Trong những năm gần đây, các ngân hàng tại Việt Nam đã có sự biến động lớn về đội ngũ nhân sự do những tác động của suy giảm kinh tế toàn cầu cũng như nền kinh tế trong nước đã buộc các
Trang 1TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Mọi tổ chức muốn thực hiện các mục tiêu của mình cần rất nhiều những nguồn lực, trong đó nguồn nhân lực được xem là một trong những nguồn lực quan trọng và có ý nghĩa tiên quyết đối với sự phát triển của tổ chức đó Đặc biệt đối với các ngân hàng, nguồn nhân lực có một vai trò đặc biệt quan trọng bởi đây là ngành kinh tế có sự vận động và phát triển ngày một mạnh mẽ về quy mô và tri thức trong nền kinh tế Trong những năm gần đây, các ngân hàng tại Việt Nam đã có sự biến động lớn về đội ngũ nhân sự do những tác động của suy giảm kinh tế toàn cầu cũng như nền kinh tế trong nước đã buộc các ngân hàng phải đưa ra những chính sách cắt giảm nhân sự để tiết kiệm chi phí Do đó,vấn đề quản trị nhân sự đang được các ngân hàng đặc biệt quan tâm và chú trọng, nhất là đối với những ngân hàng đang tiến hành tái cơ cấu, sáp nhập như ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB)
Mặt khác, để có thể đưa ra được những quyết định đúng về quản trị nhân sự đòi hỏi nhà quản lý phải có được những thông tin chính xác về tình hình nhân sự tổ chức Tuy nhiên hiện nay, công tác thống kê lao động trong các đơn vị kinh tế nói chung và trong các ngân hàng nói riêng lại không được quan tâm chú trọng
Do đó, tác giả đã chọn đề tài luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu thống kê thực trạng sử dụng lao động tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội giai đoạn 2008 – 2012” nhằm mục tiêu đánh giá tình trạng sử dụng lao động tại SHB để từ đó đưa ra
những giải pháp để giúp ngân hàng sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nhằm làm rõ thực trạng về quy mô, cơ cấu và biến động lao động giai đoạn 2008 – 2012 tại SHB; nghiên cứu phương pháp đánh giá hiệu suất sử dụng thời gian lao động tại SHB hiện nay; đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sử dụng lao động tại SHB để đáp ứng nhu cầu phát triển của ngân hàng trong thời gian tới
Trang 21 Những kết quả đã đạt được của luận văn
Dựa trên những cơ sở lý luận của luận văn về lao động và thống kê lao động, kết hợp với các phương pháp thống kê đã được sử dụng để phân tích và đánh giá thực trạng tình hình sử dụng lao động tại ngân hàng SHB, tác giả đã nghiên cứu và rút ra được những kết quả chính của luận văn như sau:
1.1 Về thống kê quy mô và cơ cấu lao động tại SHB giai đoạn 2008 –
2012
Luận văn đã thống kê được quy mô lao động, biến động quy mô lao động của ngân hàng trong giai đoạn 2008 – 2012 Trước việc không ngừng gia tăng mạng lưới hoạt động, ngân hàng đã tập trung phát triển nhân sự phù hợp, tạo nguồn lực để phục vụ tốt nhất cho hoạt động kinh doanh Trong những năm 2008 – 2011, số lượng lao động của SHB tăng qua các năm và có sự biến động tương đối ổn định
Từ 844 cán bộ nhân viên tại thời điểm cuối năm 2008, chỉ trong vòng 03 năm số lượng nhân sự đã tăng gấp khoảng 03 lần lên 2595 cán bộ nhân viên tính đến 31/12/2011 Tốc độ tăng quy mô lao động phù hợp và đáp ứng được nhu cầu mở rộng mạng lưới của ngân hàng Trong năm 2012, SHB đã thực hiện sáp nhập thành công với ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội (Habubank), đưa ngân hàng vươn lên trở thành một trong 10 ngân hàng TMCP lớn nhất Việt Nam với vốn điều lệ trên 8.800
tỷ đồng, tổng tài sản đến hết năm 2012 đạt trên 116 nghìn tỷ đồng, mạng lưới kinh doanh được mở rộng với gần 300 điểm giao dịch, nhân sự hơn 4000 cán bộ nhân viên Đây là một lợi thế quan trọng để ngân hàng có thể đẩy nhanh kế hoạch phát triển trong tương lai
Luận văn cũng đã thống kê và phân tích cơ cấu lao động của ngân hàng theo bốn tiêu chí là giới tính, nhóm tuổi, trình độ học vấn và thâm niên Cơ cấu lao động theo giới tính của ngân hàng trong giai đoạn 2008 – 2012 được duy trì ở tỷ lệ tương đối ổn định với tỷ lệ nữ giới chiếm trên 55% tổng số lao động và ngày càng có xu hướng gia tăng, thể hiện đúng xu hướng lao động trong lĩnh vực ngân hàng những
Trang 3năm qua tại Việt Nam Cơ cấu lao động theo nhóm tuổi nhìn chung cũng không có
sự biến động lớn, lao động trong độ tuổi dưới 35 chiếm tỷ trọng khoảng trên 60% trong đó tỷ lệ lao động trong độ tuổi từ 25 – 35 chiếm khoảng 30 – 40% tổng số lao động của ngân hàng, mức độ gắn bó của lao động với ngân hàng tương đối cao chính là động lực để xây dựng và phát triển ngân hàng năng động, chuyên nghiệp trong thời gian tới Lao động tại SHB có trình độ học vấn chủ yếu từ Đại học trở lên, chiếm 80% tổng số lao động, phản ánh thực tế tuyển dụng cũng như chất lượng lao động của ngành ngân hàng nói chung Về cơ cấu theo thâm niên, đa phần lao động của SHB có thâm niên từ dưới 05 năm trở xuống, chiếm tới khoảng trên 80% trong tổng số lao động, trong đó số lao động có thâm niên từ 1 – 3 năm chiếm tỷ lệ lớn nhất
Việc phân tích cơ cấu lao động giúp có được đánh giá tổng quan về trình độ, chất lượng lao động của ngân hàng Bên cạnh đó, cơ cấu lao động cũng phản ánh được mức độ biến động lao động của ngân hàng, từ đó có đánh giá khách quan về nguyên nhân của những biến động có thể do những chính sách về đào tạo, đãi ngộ
mà ngân hàng đang sử dụng để phát triển nhân sự cũng như giữ chân đội ngũ cán bộ nhân viên chủ chốt
1.2 Về thống kê biến động lao động tại SHB giai đoạn 2008 – 2012
Luận văn đã thống kê số lượng lao động nghỉ việc và số lượng lao động tuyển dụng mới, từ đó tính toán các chỉ tiêu phản ánh biến động lao động tại SHB trong giai đoạn 2008 – 2012 Hệ số thay đổi lao động trong giai đoạn 2008 – 2011 của SHB đều lớn hơn 1 phản ánh số lao động tuyển dụng mới đủ để bù đắp số lao động nghỉ việc và đáp ứng nguồn nhân lực cho phát triển kinh doanh Tuy nhiên, năm 2012 hệ số thay đổi lao động thấp hơn 1 do số lượng lao động nghỉ việc đã tăng nhanh chỉ trong 3 tháng cuối năm, ngoài ra SHB chủ trương hạn chế tuyển dụng bên ngoài để cắt giảm chi phí nên số lượng lao động tuyển mới không đủ đề
bù đắp số lượng lao động nghỉ việc Trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn cùng với
Trang 4vấn đề sử dụng nhân sự có hiệu quả sau sáp nhập, SHB cần tiến hành cơ cấu lại đội ngũ lao động, nâng cao năng suất lao động thay vì tuyển mới để tiết kiệm chi phí, đồng thời có những chính sách đãi ngộ để giữ chân những lao động có năng lực
1.3 Về thống kê năng suất lao động tại SHB giai đoạn 2008 – 2012
Luận văn đã tính toán được chỉ tiêu năng suất lao động và năng suất lao động cận biên chung cho toàn Ngân hàng trong giai đoạn 2008 – 2012 theo tổng thu nhập hoạt động và lợi nhuận trước thuế; sử dụng phương pháp hệ thống chỉ số để phân tích biến động của năng suất lao động do ảnh hưởng của các nhân tố và tác động của năng suất lao động đến các chỉ tiêu tổng thu nhập hoạt động, lợi nhuận trước thuế của ngân hàng Nhìn chung, năng suất lao động trong những năm qua có sự tăng trưởng nhưng tốc độ tăng có xu hướng giảm dần Nguyên nhân chính là do tình hình kinh tế khó khăn làm tốc độ tăng doanh thu, lợi nhuận trước thuế chậm lại; trong khi đó lao động lại có sự tăng trưởng lớn hơn đã dẫn tới năng suất lao động chung của ngân hàng có xu hướng giảm Đặc biệt trong năm 2012, số lượng lao động đã tăng nhanh chóng do việc sáp nhập với Habubank mang lại, đặt ra cho ngân hàng khó khăn trong công tác bố trí sắp xếp nhân sự sao cho có hiệu quả Việc nâng cao năng suất lao động chính là tiền đề để ngân hàng có thể phát triển bền vững, do
đó trong thời gian tới ngân hàng thay vì mở rộng phát triển số lượng lao động thì cần có biện pháp tái cơ cấu nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu kinh doanh
1.4 Đánh giá và đề xuất phương pháp đo lường hiệu quả sử dụng thời
gian lao động tại SHB
Ngoài những phân tích về thống kê lao động, luận văn cũng đã nêu ra và đánh giá công tác đo lường hiệu suất sử dụng thời gian lao động mới được ngân hàng triển khai thực hiện gần đây, chỉ ra những hạn chế trong phương pháp đo lường và sử dụng kết quả đo lường:
Trang 5- Việc đo lường thời gian lao động căn cứ trên bản mô tả công việc cho từng
vị trí chức danh Tuy nhiên, SHB chưa ban hành được đầy đủ quy trình các bước công việc cụ thể cho từng vị trí chức danh, đặc biệt đối với các vị trí không kinh doanh trực tiếp, do đó khi thực hiện liệt kê các bước công việc trong biểu mẫu đo lường thời gian lao động không có sự thống nhất
- Kết quả đo lường thời gian lao động có sự chênh lệch khá lớn tại cùng vị trí chức danh, mặt khác SHB chưa xây dựng được hệ thống chỉ tiêu KPI nên kết quả đo này còn rất nhiều bất cập và thiếu chính xác
- Kết quả đo lường mới chỉ dừng lại ở việc thống kê số lượng lao động hoàn thành thời gian lao động tiêu chuẩn mà chưa được sử dụng để tiến hành phân tích giúp đưa ra chính sách nhân sự
Từ đó, tác giả đã đề xuất cách thức đo lường hiệu suất sử dụng thời gian lao động tại vị trí giao dịch viên của ngân hàng và vận dụng kết quả đó để xây dựng mô hình hồi quy đánh giá hiệu quả sử dụng thời gian lao động của Giao dịch viên ngân hàng SHB
2 Những hạn chế của luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã rút ra một số hạn chế của luận văn như sau:
- Do thực trạng công tác quản trị nhân sự tại SHB hiện nay, việc thống kê lao động không được thực hiện đầy đủ và đúng cách nên số liệu tác giả thu thập để phân tích còn nhiều hạn chế: các mức độ của dãy số thời gian còn ít (5 năm), mới chỉ thống kê được số lượng lao động tại thời điểm cuối mỗi năm trong giai đoạn từ 2008 – 2012, do đó chưa thể thực hiện được những phân tích thống kê sâu cũng như sử dụng được nhiều phương pháp thống kê khác
Trang 6- Về tính toán và phân tích chỉ tiêu năng suất lao động: do hạn chế về số liệu nên tác giả mới chỉ tính toán được chỉ tiêu năng suất lao động chung cho cả ngân hàng, chưa tính toán được năng suất lao động cụ thể đối với từng nhóm lao động, từng chức danh lao động để có thể so sánh và đánh giá chính xác hơn nữa về chất lượng lao động, hiệu quả sử dụng lao động tại SHB
Với những kết quả thu được cũng như những hạn chế đã chỉ ra, tác giả hy vọng luận văn có thể có những đóng góp nhất định trong công tác quản trị nhân sự của ngân hàng, giúp ngân hàng thấy được tầm quan trọng của công tác thống kê lao động để tiến hành tổ chức thực hiện thống kê lao động định kỳ phục vụ quá trình ra quyết định quản trị trong tương lai