A. MỞ ĐẦU1B. NỘI DUNG2I. Lý luận chung về Hải quan và thủ tục hành chính trong ngành Hải quan21. Hải quan và thủ tục hành chính trong ngành Hải quan22. Định hướng cải cách thủ tục hành chính trong ngành Hải quan43. Ý nghĩa cải cách thủ tục hành chính trong ngành Hải quan6II. Thực trạng cải cách thủ tục hành chính trong ngành Hải quan81. Quan điểm của Nhà nước về cải cách thủ tục Hải quan82. Thực trạng cải cách thủ tục hành chính trong ngành Hải quan8III. Một số giải pháp cải cách thủ tục hành chính trong ngành Hải quan121. Định hướng cải cách thủ tục hải quan từ nay đến năm 2020122. Giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về thủ tục hải quan133.Giải pháp thực hiện thủ tục hải quan điện tử144. Giải pháp triển khai cơ chế một cửa quốc gia gắn với cải cách thủ tục hành chính155. Phát triển công nghệ thông tin15C. KẾT LUẬN16
Trang 1Hiện nay, các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, phương tiện vậntải tăng trưởng mạnh mẽ theo từng năm Bên cạnh đó, dưới tác động của xuhướng tự do hóa, toàn cầu hóa thương mại quốc tế, các tổ chức quốc tế hiện nayrất chú trọng tới đơn giản hóa, hài hòa hóa thủ tục hải quan, giảm thiểu tối đa chiphí trong quá trình làm thủ tục, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp Do đó, cơ quan hải quan ngày càng phải đối mặt với nhiều tháchthức như môi trường làm việc phức tạp, biến đổi liên tục, khối lượng hàng hóatăng nhanh, phương thức vận chuyển hàng hóa đa dạng, hiện đại, áp lực tạothuận lợi thương mại cao (xử lý hàng hóa trong thời gian ngắn và hạn chế canthiệp trực tiếp vào hàng hóa ); phạm vi hoạt động của hải quan mở rộng và
Trang 2chuyên sâu (bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, ngăn chặn việc xuất khẩu, nhập khẩu,quá cảnh bất hợp pháp các loại rác thải độc hại ), các hoạt động vi phạm phápluật hải quan ngày càng tinh vi và phức tạp; nguồn lực hạn chế
Để giải quyết tổng thể những thách thức này thì việc cải cách TTHC trongngành Hải quan là một giải pháp hiệu quả Tuy nhiên, để cải cách thành công, cơquan Hải quan đồng thời phải thực hiện các yêu cầu về hiện đại hóa: sửa đổi hệthống pháp luật, tái cơ cấu tổ chức và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực, phát triển
và ứng dụng đồng bộ hệ thống công nghệ thông tin trong các khâu nghiệp vụquản lý Dưới sự tác động này, các chương trình, dự án về cải cách TTHC trongngành Hải quan đã được chú trọng thực hiện trong nhiều năm và đã thu đượcnhiều kết quả tích cực, từng bước đáp ứng được những yêu cầu chung của Hảiquan quốc tế
B NỘI DUNG
I Lý luận chung về Hải quan và thủ tục hành chính trong ngành Hải quan
1 Hải quan và thủ tục hành chính trong ngành Hải quan
1.1 Khái niệm Hải quan
Theo Tổ chức Hải quan thế giới: “Hải quan là cơ quan của Chính phủchịu trách nhiệm thi hành Luật Hải quan và thu thuế hải quan và thuế khác đồngthời cũng chịu trách nhiệm thi hành các luật khác có liên quan đến việc nhậpkhẩu, xuất khẩu, vận chuyển hoặc lưu kho hàng hóa” Theo Đại Từ điển TiếngViệt, Hải quan là “công tác kiểm soát, đánh thuế hàng hóa xuất, nhập cảng”
Ở nước ta, cơ quan Hải quan là thiết chế nhà nước được thành lập để trựctiếp thực hiện hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật Cùng với việcthực hiện hoạt động này, Hải quan Việt Nam còn là cơ quan giúp Bộ trưởng BộTài chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan Hải quan nằmtrong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, có cơ cấu tổ chức riêng đểthực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình do pháp luật quy định, hoạt động trênmột đơn vị hành chính - lãnh thổ hải quan hay trên một lĩnh vực nhất định – lĩnh
Trang 3vực hải quan Hải quan là công cụ thiết yếu của nhà nước trong việc đảm bảothực hiện chính sách về phát triển các quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa vớinước ngoài, góp phần tăng cường sự giao lưu và hợp tác quốc tế, bảo vệ lợi ích,chủ quyền và an ninh quốc gia.
1.2 Khái niệm thủ tục hành chính trong ngành Hải quan
Theo quy định tại khoản 1, điều 3, Nghị định số 63/2010/ NĐ-CP của
Chính phủ: “Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu
cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức”.
Như vậy, TTHC là một chế định tất yếu của luật hành chính Nói cáchkhác, TTHC là loại quy phạm hành chính có tính công cụ để cơ quan nhà nước
có điều kiện thực hiện chức năng của mình TTHC bảo đảm cho các quy phạmcủa luật hành chính được thực hiện có hiệu quả trong đời sống xã hội Xây dựngmột quan niệm chung, thống nhất về TTHC chẳng những có ý nghĩa, vai trò tolớn trong hoạt động lập pháp, lập quy mà còn rất cần thiết để có nhận thức hànhđộng đúng đắn trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước; đặc biệt là trongtiến trình cải cách nền hành chính nhà nước
- Thủ tục Hải quan
Trên cơ sở khái niệm chung về TTHC, có thể hiểu TTHC trong lĩnh vựchải quan là trình tự thực hiện các công việc thuộc thẩm quyền của cơ quan hảiquan, trình tự thực hiện quyền và nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân liên quantrong quá trình tiến hành hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật
Theo Luật Hải quan số 54/2014/QH13 Điều 4, khoản 23 nêu rõ: “Thủ tục
hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của Luật này đối với hàng hóa, phương tiện vận tải”.
Theo quy định của pháp luật, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; phươngtiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phải được làm thủ tục Hải quan(TTHQ) theo đúng các nguyên tắc của TTHC, đó là “công khai, nhanh chóng vàtheo đúng các quy định của pháp luật” Nội dung của TTHQ thể hiện qua ba yếu
Trang 4tố: Chủ thể tham gia TTHQ; Đối tượng của TTHQ; Quy trình các bước củaTTHQ.
Như vậy, TTHQ là yêu cầu đặt ra đối với chủ thể kiểm tra hải quan và chủthể bị kiểm tra hải quan về những công việc phải làm, những chứng từ, văn bản
có liên quan đến hàng hóa, phương tiện vận tải phải xuất trình và xem xét nhằmđảm bảo thi hành đúng đắn, nghiêm chỉnh chế độ, chính sách của Nhà nước vềquản lý hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh,quá cảnh
1.3 Đặc điểm thủ tục hành chính trong ngành Hải quan
TTHQ thực chất là một loại TTHC, do đó cũng nó cũng mang đặc điểmcủa TTHC:
Thứ nhất, TTHC là trình tự thực hiện thẩm hiện thẩm quyền trong quản lý
hành chính nhà nước
Thứ hai, TTHC là thủ tục viết Hoạt động quản lý hành chính nhà nước
được thực hiện chủ yếu tại văn phòng công sở nhà nước và kết quả của hoạtđộng này chủ yếu thể hiện bằng bằng văn bản
Thứ ba, TTHC được thực hiện bởi nhiều cơ quan và người có thẩm
quyền
Thứ tư, TTHC là thủ tục giải quyết công việc nội bộ nhà nước và công
việc liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhânkhác nhau cho nên có nhiều loại TTHC khác nhau
Ngoài những đặc điểm chung của TTHC, TTHQ còn mang những đặcđiểm riêng:
Thứ nhất, TTHQ mang tính chất đặc thù với các nghiệp vụ chuyên sâu Thứ hai, TTHQ được thực hiện chủ yếu tại biên giới quốc gia.
Thứ ba, TTHQ mang tính chất liên ngành.
Thứ tư, TTHQ gắn liền với tự động hóa, điện tử hóa.
Trang 52 Định hướng cải cách thủ tục hành chính trong ngành Hải quan
2.1 Cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa, công khai, minh bạch và dễ tiếp cận
Từ trước tới nay, TTHC trong bất kỳ một cơ quan nhà nước nào cũngmang dấu ấn về sự rườm rà, quan liêu gây ra nhiều phiền hà đối với người dân,doanh nghiệp Cho nên, mục tiêu đơn giản hóa TTHC là một trong nhữngnguyên tắc cơ bản khi tiến hành cải cách TTHC Đơn giản hóa TTHC là làm chonhững thủ tục này trở nên gọn nhẹ nhưng đồng thời vẫn đảm bảo tuân thủ đúngpháp luật Nội dung của đơn giản hóa TTHC bao gồm: đơn giản hóa, hủy bỏ, bãi
bỏ, sửa đổi các TTHC, mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, các yêu cầu và điềukiện thực hiện TTHC không hợp pháp
Các TTHC cần được công khai Để thực hiện được điều này thì cần phảithống kê, rà soát TTHC và thiết lập một hệ thống lưu trữ dữ liệu quốc gia cũngnhư của từng cơ quan Chính phủ nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân, doanhnghiệp khi muốn tham chiếu đến bất kỳ một lĩnh vực cụ thể nào, tạo cơ hội chotất cả các cá nhân, tổ chức hiểu rõ hơn quyền và nghĩa vụ của mình Sự côngkhai TTHC sẽ làm giảm bớt chi phí đồng thời nâng cao tính tuân thủ của doanhnghiệp bởi sự rõ ràng của thủ tục sẽ giúp cho doanh nghiệp chủ động hơn khilàm thủ tục
Các TTHC đơn giản, công khai, minh bạch sẽ giúp cho doanh nghiệp tiếpcận một cách dễ dàng Điều này sẽ giúp doanh nghiệp tính toán được chi phítrong quá trình sản xuất kinh doanh trong đó có một phần không nhỏ dành chocác chi phí quản lý hành chính nhà nước Hơn nữa, sẽ tạo được lòng tin củanhân dân vào sự công khai, minh bạch của nhà nước và là động lực to lớn cho sựphát triển đất nước
2.2 Bảo đảm tính ổn định của quy trình thủ tục hành chính
Tính ổn định của quy trình TTHC thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đốivới công dân, tổ chức TTHC bị thay đổi tùy tiện làm cho doanh nghiệp không
có đủ điều kiện để theo dõi kịp thời các quy định của pháp luật Hơn nữa, trong
Trang 6sự thay đổi đó còn tạo ra nhiều sơ hở để chủ thể có thẩm quyền lợi dụng sáchnhiễu đối với doanh nghiệp Hệ thống thủ tục thay đổi một cách tùy tiện là một
hệ thống thủ tục không khoa học.
Ổn định hệ thống TTHC là một vấn đề không đơn giản Bản thân sự ổnđịnh đòi hỏi việc xây dựng các loại văn bản quy định TTHC phải tuân thủ nhữngnguyên tắc cơ bản và phản ánh tính nghiêm túc của các cơ quan nhà nước trongquan hệ với dân Trong giai đoạn hiện nay, nhiều vấn đề mới phát sinh chưa cótiền lệ trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta Chính vì vậy, những điềuchỉnh là rất cần thiết, nhưng không thể vì tính chất chuyển đổi của cơ chế kinh tế
mà không xem xét đến tính ổn định của các loại TTHC
TTHC trong việc đáp ứng những đòi hỏi của nhân dân, cần luôn khẳngđịnh lợi ích phải thuộc về nhân dân và phải làm sao để người dân khi đến cơquan nhà nước giải quyết công việc hiểu được và có thể giám sát được ngườithay mặt Nhà nước giải quyết công việc đúng hay sai? Đây cũng là con đường
có hiệu quả để tăng cường kỷ cương phép nước, giảm nhẹ quan liêu, cửa quyền,góp phần chống tệ nạn tham nhũng, chống lại việc sách nhiễu đối với dân củacác cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước nói chung và trong ngành Hảiquan nói riêng
2.3 Cải cách thủ tục hành chính áp dụng phương pháp quản lý hiện đại
Áp dụng các chuẩn mực quốc tế để cải cách TTHC trong ngành Hải quan
là khía cạnh kỹ thuật được các tổ chức quốc tế (Tổ chức thương mại thế giới, Tổchức Hải quan thế giới, Cơ quan Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển )yêu cầu các nước thực hiện nhằm tăng cường độ chắc chắn và khả năng dự báocủa quy định và chính sách thương mại thông qua việc chuẩn hóa các địnhnghĩa, thông tin, tài liệu về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải xuất trình hoặcnộp trên cơ sở áp dụng những chuẩn mực thống nhất trên phạm vi toàn cầu.Ngoài ra, việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong TTHQ sẽ giúp loại bỏ cácthông tin, thủ tục trùng lặp; giảm thiểu sai sót khi thực hiện nhiều lần thủ tụcgiống nhau; làm cho thông tin trở nên dễ hiểu Một khía cạnh khác của phương
Trang 7pháp quản lý hiện đại là áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro (QLRR) trong quy trìnhTTHQ “Rủi ro có nghĩa là khả năng một điều gì đó sẽ xảy ra, ngăn chặn việc ápdụng các biện pháp xử lý của cộng đồng hoặc của quốc gia liên quan đến đối xửhàng hóa của Hải quan” Để giảm thiểu việc xảy ra các rủi ro, cơ quan hải quan
có thể sử dụng QLRR như một kỹ thuật để đưa ra các ưu tiên và phân bổ hiệuquả hơn các nguồn lực cần thiết cho việc duy trì sự cân bằng giữa kiểm soát vàtạo thuận lợi cho thương mại hợp pháp
Phương pháp quản lý hiện đại sẽ khắc phục những nhược điểm phổ biếncủa quản lý hành chính là làm theo thói quen, kinh nghiệm, tùy tiện Các chuẩnmực quốc tế được thực hiện trên cơ sở rà soát các TTHC, các quy trình nghiệp
vụ nhằm xây dựng một quy trình xử lý công việc nhất quán, khoa học, hợp lý,xác định rõ công việc, người thực hiện công việc, cách thức, trình tự và các biểumẫu thực hiện; đảm bảo cơ sở, căn cứ pháp lý để người lãnh đạo có thể kiểmsoát được quá trình giải quyết công việc nội bộ của cơ quan Hải quan Do đó,các quy định của Nhà nước về hoạt động Hải quan đều được thực hiện thốngnhất
3 Ý nghĩa cải cách thủ tục hành chính trong ngành Hải quan
3.1 Về kinh tế - xã hội
Cải cách TTHC trong ngành Hải quan có ý nghĩa quan trọng đối với nềnkinh tế của đất nước, góp phần xây dựng và củng cố tiềm lực tài chính quốc gia.Đóng góp của ngành Hải quan trong sự vững mạnh của nền tài chính quốc gia làkhông hề nhỏ Hải quan tạo thuận lợi cho giao thương giữa Việt Nam và cácnước được an toàn, đồng thời bảo vệ và giúp tăng cường sản xuất, kinh doanhtrong nước, góp phần kiềm chế nhập siêu Cải cách TTHC trong ngành Hải quankhiến doanh nghiệp Việt Nam tăng cường được sức cạnh tranh trong chuỗithương mại quốc tế
3.2 Về chính trị
Ở nước ta, ngay từ khi mới thành lập, lực lượng thuế quan (Hải quan) làmột trong những công cụ để khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Nhà nước Việt
Trang 8Nam Dân chủ Cộng hòa Cải cách hành chính trong ngành Hải quan thể hiệnquan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng trong từng thời kỳ khác nhau Nước tađang bước vào thời kỳ hiện đại hóa, công nghiệp hóa, xây dựng nền kinh tếnhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, để hiện thực hóa các mụctiêu đó thì cần thiết phải cải cách hành chính Nhiệm vụ của ngành Hải quanđược đặt ra trong nhiệm vụ chung của các cơ quan Chính phủ và nằm trongChương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước.
3.3 Về an ninh quốc gia
Cơ quan Hải quan được đặt chủ yếu tại các biên giới quốc tế không chỉnhư biểu tượng của chủ quyền quốc gia mà còn như bức tường thành bảo vệ đấtnước trước những mối đe dọa bên ngoài về y tế, an toàn môi trường; bảo hộ nềnsản xuất trong nước và đảm trách nhiệm vụ thu thuế cho ngân sách nhà nước.Bởi vậy, Hải quan cần nhận thức được các ưu tiên quốc gia liên quan đến tộiphạm hình sự trong nước, vấn đề nhập cư, lao động, nền kinh tế có tác động nhưthế nào đến quản lý biên giới Đồng thời, Hải quan cũng phải nắm bắt được cácvấn đề quốc tế cũng như khả năng tác động của chúng đến quốc gia
3.4 Hội nhập kinh tế quốc tế
Trong khi việc đảm bảo an ninh có ý nghĩa rất quan trọng đối với chínhphủ và doanh nghiệp thì trách nhiệm tạo thuận lợi thương mại cho thương mạihợp pháp của cơ quan hải quan cũng không kém phần quan trọng Nếu áp dụngđúng, an ninh sẽ giúp tạo thuận lợi thương mại thông qua việc xây dựng lòng tincủa doanh nghiệp, tạo thuận lợi cho đầu tư Do đó, cải cách TTHC sẽ là chất xúctác cho quá trình này diễn ra một cách thuận lợi nhất là khi TTHC được coi làmột trong những yếu tố rào cản đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào khi muốntham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu
II Thực trạng cải cách thủ tục hành chính trong ngành Hải quan
1 Quan điểm của Nhà nước về cải cách thủ tục Hải quan
Trong chỉ đạo cải cách nền hành chính nhà nước, cải cách TTHC là khâuđột phá Mục tiêu đặt ra ở đây là nhanh chóng khắc phục những yếu kém,
Trang 9khuyết điểm của quá trình điều hành trong các cơ quan đụng chạm trực tiếp đếnđời sống và hoạt động của nhân dân và các doanh nghiệp trong đó có thủ tụcxuất, nhập khẩu của ngành Hải quan Việc xây dựng chương trình, kế hoạch cảicách hành chính hải quan được xác định là một khâu quan trọng nhằm triển khaiđồng bộ, toàn diện Nghị quyết Trung ương 5, chương trình hiện đại hóa ngànhHải quan đã được Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Theo đó, BộTài chính đã xây dựng và ban hành kịp thời chương trình, kế hoạch với mụctiêu, giải pháp thực hiện gắn với các nhiệm vụ công tác xây dựng văn bản quyphạm pháp luật; xác định rõ thời gian tiến độ thực hiện tập trung trọng tâm vàoviệc hoàn thiện thể chế, hoàn thiện tổ chức bộ máy, cải cách chế độ công vụ, cảicách tài chính công, hiện đại hóa ngành Hải quan, cải cách TTHC Đồng thờităng cường công tác chỉ đạo, giám sát đối với hoạt động của đơn vị Bên cạnh
đó, để đảm bảo công tác quản lý nhà nước về hải quan một cách khoa học, nhằmđáp ứng các yêu cầu hội nhập quốc tế, cải cách hành chính, ngành Hải quan cần
có phải có sự thay đổi các hoạt động trong tình hình mới
2 Thực trạng cải cách thủ tục hành chính trong ngành Hải quan
2.1 Thực trạng pháp luật về cải cách thủ tục Hải quan
Hệ thống pháp luật về Hải quan đã có tính linh hoạt cao do nó quy định vềcác quyền lực cần thiết của lãnh đạo Hải quan trong việc ban hành những thủ tục
và nghiệp vụ hiện đại, đồng thời cho phép sửa đổi thông qua các văn bản hướngdẫn, chứ không phải sửa đổi trực tiếp trên luật
Tuy nhiên hệ thống pháp luật về Hải quan vẫn còn một số điểm hạn chế:
Thứ nhất, hệ thống pháp luật về hải quan còn chưa đầy đủ, đồng bộ, chưa
lường được những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện ví dụ như các quyđịnh về TTHQ điện tử
Thứ hai, nội dung của một số văn bản liên quan đến hoạt động hải quan
còn mâu thuẫn, chồng chéo nhau, một số văn bản chưa được xây dựng và banhành theo đúng kế hoạch
Thứ ba, một số quy định chưa rõ ràng, cụ thể.
Trang 10Thứ tư, Luật Hải quan hiện hành quá định hướng vào kiểm soát và coi
hoạt động hải quan đơn thuần là kiểm soát hàng hóa mà chưa chú trọng đến tạothuận lợi cho thương mại hợp pháp trên cơ sở ứng dụng các kỹ thuật quản lý hảiquan hiện đại
Sự hạn chế của pháp luật về TTHQ trong xu hướng cải cách hiện nay xuấtphát từ việc ban hành các văn bản pháp luật trong ngành ngoài việc tham chiếu,tuân thủ các quy định của pháp luật trong nước thuộc lĩnh vực chuyên môn của
Bộ, ngành khác còn phải từng bước nội luật hóa các chuẩn mực từ các điều ướcquốc tế Do đó, với tính chất liên ngành và tính nghiệp vụ chuyên sâu của TTHQthì quá trình hài hòa, thống nhất và chi tiết trong hệ thống văn bản pháp luậtkhông phải một sớm một chiều có thể làm xong Ngoài ra, các văn bản hướngdẫn về TTHQ nhiều khi để giải quyết vấn đề tình thế cho nên tính ổn định, nhấtquán là không cao
2.2 Thực trạng cải cách thủ tục hành chính với hoạt động xuất nhập khẩu
Ở Việt Nam, hàng hóa muốn xuất ra khỏi hoặc nhập vào lãnh thổ đềuphải tuân theo các quy trình TTHC nói chung mà Luật Hải quan và các văn bảnkhác quy định Nội dung chính của quy trình này bao gồm nhiều thủ tục đơn lẻđược thực hiện tuần tự để đảm bảo khi hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu đápứng được mọi yêu cầu pháp lý đặt ra Tập hợp các TTHC đơn lẻ nói trên kể cảtrên phương tiện giấy tờ cũng như các tác động thực kiểm tạo nên quy trìnhTTHQ
Quy trình thông quan được tiến hành tuần tự theo một quy trình gồmnhững thủ tục sau: Khai hải quan - Tiếp nhận và đăng ký hải quan - Kiểm tragiám sát hải quan -Tính và thu thuế - Thông quan hàng hóa
Như vậy, với quy trình TTHQ hiện tại, ngành Hải quan tiếp tục đổi mớiphương pháp quản lý Hải quan hiện đại từ tiền kiểm sang hậu kiểm TTHQ đã
cơ bản được thực hiện đơn giản, hài hòa dựa trên phương pháp QLRR và ápdụng công nghệ thông tin song song với việc đẩy mạnh áp dụng kiểm tra sau
Trang 11thông quan Các quy trình TTHQ đã rõ ràng, hiệu quả, phân định được tráchnhiệm của từng khâu nghiệp vụ, từng công chức thực hiện.
2.3 Thực trạng thực hiện thủ tục Hải quan điện tử
Tại Việt Nam, chương trình thí điểm TTHQ điện tử đã được Thủ tướngChính phủ cho phép thực hiện từ năm 2005 trên cơ sở Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg về việc triển khai dự án và Quyết định 103/2009/QĐ-TTg vào ngày12/8/2009 sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định 149/2005/QĐ-TTg ngày20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm TTHQ điện tử Tổ chức thựchiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử tại Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh
và Cục Hải quan thành phố Hải Phòng Tổ chức thực hiện thí điểm mở rộng thủtục hải quan điện tử tại 10 Cục Hải quan tỉnh, thành phố và một số cục Hải quantỉnh, thành phố có đủ điều kiện được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo đềnghị của Bộ Tài chính
Quá trình thực hiện theo thủ tục hải quan điện tử như sau:
Việc khai báo, tiếp nhận, xử lý và phản hồi thông tin qua phương tiện điện
tử Thông tin khai hải quan được khai thông qua phương tiện điện tử tới hệthống xử lý dữ liệu điện tử của cơ quan hải quan Hệ thống xử lý dữ liệu điện tửcủa cơ quan hải quan tiếp nhận, xử lý và phản hồi thông tin cho người khai hảiquan hoặc các cơ quan khác có liên quan
Sử dụng hồ sơ hải quan điện tử Hồ sơ hải quan điện tử bao gồm tờ khaihải quan điện tử (có thể sử dụng ở dạng văn bản giấy) và các chứng từ đi kèm tờkhai có thể ở dạng điện tử hoặc văn bản giấy
Xử lý thông tin khai hải quan tự động
Áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro để đánh giá mức độ tuân thủ và phânluồng hàng hóa dựa trên bộ tiêu chí quản lý rủi ro và hồ sơ tuân thủ doanhnghiệp
Ra quyết định dựa trên phân tích thông tin với sự hỗ trợ của hệ thống xử
lý dữ liệu điện tử Nội dung của việc ra quyết định thể hiện ở các điểm sau: