Để ngăn chặn tình trạng này, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều dự án và ch-ơng trình bảo vệ và phát triển rừng nh- ch-ơng trình 327, ch-ơng trình trồng mới 5 triệu ha rừng, các chươn
Trang 1-
Tô hiền đệ
Một số giải pháp đề xuất nhằm phát triển sản xuất kinh doanh
các loại lâm sản ngoài gỗ tại vùng đệm
v-ờn quốc gia pù mát, tỉnh nghệ an
luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
Hà tây – 2006
Trang 2-
Tô hiền đệ
Một số giải pháp đề xuất nhằm phát triển sản xuất kinh doanh
các loại lâm sản ngoài gỗ tại vùng đệm
v-ờn quốc gia pù mát, tỉnh nghệ an
Mã số: 60.62.60
luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn
Hà tây – 2006
Trang 4Ch-ơng 1
Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Cũng nh- các n-ớc Đông Nam á khác, Việt Nam là đất n-ớc của rừng nhiệt
đới, nơi chứa đựng rất nhiều nguồn tài nguyên quí giá, đáp ứng những nhu cầu thiết yếu cho con ng-ời nh- l-ơng thực, thực phẩm, d-ợc liệu và các nguyên liệu khác phục vụ cho các hoạt động phát triển Tuy nhiên nguồn tài nguyên quí giá này đang ngày càng bị cạn kiệt do các hoạt động khai thác và sử dụng không bền vững của con ng-ời Để ngăn chặn tình trạng này, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều dự
án và ch-ơng trình bảo vệ và phát triển rừng nh- ch-ơng trình 327, ch-ơng trình trồng mới 5 triệu ha rừng, các chương trình và dự án do các tổ chức quốc tế tài trợ… Những ch-ơng trình, dự án này đã đem lại những kết quả khả quan trong việc phát triển TNR; tuy vậy, đối t-ợng quan tâm chủ yếu của các ch-ơng trình, dự án này chỉ
là gỗ, trong khi đó các loại LSNG ít đ-ợc chú ý đầu t- phát triển Hiện nay, việc khai thác và buôn bán các loại LSNG không đ-ợc quản lý, không chịu sự điều tiết và h-ớng dẫn cụ thể bởi một cơ quan chức năng nào, các LSNG bị khai thác tự do và phụ thuộc phần lớn vào thiên nhiên, thị tr-ờng buôn bán tự phát, một l-ợng lớn đ-ợc xuất khẩu trái ngạch sang Trung Quốc, các địa ph-ơng rất ít hoặc không quan tâm
đến việc bảo tồn và phát triển nhiều loài có giá trị, hoặc việc gây trồng phát triển chỉ chú trọng vào một vài loài có thị tr-ờng lớn nh-ng đòi hỏi qui trình kỹ thuật và chế biến phức tạp nên th-ờng bị thất bại Tất cả những vấn đề trên đã làm nguồn tài nguyên LSNG ở nhiều vùng miền núi ngày càng cạn kiệt Hiện trạng trên đã làm cho mức độ phụ thuộc vào rừng của ng-ời dân địa ph-ơng sống trong các v-ờn quốc gia (VQG) và các khu bảo tồn (KBT) ngày càng tăng lên, tài nguyên rừng ngày càng cạn kiệt, cơ hội cải thiện đời sống và phát triển kinh tế ở các vùng miền núi càng hiếm hoi hơn
LSNG từ x-a đến nay vẫn giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống hàng ngày của các gia đình dân c- vùng trung du và miền núi n-ớc ta Gần đây, nhờ việc buôn bán qua biên giới, những sản phẩm này đ-ợc đánh giá cao hơn Nh-ng nguy cơ cạn
Trang 5kiệt nguồn tài nguyên quý giá này ngày càng gia tăng rõ rệt Những kiến thức bản
địa đ-ợc tích luỹ từ xa x-a đang bị mai một dần do sự ra đi của thế hệ già và nhiều nguyên nhân khác Vì vậy việc giữ gìn các tri thức truyền thống, các kiến thức bản
địa có giá trị nhằm tạo điều kiện phát huy giá trị và vai trò của chúng trong phát triển bền vững LSNG nói riêng và tài nguyên thiên nhiên nói chung cũng là việc làm
cần thiết hiện nay
Trong những năm gần đây, khi VQG Pù Mát đ-ợc thành lập, nguồn tài nguyên gỗ đ-ợc quản lý chặt chẽ hơn, ng-ời dân địa ph-ơng lại tập trung vào khai thác LSNG cung cấp cho các th-ơng nhân về thu mua Chỉ sau vài năm, một số loài LSNG trong rừng, gần nh- đã bị "quét sạch"; việc khai thác bừa bãi làm mất cơ hội
để tái sinh và phát triển tiếp của loại cây này Vì thế mà nguồn thu nhập của ng-ời dân địa ph-ơng ngày càng giảm, ruộng n-ơng không có hoặc có rất ít, trong khi đó nhu cầu của cuộc sống ngày lại càng lớn, muốn tồn tại, họ phải tìm mọi cách, kể cả phạm pháp nh- khai thác gỗ, động vật hoang dã và tiếp tay cho lâm tặc, Nếu chúng ta không có biện pháp nào để giúp họ tìm ra một nguồn thu nhập bền vững, cải thiện đời sống kinh tế thì việc suy thoái đa dạng sinh học và tài nguyên rừng là không thể tránh khỏi Nghèo đói và suy thoái tài nguyên rừng là cái vòng luẩn quẩn
đe dọa sự phát triển bền vững của các vùng miền núi tỉnh Nghệ An nói chung và ng-ời dân vùng đệm VQG Pù Mát nói riêng Để chống chọi với đói nghèo, ng-ời dân vùng đồi núi hiện nay đang buộc phải vay m-ợn của t-ơng lai bằng cách làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên Hậu quả là tốc độ tàn phá rừng ngày càng tăng, mà nghèo đói vẫn tiếp diễn Vì vậy, nghiên cứu nhằm bảo tồn và đ-a ra các giải pháp phát triển LSNG để nâng cao thu nhập cộng đồng và bảo vệ rừng là hết sức cần thiết
1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Sự suy thoái tài nguyên rừng, nhất là sự suy giảm tính đa dạng sinh học hiện
đang là vấn đề hết sức cấp bách không chỉ tạo áp lực đe dọa mục tiêu bảo tồn của các khu rừng nhiệt đới, mà còn đe dọa đời sống kinh tế của cộng đồng dân c- sống trong rừng và ven rừng của VQG Pù Mát Sự đói nghèo và sử dụng tài nguyên không hợp lý không chỉ đeo đuổi cuộc sống của ng-ời dân nơi đây, làm suy thoái tài
Trang 6nguyên rừng, giảm sút tính đa dạng sinh học vô cùng quí giá, mà còn đe dọa đến môi tr-ờng và sự phát triển bền vững
Khi hệ thống quản lý tập trung vào một số đối t-ợng là gỗ, những sinh vật quý hiếm, các sinh vật đặc hữu, các sinh vật đang có nguy cơ bị tuyệt chủng thì LSNG trở thành nguồn tài nguyên chính cho sự khai thác của ng-ời dân địa ph-ơng,
nó đóng vai trò rất quan trọng, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập của họ Cùng với
sự gia tăng dân số, sự phát triển của nền kinh tế thị tr-ờng và nhu cầu của ng-ời dân ngày một lớn, nguồn tài nguyên phi gỗ đã và đang bị khai thác cạn kiệt Ng-ời dân vùng đệm ngày càng lâm vào tình huống thiếu thốn chật vật, bởi nhu cầu của họ không ngừng tăng lên cả về số l-ợng và chất l-ợng mà nguồn tài nguyên họ th-ờng khai thác tr-ớc kia nh- gỗ hay động vật hoang dã đã ngày khan hiếm dần hoặc đã bị kiểm soát chặt chẽ hơn Điều đó bắt buộc họ phải tìm cách ứng phó với sự thiếu thốn tài nguyên để bảo toàn sự sống Nh- vậy, áp lực khai thác lại đổ dồn vào các đối t-ợng là LSNG, vì thế nguồn tài nguyên này càng nhanh chóng cạn kiệt hơn
Hiện nay, việc quản lý LSNG ch-a đ-ợc quan tâm ở hầu hết các địa ph-ơng
có rừng tại Nghệ An; cả ng-ời dân địa ph-ơng lẫn cán bộ quản lý đều cho rằng đây
là những sản phẩm phụ của rừng, vì thế xem việc khai thác chúng nh- tận thu, không nghĩ đến việc khai thác bền vững và không một cơ quan nào quản lý việc khai thác và buôn bán LSNG Cơ quan kiểm lâm cho rằng việc bảo vệ rừng chính là bảo
vệ gỗ và các động vật hoang dã Phòng nông nghiệp thì chỉ thống kê số liệu khai thác nứa, mét Vậy là hàng trăm loại LSNG vẫn cứ bị khai thác và buôn bán không
đ-ợc kiểm soát, thậm chí cả những loài có tên trong sách Đỏ Việt Nam
ở một ph-ơng diện khác, qua dòng thời gian với những thăng trầm của lịch
sử (tự nhiên và xã hội), ng-ời dân miền núi đã tích luỹ đ-ợc những kho tàng kiến thức bản địa trong quản lý và sử dụng tài nguyên rừng, đặc biệt là LSNG Xu thế trọc hoá những cánh rừng nguyên sinh cùng với sự ra đi của các thế hệ già và sự xâm nhập của cơ chế thị tr-ờng bên ngoài đã không chỉ phá hoại rừng và làm suy thoái đa dạng sinh học mà còn làm mai một dần những kiến thức bản địa vô cùng quý giá về sử dụng LSNG của ng-ời dân địa ph-ơng, đặc biệt là ng-ời dân tộc thiểu
số ở các vùng núi, những kiến thức mà đã giúp các cộng đồng khai thác và sử dụng
Trang 7khôn khéo, hiệu quả các tài nguyên thiên nhiên xung quanh họ trong suốt quá trình phát triển Việc bảo tồn và phát huy các tri thức bản địa trong khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên LSNG cũng rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay, nó không chỉ giúp chúng ta bảo vệ đ-ợc vốn tri thức giá trị mà còn giúp ng-ời dân tự mình sử dụng hiệu quả và bền vững hơn tài nguyên rừng, góp phần phát triển bền vững
1.3 Các điểm mới và ý nghĩa khoa học - thực tiễn của đề tài
VQG Pù Mát là VQG lớn nhất trong các VQG ở miền Bắc Việt Nam với diện tích vùng lõi là 91.113 ha, đ-ợc đánh giá là nơi có tính đa dạng sinh học cao nhất n-ớc ta Vì thế hiện nay, VQG này kết hợp với 2 khu bảo tồn thiên nhiên ở phía Tây Bắc Nghệ An là KBT TN Pù Huống và Pù Hoạt đang đ-ợc đề nghị xây dựng thành khu dự trữ sinh quyển của Thế Giới Nếu vậy thì một vấn đề lớn đặt ra đó là sự phát triển bền vững của khu vực vùng đệm rộng lớn bao trùm 6 huyện miền Tây Nghệ
An Chỉ tính riêng vùng đệm VQG Pù Mát đã có diện tích trên 100.000 ha, gồm 14 xã của 3 huyện, là nơi tập trung đông các nhóm dân tộc thiểu số, điều kiện canh tác nông ng- nghiệp khó khăn, trình độ dân trí thấp, giao thông, thông tin, kinh tế còn nhiều hạn chế Vì thế số hộ nghèo đói chiếm tỷ lệ lớn, những hộ này lại phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên rừng; chủ yếu là LSNG Để đảm bảo cuộc sống hết sức chật vật của mình, họ buộc phải khai thác mọi loại tài nguyên một cách không hợp lý, một phần vì thiếu hiểu biết nh-ng phần khác quan trọng hơn là cứu lấy cuộc sống tr-ớc mắt của chính họ và chúng ta không thể trách cứ đ-ợc họ ở bất cứ nơi đâu, khi nghèo khó trở thành một vấn đề cùng cực thì ng-ời nghèo phải hy sinh những lợi ích lâu dài (mang tính bền vững) cho nhu cầu sống còn tr-ớc mắt của họ Do vậy, nghèo khó cùng cực không còn chỉ là cái “quả” mà ở một mức độ nào đó nó chính là cái
“nhân” của sự suy thoái tài nguyên rừng Giải pháp ở đây là làm sao để giúp họ giảm bớt sự nghèo khó, giúp họ phát triển kinh tế, giúp họ sử dụng một cách có hiệu quả và bền vững những nguồn tài nguyên xung quanh họ Nghiên cứu để đ-a ra các giải pháp phù hợp nhằm phát triển SXKD LSNG sẽ góp phần lớn giải quyết vấn đề này
Hiện nay, Bộ NN và PT nông thôn đang xây dựng "Đề án quốc gia về Bảo tồn
và phát triển LSNG, giai đoạn 2006 - 2010", trong đó đã khẳng định giá trị to lớn
Trang 8của các loại LSNG, đặc biệt trong xu h-ớng cả Thế giới -a chuộng các sản phẩm tiêu dùng có nguồn gốc thiên nhiên và thực hiện các hành động nhằm phát triển bền vững Đối với Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng thì LSNG lại càng đóng vai trò quan trọng hơn; vì diện tích đồi núi lớn, địa hình dốc nên chúng ta đang cần một diện tích rừng rất lớn, đối với n-ớc ta, độ che phủ của rừng phải đạt từ 45% đến 50% độ che phủ cả n-ớc thì mới đạt tỷ lệ an toàn sinh thái Để vừa có thể trồng và bảo vệ rừng lại vừa đảm bảo đời sống cho ng-ời dân miền núi thì cách tốt và nhanh nhất là chúng ta phát huy vai trò của LSNG nhằm làm tăng giá trị khai thác từ rừng lại đảm bảo sự phát triển của cả hệ sinh thái rừng
Trong giai đoạn này, tỉnh Nghệ An đang thực hiện chiến l-ợc -u tiên phát triển kinh tế - xã hội vùng miền Tây nằm trong "Đề án phát triển kinh tế xã hội miền tây Nghệ An" vừa đ-ợc Chính phủ phê duyệt, trong đó việc phát triển kinh tế nông lâm nghiệp là -u tiên số 2 sau phát triển xây dựng cơ sở hạ tầng Từ thực tiễn này cho thấy bảo tồn và phát triển các LSNG đ-ợc lựa chọn hợp lý cùng với các tri thức truyền thống có giá trị trong khai thác và phát triển nông - lâm nghiệp (NLN) là việc làm vô cùng quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển kinh tế - xã hội tại miền Tây Nghệ An một cách bền vững Vì thế việc bảo tồn và phát huy giá trị ĐDSH, trong đó có LSNG và các tri thức truyền thống trong khai thác và phát triển chúng là cần thiết hơn bao giờ hết
Trang 9Ch-ơng 2 Mục tiêu, Đối t-ợng, nội dung và ph-ơng pháp nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Đề xuất giải pháp góp phần phát triển và nâng cao hiệu quả SXKD các loại LSNG, nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân c- vùng đệm, nhằm phát triển bền vững TNR tại VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá đ-ợc hiện trạng công tác quản lý TNR tại vùng đệm VQG Pù Mát
- Đánh giá đ-ợc hiện trạng SXKD một số loại LSNG chủ yếu trong vùng đệm VQG Pù Mát, Nghệ An
- B-ớc đầu tìm hiểu đ-ợc ảnh h-ởng của SXKD LSNG đến phát triển kinh tế của các hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu
- Đề xuất đ-ợc các giải pháp góp phần phát triển và nâng cao hiệu quả SXKD các loại LSNG tại vùng đệm VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An
2.2 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu
Đối t-ợng nghiên cứu của luận văn là hoạt động quản lý và SXKD một số loại LSNG chủ yếu tại vùng đệm VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An
- Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu vào hoạt động SXKD đối với một số LSNG có nguồn gốc thực vật
- Luận văn tập trung cho một số loài cây LSNG có vai trò quan trọng đối với
đời sống của cộng đồng dân c- địa ph-ơng
- Luận văn nghiên cứu có tính chất tổng thể tại địa bàn tất cả các địa ph-ơng thuộc vùng đệm, tuy nhiên có đi sâu vào một số địa ph-ơng có tính chất điển hình thuộc vùng đệm VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm cơ bản của vùng đệm VQG Pù Mát
- Nghiên cứu tình hình quản lý và hoạt động SXKD các loại LSNG tại vùng
đệm VQG Pù Mát
Trang 10- Tìm hiểu ảnh h-ởng của SXKD LSNG đến phát triển kinh tế của các hộ gia
đình tại khu vực nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp góp phần phát triển và nâng cao hiệu quả SXKD tại vùng đệm VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An
2.4 Ph-ơng pháp nghiên cứu
2.4.1 Nghiên cứu và kế thừa tài liệu và các kết qủa nghiên cứu có liên quan
Nhiều nguồn tài liệu nh-: Các nghiên cứu khoa học liên quan, các báo cáo của các ban ngành, địa ph-ơng và các dự án về lĩnh vực liên quan, các văn bản, chính sách của địa ph-ơng, của nhà n-ớc về LSNG, quản lý và phát triển kinh doanh sẽ đ-ợc tập hợp, nghiên cứu khai thác khai thác và kế thừa nhằm đánh giá tốt hơn và tổng quát hơn hiện trạng quản lý và phát triển LSNG ở trong vùng nghiên cứu
Các vấn đề sau đây sẽ đ-ợc đánh giá, tổng hợp từ các nguồn tài liệu:
- Những kết quả nghiên cứu về LSNG tại vùng đệm VQG Pù Mát
- Tình hình chung về kinh tế, xã hội vùng đệm VQG Pù Mát
- Những đánh giá, nghiên cứu về khai thác, sử dụng và buôn bán LSNG của ng-ời dân vùng đệm
- Các văn bản, quyết định, thông tư, cỏc quy định, quy ước liên quan đến vấn
đề khai thác, quản lý và phát triển LSNG
2.4.2 Khảo sát số liệu thực tiễn
a Ph-ơng pháp chọn địa điểm khảo sát
Do tính chất của đề tài là nghiên cứu mang tính chất tổng thể nên việc chọn
địa điểm không theo địa phương (huyện, xã, thôn/bản…) mà nghiên cứu được thực hiện chủ yếu thông qua các điểm diễn ra nhiều hoạt động kinh doanh LSNG nh- một số xưởng chế biến nứa, mét; các đại lý thu mua, kinh doanh LSNG…, trong đó bao gồm cả phỏng vấn lãnh đạo một số xã, bản, nơi diễn ra nhiều hoạt động kinh doanh buôn bán LSNG…
b Sử dụng công cụ phỏng vấn của PRA và RRA để thu thập số liệu
Đối t-ợng đ-ợc phỏng vấn bao gồm:
Trang 11- Ban quản lý các thôn/bản: Công cụ này đ-ợc thực hiện đầu tiên, nhằm tìm hiểu tình hình chung về kinh tế - xã hội nơi khảo sát, tìm hiểu Các thông tin thu thập đ-ợc sẽ đ-ợc ghi vào phiếu điều tra theo mẫu chuẩn bị sẵn
- Sử dụng các ph-ơng pháp thống kê toán học để tính toán một số chỉ tiêu
định lượng của các số liệu khảo sát (trị số bình quân, tỷ lệ %…)
- Sử dụng ph-ơng pháp so sánh để phân tích ảnh h-ởng của hoạt động SXKD LSNG đến kinh tế hộ gia đình
2.4.4 Ph-ơng pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến chuyên gia, các nhà quản lí, các nhà khoa học về các ý kiến đánh giá, các nhận định, các kinh nghiệm liên quan đến vấn đề phát triển SXKD LSNG
Thông qua các cuộc họp hoặc các cuộc tiếp xúc trực tiếp, tiến hành trao đổi ý kiến với các nhà quản lý, các cán bộ có nhiều kinh nghiệm thực tế về phát triển SXKD LSNG
Trang 12Ch-ơng 3 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
3.1 Những nghiên cứu chủ yếu về phát triển SXKD LSNG
3.1.1 Trên Thế giới
- Một nghiên cứu về LSNG ở V-ờn Quốc gia Langtang cho thấy có tới 172 loài thực vật cho LSNG đã đ-ợc ghi nhận, trong đó có 91 loài đang đ-ợc sử dụng để làm thuốc chữa bệnh (Yonon, 1993)
- Nghiên cứu về giá trị và tiềm năng của LSNG, Pitamber Sharma (1995) đã
đề nghị cần chú ý xây dựng cơ sở dữ liệu về sinh thái, quản lý tài nguyên, thành lập thị tr-ờng và các vấn đề về cơ chế đảm bảo sự phân bố sao cho tốt hơn
- Nghiên cứu ở nhiều vùng của Đông Nam á cho thấy nguồn tài nguyên này
có thể đảm bảo cuộc sống cho ít nhất 27 triệu ng-ời sống ở trong các vùng gần rừng DeBeer, Mc Dermon (1989)
- Nghiên cứu quá trình thu hái quả hạch của cộng đồng ng-ời, ng-ời Kenyah vào các năm 1973 và 1980 Chin (1985) kết luận “Tính tất cả việc thu lượm, chế biến và tiêu thụ, mất một khoảng thời gian từ 4 đến 6 tuần, một vụ thu hoạch tốt thực sự là một sự kiện quan trọng cho người Kenyah”
- Nghiên cứu về quá trình khai thác nhựa của rừng nguyên sinh ở Peter (1989) đã chỉ ra rằng ciệc khai thác nhựa của rừng nguyên sinh ở Peru đã cho kết quả thu nhập cao hơn so với bất cứ các hình thức kinh doanh gỗ nào khác Bổ sung cho nghiên cứu của Peter, Heizman (1990) đã chỉ ra rằng việc khai thác các cây họ cau dừa ở vùng Penten của Guatemana cho thu hoạch rất quan trọng
- Balick và Mendelsohn (1992) khi nghiên cứu về LSNG đã kết luận rằng giá trị về mặt y học 1 ha trong rừng thứ sinh ở Beliz cũng cao hơn giá trị thu đ-ợc từ nông nghiệp
- Nghiên cứu về quá trình khai thác rừng nhiệt đới, Peters (1989) đã kết luận:
để khai thác rừng nhiệt đới một cách có hiệu quả, cần phải dựa vào vô số các sản phẩm, trong đó tác giả đã tìm ra có 5 loài cây có giá trị kinh tế cao ở vùng Amazon
Trang 13Peru, các loài cây này bao gồm Euterpe oleracea, Grias perraviana, Jessenia bataua, Maruitia flexuossa và Myrciara dubai
- Nghiên cứu về rừng m-a nhiệt đới, (Burkiill,1935; Nepsted và Schwartxman, 1992; Godoy và Bawa, 1993; Hall và Bawa,1993; Saulei và Aruga, 1993) đã chỉ ra rằng, rừng m-a nhiệt đới là sự trình diễn để quảng bá về sử dụng có chọn lựa của các LSNG
- Nghiên cứu về thị tr-ờng LSNG, (Koppell, 1993) đã chỉ ra rằng LSNG có một tầm quan trọng rất lớn trong đời sống kinh tế xã hội của 30 triệu ng-ời dân ấn
Độ
- Nhóm chuyên gia t- vấn quốc tế về LSNG, (IEC, 1995) đã đề nghị cácbiện pháp mang tính chiến l-ợc để cải thiện các lợi ích kinh tế – xã hội của LSNG nh-: Tăng c-ờng sự nhận thức của các nhà hoạch định chính sách, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, bảo vệ pháp luật, hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất LSNG, phân tích rủi ro, cân nhắc các mục tiêu xã hội, trao đổi kinh nghiệm
3.1.2 ở Việt Nam
Theo Hoàng Hoè (1998), nguồn tài nguyên Lâm sản ngoài gỗ ở n-ớc ta rất phong phú và đa dạng, có nhiều loài và có giá trị cao: Số loài cây làm thuốc chiếm tới 22% tổng số loài thực vật Việt Nam, có khoảng trên 500 loài thực vật cho tinh dầu (chiếm 7,14% tổng số loài), khoảng trên 600 loài cho tanin, và rất nhiều loài khác cho dầu nhờn, dầu béo, cây cảnh, song mây, tre nứa
Tr-ớc đây, ở Việt Nam việc nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ hầu nh- ch-a
đ-ợc quan tâm chú ý Một số rất ít công trình đề cập đến cây có ích của rừng nhiệt
đới Việt Nam; Trần Đình Lý (1993), Nguyễn Đình H-ng (1996), Tạp chí Lâm nghiệp (1997), Một số công trình quan tâm đến phát triển tài nguyên tre ở Việt Nam (Nguyễn Tử Ưởng, 1995); một số nghiên cứu quan tâm đến tài nguyên cây thuốc ở rừng Việt Nam (Đỗ Nguyên Ph-ơng, 1997); Đào Viết Phú, 1997; Nguyễn Nghĩa Thìn, 1998; ) Một số công trình nghiên cứu sơ bộ và hành động thực địa nhằm thử nghiệm các mô hình quản lý LSNG đã đ-ợc triển khai song ch-a mang tính đồng bộ (An Văn Bảy, Võ Thanh Giang, 2002)
Trang 14Trong những năm gần đây, cùng với sự quan tâm nói chung của thế giới và khu vực tới LSNG, Việt Nam chúng ta cũng dành nhiều sự l-u tâm cho việc nghiên cứu LSNG, tuy nhiên các nghiên cứu mới chỉ đ-ợc thực hiện và ứng dụng ở một số
địa ph-ơng, phần lớn là nhờ vào các hoạt động của dự án LSNG do chính phủ Hà Lan tài trợ, Bộ NN và PTNT, Viện nghiên cứu lâm đặc sản và các các ch-ơng trình
dự án ở Việt Nam cũng đã tiến hành một số nghiên cứu về LSNG, có thể kể đến một
số nghiên cứu nh-: “Chính sách buôn bán lâm sản xuyên biên giới ở miền bắc Việt Nam”, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và Vân Nam Trung Quốc” của Donovan, thuộc Trung tâm Đông Tây; “Nghiên cứu vai trò của LSNG trong kinh tế hộ và đề xuất chiến lược phát triển bền vững tại khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang” của Lê Thị Phi và Nguyễn Văn D-ỡng thuộc Trung tâm nghiên cứu LĐS, Viên Khoa học lâm nghiệp Việt Nam; “Doanh nghiệp lâm sản và cây cộng đồng: Phân tích và phát triển thị trường” của Lecup, Isabelle và Kenneth Nicholson, FAO và RECOFTC;
“Trồng cây LSNG để bảo đảm sinh kế: một nghiên cứu chuyên đề về tác động của việc thuần hoá LSNG và hoạt động NLKH đối với công cuộc giảm đói nghèo và cải thiện sinh kế ở Việt Nam” của dự án LSNG tại Việt Nam (Bộ NNPTNT-IUCN)…
Do nguồn tài nguyên LSNG là rất phong phú và đa dạng, thành phần, giá trị
và hiện trạng khai thác, buôn bán ở các vùng khac nhau là khác nhau Vì thế, kết quả nghiên cứu và các giải pháp đa ra nhằm bảo tồn và phát triển ở khu vực hay địa ph-ơng này không thể sử dụng cho các địa ph-ơng khác Vì thế, các thông tin về LSNG trên cả n-ớc ta đến nay vẫn còn nhiều hạn chế Nhà n-ớc và các địa ph-ơng ở hầu hết các nơi đều ch-a có các biện pháp hiệu quả nào để bảo tồn và phát triển bền vững LSNG Bộ NN và PTNT đã xây dựng "Chiến l-ợc quốc gia về Bảo tồn và phát triển LSNG, giai đoạn 2006 - 2010", tuy nhiên cho tới nay vẫn chỉ là bản dự thảo
ở khu vực vùng đệm VQG Pù Mát đã có một vài nghiên cứu về LSNG nh-
"Góp phần nghiên cứu về các cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái ở huyện Con
Cuông, tỉnh Nghệ An”, là đề tài luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hạnh, tr-ờng Cao
Đẳng S- Phạm Nghệ An, bảo vệ năm 1999 Trong đó liệt kê tất cả các cây thuốc mà
đồng bào dân tộc Thái ở Con Cuông đã và đang sử dụng, cùng với công dụng của
Trang 15từng loại và tên khoa hoc cũng nh- sự phân bố của nó Theo báo cáo này thì có tới
220 loài thực vật đ-ợc đồng bào dân tộc Thái sử dụng làm thuốc
Điều tra cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng chúng của đồng bào dân tộc Thái xã Yên Khê - Con Cuông - Nghệ An”, 1996 là đề tài Luận văn thạc sĩ Sinh học của Tô
V-ơng Phúc, đã thống kê đ-ợc 223 loài cây thuốc, thuộc 81 họ với 113 bài thuốc chữa 29 nhóm bệnh
Vào năm 2003, Nguyễn Nghĩa Thìn, Ngô Trực Nhã và Nguyễn Thị Hạnh đã
xuất bản cuốn “Thực vật học dân tộc - cây thuốc của đồng bào Thái - Con Cuông,
Nghệ An” với 551 loài cây thuốc thuộc 361 chi, 120 họ
"Phát triển và sử dụng hiệu quả một số LSNG tại vùng đệm VQG Pù Mát”, 2003
Ngô Trực Nhã và Đào Thị Minh Châu, khoa Sinh học, Đại Học Vinh xây dựng và thực hiện Đề án này đ-ợc xây dựng nhằm thực hiện ch-ơng trình bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng, do bộ phận quản lý VQG (PMC), Dự án lâm nghiệp xã hội
và bảo tồn thiên nhiên (SFNC) quản lý Đề án này xác định một số loài cho LSNG
có khả năng phát triển ở một số địa ph-ơng nằm trong vùng đệm VQG Pù Mát để tạo ra hàng hoá đáp ứng nhu cầu của thị tr-ờng nguyên liệu sản xuất h-ơng và thuốc Nam
Năm 2003, Nguyễn Anh Dũng, khoa Sinh, Đại học Vinh đã thực hiện đề tài
nghiên cứu "Đa dạng thực vật cây làm thuốc ở vùng núi Tây Nam Nghệ An" dựa
trên 2 ph-ơng pháp là thu mẫu thực địa và PRA ở 2 bản thuộc xã Châu Khê, huyện Con Cuông và 2 bản thuộc xã Tam Đình, T-ơng D-ơng cho kết quả có 500 loài cây thuốc, thuộc 355 chi, 121 họ, 5 nghành, trong đó có 10 họ có số loài nhiều nhất đã
đ-ợc ng-ời dân sử dụng và phân bố nhiều trong khu vực nghiên cứu
Năm 2005, Đào Thị Minh Châu, khoa Sinh học, Đại Học Vinh đã đánh giá sơ
bộ nguồn tài nguyên LSNG ở vùng đệm VQG Pù Mát, tình hình khai thác và quản
lý trong đề tài cấp tr-ờng “Thực trạng khai thác, sử dụng và quản lý một số Lâm sản ngoài gỗ có giá trị ở vùng đệm V-ờn Quốc Gia Pù Mát - Nghệ An”
Tổng kết nhiều nghiên cứu khác nhau về thực vật của VQG Pù Mát, thấy có khoảng 622 loài cây cho LSNG thuộc 385 chi, 128 họ, 5 ngành, đã đ-ợc ng-ời dân
địa ph-ơng sử dụng trong gia đình, làm dụng cụ, hàng hoá, và có tới 14 loài thuộc
Trang 16dạng quí hiếm thuộc 3 ngành (Thông, D-ơng xỉ, Mộc lan) có tên trong Sách Đỏ Việt Nam Trong đó 145 loài rất phổ biến ở các vùng rừng núi Tây Nam Nghệ An, và 17% số loài LSNG (24/145) đã tham gia vào thị tr-ờng hàng hoá ở các mức độ khác nhau Hầu hết các lâm sản ngoài gỗ này đều ch-a đ-ợc quản lý, kể cả ở cấp quản lý thấp nhất là thôn bản; ng-ời dân mặc sức thi nhau vào rừng khai thác bữa bãi và không có kế hoạch, họ bán đi rất rẻ những sản phẩm này cho các lái buôn từ nơi khác đến Thị tr-ờng lâm sản ngoài gỗ hoạt động không theo một qui luật nào, giá cả thực bán ra của ng-ời dân không ổn định và hoàn toàn phụ thuộc vào ng-ời mua Bởi ng-ời dân ở đây ch-a biết đ-ợc hết giá trị kinh tế của các LSNG, mục tiêu chính của họ là đáp ứng nhu cầu tối thiểu hàng ngày, cho nên chỉ cần có ng-ời đến mua bất kỳ loại sản phẩm nào mà họ có thể khai thác đ-ợc và mang lại khoảng 20.000 - 30.000 đồng/ngày là họ sẵn sàng vào rừng khai thác về bán Nh- vậy ng-ời dân chỉ hoạch toán theo giá trị ngày công lao động mà giá trị thực của hàng hoá lúc đó chỉ bằng không Bên cạnh những giá trị kinh tế, LSNG còn mang giá trị sử dụng cao trong đời sống hàng ngày của ng-ời dân vùng đệm, chúng có mục đích sử dụng rất
đa dạng, có thể phân thành các nhóm nh- sau: Nhóm cây thuốc, nhóm cây l-ơng thực, nhóm cây thực phẩm, nhóm cây gia vị, nhóm cây làm nguyên liệu xây dựng và sản xuất, nhóm cây h-ơng liệu, nhóm cây là thức ăn cho vật nuôi cây trồng Tuy nhiên, không đ-ợc quản lý, bị xem nh- tài nguyên chung nếu kéo dài tình trạng này thì có thể chỉ sau 5 - 7 năm nữa, tất cả các nhóm LSNG trên đều sẽ cạn kiệt,
không còn khả năng khai thác, thậm chí không thể khôi phục
3.2 Vấn đề phát triển SXKD LSNG tại vùng đệm VQG
3.2.1 Khái niệm vùng đệm và quy chế quản lý vùng đệm ở Việt Nam
Trang 17- Giai đoạn kế tiếp (10-20 năm tiếp theo): Các vùng đệm đã đ-ợc áp dụng nh- là những ph-ơng cách để bảo vệ các khu bảo tồn tránh khỏi những tác động tiêu cực của con ng-ời
- Giai đoạn hiện nay: Vùng đệm th-ờng đ-ợc áp dụng đồng thời cho việc giảm thiểu các hoạt động của con ng-ời lên các KBTTN hoặc VQG, h-ớng tới những nhu cầu và mong muốn về kinh tế - xã hội d-ới tác động của dân số (Những
đối t-ợng sử dụng tài nguyên của KBT hoặc VQG tr-ớc đây)
Hiện nay ch-a có một định nghĩa chung về vùng đệm trên phạm vi toàn thế giới mà chỉ có các định nghĩa và sự mô tả khác nhau về vùng đệm ở cấp quốc gia hoặc tổ chức quốc tế, chẳng hạn:
Ch-ơng trình con ng-ời và sinh quyển của UNESCO đã đ-a ra khái niệm vùng đệm ở mức độ cấu trúc Sơ đồ cấu trúc KBT của UNESCO gồm 3 vùng sau:
Vùng đệm thứ cấp
Trang 18đặc biệt là trong mối quan hệ với môi tr-ờng sống của động vật hoang dã Theo cách tiếp cận này thì vùng đệm có thể đ-ợc đặt d-ới sự quản lý của VQG; trong một số tr-ờng hợp có thể cho phép cả kiểm soát sự sử dụng các sản phẩm lâm nghiệp Vùng
sử dụng đa dạng đ-ợc đặt ở bên ngoài khu vực VQG, nơi đ-ợc thiết kế phục vụ cho phát triển nông thôn Vùng đệm trong bối cảnh lâm nghiệp ấn Độ có thể đ-ợc quy lại nh- sau:
Một vùng đệm đ-ợc nằm hoàn toàn trong ranh giới của VQG
Một vùng đệm với một khu bảo tồn nằm liền kề với VQG
Một vùng đệm của một khu rừng bảo tồn nằm liền kề với VQG hoặc KBT Vấn đề này đã đ-ợc thảo luận nhiều hơn trong Hội nghị MAB- UNESCO về ch-ơng trình hành động cho các khu bảo tồn sinh quyển, đ-ợc tổ chức tại Minsk (Liên Xô cũ) năm 1984 Trên cơ sở đó, có rất nhiều khái niệm về vùng đệm đ-ợc
đ-a ra
Theo Jeffey Sayer (1991) thì: “Vùng đệm là vùng đất nằm xung quanh VQG hay KBT mà ở đó việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên có hạn chế, hay ở đó các biện pháp quản lý đặc biệt về phát triển nhằm nâng cao hiệu quả của công việc bảo vệ”
Michael Brow Barbara uryckoff – Baird (1994) cho rằng: “Vùng đệm là vùng nằm trong hoặc tiếp giáp với KBT, tại đó mối quan hệ hài hoà giữa môi tr-ờng tự nhiên và con ng-ời đ-ợc chú trọng, mục tiêu của việc quản lý vùng đệm là tối -u hoá những giá trị văn hoá, xã hội, sinh thái và tài nguyên thông qua việc quản lý tích cực, thích ứng, công bằng với tất cả các nhóm và cho phép thay đổi giá trị đối với thời gian”
GTZ (1996) thì quan niệm rằng: “Vùng đệm và vùng chuyển tiếp là những vùng đất nằm ngoài hay trong KBT Các vùng này có chức năng tạo thuận lợi cho KBT và cho cuộc sống của dân c- ở đây Dân c- sinh sống ở đây luôn là tiềm năng trực tiếp ảnh hưởng đến KBT”
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN định nghĩa vùng đệm nh- sau:
Trang 19"Vùng đệm là những vùng đ-ợc xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của KBT và đ-ợc quản lý để nâng cao việc bảo tồn của KBT và chính vùng đệm đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh KBT
Điều này có thể thực hiện đ-ợc bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể,
đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của các c- dân sống trong vùng đệm" (D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản - IUCN Việt Nam 1999)
ở các n-ớc có nền kinh tế phát triển, sinh kế của con ng-ời không phụ thuộc nhiều vào KBT và ng-ời dân có một nhận thức cao về giá trị giải trí, văn hoá, bảo tồn đa dạng sinh học; đồng thời pháp luật đ-ợc tôn trọng thì vùng đệm đ-ợc xây dựng và phát triển một cách bình th-ờng, ít có các tác động tiêu cực của con ng-ời tấn công vào rừng
Ng-ợc lại, các n-ớc có nền kinh tế ch-a phát triển, đời sống kinh tế, văn hoá, dân trí thấp, sức ép dân số ngày càng gia tăng, coi th-ờng pháp luật thì vùng đệm trở nên rất quan trọng Bởi vì sự tồn tại, phát triển hay huỷ diệt đối với KBT hay VQG phụ thuộc vào nhân dân vùng đệm là chủ yếu
ở Việt Nam, tr-ớc năm 1993, vùng đệm đ-ợc quy định ở bên KBT và bao quanh khu bảo vệ nghiêm ngặt của KBT Một VQG hoặc KBTTN có thể có 1 hoặc nhiều phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, giữa các phân khu này hoặc bao quanh chúng
có thể bố trí các phân khu đệm
Khái niệm này ch-a đề cập đến việc tổ chức, xây dựng và quản lý vùng đệm nh- thế nào
Sau năm 1993, vùng đệm đ-ợc định nghĩa nh- sau:
"Vùng đệm của VQG và KBTTN là vùng rừng hoặc vùng đất đai có dân c- nằm sát ranh giới các VQG, các KBTTN đ-ợc thành lập nhằm giảm áp lực của dân
địa ph-ơng đối với khu rừng phải bảo vệ nghiêm ngặt Diện tích của vùng đệm không tính vào tổng diện tích của VQG hay KBTTN"
Nh- vậy, sau năm 1993 vùng đệm đ-ợc xác định nằm ngoài ranh giới KBT, không thuộc KBT Khái niệm cũng chỉ mới đề cập những điều ngăn cấm trong vùng
đệm chứ ch-a đ-a ra chính sách đầu t-, xây dựng, quản lý vùng đệm nh- thế nào
Trang 20Tại Hội thảo quốc gia về sự tham gia của cộng đồng địa ph-ơng trong việc quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đ-ợc tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 17-18 tháng 12 năm 1997, khái niệm vùng đệm đã đ-ợc đ-a ra thảo luận Một số khái niệm đ-ợc đề cập tới trong hội thảo là:
Vùng đệm là “Vùng đất nằm ngoài khu bảo tồn hay VQG Tại đó, việc sử dụng đất đai phần nào đ-ợc hạn chế, nhằm tạo thành một vành đai bảo vệ bổ sung cho khu bảo tồn, đồng thời giúp cho nhân dân sinh sống trong vùng đ-ợc bù đắp phần nào những thiệt thòi do việc thành lập các KBT đó gây ra” (Mackinnon, 1981, 1986)
“Vùng đệm là vùng tiếp giáp với khu bảo vệ bao quanh toàn bộ hay một phần của khu bảo vệ, vùng đệm nằm ngoài diện tích khu bảo vệ và không thuộc quyền quản lý sử dụng của ban quản lý bảo vệ” (Quyết định số 1586 LN/KL, ngày 13/7/1993)
“Vùng đệm là vùng rừng hoặc đất đai có dân c- sinh sống bao quanh hoặc nằm sát ranh giới các khu rừng đặc dụng hoặc khu bảo tồn thiên nhiên Việc thành lập vùng đệm nhằm làm giảm áp lực của dân địa ph-ơng đối với khu vực cần bảo vệ”
Gần đây nhất, khái niệm vùng đệm đ-ợc thể chế hoá trong quyết định số 08/2001/QĐ - TTg của Chính phủ Một lần nữa vùng đệm đ-ợc xác định nằm ngoài KBT và không thuộc KBT Trong quyết định này đã đề cập 1 cách t-ơng đối toàn diện về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, các hoạt động và sự phối kết hợp giữa các bên liên quan trong việc phát triển kinh tế - xã hội vùng đệm
“Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát ranh giới với các VQG và KBTTN, có tác động ngăn chặn hoặc làm giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng, hạn chế di dân bên ngoài vào vùng đệm, cấm săn bắn, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối t-ợng bảo vệ Diện tích của vùng đệm không tính vào diện
Trang 21tích của khu rừng đặc dụng Dự án đầu t- xây dựng và phát triển vùng đệm đ-ợc phê duyệt cùng với dự án đầu tư của khu rừng đặc dụng”
Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề vùng đệm ch-a nêu lên nh-: Phạm vi ranh giới vùng đệm, cơ chế quản lý, chính sách đầu t- cho vùng đệm
Nhiều khái niệm vùng đệm đ-ợc đ-a ra, nh-ng khó có thể thống nhất các khái niệm trên đ-ợc Tuy nhiên có thế tìm thấy một số điểm chung cơ bản nh- sau:
- Vùng đệm là vùng đất nằm bao quanh KBTTN hoặc VQG, nh-ng không tính vào diện tích của chúng
- Vùng đệm có c- dân sinh sống và diễn ra các hoạt động kinh tế – dân sinh
và chịu sự quản lý của chính quyền địa ph-ơng
- Các hoạt động ở vùng đệm nhằm hỗ trợ cho công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội địa ph-ơng
Nh- vậy, mục đích của việc phải có các vùng đệm là để ngăn chặn những tác
động có hại đối với tài nguyên tại các KBTTN và VQG
- Các quy định về quản lý vùng đệm ở Việt Nam
Tất cả các VQG và KBTTN đều phải có vùng đệm Vùng đệm là chiếc nôi, là vành đai bao quanh có tác dụng bảo vệ chúng Vì vậy, đầu t- xây dựng và quản lý vùng đệm là một nhiệm vụ hết sức quan trọng
Quản lý vùng đệm đ-ợc nhìn nhận nh- là một hành động can thiệp dài hạn nhằm đạt đ-ợc tính bền vững về sinh thái, về xã hội, tổ chức và kinh tế
Đầu t- vùng đệm nhằm giảm nhẹ nguy cơ, thách thức và những khó khăn trong việc bảo vệ đa dạng sinh học Mọi cố gắng đầu t- xây dựng và quản lý vùng
đệm là để giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn tự nhiên và phát triển nông thôn Đây
là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải có hàng loạt các biện pháp tổng hợp: Kinh tế,
kỹ thuật, xã hội, môi tr-ờng, thông tin tuyên truyền và phải huy động nội lực của nhiều ngành nhiều cấp khác nhau Yêu cầu quan trọng của việc quản lý vùng đệm là phải thu hút đ-ợc sự tham gia của các bên liên quan (cùng quản lý) Trong đó, đặc biệt đề cao vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của ng-ời dân và cộng đồng địa ph-ơng Dân địa ph-ơng cần phải đ-ợc đảm bảo rằng họ có thể đ-ợc đáp ứng các
Trang 22nhu cầu cơ bản của cuộc sống tr-ớc mắt cũng nh- những lợi ích lâu dài Kế hoạch quản lý và đầu t- vùng đệm chỉ trở thành hiện thực khi đáp ứng đ-ợc các yêu cầu cơ bản trên đây
Lần đầu tiên trong quyết định số 360/TTg, ngày 7/7/1978 của Thủ t-ớng Chính phủ về việc thành lập khu rừng cấm Nam Bãi Cát Tiên thuộc huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai có đề cập đến khu đệm Tại điều 1 của quyết định này, sau khi xác
định vị trí địa lý, ranh giới khu rừng cấm rộng 35.000 ha có quy định khu đệm: Khu
đệm là 1 hành lang rộng 1km bao quanh ranh giới nói trên Quyết định cũng quy
định việc quản lý, bảo vệ khu đệm:
- Nghiêm cấm khai thác gỗ theo kiểu chặt trắng, luôn luôn bảo đảm độ tàn che trên 60%
- Nghiêm cấm săn bắt các loài động vật d-ới mọi hình thức
Quyết định chỉ mới đề cập đến những điều nghiêm cấm trong khu đệm, ch-a
đề cập đến việc đầu t-, xây dựng khu đệm
Sau khi có quyết định số 194/CT ngày 9/8/1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ tr-ởng (Nay là Thủ t-ớng Chính phủ) quy định danh mục 73 khu rừng cấm; Bộ Lâm nghiệp ban hành quyết định 1171/QĐ ngày 30-12-1986 về quy chế rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng; trong đó quy định vùng đệm của rừng đặc dụng Tại quy chế này có quy định: Mỗi VQG, khu BTTN, khu văn hoá và bảo vệ môi tr-ờng lớn đ-ợc chia thành các phân khu chức năng Có 3 loại phân khu chức năng:
- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt
- Phân khu bảo vệ vùng đệm và phục hồi sinh thái
- Phân khu dịch vụ, hành chính sản xuất, vui chơi giải trí
Các khu rừng văn hoá và bảo vệ môi tr-ờng có diện tích nhỏ vài trăm hecta không áp dụng cách phân chia nh- trên và chỉ tổ chức một khu duy nhất do một trạm thống nhất quản lý
Một VQG hoặc khu BTTN có thể có một hoặc nhiều phân khu bảo vệ nghiêm ngặt Giữa các phân khu này hoặc bao quanh chúng, có thể bố trí các phân khu bảo
vệ vùng đệm (gọi tắt là phân khu đệm)
Trang 23Quy chế cũng đề cập đến việc quản lý và bảo vệ phân khu đệm nh- sau:
- Đ-ợc tiến hành các công việc dọn rừng, trồng rừng, tu bổ rừng nhằm phục hồi cảnh quan rừng theo đúng nh- đã đ-ợc duyệt trong luận chứng kinh tế - kỹ thuật hoặc dự án đầu t-
- Không đ-ợc chặt cây rừng theo kiểu chặt trắng
- Có thể cho cắm trại ở lại ban đêm;
- Không đ-ợc phá rừng làm rẫy
Theo qui chế trên thì phân khu bảo vệ vùng đệm và phục hồi sinh thái là một Vùng đệm đ-ợc hiểu là những khu vực nằm bên trong của KBT và bao quanh khu bảo vệ nghiêm ngặt của KBT Chỉ mới đề cập đến quản lý thực vật, còn động vật ch-a thấy đề cập tới Vì vùng đệm nằm trong KBT nên ch-a có dự án đầu t- riêng cho vùng đệm Mặt khác đối với các dự án KBT thời kỳ này cũng chỉ đủ kinh phí dể duy trì bộ máy, ch-a có kinh phí cho các hoạt động quản lý vì kinh tế của đất n-ớc còn gặp nhiều khó khăn
Cùng với thời gian, nhận thức về vùng đệm đã có nhiều thay đổi Năm 1993
Bộ Lâm nghiệp đã có công văn số 1586 LN/KL quy định vùng đệm của VQG và KBTTN nh- sau: "Vùng đệm của VQG và KBTTN là vùng rừng hoặc vùng đất đai
có dân c- nằm sát ranh giới các VQG, các KBTTN đ-ợc thành lập nhằm giảm áp lực của dân địa ph-ơng đối với khu rừng phải bảo vệ nghiêm ngặt Vùng đệm do chính quyền địa ph-ơng hoặc các đơn vị kinh tế trực tiếp quản lý Diện tích của vùng đệm không tính vào tổng diện tích của VQG hay KBTTN Ranh giới vùng đệm phải đ-ợc vạch rõ trên bản đồ và trên thực địa, vùng đệm đ-ợc phê duyệt cùng với luận chứng kinh tế kỹ thuật của VQG hay KBTTN Trong vùng đệm cấm khai thác trắng, cấm mọi hoạt động săn bắt động vật rừng, mọi hoạt động lâm nghiệp đều phải nhằm mục
đích hỗ trợ cho công tác bảo vệ VQG hay KBTTN"
Công văn số 1586 LN/KL đã khẳng định vùng đệm không tính vào tổng diện tích KBT và phải có luận chứng kinh tế kỹ thuật đ-ợc phê duyệt cùng với dự án đầu t- KBTTN Nhiều vùng đệm đã đ-ợc đầu t- bằng vốn của ch-ơng trình 327 tr-ớc
đây, tuy nhiên công văn này còn có 1 số điểm ch-a đ-ợc đề cập:
Trang 24- Vùng đệm là vùng rừng hoặc vùng đất đai có dân c- nằm sát ranh giới KBT Vậy những vùng không có rừng hoặc vùng đất đai không có dân c- mà nằm sát KBT
- Ch-a có một chính sách cụ thể riêng biệt chuyên đầu t- cho vùng đệm, việc
đầu t- cho vùng đệm đ-ợc lồng ghép vào ch-ơng trình 327, định canh định c- và các dự án khác ở nông thôn miền núi
- Ch-a có 1 cơ chế điều hoà, phối hợp giữa các bên cùng tham gia quản lý vùng đệm
Gần đây nhất, ngày 11/1/2001, Thủ t-ớng Chính phủ có quyết định số 2001/QĐ-TTg, về việc ban hành quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên Trong quy chế đã đề cập t-ơng đối đầy đủ về vùng
08-đệm nh- sau:
- Vùng đệm là vùng rừng hoặc vùng đất đai có mặt n-ớc nằm sát ranh giới với các VQG và KBTTN; có tác động ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm; cấm săn bắt, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối t-ợng bảo vệ
- Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng; dự
án đầu t- xây dựng và phát triển vùng đệm đ-ợc phê duyệt cùng với dự án đầu t- của khu rừng đặc dụng
- Chủ đầu t- dự án vùng đệm có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân các cấp và các cơ quan, các đơn vị, các tổ chức kinh tế - xã hội ở trên địa bàn của
Trang 25vùng đệm, đặc biệt là với ban quản lý khu rừng đặc dụng để xây dựng các ph-ơng
án sản xuất lâm - nông - ng- nghiệp, định canh định c-, trên cơ sở có sự tham gia của cộng đồng dân c- địa ph-ơng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện để ổn định và nâng cao đời sống của ng-ời dân
Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg là văn bản pháp lý t-ơng đối toàn diện để
đ-a công tác quản lý các loại rừng vào nề nếp, đặc biệt đã đề cập khá rõ về vùng
đệm các VQG và KBTTN, khẳng định vùng đệm ở ngoài KBT và nằm sát ranh giới KBT Do thấy rõ áp lực của dân c- đối với KBT nên quy chế 08 đã đề cập đến vấn
đề hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm
Sau khi có luật Bảo vệ và phát triển rừng (2004), luật đất đai (1993), luật bảo
vệ môi tr-ờng (1993) tình hình kinh tế- xã hội ở miền núi nói chung và vùng đệm nói riêng đã có nhiều chuyển biến tích cực Nhà n-ớc đã có nhiều ch-ơng trình, dự
án phát triển kinh tế - xã hội miền núi, trong đó có vùng đệm, chẳng hạn ch-ơng trình 327, 135, 661, ĐCĐC Đối với các dự án đầu t- bằng nguồn vốn viện trợ, Chính phủ đã dành -u tiên đầu t- cho vùng đệm nhiều hơn vùng lõi, ví dụ:
- Dự án do EU đầu t- vào VQG Pù Mát là 17,5 triệu Euro, trong đó phần đầu t- cho vùng đệm là 16,4 triệu Euro, phần đầu t- cho vùng lõi là 1,1 triệu Euro
- Dự án đầu t- cho vùng đệm ở VQG Cát Tiên do Chính phủ Hà Lan và WB tài trợ 32,2 triệu USD, trong khi dự án đầu t- cho vùng lõi là 6,3 triệu USD
Ngoài ra còn có một số dự án khác do FFI, GFF, UNDP, IUCN tài trợ phần lớn kinh phí đều đầu t- cho phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội trong vùng đệm các KBT nh- Cúc Ph-ơng, Ba Bể, Na Hang, YokDon
Đ-ợc sự quan tâm của Nhà n-ớc và các tổ chức Quốc tế nên bộ mặt nông thôn vùng đệm các KBTTN, VQG đã khởi sắc; ng-ời dân đã đ-ợc h-ởng lợi từ tạo việc làm, cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất nông - lâm - ng- nghiệp, dịch vụ du lịch;
đời sống đồng bào đã đ-ợc ổn định và phần nào đã đ-ợc cải thiện Tuy vậy, khó khăn tr-ớc mắt vẫn còn nhiều, đòi hỏi một sự nỗ lực chung của Nhà n-ớc, các ngành các cấp, các cơ quan, tổ chức ở địa ph-ơng cùng hợp tác giải quyết
Tuy nhiên, quyết định 08 nói trên còn một số điểm cần bàn bạc thêm, đó là:
- Ch-a đề cập đến ranh giới, quy mô và tiêu chí vùng đệm là nh- thế nào
Trang 26- Ch-a có quy chế quản lý vùng đệm
- Điểm 2, điều 8 trong quy chế quản lý rừng đặc dụng có câu: "Dự án đầu t- xây dựng và phát triển vùng đệm đ-ợc phê duyệt cùng với dự án đầu t- của khu rừng
đặc dụng" Nh-ng ở điểm 1, điều 10 của quy chế lại quy định: " Ngoài dự án đầu t- xây dựng khu rừng đặc dụng, khi có nhu cầu có thể xây dựng 1 hoặc nhiều dự án vùng đệm phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của địa ph-ơng" Nh- vậy, dự án
đầu t- xây dựng và phát triển vùng đệm có bắt buộc không? Hay khi nào có nhu cầu mới phải xây dựng dự án? Ai chịu trách nhiệm xây dựng dự án? Cơ chế quản lý dự
án nh- thế nào?
- Các mục tiêu bảo tồn đã đ-ợc đề ra cho khu bảo tồn và vùng đệm
- Điều phối các hoạt động đầu t- trong vùng đệm để đạt đ-ợc các mục tiêu bảo tồn
- Khuyến khích các dự án cụ thể trong vùng đệm ủng hộ các mục tiêu bảo tồn Các đe doạ tài nguyên KBTTN th-ờng xuất phát từ vùng đệm do sự bất ổn về kinh tế của hộ gia đình, những ng-ời dựa vào khai thác lâm đặc sản để làm kế sinh nhai Do vậy, các hoạt động cần phải đ-ợc thiết kế dựa trên sự hiểu biết các áp lực
và vai trò của việc khai thác tài nguyên đa dạng sinh học trong cuộc sống ng-ời dân Cần tiến hành đàm phán nhằm dung hoà quyền lợi giữa các bên liên quan trong hoạt
động bảo tồn Cần áp dụng ph-ơng thức cùng quản lý nhằm cung cấp lợi ích cho ng-ời dân địa ph-ơng và các hoạt động cải thiện đời sống để hỗ trợ cho công tác bảo tồn
Để phát huy vai trò của vùng đệm đối với bảo tồn và phát triển, tr-ớc hết cần giải quyết một số vấn đề sau:
- Phải quy hoạch vùng đệm và vùng lõi rõ ràng, có mốc giới kiên cố
- Xác định cơ chế chia sẻ lợi ích có hiệu quả Ng-ời dân đ-ợc h-ởng gì từ KBTTN hoặc VQG
- Xác định rõ ràng mục tiêu phát triển vùng đệm và có các dự án để thực hiện mục tiêu đó
Trang 27- Phối hợp tốt các ch-ơng trình, các dự án của các cấp, các ngành khác nhau trên cùng 1 địa bàn
- Xây dựng cơ chế phối hợp cùng tham gia giữa các bên liên quan
Trong các vấn đề trên thì sự tham gia và hỗ trợ của ng-ời dân địa ph-ơng là hết sức quan trọng Các mục tiêu của dự án vùng đệm phải phù hợp với nguyện vọng của ng-ời dân Ng-ời dân phải đ-ợc tham gia từ đầu trong các công việc quy hoạch
đất đai, giao đất giao rừng đến việc thực thi các công đoạn của dự án Ng-ời dân phải thực sự làm chủ trong vùng đệm về tài nguyên, về công việc, về quyền lợi (kể cả lợi ích tr-ớc mắt và lợi ích lâu dài) Chỉ khi ng-ời dân trở thành ng-ời chủ đích thực thì họ sẽ có trách nhiệm với chính nơi mà họ đang sinh sống
Vùng đệm có vai trò rất quan trọng đối với bảo tồn và phát triển, song việc quản lý vùng đệm gặp nhiều khó khăn và thách thức, đòi hỏi phải có hàng loạt các biện pháp tổng hợp về pháp lý, kinh tế, kỹ thuật, xã hội, tuyên truyền và phải huy động
nỗ lực của nhiều ngành nhiều cấp khác nhau lâu dài và liên tục Các bên liên quan trong quản lý vùng đệm và KBT (lâm tr-ờng, KBT, xã ) cần phát huy vai trò và
trách nhiệm của mình đối với bảo tồn và phát triển
3.2.2 Vấn đề phát triển SXKD LSNG ở Việt Nam
Hiện nay, việc khai thác, thu mua các loại LSNG ở n-ớc ta nhìn chung còn mang tính chất tự phát, gồ nhiều thành phần và đối t-ợng tham gia với các kênh tiêu thụ khác nhau Phần lớn các LSNG đ-ợc khai thác để phục vụ các nh cầu tại chỗ của ng-ời dân địa ph-ơng, diễn ra mọi nơi, nh-ng mang tính chất thời vụ, lẻ tẻ, không tập trung Đó là các loại dược liệu, cây cảnh, cây hoa, rau quả, củ… Tuy nhiên, có một số loại LSNG đã có sự khai thác, tiêu thụ và sản xuất hàng hoá với quy mô lớn
và xuất khẩu Đó là hàng mây tre, hàng thủ công mỹ nghệ có nguyên liệu từ rừng, tinh dầu (Quế, Hồi, Màng Tang,…), nhựa thông, chiếu tre, chiếu đệm gỗ Pơ Mu,
đũa tre, chít, đệm bông lau,… Trong tình trạng hiện nay, cần phải có những quy hoạch xây dựng phát triển ở tầm cả vĩ mô và vi mô về lĩnh vực quản lý bảo vệ, khai thác bền vững LSNG Kênh tiêu thụ đ-ợc coi nh- là con đ-ờng đi của LSNG từ ng-ời khai thác đến ng-ời chế biến sản xuất hàng hoá
Trang 28Hiện nay, ở n-ớc ta, nhiều loài LSNG đang đ-ợc quan tâm phát triển sản xuất
và kinh doanh nh-: Tre làm nguyên liệu giấy với diện tích đã qui hoạch gần 200 ngàn ha ở các tỉnh miền núi phía Bắc n-ớc ta (Viện điều tra qui hoạch rừng 1999) ở tỉnh Hoà Bình, cây luồng đã không chỉ giúp phủ xanh đất trống, đồi trọc mà còn mang lại nguồn thu nhập lớn cho các chủ rừng, đến năm 2000, diện tích Luồng toàn tỉnh là 105.000 ha, cả tỉnh phấn đấu đên năm 2010 tăng diện tích Luồng lên 200.000
ha Nh-ng hiện nay thị tr-ờng tiêu thụ bất ổn, cây Luồng có thể sử dụng vào chế biễn nhiều loại sản phẩm nh-: sản phẩm mỹ nghệ, ván ép luồng, bột giấy, cây giống Tuy nhiên các công nghệ đó đang phát triển rất hạn chế ở Hoà Bình nói riêng và cả n-ớc ta nói chung Hiện nay rất nhiều loài tre, nứa mới cũng đ-ợc trồng
để sản xuất măng, những loài của Việt Nam cho măng ngon nh-: Mai ống, tre gầy, luồng, lồ ô, là ngà đã đ-ợc nhân dân trồng nhiều, tuy nhiên do năng suất thấp nên mới chỉ đ-ợc tròng ở qui mô nhỏ Những loài tre măng mới đ-ợc Việt Nam nhập trong những năm gần đây vừa có giá trị và năng suất cao, nh- Điềm trúc, Bát Độ, Tạp Giao, Lục Trúc, Mạnh Tông Nếu thâm canh tốt các loài này thì sau 3 - 5 năm
có thể thu hoạch đ-ợc 10 - 35 tấn/ha/năm Tuy nhiên việc trồng tre lấy măng hiện nay phát triển theo kiểu tự do, thấy lợi thì các chủ rừng mua giống về trồng, sản xuất giống mà ch-a tính đến thị tr-ờng cho t-ơng lai và qui hoạch cho các loài cây LSNG đ-ợc trồng
Tr-ớc năm 1990, hầu hết sản phẩm mây tre của Việt Nam đ-ợc xuất khẩu sang thị tr-ờng Liên Xô và các n-ớc XHCN Nh-ng từ khi khối các n-ớc này sụp
đổ, các n-ớc nh- Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông chỉ nhập nguyên liệu thô, cộng với quyết định cấm xuất khẩu song mây d-ới dạng nguyên liệu thô vào năm
1992 đã làm suy giảm việc xuất khẩu song mây Đây là thời gian khó khăn đỗi với ngành chế biến thủ công mỹ nghệ mây tre đan của Việt Nam Đến năm 1996, thị tr-ờng đối với mặt hàng này lại bắt đầu mở rộng, trồng mây tre làm nguyên liệu sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ và ngành công nghiệp chế biến mây tre lại đ-ợc khôi phục Hiện nay, việc trồng mây tạo nguyên liệu cho ngành CN chế biến này đã phát triển ở nhiều nơi, thị tr-ờng mây tre đan từ các tỉnh Bắc Trung bộ hoạt động tích cực trong những năm gần đây đã làm các làng nghề đan lát truyền thống nổi tiếng ở Hà
Trang 29Tây, Thái Bình sống lại, thu hút hàng triệu lao động và mang về hàng trăm triệu đô
la Mỹ hàng năm (91 triệu USD năm 2002 và 103 triệu USD năm 2003) Bên cạnh
đó, nhiều loài LSNG khác cho tinh dầu, nhựa mủ và cây thuốc nh-: Hoa Hồi, Thảo Quả, Quế, H-ơng Lâu, Bạc Hà, Sở, Quế, Sả, Vông Vang, Thông nhựa, cũng đ-ợc trồng ở nhiều nơi Năm 1990 tỉ trọng giá trị sản xuất LSNG chiếm khoảng 53% tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp Từ đầu năm 2000 đến nay, kim ngạnh xuất khẩu hàng hoá LSNG tăng với tốc độ khá cao từ 15 đến 30% hàng năm Hiện nay, có ít nhất
150 loại LSNG đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực th-ơng mại quốc tế; -ớc tính tổng giá trị th-ơng mại quốc tế của LSNG hàng năm khoảng 1,1 tỷ USD Tuy nhiên, ở Việt Nam chúng ta, phần lớn việc gây trồng và phát triển sản xuất đều ch-a
có qui hoạch và kế hoạch phát triển thị tr-ờng lâu dài
Cơ hội thị tr-ờng cho việc phát triển LSNG là rất lớn Chỉ tính riêng lĩnh vực mây tre đan xuất khẩu của Việt Nam, bình quân hàng năm đã đạt tới 36 triệu USD, (Philippine 130 triệu USD, Indonexia 200 triệu USD), ch-a kể xuất khẩu các loại LSNG khác cũng nh- l-ợng tiêu dùng trong n-ớc Từ năm 1998, trung tâm nghiên cứu lâm đặc sản rừng thuộc viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, đã thực hiện một
dự án có quy mô khá lớn về LSNG, với khoản kinh phí dự toán là 1,7 triệu USD Dự
án tập trung vào phát hiện các loài cho LSNG tại một số khu bảo tồn thiên nhiên nh-
Ba Bể (Bắc Cạn), Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh) Ngoài ra dự án còn tập trung xây dựng mô hình sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập cho cộng đồng bằng việc gây trồng thực vật cho sản phẩm là LSNG nh- mô hình trồng trúc sào ở Ba Bể, mô hình phát triển thuốc nam ở Kẻ Gỗ, Ba Vì Đây là những mô hình sản xuất thử nghiệm Vì vậy, kết quả thu đ-ợc không chỉ về mặt kinh tế, sinh thái mà còn cả về mặt xã hội Khi xây dựng chính sách trong phát triển sản xuất lâm nghiệp, các vụ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN &PTNT) cũng đang cố gắng lồng ghép các quan điểm cũ
và mới về phát triển LSNG Trong ch-ơng trình trồng mới năm triệu ha rừng, cùng
sự tài trợ của quốc tế nh- Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB), ch-ơng trình phát triển của Liên hợp quốc, (UNDP), Đại sứ quán Hà Lan và các tổ chức phi Chính phủ khác nh- Quỹ quốc tế về bảo tồn hoang dã (WWF), Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đã thiết lập mối quan hệ với Chính phủ để tham gia hỗ trợ cho
Trang 30ch-¬ng tr×nh nµy, Ch-¬ng tr×nh hiÖn t¹i bao gåm m¶ng LSNG chiÕm 10% trong c¬
cÊu trång rõng, ®©y cã thÓ coi lµ mét ph¸t hiÖn tÝch cùc trong c«ng t¸c trång rõng
Trang 31Ch-ơng 4 Kết quả nghiên cứu
4.1 Đặc điểm cơ bản của VQG Pù Mát
4.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của VQG Pù Mát
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát đ-ợc công nhận năm 1995 kết hợp hai vùng bảo vệ tr-ớc đây: Anh Sơn và Thanh Ch-ơng (Quyết định 3355/QĐ-UB ngày 28 tháng 12 năm 1995) Nó đ-ợc chia thành một vùng nghiêm ngặt gồm 91,113 ha và một vùng đệm mở rộng vùng bảo vệ thêm 86,000 ha Khi thành lập Khu bảo tồn,
đồng thời ban quản lý KBT Pù Mát cũng đ-ợc thành lập, đảm nhận công việc quản
lý và hành chính Ban Quản lý đ-ợc phép dùng diện tích 57 ha đất tại Thị trấn Con Cuông để xây trụ sở và V-ờn thực vật ngoại vi Đầu năm 2000, Tỉnh Nghệ An có đề nghị chuyển hạng khu bảo vệ thành v-ờn quốc gia (Công văn 814/TT-UB ngày 21 tháng 4 năm 2000) và đề nghị này đ-ợc Bộ NN&PTNT đồng ý (Công văn 2113/BNN-KH ngày 20 tháng 6 năm 2000) Dự án Đầu t- cho V-ờn quốc gia cũng
đ-ợc xây dựng trong quá trình chuyển hạng này và do TTTNMTR (VĐTQHR) xây dựng hoàn thành tháng 12 năm 2000 Kế hoạch này đã đ-ợc chỉnh sửa nhiều lần theo ý kiến đóng góp nhận đ-ợc và đ-ợc đệ trình để Chính phủ phê duyệt đầu năm
2001 (Công văn 364/TT-UB ngày 31 tháng 1 năm 2002) Quyết định nâng cấp Khu bảo tồn thiên nhiên thành V-ờn quốc gia đ-ợc Chính phủ phê duyệt ngày 8 tháng 11 năm 2001 (Quyết định 174/2001/QĐ-TTg) Dự án đầu t- xây dựng giai đoạn 2002-
2011 đ-ợc phê duyệt ngày 12 tháng 7 năm 2002 (Quyết định 571/QĐ-TTg)
4.1.2 Đặc điểm tự nhiên của vùng đệm VQG Pù Mát
Trang 32Vùng có độ cao nhất nằm ở phía nam khu bảo tồn, đó là dải chính của dãy Tr-ờng Sơn trên đ-ờng biên giới giữa Việt Nam và Lào Đỉnh chính của Khu bảo tồn là ngọn núi Pù Mát, cao 1.841 m Từ dải chính này, các thung lũng chạy theo h-ớng bắc nam; những dải này nhìn chung rất dốc và đỉnh cao khoảng 800-1500 m Các vùng có độ cao cao th-ờng bị các dải này chặn lại do đó th-ờng không rộng Đáy thung lũng có bốn con sông chính th-ờng có lũ bất th-ờng Có một vài vùng đất thấp trên bờ của sông Khe Thơi và Khe Khặng nơi mà các bản làng đã mọc lên tr-ớc
đây và hiện nay
- Địa hình thổ nh-ỡng
Vùng đệm VQG Pù Mát là vùng đồi núi bị chia cắt mạnh bởi mạng l-ới khe suối Độ cao trung bình từ 200m dọc sông Cả lên 1600 m dọc biên giới Việt Lào, độ dốc trung bình toàn vùng là 25 –35o Có 3 con suối gồm khe Khặng, Khe Choăng và Khe Thơi chảy từ đỉnh Pù Mát qua vùng đệm và đổ vào sông Cả
Nền đất cấu tạo cơ bản bởi đá xâm nhập, thành phần chủ yếu là đá granit hạt lớn và hạt vừa, granit hạt mica và megagranit có bioxit Đất ở độ dốc cao trên 1.000
là feralit đỏ vàng và có mùn trên núi và có tầng mùn dày, ở độ d-ới 700m trở lên là feralit vàng và đỏ vàng, ở độ cao d-ới 300m là feralit nâu vàng Nhìn chung đất trong vùng đệm khá dày, khả năng thẩm thấu thoát n-ớc thấp và trung bình, phát triển trên các cát kết, phiến thạch và granit (theo “Luận chứng kinh kế kỹ thuật khu BTTN Anh Sơn – Pù Mát”, 1993)
- Khí hậu thuỷ văn
Vùng đệm VQG Pù Mát nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu chịu ảnh h-ởng của gió Lào tây bắc khô nóng và gió lạnh ẩm đông bắc từ Trung Quốc Kết quả là tạo ra các vùng vi khí hậu không đồng nhất và đa dạng Tuy thế, vùng đệm VQG Pù Mát nằm ngoài vành đai bão lụt và ít thiệt hại do gió mạnh gây ra
Khí hậu có hai mùa rõ rệt: Mùa nóng ẩm, từ đầu tháng 5 đến cuối tháng 10
và mùa lạnh khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,5oC, nhiệt độ tối đa ghi lại ở Con Cuông là 42,6oC ( nóng nhất là tháng 5 và tháng 6) , tối thiểu là 2,0oC (lạnh nhất là tháng 12 và tháng1)
Trang 33Tại huyện T-ơng D-ơng m-a hàng năm đạt khoảng 1.300mm, cao nhất vào tháng 8 đến tháng 9 (220 – 260 mm) thấp nhất vào tháng 12 đến tháng 2 (90 – 15 mm) Tại huyện Con Cuông l-ợng m-a trung bình hàng năm là 1.790 mm; với số ngày m-a khoảng 40 ngày (209 mm) trong mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4) và
93 ngày (1.059 mm) trong mùa m-a ẩm (từ tháng 5 đến tháng 10) Phía Đông Nam huyện Con Cuông m-a nhiều hơn và cao nhất vào tháng 9 là 380 mm, thấp nhất là
Trang 342.1 Đất ở 434 0,4 272 105 57
(Nguồn: Kết quả đánh giá diễn biến đất đai, tài nguyên rừng vùng đệm - tháng 5 năm 2004 của Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Bắc Trung bộ)
- Đặc điểm tài nguyên rừng và đa dạng sinh học:
+ Rừng th-ờng xanh nguyên sinh có đặc điểm là có các cây lớn, tán kín và thảm mặt đất rất th-a thớt Loại rừng này hiện nay chỉ còn lại ở các vùng đất dốc
+ Rừng th-ờng xanh thứ sinh chiếm phần lớn diện tích gần với các con sông chính Loại rừng này hoặc là đang tái sinh từ hoạt động canh tác hơn 15 tr-ớc, hoặc phổ biến hơn là kết quả của các hoạt động khai thác trái phép
+ Rừng suy thoái có ở những nơi rừng tự nhiên đã bị chặt phá trong quá khứ do các hoạt động nông nghiệp đã bị thay thế bởi nứa, mét Rừng suy thoái chủ yếu nằm dọc theo các con sông lớn, nơi mà đất đai t-ơng đối bằng phẳng và dễ dàng qua lại hơn các vùng khác
+ Các vùng đất nông nghiệp chủ yếu ở các thung lũng Khe Khang và Khe Thơi + Thảm cây bụi sông suối th-ờng có trên lòng sông bị lụt theo mùa Thảm này chủ yếu là cây bụi gỗ thấp xen lẫn với các bờ sỏi đá không có cây
+ Rừng th-ờng xanh nguyên sinh có đặc điểm là có các cây lớn, tán kín và thảm mặt đất rất th-a thớt, có ở trong vùng đệm chủ yếu là huyện T-ơng D-ơng Có hai khu chính, một ở thung lũng Khe Thơi xã Tam Đình, và một ở dọc theo biên giới quốc tế ở xã Tam Hợp
+ Rừng th-ờng xanh thứ sinh mở rộng trên khắp vùng đệm, nhất là trên đất dốc Một số vùng đ-ợc phân thành rừng phòng hộ và rừng sản xuất Tất cả rừng ở vùng
đệm đ-ợc giao cho hộ quản lý theo các quy định thoả thuận
+ Rừng suy thoái có ở trên đất dốc dọc theo thung lũng sông chính và ở vành đai của các vùng dân c- Một số nơi đã đ-ợc trồng mét nh- hoạt động tạo thu nhập
Trang 35+ Các vùng đất nông nghiệp chủ yếu ở các thung lũng sông và dọc theo đ-ờng 7
Có rất ít đất bằng: Phần lớn đất nông nghiệp ở trên đất dốc không t-ới đ-ợc Do sự cạn kiệt của đất, tổng diện tích đ-ợc canh tác đã giảm xuống trong những năm gần
đây
+ Núi đá là một hệ sinh thái quan trọng nằm trong vùng đệm, chứa đựng nhiều loài thực vật quý hiếm Thảm thực vật núi đá vôi bị tác động nghiêm trọng do việc chặt phá để lấy gỗ và củi, ngoại trừ ở những nơi không thể qua lại đ-ợc
VQG Pù Mát có nhiều loài đang bị đe doạ và trong đó có rất nhiều loài quý hiếm Các loài lá kim đã bị khai thác cạn kiệt ở tất cả các khu vực có thể qua lại và chỉ còn lại ở khu vực núi cao dọc theo biên giới Việt-Lào và chỉ có ở những khu vực
đầu nguồn nơi và không thể thả bè gỗ xuôi dòng Các loài lá kim d-ờng nh- không thể tái sinh đ-ợc ở những khu vực của VQG Pù Mát nơi mà chúng đã bị khai thác cạn kiệt, có thể do việc phát quang bằng lửa ở các đỉnh giông để tạo điều kiện dễ dàng cho việc khai thác gỗ đã phá hoại cả hạt giống và cây con Cần phải hỗ trợ tái sinh tự nhiên ở những khu vực này để phục hồi lại độ che phủ ban đầu Kết quả điều tra đa dạng sinh học cho thấy VQG Pù Mát có mức độ cao về sự đa dạng; có đến 72 loài thú lớn đã đ-ợc xác nhận (42 loài đã đ-ợc thấy tận mắt hoặc bẫy ảnh) Trong số những loài này có 31 loài nằm trong danh sách đỏ của IUCN Quy mô của VQGPM cùng với sự đa dạng, khiến cho nó càng trở nên quan trọng, là một trong những vùng bảo vệ lớn nhất ở dãy Tr-ờng Sơn, VQGPM có thể là khu bảo tồn quan trọng nhất ở Việt Nam về bảo tồn các loài thú lớn, là nơi trú ngụ của các sinh vật quan trọng về
mặt quốc tế nh- Pseudoryx nghitinhensis, Muntiacus truonosonensis, Chrotogale
owstoni, Viverra tainguensis, Prionodon pardicolor, loài Nesolagus và có thể cả Sus bucculentus và Megamuntiacus vuquangensis Nh- vậy nó có thể là khu bảo tồn
quan trọng nhất về việc bảo tồn các loài thú lớn VQGPM có các sinh vật quan trọng
về mặt quốc gia nh- Elaphas maximus, Panthera tigris và Bos gaurus và có thể là
Cuon alpinus VQGPM đ-ợc đánh giá cao vì là một trong năm điểm đ-ợc -u tiên
nhất về việc bảo tồn voi ở Việt Nam và có thể chiếm đến 10% số l-ợng voi còn lại ở
Việt Nam Số l-ợng cá thể các loài nh- H.leucogenys/gabriellae và Semnopithecus
phayrei cũng rất quan trọng về mặt quốc gia mặc dù chúng th-a thớt dần và phân bổ
Trang 36nhiều nơi trong Khu bảo tồn Tổng số 295 loài chim đã đ-ợc xác định qua quan sát trong VQGPM Theo danh sách đỏ của IUNC thì có tất cả là 7 loài hiện đang bị đe doạ trên toàn cầu và 16 loài khác cũng gần nằm trong nguy cơ này
4.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội của vùng đệm VQG Pù Mát
Dân số trong khu vực phân bố không đều Theo h-ớng Tây Bắc mật độ dân
số giảm dần từ 133 ng-ời/km2 còn 18 ng-ời/km2, tại xã Tam Hợp (huyện T-ơng D-ơng) chỉ còn 7 ng-ời/ km2 Phần lớn dân c- (Kinh, Thái chiếm gần 87%) sống gần vùng thấp gần trục Quốc lộ 7 Các dân tộc còn lại đều sống ở vùng cao, kề cận với VQG Đặc biệt có 265 hộ với 1494 khẩu thuộc tộc ng-ời Đan Lai sống ngay trong VQG, hoặc bản Huổi Sến của ng-ời H’Mông (xã Tam Hợp) nằm sát ranh giới phía Tây Bắc của VQG Khoảng 1000 ng-ời dân sống trong vùng núi đá vôi của VQG Pù Mát, sống tập trung tại ba bản: Cò Phạt, Bản Cồn và Bản Búng thuộc xã Môn Sơn nằm ở phía Đông Nam VQG, phần lớn họ là dân c- của dân tộc Đan Lai
Trang 37( Nguồn: Niên giám thống kê các huyện năm 1999)
Có hai bản nhỏ mới tách khỏi Bản Búng năm 1998 và năm 1999 Ng-ời Đan Lai sống trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt sống dựa vào canh tác nông nghiệp trên đất dốc của VQG, họ có lối sống gắn liền với các hoạt động săn bắn, thu hái sản phẩm rừng
Mật độ dân c- trung bình của vùng đệm 57 ng-ời/km2, với điều kiện của một vùng núi cao, địa hình chia cắt mạnh, đất dốc thì mật độ dân c- nh- vậy là v-ợt khỏi mật độ giới hạn cho phép của canh tác truyền thống (40 ng-ời/km2 theo Donovan và nnk, 1997) Trong khi đó hiện nay mặc dù vùng đệm VQG Pù Mát đã áp dụng biện pháp sinh đẻ có kế hoạch nh-ng tỷ lệ tăng dân số hằng năm vẫn là 2,3-2,6% (SFNC) Mật độ dân c- và tỷ lệ tăng dân số cao trong điều kiện trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, ph-ơng thức sản xuất không bền vững tạo nên mối đe dạo
đối với TNR VQG Pù Mát
- Cơ cấu dân tộc:
Trang 38Sinh sống trên địa bàn vùng đệm VQG Pù Mát gồm có ba dân tộc chính là Thái, Khơ Mú và Kinh, ngoài ra còn có một bộ phận nhỏ các dân tộc khác nh- Tày,
H’Mông, Ơ Đu, Đan Lai, Poọng Trong đó dân tộc Thái chiếm nhiều nhất khoảng 66,89%, và ít nhất là dân tộc ơ Đu chiếm 0,6% Cơ cấu dân tộc trong vùng đệm VQG Pù Mát trình bày trong biểu 4.3
Biểu 4.3: Cơ cấu dân tộc trong vùng đệm VQG Pù Mát
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Con Cuông, Anh Sơn, T-ơng D-ơng, năm 1999)
Đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại đây thì tiếng Thái và văn hoá Thái giữ vai trò thống trị trong đời sống hàng ngày, còn dân tộc Đan Lai thì không có nền văn hoá đặc tr-ng Sự phân bố các tộc ng-ời ở tại các huyện là không đều ở huyện Anh Sơn chỉ có ng-ời Kinh và ng-ời Thái, trong khi đó ở huyện T-ơng D-ơng có
đầy đủ 6 tộc ng-ời, còn ở Con Cuông thì chỉ có 4 tộc ng-ời nh-ng có số l-ợng dân tộc ng-ời Đan Lai lớn nhất so với cả tỉnh
- Y tế, giáo dục
+ Y tế: 100% các xã đã có trạm y tế Mặc dù vậy, các dịch vụ y tế ở nhiều
bản vẫn ch-a thực sự phát triển, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, đa số các xã đều ch-a
có trạm xá kiên cố, hoàn chỉnh ; ch-a có bác sỹ, ch-a có y sỹ và y tá là những ng-ời
có tay nghề, khả năng, kỹ thuật ch-a cao Do sự cách trở và khó khăn về mặt địa lý,
địa hình, và do thói quen ng-ời dân chữa các bệnh qua các ông lang, bà bế nên các loại bệnh nh- đ-ờng ruột, da liễu vẫn th-ờng xuyên đe doạ cuộc sống ng-ời dân
Trang 39+ Giáo dục: Tình hình giáo dục trong khu vực t-ơng đối tốt, hầu hết con em
đồng bào dân tộc đều đ-ợc đi học Mặc dù cơ sở vật chất ở các tr-ờng học các cấp còn nghèo nàn, đội ngũ giáo viên ở các bản còn mỏng nh-ng ng-ời dân địa ph-ơng
đều ý thức được việc phải cho con cái đi học để “biết cái chữ” Tuy nhiên, phần lớn những trẻ em ở những bản sâu chỉ học hết cấp tiểu học, một số ít mới học hết cấp trung học cơ sở, rất ít ng-ời học hết cấp trung học phổ thông và bậc học cao hơn nữa Trong đó, đặc biệt là hai huyện Con Cuông và T-ơng D-ơng, học sinh trung học phổ thông so với huyện Anh Sơn thì thấp hơn nhiều, chỉ chiếm từ 18 - 21% so với tổng học sinh Trung học phổ thông cả ba huyện Riêng huyện Anh Sơn con số này xấp xỉ 60 - 70% Có một điều khó khăn nữa là nhiều học sinh b-ớc vào tiểu học nh-ng không thể hiểu tiếng phổ thông, vì thế cô giáo phải bỏ ra rất nhiều thời gian
để dạy tiếng Kinh cho các em Bên cạnh đó sự tiếp thu kiến thức của các em còn chậm nên giáo viên không thể dạy hết l-ợng kiến thức đ-a ra trong sách giáo khoa Với những lý do nh- vậy chất l-ợng dạy và học ở đây thấp hơn nhiều so với các vùng ở miền xuôi
Tóm lại đời sống của ng-ời dân vùng đệm có mối quan hệ chặt chẽ với việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên nơi đây, một khi đời sống của họ còn thấp thì việc bảo vệ TNR còn gặp nhiều khó khăn Để giải quyết đ-ợc vấn đề này cần phải song song tiến hành nâng cao đời sống cho ng-ời dân địa ph-ơng cả về mặt vật chất lẫn văn hoá và tinh thần
- Tình hình phát triển hạ tầng trong khu vực:
Vùng đệm có đ-ờng Quốc lộ 7A chạy xuyên qua là tuyến đ-ờng quan trọng tạo điều kiện l-u thông hàng hóa, và thuận lợi cho việc phát triển kinh tế vùng, ngoài ra Từ nhiều năm nay cùng với sự phát triển sản xuất tại địa ph-ơng cộng với
sự quan tâm của Đảng và Nhà n-ớc, với ph-ơng châm nhà n-ớc và nhân dân cùng làm, cho đến nay hệ thống đ-ờng giao thông nông thôn, cơ sở vật chất của vùng
đệm t-ơng đối phát triển, đáp ứng đ-ợc nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của khu vực Các xã trong vùng đệm hầu hết đã có trạm hạ thế điện quốc gia, tuy nhiên còn nhiều cụm dân c- vùng sâu ch-a có điện Trong những năm qua do công tác quản lý bảo vệ rừng đ-ợc thực hiện có hiệu quả nên nguồn n-ớc cung cấp cho các khe suối
Trang 40luôn đảm bảo Mặt khác đ-ợc sự quan tâm của Nhà n-ớc, một số hồ, đập đã đ-ợc duy tu bảo d-ỡng để tích trữ n-ớc cho các xã khác vùng đệm nên nguồn n-ớc cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong khu vực luôn đ-ợc đảm bảo
- Tình hình phát triển các ngành kinh tế trong khu vực
+ Sản xuất nông nghiệp
Ng-ời dân vùng đệm sống chủ yếu dựa vào các hoạt động canh tác trên đất nông nghiệp sẵn có ở những vùng đất bằng phẳng thì chủ yếu trồng lúa n-ớc và ở những vùng đồi núi thì chủ yếu là đốt n-ơng làm rẫy
Tr-ớc đây hầu hết các hộ trong vùng đệm đều làm n-ơng rẫy du canh, ph-ơng thức canh tác này đã giữ vai trò quan trọng trong đảm bảo nhu cầu l-ơng thực cho mỗi nông hộ Những năm gần đây với chủ tr-ơng của Nhà n-ớc, việc quản
lý của các cấp chính quyền địa ph-ơng và với hoạt động của Dự án SFNC hình thức canh tác này đã đ-ợc hạn chế và đi đến chấm dứt
N-ơng cố định là hình thức canh tác t-ơng đối phổ biến ở các nông hộ vùng
đệm, trên n-ơng cố định hầu hết các hộ đều sử dụng ph-ơng thức đa canh Cây trồng chủ yếu là lúa (lúa nếp), ngô, sắn, khoai lang, đậu, lạc, chuối, đu đủ, bầu bí, một số còn trồng thêm chè, các loại cây ăn củ, rau các loại Một số hộ đã đ-a ph-ơng thức nông lâm kết hợp vào n-ơng rẫy cố định song việc lựa chọn cơ cấu cây trồng, phối trí cây trồng còn nhiều hạn chế Từ khi Dự án đầu t- các hoạt động phổ cập nâng cao kiến thức kỹ thuật canh tác bền vững cho các nông hộ, nh- giới thiệu các mô hình canh tác trên đất dốc, nông lâm kết hợp, tham quan mô hình hình thức canh tác trên n-ơng cố định đã có nhiều biến đổi, cơ cấu cây trồng đ-ợc phối trí hợp lý, cây ăn quả đ-ợc đ-a vào cơ cấu cây trồng cho những kết quả khả quan Ruộng bậc thang là một hình thức canh tác gắn bó với các nông hộ thuộc vùng đệm, trên ruộng bậc thang trồng chủ yếu hai vụ lúa, một số diện tích không chủ động đ-ợc n-ớc có thể trồng một vụ lúa, một vụ màu Đây là hệ canh tác khá bền vững ở vùng cao cho năng suất t-ơng đối cao và ổn định, có điều kiện đầu t- thâm canh sẽ tạo nguồn thu nhập đáng kể cho các hộ