1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nguồn lực con người trong phát triển kinh tế xã hội bền vững ở việt nam (tt)

19 213 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 248,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tiếp cận đa dạng về vấn đề này cũng như việc sử dụng nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một số quốc gia trên thế giới sẽ là cơ sở lý luận và thực t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

VŨ BÍCH VÂN

NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ

Hà Nội, năm 2010

Trang 2

A Mở đầu

a Tính cấp thiết của đề tài

Nhiều thập kỷ qua, đặc biệt là những năm gần đây, nguồn lực của con người với phát triển kinh tế - xã hội bền vững đã được nhiều giới quan tâm nghiên cứu

Vấn đề nguồn lực con người đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm từ lâu Ngay từ đại hội III, con người đã được coi là nguồn vốn quý nhất Đại hội VII tiếp tục khẳng định: nguồn lực lớn nhất, quý nhất của chúng ta là tiềm lực con người Việt Nam Tại đại hội VIII, vai trò quyết định của con người trong phát triển kinh tế - xã hội được đề cao: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” Quan điểm này tiếp tục khẳng định tại Đại hội IX và Đại hội X

Những tiếp cận đa dạng về vấn đề này cũng như việc sử dụng nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một số quốc gia trên thế giới

sẽ là cơ sở lý luận và thực tiễn cho những định hướng và giải pháp mang tính nguyên tắc đối với Việt Nam

Xuất phát từ ý nghĩa trên, tác giả đã lựa chọn để tài: “Nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở Việt Nam”

Giới thiệu khái quát những nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững;

Nêu kinh nghiệm và những thành tựu của 1 số nước trên thế giới về việc sử dụng và đào tạo con người nhằm phát huy những năng lực hữu dụng của họ trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững;

Nêu những gợi mở ban đầu về việc đào tạo, nghiên cứu sử dụng hiệu quả

và đầu tư hợp lý cho con người để phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở Việt Nam trong thời kỳ 2011 – 2020

Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài vận

Trang 3

dụng phương pháp trừu tượng hóa kết hợp với phương pháp hệ thống, logic và lịch

sử, phân tích và tổng hợp

Ngoài ra, đề tài còn sử dụng có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của một

số công trình liên quan; phỏng vấn các nhà khoa học, các chuyên gia về xã hội học, về nhân chủng học…

d Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: Hoạt động của con người ( theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng ) thông qua sự vận dụng những năng lực hữu dụng hiện có và tiềm tàng của họ nhằm tác động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội bền vững

Phạm vi: Đề tài nghiên cứu thực trạng về việc sử dụng và đào tạo con người nhằm phát huy những năng lực hữu dụng của họ trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; từ đó, nêu những định hướng và những giải pháp đào tạo, nghiên cứu và sử dụng có hiệu quả và đầu tư hợp lý cho con người Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2020

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn lực con người trong phát triển kinh

tế - xã hội bền vững

Chương 2: Thực trạng tác động của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế -

xã hội ở Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp sử dụng và đào tạo nguồn lực con người nhằm phát

triển kinh tế - xã hội bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020

Trang 4

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI BỀN VỮNG

Nhận thức đúng về nguồn lực con người gắn liền với sự nhận thức đúng về phát triển kinh tế - xã hội bền vững đòi hỏi phải không ngừng nâng cao trình độ con người một cách toàn diện: trí, đức, thể , mỹ

1.1 Nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững

1.1.1 Khái niệm nguồn lực con người

Khái niệm về nguồn lực con người hay nguồn nhân lực khá đa dạng, được

đề cập từ nhiều góc độ khác nhau nhưng tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, có

thể hiểu: Nguồn nhân lực hay nguồn lực con người là tổng thể số lượng dân và

chất lượng con người, là tổng thể thể lực, trí lực, kinh nghiệm sống, nhân cách,

lý tưởng, chất lượng văn hóa, năng lực chuyên môn và tính năng động trong công việc mà bản thân con người và xã hội có thể huy động để phát triển kinh

tế - xã hội bền vững, để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước

1.1.2 Phát triển nguồn lực con người

Trong các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội bền vững thì nguồn lực con người ( nguồn nhân lực ) đóng vai trò quyết định Nguồn nhân lực, đó chính là toàn bộ những người lao động đang có khả năng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội và các thế hệ những người lao động tiếp tục tham gia vào quá trình

ấy

Phát triển nguồn lực con người là các hoạt động nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thởi bảo đảm sự phát triển của mỗi cá nhân Phát triển nguồn nhân lực là một bộ phận hợp thành quan trọng yếu trong chiến lược phát triển con người Trong công cuộc phát triển con người, cần coi trọng

Trang 5

1.2 Khái niệm và các lý thuyết về vai trò của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững

Trong thời đại ngày nay, khi đề cập đến sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của một quốc gia không thể không đề cập đến các mô hình phát triển kinh tế

- xã hội bền vững của cộng đồng quốc tế

1.2.1 Khái niệm chung và những tiêu chí cơ bản về sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững

1.2.1.1 Khái niệm về sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững

Phát triển kinh tế - xã hội bền vững là một khái niệm dùng để chỉ tính ổn định của trạng thái bên trong vốn có của quá trình tăng trưởng kinh tế, là tổng hợp các thuộc tính cơ bản hay đặc trưng tạo thành bản chất của tăng trưởng kinh tế trong một hoàn cảnh và một giai đoạn nhất định Nó bao gồm các yếu tố như chất lượng của nguồn nhân lực lao động, trình độ kỹ thuật và công nghệ khai thác nguồn nhân lực sẵn có nhằm tạo nên năng suất lao động cao hơn và nền kinh tế phát triển đem lại phúc lợi xã hội cao hơn, môi trường được bảo vệ tốt hơn… Chất lượng tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng trưởng kinh tế là hai mặt của một vấn đề,

có quan hệ qua lại và thống nhất với nhau

1.2.1.2 Những tiêu chí cơ bản về sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững

 Tiêu chí về phúc lợi xã hội

 Tiêu chí về ổn định kinh tế và phát triển bền vững

1.2.2 Các lý thuyết về nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững

Các nhà kinh tế học cổ điển AdamSmith ( 1723 – 1790 ) – nhà kinh tế

chính trị cổ điển Anh với tác phẩm nổi tiếng “Nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc của cải cách dân tộc” đã khẳng định: Lao động của con người là “Thước đo thực tế của giá trị”

Trang 6

David Ricardo ( 1772 – 1832 ), người đưa kinh tế chính trị cổ điển Anh lên đỉnh cao, chứng minh rằng: tăng trưởng kinh tế là kết quả của tích lũy, tích lũy là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận phụ thuộc và chi phí sản xuất lương thực, chi phí này lại phụ thuộc vào đất đai Do đó, đất đai là giới hạn đối với tăng trưởng và ông đã xác định: Lao động của con người là nguồn gốc duy nhất của giá trị

Lý luận của Các Mác về lực lượng sản xuất gồm hai bộ phận: Lực lượng

sản xuất vật chất và nguồn lực con người

Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, triết lý kinh doanh đã có một bước ngoặt

từ quan niệm coi công nghệ là trung tâm sang coi con người là trung tâm, ưu tiên con người ở các khía cạnh tri thức, trình độ chuyên môn và động cơ lao động Bước sang thế kỷ 21, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại càng tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội và tạo ra được những bước nhảy

vọt Kinh tế tri thức hình thành và ngày càng đóng vai trò nổi bật trong quá trình

phát triển lực lượng sản xuất xã hội

1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững

Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng CSVN lần thứ X năm 2006 đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm lớn từ thực tiễn tới đổi mới đất nước và để ra tư tưởng chỉ đạo về phát triển kinh tế - xã hội bền vững giai đoạn 2006 – 2010 Trong báo cáo chính trị

đã chỉ ra: “Đẩy nhanh tiến độ tăng trưởng kinh tế đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả kinh tế và tính bền vững của sự phát triển”

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII ( 6/1991 ) , Đảng CSVN đã đưa

ra tư tưởng đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược kinh tế - xã hội, của

sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội và khẳng định: “Nguồn nhân lực dồi dào, con người Việt Nam là nguồn nhân lực quan trọng nhất”

Rõ ràng, đường lối của Đảng và nhà nước Việt Nam đã tạo một bước ngoặt quan trọng trong xác định vị trí và vai trò của con người Việt Nam trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội bền vững

Trang 7

1.4 Kinh nghiệm phát huy nguồn lực con người trong phát triển kinh tế

- xã hội bền vững của một số nước và bài học rút ra cho Việt Nam

1.4.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Đó là tư tưởng “Thoát Á” xuất hiện ngay từ thế kỷ XIX và được xem là kim chỉ nam cho chủ trương cải cách văn hóa Nhật Bản để phát triển kịp các nước phương Tây

1.4.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Luôn khẳng định rằng bồi dưỡng và giáo dục nhân tài là vấn đề có tính chiến lược1.Xây dựng hiện đại hóa đòi hỏi phải bồi dưỡng hàng loạt nhân tài đủ tiêu chuẩn, trong đó có những nhân tài hàng đầu dạt chất lượng quốc tế

1.4.3 Kinh nghiệm của một số nước Đông Nam Á

 Singapore, Malaixia, Thái Lan

1.4.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

Đối với Nhật Bản, việc lựa chọn tài năng quản lí được coi là thế mạnh của quốc gia này, khi đội ngũ công chức của Nhật Bản luôn được đánh giá là có chất lượng cao Chính phủ đã tập trung đầu tư vào khoa học cơ bản và kích thích sáng tạo

Trung Quốc, công xưởng của thế giới đạt được những kì tích kinh tế trong những thập kỉ qua chủ yếu là nhờ áp dụng công nghệ cao, nhanh chóng làm chủ được công nghệ nước ngoài thông qua một nguồn nhân lực được đào tạo tốt Chính phủ Trung Quốc luôn xem bồi dưỡng, giáo dục đào tạo và bồi dưỡng nhân tài và phát triển khoa học công nghệ là những chiến lược quốc gia quan trọng Singapore, Malaysia, Thái Lan việc coi trọng vai trò chủ đạo của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội đã giúp các quốc gia này luôn đạt được mục tiêu

đề ra trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước

Những bài học kinh nghiệm nêu trên là quý giá, thiết thực có thể gợi mở về các giải pháp đào tạo, sử dụng có hiệu quả, đầu tư hợp lí cho nguồn nhân lực con

Trang 8

người nhằm phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở Việt Nam giai đoạn

2011 – 2020

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

2.1 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới

Sau nhiều nỗ lực thực hiện cải cách và hội nhập, bước chuyển mang tính bứt phá này dựa trên hai nội dung cốt yếu là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, và chuyển từ phát triển khép kín sang đẩy mạnh mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, đã đưa đến những thành công đáng khích lệ, làm thay đổi

cả lượng và chất đời sống kinh tế - xã hội theo 3 nhóm tiêu chí sau:

- Nhóm tiêu chí tăng trưởng kinh tế, nhóm tiêu chí chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhóm tiêu chí phát triển bền vững

2.2 Thực trạng nguồn lực con người của Việt Nam

Lý thuyết và thực tiễn phát triển ở tất cả các nước trên thế giới đã cho thấy nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình tăng trưởng và phát triển nền kinh tế quốc dân 2.2.1 Thực trạng về thể chất, về trình độ văn hóa

và kỹ thuật chuyên môn

Về thể lực và sức khỏe theo đánh giá của các chuyên gia, thể lực và sức khỏe

của người Việt Nam hiện nay chỉ dừng lại ở mức độ trung bình, theo bản thống kê

về chỉ số phát triển con người HDI Việt Nam đứng thứ 112/177 nước trên thế giới

Về trình độ văn hóa, kỹ thuật chuyên môn Việt Nam là một trong số ít các

quốc gia ở khu vực có tỷ lệ người lớn biết chữ và trẻ em trong độ tuổi đến trường khá cao: khoảng 94% dân số biết chữ Tỷ lệ này cao hơn nhiều so với mức bình quân của thế giới là 81,7%

Trang 9

Về số lượng Việt Nam hiện có một đội ngũ nhân lực tương đối dồi dào so

với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Đến hết năm 2007, cả nước có trên

44 triệu lao động trên tổng số 85 triệu dân, đứng thứ 2 trong khu vực và thứ 13 trên thế giới về quy mô dân số

Về cơ cấu dân số Cơ cấu dân số cũng thay đổi mạnh, đặc biệt là cơ cấu dân

số theo nhóm tuổi Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động tăng từ 51% lên 65% Tương ứng, tỷ lệ những người ngoài độ tuổi lao động giảm từ 49% xuống còn 35%

Về chất lượng Ba mươi năm qua, lực lượng lao động có trình độ có trình độ

chuyên môn kỹ thuật ở nước ta đã tăng từ 7,6% năm 1986 lên gần 30% năm 2007 2.2.2 Chỉ số HDI của người Việt Nam

Chỉ số do Liên hợp quốc nêu ra về phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng lên khá vững chắc trong vòng hơn 10 năm qua, từ 0,539 năm 1905 lên 0,725 năm 2009 và dự báo năm 2010 là 0,750

2.2.3 So sánh năng lực của con người Việt Nam với các quốc gia khác

Sau hơn 30 năm tiến hành CNH, vẫn còn khoảng 70% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Tỷ lệ học sinh, số trường các cấp học, số trường đại học, tỷ lệ tốt nghiệp đại học, tỷ lệ TS trên triệu dân của Việt Nam đều cao hơn so với tất cả các nước có mức thu nhập bình quân theo đầu người tương đương với Thái Lan Tuy nhiên, Báo cáo phát triển thế giới năm 2006 của WB đưa ra nhận định: Việt Nam chỉ có 2% dân số được học từ 13 năm trở lên, tụt hậu khá xa so với các nước trong khu vực Việt Nam xếp hạng chót trong khu vực với tỷ lệ 10%

số người trong độ tuổi 20-24 học đại học, trong khi tỷ lệ này ở Trung Quốc là 15%, Thái Lan là 41% và Hàn Quốc là 89% Theo điều tra của WEF năm 2005, nguồn nhân lực Việt Nam về chất lượng được xếp hạng 53/59 quốc gia được khảo sát, song mất cân đối nghiêm trọng Ở Việt Nam cứ 1 cán bộ tốt nghiệp Đại học có 1,16 cán bộ tốt nghiệp trung cấp và 0,92 công nhân kỹ thuật, trong khi đó tỷ lệ này trên thế giới là 1,4 và 10 Ở Việt Nam cứ 1 vạn dân có 181 sinh viên đại học, trong khi đó của thế giới là 100, của Trung Quốc là 140 2.3 Đánh giá vai trò của nguồn

Trang 10

lực con người Việt Nam đối với sự phát triển kinh tế xã hội bền vững trong thời gian qua

2.3.1 Thực trạng về hiệu quả sử dụng nguồn lực con người trong phát triển kinh tế xã hội

Trên thực tế, Việt Nam đang đứng trước những thách thức không nhỏ trong việc đào tạo và sử dụng nguồn lực con người chất lượng Với tốc độ tăng dân số khá cao, hàng năm có khoảng 1,5 tới 1,7 triệu lao động trẻ tham gia thị trường lao động, tức cung lao động trên thị trường lao động Việt Nam luôn dồi dào và lớn hơn cầu về lao động Song phần lớn lại là lao động phổ thông và được phân bố chủ yếu trong khu vực nông nghiệp nơi kỹ năng, tay nghề và trình độ của người lao

động không cần cao

Thực tế còn cho thấy, hiệu quả lao động của Việt Nam hiện còn thấp so với khu vực và kinh tế thế giới Để cải thiện tình hình này, việc xây dựng và sử dụng một cách hiệu quả nguồn lực con người chất lượng cao được xem là yếu tố then chốt

2.3.2 Phát huy năng lực, đãi ngộ và tôn vinh người tài

Trong cuộc sống đổi mới hiện nay, việc sử dụng người tài đức lại càng được quan tâm Tại Hội thảo về chủ đề Học Bác: Trí thức mạnh, đất nước mới hưng thịnh do Hội khoa học – kỹ thuật Hà Nội tổ chức ngày 17/5/2010, các nhà khoa học, trí thức mong muốn phát huy bài học lịch sử về “Chiếu cầu hiền”, trong dụng trí thức và nhân tài của Chủ tịch Hồ Chính Minh Đây là nội dung quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh

Ngày đăng: 21/09/2017, 23:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w