lá gan nhỏ O viverrini năm 1992 Trong số 1721 cá

thể thuộc 10 loài cá nước ngọt thu được tại xã An Mỹ, huyện Tuy An, Phú Yên đã phát hiện cá Diếc nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ với tỷ lệ 28,65% [98] Cũng tại Phú

Yên, nghiên cứu gần đây xác 4 loài cá nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ O viverrini; ngoài cá Diếc (28,1%; 28,2 ấu trùng/cá) là cá Mè đất Puntius brevis (62,5%; 2,2 ấu trùng/cá), cá Lóc Channa spp (8,3%; 1,0 ấu trùng/cá) và cá Lòng tong Rasbora sp (4,3%; 2,0 ấu trùng/cá) Trong nghiên cứu này, ấu trùng O viverrini cũng đã được

xác nhận thông qua gây nhiễm động vật (chuột hamster) và sinh học phân tử [99]

Các loài H continua, P varium và Pygiopsis sp cũng được xác định nhiễm trên cá

Song, cá Đối nuôi và tự nhiên tại Khánh Hóa [100] Trương Thị Hoa và Nguyễn Ngọc Phước (2009) báo cáo tình hình nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trên cá Chép

và Trắm cỏ giai đoạn giống nuôi tại Thừa Thiên Huế Tỷ lệ nhiễm ấu trùng trên cá

Trang 28

Chép và Trắm cỏ lần lượt là 65,4% và 55,8% Ấu trùng C formosanus nhiễm trên

mang cá với cường độ tương ứng là 5,7 và 4,4 ấu trùng/mang cá Chép và Trắm cỏ

Ấu trùng H pumilio nhiễm trên cá Chép là 32,9% và Trắm cỏ là 27,5% Đặc biệt, là

sự hiện diện của ấu trùng sán lá gan nhỏ C sinensis trên cá Chép 27,5% và Trắm cỏ

24,6% [101] Tại Nghệ An, tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá truyền qua cá là 44,6%, dao động từ 12,5% đến 61,0% trên cá nuôi thương phẩm và 43,6% dao động từ 7,4% đến 62,8% ở cá giống Ấu trùng được phát hiện đều là của sán lá ruột nhỏ bao gồm

H pumilio, H taichui, H yokogawai, C formosanus, S falcatus và Echinochasmus

sp [76] Cá Rohu giai đoạn cá giống ương nuôi tại Thanh Hóa cũng phát hiện

nhiễm ấu trùng của một số loài sán lá ruột trong đó điển hình là H pumilio [10]

Khu vực ĐBSCL: là khu vực nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh, đặc biệt là

cá Tra, cá Lóc, Tai tượng Những khảo sát đầu tiên về hiện trạng nhiễm ấu trùng sán lá truyền qua cá được thực hiện năm 2006 tại An Giang, Tiền Giang và Cần Thơ Mặc dù có xuất hiện ấu trùng nhưng hầu hết tỷ lệ nhiễm khác thấp Cá Tra

(Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ao chỉ nhiễm ấu trùng sán lá ruột, trong đó cao nhất là nhiễm H pumilio 0,6% Ấu trùng sán lá gan nhỏ O viverrini nhiễm trên

cá Lóc nhím (Channa striata) tự nhiên 1,9% Ngoài ra, cá Rô đồng và cá Lóc tự nhiên tại An Giang cũng nhiễm ấu trùng P varium [102] Ấu trùng các loài sán lá ruột H pumilio, H taichui, S falcatus và C formosanusnhiễm trên nhiều loài cá

trong hệ thống ao nuôi tại Cần Thơ, Tiền Giang, Vĩnh Long và Đồng Tháp [103–105] Tại Tiền Giang và Cần Thơ, tỷ lệ nhiễm ấu trùng trong mô hình nuôi đơn cá Tai tượng là 1,7% và nuôi mô hình Vườn - Ao - Chuồng (VAC) là 6,6% Trong số

ấu trùng các loài sán, ấu trùng sán lá ruột H pumilio chiếm ưu thế tới hơn 58,0% số

lượng ấu trùng phân lập được Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá nói chung vào mùa mưa cao hơn so với mùa khô [103] Trong hệ thống sản xuất giống, mặc dù cá bột âm tính nhưng giai đoạn cá giống ở các loài cá Nheo, Trê lai, Tai tượng, Rô đồng, Chép, Sặc bướm, Mè vinh, Mè trắng, Rohu, Chim trắng, Rô phi và Sặc rằn đều nhiễm ấu trùng với tỷ lệ dao động từ 1,2 – 29,7%

[104] Ấu trùng H taichui nhiễm trên cá Tra tại Cần Thơ là 43,47%; C formosanus nhiễm trên cá Tra tại Vĩnh Long là 2,1% Đặc biệt, ấu trùng sán lá gan nhỏ C

Trang 29

sinensis được tác giả thông báo nhiễm trên cá Tra thu được tại Vĩnh Long là 14,89% [106] Tuy nhiên, sự sai khác trình tự gen 28S của C sinensis với mẫu

chuẩn trên Genbank là 8,3% [106] là quá lớn điều đó cho thấy ấu trùng sán lá phân

lập được từ cá Tra trong nghiên cứu nói trên không phải là C sinensis [107] Hơn nữa, ký chủ đặc trưng của ấu trùng sán lá gan nhỏ C sinensis thường là các loài

thuộc họ cá chép và vùng phân bố của chúng thường ở khu vực miền Bắc

1.3.4.2 Vật chủ của ấu trùng sán lá truyền qua cá

Những nghiên cứu về ấu trùng SLTQC hầu hết được thực hiện trong khoảng

10 năm trở lại đây từ khi có Dự án FIBOZOPA (Ký sinh trùng có nguồn gốc thủy sản) do DANIDA tài trợ Qua hàng loạt những nghiên cứu trong và sau thời gian

Dự án này tới nay có thể thấy rằng rất ít báo cáo về ấu trùng sán lá gan nhỏ trong khi đó sán lá ruột nhỏ chiếm ưu thế gần như tuyệt đối;

Nghiên cứu của Phan Thị Vân và cộng sự (2010) tại Nam Định đã xét nghiệm 3.822 mẫu cá với 18 loài cá (chủ yếu là cá nuôi ao) thì chỉ phát hiện duy

nhất 1 mẫu cá Mè trắng nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ C sinensis, trong khi đó

100% số loài cá này đều nhiễm ấu trùng sán lá ruột nhỏ với cường độ nhiễm rất cao [89] Cũng tại đây, nghiên cứu xét nghiệm 2.524 mẫu cá hương và giống thuộc 5

loài cá khác nhau, tác giả cũng chỉ phát hiện ấu trùng C sinensis nhiễm trên cá

Rohu với tỷ lệ 1,9% và cá Mè trắng là 0,5%, trong khi đó ấu trùng sán lá ruột nhỏ

như H pumilio và C formosanus có tỷ lệ nhiễm tương ứng là 55,6% và 41,0% [9]

Nguyễn Thị Hợp và cộng sự (2015) xét nghiệm 15 loài cá khác nhau nhưng chỉ phát hiện 3 loài nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ [94] Và cũng chỉ 1/9 loài cá được xét

nghiệm phát hiện nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ C sinensis là cá Mương xanh tại

Ninh Bình trong khi đó tất cả các loài cá khác đều nhiễm ấu trùng sán lá ruột nhỏ [11]

Ngoài ra, một số nghiên cứu khác cũng phát hiện ấu trùng sán lá gan nhỏ trên một số ít loài cá [10,95,99] trong khi đó nhiều nghiên cứu không phát hiện ấu trùng này [76,92,103,104,108] Tổng hợp dựa trên những công bố gần đây hiện mới có 6

loài cá được xác định có nhiễm ấu trùng C sinensis ở khu vực miền Bắc và 5 loài cá

Trang 30

nhiễm ấu trùng O viverrini ở khu vực miền Trung và Nam nước ta (Bảng 1.3),

trong khi đó, Trung Quốc ghi nhận 102 loài, Hàn Quốc và Nhật Bản là 80 loài được

xác định nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ C sinensis [53–55] Sự khác nhau này cho

thấy có thể chúng ta đã chưa có nhiều khảo sát rộng hơn về ấu trùng sán lá gan nhỏ trên cá tại các khu hệ cá khác nhau mà hầu như tập trung nhiều vào đối tượng cá nuôi

Thực ra, có một số công bố khác cho rằng vật chủ của C sinensis bao gồm

cá Đối mục ở Khánh Hòa (miền Trung) và cá Tra ở Vĩnh Long, khu vực ĐBSCL [106], cá Diếc, Rô đồng, Chép và Rô phi ở khu vực đồng bằng sông Hồng [14], tuy nhiên, những kết quả này theo chúng tôi là chưa xác đáng Thứ nhất, miền Trung và

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng dịch tễ của O viverrini, nên có chăng là O viverrini chứ không phải là C sinensis Thứ hai, vật chủ trung gian 2 của C sinensis

chủ yếu là các loài thuộc họ cá Chép Cyprinidae nhưng cá Tra và Đối mục không thuộc họ cá Chép Hơn nữa, cá Đối mục là cá nước lợ trong khi đó ốc Bithynidae,

vật chủ trung gian 1 của C sinensis hầu như không phân bố ở môi trường nước lợ

Thứ ba, hầu hết những kết quả trên cho thấy tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ khá cao nhưng chưa có bằng chứng xác nhận bằng gây nhiễm động vật Do đó, nhiều khả năng có sự nhầm lẫn ấu trùng sán lá ruột nhỏ với ấu trùng sán lá gan nhỏ Thực

tế, hầu hết các nghiên cứu khác nhau trên cá đều cho thấy ưu thế vượt trội của ấu

trùng sán lá ruột (đặc biệt là H pumilio) so với sán lá gan nhỏ

Bảng 1.3: Danh mục loài cá đã được xác định nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ

Clonorchis sinensis

Bình

[9,94]

Trang 31

TT VẬT CHỦ ĐỊA ĐIỂM NGUỒN

Opisthorchis viverrini

Phan Thị Vân và Bùi Ngọc Thanh (2013) tổng hợp từ các kết quả nghiên cứu

trong giai đoạn thực hiện Dự án FIBOZOPA, có ít nhất 14 loài sán lá ruột nhỏ (H pumilio, H taichui, H yokogawai, P varium, S falcatus, H continua, P summa, S lari, Echinostoma sp., Echinochamus sp., Metagonimus sp và C formosanus được

phát hiện ấu trùng nhiễm trên cá bao gồm cả cá nước ngọt và nước mặn, lợ trong

khi đó chỉ có 2 loài sán lá gan nhỏ là C sinensis và O viverrini [90]

Bảng 1.4: Danh mục loài cá đã được xác định nhiễm ấu trùng sán lá ruột nhỏ

testudineus)

Nam Định, Ninh Bình, Khánh Hòa, Cần Thơ,

Long, An Giang

[8,11,89,102–

104,106]

Ninh Bình, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Tiền Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long

[9,11,76,89,101,104,108]

Trang 32

TT VẬT CHỦ ĐỊA ĐIỂM NGUỒN

[8,9,76,92,104,108]

Trang 33

TT VẬT CHỦ ĐỊA ĐIỂM NGUỒN

niloticus)

Nam Định, Ninh Bình, Cần Thơ, Tiền Giang, Vĩnh Long

[9,11,76,89,104]

Cần Thơ, Tiền Giang, Vĩnh Long

Long

[8,9,89,92,104,108]

Trang 34

TT VẬT CHỦ ĐỊA ĐIỂM NGUỒN

nhỏ (Bảng 1.4) Thực tế, một số ấu trùng sán lá ruột nhỏ nhƣ H pumilio hầu nhƣ

đƣợc phát hiện trên 80% loài cá đƣợc xét nghiệm ở vùng dịch tễ nhƣ Nam Định và Ninh Bình Tuy nhiên, với chỉ 36 loài đƣợc xác định là vật chủ của ấu trùng sán lá ruột nhỏ và 11 loài là vật chủ của sán lá gan nhỏ cho thấy vẫn còn nhiều khoảng trống cần đƣợc lấp đầy trong nghiên cứu xác định vật chủ của SLTQC nói chung tại Việt Nam

Trang 35

1.3.4.3 Kiểm soát ấu trùng sán lá trong nuôi trồng thủy sản

Sán lá truyền qua cá có vòng đời phức tạp gồm 3 giai đoạn phát triển qua 3 nhóm ký chủ khác nhau, trong đó ký chủ trung gian thứ 1 là nhuyễn thể và các loài ốc; ký chủ trung gian 2 là các loài cá và ký chủ cuối cùng là con người và động vật

ăn cá) Việc ngăn ngừa sự lây truyền sán lá cần dựa trên cơ chế của vòng đời của chúng Trong nuôi trồng thủy sản, để ngăn ngừa có hiệu quả, về nguyên tắc cần phải

áp dụng biện pháp can thiệp tổng hợp nhằm loại bỏ tối đa những rủi ro từ nguồn giống đầu vào, môi trường ao nuôi, vật chủ trung gian 1 và vật chủ cuối cùng

Thử nghiệm dựa trên nguyên lý này đã được triển khai trong mô hình ương nuôi cá giống tại Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình và Thanh Hóa Nhìn chung, mô hình áp dụng biện pháp can thiệp tổng hợp có hiệu quả so với mô hình đối chứng,

tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng sán ở mô hình can thiệp thấp hơn so với mô hình đối chứng Tuy nhiên, tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng sán trên cá trong cả 2 mô hình (đối chứng và can thiệp) đều tăng lên theo thời gian nuôi [10] Kết quả tương

tự cũng được ghi nhận trong nghiên cứu thử nghiệm tại Đồng bằng sông Cửu Long trên đối tượng là cá Tra và cá Tai tượng giai đoạn giống [16] Như vậy, biện pháp can thiệp tổng hợp thực sự chưa có hiệu quả triệt để trong việc ngăn ngừa sự lây nhiễm ấu trùng sán trong hệ thống ương nuôi cá giống

Với hệ thống nuôi thương phẩm, thử nghiệm được triển khai tại Nam Định với 2 nhóm can thiệp (nhóm 1: điều trị người và động vật; nhóm 2: quản lý và cải tạo vệ sinh ao nuôi, loại bỏ ốc-ký chủ trung gian) và 1 nhóm đối chứng - không can thiêp Kết quả sau quá trình thử nghiệm cho thấy, tỷ lệ nhiễm ấu trùng ở cả 2 nhóm can thiệp đều giảm so với trước khi áp dụng biện pháp can thiệp Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm ấu trùng ở các nhóm can thiệp vẫn rất cao (nhóm 1 là 60%, nhóm 2 là 40%) Cường độ nhiễm ấu trùng trên cá ở nhóm 1 sau can thiệp lại cao hơn so với trước khi can thiệp trong khi đó ở nhóm 2, cường độ nhiễm ấu trùng sán trên cá sau can thiệp thấp hơn nhiều so với trước can thiệp Kết quả thử nghiệm này cho thấy việc quản lý và cải tạo vệ sinh ao nuôi có hiệu quả hơn trong kiểm soát ấu trùng SLTQC trên cá nuôi thương phẩm [15] Mặc dù vậy, nhìn chung những biện pháp

Trang 36

can thiệp trong nghiên cứu này chưa thực sự tác dụng, hiệu quả chưa triệt để trong việc ngăn ngừa sự lây nhiễm của ấu trùng SLTQC trên cá nuôi thương phẩm

Trong một số điều tra về tập quán ăn gỏi gần đây ở khu vực các tỉnh miền Bắc cho thấy tỷ lệ người ăn gỏi cá vẫn khá phổ biến ở một số vùng dịch tễ [12,14] trong khi đó các biện pháp can thiệp sinh học trong nuôi trồng thủy sản [10,15,16] chưa tỏ ra có hiệu qủa thì cần phải có những giải pháp trong chế biến bảo quản để

vô hiệu hóa khả năng lây nhiễm ấu trùng SLTQC cho con người Đông lạnh, gia nhiệt, ướp muối là những biện pháp thường được sử dụng trong chế biến và bảo quản nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm Tuy nhiên, hiệu quả của các phương pháp này đối với ấu trùng SLTQC tại nước ta vẫn chưa được nghiên cứu một cách nghiêm túc Việc nghiên cứu xác định các điều kiện giới hạn cần thiết để bất hoạt ấu trùng có ý nghĩa khoa học và thực tiễn góp phần cung cấp những bằng chứng khoa học để xây dựng các hướng dẫn trong chế biến bảo quản thực phẩm (cá)

để phòng tránh lây nhiễm SLTQC cho con người

1.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực miền núi phía Bắc

1.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

Khu vực miền núi phía Bắc có tổng diện tích 95.272 km2, gồm 15 tỉnh bao gồm Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Ninh, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Yên Bái, Sơn La và Hòa Bình (Hình 1 2) Phía Đông giáp với Vịnh Bắc Bộ, phía Tây giáp Thượng Lào, phía Bắc giáp với Trung Quốc và phía Nam giáp nối liền với các tỉnh đồng bằng sông Hồng [109]

Khu vực MNPB có hệ thống ngòi lớn như sông Hồng, sông Đà, sông Cầu, sông Công, sông Chảy vv đây là điều kiện vô cùng thuận lợi cho sự phát triển của động vật thủy sản, là nguồn sinh kế của người dân [110] Diện tích mặt nước

có thể phát triển nuôi trồng thủy sản của các tỉnh miền núi phía Bắc chủ yếu là các hồ chứa như hồ Thác Bà (Yên Bái) 19.000ha, hồ Núi Cốc (Thái Nguyên) 19.000ha, hồ Sông Đà (Hòa Bình và Sơn La) gần 15.000 ha, hồ Cấm Sơn (Bắc

Trang 37

Giang) 2.700 ha [111]

Hình 1.2: Các tinh thuộc khu vực miền núi phía Bắc, Việt Nam

Với hơn 40 dân tộc, trong đó 63% là dân tộc thiểu số với 14,542 triệu người, chiếm 13,5% dân số của cả nước Trong số 10 tỉnh có tỉ lệ hộ nghèo nhiều nhất trong cả nước thì có đến 9 tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc, đứng đầu là Điện Biên 48,14%, sau là Hà Giang 43,65%, Cao Bằng 42,53%, Lai Châu 40,40%, Sơn

La 34,44%, Lào Cai 34,30%, Yên Bái 32,21%, Bắc Cạn 29,40% và Tuyên Quang 27,81% [112]

1.4.2 Đặc điểm hồ Thác Bà, Yên Bái

Hồ Thác Bà có chiều dài 80 km qua địa phận của 2 huyện Yên Bình và Lục Yên, tỉnh Yên Bái với có tổng diện tích mặt nước 19.000 ha gồm nhiều đảo nhỏ có người dân sinh sống (Hình 1.3)

Nguồn lợi thủy sản hồ Thác Bà trước đây đa dạng và phong phú Năm

1962-1964, khảo sát thành phần loài cá ở đây, Nguyễn Văn Hảo đã mô tả 57 loài sinh sống tại hồ, tổng kết toàn bộ kết quả nghiên cứu liên tục trong 5 năm (1971-1975), nhóm tác giả này đã thống kê, mô tả 79 loài Gần đây nhất, khảo sát lại hiện trạng nguồn lợi thủy sản hồ Thác Bà, Ngô Sỹ Vân (1997) đã báo cáo cáo 76 loài, trong đó

Trang 38

50 loài thuộc họ cá Chép, chiếm 65,79%, họ cá Vược 13 loài chiếm 17,1%, họ cá Nheo chiếm 13,16% và còn lại là một số ít họ cá khác [113]

Hình 1.3: Khu vực vùng của hồ Thác Bà, Yên Bái

Nguồn lợi thủy sản hồ Thác Bà góp phần quan trọng đối với sinh kế của người dân vùng ven hồ Xã Mông Sơn có 923 hộ, trước đây có đến 30% số hộ sống bằng nghề đánh bắt, khai thác thủy sản đến nay còn 10-12% [114] Nguyên nhân do nguồn lợi cá tự nhiên bị suy giảm do đánh bắt khai thác bằng những ngư cụ tận diệt Tuy nhiên, gần đây, công tác bảo vệ nguồn lợi được tăng cường; 400 vó bè của người dân ở hồ Thác Bà đã được dỡ bỏ để bảo vệ nguồn lợi thủy sản [115] Hiện nay, nguồn lợi thủy sản hồ Thác Bà đã và đang dần được khôi phục; ước tính một người dân mỗi ngày có thể đánh bắt được trung bình từ 7-10 kg cá [116]

Để giảm áp lực khai thác tự nhiên, trong những năm gần đây tỉnh Yên Bái đã

có chủ trương hỗ trợ phát triển nuôi trồng thủy sản và tái tạo nguồn lợi thủy sản ở các hồ chứa trong đó đặc biệt là hồ Thác Bà Hàng năm tỉnh Yên Bái cho thả hàng chục tấn cá giống xuống hồ Thác Bà nhằm bổ sung khôi phục nguồn lợi Chỉ riêng huyện Yên Bình hiện có khoảng 500 lồng cá trên hồ Thác Bà, năm 2016 tỉnh đã hỗ trợ 223 lồng, trong đó 193 lồng cho người dân và 30 lồng cho doanh nghiệp thủy sản Năm 2017 các xã ven hồ Thác Bà đăng ký xây dựng 400 lồng Hiện nay, sản

Trang 39

lượng cá hàng năm đánh bắt trên hồ Thác Bà trên 5.800 tấn, trong đó khai thác tự nhiên 1.500 tấn và cá lồng bè 4.300 tấn [117]

1.5 Những tồn tại trong nghiên cứu về sán lá truyền qua cá

Nghiên cứu về ấu trùng SLTQC, giai đoạn metacercariae nhiễm trên cá, giai đoạn khoảng 10 năm gần đây được quan tâm rất nhiều bởi có liên quan đến an toàn

vệ sinh thực phẩm trong nuôi trồng thủy sản Trong những năm qua, hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung vào các vùng dịch tễ của SLTQC qua ghi nhận trên người như Nam Định, Ninh Bình, Phú Yên hay các vùng có nuôi trồng thủy sản tập trung như các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu long Tất cả các nghiên cứu đều có ghi nhận về ấu trùng SLTQC tuy nhiên mức độ nhiễm khác nhau Từ những nghiên cứu đã triển khai, có thể thấy rằng mức độ nhiễm ấu trùng SLTQC rất cao ở khu vực đồng bằng sông Hồng [8–10,89] và có xu hướng giảm nhẹ ở khu vực miền Trung [76,99,101] và xuống thấp ở khu vực đồng bằng sông Cửu long [102–104] Riêng khu vực miền núi phía Bắc hầu như chưa có nghiên cứu nào về ấu trùng SLTQC, ngoại trừ có nghiên cứu của Hà Ký và Bùi Quang Tề (2007) có ghi nhận

về ấu trùng Centrocestus formosanus nhưng là trên khía cạnh tác nhân gây bệnh của

cá [13] và nghiên cứu của Nguyễn Thị Hợp và cs (2015) báo cáo về ấu trùng sán lá gan nhỏ trên cá nuôi tại huyện Kỳ Sơn, Hòa Bình [94], tuy nhiên đây là điểm giáp gianh với Hà Nội - thuộc khu vực đồng bằng Sông hồng hơn là khu vực MNPB Do

đó cần phải có nghiên cứu để đánh giá cụ thể hiện trạng SLTQC tại khu vực MNPB

để thấy được bức tranh tổng thể về SLTQC tại Việt Nam

Qua khá nhiều khảo sát về ấu trùng SLTQC ở khu vực đồng bằng sông Hồng

nhưng có thể thấy mức độ nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ C sinensis hầu hết rất thấp

Hơn nữa, hiện mới chỉ phát hiện 6 loài cá nước ngọt nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ này [90] Trong khi đó, có đến hơn 100 loài cá đã được xác định nhiễm ấu trùng của loài sán lá gan nhỏ này tại Trung Quốc và Hàn Quốc Như vậy có thể nói rằng nghiên cứu của chúng ta về SLTQC vẫn còn nhiều hạn chế, cần tiếp tục mở rộng phạm vi vùng nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và thời gian nghiên cứu nhằm xác định được thành phần loài vật chủ của ấu trùng sán lá gan nhỏ, vùng dịch tễ của chúng, những

Trang 40

biến động mùa vụ (nếu có) và cả những điều kiện có thể bất hoạt ấu trùng này nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm

Để góp phần giải quyết một phần những hạn chế còn tồn tại nói trên chúng

tôi triển khai thực hiện Đề tài "Nghiên cứu hiện trạng ấu trùng sán lá có khả

năng lây truyền cho người nhiễm trên cá ở Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam" với Mục tiêu cụ thể như sau;

1) Xác định được thành phần ấu trùng sán lá và sự phân bố của chúng trên cá

ở khu vực miền núi phía Bắc;

2) Xác định được sự biến động mùa vụ của ấu trùng sán lá phổ biến trên cá ở khu vực miền núi phía Bắc;

3) Xác định được các điều kiện chế biến và bảo quản có khả năng bất hoạt ấu trùng sán sán lá

Ngày đăng: 23/09/2017, 09:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Qian, M.-B.; Chen, Y.-D.; Liang, S.; Yang, G.-J.; Zhou, X.-N. The global epidemiology of clonorchiasis and its relation with cholangiocarcinoma.Infect. Dis. poverty 2012, 1, 4, doi:10.1186/2049-9957-1-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Infect. Dis. poverty" 2012, "1
2. Sithithaworn, P.; Yongvanit, P.; Duenngai, K.; Kiatsopit, N.; Pairojkul, C. Roles of liver fluke infection as risk factor for cholangiocarcinoma. J.Hepatobiliary. Pancreat. Sci. 2014, 21, doi:10.1002/jhbp.62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. "Hepatobiliary. Pancreat. Sci." 2014, "21
3. Sripa, B.; Bethony, J. M.; Sithithaworn, P.; Kaewkes, S.; Mairiang, E.; Loukas, A.; Mulvenna, J.; Laha, T.; Hotez, P. J.; Brindley, P. J.Opisthorchiasis and Opisthorchis-associated cholangiocarcinoma in Thailand and Laos. Acta Trop. 2011, 120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acta Trop." 2011
4. Kieu, T. L.; Bronshein, A. M.; Fan, T. I. [Clinico-parasitological research in a mixed focus of clonorchiasis and intestinal nematodiasis in Hanamnin Province (the Socialist Republic of Vietnam)]. [Russian]. Med. Parazitol.(Mosk). 1990, 24–26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Med. Parazitol. "(Mosk)
5. Lê Văn Châu; Kiều Tùng Lâm; Nguyễn Văn Đề. Ứng dụng phương pháp tiêu cơ để nghiên cứu vật chủ trung gian của Clonorchis sinensis (Cobbold. 1875).Phòng chống bệnh ký sinh trùng sốt rét 1992, 4, 44–48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clonorchis sinensis" (Cobbold. 1875). "Phòng chống bệnh ký sinh trùng sốt rét" 1992, "4
6. De, N. Van; Murrell, K. D.; Cong, L. D.; Cam, P. D.; Chau, L. Van; Toan, N. D.; Dalsgaard, A. The food-borne trematode zoonoses of Vietnam. Southeast Asian J. Trop. Med. Public Health 2003, 34 Suppl 1, 12–34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Southeast Asian J. Trop. Med. Public Health" 2003, "34 Suppl 1
7. Hà Duy Ngọ. Sán lá gan nhỏ ở hai tỉnh Nam Định và Ninh Bình. Báo cáo khoa học của Viện khoa học công nghệ Việt Nam; 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sán lá gan nhỏ ở hai tỉnh Nam Định và Ninh Bình. Báo cáo khoa học của Viện khoa học công nghệ Việt Nam
9. Phan, V. T.; Ersbứll, A. K.; Nguyen, T. T.; Nguyen, K. V.; Nguyen, H. T.; Murrell, D.; Dalsgaard, A. Freshwater aquaculture nurseries and infection of fish with zoonotic trematodes, Vietnam. Emerg. Infect. Dis. 2010, 16, 1905– Sách, tạp chí
Tiêu đề: Emerg. Infect. Dis." 2010, "16
11. Hung, N.; Dung, D.; Lan Anh, N.; Van, P.; Thanh, B.; Van Ha, N.; Van Hien, H.; Canh, L. Current status of fish-borne zoonotic trematode infections in Gia Vien district, Ninh Binh province, Vietnam. Parasit. Vectors 2015, 8, 21, doi:10.1186/s13071-015-0643-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Parasit. Vectors" 2015, "8
12. Nguyễn Viết Khuê; Bùi Ngọc Thanh; Nguyễn Văn Đề; Đào Xuân Trường; Phạm Thế Việt; Phan Thị Vân. Tập quán ăn gỏi cá và nhận thức về nguy cơ lây nhiễm sán lá truyền qua cá ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam. In Tuyển tập toàn văn Hội nghị ký sinh trùng toàn quốc lần thứ 43; Quang, L.B., Luc, P. Van, Eds.; NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ: Buôn Ma Thuột, Đắc Lắc, 2016; pp. 127–131 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập toàn văn Hội nghị ký sinh trùng toàn quốc lần thứ 43
Nhà XB: NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ: Buôn Ma Thuột
14. Trần Văn Quyên; Nguyễn Văn Thọ; Nguyễn Thị Hoàng Yến; Nguyễn Thị Hồng Chiên; Nguyễn Văn Phƣợng. Một số đặc điểm dịch tễ sán lá gan nhỏ do Clonorchis sinensis. Tạp chí Khoa học và phát triển - ĐH Nông Nghiệp Hà Nội 2012, 10, 142–147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clonorchis sinensis. Tạp chí Khoa học và phát triển - ĐH Nông Nghiệp Hà Nội" 2012, "10
83. Lê Hữu Khương. Phát hiện mới về sán lá gan trên mèo tại một số tỉnh phía Nam Available online: http://hoithuyvietnam.org.vn/vn/171n/phat-hien-moi-ve-san-la-gan-tren-meo-tai-mot-so-tinh-phia-nam.html Link
109. Khuyết Danh. Miền núi phía Bắc Available online: http://ipcn.mpi.gov.vn/Home/NewsDetail.aspx?CatId=36&id=549 Link
110. Mạnh Tráng. Thông tin về dân cƣ, văn hóa vùng Trung du và miền núi phía Bắc Available online:http://ptit.edu.vn/wps/portal/nongthonvn/!ut/p/c4/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP0os3hLizBHd1cfIwN_MyM3A08vc2cXVx83Y49AY_2CbEdFAO8ydjg!/?WCM_GLOBAL_CONTEXT=/wps/wcm/connect/nongthonvn/nongthonvn/vungnongthon/trungdumiennuiphiabac/f7add400404c96cea7cfff9171cb77 Link
111. TTXVN Miền núi phía Bắc phát triển nuôi thủy sản nước ngọt Available online: https://tepbac.com/tin-tuc/full/Mien-nui-phia-Bac-phat-trien-nuoi-thuy-san-nuoc-ng ot-3232.html (accessed on May 8, 2017) Link
112. Nguyễn Tuân. 10 địa phương nghèo nhất cả nước, có 9 là các tỉnh miền núi phía Bắc Available online: http://www.baomoi.com/10-dia-phuong-ngheo-nhat-ca-nuoc-co-9-la-cac-tinh-mien-nui-phia-bac/c/20561198.epi Link
114. Nguyễn Văn Tôn. Bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên hồ Thác Bà Available online: http://baotintuc.vn/dan-toc/bao-ve-nguon-loi-thuy-san-tren-ho-thac-ba-20110324092900191.htm Link
115. TTXVN Tháo dỡ vó bè để bảo vệ nguồn lợi thủy sản hồ Thác Bà Available online: http://www.thiennhien.net/2012/06/21/thao-vo-de-bao-ve-nguon-loi- Link
116. Khuyết Danh BẢN TIN SẢN XUẤT THỊ TRƯỜNG/TIN THUỶ SẢN TRONG NƯỚC Yên Bái: Khôi phục và phát triển nguồn lợi thuỷ sản ở hồ Thác Bà Available online: http://xttm.mard.gov.vn/Site/vi-vn/76/tapchi/67/78/7398/Default.aspx Link
117. Thái Sinh. Hồ Thác Bà - Vựa cá khổng lồ Tây Bắc Available online: http://nongnghiep.vn/ho-thac-ba-vua-ca-khong-lo-tay-bac-post190278.html Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w