Trong những năm gần đây, các Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng trong cả n-ớc đã tiến hành nghiên cứu về chọn giống, khảo nghiệm và nhân giống cho nhiều loài cây rừng, đã đạt đ-ợc một s
Trang 1Tr-ờng đại học lâm nghiệp
-
nguyễn quốc tuấn
nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật tạo cây trám
trắng ghép (Canarium album (Lour.) Raeusch)
Trang 2Tr-ờng đại học lâm nghiệp
nguyễn quốc tuấn
nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật tạo cây trám
trắng ghép (Canarium album (Lour.) Raeusch)
Trang 3Đặt vấn đề
Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của sản xuất nông lâm nghiệp Nhờ có giống đ-ợc cải thiện và áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh khác mà năng suất các loài cây nông nghiệp chủ yếu trong những năm qua đã tăng gấp đôi so với những năm 1960 Trong lâm nghiệp, cây rừng có đời sống dài ngày, khó có điều kiện áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh khác nên công tác giống lại càng quan trọng Dù trồng rừng kinh tế hay trồng rừng phòng hộ đều phải có giống tốt theo mục tiêu đặt ra [20]
Trong những năm gần đây, các Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng trong cả n-ớc đã tiến hành nghiên cứu về chọn giống, khảo nghiệm và nhân giống cho nhiều loài cây rừng, đã đạt đ-ợc một số kết quả b-ớc đầu, mở ra một triển vọng lớn cho trồng rừng nguyên liệu ở n-ớc ta [26]
Nhân giống là khâu cuối cùng trong công tác giống Để giữ đ-ợc các đặc tính tốt của cây giống ng-ời ta th-ờng dùng các ph-ơng thức nhân giống sinh d-ỡng Trong các ph-ơng thức nhân giống sinh d-ỡng thì các ph-ơng pháp ghép kết hợp
đ-ợc sức sống trẻ của gốc ghép với tính di truyền tốt của cành ghép, tạo đ-ợc cây ghép vừa sống lâu, vừa mau ra quả và giữ đ-ợc giá trị kinh tế tốt của cây mẹ lấy cành, đồng thời cây thấp hơn, vì vậy ph-ơng thức này đã và đang đ-ợc áp dụng rộng rãi trong việc xây dựng các v-ờn giống cây rừng và các v-ờn quả cao sản [19]
Trám trắng (Canarium album (Lour.) Raeusch) là loài cây bản địa phân bố
trong rừng tự nhiên và đ-ợc nhân dân ta gây trồng ở nhiều nơi với mục đích trồng rừng phòng hộ kết hợp lấy quả Từ lâu, quả trám đã đ-ợc nhiều n-ớc sử dụng làm thực phẩm Phúc Kiến và Quảng Đông là hai tỉnh trồng trám lấy quả nhiều nhất Trung Quốc Từ năm 1980 đến 1996 sản l-ợng quả trám đã tăng từ 4,5 lần đến 12,5 lần nh-ng vẫn ch-a đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong n-ớc và xuất khẩu [38] Ngoài sản l-ợng trong n-ớc, Trung Quốc vẫn phải nhập khẩu quả trám từ Việt Nam Vì vậy, quả trám trở nên có giá, dễ tiêu thụ trên thị tr-ờng Cây trám trắng đã đ-ợc nông dân miền núi và chủ trang trại quan tâm gây trồng với mục đích lấy quả
Trang 4Một trong những đặc điểm của cây trám trồng từ hạt là lâu ra quả, trên các mô hình thử nghiệm tại Lạng Sơn, Hoà Bình và Phú Thọ cho thấy cây trám trắng sau khi trồng từ 8 đến 10 năm mới cho quả, tỷ lệ cây có quả rất thấp Tại Hạ hoà, Phú Thọ trám trên 20 tuổi trồng trong v-ờn hộ gia đình có tỷ lệ cây ra quả có thể cho thu hoạch chỉ chiếm từ 30 - 40%, còn lại 60 - 70% số cây rất ít quả và không có quả Những cây không cho quả ngôn ngữ dân gian thường gọi là “cây đực” , nó không đáp ứng đ-ợc mục đích trồng rừng lấy quả
Nhân giống sinh d-ỡng là ph-ơng thức có thể cải thiện đ-ợc chất l-ợng giống cây rừng Các nghiên cứu về nhân giống sinh d-ỡng trám trắng cho thấy nhân giống bằng ph-ơng pháp ghép cho tỷ lệ thành công khá cao, nhân giống bằng ph-ơng pháp giâm hom đạt tỷ lệ ra rễ rất thấp, hiệu quả kém và “có thể giâm hom không phải là biện pháp phù hợp với loài cây này “ [24]
Lấy cành trám từ các cây mẹ sai quả ghép lên gốc trám trắng đ-ợc cây trám ghép Cây ghép có -u điểm nổi bật là sớm cho quả, loại trừ được hiện tượng “cây
đực”, cây ghép thường có tán thấp, cành xoè ngang, dễ thu hái và chăm sóc, có thể thâm canh với c-ờng độ cao, vì thế nhiều địa ph-ơng đã chọn cây trám ghép để trồng rừng Trong 2 năm (2003 - 2004) diện tích trám ghép trồng trong mô hình khuyến lâm tại các tỉnh miền núi phía bắc đạt 482,5 ha, -ớc tính tổng diện tích trám ghép đã trồng trong cả n-ớc đến năm 2006 đạt trên 1000 ha
Về hiệu quả kinh tế Chỉ tạm tính với năng suất khiêm tốn là 100 kg/cây ở giai đoạn sau tuổi 10 (trám ghép có thể cho quả từ năm thứ hai) Hiện nay giá quả trám t-ơi trên thị tr-ờng Việt Nam phần lớn dao động từ 4000 - 6000 đồng/kg, nh-ng để giảm tối đa mức độ rủi ro xin tạm tính với giá 2000 đ/kg Với mật độ 400 cây/ha, và thời gian cho thu quả kéo dài 25 năm, thì hiệu quả kinh tế trên mỗi héc ta trồng trám hàng năm khoảng 80 triệu đồng, không thua kém cà phê năng suất khá (2 tấn/ha), vào những năm đ-ợc giá (2500 USD/tấn) Nếu gặp rủi ro, quả trám t-ơi chỉ bán đ-ợc 1000đ/kg thì mỗi héc ta hàng năm vẫn thu đ-ợc 40 triệu đồng - gấp
Trang 5đôi ruộng lúa 10 tấn/ha, gần gấp 7 lần rừng bạch đàn thâm canh (20 m3/ha/năm x 300.000đ/m3 = 6 triệu đồng/ha/năm) [37]
Giá trị về kinh tế và sinh thái của cây trám quả là rất lớn, nhu cầu trồng trám ghép ngày càng tăng lên nh-ng kết quả trồng rừng còn nhiều hạn chế Phong trào trồng trám ghép ở n-ớc ta mới đ-ợc bắt đầu trong khoảng 3 năm gần đây, rừng trám ghép của nông dân hiện nay chủ yếu đang ở giai đoạn kiến thiết cơ bản, nhìn chung
tỷ lệ thành rừng thấp, chất l-ợng rừng trồng ch-a đ-ợc cải thiện, ch-a đáp ứng đ-ợc yêu cầu của cây lấy quả là phải có sức sinh tr-ởng tốt, có bộ khung cành vững chắc, cân đối, có góc phân cành lớn tạo ra nhiều cấp cành, chuẩn bị cho giai đoạn sau Cũng trong khoảng 3 năm trở lại đây, việc nhân giống cây trám ghép để đáp ứng nhu cầu trồng rừng trong nhân dân gặp nhiều khó khăn và còn nhiều tồn tại Mặc dù
đã có một số cơ sở sản xuất cây trám ghép đáp ứng đ-ợc một phần nhu cầu của ng-ời trồng rừng Tuy nhiên điều mà các nhà sản xuất quan tâm là tăng nhanh số l-ợng cây con để đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị tr-ờng, vấn đề nâng cao chất l-ợng cây ghép ch-a đ-ợc quan tâm nghiên c-ú
Có thể có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, bên cạnh những nguyên nhân về kinh tế, xã hội thì một trong những nguyên nhân quan trọng là chúng ta ch-a xây dựng đ-ợc hệ thống biện pháp kỹ thuật tạo cây trám ghép trên cơ
sở có hiểu biết đầy đủ về loài cây này ở giai đoạn v-ờn -ơm và giai đoạn tuổi non làm cơ sở vững chắc cho việc xây dựng các biện pháp kỹ thuật sản xuất cây ghép đạt yêu cầu chất l-ợng đủ tiêu chuẩn đem đi trồng Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi
thực hiện đề tài “ Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật tạo cây trám trắng ghép Canarium album (Lour.) Raeusch”
Trang 6Ch-ơng 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1 Một số dẫn liệu về cây Trám trắng
1.1.1 Đặc tính sinh vật học:
Theo tài liệu của Phạm Đức Tuấn, Nguyễn Hữu Lộc (2005), [38]: Họ
trám Burseraceae gồm 16 chi, hơn 500 loài phân bố tại vùng nhiệt đới và á
nhiệt đới, cả bắc và nam bán cầu, là những loài gỗ lớn th-ờng xanh đa tác dụng Ngoài giá trị phủ xanh, phần lớn các loài trong 16 chi nói trên đều cho
gỗ lớn và rất nhiều loài cho quả ăn đ-ợc Trong 16 chi của Burseraceae, các
loài trám ăn quả chủ yếu tập trung trong chi Canarium Chi này gồm hơn 100
loài, tuy nhiên theo các điều tra của Trung Quốc và Nhật Bản, chỉ có 26 loài
đã đ-ợc gây trồng trên thế giới để lấy quả và lấy gỗ Trong 26 loài trên có 3
loài trám đen là Canarium pinela, C.rigrum và C.tonkinensis đ-ợc -a chuộng trên thị tr-ờng Trung Quốc Loài C.ovatum nguyên sản Philippine, phân bố tự
nhiên ở nam đảo Luzon, quả to, hạt rất lớn, đây là loài trám rất ngon, có giá trị dinh d-ỡng rất cao, đáng đ-ợc quan tâm gây trồng
Loài trám trắng Canarium album là cây thân gỗ lâu năm th-ờng xanh,
tán lá dày và rậm, luôn luôn tạo ra độ tàn che cao, tác dụng chống xói mòn bảo vệ đất và cải thiện khí hậu rất tốt Trám trắng có khả năng tái sinh tự nhiên mạnh cả hạt và chồi
- Đặc điểm hệ rễ:
Đặc điểm nổi bật nhất của cây trám mọc tự nhiên từ hạt là rễ cọc đơn trục, thẳng đứng, phát triển rất sâu Điều tra tại Phúc Kiến Trung Quốc cho thấy cây mọc từ hạt với đ-ờng kính 40cm, trên đất đồi rễ cọc có thể ăn sâu 4 -
5 m, trên đất phù sa có thể ăn sâu 7 - 8 m, rễ bàng phát triển rất muộn, số l-ợng ít, yếu ớt, nói chung không v-ợt quá giới hạn che phủ của tán lá Bộ rễ nh- vậy th-ờng tạo ra thân cây to, có khả năng chịu hạn cao [38]
- Đặc điểm phát lộc và phân cành:
Trang 7Mỗi năm cây trám trắng có thể phát lộc để thành đoạn cành từ 2 đến 5 hoặc 6 lần Tuổi cây non, trạng thái dinh d-ỡng tốt và nhiệt ẩm càng thuận lợi thì số lần phát lộc càng nhiều Mùa phân hóa chồi hoa vào khoảng cuối tháng
2 đầu tháng 3 nên hầu hết lộc xuân đều không thành cành sinh quả [38]
- Đặc điểm ra hoa, kết quả:
Có 4 kiểu hoa: Hoa đực, hoa cái, hoa l-ỡng tính và hoa dị hình Cây hoa
tự đực hoàn toàn không cho quả, ngôn ngữ dân gian gọi loại này là “cây đực”, cây toàn hoa tự cái cho sản l-ợng quả tăng dần theo tuổi, cây vừa có hoa đực vừa có hoa cái cho sản l-ợng quả giảm dần theo tuổi, cây có hoa tự toàn đực, toàn l-ỡng tính và toàn dị hình cho sản l-ợng quả rất thấp và ít thay đổi theo tuổi Trám trắng bắt đầu mùa hoa vào giữa tháng 5, hoa nở rộ từ cuối tháng 5,
đến đầu tháng 6 và hoa tàn, quả non từ giữa đến cuối tháng 6 Sau khi hoa tàn, quả lớn rất nhanh, đến giữa tháng 7, kích th-ớc quả về cơ bản đã định hình và
có thể thu hoạch cho sản xuất mứt trám Từ giữa tháng 7 đến đầu tháng 10, quả tăng nhanh sinh khối khô và tăng độ cứng Từ trung tuần tháng 10 đến cuối tháng 11, quả chín dần đến chín hoàn toàn [38]
- Yêu cầu về đất trồng và điều kiện khí hậu:
Khả năng thích ứng của trám trắng với đất trồng rất rộng, từ đất bồi tụ sông suối đến feralit đỏ hay vàng trên đồi gò đều có thể trồng trám, trám trắng không -a đất đọng n-ớc, đất bí chặt, rất kị đất phèn mặn và rất -a đất tơi xốp,
độ thông thoáng cao, giữ ẩm tốt pH thích hợp với trám dao động từ 4,5 – 6,5
đất càng dày, càng thông thoáng và giữ ẩm tốt thì rễ càng phát triển sâu rộng, tán lá càng xum xuê và sản l-ợng quả càng cao [34]
Trám trắng -a khí hậu nóng ẩm, dễ bị hại do s-ơng muối [1] Trừ hai vùng khắc nghiệt là núi cao phía bắc có mùa đông giá lạnh và một số nơi ở Tây nguyên, Đông nam bộ có mùa khô quá dài, cả không khí và đất đều khô, còn phần lớn lãnh thổ Việt Nam đều có chế độ khí hậu phù hợp với phát triển
Trang 8cây trám trắng lấy quả ở mọi nơi cây trám trắng phân bố, về cơ bản có thể gây trồng cây trám lấy quả [38]
gây trồng [5]
1.2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.2.1 ở n-ớc ngoài
1.2.1.1 Nghiên cứu ph-ơng pháp ghép và ứng dụng trong sản xuất
Có nhiều dẫn liệu cho thấy ng-ời Trung Quốc đã biết ghép cây từ hàng ngàn năm tr-ớc công nguyên Aristote (384 - 322 TCN) đã nói về ghép trong các tác phẩm của mình Thời kỳ phục h-ng (1350 - 1600) ng-ời ta chú ý đến ứng dụng thực tiễn của ghép Nhiều loài cây đ-ợc đ-a vào châu âu và duy trì
Trang 9bằng ph-ơng pháp ghép Vào thế kỷ thứ 16 - 17 ghép đ-ợc áp dụng rộng rãi ở n-ớc Anh trong nghề làm v-ờn và đã nhận thấy vai trò của lớp t-ợng tầng tuy ch-a rõ bản chất của nó Đầu thế kỷ thứ 18, Stephen Hales trong tác phẩm nghiên cứu về “Tuần hoàn của nhựa” trong cây đã nhận thấy sự tồn tại của phần giữa cây và vai trò của nó trong vận chuyển các chất từ rễ lên trên Cũng trong khoảng thời gian này, Duhamel đã nghiên cứu sự hình thành tổ hợp ghép, sự vận chuyển của nhựa qua chỗ ghép Năm 1821, Thourin đã mô tả 119 ph-ơng pháp ghép và những biến đổi do ghép cây gây ra [13]
Vào năm 1840 một ng-ời Pháp tên là Marier de Boisdyver ở vùng rừng
Phôngtennơblô đã ghép trên 10 nghìn cây thông đen xuất xứ Korzica (Pinus
nigra sp Lariciot) lên gốc ghép thông đen non trẻ nhằm nhân rộng xuất xứ có
giá trị và để sản xuất hạt giống phục vụ trồng rừng [27]
Nhân giống bằng ph-ơng pháp ghép đ-ợc coi là một công nghệ tiên tiến trong sản xuất nông nghiệp và đ-ợc áp dụng phổ biến ở những n-ớc trồng cây
ăn quả trên thế giới Ngoài ra nó còn đ-ợc sử dụng trong nghề cây cảnh, cây công nghiệp, cây thuốc (Sing R.B.1993) Cây ăn quả lâu năm, nếu sử dụng
đ-ợc tổ hợp mắt ghép, gốc ghép thích hợp ngoài các -u điểm hơn hẳn so với các ph-ơng pháp nhân giống khác về khả năng sinh tr-ởng, hệ số nhân giống, mức độ đồng đều của cây con… Cây ghép còn có khả năng thích ứng với điều kiện bất lợi như hạn, lạnh, úng…Mặt khác còn làm cho cây lùn đi Những ưu
điểm này đ-ợc biểu hiện rõ rệt trong sản xuất cây có múi (Cobin 1948), (trích dẫn theo [22]) Một thành tựu nổi bật của -u thế nhân giống bằng ph-ơng pháp ghép là trong nghề trồng táo Việc sử dụng gốc ghép lùn và nửa lùn đ-ợc coi là cuộc cách mạng trong nghề trồng táo ở châu âu Vì khi sử dụng gốc ghép đó làm tán cây nhỏ lại, trồng đ-ợc nhiều hơn, sớm cho quả, năng suất cao, chăm sóc tiện lợi, giảm đ-ợc công thu hái [36]
Ghép đã trở thành ph-ơng pháp chuẩn đối với cây tếch (Tectona
grandis) (Muniswami,1977) Thông th-ờng có hai mùa ghép trong một năm,
Trang 10đó là mùa xuân (tháng 3 - 5) và mùa thu (tháng 10 - 11), song ở cây tếch, tỷ lệ sống của cây ghép vào mùa xuân cao hơn so với mùa thu và chồi ghép cũng sinh tr-ởng tốt hơn Các n-ớc nh- ấn độ và Thái Lan, ghép tếch đạt tỷ lệ thành công tới 98% [27]
Từ những năm 1950 ph-ơng thức ghép đã đ-ợc dùng ở các n-ớc châu
Âu để xây dựng v-ờn giống cho nhiều loài cây rừng Hiện nay ghép vẫn là một ph-ơng thức nhân giống chủ yếu đang đ-ợc áp dụng để xây dựng v-ờn giống ở nhiều n-ớc trên thế giới [19]
1.2.1.2 Nghiên cứu sử dụng gỗ, nhựa trám, đặc tính sinh vật học và kỹ thuật gây trồng
- Các nghiên cứu sử dụng gỗ và dầu nhựa
Lý Thời Trân đời Minh vào thế kỷ XV Trong :” Bản thảo cương mục”,
đã ghi chép các nghiên cứu sử dụng rễ, lá, quả trám để làm thuốc chữa bệnh
và thuốc bổ dùng trong dân gian
Barry Evans (1993), đã đề cập đến giá trị của hạt trám: có thể sử dụng nhân hạt trám sản xuất mỹ phẩm và sử dụng vỏ hạt trám làm chất đốt Tiềm
năng khai thác sử dụng 4 loài trám trong chi Canarium trong khuôn khổ dự án
“Phát triển những loài cây bản địa cho quả hạch có thể ăn được” tại
Philippine, đã thống kê đ-ợc 3 loài mọc phổ biến là C.ovatum, C.indicum và
C.salomonense Tác giả cũng l-ợc dẫn những nghiên cứu ban đầu về sinh
tr-ởng, mật độ rừng trồng, khả năng cung cấp hạt và thị tr-ờng tiêu thụ tại quần đảo solomon thuộc Philippine ông cũng cho biết trám phân bố rất nhiều tại papuanew Guinea, các n-ớc vanuatu PNG láng giềng và điều đặc biệt là các quốc gia này cũng đang quan tâm nghiên cứu sử dụng khai thác tiềm năng kinh tế từ cây trám [42]
- Nghiên cứu về đặc tính sinh vật học
Trang 11Yangjigao (1998), đã công bố kết quả nghiên cứu về cây trám trắng trong cuốn: “ Đất rừng và chọn giống cây trồng thích hợp nam Quảng Tây Nhà xuất bản lâm nghiệp Trung Quốc 1998” như sau:
Trám trắng mọc ở chân đồi có độ cao từ 200 - 500m, độ dốc 360, đất thịt, chua, độ dày tầng đất lớn hơn 100 cm có hàm l-ợng (%) các chất trong lá:
- Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng
Thái lan và Philippine đã có những nghiên cứu gây trồng trám với vai trò là cây thân gỗ trồng xen trong mô hình nông lâm kết hợp
Trung Quốc đã có những b-ớc đi sớm trong hoạt động cải thiện giống trám trắng , và đã b-ớc đầu cho ra một số xuất xứ, gia hệ (family) hữu tính và một số dòng vô tính (strain) tuyển chọn từ các -u thế lai và nhân bằng ph-ơng pháp ghép [38]
1.2.2 ở Việt Nam
1.2.2.1 Nghiên cứu ph-ơng pháp ghép và ứng dụng trong sản xuất
Nghề trồng cây ăn quả ở Việt Nam đã có cách đây hơn hai nghìn năm, trong lịch sử dựng n-ớc và giữ n-ớc, đất n-ớc ta chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, việc phát triển khoa học kỹ thuật và nghiên cứu ứng dụng vào sản xuất còn nhiều hạn chế Sau hoà bình lập lại, Đảng và nhà n-ớc đã có những chủ tr-ơng chính sách để phát triển nông lâm nghiệp toàn diện Từ sau những năm 1960, các Viện nghiên cứu và các tr-ờng Đại học nông lâm đ-ợc thành lập đã tạo ra một b-ớc nhảy vọt trong sản xuất và nghiên cứu khoa học nông lâm nghiệp
Trang 12- Trong sản xuất nông nghiệp: Hơn 40 năm qua, ngành nông nghiệp đã
đạt đ-ợc nhiều thành tựu to lớn Trong đó công nghệ nhân giống sinh d-ỡng gồm chiết, ghép, nuôi cấy mô… đã được ứng dụng cho hầu hết cho các loài cây ăn quả và một số loài hoa, cây cảnh Đến nay đã xây dựng và hoàn thiện các qui trình kỹ thuật nhân giống cây ăn quả nh-: nhãn, vải, cam, hồng, b-ởi,
lê, táo, mơ, mận, xoài, … Các vườn ươm nhân giống đã phát triển ở hầu hết các tỉnh và các vùng sản xuất trong cả n-ớc, năng suất và chất l-ợng cây trồng ngày càng đ-ợc cải thiện
- Trong sản xuất lâm nghiệp: Công tác giống cây rừng ở n-ớc ta bắt đầu
từ những năm 1930, khi các nhà lâm nghiệp ng-ời Pháp xây dựng một số
điểm trồng thử đầu tiên cho một số loài cây rừng Sau đó, trong những năm
1950 - 1960 các khảo nghiệm cho bộ giống 18 loài bạch đàn, 15 loài thông và một số loài keo đã đ-ợc tiến hành tại vùng núi Đà lạt mà đến nay đã thành
một số loài có giá trị nh- Eucalyptus microcorys và E grandis cao 60m với
đ-ờng kính 55 - 60 cm Tuy vậy, do điều kiện chiến tranh nên trong một thời gian dài công tác giống chỉ dừng lại ở bảo quản hạt giống và xây dựng rừng giống là chính
Sau năm 1975, đặc biệt là từ năm 1980, hoạt động cải thiện giống cây rừng mới đ-ợc đẩy mạnh trong cả n-ớc Các hoạt động trong thời gian đầu chủ yếu là khảo nghiệm xuất xứ cho các loài thông, bạch đàn, keo, tràm, phi lao v.v sau đó là các hoạt động về chọn lọc cây trội, xây dựng rừng giống và v-ờn giống Những hoạt động nổi bật gần đây là phát hiện và nghiên cứu chọn lọc các giống lai tự nhiên, tạo giống lai nhân tạo, nhân giống hom và nuôi cấy mô phân sinh, cũng nh- ứng dụng chỉ thị phân tử vào cải thiện giống cây rừng [20]
Nhân giống sinh d-ỡng đã đ-ợc áp dụng rộng rãi cho một số loài cây rừng, phục vụ cho các mục đích khác nhau, trong đó ghép, giâm hom và nuôi cấy mô là những biện pháp đ-ợc sử dụng nhiều hơn cả
Trang 13+ Cây mỡ (Manglietia glauca) đã đ-ợc Lê Đình Khả và cộng sự
(1989), sử dụng ph-ơng pháp ghép để nhân giống cây trội phục vụ xây dựng v-ờn giống dòng vô tính (dẫn theo[25])
+ Thông nhựa (Pinus merkusii), thông ba lá (P.kesiya), thông đuôi ngụa (P.massoniana), ghép là biện pháp chủ yếu để tạo cây ghép cho xây
dựng dòng vô tính đã đ-ợc Lê Đình Khả, Hà Huy Thịnh, Hoàng Thanh Lộc và cộng sự áp dụng ở Viện khoa học lâm nghiệp, Công ty giống lâm nghiệp Trung -ơng và một số đơn vị khác (dẫn theo [25])
+ Cây điều (Anacardium occidentale) là loài cây lấy quả có giá trị Để
xây dựng v-ờn giống và đ-a thẳng cây ghép vào trồng Hoàng Ch-ơng và Trần Văn Sâm (1990) đã áp dụng kỹ thuật ghép chẻ trên gốc ghép non, đạt tỷ
lệ sống 37,3% Ngoài ra, L-u Bá Thịnh (1990) cũng đã chiết cành thành công một số cây điều để gây trồng (dẫn theo [25])
+ Cây dẻ Trùng Khánh (Castanea mollissima) cũng đã đ-ợc D-ơng
Mộng Hùng và cộng sự (2001) nhân giống thành công bằng ph-ơng pháp ghép, tỷ lệ sống đạt trên 70% [12]
+ Cây hồi (illicium verum) đã đ-ợc Nguyễn Huy Sơn, Nguyễn Tuấn
H-ng (2003) sử dụng ph-ơng pháp ghép nêm để nhân giống, tỷ lệ sống đạt trên 70% [30]
+ Cây quế (Cinamomum cassia) đã đ-ợc Phạm Văn Tuấn (2001), và
cộng sự sử dụng ph-ơng pháp ghép nêm ngọn để nhân giống, tỷ lệ sống đạt trên 70% [39]
+ Ghép cải tạo giống đã đ-ợc Trần Quang Việt và cộng sự (1996) áp dụng cho cây trẩu nhăn ở n-ớc ta (trích dẫn theo [16])
1.2.2.2 Nghiên cứu sử dụng gỗ, nhựa trám, đặc tính sinh vật học và kỹ thuật gây trồng
Trang 14Trong nhiều năm nay cây trám trắng đã đ-ợc các nhà khoa học nghiên cứu ở cả 3 lĩnh vực là khai thác sử dụng gỗ và dầu nhựa, Nghiên cứu về đặc tính sinh vật học và kỹ thuật gây trồng
- Các nghiên cứu về khai thác, sử dụng gỗ, nhựa,:
Đỗ Tất Lợi trong tác phẩm: “ Những cây thuốc và vị thuốc Việt nam” (1995), cho biết: Trong quả trám có chứa chừng 1,2% chất Protit, 1% dầu béo, 12% chất hydrat cac bon, 0,204% can xi, 0,06% phot pho, 0,0014% chất sắt
và 0,021% vi ta min C (Dẫn theo kết quả phân tích của Viện vệ sinh dịch tễ Trung Quốc – 1975) Trong nhân quả trám có chứa chừng 50 - 65% chất dầu béo Nhựa trám là một chất mềm màu vàng nhạt, mùi thơm dễ chịu, đun nóng
900 sẽ chảy lỏng, tan trong ete, dầu hoả, khi cất kéo bàng hơi n-ớc, nhựa trám
sẽ cho 18 – 30% tinh dầu, thành phần chủ yếu của tinh dầu trám là Sabinen (45%) một nguyên liệu để tổng hợp chất thơm dùng trong h-ơng liệu Ngoài
ra còn Y técpinen (16,7%), Téc pineol (10,8%), pinen (9%), Tecpinen (4,9%) Sau khi ch-ng cất tinh dầu còn lại một chất colophal tan hoàn toàn trong ete và tan một phần trong cồn lạnh, chất nhựa trám đ-ợc tiêu thụ trên thị tr-ờng quốc tế với tên eleni Tính chất chữa bệnh của quả trám đ-ợc ghi trong các tài liệu đông y cổ là: vị chua ngọt, chát, tính ôn, không độc, vào kinh phế và vị, có năng lực thanh phế, lợi yết hầu, sinh tân, chỉ khát, giải độc,
là thuốc chữa yết hầu s-ng đau, ho nhiều đờm Nhựa trám dùng ch-ng cất tinh dầu dùng trong những kỹ nghệ n-ớc hoa, colophal, còn lại dùng trong kỹ nghệ
xà phòng, véc ni Trong kháng chiến, tinh dầu trám đ-ợc dùng làm dung môi
chiết suất cafêin trong lá chè, trong nhân dân dùng nhựa trám trộn với thân
cây đậu t-ơng làm h-ơng thơm thắp khi cúng bái ngày lễ [21]
Phạm Đình Tam (2001), nhận thấy gỗ trám trắng lấy từ rừng trồng thoả mãn đ-ợc các tiêu chuẩn làm gỗ dán, tỷ lệ thành khí ván bóc đạt 61,2% trong
đó ván mặt chiếm 73,8% Kết quả này cho thấy gỗ trám trắng dùng làm nguyên liệu gỗ dán hơn hẳn các loài cây bản địa khác [34]
Trang 15- Các nghiên cứu về đặc tính sinh vật học
Lĩnh vực này đ-ợc nhiều tác giả đề cập nh-: Trần Xuân Thiệp (1985), Triệu Văn Hùng (1993), Ngô Đình Khế (1994), Hà Văn Tiệp (1996), Lê Xuân Tình (1998), Nguyễn Thị Kim Anh (1999), Nguyễn Ngọc Thanh (2003)
Trần Xuân Thiệp (1985), cho biết: Trong rừng tự nhiên, trám trắng ngoài 40 tuổi vẫn còn khả năng tăng tr-ởng mỗi năm tới 1cm về đ-ờng kính,
từ 0,3 - 0,5 cm về chiều cao Trong rừng thứ sinh Quỳ châu (Nghệ An) trám trắng có đ-ờng kính 40 cm, chiều cao 25 m [30]
Ngô Đình Khế (1994), qua theo dõi rừng trồng nhận thấy: Trám trắng
13 tuổi trồng thuần loài tại lâm tr-ờng Lạc Thuỷ, Hoà bình có chiều cao trung bình Hvn = 13 - 17 m, đ-ờng kính D1,3 = 18 - 30 cm [15]
Lê Xuân Tình (1998), Tất cả các loài trám đều có nhựa với sản l-ợng khác nhau, nh-ng chủ yếu lấy ở loài trám trắng Gỗ trám có tỷ lệ xenlulo là 50,7%, litnhin chiếm 24,24% [33]
Hà Văn Tiệp (1996), nhận thấy các nhân tố khí hậu đều có ảnh h-ởng
đến sinh tr-ởng loài trám trắng tại Hoành bồ, Quảng Ninh, trong đó chỉ số ẩm
từ tháng 4 đến tháng 9 có ảnh h-ởng mạnh mẽ nhất Nguyễn Ngọc Thanh (2003), nhận xét sinh tr-ởng chiều cao cây tái sinh tại Sơn động, Bắc Giang tăng dần theo độ sâu tầng đất, hàm l-ợng mùn, hàm l-ợng đạm và độ ẩm đất [31]
Công trình của Triệu Văn Hùng (1993), nhận thấy: Về đặc điểm tổ thành loài trám trắng trong rừng tự nhiên chỉ đạt trung bình 3,87% về số cây
và 6,84% về trữ l-ợng ô tiêu chuẩn, ở trạng thái rừng IIIa1 trám trắng chiếm tỷ
lệ cao hơn so với rừng IIIa2 Tác giả cũng cho biết một số chỉ tiêu sinh lý nh-: c-ờng độ thoát hơi n-ớc trung bình, sức hút n-ớc của lá [8]
Nguyễn Thị Kim Anh (1999), Tiến hành khảo nghiệm một số xuất xứ trám trắng tại Phú Thọ nhận thấy: Tất cả các xuất xứ (Tuyên Quang, Quảng Bình, Tây Nguyên) đều thể hiện đặc tính sinh thái chung của loài có khả năng
Trang 16phân bố rộng trên nhiều vùng sinh thái Khả năng thích ứng với điều kiện tự nhiên nơi khảo nghiệm của các xuất xứ trám trắng đ-ợc thể hiện với mức độ khác nhau Hệ số di truyền theo nghĩa rộng các tính trạng nghiên cứu của các xuất xứ tham gia khảo nghiệm: H2 > 0,9 chứng tỏ xuất xứ đã chọn có khả năng giữ đ-ợc những đặc tính sinh tr-ởng tốt cho đời sau Nguồn gốc địa lý của hạt giống có ảnh h-ởng rõ rệt đến chất l-ợng rừng trồng [1]
Phạm Đức Tuấn, Nguyễn Hữu Lộc (2005), cho biết: trám rất nhiều nhựa, ống nhựa chủ yếu tập trung trong tầng libe, phía trong lớp vỏ Nhựa trám chứa nhiều tanin và các polyphenol khác Khi lộ ra không khí các polyphenol này bị oxy hoá trở thành chất độc gây tổn th-ơng tế bào và tạo màng cách ly giữa gốc ghép và cành ghép Cần lựa chọn cách ghép, mùa ghép,
vị trí ghép… để khắc phục ảnh hưởng này Cây trám mọc tự nhiên từ hạt có rễ cọc đơn trục, thẳng đứng, phát triển rất sâu, rễ bàng phát triển rất muộn, số l-ợng ít, yếu ớt Bộ rễ nh- vậy th-ờng tạo ra thân cây to, thẳng đứng và tán lá gọn rất lợi gỗ mà không lợi quả Trám -ơm từ hạt nếu không tác động sẽ đ-ợc trám con 1 rễ cọc dài, rất ít rễ bàng, hoàn toàn không thể trồng rễ trần, cho dù dùng bầu lớn và dài cũng khó vận chuyển dài ngày và đạt tỷ lệ sống cao khi trồng rừng Nếu rễ cọc bị đứt non sẽ hình thành bộ rễ cọc chùm và rễ bàng mọc vừa sớm vừa nhiều Rễ đứt càng sớm xu thế này càng mạnh Tr-ờng hợp này sẽ tạo ra cây trám phân cành sớm, tán lùn và xoè rộng rất lợi quả mà không lợi gỗ, rễ bàng mở rộng tới giới hạn gấp 2 - 3 lần bóng chiếu thẳng
đứng của tán lá và rất thuận lợi cho xới xáo và bón phân Đây là tập tính phổ biến ở nhiều loài cây thân gỗ mà cây trám là một tr-ờng hợp điển hình [38]
- Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng
Đã xác định đ-ợc nhu cầu dinh d-ỡng và che sáng của cây trám ở giai
đoạn v-ờn -ơm, thử nghiệm có kết quả các ph-ơng thức trồng rừng trám có cây che phủ Nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật nhân giống trám có công
Trang 17trình của Hoàng Thanh Lộc (2005), “ Bước đầu tuyển chọn và nhân giống trám trắng có sản lượng quả cao”
Tr-ơng Thị Thảo qua nghiên cứu đặc tính sinh lý cây trám trắng ở giai
đoạn tuổi non nhận xét: Thời kỳ chuyển hoá từ -a bóng sang -a sáng nhanh hơn các loài cây bản địa khác Cây nhỏ d-ới 5 tháng tuổi công thức cho các chỉ tiêu tốt là che 100% và 75%, cây 9 tháng tuổi công thức cho các số liệu tốt
là 50%, 25% và 0% (có thể mở sáng hoàn toàn) Trám trắng sau 1 năm có thể
đã v-ợt qua giai đoạn -a bóng sang -a sáng [32]
Nguyễn Đình Sâm với đề tài “Nghiên cứu xác định nhu cầu dinh dưỡng khoáng và che sáng loài trám trắng” đã nhận thấy: Trám trắng là loài có biểu hiện tính non rất rõ rệt với thời gian kéo dài từ 9 tháng đến 1 năm, che bóng
50 - 70% có hiệu quả Các công thức bón phân 4 NPK, thời gian bón thích hợp khi cây đ-ợc 2 tháng tuổi đến 4 tháng tuổi, hoà phân vào n-ớc t-ới là cách có hiệu quả rõ ràng, sinh tr-ởng của cây v-ợt so với đối chứng từ 2 đến 2,5 lần [28] Điểm tồn tại trong thí nghiệm nhu cầu dinh d-ỡng của nghiên cứu là trồng 3 cây trong một chậu nên ch-a xác định đ-ợc ảnh h-ởng rõ rệt của kích th-ớc bầu đến sinh tr-ởng của cây con Tuổi cây con thực hiện thí nghiệm mới dừng lại ở giai đoạn 6 tháng
Phạm Đình Tam (1999), nghiên cứu trồng rừng trám trắng làm nguyên liệu gỗ dán nhận thấy: Trám trắng là cây phân bố rộng khắp cả 3 miền Bắc, Trung, Nam và th-ờng gặp trên rừng thứ sinh trên đất còn nguyên trạng Trám trắng có mặt ở những vùng có độ cao từ 10 m đến 1000m, nơi có đất tầng dày trên 0,5 m, độ chua pHKCL biến động từ 3,4 - 5,7, l-ợng mùn biến động từ 2 - 4,7% Trám trắng có khả năng tái sinh hạt và chồi, chồi ở tuổi càng non thì khả năng tái sinh càng mạnh, ph-ơng thức trồng toàn diện có cây phù trợ giai
đoạn đầu tỏ ra phù hợp, cây phù trợ, che phủ đất phù hợp là keo, cốt khí, có thể trồng hỗn giao với lim xẹt Ghép trám trắng vào vụ xuân có nhiều thuận lợi, tỷ lệ sống cao, cành ghép dễ chọn và cây trồng sinh tr-ởng nhanh [34]
Trang 18Đề tài nghiên cứu của Hoàng Thanh Lộc đã đề cập đến kỹ thuật ghép nh-: thời vụ ghép, ph-ơng pháp ghép đến tỷ lệ sống cây ghép, thử nghiệm ph-ơng pháp nhân giống sinh d-ỡng loài trám trắng bằng giâm hom với vật liệu từ cây con 5 tháng tuổi và cành cây ghép 2 năm tuổi
- Ph-ơng pháp ghép: đã sử dụng 3 ph-ơng pháp, trong đó ph-ơng pháp ghép bên và ghép chẻ đỉnh có tỷ lệ sống gần bằng nhau, (Ghép chẻ đỉnh: 70,41%, Ghép bên thân: 73,33%, Ghép mắt nhỏ có gỗ: 15,41%) Ghép mắt nhỏ có gỗ không thích hợp với Trám
- Thời vụ ghép: tiến hành ghép vào vụ xuân (từ 15/4 đến 20/4/2002) và vụ thu (từ 4/10 đến 9/10/2002) Ghép vào vụ xuân có tỷ lệ sống từ 62 – 67,5%, ghép vụ thu đạt 74,16%
- Cành ghép lấy từ v-ờn giống có tỷ lệ sống: 82,78%, cao hơn cành ghép lấy từ cây mẹ 20 tuổi: 78,15%
- Hom giâm lấy từ cây con mọc từ 6 tháng tuổi, tỷ lệ ra rễ cao nhất ở nồng
độ 2000 - 2500 ppm có tỷ lệ ra rễ là 36,7 và 33,3% Điều này gợi ý rằng, cây trám là loài khó giâm hom ngay cả với cây non Hom giâm lấy từ cây ghép 2 tuổi, ch-a có hoa, quả, tất cả các công thức thuốc trong thí nghiệm đều không
có hom ra rễ mà chỉ hình thành mô sẹo d-ới gốc hom với tỷ lệ rất thấp từ 3,3% - 6,6% Nh- vậy cành của cây ghép ở tuổi non cũng không có khả năng giâm hom [24]
Ngoài các nghiên cứu trên, có một số tài liệu về kỹ thuật tạo cây con:
- “Sổ tay kỹ thuật hạt giống và gieo ươm một số loại cây rừng” (1995),
“Về kỹ thuật gieo ươm”: Bầu ươm cây kích thước 20 x 30 cm, thời gian nuôi cây trong v-ờn -ơm từ 4 tháng đến 1 năm, tiêu chuẩn cây con khi xuất v-ờn chiều cao tối thiểu 40 cm, đ-ờng kính cổ rễ 5 – 7mm [4]
- Tiêu chuẩn ngành “Quy phạm kỹ thuật trồng rừng trám trắng (04TCN 24- 2001)” áp dụng cho trồng rừng tập trung thuần loài hoặc hỗn loài bằng cây con từ hạt đã qui định rõ bảy vùng sinh thái có thể trồng rừng, đất đai, khí
Trang 19hậu, ph-ơng pháp thu hái, bảo quản hạt giống, kỹ thuật gieo -ơm và trồng rừng Quy phạm này cũng qui định kích th-ớc bầu 15 x 20 cm dán đáy, đục lỗ cho cây 9 - 12 tháng tuổi, tiêu chuẩn cây con đem trồng theo ph-ơng thức rạch phải đạt đ-ờng kính cổ rễ 0,6 - 0,7 cm, chiều cao từ 60 - 70 cm Cây con trồng theo ph-ơng thức khác phải đạt tiêu chuẩn: tuổi cây 6 - 7 tháng, chiều cao 30 - 35 cm, đ-ờng kính cổ rễ 0,4 - 0,5 cm [3]
- Tài liệu h-ớng dẫn kỹ thuật trồng trám trắng cho khuyến nông viên xã qui định kỹ thuật tạo cây con: Sử dụng vỏ bầu P.E cỡ 9 x 13 dán đáy, đục lỗ
để -ơm cho cây con 6 - 7 tháng tuổi và vỏ bầu P.E cỡ 10 x 15 cm dán đáy, đục
lỗ để -ơm cho cây con 9 - 12 tháng tuổi [2]
- Một tài liệu h-ớng dẫn kỹ thuật tạo cây con ở giai đoạn v-ờn -ơm: Kích th-ớc túi bầu ni lon đ-ờng kính 12 cm, chiều dài 18 cm, bầu thủng đáy,
có lỗ thủng xung quanh thành bầu [6] và bầu PE cỡ 15 x 20 cm [7]
- Tình hình nhân giống trám ghép phục vụ sản xuất:
Đã có một số cơ sở tiến hành nghiên cứu và sản xuất cây trám ghép đáp ứng nhu cầu trồng rừng của nông dân vùng núi phía Bắc nh-: Trung tâm ứng dụng khoa học kỹ thuật lâm nghiệp tại huyện Tân lạc, tỉnh Hoà Bình thuộc Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, Xí nghiệp giống cây lâm nghiệp vùng
đồng bằng sông Hồng tại Phú Thọ, Công ty giống cây lâm nghiệp vùng Đông bắc tại Lạng Sơn và Lâm tr-ờng Hữu lũng, Lạng Sơn Các cơ sở này đã sản xuất đ-ợc trám ghép, đáp ứng một phần nhu cầu trồng rừng của nông dân Có thể tóm tắt kết quả trong nghiên cứu và sản xuất cây trám ghép của 4 đơn vị trên trong 5 năm gần đây nh- sau:
+ Trung tâm ứng dụng khoa học kỹ thuật lâm nghiệp tại Tân lạc, Hoà Bình: Năm 2001 đã xây dựng v-ờn giống đầu dòng trám trắng có 5 xuất xứ Năm 2005 đã tiến hành ghép trám trắng phục vụ nghiên cứu và chuyển giao
kỹ thuật cho nông dân một số xã thuộc huyện Tân lạc Các nghiên cứu về chất l-ợng cây ghép ch-a đ-ợc tiến hành
Trang 20+ Xí nghiệp giống cây lâm nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng tại Phú Thọ: Chức năng chính là sản xuất giống cây lâm nghiệp phục vụ trồng rừng nguyên liệu Năm 2001 đã xây dựng v-ờn giống đầu dòng trám trắng diện tích khoảng 1 ha, từ năm 2005 đã nhân giống thành công với tỷ lệ cây ghép sống khoảng 60%, cung cấp cây giống cho một số huyện thuộc tỉnh Hà Giang và Phú Thọ Các nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống ch-a đ-ợc tiến hành
+ Công ty giống cây lâm nghiệp vùng Đông bắc, tỉnh Lạng Sơn: Nhiệm
vụ chính là sản xuất và kinh doanh giống cây lâm nghiệp Năm 2001 đã trồng cây đầu dòng trám trắng vỏ vàng, từ năm 2004 đã tiến hành nhân giống thành công cây ghép, tỷ lệ cây ghép sống đạt 70%, đã sản xuất đ-ợc cây ghép phục
vụ cho các ch-ơng trình khuyến lâm trong cả n-ớc Công ty chủ yếu quan tâm
đến sản xuất kinh doanh, các nghiên cứu về kỹ thuật tạo cây ghép ch-a đ-ợc thực hiện
+ Lâm tr-ờng Hữu lũng, tỉnh Lạng Sơn: Chức năng chính của Lâm tr-ờng là trồng rừng nguyên liệu gỗ mỏ Do nhu cầu trồng rừng trám ghép ở
địa ph-ơng tăng lên, năm 2004 đã thử nghiệm ghép trám từ vật liệu ghép là cành trám lấy từ rừng tự nhiên, đã nhân giống thành công với số l-ợng nhỏ,
đáp ứng một phần nhu cầu của nông dân ở địa ph-ơng Các nghiên cứu về kỹ thuật tạo cây trám ghép ch-a đ-ợc tiến hành
1.2.2.3 Thảo luận
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về cây trám trắng của các tác giả trong n-ớc và ở n-ớc ngoài về nhiều lĩnh vực khác nhau Ngoài các nghiên cứu về đặc tính sinh thái, khai thác sử dụng gỗ, quả và nhựa, nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng có một số công trình đã có những đóng góp đáng kể, có thể làm cơ sở cho xây dựng các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho loài trám trắng
Nghiên cứu về khảo nghiệm xuất xứ cây trám trắng ở n-ớc ta mới chỉ
có 1 công trình, sau 4 năm trồng khảo nghiệm mới b-ớc đầu đánh giá đ-ợc
Trang 21một số chỉ tiêu về sinh tr-ởng và hình thái của một số xuất xứ ở giai đoạn tuổi non [24]
Nghiên cứu về nhu cầu dinh d-ỡng khoáng và che sáng của cây con có hai công trình, sau 1 năm theo dõi đã lựa chọn đ-ợc các công thức che sáng và bón phân cho cây trám ở giai đoạn v-ờn -ơm
Nghiên cứu chọn lọc và nhân giống trám trắng có một công trình, sau 4 năm thực hiện đã xây dựng đ-ợc một v-ờn giống đầu dòng và b-ớc đầu đánh giá đ-ợc ảnh h-ởng của thời vụ, ph-ơng pháp ghép, vật liệu ghép đến tỷ lệ sống cây ghép, cũng đã khuyến nghị giâm hom không phải là biện pháp thích hợp với cây trám trắng
Ngoài ra có một số tài liệu h-ớng dẫn kỹ thuật đã nêu ở trên còn có những tồn tại cần phải thống nhất lại: Ví dụ nh- qui định về kích th-ớc bầu -ơm và hỗn hợp ruột bầu tạo cây con, mỗi tài liệu có một qui định khác nhau, khi áp dụng vào sản xuất và h-ớng dẫn cho nông dân thực hiện có thể gặp những trở ngại do tính không nhất quán Mặt khác, các văn bản này mới chỉ
áp dụng cho rừng trồng lấy gỗ, ch-a đ-ợc công nhận là qui trình, qui phạm h-ớng dẫn kỹ thuật tạo cây trám ghép
Việc nhân giống cây ghép đáp ứng nhu cầu trồng rừng của nông dân mới đ-ợc bắt đầu trong vài năm gần đây, có một vài đơn vị đã tiến hành nghiên cứu, nh-ng nội dung cũng mới chỉ đề cập tới ảnh h-ởng của thời vụ, ph-ơng pháp ghép đến tỷ lệ sống cây ghép, các nghiên cứu sâu hơn nhằm mục
đích nâng cao chất l-ợng cây ghép ch-a đ-ợc tiến hành Các Công ty, Xí nghiệp giống với chức năng chính là sản xuất kinh doanh, do đó họ quan tâm nhiều đến số l-ợng cây giống đ-ợc tiêu thụ, ít quan tâm đến nghiên cứu Vì thế, cho đến nay, ch-a có đề tài nào tiến hành nghiên cứu về kỹ thuật tạo cây trám ghép một cách đồng bộ và hệ thống nhằm nâng cao chất l-ợng cây giống, đảm bảo cho trồng rừng thành công, đồng thời làm cơ sở cho việc xây
Trang 22dựng qui trình kỹ thuật nhân giống trám ghép, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn sản xuất
Đề tài đ-ợc thực hiện nhằm xác định một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống trám trắng từ khâu tạo gốc ghép, thu cành ghép, thời vụ ghép ph-ơng pháp ghép và chăm sóc sau ghép, góp phần bổ sung cơ sở khoa học và thực tiễn cho công tác nhân giống, phục vụ trồng rừng
1.3 Cơ sở khoa học của nhân giống bằng ph-ơng pháp ghép
Ghép là dùng một bộ phận dinh d-ỡng của cây (cành ghép, mắt ghép v.v.) ghép lên cây khác (gốc ghép) để tạo thành một cây hoàn chỉnh gọi là cây ghép [18]
Cơ sở khoa học của ph-ơng pháp ghép là khi ghép bằng những ph-ơng pháp nhất định làm cho t-ợng tầng của gốc ghép và thân tiếp xúc với nhau, nhờ sự hoạt động và khả năng tái sinh của t-ợng tầng làm cho cành ghép và gốc ghép gắn liền với nhau [10]
Nghiên cứu cơ sở khoa học của nhân giống sinh d-ỡng chính là nghiên cứu những nhân tố quyết định khả năng nhân giống sinh d-ỡng của chúng Các nhân tố này có thể đ-ợc chia làm hai nhóm: Nhóm các nhân tố bên trong
1.3.1.2 Cơ sở tế bào học
Vật liệu để nhân giống sinh d-ỡng là một bộ phận dinh d-ỡng của sinh vật, chúng đ-ợc đặt trong các môi tr-ờng sống thích hợp để các tế bào sống sinh tr-ởng bằng cách phân bào nguyên nhiễm liên tiếp, phân hoá hình thành
Trang 23các cơ quan như rễ, chồi, lá… tạo thành một cây hoàn chỉnh Trong quá trình
đó, tuy hình thái, chức năng của các cơ quan đ-ợc hình thành có khác nhau, song nhân tố di truyền là bộ nhiễm sắc thể của chúng không thay đổi [13]
1.3.1.3 Cơ sở sinh lý, sinh hoá
Cây lấy vật liệu nhân giống ở tình trạng sinh lý tốt là một tiền đề cho nhân giống sinh d-ỡng thành công L-ợng n-ớc trong cây đầy đủ thể hiện tình trạng sinh lý tốt Buổi sáng sớm là lúc cây có hàm l-ợng n-ớc đầy đủ nhất trong ngày Chất dinh d-ỡng trong cây lấy vật liệu nhân giống có ảnh h-ởng mạnh và lâu dài đến sự hình thành và phát triển của cây sinh d-ỡng
Hàm l-ợng hydratcacbon và nitơ là hai loại chất quan trọng nhất, ảnh h-ởng rõ rệt đến hình thành cây con Thông th-ờng nếu vật liệu nhân giống có hàm l-ợng hydratcacbon cao, hàm l-ợng nitơ thấp thì khả năng ra rễ cao, nếu ng-ợc lại thì khả năng ra chồi mạnh
Quá trình phát triển cá thể của cây đ-ợc chia thành ba giai đoạn chính: non trẻ, chuyển tiếp và thành thục Sinh vật thuộc các loài khác nhau, thậm chí các cá thể của một loài cũng có sự khác nhau trong quá trình chuyển giai đoạn
từ non trẻ sang thành thục Giai đoạn non trẻ, thành thục dài hay ngắn, mạnh hay yếu đều do nhân tố di truyền kiểm soát [13]
1.3.1.4 Tuổi cây mẹ lấy cành
Tuổi cành lấy vật liệu nhân giống cũng ảnh h-ởng rõ rệt đến kết quả nhân giống Ví dụ:
+ Tuổi cây hồi (illicium verum) lấy vật liệu ghép khác nhau, cho kết
quả khác nhau, lấy vật liệu ghép trên cây 10 tuổi, sau 2 tháng đạt 89%, trong khi đó cây trên 25 tuổi chỉ đạt 81,2% [29]
+ Cành trám dùng để ghép lấy từ v-ờn giống có tỷ lệ sống: 82,78%, cao hơn cành ghép lấy từ cây mẹ 20 tuổi: 78,15% [24]
+ Cành ghép và mắt ghép lấy từ cây mỡ tr-ởng thành khoảng 15 tuổi cho
tỷ lệ sống cao hơn so với khi lấy từ cây ghép còn non hay từ cây quá già [17]
Trang 24+ Cành nhãn có độ tuổi từ 4 - 6 tháng cho tỷ lệ ghép sống và tỷ lệ xuất v-ờn cao nhất, thấp nhất là cành trên 6 tháng tuổi ở cả 2 thời vụ ghép [14]
+ Cành vải có độ tuổi từ 4 - 6 tháng cho tỷ lệ ghép sống và tỷ lệ xuất v-ờn cao nhất, cành 2 - 3 tháng tuổi ở vụ thu cho tỷ lệ sống cao hơn vụ thu [14]
+ Cành b-ởi dùng để ghép có độ tuổi từ 4 - 6 tháng cho tỷ lệ ghép sống cao nhất, tiếp đến là cành trên 6 tháng tuổi và thấp nhất là cành 2 - 3 tháng tuổi [14]
1.3.1.5 Vị trí và kích th-ớc cành ghép
Trên cùng một cây thân gỗ nhiều tuổi, giữa các bộ phận khác nhau cũng
có sự khác nhau về tuổi sinh lý, phần gốc cây có tuổi non trẻ nhất, phần ngọn cây ở tuổi tr-ởng thành Đặc điểm này rất quan trọng, liên quan đến khả năng
sử dụng các bộ phận của cây lâu năm làm vật liệu nhân giống sinh d-ỡng, những bộ phận non trẻ dễ nhân giống hơn những bộ phận đã tr-ởng thành, già cỗi [13] Ví dụ:
+ Những cành nhãn ở vị trí ngoài tán cho tỷ lệ ghép sống (90%) cao hơn những cành phía trong tán (70%) [14]
+ Những cành vải ở vị trí ngoài tán cho tỷ lệ ghép sống ( 89%) cao hơn những cành phía trong tán (64%) [14]
+ Những cành b-ởi ở vị trí ngoài tán cho tỷ lệ ghép sống (97,1%) cao hơn những cành phía trong tán (66,2%) [14]
+ Đoạn cành vải, nhãn có 1 mắt đạt tỷ lệ ghép sống đạt thấp nhất, đoạn cành có 2 -3 mắt trở lên cho tỷ lệ ghép sống đạt cao [14]
+ Chiều dài chồi khi ghép thông hai lá ở công thức CT2 (0,4 - 1cm) có
tỷ lệ sống cao nhất (77,08%), CT1 (0,1 - 0,3cm) có tỷ lệ sống thấp nhất (41,66%), CT3 (1 - 1,5 cm) đạt tỷ lệ sống trung bình (52,5%) [25]
1.3.1.6 Mối quan hệ giữa cành ghép và gốc ghép
Gốc ghép tuy không ảnh h-ởng lớn đến di truyền của thân, cành ghép nh-ng nó vẫn có một số mặt sau đây tác động đến cây ghép:
Trang 25+ Gốc ghép ảnh h-ởng đến sự sinh tr-ởng của thân ghép, làm cho cây ghép sinh tr-ởng tốt hay không tốt, thông qua đó tán cây phát triển rộng hay hẹp
+ Gốc ghép ảnh h-ởng đến sự ra hoa, kết quả của cây ghép
+ Gốc ghép ảnh h-ởng đến phẩm chất quả của cây ghép, ảnh h-ởng đến khả năng chịu hạn, chịu úng, chống chịu bệnh…vv
Sự sinh tr-ởng, phát triển, năng suất, phẩm chất, tính chống chịu và tuổi thọ của cây ghép chịu ảnh h-ởng rất lớn của cây con làm gốc ghép nhất là khả năng tiếp hợp của gốc ghép với cành ghép Khả năng tiếp hợp là sự hài hoà về nhiều mặt: Hình thái giải phẫu, quan hệ họ hàng, đặc tính sinh lý, sinh thái… Gốc ghép cần t-ơng thích với cành ghép cả về hình thái và sinh lý Không thể ghép cành ghép rất lớn lên một gốc ghép nhỏ, t-ơng tự nếu cành ghép đang trong giai đoạn sinh tr-ởng mạnh còn gốc ghép đang trong thời kỳ ngủ thì chúng không nối đ-ợc với nhau vì nhựa cây không đủ để nuôi các tế bào hình thành nên chỗ ghép hợp nhất Trong quá trình sinh tr-ởng phát triển của cây ghép, thân cành ghép cũng ảnh h-ởng trở lại gốc ghép Thân, lá, cành ghép cung cấp chất dinh d-ỡng lấy từ quang hợp cho sự phát triển của bộ rễ và thân gốc ghép Vì vậy mức độ sinh tr-ởng của thân cành ghép ảnh h-ởng lớn đến gốc ghép, ng-ợc lại, bộ rễ gốc ghép cung cấp cung cấp n-ớc, dinh d-ỡng, chất khoáng cho cây [22]
Khó khăn lớn nhất ở quá trình ghép là tính t-ơng khắc giữa cành ghép
và gốc ghép Tính t-ơng khắc ghép cũng phụ thuộc vào cây mẹ cho cành ghép, làm cho cây ghép bị chết ngay trong vài ba năm đầu Số liệu thu thập ở
loài thông P.teada có tới 20% số cây ghép ở v-ờn giống thể hiện tính t-ơng khắc ở từng mức độ khác nhau Đối với bạch đàn E.deglupta, trong sáu năm
đầu, có tới 18% số cây ghép bị chết vì tính t-ơng khắc ghép, trong đó 10% chết vào năm thứ nhất, 5% chết vào năm thứ hai và 3% chết vào 4 năm còn lại
Trang 26Một trong những triệu chứng của tính t-ơng khắc ghép là chỗ ghép bị phình to
ra, hệ lá phát triển không bình th-ờng và cây ghép sớm ra nhiều hoa [27]
Nguyên nhân sâu xa của sự không hoà hợp giữa cành ghép và gốc ghép
có thể do sự khác biệt về sinh lý, sinh hoá giữa chúng hoặc do vi rut, nấm gây nên [13] Có thể khắc phục hiện t-ợng trên bằng các biện pháp kỹ thuật nh- tuyển chọn giống có phẩm chất di truyền tốt, vệ sinh gốc ghép và cành ghép tr-ớc khi tiến hành ghép kết hợp chăm sóc cây con ở giai đoạn v-ờn -ơm, nâng cao tính chống chịu và chọn cây cùng họ, cùng loài
1.3.2 Các nhân tố bên ngoài
1.3.2.1 Thời vụ ghép
Mùa vụ trong năm có ảnh h-ởng lớn đến hình thành và tích luỹ các chất trong cây nên cũng là nhân tố quan trọng trong nhân giống sinh d-ỡng Đối với cây thân gỗ rụng lá, thời điểm cây đã rụng hết lá cho đến tr-ớc khi sinh tr-ởng mạnh vào vụ xuân năm sau (thời điểm ngủ của vật liệu nhân giống) là lúc l-ợng hydratcacbon đ-ợc tích luỹ dồi dào nhất nên tiến hành nhân giống sinh d-ỡng thuận lợi nhất Đối với những loài cây lá rộng th-ờng xanh, có một hoặc nhiều mùa sinh tr-ởng trong năm, có thể lấy vật liệu nhân giống ở nhiều thời điểm phụ thuộc vào sự ra chồi của chúng Điều kiện thời tiết khi ghép và những ngày sau đó ảnh h-ởng lớn đến kết quả ghép, tốt nhất là tiến hành ghép vào lúc trời râm mát, độ ẩm đất và không khí cao Nhiệt độ thích hợp từ 20 -
300C tuỳ theo loài cây Vì vậy thời vụ ghép tốt nhất cho nhiều loài cây là đầu mùa xuân, đối với một số loài cây sinh tr-ởng th-ờng xuyên hoặc có 2 mùa sinh tr-ởng trong năm có thể ghép cả vụ xuân và vụ thu [13] Ví dụ:
+ Với loài mỡ ghép mắt vụ xuân có tỷ lệ sống (66,6%), cao hơn ghép cành (60,3%), ghép cành vào vụ thu cho tỷ lệ sống cao hơn rõ rệt (64,39%) so với ghép mắt (54,17%) [17]
+ Ghép nhãn, vải, b-ởi ở các tháng trong năm cho tỷ lệ ghép sống và tỷ
lệ xuất v-ờn khác nhau với 3 mức kết quả: tháng 3,4,9,10 có tỷ lệ ghép sống
Trang 27và tỷ lệ xuất v-ờn t-ơng đ-ơng nhau và kết quả đạt cao nhất (85 - 93% và 80 - 89%) Các tháng 5,6,7,8,11 có tỷ lệ sống và xuất v-ờn đạt mức trung bình và ghép ở các tháng 1,2,12 cho kết quả thấp nhất trong năm [14]
+ Thông hai lá ghép vào tháng 6 có tỷ lệ sống cao hơn (74,76%) so với ghép vào tháng10 (59,05%) [25]
+ Ghép quế (Cinnamomum cassia) vào vụ thu cho tỷ lệ sống (77%) cao hơn so với vụ xuân (70%) [39] Trong khi đó ghép hồi (illicium verum) tháng
11 đạt tỷ lệ sống sau 2 tháng là 89% ghép tháng 5 đạt 40,1% và ghép tháng 9
chỉ đạt 6,6% [25] Ghép tếch (Tectona grandis) ở Thái Lan, ấn Độ tỷ lệ sống
cây ghép vào mùa xuân cao hơn so với mùa thu và chồi ghép cũng sinh tr-ởng tốt hơn [27]
1.3.2.2 Ph-ơng pháp ghép
Ph-ơng pháp ghép là vấn đề kỹ thuật quan trọng ảnh h-ởng lớn đến kết quả ghép:
+ Nhân giống đào lộn hột bằng ph-ơng pháp ghép nêm sau 60 ngày đạt
tỷ lệ cây ghép sống cao hơn (90,7%) so với ph-ơng pháp ghép nối tiếp (88,0%) [11]
+ Dẻ Trùng khánh áp dụng ph-ơng pháp ghép nêm sau 42 ngày có tỷ lệ
ra chồi và sống cao nhất (89,5%), ph-ơng pháp ghép bên thân đạt 78,1%, ph-ơng pháp ghép mắt đạt thấp nhất (5,7%) [12]
+ Dùng ph-ơng pháp ghép áp và bọc túi nilon, kết hợp với việc che nắng sẽ làm tăng rõ rệt tỷ lệ sống của cây thông ghép (Sau 7 tháng tỷ lệ sống
Trang 281.3.2.4 ánh sáng
ánh sáng đóng vai trò chủ yếu ảnh h-ởng đến sinh tr-ởng, phát triển của cây, không có ánh sáng thì lá cây không quang hợp đ-ợc, vật liệu nhân giống sinh d-ỡng không thể phát triển thành cây con, ánh sáng còn liên quan
đến một số nhân tố khác nh- nhiệt độ, sự thoát hơi n-ớc của cây và một số phản ứng sinh hoá trong cây Nhìn chung nên hạn chế ánh sáng trực xạ cho cành ghép và hom giâm [13]
1.3.2.5 Độ ẩm
Độ ẩm của môi tr-ờng nhân giống có liên quan trực tiếp đến l-ợng n-ớc trong vật liệu nhân giống nên có vai trò hết sức quan trọng đến kết quả nhân giống Mọi quá trình sống trong vật liệu giống đều cần có n-ớc, tuy nhiên, nếu môi tr-ờng quá nhiều hoặc quá ít n-ớc thì vật liệu giống đều bị ảnh h-ởng, làm giảm khả năng nhân giống sinh d-ỡng Nhu cầu về độ ẩm của môi tr-ờng nhân giống cũng thay đổi theo loài cây và theo từng ph-ơng pháp nhân giống sinh d-ỡng Khi ghép cây, biện pháp quan trọng để đảm bảo cành ghép không chết do mất n-ớc là phải tạo đ-ợc tiếp xúc tốt giữa t-ợng tầng của cành ghép, mắt ghép và gốc ghép để n-ớc và dinh d-ỡng khoáng từ gốc ghép cung cấp cho cành, mắt ghép Cần hạn chế sự thoát hơi n-ớc của cành, mắt ghép tới mức thấp nhất khi vết ghép ch-a liền sinh Một trong những biện pháp hạn chế
Trang 29thoát hơi n-ớc của tổ hợp ghép một cách hiệu quả và tiện lợi là dùng nilon bọc kín tổ hợp ghép [13]
1.4 Yêu cầu kỹ thuật chủ yếu tạo cây ghép
Tạo cây ghép trên gốc ghép từ hạt gồm có 4 b-ớc kỹ thuật chủ yếu sau:
Trám trắng có rễ cọc rất phát triển, trong sản xuất cây con, từ khi -ơm
đến khi xuất v-ờn phải đảo bầu để hạn chế rễ cọc, sau mỗi lần đảo bầu, rễ cọc th-ờng bị đứt làm cho lá bị héo và cây con sinh tr-ởng chậm, nó phải mất một khoảng thời gian để hồi phục lại, hiện t-ợng này ảnh h-ởng đến chất l-ợng cây con khi trồng rừng
Tạo cây gốc ghép có bộ rễ khoẻ mạnh, hình thái lý t-ởng là có rễ cọc và
rễ bên phát triển, thuận lợi cho đánh chuyển và mang đi xa ít bị vỡ bầu, nó còn
có khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi khi đem trồng, nhanh chóng ổn
định thu chi n-ớc, giữ cho cây không bị héo Từ đó góp phần nâng cao tỷ lệ cây sống khi trồng rừng
Muốn tạo ra cây ghép khoẻ mạnh, gốc ghép phải đạt yêu cầu sau:
+ Có sức sinh tr-ởng t-ơng đ-ơng với cành ghép
+ Có bộ rễ sinh tr-ởng mạnh, phân nhánh tốt, nhiều rễ tơ
+ Thích ứng với điều kiện khí hậu của địa ph-ơng, chống chịu tốt với sâu và bệnh hại
+ Dễ nhân giống và sinh tr-ởng mạnh
Theo G.V Trusevic, gốc ghép có ảnh h-ởng rõ rệt đến khả năng sinh tr-ởng và tuổi thọ của cành ghép, ảnh h-ởng đến các dấu hiệu hình thái của tán cây, thời gian ra quả của giống (nhanh hay chậm) Các gốc ghép, gốc nhân
Trang 30vô tính làm cho cành ghép nhanh ra quả hơn gốc ghép gieo từ hạt Gốc ghép còn có ảnh h-ởng đến khả năng chống chịu của cành ghép đối với các điều kiện khí hậu, đất đai và sâu bệnh hại; Thời gian trải qua các giai đoạn sinh tr-ởng của cây dài hay ngắn và khả năng hấp thu dinh d-ỡng của cây [36]
Đ-ờng kính gốc ghép và bộ rễ gốc ghép là những chỉ tiêu hết sức quan trọng quyết định đến tỷ lệ sống của cây ghép và tỷ lệ xuất v-ờn Đ-ờng kính gốc ghép phải t-ơng thích với cành ghép, nếu đ-ờng kính gốc ghép quá nhỏ sẽ
ảnh h-ởng đến sự tiếp hợp với cành ghép đồng thời ảnh h-ởng đến sự sinh tr-ởng, phát triển của cây ghép sau này Trám trắng có hệ rễ cọc rất phát triển,
rễ bàng và rễ bên rất ít, nếu không có tác động kích thích tạo rễ bàng thì cây trám làm gốc ghép chỉ có một rễ cọc rất dài, rất ít rễ bàng và rễ bên, cây con th-ờng có rễ cọc đâm xuyên qua vỏ bầu, cắm sâu xuống đất, dù đ-ợc đảo bầu
2 lần vẫn có hiện t-ợng trên Khi đánh chuyển đi trồng, trám dễ bị tổn th-ơng, quá trình vận chuyển cây từ v-ờn -ơm đến nơi trồng rừng bị va chạm, làm lay gốc, cây ghép bị vỡ bầu, đứt các rễ non dẫn đến mất cân bằng thu chi n-ớc, cây bị héo và chết
Nghiên cứu tạo bộ rễ bàng cho cây trám làm gốc ghép là h-ớng đi mới, giải quyết yêu cầu của thực tế sản xuất đang đặt ra, đây cũng là giải pháp kỹ thuật góp phần nâng cao khả năng chống chịu của cây ghép, từ đó nâng cao tỷ
lệ sống rừng trồng
1.4.2 Thu cành ghép
Cành ghép cần đ-ợc thu hái và ghép lên gốc ghép càng nhanh càng tốt Cành ghép đ-ợc lấy từ v-ờn chuyên lấy cành hoặc trên v-ờn sản xuất với những cây mang đầy đủ các đặc tính của giống muốn nhân Cành ghép đ-ợc chọn ở giữa tầng tán, không có các đối t-ợng sâu bệnh nguy hiểm gây hại Cành ghép phải khoẻ mạnh, có nhiều chồi ngủ, cành ghép và gốc ghép phải t-ơng thích về đ-ờng kính và giai đoạn sinh tr-ởng Thao tác cắt phần gốc cành ghép phải đ-ợc tiến hành ngay tr-ớc khi ghép Nếu mô cắt để một thời
Trang 31gian tr-ớc khi đặt vào gốc ghép thì phần gốc cành sẽ bắt đầu hình thành một lớp bảo vệ gây cản trở các tế bào hợp nhất [23]
1.4.3 Nối cành ghép với gốc ghép
Cắt phẳng, sắc cành ghép và gốc ghép ngay tr-ớc khi ghép T-ợng tầng mạch của cành ghép cần đặt tiếp xúc sát với gốc ghép và buộc chặt cho tới khi vết ghép hợp nhất hình thành, tức là các hàng tế bào giữa phần trong và phần ngoài của cành cần đ-ợc chạm vào cùng các tế bào đó ở cành ghép sao cho hai mô có thể hợp nhất với nhau Chúng cần đ-ợc buộc chắc sao cho không bị khô
và các tế bào có thể hợp nhất đ-ợc Khi chuẩn bị cành ghép nên cắt bớt diện tích lá để giảm tối thiểu mất n-ớc vì cành ghép sẽ không hút đ-ợc n-ớc từ rễ cho đến khi chỗ ghép hình thành [23]
Nếu phân chia theo cách ghép thì có nhiều, nh-ng gộp chung lại thành hai cách: ghép áp cành hai cây sống gần nhau và ghép rời từng bộ phận của cây này với gốc của cây khác (cành, lá, mắt, rễ…) Cách ghép rời từng bộ phận lại có hai cách: Ghép cành và ghép mắt [10]
Các ph-ơng pháp ghép chủ yếu áp dụng trong lâm nghiệp là ghép cành
và ghép mắt [13]
- Ghép cành: Căn cứ vào cách cắt mặt tiếp xúc giữa cành và gốc ghép, ghép cành có thể đ-ợc phân thành hình thức ghép nối tiếp, ghép nêm, ghép chẻ ngọn, ghép bên thân
+ Ghép nêm: ph-ơng pháp ghép nêm đ-ợc sử dụng cả nhân giống trong v-ờn -ơm và ghép cải tạo v-ờn cây ăn quả Trên gốc ghép, cắt bỏ toàn bộ thân tán ở vị trí phù hợp, chọn cành ghép và cắt vát ở cả hai phía tạo thành hình chiếc nêm Chẻ đôi gốc ghép và cài cành ghép sao cho phần t-ợng tầng phía ngoài của cành ghép và gốc ghép đ-ợc trùng khớp và dùng dây nilon mỏng cuốn lại, tr-ớc hết cuốn nhiều vòng dây để cố định cành ghép vào gốc ghép, sau đó trải rộng dây ni lon và cuốn kín một l-ợt xung quanh cành ghép, đ-a dây ni lon trở lại cố định dây tại gốc ghép, có thể bọc toàn bộ cành ghép và tổ
Trang 32hợp ghép trong túi ni lon để hạn chế thoát hơi n-ớc, trong thực tế sản xuất th-ờng dùng dây ni lon mỏng chuyên dùng quấn kín tổ hợp ghép
Ghép nêm ở ngọn gốc ghép gọi là ghép chẻ ngọn Ph-ơng pháp này th-ờng đ-ợc áp dụng để ghép cà phê, điều, có -u điểm là tận dụng đ-ợc sức sinh tr-ởng mạnh của phần ngọn gốc ghép nên dễ thành công [13]
Thời gian liền lại của một tổ hợp ghép nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào loài cây, các giống loài dùng trong tổ hợp và những điều kiện khí hậu của môi tr-ờng ở n-ớc ta, thời gian liền lại của một tổ hợp ghép là 15 - 30 ngày tuỳ mùa ghép, tuỳ giống cây Cam, quýt, chanh ghép vào mùa xuân và mùa thu có thể mở dây buộc và cắt ngọn, gốc ghép sau khi ghép 10 - 15 ngày Nếu ghép trong mùa đông và mùa hè phải 30 ngày [36]
Cần t-ới đủ ẩm nh-ng tuyệt đối không để úng Yêu cầu cao nhất với luống -ơm sau ghép là sạch và tiêu n-ớc tốt Thúc phân nh- -ơm gốc ghép nh-ng giai đoạn sau cần tăng c-ờng thúc lân và can xi nhằm tăng tính chống chịu cho cây tr-ớc khi xuất v-ờn
-u thế đỉnh ở cây trám rất mạnh, nếu không bấm ngọn thì trục thân rất
rõ và chia cành không nhiều Đến tuổi tr-ởng thành -u thế này giảm bớt trám chia cành mới mạnh Đấu tranh và đào thải cành ở trám cũng rất mạnh mẽ, ở tuổi non, trám th-ờng chỉ duy trì 6 - 8 cấp cành, đến tuổi trung niên có thể duy trì tới 9 - 12 cấp cành nh-ng chỉ có 1 -2 cấp cành cuối cùng ở tuổi trung niên
và 2 - 3 cấp cành cuối cùng ở tuổi tr-ởng thành là cành sinh quả Kết quả điều
Trang 33tra ở Trung Quốc cho thấy nếu đánh số cấp cành từ ngoài vào trong thì cấp cành 1 tạo ra 56 - 58% sản l-ợng quả, cành cấp 2 tạo ra 25 - 27% sản l-ợng, cành cấp 3 chỉ tạo đ-ợc khoảng 6% sản l-ợng Duy trì quá nhiều cấp cành vừa khó khăn, vừa không cần thiết Do phần lớn hoa quả đều sinh ra từ mấy cấp cành cuối cùng phát ra từ lộc thu, lộc đông thời kỳ xuân hè, cần tạo điều kiện cho lộc xuân, hè v-ơn mạnh để nhanh mở rộng diện tích tán mà không cần đẻ nhánh, vào những tháng cuối năm mới cần xúc tiến phân cành để tăng nhanh cành sinh quả
Rất cần thiết tạo tán nhiều ngọn ngay trong giai đoạn v-ờn -ơm Phải c-ơng quyết bấm ngọn, kích chồi sau khi mắt ghép đ-ợc 5 - 6 lá, cố gắng tạo tán có 3 ngọn trở lên trên độ cao gần bằng nhau, hạn chế tối đa cạnh tranh và
đào thải lẫn nhau giữa các ngọn Cần giảm mật độ -ơm thích hợp để tạo tán tốt Cần đảo bầu, làm đứt rễ ngoài bầu ít nhất 4 tuần lễ và giảm t-ới, hãm cây
ít nhất là 2 tuần tr-ớc khi trồng [38]
Trong kỹ thuật làm v-ờn hiện đại, việc đốn, cắt, tỉa có thể coi là một kỹ thuật ngày càng đ-ợc áp dụng rộng rãi Mỗi cây ăn quả cần có một thế đứng vững, với một bộ khung cành khoẻ, phân phối đều trong tán cây để có thể mang một khối l-ợng lớn quả, đặc biệt nặng khi sắp chín Để mặc cho cây phát triển tự do thì cành yếu bị che khuất không có quả, cành khoẻ khi mang nhiều quả quá bị kiệt sức, ảnh h-ởng đến chất l-ợng, vừa dễ bị gãy Nhiều nhà nông đã nhận xét:” Xấu đều hơn tốt lỏi” để chỉ một số cây, một số cành mọc v-ợt lên không bao giờ đạt sản l-ợng cao bằng có một số cây đều, mỗi cây có một số cành khoẻ đều, ra hoa quả tập trung sản l-ợng cao, chất l-ợng tốt [9]
Trang 34Ch-ơng 2 Mục tiêu, đối t-ợng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
- Xác định đ-ợc một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu tạo cây con trám trắng ghép ở giai đoạn v-ờn -ơm phục vụ trồng rừng lấy quả
- Góp phần bổ sung và hoàn thiện qui trình kỹ thuật ghép trám trắng
2.2 Đối t-ợng nghiên cứu
Cây trám trắng (Canarium album (Lour.) Raeusch)
2.3 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
2.3.1 Phạm vi nghiên cứu
Cây con và cây trám ghép 1 tuổi (Canarium album (Lour.) Raeusch)
2.3.2 Giới hạn nghiên cứu
Cây trám trắng d-ới 12 tháng tuổi ở v-ờn -ơm tr-ờng Đại học lâm nghiệp
Trang 35Ch-ơng 3 Nội dung và ph-ơng pháp nghiên cứu
3.1 Nội dung nghiên cứu
1 Nghiên cứu thời vụ ghép
a ảnh h-ởng của thời vụ ghép đến tỷ lệ sống của cây ghép
b ảnh h-ởng của thời vụ ghép đến sinh tr-ởng chiều dài chồi
2 Nghiên cứu ph-ơng pháp ghép
- ảnh h-ởng của ph-ơng pháp ghép đến tỷ lệ sống của cây ghép
3 Nghiên cứu tuổi cây mẹ lấy cành ghép
4 Nghiên cứu tạo bộ rễ gốc ghép
a Thời gian ra rễ và số l-ợng rễ của cây mầm
b Sinh tr-ởng hệ rễ cây con 1 tháng, 4 tháng
c Sinh tr-ởng đ-ờng kính, chiều cao và hệ rễ cây con 12 tháng tuổi
d ảnh h-ởng của biện pháp cắt rễ mầm đến tỷ lệ sống của cây ghép sau khi trồng
e ảnh h-ởng của kích th-ớc bầu đến sinh tr-ởng đ-ờng kính, chiều cao
và số l-ợng rễ cây con (đã áp dụng biện pháp cắt rễ mầm)
5 Nghiên cứu tạo tán cây ghép
3.2.1.1 Nghiên c-ú thời vụ ghép
a ảnh h-ởng của thời vụ đến tỷ lệ sống của cây ghép:
Trang 36- Công thức thí nghiệm: Tiến hành 3 công thức thí nghiệm vào 3 thời vụ khác nhau trong năm, gốc ghép và cành ghép đều đảm bảo đồng nhất về tuổi,
đ-ờng kính, chiều cao và cùng xuất xứ
Mỗi công thức ghép 30 cây lặp lại 4 lần Tổng số cây làm thí nghiệm là
360 cây, do cùng một ng-ời thực hiện thao tác ghép
Vụ xuân Vụ thu Vụ đông
Chuẩn bị dụng cụ gồm: Kéo cắt cành, dao ghép, đá mài, nilon mỏng chuyên dùng Chăm sóc sau ghép: Che sáng bằng l-ới đen Trung Quốc trên dàn che tạm thời, t-ới gốc giữ ẩm, chú ý không làm n-ớc thấm vào vết ghép
- Thu thập số liệu: Theo dõi và ghi chép tỷ lệ sống của cây ghép định kỳ
2 tuần/lần, đến khi cây ghép đ-ợc 56 ngày thì kết thúc Kết quả theo dõi ghi vào biểu 3.1 (xem phần phụ lục)
b Nghiên cứu ảnh h-ởng của thời vụ ghép đến sinh tr-ởng chiều dài chồi: Sau khi thực hiện thí nghiệm 01, tiếp tục quan sát số cây ra chồi, định kỳ kiểm tra 2 tuần 1 lần, kết quả ghi vào biểu 3.2
Đo chiều dài chồi cây ghép định kỳ sau 2 tuần 1 lần, dụng cụ đo bằng th-ớc nhựa có vạch khắc đến mm, đo đếm cho đến khi cây ghép đạt 56 ngày tuổi thì kết thúc Kết quả ghi vào biểu 3.3
3.2.1.2 Nghiên cứu ph-ơng pháp ghép
- Công thức thí nghiệm: Sử dụng 2 công thức thí nghiệm, tiến hành ghép trong cùng 1 thời điểm Vật liệu ghép là gốc ghép, cành ghép đều đảm bảo đồng nhất về các tuổi, đ-ờng kính, chiều cao, xuất xứ Mỗi công thức
Trang 37ghép 30 cây lặp lại 3 lần, tổng số cây thí nghiệm 180 cây, do cùng một ng-ời thực hiện
3.2.1.3 Nghiên cứu tuổi cây mẹ lấy cành ghép
- Công thức thí nghiệm: Tiến hành đồng thời 3 công thức thí nghiệm trong cùng một thời gian, gốc ghép đảm bảo đồng nhất về các chỉ tiêu: tuổi,
đ-ờng kính, chiều cao Cành ghép lấy trong v-ờn giống đầu dòng Công ty giống lâm nghiệp vùng Đông bắc, thành phố Lạng Sơn trên cây mẹ ở 3 độ tuổi khác nhau
- Bố trí thí nghiệm 03:
+ Công thức 1: Cành ghép lấy từ cây mẹ 1 tuổi
+ Công thức 2: Cành ghép lấy từ cây mẹ 3 tuổi
+ Công thức 3: Cành ghép lấy từ cây mẹ 5 tuổi
Sau khi ghép, chăm sóc, t-ới n-ớc và che sáng
Trang 38- Thu thập số liệu: Theo dõi ghi chép tỷ lệ sống cây ghép định kỳ 7 ngày 1 lần và sau 60 ngày ghép thì kết thúc Kết quả ghi vào biểu 3.5
3.2.1.4 Nghiên cứu tạo bộ rễ gốc ghép
a Thời gian ra rễ và số l-ợng rễ của cây mầm:
- Công thức thí nghiệm: Hạt giống làm thí nghiệm có cùng một xuất xứ, trên cùng một lô, đồng nhất về các chỉ tiêu Đ-ợc ủ trong cát ẩm, theo qui trình gieo -ơm
Tiến hành thí nghiệm khi hạt nảy mầm Cắt đỉnh rễ của cây mầm sau
đó vùi trở lại luống cát ẩm, đến khi lá mầm của cây mạ xoè hết thì kết thúc thí nghiệm
- Bố trí thí nghiệm 04: Sau khi hạt nảy mầm, rễ mầm có chiều dài từ 2 -
3 cm, lá mầm ch-a xoè ra khỏi hạch quả Tiến hành cắt đỉnh rễ mầm theo 3 công thức
- Công thức 1: Cắt đỉnh rễ, phần còn lại dài 0,5 cm
- Công thức 2: Cắt đỉnh rễ, phần còn lại dài 1,0 cm
Chỉ tiêu đánh giá: Thời gian ra rễ, số l-ợng rễ, chiều dài rễ Sử dụng th-ớc nhựa có vạch khắc đến mm, đặt cây mầm lên trên rồi đo hoặc dùng bút
đánh dấu trên th-ớc, cần làm cẩn thận tránh làm gãy cây mầm vì giai đoạn này cây rất giòn, lá mầm vẫn ch-a xoè ra hết, dính trong hạch quả, cây mầm yếu ớt, rất dễ gãy
b Sinh tr-ởng rễ cây con 1 tháng tuổi và 4 tháng tuổi:
Trang 39- Công thức thí nghiệm: Tiến hành thí nghiệm theo ph-ơng pháp xếp bầu trên luống, chia làm 3 khối, theo 3 công thức, mỗi công thức 30 bầu, lặp lại 3 lần, tổng số bầu làm thí nghiệm là 270 bầu Cây con làm thí nghiệm đ-ợc chăm sóc theo cùng một chế độ
- Thu thập số liệu: khi cây con đ-ợc 30 ngày tuổi, tiến hành đo đếm số
rễ của cây tiêu chuẩn, mỗi công thức sử dụng 9 cây, tổng số cây đo đếm là 27 cây, ngâm cả bầu vào chậu n-ớc cho đất bong ra, sau đó để khô n-ớc, đo đếm
số l-ợng rễ và chiều dài rễ Kết quả đo đếm đ-ợc ghi vào biểu 3.7
Tiếp tục chăm sóc cây con đến khi đạt 120 ngày tuổi, tiến hành đo đếm, cách tiến hành t-ơng tự nh- với cây 1 tháng tuổi
c Sinh tr-ởng đ-ờng kính, chiều cao và hệ rễ cây con 12 tháng tuổi Cây con trong thí nghiệm 04 đ-ợc tiếp tục chăm sóc đến khi đạt 12 tháng tuổi, tiến hành đo đếm Sử dụng cây tiêu chuẩn để đo đếm, số l-ợng 9 cây/1 công thức
Các chỉ tiêu đo đếm: đ-ờng kính, chiều cao, số l-ợng rễ Sử dụng palme
có độ chính xác 0,2 mm để đo đ-ờng kính, đo chiều cao bằng th-ớc cuộn sắt có vạch khắc đến 1 mm Sinh khối rễ, thân lá cân bằng cân đồng hồ có vạch đo
đến gam Ph-ơng pháp tiến hành: ngâm cả bầu vào trong n-ớc cho đất bong ra rồi rửa nhiều lần cho sạch, thao tác cẩn thận không làm đứt các rễ cám và rễ con, lấy giấy thấm lau sạch và hong khô, cân trên cân đồng hồ, cắt và cân riêng
Trang 40phần rễ, thân và lá Tỷ lệ phần trăm sinh khối bằng trọng l-ợng rễ/trọng l-ợng cả cây x 100% Kết quả ghi vào biểu 3.8
d ảnh h-ởng của biện pháp cắt rễ mầm đến tỷ lệ sống của cây ghép sau khi trồng
2 x x x x x x x x X x x x x x x
Sử dụng cây con ở công thức 2 và công thức 3 trong thí nghiệm 04 làm gốc ghép, tiến hành ghép vào vụ xuân 2006, sau khi ghép 2 tháng, tiến hành trồng cây thí nghiệm theo 2 công thức, mỗi công thức 30 cây, bố trí trên 1 hàng Các chỉ tiêu về qui cách hố, bón phân, thời gian trồng, chế độ chăm sóc
đều đảm bảo đồng nhất
Làm đất cục bộ, đào hố 70 x 70 cm, cây cách cây 3 m, hàng cách hàng
3 m Bón lót 1 kg phân Vi sinh Sông Gianh + 1 kg NPK công thức 5:10:3, t-ới n-ớc giữ ẩm, làm cỏ, xới đất và chăm sóc
- Thu thập số liệu: Định kỳ theo dõi tỷ lệ sống sau 7 ngày Đến khi cây ghép đạt 4 tháng tuổi thì kết thức quan sát, Kết quả ghi vào biểu 3.9
e ảnh h-ởng của kích th-ớc bầu đến sinh tr-ởng đ-ờng kính, chiều cao
và hệ rễ cây con
- Công thức thí nghiệm: tiến hành 3 công thức thí nghiệm về kích th-ớc bầu
+ Công thức 1: Bầu 15 x 20 cm