1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu xây dựng phương án cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp quy nhơn bình đình

120 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã kiên trì tập trung tiến hành công tác sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước DNNN và đã đạt được một số kết quả nhất định như giảm mạnh số

Trang 1

-

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI CÔNG TY TNHH

MỘT THÀNH VIÊN LÂM NGHIỆP QUY NHƠN – BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Hà Nội- 2011

Trang 2

-

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN CỔ PHẦN HÓA

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI CÔNG TY TNHH

MỘT THÀNH VIÊN LÂM NGHIỆP QUY NHƠN – BÌNH ĐỊNH

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 63 31 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRẦN HỮU DÀO

Hà Nội - 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn tốt nghiệp cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu từ gia đình và nhà trường Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

Ban giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp

Các Thầy giáo, Cô giáo giảng dạy sau Đại học, Cán bộ Khoa Sau đại học Thầy giáo hướng dẫn TS Trần Hữu Dào, người đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Các cán bộ công nhân viên Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Quy Nhơn, Bình Định nơi tôi tiến hành nghiên cứu

Vì điều kiện thời gian, khả năng của bản thân còn có những hạn chế nên luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được ý kiến góp ý quý báu của các Thầy cô giáo, cán bộ địa phương cũng như các bạn đồng nghiệp để bài luận văn tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin cam đoan số liệu thu thập, kết quả xử lý tính toán là trung thực và những nội dung tham khảo, trích dẫn trong luận văn đều được chỉ dẫn nguồn gốc

Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

Trang TRANG PHỤ BÌA

LỜI CẢM ƠN……….i

MỤC LỤC……… ii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP LÂM NGHIỆP 3 1.1 Cơ sở lý luận về cổ phần hóa DNNN 3

1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp Nhà nước 3

1.1.2 Khái niệm về CPH DNNN 3

1.1.3 Công ty cổ phần 3

1.1.4 Mục đích cổ phần hoá DNNN 6

1.1.5 Yêu cầu của việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần 6 1.2 Kinh nghiệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trên Thế giới 7

1.2.1 Cổ phần hóa ở một số nước tư bản phát triển 7

1.2.2 Cổ phần hóa á một số nước ASEAN 7

1.2.3 Cổ phần hóa DNNN ở Trung Quốc 8

1.2.4 Bài học kinh nghiệm từ việc cổ phần hoá ở các nước trên thế giới đối với Việt Nam 11

1.3 Thực tiễn cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam 13

1.3.1 Những thành công bước đầu 14

1.3.2 Những tồn tại của quá trình cổ phần hoá DNNN 14

1.3.3 Một số công trình nghiên cứu về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 15

1.4 Cổ phần hóa doanh nghiệp lâm nghiệp 16

1.4.1 Hệ thống các Doanh nghiệp Lâm nghiệp nước ta hiện nay 16

1.4.2 Lý do tiến hành CPH Doanh nghiệp Lâm nghiệp ở Việt Nam 17

1.4.3 Cơ sở pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp lâm nghiệp 17

1.4.4 Những vấn đề mang tính đặc thù cần được xem xét khi tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp lâm nghiệp 18

1.4.5 Cơ sở thực tiễn về cổ phần hóa doanh nghiệp lâm nghiệp 33

Trang 5

1.4.6 Một số công trình nghiên cứu 34

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 37

2.1.1 Mục tiêu tổng quát 37

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 37

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 37

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 37

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 37

2.3 Nội dung nghiên cứu 37

2.4 Phương pháp nghiên cứu 38

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 38

2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

3.1 Đặc điểm chung về Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Quy Nhơn – Bình Định 41

3.1.1 Giới thiệu chung về công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Quy Nhơn - Bình Định 41

3.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Quy Nhơn - Bình Định 42

3.1.3 Tổ chức bộ máy quản lí của công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Quy Nhơn – Bình Định 43

3.2 Đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh và khả năng cổ phần hóa tại Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Quy Nhơn – Bình Định 45

3.2.1 Thực trạng sản xuất kinh doanh tại công ty 45

3.2.2 Đánh giá khả năng cổ phần hóa của công ty 55

3.3 Nghiên cứu xây dựng phương án cổ phần hóa tại Công ty 62

3.3.1 Xác định giá trị doanh nghiệp 62

3.3.2 Xây dựng phương án sản xuất kinh doanh giai đoạn 2011-2015 73

3.3.3 Xác định nhu cầu vốn đầu tư cho phương án SXKD 76

3.4 Kế hoạch đáp ứng nhu cầu cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty 83 3.4.1 Kế hoạch đáp ứng nhu cầu vốn của dự án trồng rừng sản xuất giai đoạn 2010 – 2018 84

Trang 6

3.4.2 Kế hoạch đáp ứng nhu cầu vốn cho dự án trồng rừng nguyên liệu giấy

giai đoạn 2011 – 2017 85

3.5 Tổng hợp nhu cầu và kế hoạch đáp ứng nhu cầu vốn cho kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty 87

3.5.1 Nhu cầu vốn cho kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty 87

3.5.2 Kế hoạch đáp ứng nhu cầu vốn cho kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty 89

3.5.3 Xác định vốn điều lệ và khối lượng cổ phiếu phát hành 92

3.5.4 Xây dựng phương án bán cổ phiếu 94

3.5.5 Thành lập ban chỉ đạo cổ phần hoá doanh nghiệp 98

3.6 Đề xuất một số giải pháp về cổ phần hoá tại Công ty 99

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106

4.1 Kết luận 106

4.2 Kiến nghị 107 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ BIỂU

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BH&CCDV Bán hàng và cung cấp dịch vụ

CBCNV Cán bộ công nhân viên CBCNVC-LĐ Cán bộ công nhân viên chức và lao động CNVC Công nhân viên chức

KN.XTTS Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh

LTQD MQH

Lâm trường quốc doanh Mối quan hệ

Trang 8

QLBV Quản lý bảo vệ QLBVR Quản lý bảo vệ rừng QSDĐ Quyền sử dụng đất PCCR Phòng chống cháy rừng

SXKD Sản xuất kinh doanh TNR Tài nguyên rừng TSCĐ Tài sản cố định TSLĐ Tài sản lưu động TSNH Tài sản ngắn hạn TNDN Thu nhập doanh nghiệp TNHH Trách nhiệm hữu hạn UBND Ủy ban nhân dân

VNĐ Việt nam đồng VNN Vốn nhà nước XTTS Xúc tiến tái sinh

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1 Hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng của công ty TNHH một

thành viên lâm nghiệp Quy Nhơn – Bình Định

52

3.2 Tình hình lao động của công ty laam nghiệp Quy Nhơn – Bình Định 53 3.3 Tình hình vốn SXKD của công ty qua 3 năm 2008-2010 55 3.4 Hệ số cấu trúc nguồn vốn phản ánh tình hình tài chính của công ty 57 3.5 Kết quả SXKD của công ty lâm nghiệp Quy Nhơn trong 3 năm

2008-2010

59

3.6 Khả năng về nguồn vốn công ty đến ngày 31/12/2010 62 3.7 Tình hình TSCĐ của công ty lâm nghiệp Quy Nhơn 2010 64 3.8 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả SXKD của công ty 68 3.9 Tình hình TSLĐ và ĐTNH tại công ty lâm nghiệp Quy Nhơn đến

31/12/2010

70

3.10 Tình hình TSCĐ của công ty đánh giá lại 2010 71 3.11 Một số chỉ tiêu xác định giá trị lợi thế kinh doanh của công ty 73 3.12 Bảng đơn giá các loại đất theo khung giá Nhà nước và tỉnh Bình

Định năm 2010

74

3.13 Diện tích đất đưa vào tính giá trị doanh nghiệp 74 3.14 Giá trị đất của công ty tính theo các loại khung giá 75 3.15 Tổng hợp các nguồn vốn vay từ 2004 đến 2010 78

3.17 Giá trị thực tế của công ty đến 31/12/2010 80 3.18 Diện tích trồng mới dự án rừng sản xuất năm 2010-2018 82 3.19 Vốn đầu tư theo khoản mục của dự án trồng rừng sản xuất giai đoạn

3.22 Nhu cầu vốn cho dự án bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ cảnh

quan Quy Nhơn giai đoạn 2011-2015

3.26 Kế hoạch đáp ứng nhu cầu vốn cho dự án trồng rừng SX làm

nguyên liệu giấy 2011-2017

94

3.27 Nhu cầu vốn cho kế hoạch SXKD của công ty 96 3.28 Kế hoạch đáp ứng nhu cầu vốn cho phương án SXKD của công ty 99 3.29 Biểu tổng hợp số cổ phần dành cho các đối tượng 104

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI nước ta chuyển sang phát triển kinh

tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm khai thác mọi tiềm năng sản xuất

xã hội, nâng cao hiệu quả toàn bộ nền kinh tế quốc dân Trong bối cảnh ấy, khu vực doanh nghiệp nhà nước, bộ phận trọng yếu của kinh tế nhà nước bộc lộ rất nhiều bất cập Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương đổi mới doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa và đa dạng hóa hình thức sở hữu của một số doanh nghiệp nhà nước

Mục tiêu của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là nhằm tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động để sử dụng

có hiệu quả vốn, tài sản của nhà nước và huy động thêm vốn xã hội vào phát triển sản xuất kinh doanh Tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả cho doanh nghiệp nhà nước, phát huy vai trò làm chủ thực thụ của người lao động, của cổ đông

Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã kiên trì tập trung tiến hành công tác sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và đã đạt được một

số kết quả nhất định như giảm mạnh số lượng DNNN, nâng quy mô vốn bình quân, giảm bớt được sự tài trợ ngân sách, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, bước đầu đã phát huy được quyền chủ động kinh doanh của đơn vị kinh tế cơ sở, giảm mạnh sự can thiệp hành chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh

Tuy nhiên, do đặc điểm và thực trạng DNNN của nước ta quá trình này vẫn còn phải tiến hành một cách thận trọng, lâu dài vì phải giải quyết đồng bộ nhiều vấn

đề phức tạp trong cả lĩnh vực kinh tế và trong lĩnh vực đời sống xã hội mới đạt được kết quả mong muốn

Hiện nay, bên cạnh các khó khăn chủ quan xuất phát từ nền kinh tế, thì biến động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực đang tiếp tục lan rộng và

Trang 12

theo chiều sâu cũng sẽ đồng thời ảnh hưởng theo chiều hướng xấu đến nền kinh tế nước ta Điều này cho thấy tính cấp bách phải khẩn trương nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế để đảm bảo cho sự phát triển đất nước một cách ổn định, vững chắc không những cho những năm trước mắt mà cả tương lai lâu dài

Cổ phần hóa DNNN là một quá trình phức tạp, khi quan điểm nhận thức chưa thống nhất, kinh nghiệm chưa đủ thì việc cổ phần hóa gặp phải rất nhiều khó khăn trở ngại Tuy cổ phần hóa DNNN được tiến hành từ 5/1990 nhưng cho đến nay tiến

độ cổ phần hóa diễn ra chậm, mục tiêu của cổ phần hóa chưa đạt được như mong muốn Đặc biệt đối với các công ty lâm nghiệp, ngoài những khó khăn về vốn, năng lực quản lý yếu kém, việc chưa xác định được giá trị vườn cây lâu năm, giá trị rừng trồng nên các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc giao khoán giá trị vườn cây, rừng trồng theo quy định mới Chính vì thế, nhiều đơn vị chưa thực hiện được việc cổ phần hoá cơ sở chế biến gắn với vườn cây, rừng trồng, các doanh nghiệp rất khó khăn trong việc vay vốn khi có yêu cầu thế chấp tài sản Việc thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp lâm nghiệp lại càng khó khăn hơn khi phương pháp xác định giá trị tài sản doanh nghiệp còn nhiều vấn đề gây tranh cãi Qua thực tế nghiên cứu tại công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Quy Nhơn - Bình Định, tôi nhận thấy việc xây dựng phương án cổ phần hóa là hết sức cần thiết và cấp bách Nhận thức rõ

tầm quan trọng của vấn đề trên, tôi đã thực hiện luận văn tốt nghiệp:

“Nghiên cứu xây dựng phương án cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Quy Nhơn - Bình Định”

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP LÂM NGHIỆP

1.1 Cơ sở lý luận về cổ phần hóa DNNN

1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp Nhà nước

Theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước được Quốc hội khoá XI, kì họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì Doanh nghiệp Nhà nước được hiểu như sau:

“Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn

điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức Công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn” [28]

Một doanh nghiệp được coi là DNNN khi có đủ 3 điều kiện:

các DNNN sang các loa ̣i hình khác còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiê ̣n

1.1.2 Khái niệm về CPH DNNN

Cổ phần hóa thực chất là chuyển đổi sở hữu của doanh nghiệp, từ sở hữu Nhà nước sang đa dạng hóa các hình thức sở hữu nhằm thu hút các nguồn vốn và kinh nghiệm tổ chức sản xuất từ các nhà đầu tư và người lao động, tạo cơ sở cho cho việc đổi mới các quan hệ quản lý và phân phối sản phẩm, tạo động lực mới, phát huy quyền làm chủ kinh doanh nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn nhằm hiện đại hóa nền kinh tế [20]

1.1.3 Công ty cổ phần

+ Khái niệm công ty cổ phần

Trang 14

Theo Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005 – Chương IV Công ty cổ phần, CTCP là doanh nghiệp, trong đó:

(1) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;

(2) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa;

(3) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

(4) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác; (5) CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;

(6) CTCP có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn [30]

+ Các loại cổ phần

- Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông

- Công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi

là cổ đông ưu đãi

Cổ phần ưu đãi gồm các loại như: cổ phần ưu đãi biểu quyết; cổ phần ưu đãi

cổ tức; cổ phần ưu đãi hoàn lại; cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định

Chỉ có tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông Người được quyền mua cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông quyết định Cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần

ưu đãi Cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông

+ CTCP có quyền phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty [30]

Trang 15

+ Cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần

Hình 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lí công ty cổ phần

CTCP có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty được quy định tại Điều lệ công ty

Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của CTCP

Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công

ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị bầu Chủ tịch Hội đồng quản trị theo quy định tại Điều lệ công ty Trường hợp Hội đồng quản trị bầu Chủ tịch Hội đồng quản trị thì Chủ tịch được bầu trong số thành viên Hội đồng quản trị Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác

Hội đồng quản trị bổ nhiệm một người trong số họ hoặc thuê người khác làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp Điều lệ công ty không quy định Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật thì Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty

Đaị hội đồng cổ đông

Hội đồng quản trị

TGĐ, Giám đốc điều hành hành Ban kiểm soát Chủ tịch hội đồng quản trị

Bộ máy điều hành

Trang 16

Ban kiểm soát: Ban kiểm soát có từ ba đến năm thành viên nếu Điều lệ công

ty không có quy định khác; nhiệm kỳ của Ban kiểm soát không quá năm năm; thành viên Ban kiểm soát có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế Các thành viên Ban kiểm soát bầu một người trong số họ làm Trưởng ban kiểm soát Quyền và nhiệm vụ của Trưởng ban kiểm soát do Điều lệ công ty quy định Ban kiểm soát phải có hơn một nửa số thành viên thường trú ở Việt Nam và phải có

ít nhất một thành viên là kế toán viên hoặc kiểm toán viên Trong trường hợp vào thời điểm kết thúc nhiệm kỳ mà Ban kiểm soát nhiệm kỳ mới chưa được bầu thì Ban kiểm soát đã hết nhiệm kỳ vẫn tiếp tục thực hiện quyền và nhiệm vụ cho đến khi Ban kiểm soát nhiệm kỳ mới được bầu và nhận nhiệm vụ [30]

1.1.4 Mục đích cổ phần hoá DNNN

- Góp phần nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp; tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động, tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động cho doanh nghiệp để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và của doanh nghiệp

- Huy động vốn của toàn xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp

- Phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động của các cổ đông, tăng cường sự giám sát của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp; bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động [22]

1.1.5 Yêu cầu của việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần

- Chuyển đổi những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế

- Đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp

- Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán

Trang 17

1.2 Kinh nghiệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trên Thế giới

1.2.1 Cổ phần hóa ở một số nước tư bản phát triển

Quá trình CPH ở hầu hết các nước tư bản phát triển được thực hiện chủ yếu dưới hình thức bán cổ phiếu của các Công ty quốc doanh hay DNNN qua sở giao dịch chứng khoán, bán đấu giá có giới hạn người mua hoặc bán trực tiếp cho những người mua được lựa chọn một hay phần hay toàn bộ cổ phần của doanh nghiệp Việc bán đấu giá hay bán trực tiếp chỉ áp dụng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, còn đối với các công ty lớn thì phổ biến là CPH thông qua thị trường chứng khoán [20]

Mức độ CPH ở mỗi Công ty phụ thuộc vào ý đồ của Chính phủ muốn duy trì ảnh hưởng đến mức độ nào trong việc kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp

Quá trình CPH đó mang lại hiệu quả hết sức điển hình, ở các nước phát triển hình thành hàng loạt các Công ty cổ phần hỗn hợp Nhà nước – tư nhân, trong đó một số lĩnh vực Nhà nước giữ cổ phần khống chế, còn một số lĩnh vực khác Nhà nước chỉ giữ ở một mức có thể kiểm soát hoạt động của chúng [12]

Chính phủ dùng số tiền thu được từ CPH các DNNN không chỉ để giảm thâm hụt ngân sách mà còn mua cổ phiếu của các Công ty tư nhân trên thị trường chứng khoán, để đảm bảo cho mình những khoản thu nhập bổ sung, thâm nhập và mở rộng quyền chi phối của mình trong các lĩnh vực cần kiểm soát và chống độc quyền Như vậy, đồng thời với quá trình chuyển đổi sở hữu trong khu vực kinh tế nhà

nước là quá trình “Nhà nước hóa” trở lại các Công ty tư nhân trong chiến lược cơ

cấu lại nền kinh tế thị trường hỗn hợp, đảm bảo mức tăng trưởng ổn định cho đất nước và giải quyết công ăn việc làm cho người lao động [12]

1.2.2 Cổ phần hóa á một số nước ASEAN

Hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam á (các nước ASEAN) có truyền thống nông nghiệp (trừ hai nước Singapo và Brunây) và trong những năm gần đây đều có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tương đối ổn định

Các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường là chính, chỉ có một số bộ phận nhỏ là hoạt động công ích Chính vì vậy hiệu quả kinh doanh được đặt lên hàng đầu, nếu các DNNN mà hoạt động không hiệu quả thì sẽ bị giải thể hoặc phá sản

Trang 18

Mục đích chính của CPH ở các nước ASEAN là nâng cao tính tự chủ của doanh nghiệp, xây dựng lại cơ cấu kinh tế theo hướng ưu tiên kinh tế tư nhân, tạo môi trường kinh doanh tích cực đảm bảo cân bằng giữa các thành phần kinh tế xóa

bỏ lối kinh doanh độc quyền kém hiệu quả của kinh tế nhà nước, giảm gánh nặng cho ngân sách

Trong các nước ASEAN hai nước Singapo và Malaysia là hai nước tương đối thành công trong công tác CPH

Tại Singapo, Nhà nước đã sớm soạn thảo một chương trình CPH có hệ thống phù hợp với đặc điểm tình hình trong nước, một ủy ban tư nhân hóa khu vực kinh tế Nhà nước được thành lập để đề ra chương trình CPH hoàn chỉnh dự định kéo dài trong 10 năm Các DNNN làm ăn có lãi được chọn là đối tượng CPH trước tiên Thành công nhất trong công tác CPH ở Singapo là đã không để ra tình trạng thâm hụt ngân sách, vẫn duy trì được mức tăng trưởng và tích lũy cao Do vậy mà hầu hết các mục tiêu CPH ở Singapo đề ra đã đạt được [12]

Còn ở Malaysia đã thay đổi các chính sách kinh tế theo đó lấy cải cách khu vực kinh tế Nhà nước làm trọng tâm Chuyển khoảng 20% số DNNN hiện có sang CTCP hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn nhằm cơ cấu lại DNNN theo hướng hoạt động có hiệu quả, giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, giảm mức nợ của Chính phủ [27]

Tháng 5/1995 Malaysia đã CPH thành công 120 DNNN trong đó có những doanh nghiệp thuộc lĩnh vực then chốt như: Hàng không, điện lực, bưu chính viễn thông… Malaysia đã chấp nhận một phần sở hữu Nhà nước theo quan niệm DNNN trong một số ngành thuộc hạ tầng cơ sở hoặc dịch vụ trước đây tư nhân không đầu

tư nên Nhà nước phải đầu tư để tạo ra hàng hóa và dịch vụ phục vụ cho người dân bảo đảm an ninh xã hội

1.2.3 Cổ phần hóa DNNN ở Trung Quốc

Trung Quốc và Việt Nam có nhiều nét văn hóa tương đồng, Việt Nam với mong muốn tìm kiếm kinh nghiệm có thể vận dụng vào việc thúc đẩy CPH DNNN

ở nước ta

Trang 19

Đầu những năm 80, Trung quốc có 384.000 DNNN, sản xuất 423,8 tỷ NDT giá trị sản phẩm chiếm 80,3% tổng giá trị sản lượng công nghiệp toàn quốc [42] Căn

cứ vào yêu cầu của quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã nhận thấy hoạt động của DNNN có nhiều vấn đề đáng lo ngại trong đó, nổi lên:

- Hiệu quả kinh tế thấp, không ít doanh nghiệp bị thua lỗ và thua lỗ ngày càng lớn

- Gánh nặng nợ nần trong các DNNN càng lớn

- Các DNNN phải gánh chịu quá nhiều chức năng xã hội

- Tình trạng thất thoát tài sản Nhà nước quá nghiêm trọng

- Thiết bị của doanh nghiệp cũ kỹ lạc hậu

Trước tình trạng đó, Trung Quốc chủ trương đổi mới DNNN, trong đó có việc chuyển đại bộ phận DNNN thành Công ty cổ phần (CTCP) [42]

* Về quan niệm

Trung Quốc dựa trên những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác để tiến hành CPH DNNN Họ nhận thức rằng, kinh tế cổ phần là sự vận động của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, gắn liền với kinh tế hàng hóa và hoạt động tín dụng, là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả, CTCP đó từng thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế các nước TBCN Trung Quốc đó vận dụng những nhận thức nói trên vào việc xây dựng CTCP trong nền kinh tế [41]

Trung Quốc đặt vấn đề CPH một bộ phận DNNN là một phần hữu cơ trong tổng thể các DNNN, mà đổi mới DNNN là khâu then chốt của cải cách kinh tế Trung Quốc nhấn mạnh: Cải cách kinh tế bao gồm cấu trúc lại cơ cấu ngành và cơ cấu sản xuất vĩ mô và vi mô, đổi mới quản lý sản xuất kinh doanh nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao Muốn vậy, một mặt phải chuyển đổi DNNN thành doanh nghiệp hiện đại, trong đó có sự tách biệt giữa sở hữu và kinh doanh, giữa Nhà nước và doanh nghiệp; mặt khác, phải đẩy mạnh CPH một bộ phận DNNN Đồng thời, coi tiền đề cải cách doanh nghiệp là xây dựng đồng bộ cơ chế thị trường Trong tổng thể đó, mỗi khâu đều có vị trí quan trọng của nó, không cô lập và không tách rời nhau [41]

Trang 20

* Về tiến trình CPH

Năm 1991, Trung Quốc mới chính thức triển khai CPH DNNN Khi đó, cả nước có 3.200 doanh nghiệp cổ phần hóa thí điểm, không kể các doanh nghiệp cổ phần hợp tác thuộc kinh tế Hương Trấn Năm 1993, 10.300 CTCP phát hành cổ phiếu trị giá 400 tỷ nhân dân tệ Năm 1994 có 47% cổ phiếu được bán cho các công nhân viên trong doanh nghiệp, 46% thuộc quyền sá hữu của pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, chỉ có 7% cổ phiếu phát hành ra ngoài xó hội Năm 1995, cả nước

có trên 12.000 CTCP có sở hữu hỗn hợp trong đó Nhà nước sở hữu 40%, các pháp nhân 40%, cá nhân 20% [12]

* Hình thức tiến hành CPH DNNN

Cổ phần hóa DNNN ở Trung Quốc được tiến hành dưới ba hình thức:

Thứ nhất: DNNN cù ng với các doanh nghiệp trong nền kinh tế tham gia nắm giữ cổ phiếu hình thành CTCP Hình thức góp vốn cổ phần của các doanh nghiệp giữ cổ phiếu hình thành CTCP Hình thức góp cổ phần của các doanh nghiệp có thể là: Lấy tài sản cố định như nhà xưởng, thiết bị quy ra giá trị để góp cổ phần; lấy vốn dự trữ để đầu tư vào các doanh nghiệp khác; lấy tài sản vô hình như khách hàng, bản quyền, nhãn mác để tham gia cổ phần Các CTCP kiểu này có lợi cho việc hợp tác kinh tế theo chiều ngang, có lợi cho việc di chuyển hợp lý và kết hợp tối ưu các yếu tố sản xuất nên được phát triển rất nhanh

Thứ hai: Hình thức bán cổ phần cho công nhân viên chức trong nội bộ doanh

nghiệp Thông qua hai hình thức này, CNVC có cổ phần, trở thành cổ đông tại doanh nghiệp mình làm việc Lợi ích của họ và doanh nghiệp gắn liền với nhau làm tăng tính làm chủ của người lao động đối với doanh nghiệp Tuy nhiên, hình thức CTCP này nảy sinh mâu thuẫn giữa thu nhập trước mắt của công nhân viên chức với sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp và thường xuất hiện tình trạng phân phối chênh lệch về phía CNVC

Thứ ba: CPH DNNN bằng cách phát hành cổ phiếu công khai ra thị trường,

trong đó có doanh nghiệp trực tiếp phát hành cổ phiếu trên thị trường để tập trung vốn, mở rộng, xây dựng mới doanh nghiệp hoặc phát triển các mặt hàng hiện có

Trang 21

của doanh nghiệp; các doanh nghiệp lớn đóng góp cổ phần, phát hành cổ phiếu ra ngoài xã hội Hiện nay hình thức cổ phần hóa này không nhiều [42]

* Những kết quả đạt được của CPH DNNN ở Trung Quốc

Thứ nhất: Thúc đẩy tập trung vốn, góp phần tích cực giải quyết vấn đề thiếu

vốn của doanh nghiệp Trong hơn 10.000 DNNN đó chuyển sang CTCP có hơn 700

đã bán cổ phiếu trên thị trường với giá trị lưu thông trên 500 NDT Đã có trên 100.000 người làm việc trên thị trường chứng khoán, 31 triệu người đã mua cổ phiếu tại lục địa, số vốn tập trung của cả hai loại công ty này gộp lại là 13 tỷ USD

Đó là một nguồn vốn quan trọng giúp ích cho nhiều việc đầu tư các công trình trọng điểm và các dự án cải tạo ở Trung Quốc

Thứ hai: CPH DNNN tạo thuận lợi cho chuyển đổi cơ chế kinh doanh của

doanh nghiệp, xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại Đây là mục tiêu quan trọng nhất tại Trung Quốc, thông qua quá trình này, doanh nghiệp được tách rời ra với chính quyền, quyền sở hữu tách rời quyền kinh doanh, phát huy vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp, khi DNNN chuyển sang CTCP thì doanh nghiệp không còn đơn thuần thuộc sở hữu Nhà nước nữa, nên chính quyền không còn chổ dựa để can thiệp trực tiếp vào doanh nghiệp [20]

Thứ ba: Với tư cách là đơn vị sản xuất kinh doanh (SXKD) thuộc kinh doanh

nghiệp độc lập trong khuôn khổ pháp luật và chính sách của Nhà nước, dưới sự giám sát của cổ đông và toàn xã hội, các CTCP phải trực tiếp đi vào thị trường, tham gia cạnh tranh, tự tìm tòi để tồn tại và phát triển Do vậy, các CTCP sẽ phải vừa thận trọng, vừa phải năng động trong hoạt động SXKD phù hợp với đòi hỏi của

cơ chế thị trường [15]

Thứ tư: chuyển DNNN thành CTCP đó tạo điều kiện thuận lợi để Trung Quốc

có thể thiết lập và phát triển những tập đoàn doanh nghiệp quy mô lớn, có sức cạnh tranh, rất cần thiết cho công cuộc phát triển đất nước và vươn ra thị trường thế giới [23]

1.2.4 Bài học kinh nghiệm từ việc cổ phần hoá ở các nước trên thế giới đối với Việt Nam 1.2.4.1 Tính phổ biến của quá trình cổ phần hoá

Trang 22

Sự triển khai có tính chất toàn cầu của quá trình này tạo ra một tương quan hợp lý giữa sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân giữa sự điều tiết của nhà nước và của thị trường Vì vậy tiến hành cổ phần hoá các DNNN ở Việt Nam là một vấn đề không thể bỏ qua, một đòi hỏi khách quan để chuyển nền kinh tế thị trường có sự

điều tiết của Nhà nước và khai thác các động lực của thị trường

1.2.4.2 Tính đặc thù của quá trình cổ phần hoá DNNN

Đó là sự phản ánh các sắc thái khác nhau về mục tiêu, cách thức tổ chức, bước

đi và các biện pháp cụ thể do những đặc điểm về điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội của mỗi nước quy định Ở nước ta cũng không thể không chú ý đến tính đặc thù về các điều kiện quy định quá trình này để có sự sàng lọc kinh nghiệm các nước và chuẩn bị kỹ càng các điều kiện vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam

1.2.4.3 Tính chiến lược của quá trình cổ phần hoá

Hầu hết các nước đều coi cổ phần hoá là một bộ phận của quá trình cải cách toàn bộ nền kinh tế, do đó nó đòi hỏi phải được suy xét và hành động mang tính chiến lược cao khi xác định các mục tiêu về cơ cấu và tương quan giữa các lĩnh vực

và khu vực kinh tế để dịch chuyển, phân bổ các nguồn lực và quyền lực cho các nhóm người sở hữu và quản lý khác nhau Vì vậy, ở hầu hết các nước đều lập ra một cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm thực hiện quá trình này theo những quan điểm chiến lược đề ra ở nước ta, với quy mô và tính chất quan trọng của chương trình cổ phần hoá, nhà nước không thể suy xét nó ở tầm chiến lược trong quá trình đổi mới toàn diện để phát triển nền kinh tế, đồng thời cũng cần phải thành lập một

cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm quản lý, chỉ đạo và giải quyết toàn bộ những vấn đề liên quan đến chương trình này [23]

1.2.4.4 Tính quá trình của việc thực hiện cổ phần hoá

Thực tiễn và nhiều công trình nghiên cứu ở các nước đều chỉ ra rằng việc thực hiện cổ phần hoá gồm nhiều giai đoạn: Chuẩn bị điều kiện về tổ chức, lựa chọn các mục tiêu, phương thức thực hiện, kiểm soát và điều chỉnh Tuy các giai đoạn không

có sự phân định rõ rệt nhưng nó có ý nghĩa chỉ đạo về mặt thực tiễn: khuyến khích tính thận trọng với những giải pháp phù hợp dựa trên những điều kiện thực tế Tính

Trang 23

quá trình tỏ ra thích hợp với cả chính phủ, đang cần thời gian nắm bắt và kiểm soát, cũng như công chúng đang cần thời gian để tìm vào sự ổn định, lâu dài về chính sách của chính phủ ở Việt Nam chúng ta, trong hoàn cảnh thiếu nhiều điều kiện quan trọng để thực hiện cổ phần hoá thì việc quán triệt quan điểm quá trình trong cổ phần hoá các DNNN là cần thiết để chống những tư tưởng và biểu hiện nóng vội, chủ quan duy ý chí, muốn hoàn thành công việc này một lần trong thời gian ngắn [23]

1.3 Thực tiễn cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam

1.3.1 Những thành công bước đầu

Tính đến thời điểm cuối năm 1999, trong cả nước đã có 18 DNNN (10 doanh nghiệp tại TP HCM và 8 doanh nghiệp tại các địa phương khác trên cả nước) thực hiện cổ phần hoá chuyển sang hoạt động theo luật công ty [12] Từ khi chuyển sang công ty cổ phần, các doanh nghiệp đã đạt được một số thành công bước đầu khá rõ rệt, có tiến bộ về mọi mặt, cả Nhà nước và doanh nghiệp đều có lợi

Đối với doanh nghiệp:

* Lợi nhuận tăng bình quân 56,9%/năm

* Vốn tăng bình quân 45%/năm

* Nộp ngân sách tăng 34%/năm

* Lao động tăng bình quân 98%/năm

* Thu nhập người lao động tăng 20%/năm

* Tỷ suất lợi nhuận trên vốn74,6%/năm [37]

Đối với Nhà nước:

Do sản xuất phát triển, doanh thu tăng, lợi nhuận tăng nên tiền thuế các công

ty cổ phần nộp cao hơn khi còn là DNNN Ngoài ra Nhà nước còn thu 37.724 triệu đồng từ cá nguồn khác như: tiền bán cổ phần, lợi tức tại các công ty cổ phần Vốn

cổ phần của nhà nước ban đầu là 28 tỷ, đến đầu năm 1998 đã tăng lên gần 65 tỷ đồng [38]

Đối với người lao động và xã hội:

Thu nhập của người lao động tăng lên từ 1,5 tới 2 lần, có công ty còn cao gấp 2,5 lần, chưa kể nguồn thu từ lợi tức cổ phần khoảng 25%/năm; ngoài số lao động

Trang 24

cũ các doanh nghiệp còn thu hút thêm khoảng trên 1000 lao động ngoài xã hội vào làm việc [38]

1.3.2 Những tồn tại của quá trình cổ phần hoá DNNN

Cổ phần hoá DNNN ở nước ta tiến hành chậm

Cổ phần hoá một bộ phận DNNN là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta từ sau quyết định 217-HĐBT (11-1987) và được đưa vào thí điểm vào năm

1992 Tuy nhiên, tính từ khi chuẩn bị cho đến nay, mặc dù đã trải qua một thời gian khá dài nhưng kết quả đạt được là không lớn Các doanh nghiệp được cổ phần đều

có quy mô vừa và nhỏ, trị giá doanh nghiệp chỉ từ 2 tới 16 tỷ đồng, chủ yếu tập trung ở hầu hết các trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh [21] Rất nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương vẫn đứng ngoài công cuộc thực chủ trương cổ phần hoá DNNN Chính vì vậy, việc tìm ra các nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan làm công tác này dậm chân tại chỗ là hết sức cần thiết Qua thực tiễn triển khai công tác cổ phần hoá, nổi lên một số nguyên nhân sau:

* Về nhận thức và hành động từ các cơ quan quản lý đến các doanh nghiệp chưa đầy đủ, hoạt động chưa thường xuyên liên tục Các cán bộ các cấp còn rất dè dặt trong công tác cổ phần hoá, nhiều người muốn thế thủ, tốt nhất là không hăng hái trong công tác này để tránh đi chệch hướng XHCN; các doanh nghiệp cũng không muốn cổ phần hoá, tư tưởng trông chờ vào nhà nước bao cấp việc làm, thu nhập, phúc lợi, ,tư tưởng các cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp cũng không muốn cổ phần hoá, sợ mất chức vụ, sợ trách nhiệm là phổ biến [9]

* Khung pháp lý chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ: Chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước mới chỉ dừng lại ở một quyết định, một chỉ thị của Thủ tướng chính phủ, các ngành các cấp thiếu hoặc rất chậm trong triển khai hướng dẫn thực hiện các cơ quan chỉ đạo, tức là mới chỉ hoạt động về hành chính, tạo ra sự lúng túng trong quá trình chỉ đạo thí điểm cổ phần hoá, đặc biệt là xử lý những vấn đề có tính kỹ thuật, nghiệp vụ ở cơ sở [14]

* Hình thức cổ phần hoá DNNN còn quá sơ sài chưa mang tính đa dạng, trong khi đó các loại hình doanh nghiệp ở các ngành, các vùng có tính đặc thù riêng [23]

Trang 25

* Thói quen hùn vốn vào công ty cổ phần để kinh doanh trong nhân dân ta chưa có, đặc biệt là nhân dân miền Bắc

* Các chính sách khuyến khích công nhân viên chức trong doanh nghiệp nhà nước chuyển sang công ty cổ phần chưa hấp dẫn

* Thủ tục hành chính quá rườm rà, tốn kém

* Môi trường hỗ trợ cho cổ phần hoá còn thiếu, chế độ chính sách chưa đồng

bộ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán đã hình thành nhưng hoạt động chưa có hiệu quả

* Tổ chức chỉ đạo chưa tập trung, thiếu thống nhất giữa các bộ, các ngành, trung ương, địa phương, các cơ quan chức năng chưa đủ thẩm quyền giải quyết các vấn đề phát sinh, đôi khi gặp khó khăn thì chùn bước [17]

Với những vấn đề nêu trên, cho thấy việc cổ phần hoá là vấn đề không đơn giản Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: Cổ phần hoá một bộ phận DNNN ở nước ta là cần thiết, nhưng không thể tiến hành trong một thời gian ngắn mà cần được chuẩn bị, tiến hành thí điểm, rút kinh nghiệm trước khi tiến hành triển khai hàng loạt

Những vấn đề được đưa ra là: Tính toán như thế nào để huy động vốn trong các thành phần kinh tế, trong người lao động, trong nhân dân theo hướng đa dạng hoá sở hữu; làm thế nào để tạo động lực thi đua, cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh,thúc đẩy cải tiến quản lý Từ đó còn nhiều trăn trở từ các doanh nghiệp đã, đang hoặc đang được chọn để cổ phần hoá

1.3.3 Một số công trình nghiên cứu về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Năm 1999, nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thơm đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ: “ Cổ phần hóa các DNNN ở Việt Nam” [17] Đây là công trình nghiên cứu

và tổng kết khá công phu về lí luận và thực tiễn về cổ phần hóa các DNNN ở Việt Nam Tuy nhiên đây là công tình nghiên cứu chung về cổ phần hóa các DNNN ở những năm đầu của tiến trình cổ phần hóa Những vấn đề cổ phần hóa các DNNN trước đây chưa phát sinh, đến nay đã nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, chưa được nghiên cứu trong luận án

Trang 26

Năm 2003, nghiên cứu sinh Lê Văn Hội đã bản vệ thành công luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh tế, quản lí và kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân với đề tài: “Cổ phần hóa một số DNNN – Thực trạng và giải pháp” [12] Đề tài tập trung vào các vấn đề lí luận và thực tiễn của cổ phần hóa các DNNN Còn những vấn đề đặt ra sau cổ phần hóa các DNNN thì đề tài chưa nghiên cứu

Đã có một số bài viết về từng mặt của vấn đề kinh tế nảy sinh sau khi doanh nghiệp cổ phần hóa như: “Các vấn đề tồn tại và phát sinh của doanh nghiệp sau cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu” của TS Trần Tiến Cường [32]; “ Một số vướng mắc về tài chính đối với doanh nghiệp sau cổ phần hóa và đa dạng sở hữu” của Lê Hoàng Hải – Trưởng ban cổ phần hóa Cục tài chính doanh nghiệp [9]…

Trước những biến động của quá trình cổ phần hóa các DNNN nói chung và của ngành lâm nghiệp nói riêng, tác giả luận văn muốn đi sâu nghiên cứu một cách

có hệ thống những vấn đề diễn ra khi cổ phần hóa, từ đó đề xuất xây dựng phương

án CPH cho công ty lâm nghiệp Quy Nhơn – Bình Định sẽ khả thi và có hiệu quả, tiếp nối các công trình nghiên cứu của các tác giả khác

1.4 Cổ phần hóa doanh nghiệp lâm nghiệp

1.4.1 Hệ thống các doanh nghiệp lâm nghiệp nước ta hiện nay

Năm 2005, cả nước có 355 Lâm trường quốc doanh (LTQD) Trong giai đoa ̣n

2005 - 2010, các LTQD được rà soát, sắp xếp la ̣i trên đi ̣a bàn cả nước theo chủ trương :

- Tách bô ̣ phâ ̣n đất đai có nhiều diê ̣n tích rừng sản xuất của các LTQD để thành lâ ̣p các Công ty Lâm nghiê ̣p

- Những LTQD quản lý nhiều rừng tự nhiên được chuyển đổi thành các Ban quản lý rừng

- Giải thể mô ̣t số LTQD có ít đất đai hoă ̣c làm ăn kém hiê ̣u quả kéo dài

Đến thời điểm 2010, số LTQD trên cả nước đã giảm đáng kể, trong đó có:

- 157 LTQD đã chuyển đổi xong thành các Công ty lâm nghiê ̣p, CTCP

- 68 LTQD được chuyển đổi xong thành các Ban quản lý rừng

- 28 Ban Quản lý rừng được thành lâ ̣p mới trên cơ sở tách mô ̣t phần đất đai

có nhiều rừng tự nhiên từ các LTQD trước đây

Trang 27

- Đã giải thể 14 LTQD

Diện tích đất đai do các LTQD trước đây quản lý ta ̣i thời điểm năm 2005 là 4,08 triệu ha đã được rà soát điều chỉnh la ̣i tính đến cuối năm 2010 như sau:

- Tổng diện tích giao cho các Công ty lâm nghiê ̣p quản lý: 2,3 triê ̣u ha

- Diện tích giao cho các Ban quản lý rừng : 1,14 triê ̣u ha

- Diện tích giao la ̣i cho các đi ̣a phương: 0,5 triê ̣u ha [39]

Lý do chính của chủ trương CPH ở nước ta là các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản, khác với

lý do thực hiện CPH doanh nghiệp ở các nước phát triển là chuyển từ giai đoạn tập trung tư bản sang giai đoạn tập trung vốn xã hội (trong và ngoài doanh nghiệp) để nâng cao chất lượng và quy mô sản xuất trong cạnh tranh

1.4.3 Cơ sở pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp lâm nghiệp

Khuôn khổ pháp lý liên quan đến cổ phần hoá doanh nghiệp (công ty) lâm nghiệp, về cơ bản, thực hiện theo quy định tại một số văn bản pháp luật sau:

- Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/07/2011 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần [11]

- Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần [9]

- Thông tư số 146 /2007/TT-BTC ngày 06/12/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về tài chính theo quy định tại Nghị định số 109/2007/NĐ-CP [5]

- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung một số Điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá đất [10]

- Thông tư số 145/2007/TT-BTC ngày 6/12/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ [4]

Ngoài ra, cần thực hiện theo quy định tại một số văn bản pháp luật sau:

Trang 28

- Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 16/6/2003 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh [1]

- Nghị định số 48/2007/NĐ-CP, ngày 28/3/2007 của Chính phủ về nguyên tắc và phương pháp xác định giá các loại rừng [8]

- Thông tư số 65/2008/TTLT-BNN-BTC ngày 26/05/2008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 48/2007/NĐ-CP ngày 28/3/2007 của Chính phủ về nguyên tắc và phương pháp xác định giá các loại rừng [2] và các văn bản pháp luật khác có liên quan

1.4.4 Những vấn đề mang tính đặc thù cần được xem xét khi tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp lâm nghiệp

1.4.4.1 Xác định tài sản của doanh nghiệp

- Theo quy định của pháp luật hiện hành, tài sản trong doanh nghiệp nhà nước bao gồm tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình, tài sản lưu động

Tài sản cố định hữu hình là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất, có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia nhiều lần vào chu kỳ kinh doanh

Tài sản cố định vô hình là những tài sản cố định không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư, có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh như: chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về sử dụng đất

Ngoài ra trong doanh nghiệp còn bao gồm các loại tài sản cố định khác như: các khoản đầu tư tài chính dài hạn (đầu tư chứng khoán dài hạn, góp vốn liên doanh ), chi phí xây dựng dở dang

Tài sản lưu động gồm có các loại vốn bằng tiền, nguyên, nhiên vật liệu, các khoản phải thu, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản tạm ứng

Tuy nhiên, các doanh nghiệp lâm nghiệp nước ta được Nhà nước giao một diện tích rừng và đất lâm nghiệp để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp

Theo tinh thần tại Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 16/6/2003 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh, chỉ thực hiện cổ phần hoá các nhà máy, cơ sở chế biến của nông, lâm trường theo quy định

Trang 29

hiện hành; thí điểm cổ phần hoá vườn cây, rừng trồng của nông, lâm trường gắn với

cổ phần hoá doanh nghiệp chế biến; không cổ phần hoá rừng tự nhiên và những diện tích đất có khả năng phục hồi thành rừng tự nhiên

1.4.4.2 Xác định giá trị doanh nghiệp lâm nghiệp

Giá trị của doanh nghiệp: bao gồm giá trị tài sản của doanh nghiệp: vốn cố định, vốn lưu động, đất đai, rừng và các yếu tố tạo ra hiệu quả, triển vọng về sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lâm nghiệp, như uy tín, khả năng sinh lợi Liên quan đến xác định giá trị doanh nghiệp lâm nghiệp, cần làm rõ những vấn đề sau:

- Trường hợp doanh nghiệp thực hiện hình thức thuê đất:

Trường hợp doanh nghiệp cổ phần hóa chọn hình thức thuê đất thì phải thực hiện ký hợp đồng thuê đất có thời hạn theo quy định của pháp luật đất đai và không phải tính bổ sung giá trị lợi thế vị trí địa lý khi xác định giá trị doanh nghiệp theo quy định cụ thể như sau: (Điều 31, khoản 3)

a) Đối với diện tích đất thuê theo phương thức trả tiền thuê đất hàng năm thì doanh nghiệp thực hiện trả tiền thuê đất theo quy định của pháp luật hiện hành và không tính tiền thuê đất vào giá trị doanh nghiệp [11]

b) Đối với những doanh nghiệp trả tiền thuê đất một lần cho toàn bộ thời gian thuê đất trước ngày 01/7/2004 (ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành) thì phải xác định lại trị giá tiền thuê đất theo giá thuê đất tại thời điểm cổ phần hóa cho thời gian thuê đất còn lại để tính vào giá trị doanh nghiệp Khoản chênh lệch tăng do xác định lại trị giá tiền thuê đất được hạch toán tăng vốn nhà nước tại doanh nghiệp cổ phần hóa [11]

Trang 30

c) Trường hợp doanh nghiệp đã được giao đất nay lựa chọn hình thức thuê đất thì phải hoàn thành thủ tục chuyển sang thuê đất gửi cơ quan quyết định cổ phần hóa và cơ quan quản lý nhà đất tại địa phương trước khi chính thức chuyển sang công ty cổ phần [11]

- Trường hợp doanh nghiệp cổ phần hóa lựa chọn hình thức giao đất (kể cả

diện tích đất Nhà nước đã giao cho doanh nghiệp xây dựng nhà để bán hoặc cho thuê kinh doanh khách sạn, kinh doanh thương mại dịch vụ; xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê) thì phải tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp theo quy định sau: (Điều 31, khoản 2)

a) Đối với những doanh nghiệp cổ phần hóa đang thực hiện hình thức thuê đất nay chuyển sang hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất thì giá đất để xác định giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa là giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (nơi doanh nghiệp có diện tích đất được giao) quy định và công bố tại thời điểm tính giá đất vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa theo quy định của pháp luật về đất đai Trường hợp giá đất chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất có mục đích sử dụng tương tự thực tế trên thị trường để xác định lại giá đất

cụ thể cho phù hợp [11]

b) Đối với những doanh nghiệp cổ phần hóa đã được giao đất và đã nộp tiền

sử dụng đất cho ngân sách nhà nước hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp (kể cả diện tích đã giao cho doanh nghiệp xây dựng nhà để bán hoặc cho thuê kinh doanh khách sạn, kinh doanh thương mại dịch vụ; xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê) thì giá đất được xác định theo quy định tại điểm a

Trường hợp diện tích đất doanh nghiệp được giao có bao gồm cả diện tích đất sử dụng cho các hoạt động sản xuất cung ứng các dịch vụ, sản phẩm công ích, phúc lợi công cộng (như công viên cây xanh, môi trường đô thị, bến bãi xe khách, đất làm công trình thủy lợi …) không phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì được loại trừ những diện tích này khi xác định giá trị quyền

Trang 31

sử dụng đất để tính vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa Đối với diện tích đất sử dụng cho các công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn theo quy định của pháp luật về đất đai cũng được xem xét, loại trừ theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ Doanh nghiệp cổ phần hóa quản lý, sử dụng diện tích đất này theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền phù hợp với quy hoạch và pháp luật về đất đai [11]

Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn cụ thể việc xác định diện tích đất loại trừ không tính vào giá trị doanh nghiệp quy định tại điều này

c) Giá trị quyền sử dụng đất xác định tính vào giá trị doanh nghiệp theo quy định tại điểm a được hạch toán là khoản phải nộp ngân sách nhà nước Doanh nghiệp cổ phần hóa phải nộp số tiền này cho ngân sách nhà nước để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Trình tự và thủ tục giao đất, nộp tiền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện theo quy định tại Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai [11]

d) Khoản chênh lệch tăng giữa giá trị quyền sử dụng đất xác định lại quy định tại điểm b với giá trị đang hạch toán trên sổ sách kế toán (nếu có) được hạch toán tăng vốn nhà nước tại doanh nghiệp cổ phần hóa [9]

Trường hợp giá trị quyền sử dụng đất xác định lại thấp hơn chi phí thực tế về quyền sử dụng đất đang hạch toán trên sổ kế toán thì tính theo giá doanh nghiệp đang hạch toán

Trường hợp doanh nghiệp thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất đã được giao thì phải nộp thêm khoản tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất theo mục đích chuyển đổi theo quy định của pháp luật về đất đai

Giá đất để xác định giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp cổ phần là giá đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường theo quy định tại khoản 12 Điều 1 Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ

về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất [10] Nếu giá trị quyền sử dụng đất xác định lại cao hơn chi phí thực tế về quyền sử dụng đất đang

Trang 32

hạch toán trên sổ kế toán thì khoản chênh lệch tăng được tính vào giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp [7]

Xác định giá trị lợi thế kinh doanh

Giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp được xác định theo 2 phương pháp sau:

- Xác định theo tỷ suất lợi nhuận và lãi suất trái phiếu Chính phủ:

kế toán tại thời điểm định giá

x

Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn nhà nước bình quân 3 năm trước thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp

-

Lãi suất của trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn 5 năm do Bộ Tài chính công bố tại thời điểm gần nhất với thời điểm xác định giá trị doanh

- Xác định trên cơ sở lợi thế về vị trí địa lý và giá trị thương hiệu:

Giá trị lợi thế kinh

doanh của doanh nghiệp =

Giá trị lợi thế vị trí địa lý +

Giá trị thương hiệu Trong đó:

+ Giá trị lợi thế vị trí địa lý áp dụng đối với doanh nghiệp cổ phần hoá (không phụ thuộc vào ngành nghề và kết quả kinh doanh) sử dụng các lô đất thuộc loại đất đô thị nếu lựa chọn hình thức thuê đất thì phải xác định giá trị lợi thế địa lý của lô đất để tính vào giá trị doanh nghiệp

Giá trị lợi thế vị trí địa lý của lô đất được xác định bằng chênh lệch giữa giá đất được xác định sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị

(1.2) (1.1.1)

Trang 33

trường trong điều kiện bình thường (theo quy định tại khoản 12 Điều 1 Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất) so với giá do Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định và công bố vào ngày 01/01 của năm thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp [9]

Đối với các doanh nghiệp trung ương, căn cứ giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất do cơ quan thẩm định giá thực hiện, cơ quan quyết định cổ phần hoá lấy ý kiến của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có doanh nghiệp đóng trên địa bàn về giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trước khi quyết định

Đối với các doanh nghiệp địa phương, ban chỉ đạo cổ phần hoá báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định

+ Giá trị thương hiệu (bao gồm: nhãn hiệu, tên thương mại) được xác định trên cơ sở các chi phí thực tế cho việc sáng chế, xây dựng và bảo vệ nhãn mác, tên thương mại của doanh nghiệp trong 10 năm trước thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp hoặc kể từ ngày thành lập đối với các doanh nghiệp có thời gian hoạt động của doanh nghiệp ít hơn 10 năm (bao gồm cả chi phí quảng cáo, tuyên truyền trong

và ngoài nước để quảng bá, giới thiệu sản phẩm, công ty; xây dựng trang web ) [9]

Giá trị lợi thế kinh doanh tính vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá là giá trị cao hơn khi so sánh kết quả được xác định theo 2 phương pháp trên [9]

Xác định giá trị rừng

Xác định giá trị rừng được quy định tại Nghị định số 48/2007/NĐ – CP ngày 28/3/2007 của Chính phủ (Nghị định 48/2007/NĐ - CP) Văn bản này quy định nguyên tắc và phương pháp xác định giá quyền sử dụng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất là rừng tự nhiên (sau đây gọi chung là giá quyền sử dụng rừng); giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng (sau đây gọi là giá quyền sở hữu rừng trồng) Liên quan đến việc xác định giá quyền sử dụng rừng, giá quyền sở hữu rừng trồng, Nghị định 48/2007/NĐ - CP quy định như sau:

Trang 34

Giá quyền sử dụng rừng là giá trị mà chủ rừng có thể được hưởng từ rừng trong khoảng thời gian được giao, được thuê rừng tính bằng tiền trên một héc ta (ha) rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất là rừng tự nhiên theo Quy chế quản lý

và sử dụng rừng do Nhà nước ban hành

Giá quyền sở hữu rừng trồng là giá trị mà chủ rừng có thể được hưởng từ rừng trong khoảng thời gian được giao, được thuê rừng tính bằng tiền trên một héc ta (ha) rừng sản xuất là rừng trồng theo Quy chế quản lý và sử dụng rừng do Nhà nước ban hành Giá chuyển nhượng quyền sở hữu rừng trồng, quyền sử dụng rừng sản xuất là rừng tự nhiên thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường là số tiền tính trên một hécta rừng sản xuất là rừng trồng, rừng sản xuất là rừng tự nhiên được hình thành từ kết quả giao dịch thực tế mang tính phổ biến trên thị trường giữa người chuyển nhượng và người được chuyển nhượng trong điều kiện không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tăng hoặc giảm giá do đầu cơ, thay đổi quy hoạch, chuyển nhượng trong tình trạng bị ép buộc, quan hệ huyết thống [8]

Giá quyền sử dụng rừng, giá quyền sở hữu rừng quy định tại Nghị định này làm căn cứ tính giá trị vốn góp bằng quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng trồng của Nhà nước tại doanh nghiệp quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 35 Luật Bảo

vệ và phát triển rừng năm 2004 Theo đó, tổ chức được Nhà nước giao rừng không thu tiền sử dụng rừng thì giá trị quyền sử dụng rừng, giá trị rừng sản xuất là rừng trồng được tính vào giá trị tài sản giao cho các tổ chức đó Doanh nghiệp nhà nước được Nhà nước giao rừng có thu tiền sử dụng rừng, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng rừng mà tiền sử dụng rừng, tiền chuyển nhượng rừng đã trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì số tiền đó được ghi vào giá trị vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp Khi cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đối với các trường hợp trên mà doanh nghiệp cổ phần hoá lựa chọn hình thức giao rừng có thu tiền sử dụng rừng thì phải xác định lại giá trị quyền sử dụng rừng, giá trị rừng sản xuất là rừng trồng

Thu nhập thuần tuý từ rừng là số tiền mà chủ rừng thu được từ hoạt động khai

thác lâm sản; kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học (nếu có) sau khi trừ chi phí đầu tư tạo rừng, thuế và các khoản chi phí hợp lý khác

Trang 35

Phương pháp xác định giá các loại rừng

Nghị định 48/2007/NĐ-CP đưa ra 3 phương pháp xác định giá các loại rừng, tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng địa phương [8]

+ Phương pháp thu nhập:

Phương pháp thu nhập là phương pháp xác định mức giá của một diện tích rừng

cụ thể căn cứ vào thu nhập thuần tuý thu được từ rừng quy về thời điểm định giá với lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn một năm của loại tiền VNĐ tại Ngân hàng Thương mại có mức lãi suất trung bình trên địa bàn ở thời điểm định giá

Phương pháp thu nhập được áp dụng để xác định giá quyền sử dụng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất là rừng tự nhiên; giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng

Điều kiện áp dụng phương pháp thu nhập: áp dụng phương pháp thu nhập khi

có đủ thông tin để xác định được các khoản thu nhập thuần tuý mang lại cho chủ rừng từ diện tích rừng cần định giá

Thông tư liên tịch số 65/2008/TTLT-BNN-BTC ngày 26/05/2008 của Bộ Nông nghiệp & PTNT và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 48/2007/NĐ - CP (Thông tư liên tịch 65/2008/TTLT - BNN - BTC) đã hướng dẫn

cụ thể phương pháp thu nhập như sau:

- Đối với rừng đặc dụng:

Việc xác định giá quyền sử dụng rừng đặc dụng đối với diện tích rừng đã có hoạt động kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí (sau đây gọi chung là kinh doanh cảnh quan), nghiên cứu khoa học và các giá trị dịch vụ khác của rừng mà chủ rừng thu được (nếu có) như sau:

+ Tính tổng doanh thu bình quân 01 năm cho tối đa 03 năm liền kề trước thời điểm định giá, gồm:

Doanh thu từ các hoạt động kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái (tiền bán

vé của phần cảnh quan môi trường), nghỉ dưỡng, giải trí (nếu có);

Doanh thu từ các hoạt động nghiên cứu khoa học (nếu có);

Doanh thu từ các dịch vụ khác của rừng mà chủ rừng thu được (nếu có)

Trang 36

+ Tính tổng chi phí bình quân 01 năm cho tối đa 03 năm liền kề trước thời điểm định giá, gồm:

Chi phí đối với hoạt động kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí bao gồm: in vé, quảng cáo, nhân công, chi phí quản lý, trồng, khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh, bảo vệ rừng và duy tu bảo dưỡng công trình phục vụ trực tiếp cho hoạt động kinh doanh cảnh quan;

Chi phí đối với nghiên cứu khoa học (nếu có);

Thuế, phí và các chi phí hợp lý khác (nếu có)

Các khoản chi phí trên được tính theo các quy định của Nhà nước, mức nhân công theo định mức hoặc theo thực tế đã bỏ ra, giá nhân công tính theo giá trị tại thời điểm định giá; các khoản chi phí nào không có quy định của Nhà nước thì tính theo giá thực tế tại thị trường địa phương tương ứng với khoảng thời gian trên (theo từng năm)

+ Xác định lãi suất (tính bằng số thập phân) tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn một năm tại Ngân hàng thương mại có mức lãi suất trung bình trên địa bàn ở thời điểm định giá được tính bằng cách lấy trung bình của lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn một năm tại Ngân hàng thương mại có mức lãi suất cao nhất và Ngân hàng thương mại

có mức lãi suất thấp nhất trên địa bàn ở thời điểm định giá

+ Tính giá quyền sử dụng rừng đặc dụng đối với diện tích rừng cần định giá theo công thức sau:

r là lãi suất (tính bằng số thập phân) tiền gửi tiết kiệm

- Đối với rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên:

r

C B

(

1.3)

Trang 37

Giá quyền sử dụng rừng phòng hộ, giá quyền sử dụng rừng sản xuất là rừng

tự nhiên của diện tích cần định giá bao gồm giá quyền sử dụng rừng đối với gỗ, củi (nếu có), lâm sản ngoài gỗ và giá quyền sử dụng rừng đối với cảnh quan, nghiên cứu khoa học, các giá trị dịch vụ khác của rừng mà chủ rừng thu được (nếu có) Việc xác định giá quyền sử dụng rừng phòng hộ, giá quyền sử dụng rừng sản xuất là rừng tự nhiên đối với gỗ, củi (nếu có) và lâm sản ngoài gỗ được xác định như sau [15]:

+ Thông số cần xác định: Trữ lượng gỗ của rừng tại thời điểm định giá Tăng trưởng bình quân năm của rừng tính từ thời điểm định giá đến năm được khai thác theo quy trình Số năm cần để đạt được trữ lượng khai thác Cường độ được phép khai thác Trữ lượng, sản lượng gỗ, củi (nếu có) tại năm được khai thác theo quy trình Việc xác định trữ lượng, sản lượng gỗ khai thác dựa trên lượng tăng trưởng bình quân năm của rừng hoặc trên cơ sở so sánh với một khu rừng tương tự trên địa bàn đã khai thác Giá các loại sản phẩm gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ trên thị trường tại bãi giao ở thời điểm định giá Doanh thu từ việc bán gỗ, củi (nếu có), lâm sản ngoài

gỗ khai thác tại năm được khai thác theo quy trình (mức giá được tính ở thời điểm định giá tại bãi giao)

+ Tính tổng doanh thu hàng năm từ việc bán gỗ, củi (nếu có), lâm sản ngoài gỗ tại bãi giao tính từ năm định giá đến năm kết thúc cho thuê/ giao rừng;

+ Tính tổng chi phí bao gồm: Chi phí hàng năm về khai thác, vận suất, vận chuyển gỗ, củi (nếu có), lâm sản ngoài gỗ đến bãi giao tính từ năm định giá đến năm kết thúc cho thuê/giao rừng Chi phí hàng năm bảo vệ; chăm sóc rừng (nếu có) tính từ năm định giá đến năm được khai thác theo quy trình Thuế, phí và các chi phí khác (nếu có) Các khoản chi phí trên được tính theo quy định hiện hành của Nhà nước, mức nhân công theo định mức hoặc theo thực tế đã bỏ ra, giá nhân công tính theo giá trị tại thời điểm định giá; các khoản chi phí nào không có quy định của Nhà nước thì tính theo giá thực tế tại thị trường địa phương tương ứng với từng thời điểm

+ Xác định lãi suất (tính bằng số thập phân) tiền gửi tiết kiệm quy định tại điểm a, khoản 1, mục I của thông tư này

Trang 38

+ Tính giá quyền sử dụng rừng phòng hộ, giá quyền sử dụng rừng sản xuất là rừng tự nhiên của diện tích cần định giá theo công thức sau:

Trong đó: G là giá quyền sử dụng rừng;

Bi là doanh thu trong năm i tính từ năm định giá (năm 1) đến năm kết thúc cho thuê/giao rừng;

Ci là chi phí trong năm i tính từ năm định giá (năm 1) đến năm kết thúc cho thuê /giao rừng;

i=1 (năm định giá),2,3 , t (năm kết thúc cho thuê /giao rừng);

t là khoảng thời gian tính từ năm định giá đến năm kết thúc cho thuê/giao rừng;

r là lãi suất (tính bằng số thập phân) tiền gửi tiết kiệm;

B là tổng doanh thu bình quân 01 năm tính cho tối đa 03 năm liền kề trước thời điểm định giá quy định tại điểm a, khoản 1, mục I của Thông tư này;

C là tổng chi phí bình quân 01 năm tính cho tối đa 03 năm liền kề trước thời điểm định giá quy định tại điểm a, khoản 1, mục I của Thông tư này

- Đối với rừng sản xuất là rừng trồng:

Việc xác định giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng của diện tích cần định giá được xác định như sau [39]:

+ Thông số cần xác định: Trữ lượng gỗ của rừng tại thời điểm định giá Tăng trưởng bình quân năm của rừng từ năm định giá đến năm khai thác theo tuổi thành thục công nghệ (sau đây gọi chung là tuổi khai thác) Trữ lượng, sản lượng gỗ, củi tại tuổi khai thác Việc xác định trữ lượng, sản lượng gỗ khai thác dựa trên lượng tăng trưởng bình quân năm của rừng hoặc trên cơ sở so sánh với một khu rừng tương tự trên địa bàn đã khai thác Giá các loại sản phẩm gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ trên thị trường tại bãi giao ở thời điểm định giá Tính doanh thu từ việc bán gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ khai thác được tại tuổi khai thác (mức giá được tính ở thời điểm định giá tại bãi giao)

C B r

C B G

t

i

i i

Trang 39

+ Tính doanh thu hàng năm từ việc bán gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ tại bãi giao tính từ năm định giá đến tuổi khai thác;

+ Tính tổng chi phí bao gồm: Chi phí hàng năm về khai thác, vận suất, vận chuyển gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ đến bãi giao tính từ năm định giá đến tuổi khai thác Chi phí hàng năm bảo vệ; chăm sóc rừng (nếu có) tính từ năm định giá đến tuổi khai thác Thuế, phí và các chi phí khác (nếu có) Các khoản chi phí trên được tính theo các quy định hiện hành của Nhà nước, mức nhân công theo định mức hoặc theo thực tế đã bỏ ra, giá nhân công tính theo giá trị tại thời điểm định giá; các khoản chi phí nào không có quy định của Nhà nước thì tính theo giá thực tế tại thị trường địa phương tương ứng với từng thời điểm

+ Tính lãi suất (tính bằng số thập phân) tiền gửi tiết kiệm theo quy định

+ Tính giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng của diện tích rừng cần định giá theo công thức sau:

Trong đó: - G là giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng;

- Bi là doanh thu trong năm i tính từ năm định giá đến tuổi khai thác;

- Ci là chi phí trong năm i tính từ năm định giá đến tuổi khai thác;

- i=1(năm định giá),2,3 ,t (năm khai thác);

- t là khoảng thời gian tính từ năm định giá (năm 1) đến năm khai thác;

- r là lãi suất (tính bằng số thập phân) tiền gửi tiết kiệm quy định tại điểm

a, khoản 1, mục I của Thông tư này

+ Phương pháp chi phí

- Phương pháp chi phí là phương pháp xác định mức giá của một diện tích rừng cụ thể căn cứ vào các khoản chi phí hợp lý đã đầu tư tạo rừng và lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn một năm của loại tiền VNĐ tại Ngân hàng Thương mại có mức lãi suất cao nhất trên địa bàn ở thời điểm định giá

- Phương pháp chi phí được áp dụng để xác định giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng trong điều kiện loại rừng cần định giá chưa có giao dịch trên thị trường

C B G

1 1

(1.5)

Trang 40

- Điều kiện áp dụng : áp dụng phương pháp chi phí khi có đủ thông tin để xác định được các khoản chi phí hợp lý đã đầu tư tạo rừng đối với diện tích rừng cần định giá tính từ thời điểm đầu tư đến thời điểm định giá

Xác định giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng

Thông tư liên tịch 65/2008/TTLT-BNN-BTC hướng dẫn cụ thể việc xác định giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng của diện tích rừng như sau:

+ Tính tổng chi phí đã đầu tư tạo rừng đối với diện tích rừng cần định giá tính

từ năm bắt đầu đầu tư tạo rừng đến năm định giá, bao gồm:

Chi phí trực tiếp: chi phí tạo rừng (giống cây, vật liệu, nhân công, sử dụng trang thiết bị, máy móc, công cụ lao động); chi bảo vệ rừng (công bảo vệ; trang thiết

bị, các công trình phục vụ trực tiếp cho phòng chống cháy rừng, phòng trừ sâu bệnh)

Chi phí gián tiếp: chi phí quản lý, chi phí thiết kế; thuế, phí và các chi phí khác (nếu có)

Các khoản chi phí trên được tính theo các quy định hiện hành của Nhà nước, mức nhân công theo định mức hoặc theo thực tế đã bỏ ra, giá nhân công tính theo giá trị tại thời điểm định giá; khoản chi phí nào không có quy định của Nhà nước thì tính theo giá thực tế tại thị trường địa phương tương ứng với từng thời điểm

+ Xác định lãi suất (tính bằng số thập phân) tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn một năm tại Ngân hàng thương mại có mức lãi suất cao nhất trên địa bàn ở thời điểm định giá

+ Tính giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng của diện tích rừng cần định giá theo công thức sau:

Trong đó: - G là giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng;

- Ci là chi phí đã tạo rừng trong năm thứ i tính từ năm bắt đầu đầu

tư tạo rừng đến năm định giá;

- i = 1(năm bắt đầu đầu tư tạo rừng),2,3 ,a (năm định giá);

1

) 1

Ngày đăng: 21/09/2017, 09:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w