NGUYỄN VIẾT QUANG NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG THUỘC VÙNG ĐỆM KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NAM KAR Ở HUYỆN LĂK – ĐĂK LĂK LUẬN VĂN THẠC SĨ KH
Trang 1NGUYỄN VIẾT QUANG
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG THUỘC VÙNG ĐỆM KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN NAM KAR Ở HUYỆN LĂK – ĐĂK LĂK
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Tây, năm 2007
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN VIẾT QUANG
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG THUỘC VÙNG ĐỆM KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN NAM KAR Ở HUYỆN LĂK – ĐĂK LĂK
Chuyên ngành: LÂM HỌC
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS -TS: Trần Hữu Viên
Hà Tây, năm 2007
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý báu mà thiên nhiên
đã ban tặng cho con người Ngoài giá trị kinh tế, rừng còn có tác dụng cung cấp các loại dược liệu cho y học để phục vụ sức khỏe con người Đặc biệt rừng còn có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế lũ lụt, Tài nguyên rừng là một loại tài nguyên có khả năng tái tạo nếu như nó nhận được những tác động hợp lý theo hướng có lợi của con người
Vùng miền núi và gò đồi chiếm 3/4 diện tích của cả nước, được mệnh danh là tấm lá chắn bảo vệ cho vùng đồng bằng và ổn định môi trường nói chung Đây là khu vực cư ngụ của hầu hết các dân tộc thiểu số và cũng là nơi chiếm tỷ lệ nghèo đói cao nhất của cả nước Đăk Lăk là tỉnh nằm trong khu vực Tây nguyên có địa hình đồi núi phức tạp và chia cắt mạnh Huyện Lăk là nơi có vườn quốc gia Chư Yang Sin, Rừng văn hoá lịch sử môi trường Hồ Lăk, khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar là nơi có hệ động, thực vật đa dạng và phong phú chính vì vậy cần phải được quan tâm đúng mức
Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar được thành lập vào năm 1991 với tổng diện tích 24.555ha Diện tích vùng lõi nằm trên địa bàn huyện Lăk tỉnh Đăk Lăk Diện tích vùng đệm: có 05 Xã, thuộc huyện Lăk và huyện Krông Na tỉnh Đăk Lăk Việc thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ các hệ sinh thái rừng theo đai độ cao, bảo tồn các nguồn gen động, thực vật quý hiếm Khu hệ thực vật ở đây rất đa dạng và phong phú,
có cả các loài thực vật nhiệt đới và ôn đới Do đó nó còn có chức năng phòng
hộ, điều tiết nguồn nước cho sông Mêkông Tuy nhiên, trong vấn đề quản lý, bảo vệ rừng ở các khu rừng đặc dụng còn gặp rất nhiều khó khăn Bởi khu vực này còn có nhiều cộng đồng dân cư với các dân tộc khác nhau như: M’nông, Êđê, Gia rai, Kinh, Thái, Tày Sinh kế của người dân còn phụ thuộc nhiều vào rừng Hậu quả là tài nguyên rừng ngày càng bị cạn kiệt, diện tích rừng tự nhiên
có xu hướng không tăng Vấn đề là làm thế nào để quản lý tài nguyên rừng (đặc biệt các vùng nhạy cảm dễ bị phá vỡ, vùng phòng hộ xung yếu) đồng thời nhằm góp phần vào ổn định đời sống của người dân và phát triển bền vững đất nước
Trang 4Hiện nay, Chính phủ có nhiều cố gắng trong việc bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, không những thực hiện việc cấp vốn cho việc trồng rừng mà còn ban hành Quyết định, Nghị định, hay văn bản nhằm hạn chế nạn phá rừng và di dân tự do Tuy nhiên, cách tiếp cận trong quá trình thực hiện còn mạng nặng hình thức từ trên dội xuống, áp đặt (quản lý tập trung), sự tham gia của các bên trong việc quản lý tài nguyên rừng còn rất hạn chế Cách nhìn nhận của cộng đồng địa phương, nhà nghiên cứu, các nhà quản lý và các cơ quan phát triển
trong việc tiếp cận quản lý tài nguyên có sự tham gia vẫn còn sự khác biệt
Do vậy, để bảo vệ gìn giữ những giá trị tài nguyên rừng và động, thực vật quý hiếm trong vùng lõi khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar cần phải có những nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia ở vùng đệm, phục hồi nguồn tài nguyên rừng và nâng cao đời sống kinh tế cho dân trong vùng đệm là điều rất cần thiết
Để góp phần tìm ra những giải pháp quản lý tài nguyên rừng bền vững ở vùng đệm của các khu rừng đặc dụng nói chung và ở vùng đệm khu bảo tồn
thiên nhiên Nam Kar nói riêng chúng tôi tiến hành đề tài : “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng thuộc
vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar ở huyện Lăk -Đăk Lăk”
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN HỆ THỐNG VÀ PTCĐ
1.1.1 Phương pháp luận tiếp cận hệ thống và các hình thức tham gia trong QLTN bền vững
Trong những năm gần đây thực tế về quản lý tài nguyên rừng đặt ra cho chúng ta những cách nhìn mới Làm thế nào để quản lý bền vững nguồn tài nguyên hiện có và phát triển mới nhằm không ngừng nâng cao độ che phủ của rừng, bảo tồn nguồn tài nguyên quý giá Chính vì vậy chúng ta phải có cách tiếp cận mới
có mối quan hệ hữu cơ với nhau [32] Hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau, có quan hệ và tác động qua lại với nhau Một hệ thống
có thể xác định như một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính được liên kết tạo thành một chỉnh thể và nhờ đó đặc tính mới gọi là "tính trồi"émergence) của hệ thống [23], [34]
J.L.Lemoinge (1978) cho rằng: "hệ thống là một đối tượng vận động, có cấu trúc, có diễn biến so với những mục đích trong một môi trường nhất định" Khái niệm này nhấn mạnh đặc tính cần làm sáng tỏ của hệ thống là: cấu trúc, quan hệ, động thái và môi trường bao quanh [42]
Theo Đào Thế Tuấn (1988) quan điểm hệ thống là phương pháp nghiên cứu khoa học, là sự khám phá đặc điểm của hệ thống bằng cách nghiên cứu hệ thống bản chất và đặc tính của các mối tương tác qua lại giữa các thành tố [33]
Lý thuyết về hệ thống nhấn mạnh đến sự cần thiết của cách nhìn mọi sự việc và hiện tượng như một thể thống nhất, chứ không phải con số cộng đơn thuần của các hợp phần rời rạc, có sự tác động lẫn nhau giữa các thành phần trong quá trình vận động từ đầu vào đến đầu ra và có sự phân cấp thứ bậc Như
Trang 6vậy có thể thấy mọi hệ thống đều là một phần của hệ thống lớn hơn và đến lượt mình lại gồm nhiều hệ thống nhỏ hợp thành Lý thuyết hệ thống ngày càng được ứng dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực khoa học để phân tích và giải thích các mối quan hệ tương hỗ Trong thời gian gần đây tiếp cận hệ thống đã được áp dụng và phát triển trong nghiên cứu nông lâm nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên [20], [32], [41]
Theo N Jameison (1996), nếu chúng ta tách riêng từng bộ phận và nghiên cứu từng bộ phận một thì dù nghiên cứu tỷ mỹ đến đâu, đấy cũng chưa phải là
tư duy hệ thống Vấn đề chính là quan hệ mà không phải là bộ phận Toàn bộ hệ
thống hơn tổng số các bộ phận bởi vì hệ thống có tổ chức Như vậy các tác giả đều thống nhất rằng vấn đề chính trong hệ thống là quan hệ của các thành tố Ngoài những yếu tố bên trong, các yếu tố bên ngoài hệ của thống không nằm trong hệ thống nhưng có tác động tương tác với hệ thống gọi là yếu tố môi trường Những yếu tố môi trường tác động lên hệ thống là yếu tố "đầu vào", còn những yếu tố môi trường chịu sự tác động trở lại của hệ thống là yếu tố "đầu ra" [20], [32], [34]
Trong thực tiễn nghiên cứu hệ thống có hai phương pháp cơ bản: thứ nhất nghiên cứu hoàn thiện hoặc cải tiến một hệ thống đã có sẵn Điều đó có nghĩa là dùng phương pháp phân tích hệ thống nhằm tìm ra điểm "hẹp" hay chỗ "thắt lại" của hệ thống, đó là chỗ có ảnh hưởng không tốt, hạn chế đến hoạt động của hệ thống, cần được sửa chữa, khai thông để cho hệ thống hoàn thiện hơn, có hiệu quả hơn Thứ hai nghiên cứu xây dựng hệ thống mới Đây là phương pháp vĩ mô, đòi hỏi có sự tính toán, cân đối kỹ càng [30], [35]
Đề tài: “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng thuộc vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Nam
Kar ở huyện Lăk -Đăk Lăk” sẽ thực hiện phương pháp thứ nhất, nghĩa là
dùng phương pháp tiếp cận hệ thống để tìm ra điểm "thắt lại" của hệ thống tức là tìm những yếu tố hạn chế ảnh hưởng đến hệ thống quản lý tài nguyên hiện tại, từ
đó tác động tạo "tính chồi" thúc đẩy hệ thống phát triển với các mục tiêu, nguồn lực "đầu vào", cấu trúc hệ thống và yếu tố "đầu ra"
Trong phát triển xã hội người ta nói nhiều đến thuật ngữ “Định chế” (institution) bao hàm một khái niệm rộng rãi Một mặt nó diễn đạt các hệ thống
Trang 7giá trị, luật lệ, qui tắc, qui chế, thành văn hay bất thành văn được các thành viên của một nhóm người nào đó tôn trọng và tuân thủ
1.1.2.Vùng đệm, lý thuyết phát triển và QLR cộng đồng
Vùng đệm và vấn đề quản lý vùng đệm: Những năm gần đây, khái
niệm vùng đệm (Buffer zone) của các Khu bảo tồn thiên nhiên bắt đầu được chú ý Trước thực tế các khu bảo tồn thiên nhiên bị xuống cấp do bị tác động trên nhiều lĩnh vực Trong quá trình hình thành hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam, suốt một thời gian dài, hệ thống vùng đệm chưa được quan tâm một cách đúng mức
Đến năm 1993 Bộ Lâm nghiệp mới có văn bản số 1586 LN/KL ngày 13/7/1993 qui định về quản lý và sử dụng các vùng đệm của vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên Tuy nhiên cho đến năm 1999 vẫn chưa có quy chế quản lý vùng đệm, quy định rõ ranh giới, về trách nhiệm quản lý, về mối quan
hệ giữa ban quản lý Khu bảo tồn do vậy hiện trạng hiện có các Khu bảo tồn thiên nhiên thường không thống nhất, không dựa trên những tiêu chí thống nhất và thiếu những thể chế quản lý rõ ràng [2]
Khái niệm về vùng đệm: Là khu vực có rừng hay không có rừng, nằm
sát ranh giới khu bảo tồn thiên nhiên, có diện tích, ranh giới rõ ràng, thuộc quyền quản lý của chính quyền địa phương, các đơn vị kinh tế đóng trên địa bàn Vùng đệm được thành lập nhằm nâng cao đời sống, văn hóa của nhân dân địa phương và lôi cuốn họ tham gia tích cực vào công tác bảo vệ khu bảo tồn [2]
Ranh giới của vùng đệm: Nên lấy ranh giới hành chính xã của các xã
bao quanh khu bảo tồn Đối với những xã có diện tích lớn hơn 10.000 ha thì chỉ có thể chọn những thôn cận kề với với khu bảo tồn [2]
Chức năng của khu vùng đệm: Có vai trò như một chiếc áo giáp bảo
vệ cho vùng lõi (khu bảo tồn thiên nhiên) Muốn làm tốt vấn đề này chỉ có con đường hợp tác chặt chẽ với cộng đồng dân cư ở vùng đệm, có những chính sách phù hợp, lôi kéo họ tham gia các hoạt động bảo tồn, giải quyết những nhu cầu cấp bách của họ mà không gây nguy hại đến mục tiêu của khu bảo tồn [2]
Khái niệm về phát triển cộng đồng: Khái niệm về phát triển cộng đồng
được bắt đầu vào thập kỷ 50 và đã trải qua nhiều giai đoạn Năm 1970 Liên hiệp quốc đánh giá thập niên phát triển, kết quả cho thấy có nhiều tiến bộ rõ rệt
Trang 8như sự thay đổi bộ mặt nông thôn nhưng cũng bộc lộ những hạn chế nhất định mới chỉ tạo nên những vỏ xác của cơ sở hạ tầng, chưa đáp ứng nhu cầu người dân Sự tham gia của người dân theo nghĩa đích thực, nghĩa là vào quá trình ra quyết định, phát huy sáng kiến còn rất hạn chế Một bài học đáng ghi nhớ là sự thất bại tất yếu của cách làm ồ ạt theo phong trào, áp dặt từ trên xuống Sau đó phương hướng cơ bản của phát triển cộng đồng nhấn mạnh đến sự tham gia của quần chúng, cần phải xây dựng các thiết chế xã hội là công cụ, môi trường cho sự tham gia đồng thời nhấn mạnh đến thay đổi nhận thức, hành vi, sự chuyển biến về tổ chức và năng lực cho cộng đồng [20]
Cũng theo tác giả nguyên tắc của phát triển cộng đồng là phải khơi dậy tính nội sinh (endogène) hay nội lực từ bên trong cộng đồng, sự hỗ trợ bên ngoài là cần thiết nhưng chỉ là chất xúc tác, mọi chương trình hành động phải
do cộng đồng tự quyết [20]
Quản lý rừng cộng đồng: Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là một trong
những loại hình quản lý rừng trên cơ sở tham gia và quyết định từ cộng đồng nhằm phát triển rừng bền vững Điều quan trọng là hệ thống quản lý phải dựa trên tình hình cụ thể ở mỗi địa phương Việc quản lý rừng dựa vào cộng đồng phải được áp dụng và kết hợp hài hoà với các thành phần liên quan khác (quản
lý của Nhà nước, của tập thể hay của tư nhân) [39]
- Rừng cộng đồng là một kiểu quản lý rừng thích hợp cho những vùng có điều kiện như:
+ Vùng sâu vùng xa, cuộc sống người dân địa phương phần lớn phụ thuộc vào rừng
+ Vùng cao với cơ sở hạ tầng thấp kém Việc quản lý đất rừng cũng nên
áp dụng một cách linh hoạt và thích hợp để phù hợp với nhu cầu và điều kiện
cụ thể ở từng địa phương
+ Có kiến thức bản địa và truyền thống tổ chức cộng đồng cao
+ Có sự quan tâm của cộng đồng trong quản lý nguồn tài nguyên vì lợi ích chung và có thể được phát hoạ một cách rõ ràng
Cộng đồng thôn buôn đóng vai trò quan trọng trong sự khôi phục và bảo
vệ rừng Các tổ chức thôn buôn đã thực sự mang lại lợi ích cho cộng đồng của mình thông qua thực hiện một cách hiệu quả các luật lệ bảo vệ rừng ở thôn
Trang 9buôn (Nguyễn Hải Nam và những người khác, 2000) [40] Hơn nữa rừng thực
sự có khả năng phục hồi trong một chu kỳ nương rẫy của dân tộc thiểu số Điều này cho thấy kinh nghiệm của đồng bào trong canh tác nương rẫy theo chu kỳ là rất quý báu, rừng và đất rừng được phục hồi tốt trước khi trở lại chu
kỳ sau, đảm bảo tính ổn định trong hệ sinh thái canh tác nương rẫy, đất đai được sử dụng khép kín (Bảo Huy, 1998) [12]
1.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC
Trong phát triển lâm nghiệp hiện nay, người ta bàn nhiều đến lâm nghiệp
xã hội hay lâm nghiệp cộng đồng Thuật ngữ đó được dùng cho bất cứ việc quản lý rừng nào Trong lâm nghiệp xã hội người ta đặt nặng đến sự tham gia của các bên trong quản lý tài nguyên
Theo Diakite (1978) để đánh giá sự tham gia cần chú ý đến 4 khía cạnh: 1) Mức độ thông tin (information) tức mỗi cá nhân nhận biết được 2) Mức độ thái độ (attitudes) hay tư duy tức là những gì thuộc về thái độ của mỗi cá nhân, cách thức mà cá nhân quyết định đối với các hành động chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi 3) Các nguyện vọng (aspirations), tức những gì mà mỗi cá nhân mong muốn trong việc cải thiện cuộc sống vật chất và tinh thần của mình và gia đình mình Xét ở tầm mức xã hội, nguyện vọng của một tổ chức có thể là thực hiện tốt nhất các nhiệm vụ hay sứ mạng của họ 4) Các hành vi tức là những gì mà mỗi cá nhân làm Hành vi bị chi phối bởi thông tin mà các nhóm liên quan thu được, thái độ và nguyện vọng của họ [8]
Khi đề cập đến các cấp độ tham gia của cộng đồng trong quá trình hình thành các giải pháp trong quản lý tài nguyên Briggs (1989) phân chia thành 4 cấp theo mức độ tăng dần như sau: Cấp độ hợp đồng, tham vấn, hợp tác và tự giác Cấp độ tự giác là một tiến trình phát triển cao nhất trong quá trình tham gia của tiến trình phát triển [8]
Các hệ thống quản lý rừng địa phương bao gồm có một số dạng: quản lý theo nương rẫy bỏ hóa, quản lý rừng tại môi trường miền núi, quản lý rừng trong môi trường bán khô hạn Quản lý rừng gắn với nguồn nước thôn bản và quản lý các lùm cây thiêng liêng và các hệ tương tự Các hệ thống quản lý rừng gắn với bên ngoài :
Trang 10Ở Inđônexia trong những năm 1920 theo dưới sự cai trị của người Hà Lan, người ta cố gắng đưa vào Inđônexia những kế hoạch quản lý tài nguyên rừng công cộng chính quy theo khuôn khổ hệ thống marga Đó là một pháp nhân địa phương đã được tạo lập tại một vài nơi ở đảo Sumatra, chịu trách nhiệm về điều hành sử dụng đất Việc quản lý của marga gồm: 1) Điều hành sử dụng đất, như giao việc bảo vệ các khu rừng để sử dụng trong tương lai và sản xuất gỗ cho các làng cụ thể 2) Kiểm tra việc phân bổ đất đai nương rẫy.3) Kiểm tra việc chăn thả đại gia súc.4) Kiểm tra việc khai thác rừng: bất cứ thành viên nào của marga đều có quyền dành một số cây để trích nhựa, trích dầu hoặc lấy mật ong bằng cách đánh dấu vào cây và phát quang xung quanh cây, người ngoài cuộc đều phải xin phép để thu hái những sản phẩm đó và thường phải trả một lệ phí cho hội đồng marga bằng một phần ba giá trị [10]
Ở Ấn Độ, những việc làm gần đây được tiến hành ở nhiều bang ở Ấn
Độ, cùng với nhà tài trợ trong và ngoài nước đã xúc tiến các kế hoạch xây dựng lâm nghiệp xã hội thông qua kế hoạch quản lý tài nguyên công cộng, mục tiêu của từng cách thiết kế dự án có khác nhau và lẽ tất nhiên là những ảnh hưởng và lợi ích của chúng cũng vậy Đặc trưng của những dự án thực hiện tại vùng đồi núi ấn Độ đã đưa ra các nhận xét: Diện tích rừng của Nhà nước đưa vào các dự án khá lớn, thường vào khoảng 1 ha cho mỗi hộ gia đình Nhà nước đóng vai trò chủ yếu trong việc qui định và bảo vệ các ranh giới diện tích rừng chống lại việc sử dụng và xâm lấn từ bên ngoài Phần lớn các qui tắc
để sử dụng rừng đều do các nhóm trong thôn bản đưa ra và chúng rất khác nhau giữa các thôn bản.Việc thu hoạch lâm sản nói chung được kiểm tra bằng những qui tắc giản đơn về thời gian, công cụ được phép sử dụng, và số lượng thành viên hộ gia đình tham gia Lệ phí nếu có, được thu dựa trên cơ sở hộ gia đình chứ không theo số lượng thu hoạch Lệ phí thu được thường dùng để trả công cho người gác rừng Phần lớn tại các thôn bản, tất cả các hộ đều có dạng
sử dụng tài nguyên giống nhau và tất cả đều dùng tài nguyên sở hữu công cộng, tổ chức quản lý địa phương được hình thành theo nhóm sử dụng của dân làng chứ không dựa trên cấp hành chính thôn bản chính qui [10]
1.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC: Ở Việt Nam tư duy hệ thống
và nghiên cứu có sự tham gia mới được quan tâm trong những năm gần đây
Trang 11Muốn quản lý tốt tài nguyên thiên nhiên thì không chỉ có các cơ quan Nhà nước vào cuộc mà phải có sự tham gia của nhiều bên Đồng thời phải có hệ thống chính sách phát triển lâm nghiệp phù hợp, làm đòn bảy cho sự chuyển đổi cơ chế quản lý Đầu tiên phải kể đến một số quyết định sau:
Nghị định 01/CP ngày 04/01/1995 của Chính phủ về giao khoán rừng tự nhiên cho các tổ chức cá nhân và các tổ chức Nêu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của đối tượng nhận khoán Đồng thời nêu rõ thời gian giao khoán cho các đối tượng tối đa là 50 năm Tuy nhiên theo Nghị định này thì việc giao khoán chỉ dừng lại ở các hộ gia đình và cá nhân, chưa gắn chặt quyền lợi của người dân vào rừng hơn nữa công tác xác định hiện trạng rừng trước khi giao là một vấn
đề hết sức trở ngại nhưng rất quan trọng
Nghị định 163/1999/CP ngày 16/11/1999 về việc giao đất, cho thuê đất
là các tổ chức, hộ gia đình sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Theo nghị định này nội dung đã phân cấp rõ trách nhiệm của UBND các cấp trong giao đất và thành quả cuối cùng là cấp sổ đỏ và mở rộng đối tượng nhận khoán
là các tổ chức
Để tăng cường vai trò của các cấp tham gia vào quản lý tài nguyên rừng Chính phủ đã ra văn bản quyết định 245/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện phân cấp quản lý và vai trò của các bên trong quản lý tài nguyên Tuy nhiên theo quyết định này thì trên cùng một địa phương Sở nông nghiệp và PTNT và Sở Địa chính đều quản lý Nhà nước về đất lâm nghiệp ( khoản 2,4 điều 4 của QĐ 245) Mặc dù đã có những phân cấp nhưng chưa xác định rõ ràng, cụ thể về quyền hạn của các cấp
Quyết định 08/2001/QĐ-TTg ngày 11/01/2001 của Thủ tướng Chính phủ về qui chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng tự nhiên là rừng sản xuất Quy chế này đã được sửa đổi bổ sung bằng quy chế mới tại quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng
Theo quyết định 178/2001/QĐ-TT ngày 12 tháng 11 năm 2001 qui định
về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được các tổ chức Nhà nước khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng Quyết định nêu rõ nội dung được hưởng lợi khi giao rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất
Trang 12Quyết định số 49/2006/QĐ-UBND, ngày 06/11/2006 của UBND tỉnh Đăk Lăk về việc ban hành quy định mức hưởng lợi của hộ gia đình, cá nhân cộng đồng thôn, buôn được giao, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp theo quyết định số: 178/2001/QĐ-TTg, ngày 12/11/2001
Quyết định 304/2005/QĐ-TTg ngày 23/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ, cộng đồng trong buôn làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chổ ở các tỉnh Tây Nguyên
Nhìn chung các chính sách nêu trên tuy ra đời có muộn, mặc dù có những điều còn chồng chéo với một số văn bản của Bộ ngành liên quan nhưng đã thực
sự làm cơ sở pháp lý để thực hiện việc quản lý tài nguyên có hiệu quả hơn
Theo Bảo Huy (1998), để đánh giá hiện trạng quản lý rừng và đất rừng làm cơ sở đề xuất sử dụng tài nguyên rừng bền vững ở Đăk Lăk Tác giả đã thu thập, phân tích biến động tài nguyên rừng, biến động cấu trúc rừng và tính chất đất rừng sản xuất qua quá trình khai thác để đề xuất quản lý, sử dụng tài nguyên rừng, đất rừng phù hợp với quan điểm phát triển bền vững [12]
Theo Vũ Đăng Bút (1999), khẳng định vùng núi phía Bắc tại xã Lũng
Pù, huyện Mèo Vạc, Hà Giang chỉ có giao đất giao rừng cho người dân khoanh nuôi bảo vệ, đồng thời lấy ngắn nuôi dài kết hợp với chăn nuôi tạo thu nhập để
hỗ trợ cho phát triển lâm nghiệp thì rừng mới có khả năng giữ nước và giữ được rừng [1]
Theo Ngô Đức Hiệp (1999), nghiên cứu về các giải pháp nhằm quản lý rừng bền vững ở đồng bằng sông Cửu Long đã đưa ra 5 giải pháp trong quản lý như: 1) Qui hoạch rõ ràng và ổn định diện tích rừng và đất lâm nghiệp giành cho sản xuất trên đất phèn ĐBSCL 2) Lập và tổ chức thực hiện phương án sản xuất kinh doanh rừng theo luân kỳ ổn định 3) Thực hiện các biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng sản xuất trên đất phèn 4) Đào kênh mương đắp bờ bao
và làm trạm bơm nước 5) Xây dựng mô hình quản lý bền vững rừng sản xuất trên đất phèn Tác giả còn khẳng định để xây dựng mô hình bền vững cần giao cho hộ gia đình đất rừng để các hộ kinh doanh kết hợp với sản xuất nông nghiệp làm tăng thu nhập [11]
Theo Nguyễn Bá Ngãi (2006), Lâm nghiệp cộng đồng là một sự can thiệp phát triển với các hình thức từ tư vấn cho nông dân trước khi thực hiện
Trang 13dự án đến sự công nhận quyền kiểm tra và quản lý các nguồn tài nguyên rừng của địa phương Nhà nước hình thành các vùng đệm cho các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên Tại các vùng đệm cộng đồng địa phương được quyền tham gia tổ chức và quản lý nguồn tài nguyên của họ [19]
Theo Trần Hữu Viên (2005), Sự tham gia của người dân vào việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn xã, thôn bản đặc biệt là ở những vùng nông thôn miền núi là hết sức cần thiết Chỉ có những người dân đã từng bao đời sống tại địa phương mới hiểu đầy đủ mảnh đất mà họ đang sinh sống, mới hiểu rõ hơn phải sử dụng mảnh đất của họ như thế nào để mang lại hiệu quả cao và đáp ứng yêu cầu nguyện vọng của họ [36]
Nhìn chung các nghiên cứu trước đây đã tách rời việc nghiên cứu cấu trúc rừng và việc sử dụng bền vững tài nguyên rừng vùng đệm, các khu rừng đặc dụng Tuy nhiên việc nghiên cứu về quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng liên quan giữa người dân sống gần rừng, chính quyền địa phương, các đơn vị quản lý rừng và các nhà khoa học chưa được thực hiện nhiều trong khu vực Do đó, việc nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên rừng cho vùng đệm là việc làm thiết thực góp phần nâng cao đời sống kinh tế ổn định của người dân ở vùng đệm Đặc biệt là nghiên cứu cho một vùng đệm cụ thể như ở Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar, huyện Lăk, tỉnh Đăk Lăk
Trang 14Đề xuất mô hình quản lý tài nguyên rừng và sử dụng đất bền vững góp phần cải thiện đời sống người dân
Đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế xã hội ở vùng đệm nhằm giảm áp lực đến rừng vùng đệm và vùng lõi của khu BTTN Nam Kar
2.2 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar gồm 5 xã, nằm ở hai huyện Lăk và Krông Na Để tập trung nguồn lực và phục vụ cho nghiên cứu, đồng thời mang tính đại diện cho vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên, đối với mô hình quản lý rừng chúng tôi chọn xã Đăk Nuê là xã đại diện để chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu trong thời gian từ tháng 6/2006- 7/2007 với các nội dung: nghiên cứu quá trình quản lí sử dụng tài nguyên rừng ở vùng đệm và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế xã hội các xã vùng đệm ở huyện Lăk
Do điều kiện nghiên cứu có hạn nên các giải pháp được đề xuất chỉ dừng lại ở mức độ định hướng, tổng thể và đề xuất một số mô hình
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Hiện trạng khu vực nghiên cứu
- Hiện trạng khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar và vùng đệm
+ Ví trí địa lý, ranh giới, diện tích, ranh giới hành chính
+ Lược sử hình thành khu bảo tồn và các xã vùng đệm
+ Địa hình, địa chất, thổ nhưỡng khí hậu thủy văn, tài nguyên rừng
- Hiện trạng sử dụng đất nông lâm nghiệp
Trang 15- Tình hình kinh tế - xã hội của vùng đệm
Nhu cầu về đất đai để phát triển trồng rừng của cộng đồng
- Hiện trạng về môi trường :
- Những thuận lợi – khó khăn
- Những thách thức hiện tại và thời gian tới đến quản lý bảo vệ rừng
2.3.3 Ảnh hưởng của ĐKTN-KTXH đến QLR bền vững vùng đệm 2.3.4 Ảnh hưởng của một số chính sách của Nhà nước
2.3.5.Đề xuất các giải pháp QLR bền vững ở vùng đệm
- Đề xuất mô hình thử nghiệm về quản lý tài nguyên rừng có sự
tham gia và sử dụng đất bền vững
- Đề xuất một số giải pháp quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia
của người dân hướng tới quản lý rừng bền vững
Trên cơ sở những hiện trạng và tình hình quản lý rừng ở vùng đệm chúng tôi đề xuất một số giải pháp như sau :
+ Giải pháp về mặt kinh tế
+ Giải pháp về xã hội
+ Giải pháp về khoa học công nghệ
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Trang 16- Trong đề tài này chúng tôi kế thừa những tài liệu như: Chính sách giao đất khoán rừng, chính sách thuế lâm nghiệp, luật bảo vệ và phát triển rừng, chiến lược phát triển lâm nghiệp từ 2001-2010
- Những tài liệu đã có về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và nhân văn của vùng đệm, hiện trạng và lịch sử hình thành khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar và các xã vùng đệm
- Hiện trạng quản lý sử dụng tài nguyên rừng được thu thập tại các uỷ ban nhân dân xã, hạt kiểm lâm huyện, Phòng thống kê, phòng Tài nguyên – Môi trường, phòng kinh tế huyện và Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar
- Kế thừa việc phân chia trạng thái và trữ lượng theo các trạng thái rừng hiện có
2.4.2 Phương pháp PRA và RRA
Để điều tra đánh giá kinh tế hộ gia đình và quy hoạch sử dụng đất chúng tôi tiến hánh áp dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân và đánh giá nhanh nông thôn: (PRA, RRA) như phỏng phấn 30 hộ, thảo luận 3 nhóm, đối tượng là đồng bào dân tộc buôn PaipiJơl và sử dụng các công cụ: Đi lát cắt, lược sử thôn buôn, lịch thời vụ, phỏng phấn, thảo luận nhóm
phương pháp họp dân bình xét cho điểm và xếp loại
- Lao động: Thang điểm cao nhất 10 điểm ứng với hộ có 4 lao động trở lên, 7 điểm ứng với hộ có 3 lao động và 4 điểm ứng với hộ có dưới 3 lao động
- Diện tích: Điểm cao nhất 10 điểm ứng với hộ có diện tích canh tác lớn hơn 1,5 ha, điểm 7 ứng với hộ có diện tích từ 1 đến 1,5 ha và cuối cùng là điểm
4 ứng với hộ có diện tích canh tác dưới 1 ha
- Vốn đầu tư: Cao nhất 10 điểm ứng với hộ có vốn đầu tư hơn 15 triệu đồng, điểm 7 ứng với hộ có số vốn đầu tư từ 10-15 triệu đồng điểm 4 ứng với
hộ có số vốn đầu tư dưới 10 triệu đồng
- Thu nhập: Điểm cao nhất 10 điểm ứng với hộ có thu nhập hơn 20 triệu đồng Điểm 7 cho những hộ có thu nhập từ 15-20 triệu đồng Điểm 4 cho những hộ có thu nhập dưới 12 triệu
Trang 17- Kiến thức: Được đánh giá thông qua kinh nghiệm sản xuất của người
dân Điểm 10 cho hộ có kinh nghiệm khá Điểm 7 cho hộ có kinh nghiệm trung
bình Điểm 4 cho hộ có kinh nghiệm kém
Xếp loại : Sau khi tính tổng các điểm ở các tiêu chí trên cho từng hộ gia
đình, chúng tôi tiến hành xếp loại các hộ theo 3 mức : Khá, trung bình, nghèo
Mức khá có tổng điểm từ 40 điểm trở lên Mức trung bình có tổng điểm từ 25
điểm trở lên 35 Mức nghèo có tổng điểm từ nhỏ hơn 20
2.4.3 Phương pháp cân đo
Để tính toán lượng gỗ, củi từ nhu cầu của con người, chúng tôi
dùng phương pháp cùng với người dân thảo luận lập kế hoạch các nhu
cầu sử dụng gỗ củi cho mỗi nhà của một số hộ dân, sau đó xác định khối
lượng sử dụng trong một năm
2.4.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế
Để đánh giá tác động của các hình thức quản lý sử dụng đất đến phát
triển kinh tế xã hội Đề tài dựa vào hệ thống các tiêu chí
- Cơ cấu đất đai
- Cơ cấu lao động
- Cơ cấu đầu tư
- Cơ cấu thu nhập
- Kinh nghiệm sản xuất
Để lựa chọn cây trồng thích hợp cho khu vực, từ điểm đánh giá cho
một số cây trồng vật nuôi của người dân theo phương pháp Matrix kết
hợp với thực tiễn trong sản xuất từ đó rút ra những nhận định chung nhất
cho một số cây trồng, vật nuôi phù hợp với thực tiễn sản xuất tại khu vực
nghiên cứu
Để đánh giá hiệu quả kinh tế cho mỗi mô hình canh tác, chúng tôi
sử dụng phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế thông qua các chỉ tiêu
NPV, BCR, BPV, CPV, IRR
Đề tài chọn hai phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế đó là
Phương pháp tĩnh và phương pháp động
+ Phương pháp tĩnh:
Trang 18Coi các yếu tố chi phí và kết quả là độc lập tương đối và không chịu tác động của yếu tố thời gian, mục tiêu đầu tư và biến động của giá trị đồng tiền
n Bt - Ct
t=0 (1+i)tTrong đó : NPV là giá trị hiện tại thu thập ròng (đồng)
Bt là giá trị thu nhập ở năm t (đồng)
Ct là giá trị chi phí ở năm t (đồng)
i là tỉ lệ chiết khấu hay lãi suất ( i = 7%/năm)
t là thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất (năm) NPV dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình kinh tế hay các phương thức canh tác NPV càng lớn thì hiệu quả càng cao
Tỷ lệ thu hồi nội bộ IRR: IRR là chỉ tiêu đánh giá khả khả năng thu hồi vốn đầu tư có kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu
IRR chính là tỷ lệ chiết khấu, tỷ lệ này làm cho NPV = 0 tức là khi
n Bt - Ct
= 0 thì i = IRR (2-3)
t=0 (1+i)t
Tỷ lệ thu nhập so với chi phí BCR:
BCR là hệ số sinh lãi thực tế phản ánh chất lượng đầu tư và cho biết mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất
Trang 19n Bt t=1 (1+i)t BPV BCR = = (2-4)
n Ct CPV
t=1 (1+i)t Trong đó: BCR là tỷ suất thu nhập và chi phí (đồng/ đồng)
BPV là giá trị hiện tại của thu nhập (đồng)
CPV là giá trị hiện tại của chi phí (đồng)
Nếu mô hình nào hoặc phương thức canh tác nào đó BCR > 1 thì có
hiệu quả kinh tế
BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao, ngược lại BCR < 1 thì
kinh doanh không có hiệu quả
Hiệu quả tổng hợp các PTCT tính theo công thức:
f
f hoac f
f f
f hoac f
f
n m
n Max
: )}
(
)
·) ( 1
(m in) )
(
ECt : Chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp Nếu ECt = 1 thì PTCT có hiệu quả cao nhất
F: Là các chỉ tiêu tham gia vào tính toán
N: Là số lượng các chỉ tiêu
2.4.5.Phương pháp đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường
Những thông tin thu được qua điều tra, phỏng vấn về lĩnh vực xã hội và
môi trường được tổng hợp đánh giá chỉ dừng lại ở mức độ định tính, mô phỏng
chứ chưa đi sâu nghiên cứu phân tích đánh giá về định lượng Đây cũng là
điểm giới hạn của đề tài
2.4.6.Phương pháp dự báo dân số, hộ gia đình trong tương lai
Để dự bao dân số và hộ gia đình trong tương lai chúng tôi áp dụng các
Trang 20Trong đó:Nt là dân số trong tương lai
No dân số hiện tại
P là tỷ lệ tăng dân số tự nhiên
V là tỷ lệ tăng dân số cơ học
Ho Là số hộ hiện tại
Nt là dân số trong tương lai
No dân số hiện tại
Trang 21Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm ĐKTN và KTXH của khu BTTN Nam Kar
3.1.1 Tình hình chung của khu BTTN Nam Kar
- Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar được thành lập theo quyết định số: 182/QĐ/KL ngày 13/5/1991 Của Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và PTNT) với tổng diện tích là 24.555ha, cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 80km về hướng đông nam Toàn bộ khu vực là hệ thống núi cao với đỉnh Nam Kar cao 1.261m, bao gồm các hệ thực vật đa dạng và phong phú Với mục tiêu
là bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái rừng Tây Nguyên với các kiểu rừng thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừng thưa họ dầu, rừng sình lầy ngập nước, Bảo tồn nguồn gen một số loài động vật và các loài thực vật quý hiếm, đồng thời đây là khu vực giữ vai trò đầu nguồn quan trọng
- Trong quá trình xây dựng và phát huy tác dụng quản lý bảo vệ nghiêm ngặt các giá trị sinh thái hiện có trong khu vực, không thể không kể đến vai trò vùng đệm của khu bảo tồn, đây được coi là vành đai bảo vệ từ bên ngoài cho khu bảo tồn thiên nhiên
- Vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar có diện tích quy hoạch là 7.300ha, bao gồm cả hành lang rừng phía đông và phía bắc khu vực gồm 5 xã: Quảng Điền, Bình Điền (huyện Krông Ana), Buôn Triết, Buôn Tría và Đăk Nuê (huyện Lăk), (diện tích trước đây theo luận chứng kinh tế kỹ thuật đã được phê duyệt là 8.400ha Sau đó được UBND tỉnh Đăk Lăk thu hồi giao cho địa phương quản lý là 1.100ha theo quyết định số:2497/QĐ-UBND ngày 06 /10/2000) Đây là những vùng sâu vùng xa của tỉnh Đăk Lăk , dân số tương đối đông, điều kiện kinh tế của các xã còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng và vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu, đời sống của người dân còn phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên rừng, tình trạng săn bắt động vật rừng và khai thác lâm sản vẫn thường xuyên xảy ra Những hoạt động này đã và đang áp lực không nhỏ đối với công tác bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của khu BTNT Nam Kar
- Với diện tích lớn, nằm trên địa bàn phức tạp, đông dân cư, dễ tiếp cận
từ nhiều phía, lực lượng ban quản lý của khu bảo tồn sẽ vất vả khó khăn trong nhiệm vụ bảo vệ khu bảo tồn nếu không có sự tham gia của cộng người dân địa
Trang 22phương Qua nhiều năm hoạt động, ban quản lý khu bảo tồn đã tích cực phối hợp với chính quyền các xã và nhân dân trong vùng đệm đã làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân trong công tác bảo tồn thiên nhiên, phát triển kinh tế xã hội
3.1.2 Điều kiện tự nhiên
3.1.2.1 Vị trí địa lý và ranh giới
Vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar bao gồm hành lang rừng phía đông và phía bắc khu vực, thuộc phạm vi hành chính của 02 huyện: Krông Ana và Lăk, cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 80km về hướng đông nam
- Tọa độ địa lý:
+ Từ 12015’ đến 12027’ vĩ độ bắc
+ Từ 108000’ đến 108008’ kinh độ đông
- Huyện Krông Ana gồm 02 xã: Bình Điền và Bình Hòa
- Huyện Lăk gồm 03 xã: Buôn Triết, Buôn Tría và Đăk Nuê
3.1.2.2 Địa hình: Toàn bộ vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar
phần lớp diện tích thuộc kiểu địa hình núi thấp (độ cao <900m), tập trung chủ yếu ở phía nam khu vực, địa hình chia cắt bởi nhiều khe suối dày đặc trong vùng tạo nên nhiều thung lũng nhỏ, hẹp Tuy nhiên cũng có một số ít thung lũng bằng phẳng dọc theo các triền suối lớn, độ cao dao động từ 400m - 700m,
độ dốc từ 50 - 300, địa hình thấp dần về phía bắc khu vực, có những nơi thấp trũng ngập nước quanh năm, đó là diện tích nhân dân trong vùng đang canh tác lúa nước hàng năm, tập trung chủ yếu ở các xã: Buôn Triết, Buôn Tría, Bình Hòa và Quảng Điền
Nhìn chung địa hình trong vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar
có những kiểu chính sau:
- Kiểu địa hình núi thấp: Có độ cao <900m chiếm 80,54% diện tích tự nhiên phân bố chủ yếu ở phía nam khu vực gồm xã Đăk Nuê, một phần xã Buôn Triết và Buôn Tría (huyện Lăk) Kiểu này được hình thành trên nền đá trầm tích và mác ma có kết cấu hạt thô Khả năng xâm thực mạnh, độ dốc biến động từ 50 - 300, thảm thực vật rừng ít nhiều đã bị tác động
Trang 23- Kiểu địa hình bán bình nguyên và vùng trũng ngập nước theo mùa: Chiếm diện tích 19,46% diện tích tự nhiên, độ cao dưới 200m và độ dốc <50, phần lớn diện tích này phân bố ở các xã: Quảng Điền, Bình Điện (huyện Krông Ana), Buôn Triết, Buôn Tría (huyện Lăk) Dạng địa hình này hiện đang là vùng canh tác nông nghiệp cây ngắn ngày của nhân dân trong vùng
3.1.2.3 Khí hậu - thủy văn
Khí hậu: Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar thuộc khí hậu Tây Nguyên
nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nhưng do ảnh hưởng bởi núi cao nên khí hậu trong năm có 02 mùa nắng mưa rõ rệt Mùa mưa ẩm bắt đầu từ tháng 5 đến đầu tháng 11, mùa nắng khô từ cuối tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình tháng 230C, nhiệt độ vào tháng nóng nhất vào tháng 4 là 33,70C và tháng lạnh nhất là tháng 1 dưới 150C
- Lượng bốc hơi: Trong khu vực có tổng bức xạ thực tế và bức xạ hấp thụ tương đối lớn, chênh lệch giữa các tháng nhỏ, cực đại vào tháng 3, tháng 4, cực tiểu vào tháng 9, cán cân bức xạ có giá trị lớn nhất vào mùa khô và có thể nói toàn bộ nhiệt độ do mặt trời cung cấp trong thời gian này được dùng để đốt nóng mặt đất và lớp không khí bên trên và đây cũng là thời kỳ bốc hơi mạnh nhất trong năm, gây nên hiện tượng khô nóng khắc nghiệt, lượng bốc hơi phổ biến từ 1.000 -1.300mm/năm
Lượng mưa: Đây là khu vực có lượng mưa tương đối lớn, tổng lượng
mưa trung bình năm giao động từ 1.800 - 2.000mm Trong đó, lượng mưa tập trung vào mùa mưa là chủ yếu Mưa liên tục từ tháng 7,8,9 trong năm chiếm
45 - 60% lượng mưa/năm Số ngày mưa trung bình trong năm từ 180 ngày trở lên, độ ẩm tương đối trung bình năm là 83%
Thủy văn:
- Vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar có hệ thống nước mặt khá phong phú với mạng lưới sông suối dày đặc ở cả phía nam và phía bắc khu vực Phần lớn các sông suối trong vùng đệm có dòng chảy quanh năm, đây là yếu tố quan trọng giúp cho các hồ chứa nước trong khu vực luôn ổn định phục
vụ tốt công tác tưới tiêu cho hàng trăm ha ruộng nước và cây công nghiệp của nhân dân trong vùng
Trang 24- Phía bắc và đông có suối Ea Lông Ding, Ea Vi, Ea Mok là những suối lớn, cùng nhiều suối nhỏ dày đặc tạo nên mạng lưới sông suối phong phú, tất
cả đều chảy về hai sông lớn là: Sông Krông Na và Sông Krông Nô và là ranh giới của vùng đệm với các khu vực lân cận
- Phía nam và tây có suối Ea Kreôte, Ea Poi, Dak Rơh Yô cùng hệ thống khe, suối nhỏ dày đặc tạo nên mạng lưới sông suối phong phú, tất cả đều chảy
về lưu vực sông Krông Nô, là ranh giới của khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar
và tỉnh Đăk Nông
3.1.2.4 Đất đai - Thổ nhưỡng
Theo số liệu ở dự án vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar tỉnh Đăk Lăk, trong vùng có các nhóm đất, loại đất sau:
Nhóm đất Glây (GL): bao gồm các loại đất sau:
- Đất Glây giàu mùn (GL.h.u.c/I.1):
+ Diện tích: 1.030,0 ha chiếm 14,1% tổng diện tích tự nhiên
+ Phân bố: Chủ yếu ở các địa hình bán bình nguyên và vùng trũng ngập nước theo mùa, ở những khu vực độ dốc cấp I <30, tập trung chủ yếu ở các xã: Quảng Điền, Bình Hòa (huyện Krông Ana), Buôn Triết (huyện Lăk) độ dày tầng đất >100cm, giàu mùn đất tốt
+ Hướng sử dụng: Thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nhất là phát triển cây lúa nước và các loại hoa màu
- Đất Glây đọng xác thực vật chua (GL.u.c/I.1):
+ Diện tích: 313,5ha chiếm 4,3% diện tích tự nhiên
+ Phân bố: Chủ yếu là các vùng đầm lầy, ngập nước quanh năm, độ dốc cấp I < 30, tập trung rãi rác ở các xã Buôn Triết, Buôn Tría (huyện Lăk), tầng đất dày >100 cm
+ Đặc điểm: Đất ngập nước quanh năm, sình lầy, độ chua lớn
+ Hướng sử dụng: Cải tạo đất bằng các biện pháp tiên tiến hợp lý
Nhóm đất mới biến đổi (CM):
- Đất mới biến đổi Glây (CM.g.hu/I.1):
+ Diện tích: 77,5 ha chiếm 1,06% diện tích tự nhiên
+ Phân bố: Xã Buôn Triết (huyện Lăk) ở điều kiện địa hình thấp cấp I
<30, tầng đất >100cm
Trang 25+ Hướng sử dụng: Cải tạo đất bằng các biện pháp hợp lý, thích hợp cho việc canh tác các loại cây công nghiệp dài ngày, các loại hoa màu
Nhóm đất xám (X): Bao gồm các loại đất sau:
- Đất xám tầng rất mỏng (X.Vtm/V.5õ, X.tm/VI.4õ):
+ Diện tích: 2.687,0ha chiếm 36,8% diện tích tự nhiên
+ Phân bố: Hầu hết các xã Buôn Triết, Buôn Tría và Đăk Nuê (huyện Lăk), địa hình đồi núi cao, độ dốc từ 20 - 25% và >250 Độ dày tầng đất mỏng
từ 30 - 50cm và <30cm Thành phần cơ giới thịt nhẹ đến pha cát, kết cấu kém bền vững, đất nghèo dinh dưỡng, khả năng giữ nước kém
+ Hướng sử dụng: Trồng rừng bằng các loại cây mọc nhanh, những nơi còn rừng khoanh nuôi bảo vệ và áp dụng các giải pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên
- Đất xám (Xh): gồm các loại: X.h/IV.lô,X.h/IV.2õ,X.h/I.1õ, X.h/IV.2õ
và X.h/I.1õ:
+ Diện tích: 2.562,0ha chiếm 35,11% diện tích tự nhiên
+ Phân bố: ở các xã: Buôn Triết và Đăk Nuê (huyện Lăk) trên địa hình đồi núi cao, độ dốc từ 15 - 200 và > 250, độ dày tầng đất từ 70 - 100 cm và > 100cm
+ Hướng sử dụng: Đối với các loại đất này tập trung công tác trồng rừng, khoanh nuôi quản lý bảo vệ rừng, nông lâm kết hợp Một số diện tích độ dốc thấp, độ dày tầng đất lớn có thể tiến hành canh tác cây công nghiệp và cây lương thực
- Đất xám sỏi sạn nâu (X.SK2.h/III.2õ):
+ Diện tích: 92,5ha chiếm 1,27% diện tích tự nhiên
+ Phân bố: Xã Buôn Tría (huyện Lăk) độ dốc từ 70 - 100 cm Thành phần cơ giới nhẹ, kết cấu rời rạc, tỷ lệ đá lẫn cao, dễ bị rửa trôi Đất chua, nghèo mùn có kết von đá ong
+ Hướng sử dụng: Trồng rừng bảo vệ và cải tạo đất bằng các loài cây mọc nhanh như keo và một số cây bản địa khác
- Đất xám có tầng loang lỗ đỏ vàng (X.F.r/III.2õ):
+ Diện tích: 537,5ha chiếm 7,36% diện tích tự nhiên
Trang 26+ Phân bố: Xã Đăk Nuê (huyện Lăk) độ dốc từ 80 - 150, độ dày tầng đất
từ 70 - 100cm Thành phần cơ giới thịt trung bình, thịt nặng đến sét, đất có kết cấu tốt, tơi xốp, tỷ lệ mùn cao
+ Hướng sử dụng: Khoanh nuôi quản lý bảo vệ rừng, trồng rừng nguyên liệu, một số diện tích có độ dốc thấp có thể phát triển cây công nghiệp dài ngày
và cây màu
3.1.2.5 Hiện trạng sử dụng đất
Theo kết quả điều tra, vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar cho
thấy hiện trạng sử dụng đất được thể hiện ở biểu 3.1 dưới đây:
Nguồn: BQL khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar
Đất sản xuất nông nghiệp:
- Đối với diện tích lúa nước trong toàn vùng đã được nhân dân khai hoang canh tác từ lâu, nay đã ổn định và đã được địa phương xác nhận chủ quyền sử dụng đất nông nghiệp và thực hiện theo pháp luật hiện hành
Trang 27- Đối với diện tích đất nương rẫy trong vùng do người dân tự ý phá rừng lấy đất sản xuất trái phép Do đó diện tích này không được xác nhận quyền sử dụng đất và cần có biện pháp tích cực để phát triển lại rừng và trồng cây công nghiệp có giá trị kinh tế
Hiện trạng đất sản xuất nông nghiệp của 05 xã vùng đệm khu bảo tồn
thiên nhiên Nam Kar được thông kế tại biểu 3.2 dưới đây:
Biểu 3.2: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp 5 xã vùng đệm
Ruộng lúa
Nương rẫy
Nguồn: BQL khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar
Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp vùng đệm là 1.454 ha chiếm 21,88 % diện tích đất nông nghiệp của vùng đệm, trong đó xã Buôn Triết diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn nhất 600,5 ha chiếm 41,30% diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn khu vực
Hiện trạng tài nguyên rừng: Theo kết quả điều tra hiện trạng tài
nguyên rừng được thống kê tại biểu 3.3 dưới đây:
Biểu 3.3: Diện tích đất lâm nghiệp phân theo đơn vị hành chính
ĐVT: Ha
T
T Tên xã
Diện tích đất
Rừng
lồ ô le, nứa
Rừng trồng Tổng IA IB IC
Trang 28Đất lâm nghiệp: Có diện tích 5.192,1ha, trong đó đất có rừng 4.311,2
ha chiếm 83,03% diện tích đất lâm nghiệp, đất trống chưa có rừng 880,9ha chiếm 16,97% diện tích đất lâm nghiệp
Diện tích đất có rừng tập trung nhiều nhất ở 02 xã: Buôn Triết và Đăk Nuê (huyện Lăk), ít nhất là xã Quảng Điền (huyện Krông Ana) Rừng gỗ 670,4ha chiếm 15,55% diện tích đất có rừng, rừng hỗn giao 2.881,3ha chiếm 66,83% diện tích đất có rừng và rừng lồ ô, le, nứa thuần loại 150,9ha chiếm 3,50%, rừng trồng 608,6 ha chiếm 14,14% diện tích đất có rừng
Đất phi nông nghiệp: Diện tích 407ha chiếm 5,58% diện tích tự nhiên,
bao gồm: Đất ở nông thôn 98,2ha, đất chuyên dùng đất 308,8ha trong đó, đất
có mục đích công cộng 127,1ha, đất nghĩa trang nghĩa địa 13,4ha, đất sông suối, mặt nước chuyên dùng 168,3 ha là diện tích các hồ và đầm sình lầy, suối
ở các xã trong vùng đệm trên địa bàn huyện Lăk
Đất chưa sử dụng: Diện tích 246,9ha chiếm 3,38% diện tích tự nhiên,
gồm có đất đồi núi chưa sử dụng
3.1.2.6 Đánh giá về tổng quát điều kiện tự nhiên
Thuận lợi:
- Điều kiện địa hình toàn khu vực phân bố khá rộng rãi, do địa hình núi cao, nhiều khe suối, độ dốc lớn nên hạn chế được tình trạng đốt nương làm rẫy ảnh hưởng đến tài nguyên rừng
- Hệ thống sông, suối với mật độ tương đối cao, đặc biệt là hệ thống hồ đập trong toàn vùng phát triển, phục vụ cho sản xuất cây lương thực và cây công nghiệp
- Tỷ lệ che phủ rừng trong toàn vùng cao, tình hình tái sinh phục hồi rừng tương đối tốt, các nguồn tài nguyên rừng đa dạng và dồi dào, thuận lợi cho công tác phục hồi, phát triển rừng và các hoạt động sản xuất lâm nghiệp
Khó khăn:
- Với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa tập trung thường kéo dài, bên cạnh đó hệ thống sông, suối lớn thường gây lũ ảnh hưởng đến sản xuất, nhất là sản xuất cây lúa nước trong vùng
- Việc tận dụng quỹ đất nông nghiệp để đưa vào phục vụ sản xuất cây trồng hàng năm còn nhiều hạn chế
Trang 293.1.3 Tình hình tài nguyên rừng, đất đai
3.1.3.1 Tài nguyên rừng
Thảm thực vật rừng: [11] Do các đặc trưng của chế độ nhiệt ẩm thảm
thực vật ở khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar khá phong phú đặc trưng cho khí hậu nhiệt đới ẩm mang tính chất Cao Nguyên Tuy nhiên những hoạt động của con người dễ thu hẹp những mảnh rừng nguyên sinh và thay vào đó những kiểu rừng thứ sinh với thành phần loài đơn giản hơn Do sự thay đổi phong phú của tiểu địa hình nên thảm thực vật cũng thay đổi mạnh, nhưng chủ yếu thường gặp ở các dạng sau:
- Rừng nửa rụng lá ưu thế bằng lăng ổi (Lagerstroenia calyculata) thường mọc thành dãy ở ven suối, hay thành đám ở khe thung lũng giữa hai sườn núi, dưới chân núi Nam Kar Rừng thường có 04 tầng, bằng lăng thường
ở tầng ưu thế sinh thái và tầng cây nhỡ xen kẻ rải rác với một số loài như: Dầu rái (Dipterocarpus indicus), gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), giáng hương (Pterocarpus macrocarpus) Tầng cây bụi và tầng cây cỏ thưa thớt chủ yếu là:
le, lồ ô, dây leo nhiều và to
- Rừng kín hỗn loài thường xanh nhiều thành phần: Đây là loại rừng mưa nhiệt đới điển hình ở Tây Nguyên phổ biến nhất trong vùng với tỷ trọng thành phần các loài tăng hơn so với rừng bằng lăng nhưng còn đơn giản hơn rừng thường xanh, các loài ưu thế thường gặp là họ sồi giẻ (Fagaceae), họ đậu (Fabaceae), họ dầu sao dầu (Dipterocarpaceae), họ cà phê (Rubiaceae)… loài rừng này chiếm phần lớn vùng núi cao có các dãy Chư Y-Yang, Chư Liêng Hô
ở phía bắc, Chư pardle, Chư Bole, Chư Nam Kar ở phía nam
- Rừng thưa rụng lá cây họ dầu (rừng khộp), ngoài cây họ dầu thường gặp các loại thuộc họ dẻ (Pagaceae), họ lông não (Lauraceae), họ sim (Myrtaceae), loại trảng này nếu không có sự phá hoại của con người thì nhanh chóng phục hồi thành rừng thường xanh
- Trảng cỏ tranh (Imperata cylindrica) phát triển trên đất còn ít phì nhiêu, xen kẻ nhiều loài cây gỗ nhỏ thuộc các họ: Xoan (Meliaceae), đào lộn hột (Anacarrdiaceae) Trảng cỏ tranh thường phát triển ở những vùng bị phá làm nương rẫy, phân bố gần khu dân cư
Trang 30- Rừng lồ ô: Thường mọc thuần loài trên đồi hoặc sườn núi còn ẩm ước, rừng lồ ô mọc rãi rác và xen kẽ giữa rừng thường xanh và rừng trảng cỏ tranh
- Trảng cỏ đầm lầy: Xung quanh khu vực ba hồ và các thung lũng ven suối thường xuyên ngập nước, nghèo dinh dưỡng, các loài ưu thế thuộc các họ: Lúa (Poaceae), cói (Cyparaceae), Gừng (Zingiberaceae) Rừng đầm lầy và trảng cỏ đầm lầy tập trung ở phía bắc khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar
- Tóm lại, với các kiểu thảm đặc trưng cho từng dạng địa hình và mang tính nhiệt đới ẩm, khu hệ thực vật ở Nam Kar rất phong phú và đa dạng
Tài nguyên thực vật: [11] Đã thống kê được tất cả có 587 loài thực vật
bậc cao có mạch thuộc 149 họ và 61 bộ
- Nguồn dược liệu: Trong số 587 loài thực vật bậc cao thống kê được ở Nam Kar có đến 382 loài có khả năng làm thuốc, có thể nuôi, trồng và khai thác trong đó có nhiều loài quý và có giá trị kinh tế cao như: Sa nhân, ngũ gia
bì, thiên niên kiện, mã tiền
- Cây làm cảnh: Rừng Nam Kar có hơn 78 loài có khả năng làm cây cảnh trang trí nội thất và vườn rất đẹp, trong đó đáng kể là các loài thuộc những họ sau: Thu hải đường (Begonniaceae), phong lan (Orchidaceae), Ráy (Araceae) thiên lý (Aselepmadacasa)
- Nguồn thức ăn cho chim thú: Đây là tài nguyên thiết thực nhất đối với khu rừng bảo tồn thiên nhiên Nam Kar có nhiều thú, có ý nghĩa là nguồn thức
ăn đặc sắc cho chim thú là các loài thuộc họ: Gừng (Zingiberaceae), lúa (Poaceae), sồi, giẻ (Pagaceae), Trám (Burseraceae), bầu bí (Cucurbitaceae), lạc tiên (Pasaifloraceae)
- Nguồn thực phẩm: Trong hệ thực vật ở Nam Kar còn có nhiều loài có thể làm rau ăn, thực phẩm giàu Vitamin và đạm thực vật cho con người
- Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar có nhiều loài thực vật quý hiếm như: cây trầm, cẩm lai, sơn huyết, giáng hương, cà te, săng đào, trắc Những loài này đang có nguy cơ tuyệt chủng cần phải được bảo vệ và phát triển chúng
Khu hệ động vật: [11] Với những loài đặc trưng của địa hình và thảm
thực vật như đã trình bày, khu hệ động vật ở Nam Kar cũng mang tính hỗn hợp của vùng bình nguyên, sinh lầy và núi cao, rừng nữa rụng Đặc điểm này thể hiện rõ nét ở các loài động vật có ở khu bảo tồn
Trang 31- Chim: Đã thống kê được 140 loài chim thuộc 43 họ và 17 bộ Trong sinh cảnh đầm hồ có các đại diện của nhiều loài chim nước như: Cò ngang nhỏ,
cò ngang lớn, cò trắng vịt đầu vàng, diếc lửa, choắt nhỏ… với mật độ và trữ lượng khá Ở sinh cảnh núi cao có các loài như: Hồng hoàng, gà lôi hồng tía, trĩ sao… Trong sinh cảnh chuyển tiếp giữa núi cao và đầm hồ có các loài như: Quạ, sóc đá, sóc nâu, chìa vôi núi
- Thú: Gồm 56 loài thuộc 24 họ và 9 bộ, các loài thú sống trên sinh cảnh núi cao có vượn đen, voọc vá, khỉ mắt đỏ, gấu ngựa, gấu chó… Ở sinh cảnh thấp và tương đối bằng phẳng có các loài như: Voi, nai, hoẵng, lợn rừng
- Lưỡng cư - bò sát: Gồm 50 loài thuộc 16 họ và 4 bộ ở vùng sình lầy hồ nước có: Cá sấu nước ngọt, ba ba nam bộ, ba ba sông, kỳ đà, rắn nước và nhiều loài ếch nhái, ở các núi cao có: Trăn hoa, trăn đất, kỳ đà núi, rắn các loại
- Tóm lại khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar là một khu rừng còn khá nhiều loại động vật, với số lượng lớn, đặc biệt trong đó có nhiều loại quý hiếm
mà sách đỏ thế giới ghi là loài rất nguy cấp và nguy cấp tuyệt chủng: Voi, bò tót, beo, voọc vá, cày giông, gà lôi, gà tiền, cá sấu…
3.1.4 Diện tích, trữ lượng theo trạng thái
Tổng diện tích đất tự nhiên: 7.300ha
3.1.4.1 Đất nông nghiệp: 6,646,1ha
* Đất sản xuất nông nghiệp: 1.454ha
- Cà phê, điều 277,9ha
- Ruộng lúa nước 705,2ha
+ Rừng trung bình: (IIIA2) 121,5ha
+ Rừng nghèo: (IIIA1) 282,7ha
+ Rừng non (IIB) 47,2ha
+ Rừng non (IIA) 219ha
- Rừng gỗ hỗn giao: 2.881,3ha
+ Gỗ xen lồ ô-nứa (IIIA2-L) 175,5ha
Trang 32+ Gỗ xen lồ ô-nứa (IIIA1-L) 950,6ha
+ Gỗ xen lồ ô-nứa (IIB-L) 446,4ha
+ Gỗ xen lồ ô-nứa (IIA-L) 1.308,8ha
- Rừng lô ô, le, tre, nứa 150,9ha
- Đất trống trảng cỏ (IA) 85ha
- Đất trống cây bụi (IB) 688,5ha
- Đất trống cây gỗ rãi rác (IC) 107,4ha
3.1.4.2 Đất Đất phi nông nghiệp: 407ha
- Đất ở nông thôn 98,2ha
- Đất chuyên dùng 308,8ha
+ Đất có mục đích công cộng 127,1ha
+ Đất nghĩa trang, nghĩa địa 127,1ha
+ Đất sông suối, mặt nước chuyên dùng 168,3ha
3.1.4.3 Đất chưa sử dụng: 246,9ha
(Chi tiết hiện trạng tài nguyên rừng và sử dụng đất xem phụ biểu 1)
Đất sản xuất nông nghiệp:
- Diện tích: 1.454ha; phân bố hầu hết các xã trong vùng đệm
- Đất trồng cà phê, điều 277,9 ha; phân bố ở 04 xã trong vùng đệm
- Đất nương rẫy: Diện tích 470,9ha; phân bố hầu hết các xã trong vùng Đây là diện tích đất do nhân dân trong vùng chặt phá rừng làm nương rẫy trong thời gian dài, cần phải có biện pháp trồng lại rừng bằng việc sản xuất nông lâm kết hợp
- Lúa nước: Diện tích 705,2ha Tập trung các xã Quảng Điền, Bình Hòa, Buôn Triết, Buôn Tría và Đăk Nuê, do điều kiện địa hình, khí hậu nhất là công tác thủy lợi nên diện tích ruộng lúa ở đây canh tác được 1- 2 vụ
Trang 33ẩm nhiệt đới và á nhiệt đới, phần lớn rừng ở đây đã bị khai thác quá mức nhưng đã có thời gian phục hồi tốt, cấu trúc rừng ổn định Đặc trưng của kiểu rừng này là đã hình thành tầng giữa vươn lên chiếm ưu thế sinh thái với lớp cây đại bộ phận có đường kính từ 20 - 30 cm, rừng hai tầng trở lên, tầng trên tán không liên tục được hình thành chủ yếu từ những cây tầng giữa trước kia, rải rác còn một số cây to khác vượt tán của tầng cũ để lại Loài cây của kiểu rừng này chủ yếu là: Sao, Hương, Kơ nia, giẻ, trâm, trám,
Qua tính toán ô đo đếm cho thấy mật độ cây tái sinh dưới tán rừng tương đối tốt, đạt từ 4.000 - 5.000 cây/ha, tỷ lệ cây có triển vọng đạt 30%, điều này cho thấy khả năng tái tạo rừng rất tốt, nếu được khoanh nuôi bảo vệ
Kết quả điều tra cho thấy M/ha = 165m3; đường kính trung bình (D = 31cm); H = 20,3cm; mật độ cây N/ha = 213 cây/ha
- Rừng thường xanh nghèo (IIIA1): Diện tích 282,7 ha, phân bố rãi rác hầu hết các xã trong vùng đệm Đây là kiểu rừng bị khai thác kiệt quệ, tán rừng
đã bị phá vỡ từng mảng lớn, tầng trên còn sót lại một số cây cao, to nhưng phẩm chất xấu, nhiều dây leo, bụi rậm, tre nứa xâm lấn Loài cây chủ yếu: Sao,
Kơ nia, giẻ, trâm, trám
Kết quả điều tra cho thấy M/ha = 78m3; đường kính trung bình (D = 24cm); H = 18,9m; mật độ cây N/ha = 205 cây/ha
- Trạng thái rừng non (IIA, IIB): Diện tích 266,2ha, phân bố rãi rác ở hầu hết các xã trong vùng Đây là kiểu rừng phục hồi sau nương rẫy, cây tiên phong có đường kính nhỏ, đặc trưng bởi lớp cây tiên phong ưa sáng, mọc nhanh, đều tuổi, một tầng Phần lớn kiểu rừng này bao gồm những quần thụ non với những loài cây ưa sáng, thành phần loài phức tạp, độ ưu thế không rõ ràng Loài cây chủ yếu: Thành nhạnh, thầu tấu, trâm, trám,
Kết quả điều tra cho thấy các chỉ tiêu lâm học của kiểu rừng này M/ha = 41m3; đường kính trung bình (D = 17cm); H = 14m; mật độ cây N/ha = 295 cây/ha
Rừng hỗn giao (gỗ xen le, lồ ô, tre nứa):
Diện tích 2.881ha chiếm 66,83% diện tích đất có rừng phân bố hầu hết các xã trong vùng đệm với diện tích lớn, tập trung liền dải
Trang 34- Đây là kiểu rừng thường xanh lá rộng mọc xem với lồ ô, le, tre nứa, kiểu rừng này tầng trên là tầng gỗ không đều, bao gồm các loài cây có đường kính D> 30cm mọc vượt tán, tầng dưới là các loài cây gỗ nhỏ mọc xen kẻ với
lồ ô, le, tre nứa Bao gồm các trạng thái IIIA2 + L1 + N1; IIIA1 + L1 + N1; IIA + L1 + N1; IIB + L1 + N1
-Kết quả điều tra cho thấy các chỉ tiêu lâm học chủ yếu kiểu rừng này là: + IIIA2 + L1 + N1: M/ha = 152m3; đường kính trung bình (D = 30cm);
H = 20,3m; mật độ cây gỗ Ngỗ/ha = 191cây/ha, mật độ lồ ô, nứa 1.020 cây/ha
+ IIIA1 + L1 + N1: M/ha = 77m3; đường kính trung bình (D = 26cm); H
= 18,9m; mật độ cây gỗ Ngỗ/ha = 160 cây/ha, mật độ lồ ô, nứa 1.120 cây/ha
+ IIA + L1 + N1: M/ha = 31m3; đường kính trung bình (D = 16cm); H = 13,7m; mật độ cây gỗ Ngỗ/ha = 241 cây/ha, mật độ lồ ô, nứa 1.620 cây/ha
+ IIB + L1 + N1: M/ha = 44m3; đường kính trung bình (D = 18cm); H = 14,3m; mật độ cây gỗ Ngỗ/ha = 278 cây/ha, mật độ lồ ô, nứa 1.480 cây/ha
Rừng lồ ô - nứa tép - le thuần loài:
- Diện tích 150,9ha chiếm 3,50% diện tích đất có rừng Đây là diện tích rừng lồ ô, le, nứa tép mọc thuần loài phân bố hầu hết ở các xã trong vùng, trên địa hình sườn đồi và dọc theo các khe suối chủ yếu là rừng lồ ô, nứa tép phục hồi sau nương rẫy, phẩm chất đất xấu, đường kính nhỏ mật độ cây N/ha đạt từ 5.000 - 6.500 cây Do điều kiện khí hậu, địa hình và đất đai không thuận lợi do
đó khả năng tạo rừng, tăng độ che phủ cho toàn khu vực không cao, vì vậy cần phải có giải pháp trồng lại rừng trên diện tích này
Rừng trồng: 608,6 ha chiếm 14,12% diện tích đất có rừng Những diện
tích này được trồng ở xã Đăk Nuê loài cây chủ yếu là: Keo lá tràm, Xoan, mật
độ cây N/ha 1.666 cây diện tích trên chủ yếu là Ban quản lý rừng đặc dụng Nam Kar liên kết với các Công ty trong tỉnh Đăk Lăk triển khai trồng năm
2006 Diện tích dân trồng 15,6ha (năm 2005-2006) tập trung ở Buôn PaipiJơl
Đất không có rừng: Diện tích 880,9ha, bao gồm các loại đất sau:
- Đất trống trảng cỏ (Ia): Kiểu này được đặc trưng bởi là lớp thực bì là
cỏ lau lách, diện tích 85 ha, phân bố ở xã Đăk Nuê (huyện Lăk)
Trang 35- Đất trống cây bụi (Ib): Kiểu này được đặc trưng bởi lớp thực bì là cây bụi, cũng có cây gỗ, tre, le, nứa mọc rãi rác Diện tích 688,5 ha; phân bồ hầu hết các xã trong vùng
- Đất trống cây gỗ rãi rác (Ic): Diện tích: 107,4ha; phân bố ở các xã Quảng Điền, Đăk Nuê
Kiểu này được đặc trưng bởi cây thân gỗ tái sinh với số lượng đáng kể,
số lượng cây tái sinh mục đích phát triển thấp <300 cây/ha, loài cây chủ yếu là cây thân mền, phi mục đích, ưa sáng mọc nhanh, giái trị kinh tế thấp, khả năng tạo thành rừng không cao, do phân bố trên điều kiện địa hình, đất đai không thuận lợi
Đất phi nông nghiệp: Diện tích 407ha chiếm 5,58% diện tích tự nhiên,
bao gồm: Đất ở nông thôn 98,2ha, đất chuyên dùng đất 308,8ha trong đó, đất
có mục đích công cộng 127,1ha, đất nghĩa trang nghĩa địa 13,4ha, đất sông suối, mặt nước chuyên dùng 168,3 ha là diện tích các hồ và đầm sình lầy, suối
ở các xã trong vùng đệm trên địa bàn huyện Lăk
Đất chưa sử dụng: gồm có đất đồi núi chưa sử dụng phân bố ở các xã trong vùng đệm Diện tích 246,9ha
3.1.5 Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội
3.1.5.1 Dân số, dân tộc và lao động
Vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar nằm trên 5 xã thuộc 2 huyện, đây
là những xã đông dân cư, ngoài đồng bào dân tộc tại chỗ, hầu hết các dân cư ở những xã này là dân kinh tế mới định cư theo chủ trương của Nhà nước những năm trước đây ở các tỉnh phía Bắc và các tỉnh Miền Trung
Biểu 3.4: Dân số, lao động trong vùng đệm
Trang 36- Tổng số lao động các xã thuộc vùng đệm là khá cao 12.497 người chiếm gần 45% dân số trong toàn vùng, cho thấy tiềm năng lao động lớn, tuy nhiên lực lượng lao động chủ yếu là lao động làm nông lâm nghiệp, chất lượng lao động còn thấp, tỷ lệ người lao động chuyên môn và lao động có trình độ cao còn ít
- Phân bố dân cư: Nhìn chung dân cư trong toàn vùng sống tập trung theo các xã, thôn buôn, dọc các trục đường quốc lộ 27, các trục đường chính liên xã, liên thôn, buôn do được xây dựng ổn định từ lâu, do đó tình hình an ninh trật tự đảm bảo, đời sống nhân dân trong vùng khá ổn định
- Tỷ lệ lao động chính trong khu vực nghiên cứu là 45% Điều đó chứng
tỏ tiềm năng từ sức lao động là rất lớn, chưa kể số lao động phụ Qua bảng trên
ta thấy lực lượng lao động chính ở đây khá dồi dào chiếm 45% so với tổng số nhân khẩu Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên qua những năm gần đây có hướng giảm nhưng còn quá cao
Năm 2002 2003 2004 2005 2006
Tỷ lệ 2,16 2,17 2,06 2,05 1,82
Nguồn: Số liệu phòng thống kê
- Tỷ lệ tăng tự nhiên = tỷ lệ sinh – tỷ lệ tử
- Mặt dù đã được tuyên truyền từ chương trình kế hoạch hóa gia đình và
áp dụng nhiều biện pháp giảm tỷ lệ tăng dân số nhưng đạt hiệu quả chưa cao bởi vì đối với những vùng sâu vùng xa về vấn đề sinh đẻ có kế hoạch rất nặng
nề, họ vẫn còn quan điểm “Trời sinh voi, Trời sinh cỏ” Với lượng dân số hiện tại quá cao đồng thời với tỷ lệ tăng dân số như hiện nay thì dân số trong khu vực nghiên cứu trong đến năm 2010 sẽ là:
Dự báo dân số đến năm 2010 áp dụng công thức: (2-5)
Trang 37Dự báo số hộ gia đình đến năm 2010 áp dụng công thức (2-6)
Như vậy ở hiện tại chúng ta thấy với số lượng dân số khá đông nhưng
đa số họ làm nông nghiệp Trong khi diện tích đất nông nghiệp canh tác ít Do
đó việc thiếu lương thực là điều không thể tránh khỏi đồng thời kéo theo nhiều nhu cầu cần thiết cho sinh hoạt đời sống hằng ngày, tất cả chỉ trông chờ vào nguồn thu từ rừng
3.1.5.2 Tình hình đói nghèo: Tình hình đói nghèo theo tiêu chí mới
trong vùng đệm được thống kê theo biểu 3.5 dưới đây:
Biểu 3.5: Tình hình đói nghèo
TT Tên huyện Tên xã Tổng số hộ
Nguồn: Số liệu thống kê từ các xã
Tổng số hộ đói nghèo các xã thuộc vùng đệm là 1.220 hộ chiếm 21,17%, trong đó xã Đăk Nuê có số hộ đói nghèo lớn nhất trong vùng 542 hộ chiếm 62,08%, là một xã vùng III của huyện Lăk thành phần dân tộc chủ yếu là dân tộc M'nông đời sống của người dân chủ yếu là nhờ vào rừng do thiếu đất sản xuất và trình độ canh tác lạc hậu dẫn đến tình hình đói nghèo còn cao
3.1.5.3 Đặc điểm thành phần dân tộc: Thành phần dân tộc các xã
vùng đệm được thể hiện biểu 3.6 dưới đây:
Trang 38Biểu: 3.6 Thành phần dân tộc ở các xã vùng đệm ĐVT: Người
Ana
QuảngĐiền 6.575 - - 10 15 6.504 - 46 Bình Hòa 7.746 - - 14 36 7.630 28 28 Lăk
Buôn Triết 6.212 200 - 35 5 5.972 - - Buôn Tría 3.057 431 - 56 - 2.357 - 4 Đăk Nuê 4.199 529 1.865 26 - 1.677 - - Tổng cộng 27.789 1.160 1.865 141 56 24.451 28 88
Nguồn: Số liệu thống kê từ các xã
- Toàn vùng có 07 thành phần dân tộc cùng sinh sống, nhìn chung thành phần dân tộc tại các xã vùng đệm khá đa dạng, ngoài đồng bào dân tộc tại chỗ như: Ê đê, M’nông còn có đồng bào dân tộc thiểu số có nguồn gốc từ các tỉnh phía bắc như: Tày, Mường, Thái, di dân tự do vào sinh sống ở các xã trong vùng Dân tộc Ê đê, M’nông còn giữ được nhiều phong tục tập quán và truyền thống đặc trưng của Tây Nguyên, tinh thần cộng đồng lễ hội cồng chiêng và chế độ mẫu hệ vẫn còn là đặc trưng cơ bản, ảnh hưởng đến nhiều đời sống tinh thần của cộng đồng trong vùng
- Ngoài các dân tộc trên, các xã trong vùng đệm dân tộc kinh vẫn là dân tộc chiếm đa số 88% dân số trong toàn vùng Đây là dân tộc được di cư theo chương trình xây dựng kinh tế mới của Đảng và Nhà nước ta trước đây Dân
cư trong vùng bao gồm nhiều tỉnh địa phương trong cả nước đến định cư và sinh sống cùng cộng đồng các dân tộc khác Sự hiện diện của dân tộc kinh trong khu vực góp phần thúc đẩy công tác định canh định cư, mở mang đất đai, sản xuất nông nghiệp trình độ cao, đặc biệt là sản xuất cây lúa nước và các loại hoa màu khác, góp phần phát triển giao lưu hàng hóa, mở rộng thành phần kinh tế dịch vụ, mua bán, trao đổi trong toàn vùng
3.1.5.4 Tình hình phát triển kinh tế
Sản xuất nông nghiệp:
+ Cây hàng năm: Nông nghiệp là ngành sản xuất chính của nhân dân địa phương vùng đệm, trong đó cây lúa và cây màu vẫn là cây trồng chủ yếu trong
Trang 39vùng Mặc dù diện tích trồng lúa nước trong vùng đệm phần lớn là lúa nước 02
vụ và các loại hoa màu khác như: Ngô, đậu các loại diện tích lúa nước chủ yếu tập trung ở 02 xã: Buôn Triết và Buôn Tría nơi có điều kiện đất đai, khí hậu thuận lợi cho việc phát triển loại cây nông nghiệp này
Do đặc thù về điều kiện địa hình, đất đai và khí hậu trong vùng khá thuận lợi, đặc biệt là hệ thống sông, suối, ao hồ Do đó, việc sản xuất cây nông nghiệp hàng năm ở đây đạt kết quả khá cao, nhất là sản lượng lúa nước Tuy nhiên do áp lực về dân số, nhu cầu lương thực ngày càng tăng nên người dân địa phương vẫn còn tiếp tục khai phá diện tích trồng lúa, hoa màu bằng đốt nương làm rẫy, hàng năm diện tích rừng bị đốt làm nương rẫy có chiều hướng gia tăng, nhất là tại xã Đăk Nuê (huyện Lăk)
+ Cây lâu năm: Cây lâu năm chủ yếu là các loại cây: Cà phê, điều, tuy nhiên do điều kiện đất đai, địa hình, khí hậu không thuận lợi cho việc phát triển cây cà phê nên diện tích nhân dân canh tác trong vùng ít, năng suất thấp, kém hiệu quả Diện tích cà phê 49,2ha, diện tích điều ghép 228,7ha trồng chủ yếu ở các xã: Buôn Triết, Buôn Tría, Đăk Nuê được trồng từ năm 2004 đến nay loại giống chủ yếu là các dòng điều cao sản Nhìn chung cây điều sinh trưởng phát triển tốt một số diện tích trồng năm 2004 nay đã cho sản phẩm
Thực trạng diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở biểu 3.7 dưới đây:
Biểu 3.7: Diện tích canh tác đất sản xuất nông nghiệp
ĐVT: Ha
Tên huyện Tên xã Diện tích Lúa nước Cây CN Nương rẫy Krông Ana Quảng Điền 80,1 74,8 - 5,3
Bình Hòa 391,3 258,0 27,6 105,7 Lăk
Buôn Triết 600,5 314,3 213,7 72,5 Buôn Tría 64,8 38,2 11,6 15 Đăk Nuê 317,3 19,9 25 272,4 Tổng cộng 1.454 705,2 277,9 470,9
Nguồn: BQL khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar
- Chăn nuôi: Việc phát triển chăn nuôi của đồng bào dân tộc thiểu số mang tính chất hàng hóa đây cũng là nguồn thu nhập chính của người dân nên chăn nuôi chủ yếu tập trung vào một số loại vật nuôi chính như: Trâu, bò, dê,
gà vịt, số lượng từng loại vật nuôi được thống kê tại biểu số 3.8
Trang 40Biểu 3.8: Số lượng vật nuôi trong khu vực
ĐVT: Con Tên huyện Tên xã Trâu Bò Dê Lợn Gia cầm Krông Ana Quảng Điền 56 454 100 7.548 10.523
Bình Hòa 54 466 200 6.451 7.567 Lăk
Buôn Triết 96 292 235 48.290 20.720 Buôn Tría 14 189 85 1.177 12.970 Đăk Nuê 44 732 420 13.384 8.725 Tổng cộng 264 2.133 1.030 76.850 60.505
Nguồn: Số liệu thống kê từ các xã
- Số lượng vật nuôi trâu, bò, vật nuôi trong các hộ gia đình là tương đối lớn, tuy nhiên các loại vật nuôi chủ yếu là giống địa phương nên chậm lớn, năng suất không cao Nguồn thức ăn của trâu bò chủ yếu là nhờ vào thiên nhiên, người dân chưa chủ động trồng cỏ cung cấp thức ăn xanh cho gia súc
- Dịch vụ thú y, chuồng, trại còn chưa được chú ý đúng mức nên chăn nuôi còn gây ô nhiễm môi trường xung quanh Điều kiện tự nhiên, đất đai và khả năng tạo nguồn thức ăn ở đây rất thuận lợi nếu được quy hoạch đầu tư, hỗ trợ vốn, giống, chăn nuôi của đồng bào chắc chắn sẽ phát triển mạnh và cho phép phát triển ổn định
Lâm nghiệp:
- Hoạt động quản lý bảo vệ rừng ở đây diễn ra khá phức tạp do điều kiện địa hình khó khăn, địa bàn rộng lớn, dân cư tập trung ở các xã vùng đệm đông đúc, nhu cầu về củi đốt, xây dựng nhà cửa, các công trình phục vụ sinh hoạt ngày càng tăng, do đó hoạt động khai thác gỗ, củi, các loại lâm sản khác diễn
ra thường xuyên ở hầu hết các thôn buôn trong vùng Tuy nhiên các hiện tượng khai thác gỗ, lâm sản nhằm mục đích thương mại dần dần đã giảm đáng kể
- Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar sau khi được thành lập Ban quản lý
đã phối hợp với chính quyền các cấp, các thôn buôn tổ chức cho làm các hương ước và các cam kết tham gia bảo vệ rừng, không đốt nương làm rẫy, không săn bắt, đặt bẫy các loại động vật hoang dã, không thu hái lâm sản làm ảnh hưởng đến tài nguyên rừng
- Hoạt động của các trạm quản lý bảo vệ rừng trong toàn vùng đạt hiệu quả tích cực, toàn vùng đệm hiện có 03 trạm quản lý bảo vệ rừng thuộc Ban