BỀN THỜ BÁC HỒĐền thờ Bác Hổ hay theo cách nói của nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng là “Công trình trái tim” - một biểu tượng của tấm lòng người dân Trà Vinh đối với Chủ tịch Hổ Chí Minh, m
Trang 1Từ cửa ngõ Thành phố Trà Vinh đi vào trung tâm nội ô khoảng 3km, chùa Phước Minh Cung nằm uy nghi bên đường Điện Biên Phủ, vươn mái cong vút rực sắc đỏ, vàng Hiện nay, không còn tư liệu nào ghi chép vê' lịch sử ngôi chùa Tuy nhiên, trong chùa vẫn còn lưu giữ hai bia kí, một bằng đá và một bằng gỗ có khắc chữ Hán: “Phước Minh Cung - Phước Kiến toàn thể kiến thiết nhất ngũ lục niên” Theo bia kí này thì ngôi chùa có thể được tạo lập vào năm Bính Thìn 1556 Những năm đầu thế kỉ XX, Phước Minh Cung đã được cộng đổng ba dần tộc Kinh, Khmer, Hoa ở Trà Vinh biết đến là một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo Người dân trong tỉnh quen gọi Phước Minh Cung với cái tên là chùa ông Bởi Phước Minh Cung cũng giống như nhiều ngôi chùa của người Hoa thờ tự vị thần chính là Quan Công Quan Công có tên thật là Quan Vũ tự Quan Vân Trường và còn gọi là Quan Đế, Vũ Đế, Xích Đế ông sinh năm 162, ở tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc và mất năm 219 Quan Công là nhân vật nổi tiếng thời Tam quốc hậu Hán, hội đủ các đức tính trung dũng, nghĩa tình độ lượng
và công minh chính trực
Phước Minh Cung được kiến trúc theo kiểu “nội công, ngoại quốc” Chùa gồm ba tòa nhà nằm ngang song song với nhau, gổm Tiền điện, Trung điện và Chmh điện Dọc hai bên ngôi chùa là hai dãy Tả điện, Hữu điện hướng vào ba tòa nhà tạo thành một công trình khép kúi hình chữ Khẩu Mái chùa được thiết kế theo kiểu “trùng thềm điệp ốc” lợp ngói
âm dương, diềm mái bằng ngói táng tráng men màu xanh ngọc Trên các gờ mái, mặt dựng đầu hồi được trang trí Lưỡng long tranh châu, Bát tiên, tứ linh, muông thú Khung sườn chịu lực đỡ lấy ngôi chùa là những cột tròn và vuông bằng loại gỗ quý Chân các cột được
kê bởi những tảng đá hình cánh sen, bát giác Tiền diện của Phước Minh Cung có thể nói
là đặc sắc về tính mĩ thuật với ba cửa ra vào: Chính môn, Tả môn, Hữu môn Cửa chính hơi lùi vào trong được thiết kế theo kiểu ô hộc, phía trong hai bên có hai cửa phụ tạo thành
“Ngũ môn kín” Cửa chính được làm bằng gỗ với bốn cánh được trang trí hình tượng hai vị môn thẩn Tan Thúc Bảo, Uất Trì Cung Hai bên vách là hai bức phù điêu Thanh long, Bạch
hổ ở giữa bên trên là biển đại tự Phước Minh Cung cùng các mảng phù điêu với để tài Song tiền; Kết nghĩa đào viên của ba huynh đệ Lưu Bị, Quan Công và Trương Phi; Tứ dân (sĩ, nông, công, thương); điển tích cổ Trung Quốc cùng bao lam Lưỡng phụng tranh chầu Trên các rường cột đểu được chạm trổ sắc sảo họa tiết Long, Lân, hoa lá và tiểu tượng Hàn Tương Tử, Lam Thái Hoà là hai vị tiên trong Bát tiên
Ngôi Chính điện là nơi quan trọng nhất về sự tín ngưỡng gồm có ba gian thờ: Quan Thánh Đế Quần, Mẹ Thai Sanh và Phước Đức Chính Thẩn Các gian thờ này đểu được chạm khắc đẹp, tỉ mỉ và bày trí thật hài hoà, toát ra vẻ uy nghiêm Gian giữa thờ Quan Thánh Đế Quân, khánh thờ được sơn phết, chạm khắc rất tinh xảo Kĩ thuật chạm khắc được sử dụng chạm thủng, chạm bông, chạm nổi với mảng đê' tài Lưỡng long tranh chầu, Long vần, Hoa điểu ở gian trái là nơi thờ Mẹ Thai Sanh hay Chúa Sinh Nương Nương hoặc Kim Huê Thánh Mẫu Khánh thờ ở đây được chạm hình Lượng long tranh chầu cùng câu đối:
“Chúa chí đào hoa kết thành kim phượng vũ Sinh hương tự triện thổ xuất ngọc long phi”
Một số M tìcVi lịcVt svf - VẢH VioÁ V iệt 'N avm
c 6 4 5 >
Trang 2Riêng ở gian phải là nơi thờ Phước Đức Chính Thần hay còn gọi là Thẩn Tài Khánh thờ có bốn chữ Hán là Phước Đức Chính Thần và câu đối:
“Phước đức bảo ngã tủ tôn an thả kiết Thẩn đàn vi dân phụ mẫu thọ nhi khang”.
Nội thất ngôi chính điện được bỗ trí ba dãy gồm bàn thờ, tượng thờ, bàn thờ ngũ
sự, bàn thờ hoa quả cùng hai bộ nghi trượng Đây là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc, chạm trổ độc đáo, rất hiếm thấy hiện nay
Phước Minh Cung là công trình kiến trúc còn lưu giữ nhiều tác phẩm nghệ thuật truyền thống độc đáo, mang đậm nét văn hoá của đồng bào Hoa rất đáng được gìn giữ
và chiêm ngưỡng
Tháng 11/2005, Phước Minh Cung được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận là Di tích cấp Quốc gia Nhiều năm nay, Phước Minh Cung đã đón khá nhiều khách đến tham quan lễ bái, nhất là vào dịp lễ, hội của đồng bào Hoa, Tết Nguyên đán
Mạt tícVi lịcti từ - VẲM VioẮ việt
c 6 4 6 >
Trang 3BỀN THỜ BÁC HỒ
Đền thờ Bác Hổ hay theo cách nói của nhà
nghiên cứu Trần Bạch Đằng là “Công trình trái tim” - một biểu tượng của tấm lòng người dân Trà Vinh đối với Chủ tịch Hổ Chí Minh, một địa chỉ văn hoá du lịch nổi tiếng - tọa lạc tại ấp Vĩnh Hội, xã Long Đức, thành phố Trà Vinh, cách trung tàm nội ô chưa đến 5km, vể hướng đông bắc Ngay khi hay tin Hồ Chủ tịch qua đời, trong niểm kính yêu và nỗi tiếc thương
vô hạn, Chi bộ và quân dân Long Đức quyết định cùng nhau dựng lấy ngôi đển thờ Người ngay tại vùng quê lửa đạn của mình Di tích lịch sử này được xây dựng cách đây 35 năm khi chiến tranh chống Mỹ cứu nước đang diễn ra ác liệt Nằm giữa vòng vây, kìm kẹp của Mỹ ngụy, đền thờ là biểu tượng tình cảm, tấm lòng của nhân dân Trà Vinh đối với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, thể hiện
Một sồ ỉ>i tíctl lịcVt sử - VÃM VlOÁ Việt N a » m
C 647 )
Trang 4quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất Tổ quốc như ý nguyện của Người trước lúc ra đi.
Đền thờ Bác Hổ ban đầu chỉ được dựng tạm đơn sơ bằng tre, lá Trong suốt những năm tháng chiến tranh khốc liệt, việc xây dựng và cuộc chiến đấu bảo vệ, giữ gìn ngôi đền là cả một kì tích của Đảng bộ, quân và dần xã Long Đức anh hùng Ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, tầm nguyện chung của quân dân Long Đức và một số vùng giải phóng phụ cận, cũng như của nhân dân thị xã trong vùng địch chiếm đều mong muốh có được một địa điểm làm nơi thờ phụng và tưởng niệm Chủ tịch Hổ Chí Minh Xuất phát từ tâm nguyện đó của nhân dàn, Thị uỷ Trà Vinh và Chi bộ Long Đức
đã thống nhất xây dựng Đển thờ Bác Hồ tại ấp Vĩnh Hội Địa điểm này là vùng giải phóng, ngay sát tỉnh lị Vĩnh Bình (tên gọi Trà Vinh trước năm 1975), trung tầm đẩu não của ngụy quyển tỉnh Sở dĩ lựa chọn Vĩnh Hội - Long Đức bởi nơi đây là vùng “đất thép”, giàu truyển thống cách mạng của quân dân Trà Vinh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dần Pháp và đế quốc Mỹ
Để chuẩn bị xây dựng, một cuộc vận động lớn, gần như công khai, ở cả các vùng địch chiếm, đã được nhân dân tự động thực hiện Cuối tháng 3/1970, Đền thờ Bác Hổ được Thị uỷ Trà Vinh, Đảng bộ và nhân dân xã Long Đức khởi công xây dựng dưới tẩm đạn pháo của địch Công việc phải làm vào ban đêm, du kích cùng nhân dân địa phương chia ra làm nhiểu tổ, vừa bảo đảm vận chuyển nguyên vật liệu vào khu vực xây đến, qua mắt các căn cứ quân sự của Mỹ, ngụy xung quanh, vừa phải trực chiến chống càn, bảo vệ nhân dân và khu vực xảy dựng đển Miệt mài gần mười tháng làm việc bất chấp bom đạn, sự đánh phá ngăn cản của địch, quân dân Long Đức - Trà Vinh, (gổm các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa) đã chung sức, đổng lòng hoàn thành Đền thờ Bác Hổ
và chính thức khánh thành vào đúng ngày 30 Tết Nguyên đán năm 1971 trong niềm vui của nhân dân Ngôi đển được làm bằng các vật liệu thiên nhiên, thiết kế kiểu hình khối vuông, nóc bánh ú, mái lợp lá, khung sườn bằng loại gỗ tạp, vách tôn, nển tráng
xi măng, phía trước đển khoảng lOm có một đài liệt bằng tôn, hình tháp
Tuy chỉ rộng khoảng 16m^ với nguyên liệu chủ yếu là tre lá, nhưng sự tổn tại của ngôi đền bên cạnh các cơ quan đầu não ngụy quyển trong tỉnh và giữa hệ thống đồn, bốt dày đặc của địch, khiến chúng ngày đêm điên cuồng đánh phá, tổ chức hàng chục cuộc hành quân càn quét cấp đại đội rổi tiểu đoàn cùng hàng trăm trận sử dụng hỏa lực hủy diệt bằng pháo binh, máy bay, tàu chiến Năm năm xây dựng và bảo vệ ngôi đền, quân dân Long Đức đã anh dũng bám từng bờ tre, bụi cỏ chiến đấu, quyết tử giữ đến, loại khỏi vòng chiến hàng trăm tên địch Nhiểu chiến sĩ và nhân dân đã hi sinh anh dũng nhưng khu vực đển vẫn được giữ vững và nhanh chóng xây dựng lại sau mỗi lần bị địch phá hủy, đốt cháy Cuộc chiến đấu bảo vệ đến không chỉ thể hiện tấm lòng người dân Long Đức - Trà Vinh với lãnh tụ kính yêu của dản tộc mà còn trở thành biểu tượng cho ý chí sắt đá, quyết tâm thống nhất Tổ quốc, là pháo đài niểm tin của nhân dân Trà Vinh với con đường Bác Hồ và Đảng đã chọn Nhân dân trong vùng vẫn còn lưu truyền câu chuyện vể những người lính ngụy sau khi phải tuân lệnh cấp trên vào càn quét khu vực đền, khi rút lui đã để lại bức thư gửi những người bảo vệ đền
Một tồ w tíc li lịc li từ - VẴM VioẮ việt 'Níim
C 6 4 8 >
Trang 5nội dung thể hiện sự hối hận vì bị bắt buộc phải làm chuyện đại nghịch, xin Cụ Hổ và mọi người xá tội, đổng thời gói tiền trong bức thư để đóng góp trùng tu lại đến thờ.Trong suốt những năm tháng chiến tranh, mặc dù rất tức tối nhưng kẻ địch vẫn phải bất lực và khiếp sợ trước sự tổn tại của ngôi đển ra đời từ ý nguyện và lòng dân Còn các chiến sĩ ta, trước mỗi trận đánh đểu đến Đển dâng hương, hạ quyết tầm xung trận “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” trước ban thờ Bác Hồ và Tổ quốc Với các giá trị và ý nghĩa lịch sử, Đền thờ Bác Hổ đã được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận là Di tích lịch sử - Văn hoá cấp Quốc gia theo Quyết định 1570 QĐ ngày 5/9/1989.
Sau ngày giải phóng, thể theo nguyện vọng của nhân dân tỉnh Trà Vinh, chính quyển tỉnh đã đầu tư trùng tu tôn tạo lại ngôi đền và cảnh quan xung quanh, tạo nên một khu di tích lịch sử văn hoá rộng hơn 7ha Ngôi đền được phục chế theo nguyên trạng, bên ngoài có nhà che tạo dáng một đóa sen hồng đang bừng nở - biểu tượng cho tâm hồn và nhân cách cao cả của Người Những di vật trong đển thờ hiện có:
Ba bộ lư đồng vuông, một lư hương tròn, hai lục bình bằng đổng, năm tấm màn chắn, hai đôn sứ hình voi, Chân dung Bác Hổ (chất liệu sơn dầu), một bộ bình trà, hai bàn thờ gỗ khảm xà cừ, một tủ thờ gỗ khảm xà cừ, Nhiều hạng mục khác như công viên, cổng chào, nhà dừng chân, nhà truyền thống Bảo tàng lịch sử tỉnh, nhà trưng bày thân thế sự nghiệp Chủ tịch Hổ Chí Minh cùng nhiều hiện vật cũng đã được hoàn thiện, tạo điểu kiện cho mọi người vể đây viếng Bác Hồ và sinh hoạt vui chơi Đển thờ Bác Hổ nằm trong một không gian xanh đặc trưng của thành phố Trà Vinh, đến đây là trở vể cội nguồn với những hình ảnh về Bác nhưng cũng đồng thời thưởng ngoạn một không gian trong lành, mát dịu
Tại đển, lễ giỗ, tưởng niệm Bác Hồ được chính quyển và nhân dân địa phương
tổ chức long trọng hằng năm vào ngày 2/9 để báo công lên Bác Đã thành một truyền thống văn hoá tốt đẹp, nhiều cơ quan, đoàn thể, gia đình, cá nhân trong tỉnh khi có dịp vui đểu đến đáy làm lễ dâng hương Bên cạnh ý nghĩa tầm linh của người dân, đến thờ đã trở thành địa điểm về nguồn giáo dục truyền thống cách mạng và học tập tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh của tỉnh Trà Vinh, đổng thời cũng là điểm đến, mỗi năm thu hút gần 50 nghìn du khách trong nước, ngoài nước và đổng bào Việt kiểu vê' thăm viếng
M ột »ố w Ucti lỊcVi fử - vẳM VioẢ V iệt 'Níkm
C 6 4 9 )
Trang 6CHÙA TIỀM CHÁU
Tiên Châu là một trong những ngôi chùa
cổ ở Vĩnh Long, có lịch sử tổn tại khoảng
250 năm, tọa lạc trên một cù lao nhỏ được ôm ấp bởi hai nhánh của dòng Mêkông hùng vĩ là sông Tiến và sông Cổ Chiên, thuộc
ấp Bình Lương - xã An Bình - huyện Long Hổ - tỉnh Vĩnh Long
Chùa Tiên Châu có tên chính thức là Di Đà
Tự hay chùa Tô Châu Gọi là Di Đà Tự vì chùa thờ Phật Di Đà - Giáo chủ cõi Tây Phương cực lạc Còn gọi chùa Tô Chầu là vì làng Bình Lương (nay là ấp Bình Lương, nơi ngôi chùa tọa lạc) xưa kia có những cây liễu rủ bóng xuống dòng sông phẳng lặng, phong cảnh đẹp và thơ mộng, gỢi nhớ đến đất Tô Châu - Trung Quốc
Theo “Đại Nam nhất thống chí”, chùa Tiên Châu do Hoà thượng Huỳnh Đức Hội “khai sơn”
Một số í>i ticVi lỊcVi sử - VÃM ÍIO Á Viổt NAm
c 6 5 0 >
Trang 7Hoà thượng Đức Hội có pháp danh Tánh Minh, đời thứ 39 phái Lâm Tế, dòng Liễu Quán Qua pháp danh, chúng ta biết Hoà thượng Đức Hội là đệ tử của Hoà thượng Đạo Thành, người đã khai sáng chùa Khánh Long (Biên Hoà) và chùa Hội Sơn (Thủ Đức) Do đó, có thể khẳng định Hoà thượng Đức Hội là người vùng Biên Hoà - Gia Định Ngài là vị chủ trì đời thứ ba của chùa Hội Sơn và đến xây dựng chùa Tiên Châu.Cũng theo “Đại Nam nhất thống chí”, chùa Tiên Châu ở cù lao sông Tiền thuộc làng Bình Lương và An Thành (nay là ấp Bình Lương, xã An Bình huyện Long Hổ, cách thành phố Vĩnh Long khoảng một cây số, nhưng phải qua sông Cổ Chiên) Tên chính thức của chùa Tiên Châu là Di Đà Tự (Tiên Châu Di Đà Tự) vì chùa này thờ phật Di Đà, giáo chủ cõi Tây Phương cực lạc Theo truyền thuyết, hai làng Bình Lương
và An Thành mặc dù cách nơi đô hội không xa nhưng không khí tĩnh mịch, cầy cối tốt tươi Tại nơi đây có xóm chài lưới, cửa nhà thưa thớt Những đêm trăng thanh gió mát, thỉnh thoảng có tiên nữ xuống trẩn tắm gội và đùa giỡn Do đó, bãi sông này được đặt tên là Bãi Tiên (Tiên Châu) hay bãi Bích Trân Vùng đất này lại có nhiều rạch lớn, rạch nhỏ, ghe thuyền có thể đi tắt qua lại nên còn tên là bãi Bát Tân (có nghĩa là đi bốn phương tám hướng) Chùa Di Đà ở tại thắng cảnh đẹp như xứ lụa Tô Chầu nên còn
có tên là chùa Tô Châu
Sau khi Hoà thượng Đức Hội viên tịch, có Hoà thượng Tế Triệt tức Giác Nguyên ở chùa Sắc Tứ Từ Ân (Gia Định) đến hành đạo Một thời gian sau, Hoà thượng Tế Triệt
vể khai sáng chùa Tân Long ở Cao Lãnh, các đệ tử của Ngài tiếp tục sự nghiệp hoằng dương Phật pháp
Mãi đến cuối thế kỉ thứ XIX, các vị sư ở chùa Vĩnh Tràng (Mỹ Tho) qua hành đạo Giai đoạn này, chùa Di Đà đã bị xuống cấp nên tín đổ Phật tử đã trùng tu tái thiết lại ngôi chùa vào năm Kỉ Hợi (1899) Từ đó, ngôi chùa có tên chính thức là Tiên Châu Tự, còn danh hiệu Tiên Châu Di Đà Tự gẩn như đi vào dĩ vãng
Di Đà Tự là một đại già lam, bãi Tiên là một thắng cảnh Do đó, từ xưa đến nay có nhiều tài tử giai nhân đến viếng cảnh, ngâm vịnh
Nhà thơ Nguyễn Hữu Đức có bài thơ vịnh Bãi Tiên như sau:
“Tiên Châu giăng trước Vĩnh Long thành Đây rộn rịp nhiểu đó vắng tanh
Khuất nửa cỏ cây nhà trắng trắng Chia hai trời nước liễu xanh xanh Cảnh người ngày tháng ba thằng mục Chùa Phật hôm m ai m ột tiếng kình Danh lợi vì đây lòng chẳng tường Bốn mùa phong cảnh có ai tranh".
Nội điện chùa Tiên Chầu được bố trí rất đẹp, giữa tứ trụ là khánh thờ một tượng phật Di Đà rất lớn Đấu lưng với khánh thờ Phật Di Đà là Phật Di Lặc cũng lớn như tượng Phật Di Đà Hai bên khánh thờ Phật Di Đà là nơi thờ các vị Tiêu Diện Vương
Bổ Tát, Quan Thế Âm Bổ Tát, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thập Điện Minh Vương, Nam Tào Bắc Đẩu, Quan Thánh Đế Quân, Chuẩn Để Vương Bồ Tát
M ỷt »ố ĩ>f ticti lịcti sừ - VẲM VioẮ NAm
C 6 5 1 >
Trang 8Trung đường là nơi thờ các vị Sư tổ Bồ Để Đạt Ma, Phật Thích Ca Mâu Ni, Tam Tạng, Quan Thế Âm Bổ Tát, các vị tổ sư tiến bối và thiện nam tích nữ đã quá vãng Đây cũng là nơi tiếp khách nên được treo rất nhiều tranh khuyến thiện với những câu đối mang đầy ý nghĩa thâm trầm của cõi Phật.
Qua thời gian, chùa Tiên Châu đã nhiểu lần xuống cấp và cũng đã nhiều lân được trùng tu, sửa chữa Trận chiến Mậu Thân năm 1968 đã gầy thiệt hại không nhỏ cho chùa Tiên Châu Đạn pháo từ thị xã Vĩnh Long và các tàu chiến khiến chùa loang lổ vết đạn, mái ngói bị đổ sập nhiều nơi Sau đó, Ban hộ trì Tam bảo kết hợp với Hội Phật giáo Việt Nam quyết định trùng tu lại ngôi chùa Theo đó, mặt tiền chùa được xây bằng
bê tông, có ba giàn cửa sắt Trên nóc có năm ngọn tháp, một tháp lớn ở giữa, bốn tháp nhỏ xung quanh, phía dưới là hàng chữ “Tiên Châu Tự” Hai gian hai bên mặt tiền được xây dựng theo kiểu cổ lầu, bên trong tôn trí tượng Thiện Hữu và Ác Hữu, cũng
có hoành phi, câu đối ca tụng Bộ cửa sắt sau đó đã bị rỉ sét và được thay mới bằng bộ cửa gỗ Bộ cửa này được đặt đóng từ kinh đô Huế, do các nghệ nhân tạo hình, chạm trổ theo điển tích cổ xưa, được lắp ráp trong dịp tết Nhầm Ngọ (2002), tô điểm thêm cho kì quan một tác phẩm chạm trổ độc đáo, tinh xảo
Không chỉ nổi tiếng ở Vĩnh Long, chùa Tiên Châu còn nổi tiếng khắp vùng đổng bằng châu thổ sông Mêkông Bên cạnh sự nổi tiếng vê' di tích, danh lam, kiến trúc Tiên Châu Cổ Tự còn được biết đến bởi truyền thuyết Bãi Tiên
Theo truyền thuyết, làng Bình Lương ngày xưa phong cảnh hữu tình, khí hậu thuận lợi nên nhiều người đến đầy tham gia khai hoang lập ấp Họ rất lương thiện, cuộc sống cộng đổng rất hoà thuận nên nơi đây được gọi là làng Bình Lương Người dân làng Bình Lương chủ yếu sinh sống bằng nghể chài lưới, đánh bắt cá tôm Vào một đêm trăng sáng, trai tráng trong làng chèo thuyền ra sông đánh bắt cá Trên bãi cổn, trong một căn lểu nhỏ dưới gốc bần, một cụ già nằm thao thức Từng cơn gió mát mẻ
và se lạnh nhẹ thổi, mang theo mùi hương thoang thoảng của hoa lá, hoà quyện cùng bản giao hưởng du dương trầm bổng của côn trùng thổn thức trong lòng đất Cụ nhìn
ra bãi cát trắng xóa lấp lánh dưới ánh trăng, chợt thấy những bóng trắng mờ ảo của bao nàng con gái đang thướt tha, uyển chuyển bay lượn, vui chơi trên bãi cát - Tiên giáng trần! Câu chuyện được truyền đi trong làng, sau đó lan xa trong thiên hạ Từ đó, bãi cát trên khúc sông này được gọi là Bâi Tiên
Ngày nay, cù lao An Bình không còn bãi cát trắng xóa ngày nào Tốc độ đô thị hoá
và lối sống thị trường phẩn nào đã làm ảnh hưởng đến vẻ vắng lặng êm ắng của một ngôi cổ tự Tuy nhiên, những gì chùa Tiên Châu còn giữ được đến ngày nay đã chứng
tỏ sự phát triển rực rỡ của một di tích cổ xưa, xứng danh cùng vùng đất đã làm nên lịch sử - Long Hổ dinh
Chùa Tiên Châu được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận Di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1994 theo Quyết định số 3211-QĐ, ngày 12/12/1994
Một *ố t>í ticll lịclt svt - VÀM VioÁ Việt N avm
C 652 >
Trang 9Họ đã xây dựng Văn Thánh Miếu để làm nơi ôn tập cho các sĩ tử và cũng là nơi để hoạt động văn hoá, để cao các tiền hiển, giáo dục lòng yêu nước cho nhân dần Công trình nổi tiếng này được xây dựng từ năm 1864 và hoàn thành cuối năm 1866 với sự chủ trì của Kinh lược đại thẩn Phan Thanh Giản, Để học Nguyễn Thông, sự đóng góp của
M dt số tícVi lịcVi svr - vẲti VtoÁ V iệt N a h i
c 6 5 3 >
Trang 10nhiều đại thần cựu trào cùng sĩ phu và nhân dần ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên Từ đó đến nay, Văn Thánh Miếu Vĩnh Long được trùng tu, tôn tạo vào các năm
1872, 1903, 1914, 1933, 1963 và 1994 Tuy đã nhiểu lần được trùng tu, tôn tạo nhưng
\^n Thánh Miếu Vĩnh Long vẫn giữ được vẻ đẹp tôn quý, thanh cao Cổng Tam quan của văn Thánh Miếu uy nghi trên đường Trần Phú bên dòng sông yên tĩnh Năm 1928, cổng làm bằng cột gỗ mái ngói Năm 1936, được xây hai trụ cổng với đôi liễn mang những hình ảnh thơ mộng:
Liễu p h ố tân sào nha tháo nguyệt Hạnh đàn cửu chỉ m ã tê phong
(Nơi bờ sông, trên cây liễu bầy quạ thấy trăng kêu rộChốn sân hạnh, nhớ chuồng cũ lũ ngựa nghe gió thổi hí vang)
Tới năm 1964, được thay bằng đôi liễn mới:
Khổng môn truyền đạo thiên ban thượng Thánh Miếu sùng văn vạn đại tôn
(Đạo truyền của Khổng Thánh trên ngàn bực Miếu Thánh sùng văn cả vạn năm)
Hai hàng cây cao thẳng tắp tạo cho khuôn viên vườn cảnh và khu di tích một bê' sâu và không khí uy nghi trầm mặc lạ lùng Con đường nhỏ dưới hai hàng cây dẫn tới Khổng Thánh Miếu - đền thờ Đức Khổng Tử Trên con đường đó, giữa hoa lá đan xen, khách có thể chiêm ngưỡng ba tấm bia đá đã phôi pha với thời gian Trước cổng đền
là tấm bia ghi văn tài của cụ Phan Thanh Giản, mặt trước nêu lí do dựng miếu, xưng tụng công đức Thánh Nhân và triều đình, mặt sau dương danh những người có công Hai bia khác đứng gần nhau ở phía ngoài nói về những nhân sĩ, thân hào và người có công trùng tu, cúng hiến cho Văn Thánh Miếu Hai công trình quan trọng ở khu di tích
này là Khổng Thánh Miếu và Văn Xương Các.
Khổng Thánh Miếu trước kia đơn sơ, cột cây mái ngói trên nển đất Năm 1903 mới được thay bằng cột gỗ căm xe, lót gạch tàu, lợp ngói đại và ngói ống Trong đền,
ở gian chính giữa, trong cùng là bàn thờ Đức Khổng Tử - vị tổ của đạo Nho Khổng
Tử quê ở làng Bình Xương, huyện Khúc Phụ (nước Lỗ, nay là tỉnh Sơn Đông Trung Quốc), sinh năm 551 và mất năm 479 trước Công Nguyên, thọ 73 tuổi Ngài đã làm quan và giữ những chức vụ quan trọng ở nhiều nước như Tề, Vệ, Sở, Tống Vể già, ngài trở vê' nước Lỗ, mở trường dạy học ở đất Hạnh Đàn Đời sau tặng ngài nhiêu danh
hiệu như Vạn Thế Sư Biểu, Đại Thành Chí Thánh, Thánh Văn, Thánh Nhân,
Học thuyết của Khổng Tử hay đạo Nho là nền tảng cho đạo trị nước của các triều đại phong kiến, vì vậy các vua Trung Quốc đều lập miếu thờ và cúng tế ngài Tư tưởng Nho giáo được truyền sang nước ta đã góp phần không nhỏ cho nển văn hoá và học thuật nên các vị vua nhà Lý, nhà Trần cũng lập miếu thờ Đức Thánh "V^n Học trò của Khổng Tử có trên 3.000 người, những người vượt trội cũng được thờ trong đền này: Trước bàn thờ Khổng Tử là bài vị bốn học trò giỏi nhất (Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử
và Nhan Tử), hai bên là bài vị 12 học trò giỏi và hai bên phía ngoài sần đển thờ 72 đệ
tử đắc ý của ngài
Một » ố w ticVi lỊc li sử - V À M VioÁ V iệt M A m
( 6 5 4 )
Trang 11V ăn x ư ơ n g C á c nằm ngay bên phải lối vào khu di tích, hai bên có hai khẩu thẩn công Những khẩu súng cổ này từ năm 1921 đã được đặt tại cầu tàu (trước viện Bảo tàng Vĩnh Long hiện nay), năm 1937 mới mang tới Văn Thánh Miếu và năm 1960 được đặt
uy nghi trên bệ xây Văn Xương Các trước kia là Thơ lầu, chỉ với nền đất, cột gỗ mái ngói nhưng có hai tầng Tầng trên để tàng trữ văn thơ, chính giữa là bàn thờ ba vị thiên đế trông coi vế văn học Tầng dưới là nơi nghỉ ngơi cho khách đến cúng tế Khổng Tử, và nơi bình văn luận võ của các quan đại thần Năm 1914, Thơ lẩu được trùng tu với nền gạch,
cột gỗ căm xe, mái lợp ngói ống, tẩng trên treo biển Văn Xương Các (Gác thờ ba vị Van Xương đế quân), tầng dưới treo biển Tụy Văn Lâu (Lầu nhóm văn nhân) Văn tài của cụ Phan Thanh Giản dổi dào và đa dạng, còn lưu truyển nhiều tác phẩm giá trị như Lương Khê Thi Thảo, Lương Khê Văn Thảo, Thanh Thi Tập, Tây Phù Nhựt Ký, ước Phu Thi Tập, Minh Mạng Chí Yếu, Việt Sử Thông Giám Cương Mục,
Sinh thời, cụ Phan Thanh Giản là vị quan đại thần khiêm tốn, cương trực, hiếu nghĩa, liêm khiết và thương dân Tháng 6/1867, Pháp tấn công ba tỉnh miền Tây Nam
Bộ, tình thế bắt buộc phải giao thành, cụ đã nhịn đói 17 ngày rồi uống thuốc độc tuẫn tiết sau khi dặn dò con cháu không hợp tác với Pháp Nhân dân nhiểu nơi, từ Bến Tre tới Vĩnh Long, Gia Định, Biên Hoà, Sông Bé, đã lập miếu thờ cụ Đổng liêu và trí sĩ khắp ba miến đều có thơ văn phúng điếu
Đặc biệt, bài thơ Khóc cụ Phan của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã nói
lên lòng trung hiếu và tâm sự u uất của cụ Năm 1929, vua Khải Định ban sắc phong thẩn cho cụ tại Thủ Dầu Một - Sông Bé Năm 1933, sau khi vua Bảo Đại ban sắc tái
phong cho cụ là Đoan Túc Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thẩn thì ở tầng dưới Thơ lầu đặt thêm biển đê' Phan Thanh Giản thẩn miếu bằng chữ quốc ngữ Từ đó tới nay, trên lầu
vẫn thờ ba vị Văn xương đế quân và tầng dưới có 5 bàn thờ Chính giữa, trong cùng là bàn thờ cụ Phan với ảnh do họa sĩ Phillippe Trân vẽ, hai bên có hai câu liễn:
Công cái tam triều cảnh cảnh điển mô chiêu á thánh
Đức thùy bách tánh dương dương tiết liệt sắc phong thẩn
(Công khó khắp ba trào chói chói điển mô so bậc thánh
Đức dày gieo trăm họ hây hây tiết liệt đáng phong thần)
Trước mặt cụ Phan là bàn thờ cụ Võ Trường Toản Gian trái thờ các đại thẩn cựu trào, gian phải thờ các minh bang, tổng xã, gian sau thờ các hiển nhân, hương chức và
từ có công với hai ngôi đển
Kế bên Văn Xương Các là khu nhà trù, nhà tiệc
Tại Văn Xương Các, mỗi năm có hai lễ cúng tế: Lễ giỗ cụ Phan Thanh Giản vào ngày 4 và 5 tháng 7 âm lịch Lễ truy điệu chung các quan quân cựu trào có công và bỏ mình vì tổ quốc vào ngày 12 và 13 tháng 10 âm lịch
Với những giá trị văn hoá truyển thống còn lưu giữ được, "Văn Tháiứi Miếu Vĩnh Long
đã được Bộ Văn hoá - Thông tin ra Quyết định số 0557/QĐ ngày 25/3/1991 công nhận là
Di tích Lịch sử - "Văn hoá cấp Quốc gia Nhân dân Vĩnh Long và các vùng lân cận hàng năm vào các ngày cúng lễ đểu tể tựu vể rất đông Du khách trong và ngoài nước khi đến với Vĩnh Long cũng không thể bỏ qua công trình ván hoá lịch sử đầy giá trị này
M ô t » ò bi ticVi lỊc li 51^ - V Ằ M VioẢ V iệt N A m
( 6 5 5 >
Trang 12p m Ả N ii
Một số ^i ticVl lịcVl s ử - VÀM VioÁ Việt N a h i
C 657 >
Trang 14Thành nhà Mạc, Lạng Sơn
Hấm chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, Điện Biên
Một sô ticVi lỊcVi sử - VẴM VioẮ V iệt N avm
( 6 6 0 >
Trang 15Bãi đá cổ Sa Pa, Lào Cai
Đền Hùng, Phú Thọ
Một sồ &i ticVi lịcVi sứ - vÃM VioÁ V iệt Navm
c 6 6 1 >
Trang 16Nhà tù Sơn La
Khu tưởng niệm ATK Định Hoá, Thái Nguyên
Một số t»i tícVi lỊcVi sử - VẰM VioÁ Việt
c 662 >
Trang 17Đình Tân Trào trong khu đi tích Tân Trào, Tuyên Quang
Hổ Thác Bà, Yên Bái
Một số ĩ>i ticVi lỊcVi sử - VÂM VioÁ V iệt N avm
c 6 6 3 >
Trang 19Cẩu Thê Húc, Hổ Hoàn Kiếm, Hà Nội
Nhà sàn Bác Hỗ trong khu Di tích Phủ Chủ tịch, Hà Nội
Một số ỉii ticVi lịcVi s ử - VÀM VioÁ V iệt NAtn
( 6 6 5 >
Trang 20Quảng trường Ba Đình, Hà Nội
Khuê Văn Các, Hà Nội
Một số &i tícVi lịcVt sử - VÀM VioÁ V iệt N avh
c 666 >
Trang 21Khu di tích Kiếp Bạc, Hải Dương
Văn miếu Xích Đằng, Hưng Yên
Một số í>i tícVi lỊcVi sử - VÃH lioÁ V iệt NAm
( 6 6 7 >