1.1. Mục tiêu của đề tài Bổ sung than và giấm gỗ vào khẩu phần ăn của lợn nhằm giảm tỉ lệ tiêu chảy, thúc đẩy quá trình sinh trưởng của lợn, giảm tiêu tốn thức ăn, giảm phát xạ khí NH3 và H2S trong chuồng nuôi.
Trang 1PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời gian qua, ngành chăn nuôi lợn ở nước ta đã phát triển mạnh
mẽ, góp phần đáng kể vào tổng thu nhập của ngành Nông nghiệp Theo cụcthống kê tại thời điểm 01/4/2010, cả nước có, tăng 3,06% so với cùng kìnăm 2009 dự báo, tổng sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng sản xuất trong 6tháng đầu năm 2010 khoảng 1,77 triệu tấn, tăng khoảng 3,5% so với cùng kìnăm 2009, đáp ứng cơ bản nhu cầu trong nước đang tăng và mỗi năm xuấtkhẩu được 15-20 nghìn tấn thịt lợn sang thị trường truyền thống và khuvực.Theo ước tính của Cục chăn nuôi, mỗi tháng cả nước sản xuất và tiêuthụ khoảng 290 – 300 ngàn tấn thịt lợn hơi (Nguyễn Thanh Sơn và PhạmVăn Duy, 2010) Tuy nhiên, chăn nuôi lợn cũng đang đứng trước những khókhăn thách thức về dịch bệnh, giá thức ăn tăng cao, tình trạng ô nhiễm dochất thải của ngành chăn nuôi, lượng kháng sinh và hormone tồn dư trongthịt,… các vấn đề nổi cộm lên hiện nay đối với ngành chăn nuôi đặc biệt làchăn nuôi lợn là những rào cản cho việc phát triển chăn nuôi lợn bền vững.Tiêu chảy là một hội chứng thường xảy ra trên lợn con và gây thiệt hạiđáng kể cho người chăn nuôi, tỷ lệ tử vong có khi lên tới 50,25%, mặt kháckhi vật bị bệnh thì hạn chế đến khả năng, tốc độ tăng trọng của lợn Khángsinh đã được sử dụng làm tác nhân trị liệu và kích thích tăng trưởng, điềunày đã dẫn đến những cải tiến hiệu quả trong chăn nuôi (Doyle, 2001) Tuynhiên, sự phát triển của vi khuẩn kháng kháng sinh (Ogawara, 1981;Russell, 1991) và vấn đề dư lượng kháng sinh trong sản phẩm động vật đãdẫn đến áp lực trong quản lý và nhận thức công chúng về sự cần thiết phảicấm sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi (Han, 2007)
Vì vậy cần thiết để thay thế cho thuốc kháng sinh để duy trì tốc độ tăngtrưởng (Bae et al, 1999.) Các axit hữu cơ, men vi sinh, prebiotics, và cácchất phytogenic đã được thử nghiệm như là lựa chọn thay thế có thể thay thếthuốc kháng sinh (Kamel, năm 2001; An et al, 2008) Việc bổ sung acid hữu
cơ như axit citric, fumaric, formic và prôpionic đến chế độ ăn của lợn là mộttrong những giải pháp thay thế sử dụng rộng rãi nhất cho thuốc kháng sinh(Kirchgessner và cộng sự, 1997; Partanen và Mroz , 1999)
Đã có nhiều nghiên cứu sử dụng thức ăn bổ sung vào mục đích cải thiệntăng trọng và phòng trị tiêu chảy ở lợn Lưu Thị Uyên (1999) sử dụng chế
Trang 2phẩm EM (Effective Microorganisms) trong phòng ngừa và điều trị hội
chứng tiêu chảy ở lợn, cho thấy số lượng vi khuẩn E coli trong 1g phân
giảm từ 31,1 đến 80,95.106 vi khuẩn Phan Ngọc Kính (2001) sử dụng chếphẩm EM trong chăn nuôi lợn thịt giúp cải thiện tăng trọng từ 20 – 34% sovới đối chứng, tỉ lệ thịt xẻ tăng 1,3%, tỉ lệ nạc tăng 4,5% Ảnh hưởng củaviệc thay thế trên đã làm giảm sự phát triển của vi khuẩn dạng coli(coliform) (Partanen, 2001), được biết là có liên quan đến rối loạn tiêu hóa.Kháng sinh không chỉ làm giảm coliform có hại mà nó còn ức chế các vikhuẩn có lợi Cromwell (1991) và Dibner et al (2007)
Than củi có cấu trúc mạng cacbon nên khả năng hút các nội và ngoại độc
tố do vi khuẩn, virus sinh ra Nhiều người chăn nuôi đã thường xuyên cungcấp than gỗ hoặc than trấu cho lợn nhằm mục đích giảm tiêu chảy và mùitrong chuồng nuôi Than được cho là hỗn hợp khoáng chất để ngăn chặnhiện tượng kết dính, để tăng vị ngon Việc sử dụng than trong chăn nuôiđộng vật đôi khi được đề nghị như là một biện pháp để điều trị bệnh tiêuchảy ở lợn và được sử dụng như một chất hấp phụ các khí và các sản phẩm
có hại trong đường tiêu hóa (Robert Totusek và W M Beeson,1953)
Gỗ giấm là sản phẩm thu được bằng cách chưng cất khói phát sinh từ gỗđốt và nó là một hỗn hợp phức tạp của nước 80-90%, và 10-20% các hợpchất hữu cơ Ngoài ra gỗ giấm chứa một số hợp chất phenolic như guaiacol
và cresol, và các axit hữu cơ như axit axetic, formic và prôpionic Giấm gỗđang được sử dụng để loại bỏ các mùi hôi từ rác thải (Huh et al, 1999.) vàamoniac trong các trang trại động vật (Park et al., 2003) Giấm gỗ bổ sungvào thưc ăn cho gà đã làm gia tăng đáng kể sản lượng trứng và cải tiến trongchăn nuôi gà đẻ (Sakaida và cộng sự, 1987; Li và Ryu, 2001) và tăng cườnghấp thu canxi trong ruột ở chuột (Kishi et al 1999)
Trong hơn 30 năm nay, nông dân Nhật Bản đã được sử dụng dấm gỗ đểcải thiện cây trồng và chăn nuôi Trong Nông nghiệp giẫm gỗ được sử dụng
để khử trùng đất, cũng như chất khử trùng, giảm mùi hôi trong chuồng nuôigia súc, giảm bớt sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (Tom Miles, 2007) Tuynhiên ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu sử dụng than và giấm gỗvào thức ăn cho lợn để giảm tỉ lệ tiêu chảy và nâng cao khả năng tăng trọng,nâng cao phẩm chất thịt xẻ của lợn, giảm phát xạ khí thải chăn nuôi, đặc biệt
là khí NH3 và H2S Xuất phát từ vấn đề trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu
Trang 3đề tài: “Ảnh hưởng của bổ sung than và giấm gỗ vào thức ăn đến tiêu chảy, sinh trưởng, phát xạ khí NH 3 và H 2 S từ phân của lợn giai đoan cai sữa đến xuất chuồng”.
1.1 Mục tiêu của đề tài
Bổ sung than và giấm gỗ vào khẩu phần ăn của lợn nhằm giảm tỉ lệ tiêuchảy, thúc đẩy quá trình sinh trưởng của lợn, giảm tiêu tốn thức ăn, giảmphát xạ khí NH3 và H2S trong chuồng nuôi
1.2 Ý nghĩa khoa học thực tiễn
Nghiên cứu hiệu quả việc bổ sung than và giấm gỗ vào thức ăn cho lợncon sau cai sữa nhằm giảm tỉ lệ tiêu chảy, tăng hiệu quả sinh trưởng, rútngắn thời gian nuôi, nâng cao thu nhập cho người chăn nuôi
Nghiên cứu hiệu quả việc bổ sung than và giấm gỗ vào thức ăn của lợnnhằm giảm phát xạ khí NH3 và H2S trong chuồng nuôi, hạn chế ô nhiễm môitrường từ khí thải chăm nuôi
Trang 4PHẦN II - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới và Việt Nam
2.1.1 Tình hình chăn nuôi trên thế giới
Lương thực, thực phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề sống còncủa nhân loại Ngày nay nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cungcấp lương thực và các loại thực phẩm nuôi sống cả nhân loại trên trái đất.Ngành chăn nuôi không chỉ có vai trò cung cấp thịt, trứng, sữa cho con gười
mà còn góp phần đa dạng nguồn gen và đa dạng sinh học trên trái đất
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới – FAO năm 2009
số đầu gia súc và gia cầm: Tổng đàn trâu 182,2 triệu con, phân bố chủ yếu ởcác nước Châu Á, tổng đàn bò 1.164,8 triệu con; dê 591,7 triệu con; cừu847,7 triệu con; lợn 887,5 triệu con; gà 14.191,1 triệu con và tổng đàn vịt là1.008,3 triệu con Tốc độ tăng về số lượng vật nuôi hàng năm của thế giớitrong thời gian vừa qua thường chỉ đạt trên dưới 1% năm Về số lượng vậtnuôi của thế giới các nước Trung Quốc, Hoa kỳ, Ấn Độ, Brazin, Indonesia,Đức là những cường quốc, trong đó Việt Nam đứng thứ 2 về số lượng vịt,thứ 4 về số lượng lợn, thứ 6 về số lượng trâu và thứ 13 về số lượng gà
Với số lượng vật nuôi như trên, tổng sản lượng thịt sản xuất năm 2009trên toàn thế giới là trên 281 triệu tấn, trong đó thịt trâu chiếm 3,30 triệu tấn;thịt bò 61,8 triệu tấn; thịt dê 4,9 triệu tấn; thịt cừu 8,1 triệu tấn; thịt lợn 106triệu tấn; thịt gà 79,5 triệu tấn; thịt vịt 3,8 triệu tấn và còn lại là các loại thịtkhác như thỏ, ngựa, lạc đà, lừa Cơ cấu về các loại thịt trên thế giới: nhiềunhất là thịt lợn chiếm 37,7%; thịt gà 28,5%; thịt bò chiếm 22,6% tổng sảnlượng thịt, còn lại 12,7% là thịt dê, cừu, ngựa, trâu, vịt và các vật nuôi khác.Bình quân về số lượng thịt trên đầu người là khoảng 41,9 kg/người/năm,trong đó các nước phát triển đạt trên 80 kg/người/năm và các nước đang
phát triển đạt khoảng 30 kg/người/năm Sữa tươi: Tổng sản lượng sữa của
thế giới năm 2009 là 696,5 triệu tấn trong đó sữa bò là chủ yếu (580 triệutấn) sau đó là sữa trâu 90,3 triệu tấn; sữa dê 15 triệu tấn; sữa cừu 8 triệu tấn
và sữa lạc đà trên 1,6 triệu tấn Cơ cấu sữa bò chiếm 83%; sữa trâu 13%;còn lại 4% là sữa dê, cừu và lạc đà Bình quân tiêu dùng sữa trên đầungười/năm của thế giới là 103,9 kg/người, trong đó các nước đang phát triển
Trang 5đạt 66,9 kg/người/năm và các nước phát triển đạt 249,60 kg/người/năm Sảnphẩm chăn nuôi của thế giới có tốc độ tăng trưởng chậm 0,50 – 0,80% /năm.
Trứng gia cầm: Tổng sản lượng trứng của thế giới năm 2009 là 67,4 triệu
tấn, bình quân đầu người năm là 9,98 kg trứng
Xu hướng phát triển của thị trường sản phẩm chăn nuôi
Theo tổ chức nông lương thế giới FAO, nhu cầu về sản phẩm chăn nuôinhư thịt, trứng, sữa của toàn cầu tăng lên hàng năm do dân số tăng và thunhập tăng, mức sống tăng cao Sản phẩm chăn nuôi chủ yếu của thế giới làthịt, trứng và sữa Tổng sản lượng thịt khoảng 281 triệu tấn thịt sản xuấthàng năm, trong đó thịt bò, thịt lợn và gia cầm chiếm vị trí quan trọng nhất
về số lượng Với tổng sản lượng sữa trên 696 triệu tấn/năm thì sữa bò chiếm80% tổng sản lượng sữa tiếp đến là sữa dê 15% và các loại sữa khác là 5%
2.1.2 Tình hình chăn nuôi ở Việt Nam
Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê tại thời điểm 1-10-2010, đàngia cầm phát triển nhanh, tuy nhiên tổng đàn lợn và đàn bò lại giảm so vớicùng kỳ
Bảng 1 Số lượng gia súc, gia cầm đến năn 2010Đàn gia súc, gia cầm Số lượng tại thời
điểm 1/10/2010
So với cùng kì năm2009
(Nguồn, cục thống kê, 2010)
Trong 11 tháng năm 2010, kim ngạch nhập khẩu thịt các loại của ViệtNam đạt 89,8 triệu đô la Mỹ, giảm 4,4% so với cùng kỳ 2009 và tới 50,4%
so với cùng kỳ 2008 Cũng trong giai đoạn này, Việt Nam đã thu về 35 triệu
đô la Mỹ từ việc xuất khẩu thịt các loại, giảm lần lượt 15,1% và 35,7% sovới cùng kỳ 2009 và 2008
Năm 2010, dịch tai xanh trên lợn và giá thức ăn chăn nuôi tiếp tục là nhân
tố tác động mạnh đến nguồn cung thịt cũng như giá thịt Dịch tai xanh năm
2010 tuy không mạnh bằng năm 2008 nhưng phạm vi ảnh hưởng thì lại có
Trang 6phần rộng hơn, lan ra khắp toàn quốc Thêm vào đó, giá thức ăn chăn nuôitrên thị trường thế giới từ đầu tháng 8 bắt đầu có dấu hiệu tăng nóng do cácnước sản xuất ngũ cốc lớn trên thế giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi sựbiến đối khí hậu toàn cầu Giá nguyên liệu nhập khẩu tăng cộng với vấn đềleo thang của tỷ giá đã đẩy giá thức ăn chăn nuôi thành phẩm trong nướcvào vòng xoáy tăng giá mới Người chăn nuôi chưa hết lao đao với dịchbệnh lại hứng chịu thêm việc tăng giá thức ăn chăn nuôi liên tục, khiến choviệc tái đàn càng trở nên khó khăn, ảnh hưởng đến nguồn cung thịt cho cáctháng cuối năm.
Với tất cả các yếu tố trên, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi Việt Nam năm
2010 ước đạt 35.367,5 tỉ đồng, tăng 5,4% so với năm 2009 theo ước tínhmới nhất của Tổng cục Thống kê Với tốc độ tăng trưởng này, ngành chănnuôi trở thành ngành có tốc độ tăng trưởng lớn nhất trong nhóm ngành nôngnghiệp (gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ) và lớn hơn cả tốc độ tăngtrưởng chung toàn ngành nông lâm thủy sản (đạt 4,7%)
Mặc dù vậy, so với kết quả tăng trưởng của hai năm trước và kế hoạch đặt
ra cho năm 2010 có thể thấy tăng trưởng của ngành chăn nuôi đã có bướcthụt lùi khá lớn (tăng trưởng ngành chăn nuôi năm 2008 và 2009 lần lượt là7,3% và 7,1% và kế hoạch năm 2010 là 7,9%) Rõ ràng những khó khăn từđầu vào đến đầu ra của sản xuất đã khiến ngành chăn nuôi Việt Nam năm
2010 không đạt được kết quả như mong đợi
Bước sang năm 2011, năm đầu tiên của kế hoạch năm năm 2011-2015,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đặt mục tiêu: tăngtrưởng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đạt 7,5 – 8%; tổng sản lượng thịt hơicác loại 4,28 triệu tấn; sản xuất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp 12triệu tấn Để thực hiện mục tiêu này, Bộ NN&PTNT đề ra ba nhóm giảipháp:
(1) Tập trung đảm bảo về giống, kỹ thuật, chủ động nguồn thức ăn và cácđiều kiện cần thiết để khôi phục và phát triển nhanh đàn gia súc, gia cầmtheo hướng hình thành các vùng chăn nuôi tập trung hình thức trang trại,nuôi công nghiệp, gắn với cơ sở chế biến tập trung và xử lý chất thải; tăngnhanh các cây thức ăn chăn nuôi, nhất là bắp, đậu tương
Trang 7(2) Bố trí đủ nguồn lực để thực hiện các phương án chủ động phòngchống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm, đặc biệt đối với bệnh cúm gia cầm, lởmồm long móng, tai xanh ở gia súc.
(3) Tiếp tục thực hiện chương trình cải tạo đàn bò và nạc hóa đàn lợn,chương trình giống vật nuôi, chương trình kiểm soát dịch bệnh và vệ sinh antoàn thực phẩm Triển khai chương trình nâng cao năng lực cạnh tranhngành chăn nuôi, chương trình hỗ trợ có mục tiêu phát triển chăn nuôi, giết
mổ, chế biến gia cầm tập trung, phát triển thức ăn chăn nuôi, tập trung trồng
cỏ và chế biến nâng cao giá trị dinh dưỡng nguồn phụ phẩm của sản xuấtcông nghiệp và nông nghiệp
Dự báo năm 2011 sẽ là một năm hứa hẹn có nhiều biến động đối với thịtrường thịt thực phẩm do các yếu tố sau:
- Giá nguyên liệu đầu vào và giá thức ăn chăn nuôi thành phẩm sẽ tiếp tụctăng dựa trên những dự báo không mấy lạc quan về triển vọng nguồn cung
và sự tăng lên về nhu cầu tiêu thụ
- Vấn đề dịch bệnh đối với gia súc, gia cầm rất khó dự đoán
- Chi phí đầu vào sản xuất (giá điện, nước, xăng dầu, nhân công, tỷ giá,lãi suất) có thể tăng mạnh
- Nhu cầu tiêu dùng tăng lên cùng với sự phục hồi của nền kinh tế (kếhoạch tăng trưởng GDP năm 2011 là 7-7,5%, với GDP bình quân đầu ngườikhoảng 1.300 đô la Mỹ (Trần Ngọc Yến, 2011)
2.2 Đặc điểm sinh lý của lợn sau cai sữa
Trong vòng 20 ngày đầu sau khi cai sữa, từ chỗ lợn con đang phụ thuộcvào lợn mẹ và thức ăn bổ sung, khi cai sữa lợn con phải sống độc lập và tựlấy dinh dưỡng từ thức ăn để nuôi cơ thể Lợn con có tốc độ tăng trưởngnhanh, trong khi sức đề kháng của lợn con kém, nhạy cảm với ngoại cảnh,
dễ nhiễm bệnh tật, nhất là bệnh đường tiêu hóa Đây là giai đoạn hết sứcquan trọng để đảm bảo tỉ lệ sống của lợn con (ít nhất là 96%), lợn con có tốc
độ sinh trưởng và phát dục nhanh (500 - 600g/ngày), đặc biệt phát triển tốtcác tổ chức như xương, cơ bắp và bộ máy tiêu hóa (Nguyễn Quang Linh,2005)
Ở lợn con, do cấu tạo cũng như chức năng của các cơ quan, bộ phận cơ
Trang 8thể chưa hoàn chỉnh Do đó môi trường ngoại cảnh có ảnh hưởng rất lớn đến
cơ thể vật nuôi và vật nuôi chịu tác động mạnh mẽ của điều kiện ngoại cảnh
và cùng với các sinh vật có trong đường ruột như E coli, Salmonella, protozoa, Rotavius,… Nhân cơ hội này đã nhân lên mạnh trong ruột của lợn
con Vì vậy, làm mất sự cân bằng giữa vi sinh vật có lợi và vi sinh vật cóhại, khi sức đề kháng của con vật giảm, tạo điều kiện cho vi sinh vật có hạiphát triển mạnh mẽ để gây bệnh Tuy nhiên, tự bản thân nó không gây rađược bệnh, chỉ khi môi trường thay đổi là các vi sinh vật có hại ở đườngruột nhân cơ hội này phát triển làm con vật ỉa chảy mạnh Các yếu tố liênquan gián tiếp là khí hậu, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, khẩu phần thức ănthay đổi đột ngột làm mất đi sự cân bằng trong cơ thể, quá trình tiêu hoá bịrối loạn dẫn đến quá trình loạn khuẩn trong đường ruột Đây là môi trườngthuận lợi cho vi khuẩn có hại phát triển mạnh cả về số lượng và độc lực gâybệnh
Sau giai đoạn lợn con cai sữa, người chăn nuôi sẽ phải thay đổi khẩu phần
để đáp ứng nhu cầu sinh trưởng giúp tăng trọng nhanh và cho chất lượng thịttốt nhất (có tỉ lệ nạc trên 50%), vì vậy cần đảm bảo chế độ dinh dưỡng hợp
lý để có thể tăng trọng có thể đạt 600 – 700g/ngày, tiêu tốn thức ăn thấp, tốn
ít công chăm sóc nuôi
2.3 Thay đổi về bộ máy tiêu hóa
Màng nhầy ruột non có những thay đổi khi lợn được cai sữa, nhung mao(để hấp thu chất dinh dưỡng) ngắn đi 75% trong vòng 24 giờ sau cai sữa vàtình trạng ngắn này vẫn tiếp tục nhưng giảm dần cho đến ngày thứ 5 sau caisữa (Hamston và Kidder, 1986) Mào ruột là nơi mà tế bào của chúng sẽ dichuyển dần lên đỉnh nhung mao để trở thành tế bào ruột trưởng thành với vinhung mao hấp thu chất dinh dưỡng Vài Enzyme tiêu hóa lactase,glucosidase, protease bị giảm nhưng riêng maltase lại tăng, do đó khả nănghấp thu chất dinh dưỡng của ruột cũng giảm
Việc giảm chiều dài của nhung mao và hình dạng chưa trưởng thành củaquần thể tế bào ruột (do tốc độ thay thế nhanh) có thể giải thích tại sao lợn
cai sữa tăng nhạy cảm đối với bệnh do E coli Nhưng thay đổi của nhung
mao ruột và mào ruột được thiết lập trong vòng 5 ngày và kéo dài trong ítnhất 5 tuần Ở lợn chưa cai sữa, chiều cao của nhung mao ít thay đổi hoăc có
Trang 9thể giảm chút ít và độ sâu của mào ruột tăng dần nhưng với tốc độ chậmhơn Do đó, nếu cai sữa sớm thì cần lưu ý những thay đổi trên để có chế độdinh dưỡng thích hợp.
Ngoài ra, thức ăn thay sữa mẹ có thể khó tiêu hóa hơn sữa, do đó lợn congiảm khả năng tiêu hóa, vi sinh vật ruột già dễ lên men nên giảm hấp thunước ở đường ruột Hậu quả là lợn bị tiêu chảy (Trần Thị Dân, 2008)
2.4 Đặc điểm sinh trưởng, phát dục và nhu cầu dinh dưỡng cho lợn sau cai sữa
Protein đóng vai trò quyết định cho sự sinh trưởng và phát triển của lợn,tuy nhiên người chăn nuôi cần phải biết tính toán nhu cầu protein của lợntrong từng giai đoạn nuôi khác nhau để cung cấp protein khẩu phần vaoĐặc điểm trong giai đoạn này tế bào cơ xương đang bắt đầu phát triểnmạnh mẽ, nhu cầu về protein trong lúc này là cao nhất trong toàn bộ chutrình sinh trưởng Nhu cầu về vitamin và các chất khoáng phải đầy đủ đểđảm bảo cân bằng trao đổi chất vì trong giai đoạn này cường độ trao đổichất khá cáp Khả năng tiêu hóa các loại thức ăn thô của lợn lúc này cònkém Tỷ lệ thức ăn tinh trong khẩu phần cần chiếm 80 – 85% Nếu dùngdưới dạng hạt nên chế biến như rang, ngâm, nghiền… là tốt nhất Đối vớithức ăn xanh nên dùng loại tươi, non, giàu vitamin (Nguyễn Quang Linh,2005)
Hình 2.4 Đồ thị tích luỹ nạc và mỡ của gia súc
Theo Nguyễn Quang Linh và côngc sự (2005), sau khi cai sữa lợn cótrọng lượng từ 10 – 35kg Giai đoạn này lợn con sau khi cai sữa tách mẹsống độc lập tự thích nghi với các điều kiện của môi trường sống mới.Người chăn nuôi phải nuôi dưỡng và chăm sóc lợn con tốt thì lợn mới sinh
60 40 20
(kg)
Tăng trọng nạc(g/ngày)
Tăng trọng mỡ(g/ngày)
Trang 10trưởng và phát triển bình thường Đối với chăn nuôi lợn theo nông hộ nênphối hợp khẩu phần ăn của lợn có 17 – 18% protein thô, 75 – 80% thức ăntinh và 20 – 25% thức ăn thô xanh Tỷ lệ khoáng 0,75 – 0,8% Ca, 0,6 –0,65% P Thức ăn phải dễ tiêu hóa, có mùi vị thơm ngon và được chế biếntốt Không thay đổi khẩu phần ăn của lợn một cách đột ngột.
Giai đoạn lợn có trọng lượng từ 35 – 70kg, đây là giai đoạn lợn lớn nhanh
về trọng lượng và kích thước, thích vận động nhiều và cũng là giai đoạn lợn
có khả năng sử dụng thức ăn thô xanh tốt Khẩu phần ăn của lợn có từ 45 –50% thức ăn tinh, 50 – 55% thức ăn thô xanh (áp dụng đối với lợn lai F1 ),nhưng tỷ lệ protein vẫn đảm bảo từ 15 – 16% Do giai đoạn này lợn có khảnăng sử dụng thức ăn thô xanh cao nên khẩu phần cần được phối hợp đủnăng lượng và protein để lợn có khả năng tích lũy nhanh
Theo Phạm Hữu Danh và cộng sự (1992), nhu cầu cho lợn có trọng lượng
31 – 60 kg: Protein thô là 17,20%; xơ thô là 4%
2.5 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn con
2.5.1 Nguyên nhân do thức ăn
Dinh dưỡng là yếu tố dễ gây ra tiêu chảy do lợn trong giai đoạn này đượccho ăn với khẩu phần protein cao để phát triển tối đa cơ bắp, việc cho ănprotein với mức cao có thể là nguyên nhân gây ra phân lỏng hay tiêu chảy.Nếu lợn được nuôi dưỡng tốt nhưng có phân lỏng mạn tính thì nên giảm tỷ
lệ protein hay tăng hàm lượng xơ trong khẩu phần (mà phân vẫn không cứnglại thì có thể là do nguyên nhân tiêu chảy khác gây nên)
2.5.2 Nguyên nhân ký sinh
Có rất nhiều loại ký sinh trùng đường ruột tác động gây ra hội chứng tiêu
chảy như: Sán lá ruột lợn (Fasciolopsis buski), giun đũa lợn (Ascarissuum)
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) giun đũa ký sinh trong ruột
non của lợn là loại Ascarissuum, sán lá ruột lợn và giun đũa lợn ký sinh
trong đường tiêu hoá sẽ làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hoá gây viêmruột ỉa chảy
Whipworms, giun kí sinh trong đường ruột là nguyên nhân chính của
bệnh tiêu chảy ở ở lợn Nhiễm trùng xảy ra sau khi lợn ăn trứng giun trongthức ăn hay nước uống bị ô nhiễm
Trang 11Giun kí sinh đường ruột gây viêm manh tràng và kết tràng, kết quả là lợn
đi phân lỏng hay tiêu chảy 3 – 7 tuần sau khi ăn phải trứng giun (có thể phân
có lẫn máu), nếu không điều trị bệnh sẽ kéo dài nhiều tuần đến vài tháng,làm lợn gầy còm và có thể chết
Cryptosporidium spp và Giardia spp hiếm khi có thể gây ra nhiễm trùng không biểu hiện hay tiêu chảy nhẹ ở lợn Giardia ssp không lây cho người, nguồn nước bị ô nhiễm là nguồn gốc cho Giardia ssp (Bruce
Lawhorn, 2007)
2.5.3 Nguyên nhân do vi khuẩn
Vi sinh vật trong đường ruột tồn tại dưới dạng một hệ sinh thái, bìnhthường thì hệ sinh thái này ở trạng thái cân bằng và có lợi cho cơ thể vậtchủ Dưới tác động của yếu tố gây bệnh, làm cho trạng thái cân bằng của visinh vật đường ruột bị phá vỡ, dẫn đến tình trạng loạn khuẩn đường ruột vàhậu quả là con vật bị tiêu chảy
Theo Cù Xuân Dần (1996), cho biết: Khi sức đề kháng của cơ thể bịgiảm sút, vi khuẩn gây thối là nguồn gây bệnh đường ruột Vi khuẩn gâythối hoạt động, phân giải các chất đường ruột sinh ra CO2, H2S, NH3, CH4,hợp chất phenol, indol, scatol làm biểu mô niêm mạc đường tiêu hoá bị tổnthương, tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập và gây bệnh
Nguyễn Thị Nội (1985), đã xác định được các tác nhân gây tiêu chảy cho
lợn ngoài E.coli còn có nhiều loại vi khuẩn khác tham gia như: Streptococccus, Klebsiella, Proteus, Pseudomonas Trong đó chủ yếu là E.coli độc, Salmonella và Streptococ.
Hoàng Văn Tuấn và cộng sự (1998), còn phát hiện thêm vai trò của
Clostridium perfringens trong hội chứng tiêu chảy của lợn.
+ E.coli
Vi khuẩn E.coli được Escherich phân lập năm 1985 từ phân trẻ em E.coli
luôn có sẵn trong đường ruột của động vật, nhưng chỉ gây bệnh khi sức đềkháng của động vật bị giảm sút do chăm sóc nuôi dưỡng kém, cảm lạnh,cảm nóng
E.coli là một vi khuẩn chiếm nhiều nhất trong số các vi khuẩn hiếu khí
sống trong đường tiêu hoá động vật
Trang 12Đào Trọng Đạt và cộng sự (1996), nghiên cứu bệnh lợn con phân trắng
cho biết, khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút, E.coli thường xuyên cư trú
trong đường ruột của lợn thừa cơ sinh sản rất nhanh và gây nên sự mất cânbằng hệ vi khuẩn đường ruột
* Sức đề kháng: E.coli bị diệt ở 55oC trong vòng 1h, ở 60oC trong thờigian 15 - 30 phút, đun sôi 100oC chết ngay Các chất sát trùng thông thườngnhư axit phenic, biclorua thuỷ ngân, Formol, hydropexyt 1‰ có thể diệt vi
khuẩn trong 5 phút Tuy nhiên, ở môi trường bên ngoài, các chủng E.coli
độc có thể tồn tại đến 4 tháng
* Các yếu tố gây bệnh của E coli
- Khả năng bám dính: Đây là yếu tố gây bệnh quan trọng, thực hiện bướcđầu tiên của quá trình gây bệnh Quá trình bám dính thực hiện nhờ một haynhiều yếu tố bám dính, các yếu tố bám dính quan trọng là F4 (K88), F5(K99), F6 (987p) và F41
- Khả năng xâm nhập: Chính là quá trình mà chúng vượt qua hàng ràobảo vệ của lớp chất nhầy trên bề mặt niêm mạc ruột để xâm nhập vào tế bào,sinh sản và phát triển trong đó, tránh được các đại thực bào của lớp hạ niêmmạc
- Khả năng dung huyết: Một số chủng E coli có khả năng sản sinh ra men
haemolysin có tác dụng dung giải hồng cầu Khả năng gây dung huyết là
yếu tố độc lực quan trọng của vi khuẩn E coli gây bệnh đường tiết niệu và
E coli phân lập từ cơ quan cảm nhiễm ngoài đường ruột thường có khả năng gây dung huyết cao hơn E.coli phân lập từ phân (49% so với 8 - 18%).
Có 4 kiểu dung huyết nhưng quan trọng nhất là hai kiểu α và β
- Yếu tố kháng khuẩn (Colicin V): Để tạo thuận lợi cho quá trình phát
triển của mình và trở thành vi khuẩn chiếm ưu thế trong đường ruột, E.coli
thường sản sinh ra một loại chất kháng khuẩn có khả năng ức chế và tiêu
diệt các loại vi khuẩn khác, đó là Colicin V E.coli sản sinh Colicin V thông
qua plasmid col Colicin V được coi là bacteriocin, có tác dụng độc đối với
các loại vi khuẩn khác thuộc họ Enterobacteriacae.
Trang 13Có khoảng 40% các chủng E.coli của người và động vật có đặc tính sản sinh Colicingenic hay còn gọi là các E.coli col Hầu hết các chủng E.coli
gây bệnh đều chứa các gen mã hoá cho Colicin V nằm trên plasmid
- Độc tố đường ruột: Vi khuẩn E.coli có khả năng sản sinh ra độc tố
đường ruột Độc tố này gồm độc tố chịu nhiệt và độc tố không chịu nhiệt.+ Độc tố chịu nhiệt ST (Stabile toxin): Độc tố ST chịu nhiệt, chịu được nhiệt
độ 121oC/5 phút Dựa vào đặc tính hoà tan trong Methanol và hoạt tính sinhhọc chia độc tố ST thành 2 nhóm là STa và STb Trong đó STa là một proteinkhông có tính kháng nguyên, STb là một protein có tính kháng nguyên yếu.+ Độc tố chịu nhiệt LT (Labile toxin): Độc tố này bị vô hoạt ở nhiệt độ
60oC/5 phút Độc tố LT có phân tử lượng lớn, có hai tiểu phần A và B Trong
đó tiểu phần B có 5 phần nhỏ, tiểu phần này có khả năng gắn với thụ thể của
tế bào biểu mô ruột Tiểu phần A mới mang hoạt tính sinh học Tiểu phần A
và B được tổng hợp trong tế bào, di chuyển đến gần màng tế bào vi khuẩn,chúng kết hợp với nhau để tạo thành độc tố hoàn chỉnh và được tiết ra bênngoài
Khi tác động vào tế bào, tiểu phần B sẽ gắn vào Receptor của tế bào biểu
mô ruột, tiểu phần A sẽ hoạt hoá enzym Adenylate Cyclaza để chuyển ATPthành cAMP tăng cao sẽ gây hiện tượng tăng bài xuất nước và các chất điệngiải từ mô bào vào xoang ruột, cản trở sự hấp thu nước từ xoang ruột vào
mô bào, làm cho nước trong xoang ruột tăng cao và từ đó gây ỉa chảy
- Tính kháng kháng sinh của E.coli: theo Phạm Khắc Hiếu và cộng sự (1996), nghiên cứu tính mẫn cảm và tính kháng thuốc của E.coli phân lập
được từ lợn mắc bệnh phân trắng lợn con đã kết luận có 40% đa kháng với 5loại thuốc, 10% đa kháng với 4 loại và 6% đa kháng với 3 loại
Theo Phạm Khắc Hiếu và cộng sự (1996), khi sử dụng kháng sinh hay
hoá trị liệu điều trị bệnh E.coli trong một thời gian dài thì vi khuẩn sẽ có
tính kháng thuốc, có thể là đa kháng hay đơn kháng, tính kháng thuốc của
E.coli ngày càng tăng.
Bùi Thị Tho (2003), cho biết việc sử dụng thuốc trong điều trị ở các địaphương khác nhau nên dẫn đến tính kháng thuốc ở các địa phương này cũngrất khác nhau Vì vậy, để có kết quả cao trong điều trị bệnh, cần phải làm
Trang 14kháng sinh đồ Việc làm kháng sinh đồ cho ta kết luận về tính kháng thuốc
của E.coli và lựa chọn thuốc có tác dụng tốt trong điều trị.
+ Salmonella
Vi khuẩn Salmonella lần đầu tiên được phát hiện bởi D.E Salmon và Smith.
Theo Đỗ Trung Cứ và cộng sự (2003), hiện nay người ta đã phân lập được
trên 2300 chủng Salmonella, nhưng chỉ có khoảng 5% trong số đó là gây bệnh Salmonella thường gây bệnh cho lợn lứa tuổi 45 - 90 ngày tuổi Lợn ở
các lứa tuổi khác cũng mắc nhưng ít hơn
- Các yếu tố gây bệnh của Salmonella: Quá trình gây bệnh của Salmonella có sự tham gia của độc tố và các yếu tố không phải là độc tố.
Kháng nguyên O, yếu tố bám dính, khả năng xâm nhập, được coi là các yếu
tố không phải là độc tố, là yếu tố gây bệnh gián tiếp Một mặt chúng tácđộng gây bất lợi cho vật chủ, một mặt chúng tạo điều kiện cho vi khuẩn tácđộng gây bệnh
Độc tố của Salmonella gồm nội độc tố và ngoại độc tố, trong đó nội độc
tố đóng vai trò quan trọng trong quá trình gây bệnh Nội độc tố (Endotoxin)thường là Lipoposaccharide (LPS) được giải phóng từ vách tế bào vi khuẩn
bị dung giải
Evan D.G, et al (1973), khi nghiên cứu về độc tố đường ruột của
Salmonella cho biết, độc tố gồm hai thành phần là độc tố thẩm xuất nhanh
(Rapid permeabity Factor viết tắt là RPF) và độc tố thẩm xuất chậm (Delaye
permeabity Factor viết tắt là DPF) Độc tố RPF giúp Salmonella xâm nhập
vào tế bào biểu mô ruột, nó có cấu trúc và thành phần giống độc tố chịu
nhiệt E.coli và được gọi là độc tố chịu nhiệt Salmonella Độc tố DPF có thành phần giống độc tố không chịu nhiệt của E.coli, nên gọi là độc tố không chịu nhiệt của Samonella.
+ Clostridium perfringens
Clostridium perfringens là thành viên điển hình của họ Clostridium, đòi hỏi điều kiện yếm khí tuyệt đối cho quá trình phát triển Clostridium perfringens có khả năng sản sinh nha bào, Gram(+), catalaza (-).
Hiện tại, người ta đã phát hiện Clostridium perfringens có 5 type là A, B,
C, D và E Chúng được phân chia theo các dạng độc tố gây chết mà chúng
Trang 15sản sinh (alpha,beta, epsilon, iota).
Clostridium perfringens type A đã được phân lập từ ruột lợn nhiều năm
và được xem như một trong những vi sinh vật bình thường trong đường tiêuhoá của người và động vật
Theo Nguyễn Như Thanh và Trần Thị Lan Hương (2001), Clostridium perfringens type A thường gây viêm ruột cho bê, thỏ.
Type D và E gây nhiễm độc cừu ở mọi lứa tuổi Chúng cũng gây bệnh ở
Dê, trâu bò và có thể ở người Công thức kháng nguyên của type D là α, β,
γ, δ, ε, θ, κ, λ, µ và ν; type E có công thức kháng nguyên là α, θ, κ, λ, µ vàν
Trong số 5 type huyết thanh của Clostridium perfringens, type C là type phân bố rộng rãi và quan trọng nhất, đặc biệt ở lợn Clostridium perfringens
type C có thể phân lập được trong chất chứa đường ruột của động vật khoẻ
Viêm ruột hoại tử ở lợn con do Clostridium perfringens type C được coi là
một bệnh ở lợn con từ năm 1995, khi những trường hợp bệnh đầu tiên được
mô tả ở Anh và Hungari (Nguyễn Bá Hiên, 2001)
Clostridium perfringens sản sinh ra 12 loại độc tố khác nhau, một trong
số các độc đặc biệt quan trọng, gây ra những tình trạng bệnh lý đặc trưng vàgây chết con vật, các độc tố α, β, ε, ι là các độc tố gây chết chủ yếu Mặtkhác, mỗi loại độc tố có vai trò quan trọng trong việc nhận biết các chủng
gây bệnh khác nhau của Clostridium perfringens (Đào trọng Đạt, 1996) Bệnh lỵ (hay kiết lỵ ra máu) do nhiễm Brachyspira (Serpulina) hyodysenteriae là nguyên nhân chính gây ra bệnh tiêu chảy ở lợn Lợn có
thể được tiếp xúc với phân mang mầm bệnh Lợn mắc bệnh này sẽ ủ rũ, vikhuẩn nhiễm vào các tế bào ở manh tràng và kết tràng (cùng một khu vựcnhư whipworms) và ngăn ngừa tái hấp thu nước Lợn bị mất nước nghiêmtrọng và tỉ lệ chết rất cao đạt khoảng 30%, nếu bị ảnh hưởng nhiều lợn sẽuống nhưng không ăn Dịch bệnh lỵ ở lợn không gây bệnh ở người (BruceLawhorn, 2007)
2.5.4 Nguyên nhân do virus
Viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (Transmissible gastroenteritis - TGE)virus gây ra ói mửa và tiêu chảy mạnh sau khi tiếp xúc với mầm bệnh Lợn
Trang 16bị nhiễm TGE virus có thể trực tiếp từ lợn bệnh bị tiêu chảy hoặc gián tiếp
từ dụng cụ hoặc chim di cư giữa các trang trại lợn với nhau Mùa có tỷ lệlợn bị bệnh cao là trùng với mùa chim di cư Thời kỳ ủ bệnh TGE chỉ từ18-
36 giờ Bệnh kéo dài hai tuần hoặc nhiều hơn sau đó sẽ hồi phục hoàn toàn,lợn con theo mẹ có thể chết 100%, nhưng bệnh ít khi xảy ra với lợn trên 5tuần tuổi Lợn mang virus TGE có thể lây cho lợn khỏe mạnh nhưng khônggây bệnh cho người (Bruce Lawhorn, 2007)[8]
Nhiều tác giả đã nghiên cứu và đưa ra kết luận về vai trò của một số loại
virus trong quá trình gây tiêu chảy như: Rotavius, TGE, Enterovirrus, Parvovirus, Adenovirus.
Lecce J.M et al (1976) nghiên cứu về virus gây bệnh đường tiêu hoá đã
xác định vai trò của Rotavirus trong hội chứng tiêu chảy ở lợn Rotavirus
thường gây bệnh tiêu chảy ở lợn, bò và người
Niconxki (1986) đã thống kê được hơn 10 loại virus có tác động làm tổnthương đường tiêu hoá gây viêm ruột ỉa chảy
Theo Lecce (1976) trong số những mầm bệnh thường gặp ở lợn trước vàsau cai sữa bị bệnh tiêu chảy có rất nhiều loại virus, 29% phân lợn bị tiêu
chảy phân lập được Rotavirus, 11,2% có virus TGE, 2% có Enterovirus, 0,7% có Parvovirus.
2.5.5 Các nguyên nhân khác
- Do thời tiết khí hậu: Ngoại cảnh là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến
sức đề kháng của gia súc Khi có sự thay đổi của các yếu tố như: Nhiệt độ,
ẩm độ, độ thoáng khí của chuồng nuôi, Đều ảnh hưởng tới sức khoẻ củavật nuôi
Theo các nghiên cứu (Đào Trọng Đạt và cộng sự, 1996; Phạm Khắc Hiếu
và cộng sự, 1998), cho rằng các yếu tố stress lạnh, ẩm ảnh hưởng rất lớn tớilợn sơ sinh, lợn con vài ngày tuổi Trong các yếu tố về tiểu khí hậu thì quantrọng nhất là nhiệt độ và độ ẩm Độ ẩm thích cho lợn là 75 - 85% Vì thếviệc làm khô và giữ ấm chuồng nuôi là vô cùng quan trọng
- Do kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng: Việc thực hiện đúng quy trình kỹ
thuật chăm sóc nuôi dưỡng sẽ đem lại sức khoẻ tăng trưởng tốt cho đàn lợn.Khi thức ăn chăn nuôi không đảm bảo, chuồng trại không hợp lý, kỹ thuật
Trang 17chăm sóc không phù hợp, là nguyên nhân làm cho sức đề kháng của lợngiảm, tăng nguy cơ mắc bệnh.
Do Stress: Theo Phạm Khắc Hiếu và cộng sự (1998) hệ thống tiêu hoá
của lợn mẫn cảm đặc biệt với stress Hiện tượng stress thường gây nên hiệntượng chán ăn, nôn mửa, tăng nhu động ruột, đau bụng và có khi tiêu chảy
Sự thay đổi của các yếu tố khí hậu, thời tiết, mật độ chuồng nuôi, phươngthức chăn nuôi, vận chuyển đi xa đều là những tác nhân stress quan trọngtrong chăn nuôi, dẫn đến hậu quả làm giảm sút sức khoẻ vật nuôi, là nguy cơxảy ra các bệnh trong đó có hội chứng tiêu chảy
2.6 Một số biện pháp phòng trị tiêu chảy và kích thích tăng trọng ở lợn
2.6.1 Sử dụng thuốc thú y
Một số tên thuốc trên thị trường thường dung như:
• Ampisua của hãng Ceva (Pháp) thành phần chính là Ampicillin vàColistin, liều tiêm 1ml/10 kg trọng lượng
• Hamogen của hãng Hanvet, thành phần chính la Amoxycillin vàGentamicin, liều tiêm 1ml/10 kg trọng lượng
• Biotec của hang Virbac, thành phần chính là Spiramycin và Colistin,liều tiêm 1ml/4 kg trọng lượng
• Neo-pec của hãng Saigonvet, thành phần chính là Neomycin vàPectin, liều uống 2ml/con, 2 lần/ngày
• Nova-colispec của hãng Anova, thành phần chính là Spectinomycin
và Colistin, liều uống 1ml/con/lần
• Bio-flumos của hãng Bio, thành phần chính là Flumequine, liều uống0,5ml/2,5kg trọng lượng, ngày 2 lần
• Multiboi hãng Virbac, thành phần chính là Ampicillin, Colistin,Dexamethasone, liều dùng 1ml/10 – 15kg trọng lượng
Liệu trình điều trị 3 – 5 ngày, trị lợn bị tiêu chảy do E.coli, Salmonela,…
Trang 18Sử dụng một số kháng sinh như Tetra Fura 1g/5kg trọng lượng, Ampi septol1ml/8kg trọng lượng, Chlortetradexa dùng cho lợn con 1 – 3ml/con, lợn từ
sự hoạt động của vi khuẩn bệnh, đặc biệt vi khuẩn gây bệnh đường tiêu hoá
và hô hấp trên động vật non, nhờ vậy làm cho chúng khoẻ mạnh, tăngtrưởng tốt (cải thiện 4-16% tốc độ tăng trưởng và 2-7% hiệu suất lợi dụngthức ăn)
Tuy nhiên sử dụng kháng sinh như một chất kích thích tăng trưởng thì lạigây hiện tượng kháng kháng sinh (gọi tắt là kháng thuốc)
2.6.2.1 Các chế phẩm probiotic và prebiotic
Các chế phẩm probiotic là các vi khuẩn có lợi còn sống, các chế phẩmprebiotic là các chất dinh dưỡng (chủ yếu là các oligosaccharide như manan-oligosaccharide, fructo-oligosaccharide) cung cấp năng lượng cho vi khuẩnprobiotic Các chế phẩm probiotic và prebiotic vừa có tác dụng ức chế sựphát triển của vi khuẩn bệnh trong ống tiêu hoá vừa tăng cường hệ thốngmiễn dịch của ruột cũng đang được dùng bổ sung vào thức ăn chăn nuôi, đặcbiệt là thức ăn thuỷ sản để thay thế kháng sinh
Các chế phẩm cung cấp kháng thể như bột huyết tương, bột trứng gà…chứa các kháng thể có thể loại bỏ các vi khuẩn bệnh ở đường ruột, ngănngừa được rối loạn tiêu hoá Lợn con mới đẻ cho đến 4 tuần tuổi không thể
tự sản sinh kháng thể để chống bệnh, chúng phải trông cậy vào nguồn khángthể của sữa mẹ Tuy nhiên nguồn kháng thể này thường không đáp ứng đủnhu cầu và như vậy việc bổ sung các chế phẩm giầu kháng thể là cần thiết,nhất là khi kháng sinh không được đưa vào thức ăn
Prebiotic hay chất tiền sinh là một thành phần cơ chất của vi khuẩn sốngtrong đường tiêu hóa của động vật Prebiotic là một thành phần thức ăn tự
nó không tiêu hóa được nhưng có ảnh hưởng tốt cho vật chủ bằng cách kích
Trang 19thích có chọn lọc sự phát triển hay hoạt động của một hoặc vài vi khuẩn ởđại tràng có lợi cho sức khỏe Prebiotic ảnh hưởng tới đáp ứng miễn dịchthông qua ảnh hưởng của probiotic Ðó là những chất sinh hóa có thể phânloại vào nhóm carbohydrat cơ thể không tiêu hóa được.
Prebiotic đã được công bố là một loại thực phẩm chức năng, có tác dụngkích thích sự tăng trưởng và hoạt động của các vi sinh vật có lợi trongđường ruột Hiệu quả của prebiotic đã được chứng minh rộng rãi ở người Ởđộng vật, cũng có nhiều nghiên cứu hiệu quả sử dụng prebiotic trên một sốđối tượng như lợn, gà Hidaka et al (1986) đã công bố rằng prebiotic có thểlàm giảm thiểu bệnh tiêu chảy và kích thích sự tăng trưởng của lợn con do
làm tăng số lượng quần thể vi khuẩn Bifidobacteria trong ruột Ngoài ra
prebiotic còn được xem là phương pháp rẻ tiền và đầy hứa hẹn trong kiểmsoát bệnh tiêu chảy và các bệnh rối loạn dinh dưỡng khác ở lợn và các độngvật khác
Vào cuối thập niên 80, người ta quan tâm đến việc sử dụng đườngmannose để giảm lượng sinh vật có hại trong đường tiêu hóa Các kết quảnghiên cứu cho thấy khi được bổ sung vào thức ăn gia súc, mannanoligosaccharide (MOS) có tác dụng làm giảm tỉ lệ và số lượng các dòng
Salmonella, Clostridium cũng như E coli trong phân gà thịt và lợn.
2.6.2.2 Acid hữu cơ
Vi khuẩn gây bệnh như E.coli, Samonella sống và hoạt động ở pH ≥ 4; vi khuẩn có lợi như Lactobacillus hay Bifidobacterium sống và hoạt động ở pH
≤ 3,5 Sử dụng các acid hữu cơ để đưa pH dịch tiêu hoá xuống ≤ 3,5 thì cólợi cho hoạt động và phát triển của vi khuẩn có lợi và ức chế được vi khuẩn
có hại
Acid hữu cơ thường dùng là acid lactic, formic, fumaric, butyric Các acidhữu cơ này bổ sung vào thức ăn hạ thấp được pH của dịch dạ dày và dịchruột, nhưng không ăn mòn niêm mạc ống tiêu hoá (có loại acid hữu cơ cònbảo vệ và kích thích sự phát triển của niêm mạc ruột, đó là acid butyric).Các trại chăn nuôi lợn ở châu Âu hiện nay đang coi việc sử dụng acid hữu
cơ là một biện pháp quan trọng để thay thế kháng sinh (G.S Vũ Huy Giảng2009)
Chế phẩm axit hữu cơ Ultracid lacdry và Adimix butyrate
Trang 20Trong nhiều năm qua, nhiều loại kháng sinh đã được sử dụng như là chấtkích thích sinh trưởng trong chăn nuôi phổ biến trên thế giới Việc bổ sungkháng sinh với liều thấp được xác nhận là đã cải thiện được các chỉ tiêu:lượng thức ăn thu nhận, tăng khối lượng/ngày từ (4 – 15%, Swine ReseachReport, trích theo Morz, 2003), hệ số chuyển hoá thức ăn là 2 – 6%, (Morz,2005) Tuy nhiên, trong những năm gần đây đã có nhiều tài liệu đề cập đếnviệc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi và các cảnh báo về nguy cơ an toànthực phẩm, khả năng kháng kháng sinh của vi sinh vật đối với con người vàvật nuôi.
Trước những tác động xấu của kháng sinh, thế giới đã và đang từng bướcbãi bỏ, nghiêm cấm việc sử dụng kháng sinh bổ sung trong thức ăn cho giasúc nói chung và cho lợn nói riêng Ở Việt Nam, việc cấm sử dụng khángsinh bổ sung trong thức ăn đã và đang từng bước được quan tâm
Để chuẩn bị cho việc này, vào những năm 90 của thế kỷ XX, các nhàkhoa học đã tập trung nghiên cứu tìm các giải pháp thay thế kháng sinh bổsung trong thức ăn Các giải pháp được nghiên cứu là sử dụng probiotic,prebiotic, enzyme, axít hữu cơ… Theo xu hướng chung của thế giới cùngvới tiến trình hội nhập WTO, việc hạn chế và tiến tới hoàn toàn không sửdụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi ở nước ta là một xu thế tất yếu.Những nghiên cứu tìm ra các chất có thể thay thế kháng sinh trong thức ănchăn nuôi là cần thiết và cấp bách Đáp ứng với yêu cầu đó, axít hữu cơđang được quan tâm nghiên cứu như là nguồn thay thế kháng sinh trongthức ăn chăn nuôi do có những đặc tính ưu việt: (1) an toàn đối với vật nuôi
và con người; (2) ức chế được vi khuẩn gây bệnh và tăng cường khả năngmiễn dịch cho gia súc; (3) cải thiện được các chức năng tiêu hoá; (4) khôngtồn dư và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Hai chế phẩm axít hữu cơ: Ultracid Lac Dry và Adimix Butyrate do Inve
-Hà Lan sản xuất đã được khuyến cáo là mang lại hiệu quả kinh tế cao và có
ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc thay thế kháng sinh Để khẳng định khảnăng thay thế kháng sinh của 2 chế phẩm này trong điều kiện chăn nuôitrang trại ở Việt Nam, việc nghiên cứu bổ sung chế phẩm axít hữu cơUltracid Lac Dry và Adimix Butyrate trong thức ăn cho lợn con sau cai sữađến 60 ngày tuổi là cần thiết và đúng hướng (Phạm Duy Phẩm, 2008)
Trang 212.6.2.3 Enzyme
Bổ sung các enzyme tạo ra bằng con đường công nghệ vi sinh (celllulase,beta-glucanase, xylanase, mannanase…) nhằm phân giải các polysaccharidcấu tạo vách tế bào thực vật, tạo điều kiện cho các enzyme nội sinh(protease, amylase, lipase tiết ra từ ống tiêu hoá) tiếp cận với các chất hữu
cơ bên trong tế bào chất đã làm tăng được tỷ lệ tiêu hoá hấp thu thức ăn, từ
đó giúp cơ thể con vật có thêm chất dinh dưỡng để tăng năng suất sản phẩmcũng như tăng cường sức khoẻ để chống bệnh
2.6.2.4 Thảo dược
Một biện pháp thay thế kháng sinh hiệu quả và không tốn kém là sử dụngkháng sinh thảo dược Chế phẩm kháng sinh thảo dược thường gồm hỗn hợpcác chất được chiết rút từ nhiều loại thảo dược Ví dụ chế phẩm thảo dược
có tên là APEX do hãng BFI của Anh sản xuất chứa:
- Lá và tinh dầu cây hương thảo
- Củ và tinh dầu tỏi
- Lá, hoa và tinh dầu cây xạ hương
- Quả và tinh dầu hồi
- Vỏ, lá và tinh dầu quế
là không ức chế những vi khuẩn có ích trong đường ruột và còn có tác dụngkích thích tính thèm ăn, tăng sự tiết dịch tiêu hoá, cải thiện tỷ lệ tiêu hoá hấpthu thức ăn
Chế phẩm thích hợp với việc trộn vào thức ăn công nghiệp dạng viên vì
có khả năng chịu nhiệt khi ép viên
Trang 22Các thí nghiệm bổ sung APEX tại Anh, Bỉ hay Đan Mạch đã cho thấyAPEX hoàn toàn có thể thay thế được kháng sinh bổ sung vào thức ăn Đáng lưu ý ở một thí nghiệm tiến hành tại Đan Mạch trên 3 lô lợn sau caisữa (thể trọng xuất phát là 6,2kg): lô 1 không bổ sung kháng sinh, lô 2 bổsung kháng sinh và lô 3 bổ sung kháng sinh thảo dược APEX (500g/tấn) Kết quả sau 4 tuần thí nghiệm cho thấy: lợn lô 2 và 3 có tăng trọng bìnhquân hàng ngày bằng 121% và 113% so với lô 1, hệ số chuyển đổi thức ăn(FCR: kg thức ăn/kg tăng trọng) của lô 2 và 3 giảm 9% và 8% so với lô 1(tăng trọng tính theo g/ngày của lợn lô 1, 2 và 3 lần lượt là 392 - 430 và 408;FCR lần lượt là 1,51 - 1,39 và 1,40) Lợn lô 1 có 17 con gầy yếu trong khi
đó lợn lô 2 và 3 chỉ có 2 và 3 con gầy yếu
Các biện pháp trên đây đã góp phần rất quan trọng vào thành công củaviệc thay thế hoàn toàn kháng sinh bổ sung vào thức ăn chăn nuôi ở nhiềunước châu Âu Ở nước ta, trong khi chưa loại bỏ được hoàn toàn kháng sinhtrong thức ăn, các nhà chăn nuôi chỉ nên sử dụng kháng sinh cho lợn hay giacầm trong những giai đoạn dễ bị stress như cai sữa, chuyển đàn, chuyểnmùa; các giai đoạn khác thì không dùng kháng sinh mà thay thế kháng sinhbằng việc bổ sung acid hữu cơ, enzyme, probiotic, prebiotic, chế phẩm giầukháng thể và kháng sinh thảo dược cùng với việc áp dụng chặt chẽ các điềukiện vệ sinh và an toàn sinh học trong quy trình chăn nuôi (G.S.Vũ HuyGiảng 2009)
2.6.2.5 Sử dụng một số bài thuốc nam
Bài 1: Cỏ nhọ nồi khô 100g; Lá bạc thau khô 100g; Gừng khô (cankhương) 100g; nước sạch 1.000ml Đun sôi, cô đặc còn 300ml, cho thêmmột ít đường cho lợn con dễ uống với liều 2ml/con/lần Ngày uống 2-3 lần.Uống liên tục 7-10 ngày
Bài 2: Cây Bồ bồ rửa sạch, chặt nhỏ 500g; Gừng tươi (sinh khương) 50g;nước sạch: 1.000ml
Đun sôi, cô đặc còn 300ml, cho thêm một ít đường cho lợn con dễ uốngvới liều 2ml/con/lần Ngày uống 2-3 lần Uống liên tục 5-7 ngày
Bài 3: Rễ cây cỏ xước (khô) 400g; Riềng gió (cao lương khương) 50g; Vỏquít hay vỏ cam, vỏ bưởi 50g; nước sạch 1.500ml Đun sôi, cô đặc còn
Trang 23300ml, cho thêm một ít đường cho lợn con dễ uống với liều 2ml/con/lần.Ngày uống 2-3 lần Uống liên tục 7-10 ngày.
Bài 4: Hoàng đằng 500g; cỏ sữa lá lớn 100g; nước sạch 1.000ml Đun sôi,
cô đặc còn 300ml, cho thêm một ít đường cho lợn con dễ uống với liều2ml/con/lần Ngày uống 2-3 lần Uống liên tục 7-10 ngày
Bài 5: Gồm 3 bài nhỏ - Tô mộc 500g; Ngũ bội tử 300g; nước sạch1.500ml Đun sôi, cô đặc lọc lấy 500ml nước cốt, trộn vào thức ăn cho lợncon ăn Liều 5ml/con, cho ăn 7-10 ngày liền
- Viên tô mộc (loại dùng cho người càng tốt) trộn vào thức ăn liều20g/con lợn 1 tháng tuổi cho 1 ngày Cho ăn 7-10 ngày
- Viên Pamatin chiết từ cây Hoàng đằng hoặc viên Becberin hoà nước chothêm đường cho uống: Liều 20-40mg/lợn con (2-4 viên/con hay 1 viên/2-3kg thể trọng) Cho uống 2 lần/ngày trong 7-10 ngày
Bài 6: Rễ cỏ xước khô 500g; Gừng tươi 50g; nước sạch 2000ml Đun sôi,
cô đặc còn 500ml, cho thêm một ít đường cho lợn con dễ uống với liều 5ml/con/lần Ngày uống 2-3 lần Uống liên tục 7-10 ngày
3-Than tre: Bổ sung vào nước uống hoặc trộn thức ăn với liều lượng 1-1,5%cho ăn hoặc uống trong suốt thời gian nuôi (Than đốt toàn tính, cách đốtnhư đun than củi)
Dùng cơm mẻ (Pribiotic) với liều 1ml/con từ ngày thứ 3 sau khi sinh đếnngày 10 tuổi
Mật lợn khoẻ (lợn có trọng lượng từ 80 kg trở lên) cho uống với liều: Sosinh 0,5 ml/con, 1 tuần tuổi: 1ml/con; 2 tuần tuổi: 1,5ml/con; 3 tuần tuổi:
2ml/con, mỗi tuần cho uống 1 lần (Đỗ Kháng_Phòng trị bệnh tiêu chảy ở heo con Báo nông nghiệp số 119 ra ngày 16/6/2005).
2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất thịt xẻ
a Ảnh hưởng của yếu tố di truyền
Năng suất và phẩm chất thịt là đặc tính di truyền từ đời này sang đờikhác Các giống lợn khác nhau có năng suất và phẩm chất thịt xẻ khác nhau.Các giống lợn ngoại có tốc độ sinh trưởng, phát triển nhanh và chất lượngthịt tốt hơn các giống lợn nội, tăng trọng trung bình của lợn Móng Cái
Trang 24khoảng 300 -350g/ngày, tăng trọng của con lai khoảng 550 - 650g/ngày, lợnngoại khoảng 700-750g/ngày (Nguyễn Quang Linh và cộng sự, 2005).
Bảng 2: Năng suất và phẩm chất thịt của một số giống lợn
Giống Pgiết mổ Tăng trọng
(g/ngày)
Tỷ lệ thịt xẻ(%)
Tỷ lệ nạc(%)
( Nguồn: Lê Thanh Hải và ctv, 1999)
Do đó trong điều kiện chăn nuôi lợn của nước ta, các nhà di truyền giốngcần phải lựa chọn phối hợp nhiều giống để tạo ra tổ hợp lai có năng suất caophẩm chất tốt, đồng thời có khả năng sử dụng tốt nguồn thức ăn sẵn có ở địaphương
b Ảnh hưởng của giới tính
Giới tính là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sức sản xuất, phẩm chất thịt.Lợn đực không thiến sinh trưởng nhanh hơn, có thân thịt xẻ nạc hơn vàchuyển đổi thức ăn tốt hơn lợn cái Lợn cái đến tuổi thành thục về tính nếukhông hoạn sẽ giảm khả năng tăng trọng, dẫn đến tiêu tốn thức ăn cao, lợnđực nếu không thiến thì hoạt động sinh dục tiêu tốn nhiều năng lượng dẫnđến tăng trọng giảm, thịt có mùi hôi Do đó trong chăn nuôi lợn người takhuyến cáo nên thiến lợn đực lúc 13 ngày tuổi, lợn cái nên hoạn lúc 3 - 4tháng tuổi (Nguyễn Quang Linh và cộng sự, 2005)
Bảng 3: Ảnh hưởng của giới tính đến chất lượng thịt (Cahill - 1960 )
Các chỉ tiêu thịt xẻ Lợn có trọng lượng 45 kg Lợn có trọng lượng 95 kg
Trang 25Tỷ lệ nạc (%) 40,6 39,8 40,2 40,2 36,2 39,5
Mùi vị thơm ngon
( a, b là hệ số đơn vị theo dõi : 10 là rất tốt, 1 là kém)
Khả năng ăn vào của lợn đực thiến là tốt hơn lợn cái, do đó khi lợn đựcthiến ăn khẩu phần được coi là hạn chế thì lợn cái đó là khẩu phần ăn tự do.Chính đặc điểm này mà các nhà chăn nuôi khuyến cáo nên nuôi riêng lợncái và lợn đực thiến (Trần Văn Hoà, 2002)
c Ảnh hưởng của thời gian nuôi và trọng lượng giết thịt
Thời gian nuôi dài, lợn có trọng lượng lớn nhưng tiêu tốn thức nhiều ăn,tốn nhiều công chăm sóc nuôi dưỡng, chi phí chuồng trại và các chi phí kháccao, hệ số quay vòng thấp và chất lượng thịt giảm Lợn càng lớn, nuôi cànglâu thì khả năng tích luỹ nạc giảm, tích luỹ mỡ tăng, mùi vị thịt giảm sút Thời gian nuôi ngắn khắc phục được những hạn chế trên, nhưng đòi hỏiphải có chế độ nuôi dưỡng tốt Chế độ nuôi dưỡng tốt lợn tăng trọng nhanh,tiêu tốn thức ăn thấp, hiệu quả kinh tế cao, chất lượng thịt tốt Tuy nhiên tuỳtheo từng điều kiện cụ thể mà lựa chọn thời gian nuôi và trọng lượng giếtthịt phù hợp để vừa nâng cao được sức sản xuất vừa giảm được chi phí thức
ăn
d Ảnh hưởng của chế độ nuôi dưỡng
Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đếnnăng suất và chất lượng thịt xẻ Chế độ nuôi tốt, dinh dưỡng cao lợn tăngtrọng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, hệ số chuyển đổi thức ăn cao, phẩm chấtthịt tốt Ngược lại, chế độ nuôi dưỡng kém, dinh dưỡng thấp lợn sẽ còi cọc,tiêu tốn thức ăn cao, hiệu quả thấp
Trong chế độ nuôi dưỡng 2 vấn đề được quan tâm hàng đầu là chế độchăm sóc và chế độ dinh dưỡng
* Chế độ chăm sóc:
Trang 26Chế độ chăm sóc là yếu tố gián tiếp ảnh hưởng đến năng suất và chấtlượng thịt lợn Chăm sóc tốt sẽ giúp lợn phòng tránh được bệnh tật, tăng sức
đề kháng của cơ thể, nâng cao hệ số chuyển đổi thức ăn, năng suất, phẩmchất thịt được nâng lên
Hạn chế lượng ăn vào ở giai đoạn sinh trưởng của lợn là một trongnhững phương pháp phổ biến nhằm điều khiển khả năng tích luỹ mỡ trongthân thịt, tích luỹ mỡ dưới da, từ đó nâng cao phẩm chất thịt xẻ
* Chế độ dinh dưỡng:
Chế độ dinh dưỡng khác nhau thì năng suất và phẩm chất thịt cũng khácnhau Lợn ở mỗi giai đoạn sinh trưởng, phát triển cần một chế độ dinhdưỡng khác nhau, do đó người chăn nuôi cần phải nắm được đặc điểm này
để phối chế khẩu phần thích hợp cho từng giai đoạn sinh trưởng của lợn.Khi phối chế khẩu phần cần chú trọng 2 yếu tố là năng lượng và protein.Khẩu phần thiếu protein thì lợn có xu hướng tích luỹ mỡ cao, do khẩu phần
đó có năng lượng cao Khẩu phần có tỷ lệ protein quá cao thì sự tích luỹ nạckhông cao bằng khẩu phần cân đối protein và axit amin Do đó, khi phối chếkhẩu phần cần chú ý tăng tỷ lệ protein/năng lượng, khẩu phần này sẽ làmgiảm quá trình sản sinh nhiệt lượng trong cơ thể, nâng cao sử dụng nănglượng để tạo ra sản phẩm
Bảng 4: Ảnh hưởng của thức ăn đến năng suất và phẩm chất thịt lợn
Các chỉ tiêu
Mức ăn hàng ngày
Ăn thoảmãn
Trang 27e Ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu đến năng suất và phẩm chất thịt lợnKhí hậu mát mẻ, nhiệt độ và ẩm độ thích hợp thì lợn ăn tốt, tỷ lệ tiêu hoácao, tích luỹ cao, sinh trưởng phát triển nhanh, năng suất cao Nóng quá, lợn
ăn ít, khả năng tiêu hoá kém, giảm tăng trọng Rét quá, lợn tiêu hao nhiềunăng lượng đế chống rét, chi phí thức ăn cao
Bảng 5: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến năng suất, chất lượng thịt lợnNhiệt độ môi trường
16-13-14
20-17-10
2.8 Vấn đề ô nhiễm do khí thải từ chăn nuôi lợn
Trong những năm gần đây, việc phát triển hệ thống sản xuất nông nghiệpbền vững ngày càng được chú trọng, trong đó ngành chăn nuôi là một bộphận cấu thành quan trọng của tổng thể
Tuy nhiên, sản xuất chăn nuôi đang phải đương đầu với những khó khănkhông chỉ về mặt kỹ thuật như cung cấp thức ăn, sức khỏe gia súc, chọn, tạogiống và quản lý mà cả những yếu tố môi trường, kinh tế và xã hội Nhữngkhó khăn trong việc lưu trữ và xử lý chất thải chăn nuôi là những vấn đề đầutiên Sự ô nhiễm đất, không khí và nguồn nước ngầm do chất thải chăn nuôi
đã làm ảnh hưởng đáng kể tới hệ sinh thái và sức khỏe con người Trong quátrình lưu trữ chất thải, một lượng lớn các chất độc ở dạng lỏng hay chất khí
Trang 28được tạo ra bởi hoạt động của các vi sinh vật như là SO2, NH3, CO2, H2S,
CH4 và các vi sinh vật có hại như Enterobacteriaceae, E coli, Salmonella Các loại chất độc này có thể làm ô nhiễm không khí và nguồn
nước làm ảnh hưởng tới đời sống con người và đến hệ sinh thái Ô nhiễmmùi và nước thải từ các chất thải chăn nuôi trong chuồng trại, các hệ thống
dự trữ hoặc từ quá trình sử dụng phân bón trên đồng ruộng cũng đang là vấn
đề quan tâm của nhân dân trong các khu vực chăn nuôi
Kết quả phân tích không khí chuồng nuôi của Phùng Đức Tiến và cộng sự(2009) cho thấy hầu hết các chỉ tiêu đều vượt quá ngưỡng cho phép Nồng
độ NH3 trong nông hộ đạt 0,112 mg/m3 vượt gấp 11,2 lần tiêu chuẩn chophép; gia trại đạt 0,125 mg/m3 gấp 12,5 lần tiêu chuẩn cho phép; trang trạiđạt: 0,15 mg/m3 gấp 15 lần tiêu chuẩn cho phép Nồng độ H2S: trong nông
hộ đạt 0,0053 mg/m3 vượt gấp 1,06 lần tiêu chuẩn cho phép; gia trại đạt0,0082 mg/m3 gấp 1,64 lần tiêu chuẩn cho phép; trang trại đạt: 0,0069mg/m3 gấp 1,38 lần tiêu chuẩn cho phép
Hiện nay việc đáng lo ngại nhất là dù chăn nuôi ở quy mô nhỏ hay lớncác loại chất thải trong chăn nuôi đa phần vẫn chưa được xử lý Chất thảitrong chăn nuôi được phân ra làm 3 loại: chất thải rắn, chất thải lỏng, chấtthải khí bao gồm CO2, NH3, H2S, CH4 … đều là những loại khí chính gâyhiệu ứng nhà kính; trong khi đó ước tính ở Hà Nội có khoảng 1 triệutấn/năm chất thải rắn được thải ra môi trường Chỉ một phần nhỏ của chấtthải rắn được ủ để làm phân bón, một phần được dùng trực tiếp tưới cho hoamàu và nuôi cá Chất thải lỏng bao gồm nước tiểu, nước tắm cho vật nuôi,nước rửa chuồng đa phần đều chảy trực tiếp ra hệ thống cống thoát nướcchung trong khu dân cư
Báo Nam Định, 28/03/2011 cho biết những năm gần đây, cùng với việcphát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm đã kéo theo sự gia tăng về mức độ ônhiễm môi trường ở các vùng nông thôn trong tỉnh Nam Định Tại huyệnNam Trực, trong tổng số 53 nghìn hộ dân thì hầu như mọi nhà đều tham giachăn nuôi ở quy mô khác nhau Toàn huyện có 196 trang trại, gia trại quy
mô lớn từ 200 - 300 con, và chỉ ở những trang trại này mới có điều kiện thựchiện các biện pháp kỹ thuật để bảo đảm vệ sinh môi trường như: xây dựng ở
xa khu dân cư, đầu tư hầm biogas, thực hiện các kỹ thuật chăn nuôi an toàn,
vệ sinh… Tại xã Hoàng Nam (Nghĩa Hưng) với 150 hộ chăn nuôi gà, lợn ở
Trang 29quy mô trang trại, gia trại và hàng trăm hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, xã trở thànhtâm điểm về tình trạng ô nhiễm môi trường Phần lớn việc chăn nuôi ở các
hộ dân đều trong khu dân cư Trong khi đó, các biện pháp bảo vệ môi trườngcòn hạn chế: Nguồn nước thải trong chăn nuôi vẫn đang xả trực tiếp ra đồngruộng, sông ngòi; ô nhiễm nguồn không khí đã ảnh hưởng trực tiếp đến môitrường sống
Từ thực trạng trên có thể thấy mức độ gây ô nhiễm môi trường từ chănnuôi gia súc, gia cầm ở các vùng nông thôn ngày càng nghiêm trọng Theokết quả khảo sát tại những xã có nhiều hộ chăn nuôi đã được Sở Khoa học
và Công nghệ công bố, nồng độ khí NH3, H2S có trong không khí tại một sốnơi đã cao hơn mức cho phép gần 5 lần, độ nhiễm khuẩn trung bình trongchuồng là 18.675 vi sinh vật (cao hơn tiêu chuẩn của Nga 12 lần); nước thải
nhiễm E coli và tỷ lệ số mẫu nước thải nhiễm trứng giun cao Hàm lượng
COD (nhu cầu oxy hoá học) có nơi lên đến 3.916 mg/l, trong khi tiêu chuẩncho phép chỉ từ 100 đến 400 mg/l Thực tế, do chưa thực hiện tốt công tácbảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường nên thời gian gần đây tình hình dịchbệnh đã xảy ra liên tiếp ở nhiều địa phương trong tỉnh như dịch tai xanh ởtrang trại chăn nuôi khép kín của ông Phạm Văn Đông, ở xã Nghĩa Trung(Nghĩa Hưng); dịch lở mồm long móng ở lợn tại các xã Nam Hùng, NamHồng (Nam Trực); dịch cúm gia cầm tại xã Nghĩa An (Nam Trực); YênPhong (Ý Yên)
Qua khảo sát và thống kê cho thấy các hộ gia đình phàn nàn haykhiếu nại từ các trại chăn nuôi xung quanh như sau:
+ Mùi hôi, chiếm 50%
+ Ảnh hưởng đến hoa màu, chết cá: 30%
+ Tiếng ồn, chiếm 2%
+ Than phiền khác, chiếm 18%
2.8.1 Đặc điểm và tác hại của khí NH 3
Amoniac là không màu, nhẹ hơn không khí, hòa tan trong nước rất cao,
và có mùi khai đặc trưng với ngưỡng phát hiện từ 5 – 18 ppm/phút Khí NH3
có thể tồn tại trong khoảng 14 – 36 giờ tùy thuộc vào thời tiết NH3 đượcphân loại như một hạt tiền chất, tức là trong giai đoạn hơi nó sẽ phản ứng
Trang 30với hợp chất khác để tạo thành các hạt NH 3 và tổ hợp hóa học (NH x) lànhững thành phần quan trọng chịu trách nhiệm về quá trình axit hóa, thêmvào các hợp chất lưu huỳnh (SO x), các oxit nitơ, và các thành phần hữu cơ
dễ bay hơi (Groot Koerkamp, 1994)
Ammonia thải ra từ động vật là phổ biến do việc chuyển đổi hiệu quả củasản phẩm thức ăn chứa đạm động vật Chăn nuôi gia cầm thường được cho
ăn với lượng protein cao, để đảm bảo yêu cầu dinh dưỡng được đáp ứng.Nitơ không bị chuyển hóa thành các protein động vật được bài tiết trongnước tiểu của lợn và gia súc, trong acid uric bài tiết của gia cầm Hơn nữahoạt động vi sinh vật giải phóng NH 3 vào khí quyển
Ammonia mức từ 5 – 10 ppm/phút là điển hình trong các trại lợn thônggió, có sàn nằm cho phép phân rơi vào hố chứa phân ngầm Nồng độ của
NH3 có xu hướng cao hơn một chút (10 – 20 ppm/phút) trong chuồng không
có sàn cao cao Mức độ NH3 trong trại chăn nuôi có thể vượt quá 25ppm/phút, khi mùa đông mức độ thông gió được sử dụng và có thể đạt 40ppm/phút trong tòa nhà thông gió kém (Groot Koerkamp et al., 1998), hoặctrong kho lưu trữ phân của dãy chuồng có hầm phân (Wathes et al , 1997).Nồng độ NH3 quá cao, chẳng hạn như 2500 ppm có thể gây tử vong Cơquan điều hành quản lý sức khỏe và an toàn lao động của Mỹ (OSHA) trongnhà 8giờ ngưỡng tiếp xúc với NH3 là 25 ppm/phút, tương tự như ngưỡnggiới hạn NH3 ở nhiều quốc gia khác (Acgih, 1992)
Đối với người khi hít phải hoặc tiếp xúc trực tiếp với NH3
Triệu chứng: thở khó, hắt hơi khi hít phải, cổ họng bị rát, mắt môi và mũi
bị phỏng, tầm nhìn bị hạn chế, mạch máu bị giảm áp nhanh chóng, da bịkích ứng mạnh hoặc bị phỏng Trong 1 số trường hợp nếu hít phải NH3 nồng
độ đậm đặc có thể bị ngất, thậm chí bị tử vong
Nhiễm độc cấp tính: Nồng độ khí NH3 trên 100 mg/m3 gây kích ứngđường hô hấp rõ rệt Trị số giới hạn cho phép làm việc với đủ phương tiệnphòng hộ trong 1 giờ là từ 210 – 350 mg/m3