1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bạn của nhà nông kỹ thuật nuôi và chăm sóc tôm t1

97 230 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 20,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nguồn tôm giông để thả nuôi phải có nguồn gôc bô" mẹ như trên và được cho đẻ lần thứ 1, thứ 2, nếu đẻ từ lần thứ 3 trở đi thì chất lượng tôm giông sẽ kém hơn, nuôi chậm lớn hơn.. - Đô

Trang 2

BẠN CỦA NHÀ NÔNG

Kỹ thaật nuôi và chũm sóc tõm

Trang 4

Bién miic trẽn xuất ban phẩm của Thu vièn Quốc gia Viét Nam

Trang 5

J lờ í nói đau

Nước ta có hờ hiển dài 3.260km, với hệ thống kênh rạch chằng chịt, rất thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản, dặc hiệt là nuôi tôm Nghê nuôi tôm ở nước ta những năm gần dây phát triển mạnh, sản lượng nuôi bán công nghiệp trung hình là SOOkglhalvụ Con tôm dã làm thay dổi cuộc sống của người dân vùng hiển, sản lượng tcm khcmg chỉ đáp í(ng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài và góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế cho dất nước.

Tôm trưởng thành và sinh sản trong mỏi trường nước Con cái dẻ 50.000 cho đến ỉ triệu trứng, được ấp 24 giờ trứng thành các ấu trùng Âu trùng ăn các noãn hoàng và biến thái Sau 3 lần hiển thái thì có hình dạng gần giếng tôm Sau 3 - 4 ngày thì hiển thái hoàn toàn thành tôm non với dầy

đủ các tính chất của tôm Toàn hộ quá trình kéo dài 12 ngày

từ khi dẻ trímg Trong tự nhiên, tôm non di cư ra cửa sôiĩg, vốn giàu dinh dưỡng vù dộ mặn Chúng phát triển và chuyển vào vùng nitớc làn mĩi mà chúng trưởng thành Tôm trưởng thành lá siiìlì vật dáv.

Trong việc nuôi tôm, vòng d('ri này xảy ra dưới diều kiện

có kiêm soát Lý do dể làm cho mật dộ tăng cao, kết quả là

có cùng kích cỡ tôm và cho tôm ăn có diều khiển, hơn nữa có khả năng dẩy nhanh vòng phát triển bằng cách diều khiển khí hậu (sử dụng trong nhà kính) Hầu hết các nôug trường

Trang 6

ihii hoạch I - 2 lần lroiií> một năm ờ vùng nhiệt đới nâng trường tàm cỏ thê’ thn hoạch tới 3 lần Vì sự cần thiết nước mặn nông ti iưyng nnôi tôm thườiìiỊ gần với hiến.

Khi ngành nnôi trồng tôm phát triển như là ngành thương mại, tiềm nủng tliav thê' thỏa mãn cho nhii cầu thị trường dang tăng cao, vưc/t xa khá nâng đánh hắt tôm hoang

dã, phương pháp nông nghiệp cũ đã nhanh chóng bị thay đổi

dể tiến tch phương pháp sản xuất hướng tới mục tiêu xuất khẩu Đẻ dảm hảo có sự cung cấp dều đặn, ngành công nghiệp này bắt đầu việc nuôi tôm từ trong trứng và đảm báo lượng tôm non Các cpiy trình kỹ thuật cũng bắt dầu dược áp dụng phổ biến, góp phần không ngừng tăng năng suất và sản lượng tôm, đáp ứng nhu cáu của người tiêu dùng trong và ngoài nước.

Mặc dù vậy, nhmig nuôi tôm vẫn là ngành chăn nuôi có nhiều rủi ro và nhiều nguy cơ Vì vậy việc thường xuyên tìm tòi, học hỏi những kiến thức khoa học vê kỹ thuật nuôi tôm là điều rất cẩn thiết Cuốn sách Kỹ thuật nuôi và chăm sóc tôm mà bạn đang cầm trên tay sẽ trang bị cho bạn những kiến thức dó, với mong muốn giúp bạn sẽ có những mùa tôm bội thu.

Chúc bạn thành công!

NHÀ XUẤT BẢN HỔNG ĐỨC

e f

Trang 7

ra được những kinh nghiệm đế chọn được giống đạt tiêu chuẩn trong quá trình nuôi Hiện nay trên thị trường có 2 nguồn giông chủ yếu:

- Nguồn giốhg được sản xuất từ các trại giống địa phương.

- Nguồn giốhg được sản xuất từ các trang trại giốhg tập trung như: Bà Rịa - Vũng Tàu, Phan Rang, Nha Trang

Chất lượng nguồn tôm bô" mẹ đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất tôm giông;

- Đôi với tôm sú:

+ Nguồn gốic: Có nguồn gốc từ tôm biển, đặc biệt

là từ rạch gốc;

+ Trọng lượng: Tôm cái đạt 200g trở lên, tôm đực khoảng lOOg trở lên;

C f

Trang 8

+ Màu sác: Tươi sáng, không có mầm bệnh đôm trắng, đầu vàng (kiểm tra bằng PCR).

- Đổi với tôm thẻ:

+ Nguồn gốc: Xuất xứ từ Hawaii;

+ Trọng lượng: Bình quân trên 20g, điều quan trọng là phải sạch bệnh.

- Nguồn tôm giông để thả nuôi phải có nguồn gôc bô" mẹ như trên và được cho đẻ lần thứ 1, thứ 2, nếu

đẻ từ lần thứ 3 trở đi thì chất lượng tôm giông sẽ kém hơn, nuôi chậm lớn hơn.

- Tôm giông phải đưỢc nuôi dưỡng bằng nguồn thức ăn chất lượng cao, nuôi bằng quy trình vi sinh Không dùng nhiều kháng sinh Tôm giốhg khi chọn

để vê' thả nuôi dù là nuôi công nghiệp hay nuôi quảng canh cải tiến thì phải đạt các tiêu chuẩn sau:

Trang 9

+ Trước hêt là kích thước tôm con Tiêu chuẩn chọn tôm con phải đều Trong nguồn tôm có nhiều con

có kích thước khác nhau thì có thể không phải là do chúng cùng một nguồn tôm mẹ mà do rất nhiều nguồn tôm mẹ khác nhau hoặc thòi gian nở cũng có thể khác nhau hay là do kỹ thuật người nuôi không tô’t.

+ Nêu kích thước của tôm khác nhau thì rất bất lợi trong việc cạnh tranh thức ăn Tiêu chuẩn cho phép để làm tôm giông là chúng phải có độ dài đều 12mm Những con có kích thước nhỏ hơn phải

có mật sô" không quá 5% trong tổng số tôm giông + Màu sắc tôm con cũng rất quan trọng Bình thường màu của tôm con có màu đen tro là tô"t nhất Không nên sử dụng những loại tôm có nhiều màu hoặc tôm có màu trắng bợt Đó là loại tôm đã rất yếu, nên nếu chăm không tột chúng rất dễ bị chết.

+ ở các con tôm giông, các cơ quan như: chân, râu của tôm phải hoàn chỉnh Các bộ phận này tuy không dài và cứng như tôm trưởng thành, nhưng các cơ quan phải đầy đủ và không bị dị hình Khi bơi, chân, đuôi của tôm phải xòe ra hết cỡ, đó là loại tôm giông khỏe Hơn nữa, thịt ở phần bụng của tôm phải đầy đặn, căng và chắc, ngoài vỏ phải nhẵn và bóng.Đó là loại tôm khỏe Trên thân tôm

sú có 6 đô"t ở phần bụng Nhìn chung, loại tôm có đô"t bụng càng dài thì lớn càng nhanh Theo kinh nghiệm của người nuôi tôm cho thấy, những con

C f

Trang 10

tôm có đốt bụng càng dài thì nhanh lớn hờn những con tôm có đô"t bụng ngắn Còn vị trí râu thứ nhất (sau này sẽ là đôi râu dài nhất) có hình chữ V, hai gôc của râu nằm sát nhau.

+ Cần chọn những con tôm có các chân bụng, chân đuôi không bị dị hình, vỏ tôm bóng không bị dị màu sắc Đây là những loại tôm khỏe Nếu bị dị hình hay dị màu sắc là do tôm bị vi nấm, hoặc vi khuẩn bám vào Nếu tôm bị nhiễm vi nấm cách xác định cũng rất đơn giản là lấy 10 con tôm ngẫu nhiên trong đàn tôm giống đem thả vào ly thủy tinh có đựng nước sạch và trong Quan sát kỹ thấy có trên

ba con bị vật lạ vi nấm bám vào là không nên dùng,

vì sau do bị nấm chúng sẽ không lột đưỢc vỏ và sẽ bị chết Bình thường nếu tôm khỏe, chúng rất thích bơi ngược theo dòng nưốc chảy hoặc nếu nưốc chảy xiết thì chúng có thế bám vào các vật thể để tránh bị trôi

đi Vì đặc tính này, chúng ta có thể kiểm tra rất dễ dàng Có thể lấy 200 con ngẫu nhiên trong đàn tôm rồi thả vào chậu đựng nưốc trong Sau đó, dùng tay khuấy tròn quanh thành chậu Nếu thấy trên 10 con trôi theo dòng nước hoặc bị cuôn ở giữa đáy chậu đó là tôm yếu.

+ Người nuôi tôm có thể dùng Pormol để kiểm tra chất lượng tôm giông bằng cách lấy 150 con tôm theo ngẫu nhiên rồi thả vào chậu nước sạch Đầu tiên dùng formol hòa vào nưốc theo nồng độ

Trang 11

lcc/101 nước, rồi dùng máy sục khí trong 2 giò liên tục, nêu thấy dưới 5 con chết là tôm giông tô"t và ngưỢc lại trên 5 con chết là tôm giông yếu không nên dùng Tiêu chuẩn kiểm tra cụ thể như sau:

• Tôm khỏe và không bị nhiễm virus SEMBV - kiểm tra bằng máy PCR.

• Cần xét nghiệm để cho ra tôm giốhg tốt và khoẻ bằng phương pháp VVanuchsoontron.

• Đặc điểm bên ngoài và hoạt động của tôm giôhg.

• Độ dài cơ thể của tôm giông phải từ 11 - 12mm.

• Cỡ tôm giông tương đương vối nhau.

và khoảng ở giữa của đốt cuối cùng.

• Dùng Rormaline test 100 - lõOppm trong 2 giờ hoặc giảm độ mặn đột ngột lõppt.

• Khi đó tôm loại A: 90 - 100% còn sông, loại B;

80 - 89% còn sống, Loại c <79% còn sống.

Điều không kém phần quan trọng là phương pháp vận chuyển đảm bảo sức khỏe cho đàn tôm giống, khi về đến nơi tôm không bị hao nhiều, không

bị yếu và mật độ thả phải tính toán sao cho phù hỢp

để tỷ lệ sông đạt 25 — 30 con/m^ ao nuôi công nghiệp,

1 — 3 con/m^ đối với nuôi quãng canh cải tiến.

Trang 12

Sau khi đã chọn xong tôm giống cần làm theo một số vêu cầu sau trong thòi gian vận chuyển tôm giống đến chỗ mới:

- Cân bằng độ mặn trước khi vận chuyên giông

để có độ mặn tương đương giữa hai môi trường nuôi.

- Thay đổi nhiệt độ nước trong bao chứa tôm đên khoảng 23°c (từ 27 - 28°c giảm xuống 25 - 26°c và sau đó giảm xuông còn 23 - 2 4 °c mỗi lần hạ nhiệt độ như vậy khoảng 5 phút).

- Đựng tôm giốhg PL15 khoảng 4.000 con/1 nưốc

và cho dầu sục khí vào bao (Macrogard 40cc/4001).

- Thùng bên ngoài nên bỏ đá lạnh vào để giữ nhiệt.

- Tôm giông nên đưỢc đưa đến chỗ nuôi trong vòng 23 - 24 giò.

- Một bao tôm giống cho vào một bể cỡ 1 X 1 X 1

để kiểm tra mật độ và tỷ lệ sống.

Trang 13

- Làm cho tôm giông thích nghi với môi trường mới trong vòng 1 - 3 giò (Macrogard 80cc/4001): Khi tôm giống mới vận chuyển về thì nên thả túi xuổhg

ao khoảng 1 5 - 3 0 phút để nhiệt độ giữa nước trong túi tôm và nhiệt độ nước trong ao cân bằng Sau đó, người thả nên đổ các túi tôm vào thau, tránh để tôm

bị dính lại trong túi, rồi múc nước ao pha vào thau dần dần, mỗi lần một ít Vừa pha vừa quan sát xem tôm đã thích nghi được chưa thì thả vào ao nuôi Nếu tôm chưa thích nghi khi thả ra chúng thường bơi nổi trên mặt nước, yếu ớt Khi thả tôm thì người thả cần đứng ở đầu hưống gió, thả tôm giông ra từ từ, tránh làm đục nước ao Sau khi thả xong người thả cần quan sát khả năng phân tán của tôm trong ao nuôi, nêu tôm tụ lại từng đám thì dùng tay hoặc thau khua nước nhè nhẹ để phân tán tôm đều trong ao Sau đó, người thả cần theo dõi tôm hằng ngày để tính tỷ lệ sông, rồi xác định lượng tôm có trong ao

để điều chỉnh thức ăn khi nuôi.

Phương pháp kiểm tra chất lượng tôm giông

Mỗi khi tôm nuôi bị bệnh, người ta thường nghĩ đến hai nguyên nhân: Môi trường nước và giông không đạt yêu cầu Điều này cho thấy, tô" chất con giông là một trong những yếu tô" quan trọng quyết định đến sự thành bại của hồ nuôi tôm.

13/

Trang 14

Lựa chọn con giông là một mắt xích quan trọng trong quy trình nuôi tôm thịt Sự ảnh hưởng của tôm giông thường gặp là: Tôm thả có tỷ lệ sống thấp và không đồng đều, tôm phát triển chậm thường sẽ thấy trong tất cả các khu vực nuôi, nguyên nhân có thể do virus MBV và HPV, hai virus này có trong gan tôm làm cho sự chuyển hóa phát triển của tôm kém Khi

đi kiểm tra tôm tại trại thì nên kiểm tra như sau:

- Kiểm tra theo kinh nghiệm:

+ Trại giông phải sạch sẽ, dụng cụ trong trại phải được xử lý bằng cách ngâm Chlorine hoặc Pormalin

+ Múc tôm xem và cách kiểm tra như sau:

• Cho tôm vào trong ly hoặc ca đô nước, tôm sẽ bơi bình thường, nếu tôm bơi trở mặt ngược lên hoặc bơi ngược lại là tôm yếu.

• Khi tôm bơi cặp râu đầu tiên phải kẹp nhau, nếu hở ra là tôm yếu.

• Kiểm tra sức khỏe tôm bằng cách múc 30 - 50 con tôm bỏ vào nước ngọt, để lại khoảng 30 phút Nếu tôm chết trên 10% không nên bắt.

Trang 15

+ Kiểm tra tôm bô mẹ có lớn không (chiều dài thân thấp nhất là 15cm).

+ Nếu đem tôm vào thả nuôi những khu vực nuôi

có độ mặn thấp tôm giống ít nhất phải có chiều dài 1,3 - l,5cm, đuôi xòe.

+ Vận chuyển tôm giốhg từ trại giông đến trại nuôi trước khi đóng tôm 6 - 1 2 giò, nên ngâm qua tôm giông với Pormalin 40ppm để loại bỏ tôm yếu, tôm bị đóng rong từ trại giông.

+ Nước trong bịch vận chuyển tôm phải là nưốc sạch và mới, không nên dùng nưốc trong bể giông cũ

vì có chất thải nhiều và có Zothamnium bám trên thân tôm.

+ Nưốc mới dùng để đóng tôm phải làm như sau: Pha nước được độ mặn bằng ao nuôi, pH trong nước mới phải nằm ở mức 8,3 - 8,5.

- Kiểm tra bằng dụng cụ và phòng thí nghiệm: + Kiêm tra bên ngoài: Bộ râu đầu phải kẹp vào nhau và đuôi xòe ra.

+ Kiểm tra tôm: Bỏ tôm vào thau nước, lấy -tay khuấy đều tôm sẽ bơi ngược nước, nếu nước không còn chảy tôm sẽ bám vào xung quanh thau, nếu có tôm bơi không biết hướng và nằm ỏ giữa thau chứng

13^

Trang 16

+ Kiểm tra sự' khỏe mạnh của tôm bàng Formalin, ngâm tôm trong nước Pormalin lOOppm thời gian 2 giờ, đếm và kiểm tra tôm.

- Bảng tính điếm:

+ Kiểm tra bằng kinh nghiệm;

• Bộ râu trưác kẹp: 10 gặp 2 con trừ 1 điếm;

• Đuôi tôm xòe; 10 gặp 2 con trừ 1 điếm;

• Tôm bơi có hướng: 10 gặp 2 con trừ 1 điểm;

• Tôm đóng rong: 10 gặp 1 con trừ 4 điểm;

• Tỷ lệ đường ruột đốt thứ 6 ít hơn: 20 gặp 1 con trừ 2 điểm.

+ Kiểm tra sức khỏe tôm bằng Formalin:

• 40 chết 1 con cho 31 điểm;

• 40 chết 2 con cho 22 điểm;

• 40 chết 3 con cho 13 điểm;

• 40 chết 4 con cho 4 điểm;

• 40 chết 5 con cho 0 điểm.

Nếu được 80 điểm trỏ lên là tôm tô"t Nếu thấp hơn 80 điểm là tôm yếu không nên thả nuôi.

Tương quan giữa châ't lượng tôm giống với

kỹ thuật thả tôm

Trong quá trình nuôi tôm, rất ít người chú ý đến

kỹ thuật thả tôm vì họ cho rằng việc thả tôm không ảnh hưởng đến sự sông của tôm Thực tế không phải như vậy, kỹ thuật thả tôm rất quan trọng, nó có ảnh hưởng rất lớn đến sự thích nghi và sức khỏe của tôm sau khi được chuyển từ môi trường này đến môi trường khác Vì vậy:

,16

Trang 17

c ầ n ương và th ả tôm ở dô m ặn th ấ p

Người nuôi tôm cần cho trại giống ổn định độ mặn của nưốc sao cho phù hỢp với nước ao nuôi hoặc chênh lệch nhau không quá 5ppt, bằng cách giảm độ mặn khoảng 2 - 3ppt mỗi ngày.

Nếu trại giông không thể làm được điều này thì người nuôi có thể ngăn một khoảng trong ao nuôi lOOm^ (thả 800 - 1.000 con/m“) Sau đó, lấy nước từ

ao chứa có độ mặn hoặc nưốc muối rất mặn để làm cho nưốc trong khu được ngăn lại ở khoảng 10 - 15ppt Rồi bắt đầu cho tôm giông vào nuôi khoảng 7 -

10 ngày, đồng thời thêm nước từ ao nuôi vào dần dần cho phù hỢp, cuối cùng lấy vách ngăn ra ngoài.

Trong khu vực được ngăn ra, nên sử dụng hệ thống oxy đáy ao để cung cấp oxy cho ao tôm.

M ậ t đô th ả tôm hơp lý

Mật độ thả tôm phải tuỳ phương thức nuôi; Quảng canh cải tiến (dưối 5 con/m^), bán thâm canh (10 - 20 con/m^), thâm canh (trên 25 con/m^) Ngoài ra, mật độ tôm còn thùy thuôc vào kích cỡ tôm thả nuôi và mùa

vụ sản xuất Bên cạnh đó, mật độ thả tôm còn phải tương ứng với diện tích Nếu diện tích ruộng nuôi từ 0,5 - Iha thì thả 3 - 4 con/m^ Diện tích nhỏ hơn 0,5ha thì thả 5 - 10 con/m^.

Thời đ iểm th ả tôm

Nên thả tôm lúc thời tiết mát mẻ, tô"t nhất là thòi điểm từ 5 - 7 giờ sáng hoặc 4 - 6 giò chiều.

sy

Trang 18

Không nên thả tôm lúc tròi sắp mưa hoặc đang mưa to.

Thả g iô n g đ ú n g cách

Thả tôm giông đúng kỹ thuật sẽ góp phần làm tăng tỷ lệ sống của đàn tôm Nên thả tôm vào lúc sáng sốm hay chiều mát Đặc biệt, người nuôi không nên thả tôm vào lúc tròi mưa hay trong điều kiện môi trường ao nuôi chưa thích hỢp cần thả tôm vào đầu hưóng gió để tôm dễ phân tán khắp ao Có 2 cách thả tôm tôt như sau:

- Cách 1: Các bọc tôm mới chuyển về được thả trên mặt ao trong khoảng 10 - 15 phút để cho cân bằng nhiệt độ bên trong và ngoài bọc, sau đó mơ bọc ra cho tôm bơi ra từ từ Phương pháp này áp dụng cho trường hỢp độ mặn của nước trong và ngoài bọc tôm chênh lệch nhau không quá 5%)() Cần làm cầu gần mặt nước để có thể mở bọc thả tôm dễ dàng, tránh lội xuống làm đục nước ao.

- Cách 2: Thường áp dụng cho trường hỢp độ mặn của nước trong bọc tôm và độ mặn của nước ao chênh lệch quá 5%(J Đôi với tôm mới chuyển vê cần một thòi gian thuần hóa ngay tại ao để tôm thích nghi dần vổi độ mặn của nước ao và các yếu tô" môi trường khác Cần chuẩn bị một sô" thau lớn có dung tích khoảng 201 và máy sục khí Đầu tiên, đổ các bọc tôm vào thau, khoảng 10.000 con/thau và sục khí Sau đó, cho thêm nước ao vào thau từ từ để tôm thích nghi

18

Trang 19

dần Sau 10 - 15 phút nghiêng thau cho tôm bơi ra từ

từ Có thế ước lượng tỷ lệ sôhg của đàn tôm bằng cách dùng lưới vào diện tích 2 - 3m^ và sâu Im đặt ngay trong ao, thả vào lưới từ 1.000 - 2.000 tôm bột, cho tôm ăn bình thường Sau 3 - 5 ngày kéo lưới lên để đếm và xác định tỷ lệ tôm còn sông.

Một số dấu hiệu cho thấy tôm khỏe và thích nghi với môi trường ao nuôi là không có tôm chết khi thuần trong thau, tôm bơi lội linh hoạt, bám vào thành thau Mặt khác, tôm sau khi thả xuống

ao thì bơi chìm xuống đáy ao, không bám theo mí nước, không nổi trên mặt nước.

Môt sô lưu ý khác khi thả tôm g iô n g

Thả giông phải tuân thủ theo lịch thời vụ của cơ quan quản lý thủy sản địa phương.

- Mỗi ao nuôi cần thả đủ lượng giốhg trong một lần Toàn trại (một khu vực) nuôi nên tập trung thả giốhg trong thời gian 3 - 4 ngày.

Trang 20

- Đôi vối hình thức nuôi tôm công nghiệp, nên chạy quạt nưốc từ đêm hôm trưốc đến sáng sớm hôm sau đế đảm bảo hàm lượng oxy hòa tan trong nước đạt >5mg/l, sau đó tắt quạt và tiến hành thả tôm giông.

- Nên thả tôm giổhg xuông ao nuôi vào lúc sáng sốm hoặc chiều mát, không thả lúc trời mưa, lúc điều kiện môi trường ao nuôi chưa phù hỢp Chọn đầu hưống gió để thả tồm giúp tôm phân tán khắp ao và tránh làm đục nưốc ở khu vực thả giống.

- Trường hỢp độ mặn của nước trong bọc tôm và nưốc trong ao nuôi chênh lệch nhau không quá 5°/oo- Thả nổi các bọc tôm mới chuyển trên mặt ao trong khoảng 1 0 - 1 5 phút để cân bằng nhiệt độ trong và ngoài bọc, sau đó mở bọc cho tôm bơi ra từ từ.

- Trường hỢp độ mặn chênh lệch lốn hơn 5°/ oq : Cho tôm mối chuyển về vào các thau lốn có sục khí, sau đó cho thêm nước ao vào thau từ từ để tôm thích nghi dần độ mặn của nưốc ao và các yếu tố môi trường khác Thời gian thuần khoảng 30 - 40 phút, sau đó nghiêng thau cho tôm bơi ra từ từ Tôm sau khi thả xuống ao, bơi chìm xuống đáy ao, không bám theo mí nước, không nổi trên mặt nưốc chứng tỏ tôm khỏe và đã thích nghi với môi trường ao nuôi.

- Nếu có điều kiện, nên vèo tôm trên bể xi-măng hoặc composite trong 1 - 2 ngày để cân bằng độ mặn, chuẩn bị ao nuôi tốt hơn và hồi phục sức khỏe tôm do vận chuyển Lưu ý, tôm giốhg được vèo trên bể phải

Trang 21

Ả N H H Ư Ỏ N G C Ủ A M Ô I TR Ư Ờ N G Nước

đ ê ' n q u á t r ì n h n u ô i T ô m

Vai trò của môi trường nước nuôi tôm

Nưóc cung cấp cho ao nuôi đóng vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại của vụ nuôi Nguồn nưốc tốt nhất để tạo môi trường sạch là lấy xa cửa sông để hạn chê ô nhiễm Nưốc lấy trực tiếp từ nguồn thiên nhiên cần phải được xử lý trước khi đưa vào nuôi Chất lượng nước nuôi tôm được quy định theo bảng sau:

Bảng tiêu chuẩn nước nuôi tôm theo 28 171:2001

Trang 22

độ, độ trong, độ sâu vă màu núớc Nếu chất lượng nước không tôt phải xử lý để đạt vêu cầu vì các thông sô này gây ảnh hưởng đến tôm.

độ pH giảm, nếu độ pH < 7, dùng các chê phẩm (Maifanstone, Micropovver) hoặc các men vi sinh (Hitac Bio Bacteria) để xử lý Đầu mùa vụ, nếu độ

pH > 9,0 thì dùng bột hạt trà (Sapoin), chế phẩm (Maifan Stone, Amino Power, Hitac Bio-Bacteria)

để xử lý và tăng cường cung cấp oxy bằng quạt nước Độ pH trong ngày biến đổi không quá 0,5 Khi thấy màu nước thay đổi (tảo lục màu nưốc

ổn định; tảo khuê màu nước thay đổi), ta tiến hành

đo độ trong bằng đĩa Secchi Độ trong nên đo vào 14 giờ và dựa vào độ trong đó để xác định khi nào cần thay nưốc Trong thòi gian 1 - 45 ngày tuổi của tôm,

độ trong của nước cần là 25 - 35cm; 46 - 95 ngày tuổi cần độ trong 30 - 40cm; trên 96 ngày cần độ trong 35 - 40cm.

k22

Trang 23

N liiê t đô của nước

Tôm cũng giống như tất cả các động vật sông dưới nước, tôm thuộc loại máu lạnh (cold - blooded, poikilothermic) trái vối loại thân nhiệt (warm- blooded, homoiothermic) như con người Bên cạnh

đó, tôm thay đổi nhiệt độ theo môi trưòng bên ngoài, còn chúng vẫn giữ nguyên nhiệt độ 37,5°c dù môi trường bên ngoài có thể lạnh như vùng Bắc cực hoặc nóng như miền sa mạc.

Vì vậy, nhiệt độ ảnh hương tới nhiều phương diện trong đời sốiig của tôm: hô hấp, tiêu thụ thức ăn, đồng hoá thức ăn, miễn nhiễm đối với bệnh tật, sự tăng trưởng

Mỗi giai đoạn phát triển của tôm cần giữ nhiệt độ nước thích hỢp Ig/con - phát triển tô"t ở 30°C; 12 - 18g/con - phát triển tôt ở 27C; > 18g/con - phát triển

,23

Trang 24

tốt ở < 27C Ngoài rá, tôm sẽ chết nếu nhiệt độ thấp hơn 13"C hoặc cao quá 30"C.

Khi nhiệt độ thay đổi theo khí hậu mỗi mùa, nên ở miên Nam có thể nuôi tôm quanh năm trong khi miền Bắc chỉ khai thác được vào mùa nóng Nhiệt độ của mặt tròi sẽ làm nóng lóp nước trên mặt nhanh hơn lớp dưỏi sâu, trong khi đó chúng ta biết tỷ trọng nước giảm đi nếu nhiệt độ gia tăng Vì vậy, lớp nước trên mặt nhẹ hơn và có khuynh hướng không pha trộn với lớp nưốc ở dưới Điều này làm hình thành tầng thermal stratification Tại vùng nhiệt đới, tầng thermal stratification có ảnh hưởng nhiều tới năng suất, chất lượng ao hồ vì

đã giữ riêng nhiệt độ và oxy ở trên mặt trong khi chất dinh dưỡng lại đáy ớ đây việc dùng máy sục khí (Paddle wheel/Aerator) đế phá vỡ tầng thermal stratification để pha trộn lớp nưốc trên mặt và dưới đáy rất cần thiết trong việc sử dụng ao hồ một cách hiệu quả.

Vì vậy mà người nuôi tôm cần đo nhiệt độ thường xuyên ở trên mặt ao và ở lớp nước đáy ao,

đo 2 lần mỗi ngày vào lúc sáng sớm và chiều tôn Nhiệt độ thích hỢp cho tôm Tại các ao hồ vùng nhiệt đới khoảng 28 - 30°c Tôm sú có thể chịu được nhiệt độ 28^C, nhưng tôm lớn tương đôl chậm, trên 30°c tôm lớn nhanh hơn nhưng rất dễ mắc bệnh, nhất là bệnh MBV (Monodon baculovirus).

k24

Trang 25

Đô m ăn

Độ mặn trong nước đưỢc gây ra bởi các nguyên tô' chính là Na+ và C1- Độ mặn lý tưởng cho tôm phát triển là 820 Ngoài ra, độ mặn còn chi phôi vị đậm đà của thịt tôm Nước có độ mặn thâ'p tôm sinh trưởng nhanh nhưng hay bệnh.

Các loài giáp xác có khả năng thích nghi theo sự thay đổi độ mặn của môi trường nước Trong chu kỳ sông của tôm sú, trứng tôm được đẻ dọc bò biển tiếp theo giai đoạn ấu trùng (gồm Zoea, Mysis), tôm bột (Postlarvae), tôm giống (duvenile) và tôm trưởng thành có tập tính sông vùng nước có độ mặn thay đổi rộng Bản thân nó có thể thích ứng với điều kiện môi trường thay đổi từ từ, (Postlarvae) tôm

sú có thể sống đưỢc cả trong môi trường nước ngọt Trong tự nhiên, khi tôm gần tới giai đoạn trưởng thành và trưởng thành chúng sẽ di chuyển tối vùng có điều kiện môi trường ổn định hơn 0 nưốc

ta cũng thấy rõ điều này: Nước biển, độ mặn của các vùng từ Vũng Tàu trở ra ổn định hơn, dọc bờ biển có xuất hiện tôm sú trưởng thành quanh năm, từ Gò Công đến Minh Hải, độ mặn thay đổi theo mùa, tôm sú trưởng thành và ít phân bô' Khi nuôi trong tự nhiên, tôm bột phân bô' nhiều trong vùng môi trường có độ mặn thấp, chứng tỏ yếu tô'

di truyền của chúng thích ứng được môi trường thay đổi độ mặn rộng Trong đó, độ mặn là tổng sô

Trang 26

nhung nguyên tủ' kết tinh, hoà tan trong nuớc và đưỢc tính bằng gram trong 11 hay là "/(,(„ các nguyên

tử chính yêu là sodiuni và clo, còn lại là các chất vối thành phần ít hơn: mgiê, canxi, potassium, sulíate và bicacbonat Bên cạnh đó, áp suất thẩm thấu tăng lên khi độ mặn tăng, nhu cầu về độ mặn thay đổi tuỳ theo từng loại tôm và thời điểm trong chu trình sinh sông của mỗi loại.

Khi tôm còn nhỏ chúng rất dễ bị ảnh hưởng bởi

sự thay đổi độ mặn một cách đột ngột hơn là lúc tôm

đã lớn Trong đó, một vài loại tôm có khả năng chịu đựng sự thay đổi độ mặn khá lớn (wide tolerance) và được gọi là loại euryhaline Ngược lại, là loại stanohaline Tôm sú có thế chịu được sự biến thiên của độ mặn từ 3 - 45%(), nhưng độ mặn lý tưởng cho tôm sú là 18 - 20'V q („ tôm Penaeus vannamei có thể chịu đưỢc độ mặn biến thiên từ 2 - 40%io nhưng với

độ mặn 32 - 33%,ị thì tôm lớn rất mau ở Hawaii Vì vậy, vị đậm đà (taste) của thịt tôm khi thưởng thức trong các bữa ăn, có thể là do ảnh hưởng độ mặn của nước trong khi nuôi Khi được nuôi trong môi trường nước có độ mặn cao thì mức amino acid tự do (free amino acid) trong thịt của tôm cũng cao hơn, điều này làm cho thịt tôm có vị đậm đà Vì vậy, khi

có nước biển sạch (vùng nước biển xa bò) người ta thường dùng nước biển này để rửa và chê biến tôm nhưng tránh dùng nước biển tại các bến (port) để

v26

Trang 27

rửa sản phẩm vì độ bẩn của nước biển trong khu vực này rất cao Còn ở vùng biển gần bò, người chê biên tôm chỉ nên dùng nước đã ngọt đã khử trùng (chlorinated water).

Oxy dùng đê nuôi tôm

Nguồn cung cấp oxy cho ao nuôi chủ yếu là nhò quang tổng hỢp của các phiêu sinh vật và sự khuếch tán oxy trong không khí nhò hệ thống quạt nước Phạm vi an toàn cho tôm từ 5 - 8ppm, nếu oxy thiếu

sẽ ảnh hưởng đến sự bắt mồi, sinh trưởng, nghiêm trọng dẫn đến hiện tượng tôm bị đỏ mang và chết hàng loạt Ban đêm, nếu oxy dưới 3ppm thì tăng cường sục khí Buổi sáng từ 11 giò - 4 giò chiều nếu oxy cao hơn lõppm thì cho ngưng quạt nước để giảm oxy Các triệu chứng của tôm khi ao hồ bị thiếu oxy là: Tôm sẽ tập trung gần mặt nước, gần vị trí dẫn nước vào ao hồ hoặc dọc theo bờ ao, tôm sẽ giảm di chuyển nhưng gia tăng tốc độ hô hấp, có thể bị yếu

và chết Khi trong môi trường nước có quá nhiều chất khí bão hoà thì tôm sẽ bị bệnh hoặc chết khi các chất khí hoà tan này xâm nhập vào hệ thông tuần hoàn tạo thành những hạt bong bóng (bubble) còn gọi là emboli, làm cản trở sự lưu thông máu tạo và ra bệnh

“gas bubble diseas” Chất khí thặng dư trong môi trường nước thường xảy ra trong những trường hỢp sau đây:

Trang 28

- Quá trình quang tổng hỢp của thực vật phiêu sinh quá nhiều dẫn tới sự bão hoà của oxy trong nước.

- Nếu nhiệt độ nưốc gia tăng nhanh sẽ tạo ra gas bubble disease vì khả năng bền chặt của các chất khí trong nước tỷ lệ nghịch với nhiệt độ nưốc.

- Có sự pha trộn giữa các chất khí và nước dưới một áp suất nào đó, khi áp suất này giảm đi, các chất khí sẽ bay ra khỏi dung dịch nước và tạo thành “bong bóng” Do đó, phần chứa nưỏc mới bơm vào, vị trí các đập nước có thể dẫn tới tình trạng gas saturation Tuy gas bubble disease không đáng lo ngại trong các ao hồ nuôi tôm, nhưng người nuôi cần lưu ý không nên để các dụng cụ chứa nưốc, tiếp nhận sự xáo trộn nưốc quá mạnh.

Độ cứng của nước

Độ cứng của nước cũng có liên quan tới tổng sô" nguyên tử kim loại hoá trị 2 (divalent metal ions) mà

^28

Trang 29

chủ yếu là canxi và magiê trong môi trường đó Độ cứng của nưốc được tính bằng mg/1 của chất canxi - cacbonat (CaCOa) trong nước và độ cứng của có các mức độ khác nhau:

- Từ 0 - 75ppm CaCOs: Mềm (soft).

- 75 - lõOppm CaCOg: Hơi cứng (moderately hard).

- 150 - SOOppm CaCOg; Cứng (hard).

- Trên SOOppm CaCOg: Rất cứng.

Nước trong ao hồ có độ cứng từ 20 - lõOppm thì thích hỢp cho việc nuôi tôm cá 0 đây ta cũng cần lưu

ý rằng độ cứng của nưốc và chất kiềm không tự đưa năng suất ao hồ lên cao được, mà cần sự có sự phối hợp vối phôt-pho và các yếu tô chính yếu khác Nhưng nước có độ cứng cao quá (trên 300ppm) sẽ làm giảm sự thay vỏ (molting) và mức tăng trưởng của tôm càng xanh.

Độ k iềm

Là tổng sô" những kết tinh của titratable bases

mà chính yếu là bicacbonat và cacbonat được tính bằng mg/1 canxi cacbonat tương đương Bicacbonat thường được hình thành do tác dụng của cacbonic với các chất bases trong đá và đất ở ao hồ có độ kiềm cao thì có thể chế ngự được sự thay đổi độ pH Còn ao

hồ có độ kiềm trong khoảng 20 - 150mg/l thì thích hỢp cho phiêu sinh vật (plankton) cũng như tôm cá.

Chất kiềm rất quan trọng trong ao hồ vì nó có vai trò là chất đệm (buffer) và nguồn cung cấp cacbonic cho hiện tượng quang tổng hỢp.

Trang 30

H ydro S u lfid e (H 2S)

Hydro su]fide là một chất khí được tạo thành dưới điều kiện kỵ khí (anaerobic condition) Cũng tương tự như amoni, hydro sulíide bị chia làm 2 nhóm: nhóm H.;S (khí) và HS (ion)

Trong đó, dạng H.,s (khí) là chất độc Độ pH có ảnh hưởng rất lớn tối độ độc của hydro sulíide, ví dụ; Vối ao hồ có pH = 5 và nhiệt độ 24°c thì có 99,1% Hydro sulfide dưổi dạng H.,s (khí), trong khi đó ở độ

pH = 8 với cùng nhiệt độ 24"C chỉ có 8% lượng hydro sulíide dưới dạng chất độc Dù lượng độc sulíide rất nhỏ (0,001ppm) mà hiện diện trong một thời gian liên tục vẫn làm giảm sự sinh sản của tôm Tuy nhiên, H2S là một chất khí dễ bay nên người nuôi dưỡng dễ dàng loại trừ chúng khỏi ao hồ bằng máy sục khí hoặc dùng potassium permenganate để oxy hoá hydro sulíide thành hợp chất sulfur không độc, nhưng rất khó xác định sô" lượng potassium vì có trong ao nó tác dụng với các chất khác.

Hợp c h ấ t của N itơ

Gồm 3 chất chính là: amoniac, nitrite và Nitrate.

- Amoniac: Trong ao hồ amoniac xuất hiện như một sản phẩm do sự biến dưỡng của động vật trong nước, cũng như từ sự phân huỷ các chất hữu cơ vối tác dụng của vi khuẩn Trong nưốc, amoniac đưỢc phân chia (dissociate) làm 2 nhóm: nhóm NH3 (khí

hoà tan) và nhóm NH,,^ (ion hoá).

Trang 31

Trong đó, chỉ có dạng NH;| (khí hoà tan) của amoniac gâv độc cho ao hồ Sự phân chia này chịu ảnh hưởng của độ pH, nhiệt độ và độ mặn, nhưng trong đó độ pH ảnh hương quan trọng hơn cả Nêu tăng một đơn vị pH thì sẽ tăng 10 lần tỷ lệ của NH,.j (khí hoà tan) amoniac Tuy nhiên, độ độc của amoniac gây ra không đáng ngại trong ao hồ vì các thực vật phiêu sinh (phytoplankton) sẽ giữ cho độ độc này ỏ mức thấp, nhưng nếu ao hồ có mật độ cao quá thì mức NH.ị vẫn có thể xuất hiện Mức độ NH;j (khí hoà tan có thế amoniac thay đổi về ban đêm đáp ứng sự thay đổi của pH và nhiệt độ Dưối tác dụng của vi khuẩn, amoniac sẽ bị biến đổi thành nitrite (NO^) (bằng nitrosomonas bacteria) rồi nitrate (NO;j) (bằng nitrobacter bacteria).

- Còn hình thức nitrate thường vô hại, nhưng trong môi trường nưốc mà lượng chlorinity thấp thì nitrite sẽ gây độc cho tôm Nitrite gây độc chủ yếu là

do nó tạo thành chất methemoglobin và làm giảm sự chuyển oxy bằng tế bào Đe trị chất độc của nitrite thì người nuôi có thế áp dụng clo với tỷ lệ nitrite; clo tới 0,25.

Phương pháp gây màu nước trưóc khi nuôi tôm

Trong nuôi tôm, màu nước nuôi rất quan trọng

Có màu nước lợi cho tôm và cũng có màu nước lại gây hại cho tôm Vì vậy người nuôi tôm cần nắm

Trang 32

vững quy luật thay đối màu nước Bản chất của màu nước đưỢc định lượng bằng hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ chứa trong nước.

Các hơp c h ấ t vô cơ

Các hỢp chất vô cơ bao gồm chất không hòa tan

và hòa tan Nếu nưốc ao nuôi đủ chất lượng thì hàm lượng các chất vô cơ không hòa tan (cát, bùn) không được quá 80mg/l, nếu quá cao tôm sẽ chết vì ngạt thở

do bị bít mang Còn các chất vô cơ hòa tan thường do phèn sắt (màu đỏ gạch) trong đó sắt có hóa trị 1, 2, 3 rất có hại cho tôm Khi mực nước ngoài cao hơn mực nước ao nuôi thì đáy ao có thể lỏng, dạng rỉ sắt màu

đỏ làm nước ao tôm có màu gạch đỏ, trên mặt ao xuất hiện ván.

k32

Trang 33

Các c h ấ t hữu cơ

Các chất hữu cơ bao gồm các sinh vật phù du, thực vật đáy, động vật nguyên sinh Các phiêu sinh thực vật (sinh vật phù du) và phiêu sinh động vật là nguồn thức ăn tự nhiên của tôm, giúp tôm tăng trưởng nhanh.

Việc tạo màu nước thông qua sử dụng các loại phân hữu co' và vô cơ là tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm, nhất là ở giai đoạn đầu khi tôm còn nhỏ Muôn nuôi tôm, trưốc đó phải nuôi màu nưốc, để tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm.

C ách nuôi m àu nước

- Bón phân vô cơ (urê hoặc DAP): Bón ngày thứ nhất 2,2kg/1.000m^; từ ngày thứ 2 - 21, mỗi ngày bón 0,65kg/1.000m^; từ ngày thứ 22 - 30, bón 0,95kg/1.000mí

- Bón phân hữu cơ: Dùng cám sông, bón từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 21; bón 1 l,2kg/1.000m^/ngày; từ ngày 22 - 30 bón l,3kg/1.000m2/ngày.

Các loại phân hữu cơ như phân chuồng, phân

gà, thường dễ mang theo vi khuẩn gây bệnh Còn các loại phân DAP, urê, tuy tạo nguồn thức ăn cho sinh vật phù du rất tô^t, nhưng tàn lụi rất nhanh Hai loại phân hữu cơ và vô cơ tuy có giúp phát triển sinh vật phù du song màu nưốc rất dễ lên và xuông Các loại sinh vật phù du do các loại phân này tạo

,33

Trang 34

điều kiện phát triến chỉ đạt yêu cầu về định lượng,

mà không đạt về định tính Nó tùy thuộc vào loại tảo sẵn có trong ao, chứ không định hướng được loại táo nào cần ưu tiên phát triển, loại tảo nào cần hạn chế Việc sử dụng chê phẩm sinh học như E.M.P đê nuôi các phiêu sinh là đặc dụng nhất, vì nó chủ động đưa vào nước ao nuôi một hệ vi sinh vật có lợi, nhằm giúp các loại tảo có ích phát triển và hạn chê các loại tảo có hại.

Các chê phẩm sinh học vừa đáp ứng được yêu cầu trên, vừa làm cho nưốc ao nuôi "béo lên", vừa làm sạch nước, giảm BOD, COD, phòng bệnh và kích thích tôm sinh trưởng Nếu ao nuôi khó gây màu nước, có thế do nước ao thiếu nguồn tảo cần thiêt, nên lấy nước ở ao "béo" khác (có màu nước tốt) làm nguồn giông cho vào các ao này, rồi sử dụng chê phẩm sinh học để thúc đẩy các sinh vật phù du hữu ích phát triển.

Khi màu nước ao nuôi đã đạt yêu cầu (vàng nâu hoặc nâu lục), độ trong đạt 25 - 40cm thì thả tôm giống Sau khi thả tôm giông, do năng lực bơi và bắt mồi của tôm còn yếu, trong 20 - 30 ngày đầu (tôn con chủ yếu ăn các phiêu sinh vật) nên tạo màr nưốc tốt lúc đầu là biện pháp kỹ thuật quan trọng

để nâng cao tỷ lệ tôm sông, tạo điều kiện cho tôn phát triển tốt ở giai đoạn giữa và giai đoạn cuối Chú ý, khoảng 7 - 10 ngày sau khi thả, tôm đi bắt mồi nên các phiêu sinh trong ao nuôi có thê cại

34

Trang 35

dần, vì thê cần tiêp tục bón tiếp chế phẩm sinh học

đê Ổn định màu nưốc, đảm bảo tôm con không bị gián đoạn nguồn thức ăn tự nhiên.

Giai đoạn đầu thực hiện 7 - 10 ngày "bón thúc" chê phẩm sinh học một lần, cho đến khi tôm đạt yêu cầu đê chuyển sang giai đoạn giữa và cuối.

Ao có màu nưốc tốt nghĩa là các loại phiêu sinh vật trong ao phát triển tô"t, tôm nuôi trong vòng 20 -

30 ngày đầu không cần cho ăn thêm thức ăn công nghiệp Trong trường hỢp mật độ 50 con/m2, nguồn thức ăn tự nhiên có thể không đủ, cần cho thêm lượng thức ăn công nghiệp thích hỢp dành cho tôm giông và đó cũng là cách gián tiếp tạo màu nưốc, tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm.

Giai đoạn đầu không được cho tôm ăn thức ăn tươi sông như cá, nhuyễn thể, trứng nghiền, vì tôm con chưa ăn được mà còn tạo điểu kiện cho vi sinh vật gây bệnh, có hại phát triển, vô tình phá vỡ cơ cấu sinh thái nưốc ao.

Quản lý châ't thải trong ao nuôi tôm

Điều kiện nền đáy ao nuôi tôm có ảnh hưởng rất lốn đến chất lượng nưốc ao nuôi tôm như: Oxy hoà tan, độ trong của nước, sự phát triển của tảo, sự tạo

ra các khí độc, sự phát triển của các loại vi khuẩn gây bệnh Đáy ao tôt hay xấu phụ thuộc vào chất đất và sự lắng tụ chất thải trong quá trình nuôi tôm

mà đặc biệt là chất thải hữu cơ.

Trang 36

Tôm sú thường xuyên bơi lội nhưng chúng hầu như lúc nào cũng tìm kiếm thức ăn dưới đáy ao, cho nên điều kiện đáy ao có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của tôm nuôi Chính vì vậy, ngoài việc chọn chất đất tôt để xây dựng ao nuôi thì việc quản

lý tốt chất thải lắng tụ, giữ nền đáy ao luôn sạch là một trong những biện pháp rất cần thiết cho tất cả các hệ thống ao nuôi tôm mà đặc biệt là các hệ thổng

ao nuôi tôm sú năng suất cao.

N guồn gốc của c h ấ t th ả i lắ n g tụ tro n g ao nuôi tôm

Chất thải lắng tụ trong ao nuôi tôm phát sinh từ nhiều nguồn gốc khác nhau và có sự khác biệt giữa các ao nuôi, bao gồm:

- Đất ao bị xói mòn do dòng chảy của nước.

- Đất từ bờ ao bị rửa trôi.

- Phân tôm.

- Thức ăn thừa.

- Xác chết của phiêu sinh vật.

- Các loại vôi, khoáng chất.

- Chất lơ lửng do nguồn nưốc cấp.

Trong các nguồn gốc sinh ra chất thải lắng tụ trong ao thì chất thải sinh ra từ sự xói lở ao nuôi

có thể góp phần đáng kể vào sự hình thành chất lắng tụ nhưng chúng thường không là nguồn gô'c chính của sự hình thành chất hữu cơ Chất hữu cơ

có nguồn gốc chủ yếu từ phân tôm, thức ăn thừa

Trang 37

và xác chết của phiêu sinh vật Hệ thông ao nuôi

có năng suất cao thì lượng chất thải hữu cơ tích tụ càng nhiều Cho nên hệ thông nuôi năng suất cao đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ sự tồn lưu chất thải lắng tụ trong ao nuôi tôm.

Tác h a i của c h ấ t th ả i tro n g ao nuôi tôm

Chất thải lắng tụ trong ao nuôi tôm sinh ra hai sản phẩm chính có tính độc cao đôi với nuôi tôm là amoniac và hydro sunfua.

Khí amoniac sinh ra do sự bài tiết của tôm và sự phân hủy chất đạm có trong các vật chất hữu cơ ở điều kiện hiếu khí (tức là điều kiện có oxy) và yếm khí (tức là điều kiện không có oxy).

Khí hydro sunfua chỉ sinh ra từ các chất hữu cơ lắng tụ khi phân hủy trong điều kiện yếm khí Những lớp đất yếm khí có chất hữu cơ thường có màu đen đặc thù do sự hiện diện của các hỢp chất sắt khử Nếu hydro sunfua hiện diện trong ao nuôi ỏ nồng độ cao, ta

có thể nhận ra bằng đặc điểm có mùi trứng thối đặc trưng của hydro suníua Tuy nhiên, khi nồng độ hydro sunfua cao đủ để phát hiện bằng mùi thối thì có

lẽ chúng đã vượt trên mức gây độc cho tôm.

Trong khi tất cả các ao nuôi có khuynh hưống sinh ra amoniac nhất là khi đến tháng nuôi thứ 3 nhưng không phải tất cả các ao đều sinh ra hydro sunfua Khí hydro suníua thường sinh ra nhiều nhất trong ao nuôi được xây dựng trên vùng đất rừng

Trang 38

ngập mặn hay những ao dọn tẩy không triệt để Tính độc của amoniac và hydro sunfua tùy thuộc vào nồng

độ của chúng, độ pH và các thông sô khác Amoniac trở nên độc hơn khi pH cao còn hydro sunfua lại độc hơn khi pH thấp.

Ngoài việc sinh ra chất độc thì chất thải là nơi phát sinh các dòng vi khuẩn gây bệnh cho tôm đặc biệt là các bệnh đen mang, mòn đuôi, cụt râu Sự hiện diện của các dòng vi khuẩn và phiêu sinh vật trong ao nuôi tôm thể hiện sự phân hủy tự nhiên của các chất độc và chất thải trong ao nuôi tôm Các quá trình phân hủy bị ảnh hưởng bởi hàm lượng oxy hòa tan trong ao, nhiệt độ và dòng chảy Nếu chất thải hình thành nhanh hơn tốic độ phân hủy thì sự tích tụ

sẽ xuất hiện trong ao Nếu trường hỢp này xảy ra thì

có thể dẫn đến hiện tượng điều kiện trong ao không thích hỢp.

M ôt sô'biên p h á p q u ả n lý c h ấ t th ả i tro n g ao nuôi tôm

Để hạn chế sự tích lượng chất thải trong ao nuôi tôm chúng ta cần lưu ý một sô" vấn đề sau:

- Chuẩn bị ao kỹ;

Trong ao nuôi tôm công nghiệp thì mặc dù có quản

lý chất thải tốt đến đâu thì việc tồn lưu chất thải hữu cơ sau vụ nuôi tôm là điều không thể trách khỏi.

Để tránh hiện tượng chất thải hữu cơ từ vụ nuôi trưốc ảnh hưởng cho vụ nuôi sau, trưốc khi thả tôm

i38

Trang 39

chúng ta phải tiến hành dọn sạch chất thải bằng các phương pháp cải tạo ướt hoặc cải tạo khô tùy theo từng điều kiện ao nuôi Đôi với trường hỢp cải tạo khô ngoài việc vét hết lớp bùn dơ khỏi ao nuôi thì việc rải vôi, phơi đáy và cày xới đáy ao giúp cho đáy

ao thông thoáng, tiêu diệt mầm bệnh và giải phóng khí độc là điều hết sức cần thiết Đôi với trường hợp cải tạo ướt thường không tẩy dọn triệt để chất thải nên ngoài việc sử dụng vôi, trước khi thả tôm ta phải

sử dụng thêm một sô” loại chê phẩm sinh học để tăng cường làm sạch đáy ao.

- Quản lý sự xói mòn do dòng chảy của nưốc:

Sự xói mòn do dòng chảy của nước chủ yếu do hoạt động của hệ thông mày quạt nưốc, sự xói mòn từ bờ

ao khi trời mưa, sự xói mòn này thường xảy ra ỏ những

hệ thống ao nuôi mới xây dựng Để khắc phục hiện tượng này, trước khi nuôi tôm đôi vối những ao mối xây dựng cần phải rửa ao nhiều lần, gia cố bờ chắc chắn Đặt hệ thống quạt nưốc sao cho dòng chảj' trong ao điều hòa đảm bảo chất thải gom tụ lại ở giữa ao và tạo ra được tỷ

lệ diện tích đáy ao sạch là cao nhất.

- Quản lý thức ăn;

Trong hệ thống nuôi bán thâm canh và thâm canh thì việc chọn loại thức ăn và quản lý tôt lượng thức ăn sử dụng trong ao nuôi có ý nghĩa rất lốn đến sự tồn tại của chất thải hữu cơ vì chất lượng thức ăn kém dẫn đến hệ số chuyển đổi thức ăn thành thịt cao, hoặc do độ tan rã thức

39

Trang 40

ăn trong nước lớn làm cho tôm không sử dụng hết thức

ăn, hoặc do việc điều chỉnh thức ăn không phù hỢp, vỊ trí cho tôm ăn không phù hỢp sẽ dẫn đến dư thừa thức àn trong ao Đe làm tôt điều này cần phải chọn loại thức ăn có chất lượng cao và sử dụng thức ăn cho tôm nuôi một cách hỢp lý, tránh hiện tượng thừa thức ăn.

- Quản lý tôt màu nước ao nuôi:

Đây là một công việc hết sức cần thiết bởi một trong những vai trò tích cực của tảo là làm tăng chất lượng nưỏc, giảm các khí độc tồn tại trong ao Tuy nhiên việc duy trì được màu tảo tốt trong ao nuôi là một công việc không mấy dễ dàng, đòi hỏi người nuôi tôm phải có một trình độ và kinh nghiệm nhất định

để đảm bảo có đưỢc màu tảo tô"t duy trì sự tồn tại của tảo trong ao nuôi Để làm được vấn đề này người nuôi tôm cần phải biết sử dụng các loại vôi, khoáng chất, chế phẩm sinh học, các loại phân và biện pháp thay nước một cách hỢp lý để duy trì

sự phát triển của tảo trong ao nuôi.

- Chọn nguồn nước cấp thích hỢp:

Nguồn nưóc cấp vào nuôi cũng là một trong những lí do làm tích tụ chất hữu cơ trong ao nuôi tôm Do vậy khi chọn nguồn nước cấp vào ao nuôi chúng ta cần phải chọn những nguồn nước ít chất

lơ lửng, không có tảo và nên chọn nguồn nước có

độ mặn thấp.

Ngày đăng: 23/09/2017, 00:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w