Danh mục bảng Bảng 2 : Số liệu thị phần và chỉ số mức độ tập trung của 05 doanh nghiệp đứng đầu trên thị trường bán lẻ điện máy 24 Bảng 3 : Số lượng cửa hàng và số tỉnh thành hiện diệ
Trang 4Mã Số: KT 06 ĐT 14
Trang 5trường và cũng là động lực của sự phát triển Duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh đồng nghĩa với việc duy trì một môi trường kinh doanh bình đẳng góp, phần thúc đẩy tối đa tiềm lực của doanh nghiệp, tạo đà cho phát triển kinh tế xã hội
Nhằm mục đích đánh giá mức độ và môi trường cạnh tranh của các lĩnh vực dưới góc độ chính sách, pháp luật cạnh tranh của Việt Nam, Cục Quản lý Cạnh tranh xây dựng và
hoàn thiện Đánh giá cạnh tranh trong một số ngành dịch vụ của Việt Nam
Tài liệu tập trung đánh giá, phân tích môi trường cạnh tranh trong các ngành dịch vụ: bán lẻ điện máy, chứng khoán, dịch vụ chuyển phát nhanh, thẻ ngân hàng Báo cáo cũng chỉ ra các rào cản và bất cập về cạnh tranh trên thị trường, từ đó làm cơ sở để đưa ra các khuyến nghị chính sách đối với các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan điều tiết ngành cũng như cho chính các doanh nghiệp trong việc duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, đảm bảo cân bằng lợi ích của các bên tham gia thị trường
Quá trình thực hiện Đánh giá cạnh tranh trong một số ngành dịch vụ của Việt Nam có thể còn một số sai sót, Cục
Quản lý Cạnh tranh rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc
Trân trọng cảm ơn./
CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH
Trang 7Danh mục bảng
Bảng 2 : Số liệu thị phần và chỉ số mức độ tập trung của 05
doanh nghiệp đứng đầu trên thị trường bán lẻ điện máy
24
Bảng 3 : Số lượng cửa hàng và số tỉnh thành hiện diện của một
số thương hiệu (Số liệu cập nhật đến 09/2012)
25
Bảng 5: Thị phần các doanh nghiệp dẫn đầu thị trường trong lĩnh
Bảng 9: Thống kê hình thức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
chuyển phát trong nước
Bảng 10: So sánh giá cả chuyển phát đi Singapore của một số
doanh nghiệp lớn trên thị trường
Trang 8Bảng 16: Thị phần 10 ngân hàng lớn nhất về doanh số trong lĩnh
vực thẻ năm 2012
151
Bảng 19: Đầu tư của ngân hàng nước ngoài tại các ngân hàng
Việt Nam
178
Trang 9Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 2: Doanh thu thị trường bỏn lẻ điện mỏy năm 2011 21
Biểu đồ 3: Doanh thu thị trường bỏn lẻ điện mỏy năm 2012 21
Biểu đồ 4: Thị phần thị trường bỏn lẻ điện mỏy năm 2011 22
Biểu đồ 5: Thị phần thị trường bỏn lẻ điện mỏy năm 2012 22
Biểu đồ 6: Chỉ số tập trung CR3, CR5 trờn thị trường bỏn lẻ điện mỏy 25 Biểu đồ 7: Giỏ trị niờm yết và vốn húa thị trường qua cỏc năm của
Biểu đồ 15: Số lượng doanh nghiệp hoạt động trờn thị trường
Biểu đồ 16: Thị phần cỏc doanh nghiệp dẫn đầu thị trường trong
Trang 10Biểu đồ 17: Thị phần các doanh nghiệp dẫn đầu thị trường trong
Biểu đồ 20: Chỉ số HHI của thị trường chuyển phát giai đoạn 2010 - 2012 113
Biểu đồ 23: So sánh thị phần số lượng thẻ và doanh số kinh doanh
Biểu đồ 24: Thị phần số lượng thẻ một số ngân hàng năm 2012 153
Biểu đồ 26: Chỉ số CR trong lĩnh vực thẻ ngân hàng năm 2012 156
Biểu đồ 28: Cơ cấu tổng số lượng thẻ một số ngân hàng năm 2010 172
Trang 11MỤC LỤC
I TỔNG QUAN NGÀNH BÁN LẺ ĐIỆN MÁY TẠI VIỆT NAM 13
2 Số lượng các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường 19
4 Mối quan hệ của các doanh nghiệp trên thị trường bán lẻ điện
3 Các rào cản từ chính sách đối với hoạt động kinh doanh 27
III THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CẠNH TRANH TRÊN THỊ
TRƯỜNG BÁN LẺ ĐIỆN MÁY
33
1 Đánh giá môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực bán lẻ điện máy 35
Trang 121 Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam 41
2 Thị trường liên quan trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán 52
3 Các công ty chứng khoán - Đối thủ cạnh tranh 55
4 Mức độ liên kết và tập trung trong lĩnh vực kinh doanh chứng
khoán
57
II MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN BAO GỒM HOẠT ĐỘNG CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH CHỨNG KHOÁN
68
1 Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành 68
2 Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành 74
III THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH CHỨNG KHOÁN
4 Thực tiễn thực thi pháp luật cạnh tranh trên thị trường kinh
doanh chứng khoán trong mối liên hệ với Luật Chứng khoán và
các luật có liên quan
100
IV MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ KHUYẾN NGHỊ 101
1 Đánh giá về môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh
chứng khoán
101
Trang 132 Khuyến nghị 102
I TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ CHUYỂN PHÁT
TẠI VIỆT NAM
105
1 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ chuyển phát 114
1 Các doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường chuyển phát 123
2 Thực trạng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị
trường
126
3 Các hành vi cạnh tranh trên thị trường chuyển phát 131
Trang 142 Số lượng doanh nghiệp hoạt động trên thị trường 145
II CÁC RÀO CẢN GIA NHẬP VÀ RÚT LUI KHỎI THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ THẺ
156
III THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CẠNH TRANH TRÊN THỊ TRƯỜNG
167
2 Thực trạng và phương thức cạnh tranh trong kinh doanh thẻ 169
3 Cạnh tranh và nguy cơ vi phạm pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực
thẻ ngân hàng
171
1 Đánh giá môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 180
Trang 15PHẦN A
BÁN LẺ ĐIỆN MÁY
I TỔNG QUAN NGÀNH BÁN LẺ ĐIỆN MÁY TẠI VIỆT NAM
Những năm gần đây, thị trường bán lẻ của Việt Nam ngày càng hấp dẫn các nhà đầu tư, đặc biệt là các thương hiệu bán lẻ nổi tiếng của nước ngoài Với sức tiêu thụ tăng do đời sống người dân đang ngày một nâng cao cùng với lộ trình giảm thuế đối với các mặt hàng tiêu dùng theo cam kết của Việt Nam, thị trường bán lẻ ngày càng thêm sôi động Trong một đánh giá về thị trường bán lẻ, Bộ Công Thương nhận định sau 5 năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ngành bán lẻ Việt Nam phát triển với tốc độ khá cao, bước đầu tạo được vị thế trên thị trường, đáp ứng nhu cầu của nhân dân Mặc dù nền kinh tế khó khăn, thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn được coi là đầy tiềm năng để các nhà đầu tư khai thác Theo thống kê của
Bộ Công Thương, số lượng siêu thị thành lập mới cuối năm 2012, đầu năm 2013 tăng hơn 20%, số trung tâm thương mại thành lập mới tăng hơn 72%
Đối với các doanh nghiệp bán lẻ trong nước, việc mở rộng và tái cấu trúc hệ thống bán lẻ đang là một nhu cầu hết sức cấp thiết Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp, nhượng quyền thương mại hoặc góp vốn liên doanh, các doanh nghiệp Việt Nam đã mở rộng mạng lưới bán hàng, khai thác và kết hợp nguồn lực của nhiều doanh nghiệp nhỏ trở thành hệ thống có quy mô lớn và trình độ tổ chức cao đang ngày một phát triển Qua đó, một số nhà bán lẻ đã tổ chức được mô hình bán hàng theo chuỗi với số lượng cửa hàng tăng lên hàng năm
Bên cạnh mở rộng đầu tư của các doanh nghiệp trong nước, ngành bán lẻ Việt Nam đã và đang thành công trong việc thu hút được
sự tham gia của nhiều thương hiệu bán lẻ nổi tiếng trên thế giới Các nhà bán lẻ nước ngoài đang có mặt tại thị trường bán lẻ Việt Nam như Casino (siêu thị Big C), LotteMart (Hàn Quốc) tiếp tục mở rộng hệ
Trang 16thống kinh doanh Gần đây, tập đoàn bán lẻ điện máy Nojima Corp của Nhật Bản cũng tham gia vào thị trường bán lẻ điện máy thông qua việc mua 10% cổ phần của Công ty Cổ phần Thế giới số Trần Anh
Do thị trường bán lẻ rất rộng lớn, bao gồm rất nhiều nhóm sản phẩm tiêu dùng, các nhóm sản phẩm này có tính chất khác biệt tương đối nên việc đánh giá môi trường cạnh tranh trên thị trường bán lẻ tương đối phức tạp và không thể hiện được chính xác thực trạng môi trường cạnh tranh của các doanh nghiệp trên từng nhóm sản phẩm Bên cạnh đó, trong cuộc sống hiện đại, khi nhu cầu giải trí và giải phóng sức lao động tăng cao, điện máy đang trở thành một mặt hàng rất quan trọng trong đời sống tiêu dùng của người dân Hơn nữa, do yêu cầu đặc thù về mặt kỹ thuật, hoạt động bán lẻ điện máy có tính chuyên biệt tương đối cao so với các sản phẩm khác và đây cũng là một thị trường có doanh thu lớn với hoạt động cạnh tranh sôi động
Do vậy, báo cáo sẽ không đánh giá thị trường bán lẻ trên bình diện chung mà tập trung phân tích và đánh giá cạnh tranh trên thị trường bán lẻ điện máy của Việt Nam
1 Khái niệm và quy mô thị trường
Nhu cầu tiêu dùng của xã hội luôn có xu hướng phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng Do vậy, các nhà sản xuất và bán lẻ cũng luôn tìm ra các phương thức tối ưu để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Như trên đã phân tích, cuộc sống hiện đại đòi hỏi các nhà cung cấp không chỉ tạo ra các sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng mà còn cả cách thức bán hàng, vận chuyển, lắp đặt và bảo hành các sản phẩm đó Vì vậy, thị trường bán lẻ điện máy mà báo cáo này hướng tới phân tích là một phần của thị trường bán lẻ nhưng hàng hóa chỉ giới hạn trong nhóm sản phẩm điện gia dụng, điện tử, điện lạnh, thiết bị văn phòng, sản phẩm thông tin liên lạc, máy ảnh và máy tính
Nằm trong thị trường bán lẻ tiềm năng của Việt Nam, thị trường bán lẻ điện máy có mức độ cạnh tranh tương đối cao với số lượng đáng kể và cân bằng giữa các doanh nghiệp gia nhập và rút lui khỏi thị trường Do nhu cầu của người tiêu dùng đối với các mặt hàng điện
Trang 17máy không giống nhau và chịu sự tác động của nền kinh tế cũng như thu nhập của người dân nên các nhà bán lẻ điện máy luôn phải nhạy bén trong việc đáp ứng đúng và kịp thời các nhu cầu này để giảm lượng hàng tồn kho và tăng doanh số bán hàng Trong những năm gần đây, chính sự cạnh tranh tương đối khốc liệt đã khiến không ít các siêu thị thua lỗ và còn nhiều hàng tồn kho, nhất là những mặt hàng có giá trị lớn như tivi và máy lạnh Năm 2012, do tác động tiêu cực của nền kinh tế, thị trường điện máy đã sụt giảm đáng kể với mức tăng trưởng
âm 20%1 Rất nhiều doanh nghiệp bán lẻ điện máy gặp khó khăn, lợi nhuận giảm mạnh hoặc thua lỗ, một số siêu thị phải đóng cửa hoặc cắt giảm số lượng điểm bán hàng
Theo các doanh nghiệp, mỗi siêu thị điện máy phải có doanh số bán hàng từ 20 đến 30 tỷ đồng/tháng (khoảng 700 triệu đến 1 tỷ đồng/ngày) mới có thể tồn tại Tuy nhiên, năm 2012, doanh thu các siêu thị điện máy tại Hà Nội chỉ ở mức 100 triệu đồng/ngày Theo thống kê của các doanh nghiệp, tại các thành phố với sức tiêu thụ lớn như Hà Nội, có những siêu thị (tại khu vực phía Tây) mỗi ngày chỉ đạt
200 triệu đồng doanh số bán hàng Những siêu thị này chỉ có thể tồn tại trong vòng 6 tháng và sau đó đã phải thu hẹp quy mô
Dưới sự ảnh hưởng của nền kinh tế và sự khốc liệt của cạnh tranh, sự phân hóa giữa các nhà bán lẻ đang ngày càng rõ ràng Khủng hoảng và suy giảm có thể khiến các doanh nghiệp yếu hơn gặp khó khăn và có thể phải rút lui khỏi thị trường nhưng cũng là cơ hội để các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh và kinh nghiệm quản lý tốt
có thêm cơ hội tái cấu trúc và chiếm lĩnh thị trường Trong khi một số
hệ thống siêu thị điện máy như Nguyễn Kim, FPT, PICO thực hiện chiến lược mở rộng thêm siêu thị thì một số thương hiệu như Việt Long đang dần thu hẹp quy mô
Trong các mặt hàng điện máy, nhóm sản phẩm điện thoại thường đem lại doanh số bán hàng lớn cho các doanh nghiệp Theo
1 Trần Thủy, “Siêu thị điện máy giảm giá rồi bán cả doanh nghiệp”, Vietnamnet ( http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/110704/sieu-thi-dien-may-giam-gia-roi-ban-ca- dn.html )
Trang 18báo cáo mới nhất của GFK Việt Nam, nhóm sản phẩm điện thoại thông thường là nhóm có mức doanh thu lớn nhất trong ngành hàng công nghệ điện tử ở Việt Nam Chỉ trong quý I năm 2013, doanh số của sản phẩm điện thoại đã đạt mức 30.000 tỉ đồng, dẫn đầu trong các nhóm sản phẩm hàng điện máy
Tiếp sau điện thoại di động là nhóm hàng điện tử Trong quý I/2013, nhóm sản phẩm điện tử đạt doanh thu 5.300 tỉ đồng và tăng trưởng ở mức 11,5%
Bảng 1: Doanh thu nhóm hàng điện tử năm 2013
Q2/2012 VND bn
Q3/2012 VND bn
Q4/2012 VND bn
Q1/2013 VND bn
Q1/2012 Q1/2013 +/-%
GIK TEMAX Việt Nam 21,166 22,669 25,089 27,790 17,2%
Nguồn: Báo cáo khảo sát của Công ty nghiên cứu thị trường GFK Việt Nam
Theo GFK, thị trường máy tính bảng trong 3 tháng qua đã đạt mức tăng trưởng ấn tượng Mặc dù 2 sản phẩm màn hình và máy tính
để bàn giảm khá nhiều, nhưng máy tính bảng vẫn đạt doanh số 912 tỉ
và tăng trưởng khá ấn tượng trong quí ở mức 73,3% so với cùng kì
Trang 19năm 2012 Chính con số này đã góp phần cho thị trường công nghệ thông tin tăng trưởng 2,8% trong quí I năm 2013
Với tổng doanh thu 856 tỉ VND trong quí I năm 2013, nhóm sản phẩm điện gia dụng đạt mức tăng 25,9% so với cùng kì năm 2012 Trong đó, các sản phẩm máy xay sinh tố, và đặc biệt là nồi cơm điện
có mức tăng trưởng khá tốt
Nhóm sản phẩm có doanh số thấp nhất trong các sản phẩm điện máy là thiết bị in ấn và văn phòng Doanh thu trong quý I năm 2013 của nhóm sản phẩm này là 376 tỉ và mức tăng trưởng là 6,7% so với cùng kỳ năm 2012, trong đó máy in đa chức năng tăng trưởng nhẹ so
với máy in đơn chức năng
Biểu đồ 1: Doanh thu theo nhóm sản phẩm quý I/2013
Nguồn: Báo cáo khảo sát của Công ty Nghiên cứu Thị trường GFK Việt Nam
2 Số lượng các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường
Thị trường bán lẻ điện máy tại Việt Nam hiện có 35 doanh nghiệp tham gia,2 trong đó chiếm thị phần lớn là các siêu thị điện máy Các siêu thị điện máy thường được chia thành 02 nhóm dựa trên
Trang 20doanh số bán thực tế và cam kết tiêu thụ sản phẩm đối với nhà sản xuất hoặc nhà phân phối
Nhóm thứ nhất là nhóm các siêu thị điện máy lớn như Media Mart, Pico, Nguyễn Kim, Trần Anh, TopCare và Thế giới di động Đây là các siêu thị điện máy có doanh số bán hàng cam kết và thực tế đối với các nhà sản xuất hoặc phân phối là lớn Các siêu thị này tập trung tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
Nhóm thứ hai là nhóm các siêu thị điện máy có sức tiêu thụ nhỏ hơn và các siêu thị có bán ngành hàng điện máy và cơ sở bán lẻ điện máy nhỏ truyền thống khác Các nhà bán lẻ điện máy này thường có ít điểm bán hàng hơn và đa phần là nằm tại các tỉnh, thành phố khác ngoài Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
3 Thị phần và mức độ tập trung trên thị trường
Điều 3 Luật Cạnh tranh quy định, “thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hoá, dịch vụ nhất định là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm” Như đã phân tích ở trên, bán
lẻ điện máy trong báo cáo này là một phần của thị trường bán lẻ nhưng hàng hóa chỉ giới hạn trong nhóm sản phẩm điện gia dụng, điện
tử, điện lạnh, thiết bị văn phòng, sản phẩm thông tin liên lạc, máy ảnh
và máy tính Do vậy, thị trường liên quan ở đây là thị trường dịch vụ bán lẻ các sản phẩm điện máy nói trên Ngoài ra, do việc xác định doanh số bán lẻ của các cơ sở bán lẻ điện máy truyền thống quy mô nhỏ là tương đối phức tạp và không khả thi nên báo cáo không thể đánh giá và phân tích thị phần của các đối tượng này
Những số liệu dưới đây cho thấy phần nào quy mô của một số
doanh nghiệp lớn nhất trong ngành
Trang 21Biểu đồ 2: Doanh thu thị trường bán lẻ điện máy năm 2011
Trang 22Biểu đồ 4: Thị phần thị trường điện máy năm 2011
Trang 23Biểu đồ cho thấy thị phần của các doanh nghiệp bán lẻ điện máy trên thị trường Việt Nam không cao nhưng tập trung vào các doanh nghiệp lớn, có nguồn lực đầu tư mạnh và có kinh nghiệm lâu năm trên thị trường Thị phần cao nhất trên thị trường thuộc về Trung tâm Điện máy Nguyễn Kim Tại thị trường nội địa nói chung và thị trường miền Nam nói riêng, với vị trí nằm trong TOP 500 nhà bán lẻ hàng đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương và nhà bán lẻ số 2 trong Top 10 Việt Nam, Nguyễn Kim đã giữ ngôi đầu trong lĩnh vực bán lẻ điện máy Tuy nhiên, thị phần của Nguyễn Kim thấp hơn rất nhiều so với ngưỡng 30% của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004 Do đó, ngay cả doanh nghiệp có thị phần cao nhất trên thị trường cũng không đủ khả năng đơn phương thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh
Trên thực tế, mức thị phần này có thể có sự thay đổi đáng kể khi các doanh nghiệp trên thị trường có những hoạt động tái cấu trúc và tăng cường năng lực cạnh tranh Giữa năm 2013, thị trường có thêm doanh nghiệp nước ngoài gia nhập là Nojima của Nhật Bản Nojima
đã chính thức đầu tư hơn 64 tỉ đồng để sở hữu 10% số cổ phần của Công ty Cổ phần Thế giới số Trần Anh Với kinh nghiệm quản lý của một nhà bán lẻ điện máy nổi tiếng trên thế giới và tiềm lực tài chính hùng mạnh, Trần Anh đã sở hữu chuỗi siêu thị điện máy có quy mô lớn ở khu vực miền Bắc Điều này có thể khiến cuộc chiến giành thị phần trên thị trường điện máy trong thời gian tới trở nên khốc liệt hơn
Bên cạnh việc cung cấp thông tin về sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp, biểu đồ trên còn cho thấy ngoài thị phần của các doanh nghiệp dẫn đầu, phần còn lại của thị trường siêu thị bán lẻ điện máy là còn rất lớn Do đó, sức hấp dẫn của thị trường là rất đáng kể, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh và có kinh nghiệm trong hoạt động bán lẻ Hơn nữa, phần thị trường còn lại này sẽ là một động lực để các doanh nghiệp dẫn đầu gia tăng cạnh tranh nhằm chiếm lĩnh thị trường
Trang 24Bảng 2: Số liệu thị phần và chỉ số mức độ tập trung của 05 doanh
nghiệp đứng đầu trên thị trường bán lẻ điện máy
Nguồn: Cục QLCT tổng hợp và tính toán
Hoạt động cạnh tranh với mục tiêu gia tăng thị phần của các doanh nghiệp bán lẻ ảnh hưởng rất lớn mức độ tập trung của thị trường Mức độ tập trung của 3 doanh nghiệp đứng đầu thị trường là 11,17% (2011), 11,61% (2012) Bên cạnh đó, chỉ số HHI là 967,52 (2011) và 988,74 (2012), đều nhỏ hơn mức 1000 Theo quy định về ngưỡng thị phần đối với doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường theo quy định của Điều 11 Luật Cạnh tranh thì mức độ tập trung của thị trường điện máy là không cao Như vậy có thể thấy các doanh nghiệp trên thị trường điện máy có sự cạnh tranh khá bình đẳng do sức mạnh thị trường không tập trung vào bất kì một doanh nghiệp nào
Xét về dung lượng thị trường điện máy, thành phố Hồ Chí Minh đang chiếm tỷ trọng khoảng 34%, Hà Nội 20% và phần còn lại thuộc
về các tỉnh và thành phố khác Trong con số 34% này, Nguyễn Kim đang phải chia sẻ với hàng chục nhà bán lẻ tên tuổi khác như: Điện máy Chợ Lớn, Thiên Hoà, Dienmay.com, Phan Khang,… nên cũng không dễ dàng để Nguyễn Kim chiếm được con số thị phần thống lĩnh tại Thành phố Hồ Chí Minh
TT Tên công ty
Thị phần %
CR3 % CR5 % HHI % Thị
phần % CR3 % CR5 % HHI %
Trang 25Biểu đồ 6: Chỉ số tập trung CR3, CR5 trên thị trường
Trang 264 Mối quan hệ của các doanh nghiệp trên thị trường bán lẻ điện máy
Bán lẻ điện máy là hoạt động đưa sản phẩm điện máy tới người tiêu dùng cuối cùng Có hai kênh chính để cung cấp sản phẩm điện máy đến các nhà bán lẻ là nhà sản xuất và nhà phân phối Với những nhà sản xuất có nhà máy tại Việt Nam như LG Electronic hoặc Samsung Electronic, các nhà bán lẻ có khả năng nhập trực tiếp sản phẩm từ các nhà sản xuất này Đối với những sản phẩm được sản xuất
ở nước ngoài, các nhà bán lẻ thường không nhập khẩu trực tiếp mà mua sản phẩm thông qua các nhà phân phối
Quan hệ giữa nhà bán lẻ và nhà sản xuất hoặc phân phối là quan
hệ mua bán hàng hóa Quan hệ này trên thực tế tương đối phức tạp do
có sự ràng buộc giữa các bên về hỗ trợ sau bán hàng Hàng hóa sau khi được chuyển giao cho nhà bán lẻ sẽ thuộc quyền sở hữu của nhà bán lẻ trên cơ sở hợp đồng mua bán hàng hóa Tuy nhiên sau khi bán hàng, nhà sản xuất bị ràng buộc bởi quy định về bảo hành giá Theo quy định này, nếu giá sản phẩm bị giảm thì nhà sản xuất phải hỗ trợ
bù vào phần giảm giá đó cho nhà bán lẻ Chính điều này đã khiến nhà sản xuất có trách nhiệm phát hiện và ngăn chặn các hành vi giảm giá
để cạnh tranh của các nhà bán lẻ trên thị trường
Ngoài trách nhiệm bảo hành giá, nhà sản xuất và nhà phân phối còn có các chính sách hỗ trợ, các chương trình khuyến mại và thưởng doanh số cho nhà bán lẻ Mức độ hỗ trợ này phụ thuộc vào hai điều kiện là doanh số bán hàng thực tế năm trước và cam kết doanh số bán hàng cho năm tiếp theo của nhà bán lẻ đối với nhà sản xuất hoặc phân phối Do đó, các nhà bán lẻ thuộc nhóm siêu thị điện máy lớn thường
có lợi thế hơn so với các nhà bán lẻ thuộc nhóm có sức tiêu thụ nhỏ trong đàm phán về giá và các điều kiện hỗ trợ với các nhà sản xuất hoặc nhà phân phối Chính các lợi thế này lại trở thành yếu tố để gia tăng khoảng cách giữa hai nhóm nhà bán lẻ
II CÁC RÀO CẢN GIA NHẬP THỊ TRƯỜNG
1 Các rào cản kỹ thuật và mặt bằng
Đặc điểm của hàng điện máy là có công nghệ cao, việc lắp đặt,
sử dụng và bảo hành là tương đối phức tạp Do đó, các nhà bán lẻ cần
Trang 27phải có đội ngũ nhân viên am hiểu về kỹ thuật máy móc để tư vấn cho khách hàng khi mua sản phẩm Hơn nữa, sau khi khách hàng đã mua sản phẩm, các nhà bán lẻ còn có trách nhiệm vận chuyển và lắp đặt tại nơi khách hàng yêu cầu Như vậy, các nhà bán lẻ muốn gia nhập thị trường cần phải vượt qua một rào cản tương đối lớn đó là phải có một đội ngũ nhân viên am hiểu kỹ thuật và phải có khả năng chi trả cho việc lắp đặt, vận hành thử và bảo hành sản phẩm Bên cạnh đó, yếu tố kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh điện máy, đặc biệt là kinh nghiệm và sự sẵn sàng của đội ngũ kỹ thuật là một đòi hỏi mà các nhà sản xuất và nhà phân phối đặt ra đối với các đối tác muốn trở thành nhà bán lẻ sản phẩm điện máy của họ
Ngoài các yêu cầu về đội ngũ kỹ thuật, khả năng tiếp cận mặt bằng cũng là một rào cản lớn đối với ngành bán lẻ điện máy Bán lẻ điện máy là hoạt động trực tiếp đưa sản phẩm điện máy đến người tiêu dùng cuối cùng Vì vậy, các nhà bán lẻ cần phải có mặt bằng đủ rộng
để trưng bày sản phẩm cho người tiêu dùng lựa chọn Các điểm bán hàng phải gần khu dân cư để thuận tiện cho việc đi lại mua sắm của người tiêu dùng Do đó, trên thực tế các nhà bán lẻ điện máy phải có mặt bằng lớn tại những khu trung tâm hoặc nhiều điểm bán hàng tại nhiều khu dân cư Việc tìm được các điểm bán hàng phù hợp và chi phí cho việc tiếp cận mặt bằng này là rất cao và là rào cản lớn đối với việc gia nhập thị trường của các nhà bán lẻ
2 Các rào cản về tài chính
Như phân tích ở trên, quan hệ giữa nhà bán lẻ và nhà phân phối là quan hệ mua bán hàng hóa, các nhà bán lẻ thường có những cam kết về doanh số đối với nhà sản xuất hoặc phân phối Do đó, các nhà bán lẻ thường phải có khả năng thanh toán cho các đơn hàng
mà họ nhập về Đối với mặt hàng điện máy, giá trị của nhiều lô hàng là rất lớn Vì vậy, khả năng tài chính là yêu cầu tiên quyết mà nhà sản xuất hoặc nhà phân phối thường đặt ra với các đối tác để trở thành nhà bán lẻ sản phẩm điện máy
3 Các rào cản từ chính sách đối với hoạt động kinh doanh
3.1 Các cam kết của Việt Nam về bán lẻ điện máy
Cùng với thị trường bán lẻ nói chung, thị trường bán lẻ điện máy của Việt Nam đã được mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài theo
Trang 28cam kết gia nhập WTO Điểm 4C Mục II Biểu cam kết cụ thể về dịch
vụ, Phụ lục của Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam (trang
838, quy định):
Trong vòng ba năm kể từ ngày gia nhập, công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối sẽ được phép cung cấp dịch vụ đại lý hoa hồng, bán buôn và bán lẻ tất cả các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam và nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam Cam kết của Việt Nam cũng chỉ rõ rằng, việc thành lập các cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở thứ nhất sẽ được xem xét trên cơ sở kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT) Theo quy định tại Điều 7 Thông tư số 08/2013/TT-BCT ngày 22 tháng 4 năm 2013 quy định chi tiết về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, việc lập cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất được xem xét từng trường hợp cụ thể căn
cứ vào việc kiểm tra nhu cầu kinh tế của địa bàn nơi đặt cơ sở bán lẻ theo các tiêu chí: số lượng các cơ sở bán lẻ, sự ổn định của thị trường, mật độ dân cư và quy mô của địa bàn cấp quận, huyện nơi dự kiến đặt
cơ sở bán lẻ
Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện tại không có hạn chế về tỉ lệ vốn góp hay loại hình doanh nghiệp đối với nhà đầu tư nước ngoài liên quan đến hoạt động bán lẻ điện máy Bên cạnh đó, điện máy là mặt hàng không thuộc danh mục hàng hóa bị hạn chế kinh doanh hay loại trừ Tuy nhiên, quy định về kiểm tra nhu cầu kinh tế ENT là một rào cản rất lớn đối với các doanh nghiệp Do đó, rào cản pháp lý đối với các doanh nghiệp bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài là cao hơn so với các doanh nghiệp Việt Nam
3.2 Quy định về đăng ký kinh doanh và các quy hoạch đối với hoạt động bán lẻ điện máy
Việc đăng ký kinh doanh bán lẻ điện máy phải tuân thủ các yêu cầu của pháp luật hiện hành về đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp bán lẻ
Đối với việc đăng ký kinh doanh hoạt động bán lẻ điện máy, pháp luật không yêu cầu mức vốn tối thiểu đối với các doanh nghiệp
Trang 29muốn tham gia thị trường này và cũng không có quy định nào liên quan đến giấy phép kinh doanh hoặc giấy phép con đối với việc bán lẻ các sản phẩm điện máy Do đó, rào cản pháp lý đối với việc gia nhập thị trường bán lẻ điện máy là không cao
Tuy nhiên, việc bán lẻ phải phù hợp với quy hoạch phát triển mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mại của quốc gia và của từng địa phương nơi doanh nghiệp mở các điểm bán lẻ Ngày 19 tháng 10 năm
2012, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 6184/QĐ-BCT phê duyệt quy hoạch phát triển mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mại
cả nước đến 2020 và tầm nhìn đến 2030 Ví dụ đối với Hà Nội, quy hoạch này giới hạn tổng số siêu thị đến năm 2020 là 200, trong đó số siêu thị hạng I tăng từ 6 lên 10, siêu thị hạng II tăng từ 26 đến 29 và siêu thị hạng III tăng từ 35 lên 40
Bên cạnh quy hoạch của cả nước, các địa phương cũng ban hành các quy hoạch về mạng lưới bán lẻ trên địa bàn của mình Ví dụ tại Hà Nội, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 5058/QĐ-UBND ngày 05 tháng 11 năm 2012 về việc phê duyệt quy hoạch mạng lưới bán buôn, bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Quy hoạch này cụ thể hóa việc phân bổ mạng lưới các cơ sở bán buôn, bán lẻ trên các khu vực hành chính của thành phố để đảm bảo hiệu quả của hoạt động kinh doanh
và nâng cao hiệu quả của công tác quản lý
3.3 Quy định về phân loại siêu thị, trung tâm thương mại:
Hoạt động bán lẻ điện máy được thực hiện dưới nhiều hình thức, trong đó siêu thị điện máy và trung tâm thương mại là các cơ sở chiếm thị phần rất lớn Pháp luật hiện hành phân hạng các siêu thị và trung tâm thương mại, việc xây dựng, quản lý các loại siêu thị và trung tâm thương mại này phải tuân thủ quy định của pháp luật Quyết định số 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24 tháng 9 năm 2004 của Bộ Thương mại ban hành Quy chế siêu thị, trung tâm thương mại phân loại các siêu thị
và trung tâm thương mại như sau:
Cơ sở kinh doanh thương mại được gọi là siêu thị nếu có địa điểm kinh doanh phù hợp với Quy hoạch phát triển mạng lưới thương
Trang 30mại của tỉnh, thành phố và có quy mô, trình độ tổ chức kinh doanh đáp ứng các tiêu chuẩn cơ bản của một trong ba hạng siêu thị theo quy định dưới đây:
Siêu thị hạng I:
- Áp dụng đối với siêu thị kinh doanh tổng hợp:
+ Có diện tích kinh doanh từ 5.000m2 trở lên;
+ Có danh mục hàng hóa kinh doanh từ 20.000 tên hàng trở lên; + Đảm bảo yêu cầu về thẩm mỹ, hiện đại, đảm bảo các yêu cầu phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an toàn; có bố trí nơi trông giữ xe và khu vệ sinh cho khách hàng phù hợp với quy mô kinh doanh của siêu thị
+ Có hệ thống kho và các thiết bị kỹ thuật bảo quản, sơ chế, đóng gói, bán hàng, thanh toán và quản lý kinh doanh tiên tiến, hiện đại;
- Áp dụng đối với siêu thị chuyên doanh:
+ Có diện tích kinh doanh từ 1.000m2 trở lên;
+ Có danh mục hàng hóa kinh doanh từ 2.000 tên hàng trở lên;
+ Các tiêu chuẩn khác như siêu thị kinh doanh tổng hợp
Siêu thị hạng II:
- Áp dụng đối với siêu thị kinh doanh tổng hợp:
+ Có diện tích kinh doanh từ 2.000m2 trở lên;
+ Có danh mục hàng hóa kinh doanh từ 10.000 tên hàng trở lên; + Đảm bảo yêu cầu về thẩm mỹ, hiện đại, đảm bảo các yêu cầu phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an toàn; có bố trí nơi trông giữ xe và khu vệ sinh cho khách hàng phù hợp với quy mô kinh doanh của siêu thị
+ Có hệ thống kho và các thiết bị kỹ thuật bảo quản, sơ chế, đóng gói, bán hàng, thanh toán và quản lý kinh doanh tiên tiến, hiện đại;
Trang 31- Áp dụng đối với Siêu thị chuyên doanh:
+ Có diện tích kinh doanh từ 5.000m2 trở lên;
+ Có danh mục hàng hóa kinh doanh từ 1.000 tên hàng trở lên;
+ Các tiêu chuẩn khác như siêu thị kinh doanh tổng hợp
Siêu thị hạng III:
- Áp dụng đối với siêu thị kinh doanh tổng hợp:
+ Có diện tích kinh doanh từ 500m2 trở lên;
+ Danh mục hàng hóa kinh doanh từ 4.000 tên hàng trở lên; + Đảm bảo yêu cầu về thẩm mỹ, hiện đại, đảm bảo các yêu cầu phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an toàn; có bố trí nơi trông giữ xe và khu vệ sinh cho khách hàng phù hợp với quy mô kinh doanh của siêu thị
+ Có hệ thống kho và các thiết bị kỹ thuật bảo quản, sơ chế, đóng gói, bán hàng, thanh toán và quản lý kinh doanh tiên tiến, hiện đại;
- Áp dụng đối với siêu thị chuyên doanh:
+ Có diện tích kinh doanh từ 250m2 trở lên;
+ Danh mục hàng hóa kinh doanh từ 500 tên hàng trở lên;
+ Các tiêu chuẩn khác như siêu thị kinh doanh tổng hợp
Cơ sở kinh doanh thương mại được gọi là trung tâm thương mại
nếu có địa điểm kinh doanh phù hợp với Quy hoạch phát triển mạng
lưới thương mại của tỉnh, thành phố và có quy mô, trình độ tổ chức kinh doanh đáp ứng các tiêu chuẩn cơ bản của một trong ba hạng trung tâm thương mại theo quy định dưới đây:
Trung tâm thương mại hạng I:
- Có diện tích kinh doanh từ 50.000m2 trở lên và có nơi trông
giữ xe phù hợp với quy mô kinh doanh của trung tâm thương mại
Trang 32- Các công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có tính thẩm mỹ cao, có thiết kế và trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại đảm bảo các yêu cầu phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh, an toàn, thuận tiện cho mọi đối tượng tham gia hoạt động kinh doanh trong khu vực
- Hoạt động đa chức năng cả về kinh doanh hàng hóa và kinh doanh các loại hình dịch vụ, bao gồm: khu vực để bố trí các cửa hàng bán buôn, bán lẻ hàng hóa; nhà hàng, khách sạn; khu vực để tổ chức hội chợ triển lãm trưng bày giới thiệu hàng hóa; khu vực dành cho hoạt động vui chơi giải trí, cho thuê văn phòng làm việc, hội trường, phòng họp để tổ chức các hội nghị, hội thảo, giao dịch và ký kết các hợp đồng thương mại trong, ngoài nước; khu vực dành cho các hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, tin học, tư vấn, môi giới đầu tư, du lịch
Trung tâm thương mại hạng II:
- Có diện tích kinh doanh từ 30.000m2 trở lên và có nơi trông giữ xe phù hợp với quy mô kinh doanh của trung tâm thương mại
- Các công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có tính thẩm mỹ, có thiết kế và trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại đảm bảo các yêu cầu phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh,
an toàn, thuận tiện cho mọi đối tượng tham gia hoạt động kinh doanh trong khu vực
- Hoạt động đa chức năng cả về kinh doanh hàng hóa và kinh doanh các loại hình dịch vụ, bao gồm: khu vực để bố trí các cửa hàng bán buôn, bán lẻ hàng hóa; nhà hàng, khách sạn; khu vực để trưng bày giới thiệu hàng hóa; khu vực dành cho hoạt động vui chơi giải trí, cho thuê văn phòng làm việc, hội trường, phòng họp để tổ chức các hội nghị, hội thảo, giao dịch và ký kết các hợp đồng thương mại trong, ngoài nước; khu vực dành cho các hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, tư vấn, môi giới đầu tư, du lịch
Trung tâm thương mại hạng III:
- Có diện tích kinh doanh từ 10.000m2 trở lên và có nơi trông giữ xe phù hợp với quy mô kinh doanh của trung tâm thương mại
Trang 33- Các công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có thiết kế
và trang thiết bị kỹ thuật hiện đại đảm bảo các yêu cầu phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh, an toàn, thuận tiện cho mọi đối tượng tham gia hoạt động kinh doanh trong khu vực
- Hoạt động đa chức năng cả về kinh doanh hàng hóa và kinh doanh các loại hình dịch vụ, bao gồm: khu vực để bố trí các cửa hàng bán buôn, bán lẻ hàng hóa; khu vực để trưng bày giới thiệu hàng hoá; khu vực dành cho hoạt động ăn uống, vui chơi giải trí, cho thuê văn phòng làm việc, phòng họp để tổ chức các hội nghị, hội thảo, giao dịch và ký kết các hợp đồng thương mại trong, ngoài nước; khu vực dành cho hoạt động tư vấn, môi giới đầu tư, du lịch
Như vậy, pháp luật hiện hành có quy định khá chặt chẽ đối với các cơ sở bán lẻ muốn được sử dụng cụm từ “siêu thị” Để được gọi là siêu thị điện máy, các cơ sở bán lẻ phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định về mặt bằng, danh mục hàng hóa và các điều kiện về kỹ thuật khác Các điều kiện này là rào cản tương đối lớn và là yếu tố để phân hóa giữa nhóm các nhà bán lẻ có quy mô lớn với các nhà bán lẻ điện máy theo phương thức cửa hàng truyền thống
III THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CẠNH TRANH TRÊN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ ĐIỆN MÁY
1 Cạnh tranh theo chiều ngang
Thị trường bán lẻ điện máy của Việt Nam hiện nay có mức độ cạnh tranh tương đối cao Các nhà bán lẻ thường xây dựng các chiến lược kinh doanh riêng cho mình và không có sự thỏa thuận hoặc thống nhất hành động nào Trên thực tế, các nhà bán lẻ cạnh tranh với nhau
để thu hút người tiêu dùng nhằm tăng doanh số bán hàng Khi doanh
số bán hàng tăng thì nhà bán lẻ không những sẽ được hưởng các chế
độ thưởng doanh số, chương trình hỗ trợ tốt hơn mà họ sẽ có sức mạnh trong đàm phán với nhà sản xuất và nhà phân phối Do vậy, áp lực giành được vị trí trong nhóm các nhà bán lẻ lớn và áp lực duy trì
vị trí này khiến các nhà bán lẻ thường rất khó có thể thương lượng với nhau để hình thành các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Trang 34Về hành vi liên quan đến giá, do các nhà bán lẻ được nhà sản xuất bảo hành giá và mục tiêu của họ là tối đa hóa doanh số bán hàng nên các nhà bán lẻ điện máy không có động cơ để thỏa thuận ấn định giá Hành vi bán dưới giá thành toàn bộ để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh khác cũng không tồn tại vì nếu có một nhà bán lẻ nào thực hiện hành vi này thì nghĩa vụ ngăn chặn hành vi đó thuộc về nhà sản xuất hoặc phân phối Nếu hành vi này không được ngăn chặn thì các nhà bán lẻ khác có quyền bán với mức giá thấp mà nhà bán lẻ kia đã xác lập và nhà sản xuất hoặc phân phối phải chịu bù khoản chênh lệch giữa giá bán trước và sau khi hạ giá
Mặt khác, việc giá các dòng sản phẩm được các nhà sản xuất kiểm soát ở mức độ cạnh tranh cao cũng là một nhân tố thúc đẩy các nhà bán lẻ tìm các giải pháp khác để cạnh tranh nhằm tăng doanh số của mình Trong các giải pháp để tăng tính cạnh tranh, các nhà bán lẻ lớn như các siêu thị điện máy đều có chế độ hậu mãi và bảo hành cơ động Hơn nữa, nhiều nhà bán lẻ còn áp dụng cơ chế tăng thời hạn đổi hàng thay vì bảo hành ở dạng sửa chữa trong vòng 1 năm Điều này đem lại lợi ích rất lớn cho người tiêu dùng và khiến cho việc cạnh tranh trên thị trường bán lẻ điện máy càng trở nên khốc liệt hơn Tuy nhiên, không phải nhà bán lẻ nào cũng có khả năng theo đuổi những chương trình khuyến mại này Do đó, sự cạnh tranh giữa các nhà bán
lẻ về chất lượng dịch vụ sau bán hàng sẽ là nhân tố khiến việc phân hóa giữa các nhóm nhà bán lẻ điện máy càng sâu sắc hơn
2 Cạnh tranh theo chiều dọc
Xuất phát từ bản chất của quan hệ giữa nhà bán lẻ và nhà sản xuất hoặc phân phối là quan hệ mua bán hàng hóa có sự ràng buộc nghĩa vụ bảo hành giá, trên thị trường có sự thỏa thuận ấn định mức giá theo chiều dọc Nhà sản xuất khi bán sản phẩm thường phải cam kết với tất cả các nhà bán lẻ về việc bảo đảm nếu giá thị trường giảm
so với mức giá mà nhà bán lẻ dự kiến bán hoặc thậm chí giảm so với giá mà nhà bán lẻ nhập vào thì nhà sản xuất sẽ phải giảm hỗ trợ nhà bán lẻ đối với phần giá bị sụt giảm đó Do vậy, đối với một mặt hàng nhất định của một nhà sản xuất, các nhà bán lẻ thường phải bán một mức giá hoặc có thể khuyến mại nhưng giá trị khuyến mại không được quá 2,5% giá trị của mặt hàng đó
Trang 35Trên thực tế, để giám sát việc tuân thủ các quy định trên, các nhà bán lẻ thường xuyên kiểm tra giá bán của nhau Bên cạnh đó, các nhà sản xuất cũng thường xuyên kiểm tra giá bán của các nhà bán lẻ
để phát hiện những hành vi giảm giá Như phần trên đã phân tích, trong trường hợp một nhà bán lẻ giảm giá dưới mức cho phép thì nhà sản xuất sẽ yêu cầu nhà bán lẻ đó chấm dứt hành vi hạ giá Nếu nhà sản xuất không thể yêu cầu nhà bán lẻ chấm dứt hành vi giảm giá thì các nhà bán lẻ khác sẽ thực hiện hành vi giảm giá tương tự và nhà sản xuất sẽ là người chịu thiệt hại Như vậy, mức giá của một mặt hàng điện máy cụ thể trên thực tế được kiểm soát bởi một hệ thống gồm nhà sản xuất hoặc nhà phân phối mặt hàng đó và tất cả các nhà bán lẻ Tuy nhiên, do các mặt hàng và các thương hiệu của một ngành hàng điện máy cạnh tranh với nhau tương đối mạnh mẽ nên các nhà sản xuất và bán lẻ dù kiểm soát mức giá của mình nhưng không thể đặt giá sản phẩm ở mức bóc lột
Bên cạnh việc không có dấu hiệu của hành vi bóc lột giá, thị trường cũng không có dấu hiệu của hành vi loại bỏ đối thủ cạnh tranh dựa trên quan hệ theo chiều dọc Trên thực tế, nhà sản xuất và nhà phân phối luôn muốn tối đa hóa doanh số nên họ muốn thị trường bán
lẻ càng cạnh tranh càng tốt Hơn nữa, các nhà sản xuất và phân phối đều có sức mạnh thị trường Do vậy, một nhà sản xuất hoặc phân phối không có lợi gì khi thỏa thuận với một hoặc một số nhà bán lẻ để loại
bỏ một hoặc một số nhà bán lẻ khác trên thị trường và ngược lại, các nhà bán lẻ cũng không có lợi ích gì khi thỏa thuận với một hoặc một
số nhà sản xuất để loại bỏ nhà sản xuất khác trên thị trường
IV ĐÁNH GIÁ VÀ KHUYẾN NGHỊ
1 Đánh giá môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực bán lẻ điện máy
1.1 Môi trường cạnh tranh trong thị trường nói chung
Nhìn chung, thị trường bán lẻ điện máy có mức độ cạnh tranh tương đối cao Rào cản gia nhập và rút lui khỏi thị trường không cao
Trang 36nên có nhiều doanh nghiệp tham gia hoạt động trên thị trường Tuy nhiên, các doanh nghiệp được phân thành các nhóm khác nhau trong
đó đáng kể là nhóm các nhà bán lẻ điện máy có thị phần lớn Mức độ cạnh tranh cao của thị trường chính là một nhân tố làm tăng sự phân hóa giữa các nhóm nhà bán lẻ điện máy Thị trường cũng đã xuất hiện hiện tượng một số nhà bán lẻ thuộc nhóm các siêu thị điện máy nhỏ buộc phải thu hẹp quy mô và giảm số điểm bán lẻ của mình
Với cấu trúc thị trường và thực tế hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trên thị trường bán lẻ điện máy hiện nay, nguy cơ người tiêu dùng là đối tượng bóc lột của doanh nghiệp có sức mạnh thị trường hoặc nguy cơ một hoặc một số doanh nghiệp bị loại khỏi thị trường do các hành vi phản cạnh tranh là rất thấp
1.2 Cơ chế kiểm soát giá
Như trên đã phân tích, các nhà bán lẻ khi ký hợp đồng mua bán hàng hóa với các nhà sản xuất hoặc phân phối thường ràng buộc điều khoản bảo hành giá và do đó, các bên trong hợp đồng duy trì một cơ chế đảm bảo mức giá tối thiểu của một mặt hàng của một nhà sản xuất nào đó Dưới góc độ cạnh tranh, cơ chế bảo hành giá dẫn đến việc ấn định giá bán lại tối thiểu trên hệ thống các nhà bán lẻ có dấu hiệu của hành vi hạn chế cạnh tranh Tuy nhiên, cơ chế này có những tác động tích cực nhất định lên thị trường
Thứ nhất, việc kiểm soát giá bán lại tối thiểu của nhà sản xuất bảo đảm an toàn cho nhà bán lẻ, tăng cường vai trò của nhà sản xuất trong việc hỗ trợ nhà bán lẻ giải phóng hàng hóa tồn kho Khi hàng hóa tồn kho được giải phóng sớm thì chi phí của doanh nghiệp sẽ giảm và thúc đẩy sự ra đời của các dòng sản phẩm mới hơn Như vậy,
về lâu dài nó sẽ đem lại cho người tiêu dùng những sản phẩm rẻ hơn
và chất lượng tốt hơn
Thứ hai, cơ chế này đảm bảo mặt bằng giá không bị quá thấp và
do đó hấp dẫn sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp bán lẻ mới, từ đó thúc đẩy cạnh tranh đem lại lợi ích lâu dài cho người tiêu dùng Hơn nữa, việc các nhà sản xuất kiểm soát giá sản phẩm của mình tại các cơ sở bán lẻ sẽ giúp họ tránh thiệt hại do phải bù giá cho
Trang 37nhà bán lẻ khác và khoản tiền không bị mất đi này sẽ được sử dụng vào các chương trình giảm giá và các chương trình khuyến mại cho người tiêu dùng cho toàn bộ thương hiệu của họ, từ đó tạo sự cạnh tranh giữa các thương hiệu với nhau
Trên thế giới, hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu đã từng bị coi
là hành vi nguy hại và bị cấm tuyệt đối.3 Tuy nhiên, sau đó quan điểm này đã thay đổi do khi đánh giá tác động của hành vi này đối với hoạt động sản xuất kinh doanh các học giả nhận thấy hành vi này có những tác động tích cực đối với môi trường cạnh tranh Ấn định giá bán lại tối thiểu có dấu hiệu gây hạn chế cạnh tranh nhưng chỉ diễn ra trong nội bộ của một thương hiệu nào đó (intrabrand competition) và khi người tiêu dùng vẫn có quyền lựa chọn các sản phẩm thay thế khác thì việc hạn chế này không có mấy ý nghĩa tiêu cực Ngược lại, việc hạn chế giá bán lại tối thiểu của từng mặt hàng riêng rẽ này còn thúc đẩy
sự cạnh tranh về giá giữa các thương hiệu (interbrand competition) với nhau.4 Do vậy, hiện nay pháp luật cạnh tranh một số nước đặc biệt là Hoa Kỳ có xu hướng không coi hành vi ấn định và kiểm soát giá bán lại tối thiểu là nguy hại và không bị cấm tuyệt đối
1.3 Cơ chế kiểm soát các chương trình khuyến mại
Các chương trình khuyến mại của các nhà bán lẻ thực tế là sự phối hợp giữa nhà sản xuất và các nhà bán lẻ Chương trình này thường do các nhà bán lẻ đề xuất và được các nhà sản xuất hỗ trợ để tăng doanh số bán hàng và giải phóng hàng tồn kho Trên thực tế, giá trị khuyến mại trên mỗi sản phẩm không quá lớn so với giá trị của sản phẩm đó Nó chỉ nhằm tạo sự khác biệt nhất định cho sản phẩm đó so với đối thủ cạnh tranh trong một khoảng thời gian nhất định
3 Theo phán quyết của Tòa tối cao liên bang của Hoa Kỳ trong vụ án giữa Công ty dược Dr Miles và Công ty John D Park & Sons (Dr Miles Medical Co v John D Park & Sons Co., 220 U.S 373 (1911))
4 Theo phán quyết của Tòa tối cao liên bang của Hoa Kỳ trong vụ án giữa Công ty Leegin Creative và Công ty PSKS (Leegin Creative Leather Products, Inc v PSKS, Inc., 551 U.S 877 (2007))
Trang 38Thông thường các chương trình khuyến mại trên thị trường điện máy tuân thủ các quy định về xúc tiến thương mại Mặt khác, do năng lực của các nhà bán lẻ trong cùng một nhóm không khác biệt quá lớn
và các nhà sản xuất chỉ nhằm mục tiêu tăng doanh số bán hàng của mình nên không có hiện tượng khuyến mại nhằm hủy diệt đối thủ cạnh tranh Do vậy, có thể nói thị trường đủ khả năng để tự điều chỉnh
và kiểm soát sự hợp lý của các hoạt động khuyến mại của doanh nghiệp trên thị trường bán lẻ mà không cần sự can thiệp của cơ quan quản lý cạnh tranh
2 Khuyến nghị
2.1 Khuyến nghị về các quy định pháp lý
Theo quy định tại Điều 13 Luật Cạnh tranh 2004, hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu là một dạng hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc lạm dụng vị trí độc quyền (sau đây gọi chung là lạm dụng vị trí thống lĩnh) bị cấm Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh là doanh nghiệp có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc
có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể Ngoài ra, Điều
11 Luật Cạnh tranh còn quy định nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan;
b) Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan;
c) Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan
Như vậy, theo quy định của Luật Cạnh tranh thì thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp trên thị trường bán lẻ điện máy có khả năng
bị coi là vi phạm pháp luật Ví dụ, một số mặt hàng điện máy có tính chất khác biệt nhất định so với các sản phẩm khác chỉ được sản xuất hoặc phân phối bởi một số doanh nghiệp nhất định Như vậy, tổng thị
Trang 39phần của các doanh nghiệp này trên thị trường liên quan có thể rơi vào trường hợp doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Khi các doanh nghiệp này ký hợp đồng với các nhà bán lẻ với các điều khoản về bảo hành giá và áp dụng giá bán lẻ tối thiểu thì hành vi này có khả năng cao vi phạm pháp luật cạnh tranh
Tuy nhiên, như trên đã phân tích, cơ chế bảo hành giá và áp dụng giá bán lẻ tối thiểu không có hại mà ngược lại có những tác động tích cực nhất định đối với thị trường Do đó, Luật Cạnh tranh nên có những quy định hợp lý hơn đối với hành vi này theo hướng không quy định cứng nhắc hành vi bị cấm gắn với thị phần của doanh nghiệp mà nên quy định theo hướng cho phép đánh giá tính nguy hại của một hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh dựa trên tác động của nó đối với thị trường Hành vi bị cấm là những hành vi gây hại nhiều hơn những lợi ích mà chúng đem lại cho thị trường
2.2 Nhóm khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước
Để tăng cường tính cạnh tranh cho thị trường bán lẻ điện máy nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng như các doanh nghiệp,
cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường hoạt động giám sát các hành
vi của doanh nghiệp bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, phân phối và bán lẻ điện máy Cơ quan quản lý cạnh tranh cần tăng cường tiếp cận thông tin và trao đổi với các doanh nghiệp nói trên để kịp thời phát hiện các hành vi gây nguy hại cho thị trường, đặc biệt là các hành vi hạn chế cạnh tranh
Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cạnh tranh cần cập nhật cấu trúc thị trường bán lẻ điện máy để sớm phát hiện những thị trường liên quan có mức độ tập trung cao, dễ dẫn đến hành vi gây hạn chế cạnh tranh và ảnh hưởng tới quyền lợi người tiêu dùng
2.3 Nhóm khuyến nghị đối với doanh nghiệp
Xuất phát từ thực tiễn ranh giới giữa hành vi cạnh tranh và hành
vi vi phạm pháp luật cạnh tranh tương đối mong manh, để đảm bảo cho thị trường vận hành một cách lành mạnh và tránh các vi phạm
Trang 40pháp luật do thiếu kiến thức, các nhà bán lẻ và các nhà sản xuất, phân phối cần tăng cường hoạt động tập huấn pháp luật cạnh tranh cho các nhân viên của mình
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trên thị trường bán lẻ điện máy cần tăng cường trao đổi thông tin với cơ quan quản lý cạnh tranh để kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường, góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng