Trong những đổi mới, sự phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV đã góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, t
Trang 1NGUYỄN THỊ THẢO
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HÒA BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Hà Nội, 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa Đào tạo Sau Đại học, Khoa Quản trị và Kinh tế, Phòng Đào tạo - Trường Đại học Lâm Nghiệp; UBND, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thống kê, Hội doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hòa Bình Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới
sự quan tâm giúp đỡ quý báu đó
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Hữu Dào, với tư cách là người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ và có những đóng góp quý báu cho luận văn
Tác giả xin gửi lời cảm ơn sự ủng hộ, giúp đỡ của gia đình, cảm ơn những nhận xét, đóng góp ý kiến và sự động viên của cơ quan, bạn bè đồng nghiệp
Tôi xin cam đoan số liệu thu thập, tính toán là trung thực và được trích dẫn rõ ràng
Tác giả
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa………
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt………i
Danh mục các bảng ii
Mở đầu 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa 3
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa 3
1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa 6
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa 10
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng và yêu cầu đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở việt nam 13
1.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam 13
1.2.2 Yêu cầu đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 18
1.3 Kinh nghiệm nước ngoài và một số địa phương trong nước về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 21
1.3.1 Kinh nghiệm ở nước ngoài 21
1.3.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 25
1.3.3 Bài học về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh Hòa Bình 29
Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 30
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 30
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 30
Trang 42.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 30
2.3 Nội dung nghiên cứu 30
2.4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 31
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 31
2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 32
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội tác động đến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh hòa bình 33
3.1.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Hòa Bình 33
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Hòa Bình 35
3.2 Thực trạng hoạt động và phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh hòa bình giai đoạn hiện nay 39
3.2.1 Sự phát triển về số lượng, loại hình, quy mô vốn và lao động 39
3.2.3 Trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực 48
3.2.4 Kết quả sản xuất kinh doanh và đóng góp cho ngân sách Nhà nước 51
3.3 Chính sách hỗ trợ phát triển loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh hòa bình 55
3.4 Đánh giá chung về kết quả phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh hòa bình 56
3.4.1 Thành tựu và nguyên nhân 56
3.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 59
3.5 Dự báo những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh hòa bình 63
3.5.1 Bối cảnh quốc tế 63
Trang 53.5.2 Bối cảnh trong nước 64
3.6 Quan điểm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh hòa bình 67
3.7 Một số giải pháp chủ yếu 70
3.7.1 Nhóm giải pháp về nâng cao nhận thức, tư tưởng 70
3.7.2 Nhóm giải pháp về hoàn thiện cơ chế, chính sách của tỉnh Hoà Bình 73
3.7.3 Nhóm giải pháp nâng cao nội lực doanh nghiệp nhỏ và vừa 80
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CN & XD Công nghiệp và xây dựng
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở EU 3
Bảng 1.2 Tiêu chí phân loại DNNVV và cực nhỏ của Nhật Bản 4
Bảng 3.2 Cơ cấu DNNVV trong tổng số DN dân doanh và FDI trên
Bảng 3.3 Cơ cấu DNNVV dân doanh trong tổng số DNNVV trên địa
Bảng 3.4 Quy mô vốn đăng ký kinh doanh của DNNVV dân doanh và
FDI ở tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2006 – 2010 43
Bảng 3.5 Vốn đăng ký bình quân DNNVV dân doanh và FDI ở tỉnh
Hòa Bình phân theo loại hình doanh nghiệp 43
Bảng 3.6 Tình hình phát triển DNNVV dân doanh và FDI ở tỉnh Hòa
Bảng 3.7 Phân bố DNNVV dân doanh và FDI trên địa bàn tỉnh Hòa
Bình năm 2010 theo cơ cấu ngành kinh tế 46 Bảng 3.8 Phân bố DNNVV tỉnh Hòa Bình theo vùng năm 2010 47
Bảng 3.9 Trình độ lao động trong DNNVV dân doanh và FDI tỉnh
Bảng 3.10 Kết quả sản xuất kinh doanh và đóng góp vào NSNN của các
DNNVV dân doanh và FDI trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 52
Trang 8MỞ ĐẦU
Thực tiễn cho sự phát triển kinh tế - xã hội ngày nay phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển của doanh nghiệp Việc huy động, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là các nguồn nội lực của nền kinh tế có vai trò quyết định, đảm bảo tính ổn định và bền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Trong những đổi mới, sự phát triển vượt bậc cả về số lượng
và chất lượng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đã góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho dân cư; góp phần đáng kể trong việc huy động nguồn vốn đầu tư cho sự phát triển kinh tế xã hội ở nước ta Những đóng góp đó có được một phần nhờ vào sự nỗ lực của bản thân các doanh nghiệp (DN), phần khác nhờ vào sự tác động của các cơ chế, chính sách đúng đắn đã tạo nền tảng hỗ trợ DNNVV, vị trí vai trò của các doanh nhân không những được xã hội thừa nhận mà còn được coi trọng, đề cao
Hoà Bình là một tỉnh thuộc khu vực Tây Bắc, có những thuận lợi nhất định để phát triển kinh tế - xã hội như sự phong phú về tài nguyên thiên nhiên,
về đất đai, rừng, nguồn nước và một số khoáng sản… Trong thời kỳ đổi mới, tỉnh đã xây dựng được hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, bước đầu tạo thuận lợi cho thu hút đầu tư trong và ngoài nước
Các cấp uỷ đảng và chính quyền địa phương của tỉnh đã quan tâm phát triển các loại hình DN Trong điều kiện của một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn, Hoà Bình đã cố gắng phát triển các loại hình DNNVV và đã thu được những thành tựu nhất định về tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và giải quyết việc làm cho đồng bào các dân tộc của địa phương Trong những năm gần đây, DNNVV của tỉnh đóng góp khoảng trên 20% tổng thu ngân sách và tạo thêm hàng ngàn việc làm tại chỗ cho địa phương
Trang 9Tuy vậy, hoạt động của các DNNVV của tỉnh vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn về vốn, công nghệ, nhân lực, thị trường tiêu thụ sản phẩm, mặt bằng sản xuất, chính sách thuế Trình độ đội ngũ doanh nhân của tỉnh vẫn còn bất cập, chưa thực sự năng động trong sự cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường Một số chủ trương, chính sách của cấp uỷ và chính quyền về DNNVV vẫn chậm được sửa đổi, bổ sung, chưa thực sự phù hợp với yêu cầu của tình hình mới như định hướng của Đại hội X của Đảng đã đề ra: “Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách đặc biệt về trợ giúp đầu tư phát triển sản xuất, nhất là đất sản xuất; trợ giúp đất ở, nhà ở, nước sạch, đào tạo nghề và tạo việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo; có chính sách khuyến khích mạnh các doanh
nghiệp, trước hết là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ giàu đầu tư vốn
phát triển sản xuất ở nông thôn, nhất là nông thôn vùng núi” [24, tr 217],
“Thực hiện chính sách ưu đãi hoặc hỗ trợ có điều kiện, có thời hạn đối với một số ngành, một số sản phẩm quan trọng, thiết yếu, một số mục tiêu, một số địa bàn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, không phân biệt thành phần kinh tế và phù hợp với các cam kết quốc tế của nước ta” [24, tr 231]
Những vấn đề bức xúc đó trong thực tiễn phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đang đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách căn bản, toàn diện để có các biện pháp giải quyết phù hợp
Xuất phát từ tình hình đó, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Nghiên cứu
đề xuất các giải pháp nhằm phát triển loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn
thạc sĩ của mình với mong muốn đóng góp một phần vào luận giải về những bức xúc trong phát triển loại hình DN này tại địa phương nhằm tìm ra những giải pháp thúc đẩy sự phát triển và tăng sự đóng góp của những DN này vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là khái niệm được sử dụng phổ biến trong nhiều công trình nghiên cứu về nhóm chủ thể kinh doanh có quy mô tương đối nhỏ và các chính sách đối với chúng ở các nước nói chung và ở Việt Nam nói riêng Cho đến nay, đã hình thành quan niệm chung về DNNVV là các
DN có quy mô tương đối nhỏ Sự khác nhau trong các quan niệm hiện hành chủ yếu tập trung vào ba điểm:
Thứ nhất, Quy mô DN được xác định theo những phương diện nào Thứ hai, DN quy mô như thế nào thì được xếp vào loại DNNVV
Thứ ba, có sự phân biệt về tiêu chí xác định DNNVV theo ngành kinh
tế hay không
Tại EU, tiêu chí để xác định DNNVV được căn cứ vào 3 yếu tố chính:
số lao động được sử dụng thường xuyên, doanh số bán hàng hàng năm và vốn đầu tư cho sản xuất:
Bảng 1 1 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở EU
Tiêu thức phân loại Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Doanh thu/ năm tối đa 7 triệu EURO 40 triệu EURO Tổng tài sản/ năm tối đa 5 triệu EURO 27 triệu EURO
Nguồn: SME definition, www modcontractsuk com
Tại Mỹ, doanh nghiệp (DN) được coi là DNNVV nếu có tổng giá trị tài sản dưới 5 triệu USD, lợi nhuận hàng năm dưới 2 triệu USD, số lao động bình quân hàng năm dưới 500 người Bên cạnh đó, tiêu chí để xác định DNNVV
Trang 11còn được phân biệt theo ngành kinh doanh Ngoài ra, trong Luật DNNVV của
Mỹ còn có thêm một số tiêu chuẩn định tính như: DNNVV là một xí nghiệp độc lập, không ở vào địa vị chi phối trong ngành của mình liên quan, khác hẳn với quan niệm ở Nhật, các công ty con hoặc xí nghiệp vệ tinh thuộc công
ty lớn vẫn được hưởng những đặc quyền của các DNNVV
Tại Nhật Bản, các tiêu chí để xác định DNNVV được thể hiện trong
“Luật cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ” năm 1963, được sửa đổi bổ sung năm 1970, cũng được phân biệt theo ngành
Bảng 1.2 Tiêu chí phân loại DNNVV và cực nhỏ của Nhật Bản
000USD ≤ 50 người ≤ 5 người
Nguồn: Tổng cục DNNVV Nhật Bản, www chusho miti go fp
Ở Việt Nam, theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP ban hành ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, tại khoản 1, điều 3, chương 1 đã nêu rõ “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí
ưu tiên)”, cụ thể như sau:
Trang 12Bảng 1.3 Tiêu chí phân loại DNNVV ở Việt Nam Quy mô
Khu vực
Doanh nghiệp siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động
I Nông, lâm
nghiệp và
thủy sản
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người
III Thương
mại và dịch vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến 50 người
từ trên 10 tỷ đồng đến
50 tỷ đồng
từ trên 50 người đến
100 người
Trong Nghị định này cũng nêu rõ tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp
Theo khái niệm này, DNNVV ở Việt Nam bao gồm các DN thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; các DN thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước; các HTX thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã; các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-
CP ngày 03 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh Đây là quan niệm tương đối toàn diện và được kế thừa sử dụng trong luận văn Tuy nhiên do công tác thu thập số liệu về các DNNN, HTX và hộ kinh doanh cá thể có nhiều khó khăn nên luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu khối
Trang 13DNNVV thuộc khu vực kinh tế tư nhân (DN dân doanh) và DNNVV có vốn đầu tư nước ngoài (DN FDI)
a) Quy mô tương đối nhỏ về lao động và vốn đầu tư
Xuất phát từ định nghĩa, quy mô lao động và vốn đầu tư tương đối nhỏ
là đặc điểm bao trùm của DNNVV, cho phép có thể nhận diện chúng trong sự phân biệt với các DN lớn Do các chủ thể của loại hình DN này thường xác định quy mô sản xuất kinh doanh ban đầu không lớn, nên số lượng lao động
và vốn đầu tư cần thiết cho việc thành lập và hoạt động thường không nhiều
Vốn đầu tư ban đầu cho mặt bằng kinh doanh, cho xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của các DNNVV có thể được huy động từ nhiều nguồn vốn phân tán nhỏ lẻ khác nhau như tiết kiệm cá nhân, gia đình, người thân thậm chí có thể tận dụng được mọi nguồn lực có sẵn như nhà cửa, nhân lực, vật liệu
để tiến hành sản xuất kinh doanh Quy mô nhỏ về vốn thích hợp với hoạt động của DNNVV trong điều kiện phân tán nhỏ lẻ để giảm thiểu chi phí cho các yếu tố đầu vào thông qua việc thuê nhân công giá rẻ, sử dụng nguyên vật liệu tại chỗ, giảm công vận chuyển Do vốn đầu tư ban đầu thấp, sẽ tạo ra cơ hội đầu tư đối với nhiều người, tạo điều kiện cho mọi tầng lớp nhân dân trong nước dù ở điều kiện văn hóa, giáo dục khác nhau đều có thể tìm đến cơ hội lập nghiệp
Tuy nhiên, hạn chế về nguồn lực tài chính gây khó khăn cho tích lũy cũng như huy động vốn để duy trì, phát triển mở rộng sản xuất, kinh doanh, của loại hình DN này Nguồn lực tài chính hạn chế cũng cản trở DNNVV khó trong tiếp cận các nguồn vốn từ ngân hàng vì thủ tục thế chấp phiền hà, cách xác định giá trị thế chấp để vay vốn chưa thực sự hợp lý Do tiềm lực tài chính yếu cho nên DNNVV không thể tiến hành các dự án đầu tư lớn, các dự
án đầu tư công cộng, không thể đầu tư công nghệ thiết bị tiên tiến,… Đây là
Trang 14vấn đề đã tồn đọng từ nhiều năm nay, để giải quyết cần tới nỗ lực của cả ngân hàng và DN DN phải nỗ lực hơn trong việc thực hiện tính minh bạch, công khai về tài chính
b) Đa dạng về hình thức sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối thu nhập
Do quy mô tương đối nhỏ về lao động và vốn đầu tư nên DNNVV có thể được hình thành trên cơ sở các hình thức sở hữu khác nhau về các điều kiện SXKD mà trước hết là về vốn đầu tư Mặc dù vậy, nhưng bộ phận chủ yếu của các DNNVV được hình thành và hoạt động trên cơ sở sở hữu tư nhân
Sự tồn tại và phát triển đa dạng của DNNVV về hình thức sở hữu và thành phần kinh tế ở nước ta là kết quả thực hiện chủ trương khôi phục và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ đổi mới kể từ Đại hội VI năm
1986 của Đảng nhằm khai thác và phát huy mọi nguồn lực cho phát triển Trong quá trình đó bên cạnh các DNNN, DN tập thể thì các DN thuộc kinh tế
tư nhân, tư bản nhà nước và có vốn đầu tư nước ngoài đã được quan tâm chú trọng phát triển Do trình độ phát triển của nền kinh tế còn tương đối thấp cho nên các DN của Việt Nam chủ yếu có quy mô nhỏ và vừa Trong tổng số các
DN thì các DN có quy mô lao động dưới 300 lao động chiếm tới 97,16%; các
DN có quy mô vốn dưới 10 tỷ VNĐ chiếm 87,07%
Sự đa dạng về hình thức sở hữu là cơ sở để hình thành và phát triển tính
đa dạng về hình thức tổ chức quản lý và phân phối thu nhập trong các DNNVV
ở nước ta Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) các DNNVV nhà nước dựa trên chế độ công hữu có thể được tổ chức quản lý
và hoạt động dưới các hình thức như DNNN trung ương hoặc địa phương, công
ty trách nhiệm hữu hạn (CTTNHH) một thành viên sở hữu nhà nước hoặc công
ty cổ phần (CTCP) có vốn nhà nước, DN liên doanh
Trên cơ sở hình thức sở hữu tập thể hình thành nên các hình thức DN tập thể như hợp tác xã (HTX), tổ hợp tác Trên cơ sở sở hữu tư nhân có thể thành
Trang 15lập các danh nghiệp tư nhân (DNTN), công ty hợp danh, CTTNHH một thành viên, CTTNHH hai thành viên trở lên, CTCP Trên cơ sở DN có vốn đầu tư nước ngoài hình thành và phát triển các DN có 100% vốn nước ngoài và các
DN liên doanh với nước ngoài (DN FDI)
Tính đa dạng về hình thức sở hữu, thành phần kinh tế cũng như hình thức tổ chức, quản lý, hoạt động và chế độ phân phối trong các DNNVV là cơ
sở khách quan thuận lợi cho việc thành lập và hoạt động của chúng ở nhiều nơi trong cả nước, từ thành thị cho tới các vùng nông thôn, miền núi Nhờ đó sẽ tạo thuận lợi cho việc huy động, khai thác và sử dụng tối đa, có hiệu quả các nguồn lực kinh tế như vốn, lao động, kỹ năng tay nghề, mặt bằng kinh doanh từ mọi tầng lớp dân cư và mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước Đồng thời, sự hiện diện của các DNNVV tại các chỗ trống, thiếu vắng các DN lớn có thể làm giảm bớt sự chênh lệch về phát triển kinh tế giữa các vùng, miền trong một quốc gia, giảm bớt luồng chảy lao động tập trung vào các thành phố, giảm bớt lao động thất nghiệp ở nông thôn
c) Đa dạng về ngành nghề
DNNVV có mặt trong tất cả ngành nghề, lĩnh vực và là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của nền kinh tế quốc dân, nó trở thành vệ tinh gắn
bó cơ hữu với các DN lớn trong hệ thống DN, có tác dụng hỗ trợ bổ sung cho những phần thiếu hụt thị trường của DN lớn DNNVV có phạm vi hoạt động rộng khắp trong toàn bộ nền kinh tế, nhưng thường hướng vào các hoạt động kinh doanh có tốc độ chu chuyển vốn cao như thương mại, dịch vụ, công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến thực phẩm
Sự đa dạng về hình thức sở hữu, tổ chức quản lý, phân phối thu nhập cùng sự phân bố của DNNVV trong tất cả các ngành kinh tế cho phép có thể tận dụng khai thác tối đa có hiệu quả những lợi thế tuyệt đối và so sánh dù lớn hay nhỏ của từng ngành, từng vùng cho phát triển kinh tế - xã hội Các
Trang 16DNNVV thường sử dụng các công nghệ trung gian vốn là cầu nối giữa công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại Lợi thế đặc biệt của công nghệ trung gian là sử dụng nhiều lao động, từ đó tạo nhiều cơ hội việc làm, giảm thất nghiệp Điều này rất cần thiết đối với một nước đang phát triển như Việt Nam Tuy vậy, sự đánh đổi lại là năng suất lao động và sức cạnh tranh kém so với các DN lớn
d) Năng động, nhạy bén trong kinh doanh, dễ thích nghi với sự biến đổi của thị trường
Với tư cách là chủ thể kinh doanh nhỏ và vừa, so với các DN lớn thì DNNVV có thể dễ dàng kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, nhanh chóng thích ứng với những nhu cầu cấp thiết của người tiêu dùng, thị trường, phản ứng nhanh với những thay đổi về chính sách thuế, tài chính tín dụng Thích hợp với quy mô nhỏ, hệ thống truyền tải thông tin nội bộ và với các đối tác của DNNVV thường đơn giản, nhanh chóng, hiệu quả Hệ thống quan hệ cá nhân trong hoạt động sản xuất kinh doanh có thể phát huy hiệu quả tích cực cao hơn nhiều so với các DN lớn Khả năng di chuyển vốn tương đối
dễ dàng từ ngành, vùng này sang ngành, vùng khác cùng với mục tiêu hiệu quả kinh tế là cơ sở của tính nhạy bén, linh hoạt, thích ứng nhanh của DNNVV với sự biến động của thị trường, thậm chí đối với các loại hình đầu
tư mạo hiểm
Đây là ưu thế nổi trội của DNNVV Do có mối liên hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu dùng nên DNNVV có thể phản ứng nhanh nhạy với những biến động của thị trường Với hệ thống tổ chức sản xuất, quản lý gọn nhẹ, cơ sở vật chất kỹ thuật không lớn, công việc điều hành mang tính trực tiếp, DNNVV dễ dàng thay đổi sản xuất, chuyển hướng kinh doanh theo yêu cầu của thị trường Trong điều kiện cạnh tranh quyết liệt hiện nay, DNNVV
có thể nhanh chóng thay đổi quyết định, kế hoạch đầu tư, đổi mới công nghệ,
Trang 17thậm chí chuyển đổi mặt hàng để đáp ứng kịp thời sự thay đổi nhanh chóng về
sở thích của nhóm khách hàng tiềm tàng Linh hoạt, sáng tạo và năng động thực sự là những tố chất cần thiết mà các doanh nghiệp cần phải có trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường như nước ta hiện nay
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
DNNVV có vị trí, vai trò rất quan trọng, là động lực ổn định và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong nền kinh tế thị trường, do đó luôn là đối tượng quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ của các chính phủ Những vai trò chủ yếu của DNNVV bao gồm:
Thứ nhất, huy động và khai thác có hiệu quả các nguồn vốn, đặc biệt là
những nguồn vốn nhỏ lẻ, phân tán trong nền kinh tế từ từ mọi tầng lớp dân
cư, thành phần kinh tế cho phát triển kinh tế - xã hội
Là một quốc gia có xuất phát điểm từ trình độ phát triển kinh tế thấp, vốn đầu tư luôn là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam DNNVV góp phần tận thu các nguồn vốn tiềm tàng trong cư dân Việc khởi sự một DNNVV với lợi thế vốn nhỏ, khả năng thu hồi vốn nhanh sẽ là cơ hội để huy động được các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư vào sản xuất kinh doanh
Thứ hai, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Sự gia tăng không
ngừng về số lượng và vốn đầu tư đã không ngừng mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNVV, từ đó góp phần ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Thứ ba, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH
Tác động của sự phát triển DNNVV tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện trên các phương diện:
Một là, đẩy nhanh sự phát triển của các ngành dịch vụ và công nghiệp
DNNVV là chủ thể năng động và nhanh nhạy trong hầu hết các lĩnh vực sản
Trang 18xuất kinh doanh Tuy nhiên, các DNNVV chiếm số lượng đông đảo nhất trong lĩnh vực phân phối sản phẩm tới người tiêu dùng thông qua các hoạt động bán buôn và bán lẻ, tiếp theo là trong các ngành sản xuất chế biến, kinh doanh nhà hàng, khách sạn, kho bãi, giao thông vận tải, và thông tin liên lạc, nhờ đó góp phần đẩy nhanh sự phát triển của các ngành dịch vụ và công nghiệp trong quan hệ so sánh với nông nghiệp Tuy có quy mô hạn chế nhưng với số lượng lớn, DNNVV đã tạo thành mạng lưới kinh doanh rộng khắp, kể
cả địa bàn nông thôn, trở thành lực lượng chủ yếu trong tiêu thụ nông sản và phân phối vật tư và hàng công nghiệp tiêu dùng cho nông dân
Hai là, góp phần bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống, mở
rộng các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp ở nông thôn
Các làng nghề truyền thống có từ hàng trăm năm nay, đó không chỉ là một phần bản sắc văn hoá dân tộc mà là cơ sở để có thể phát huy hiệu quả kinh tế vùng Xuất phát từ thực tế là các ngành nghề truyền thống thường không tập trung ở một vùng nhất định nào mà nó hình thành và phát triển ở nhiều địa phương khác nhau Sự đa dạng và tính linh hoạt trong hoạt động của các DNNVV có thể đáp ứng tốt nhất điều kiện này Sản phẩm truyền thống chủ yếu lại không được sản xuất hàng loạt mà chủ yếu sản xuất theo qui mô nhỏ Nhiều sản phẩm truyền thống chỉ có thể được tạo ra bằng những đôi bàn tay khéo léo với sự sáng tạo của các nghệ nhân mang tính chất cha truyền con nối Hơn nữa vốn đầu tư vào hoạt động thường là không nhiều nên phù hợp với qui mô sản xuất, vốn cũng như cách tổ chức quản lý của DNNVV
Thứ tư, góp phần thúc đẩy xuất nhập khẩu Trong lĩnh vực xuất nhập
khẩu, với chính sách mở rộng và khuyến khích thương mại quốc tế, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu, DNNVV đã năng động đầu tư vào các ngành nghề có nhiều lợi thế như các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, nông sản và thuỷ sản chế biến, chủ động tìm
Trang 19kiếm và khai thác thị trường quốc tế qua đó góp phần tích cực tăng kim ngạch xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước
Thứ năm, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động Giải quyết
việc làm luôn là vấn đề bức xúc trong phát triển kinh tế thị trường Từ thực tế phát triển kinh tế ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới có thể thấy rằng số lượng lao động trong các DNNVV chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng số lao động trong các DN So với các DN lớn thì các DNNVV có tốc độ thu hút lao động cao hơn rất nhiều, vì có thể thu hút lao động thuộc nhiều thành phần, nhiều trình độ chuyên môn, tay nghề khác nhau từ công nghệ hiện đại đến thủ công truyền thống, những lao động chưa qua đào tạo hoặc đã qua đào tạo Trong khi các DN lớn nhìn chung thường thu hút lao động lành nghề, lao động có trình độ chuyên môn nhất định
Sự tăng trưởng lâu dài và ổn định về số lượng việc làm do các DNNVV tạo ra góp phần làm cho mức thu nhập của người dân nói chung được giữ vững hoặc nâng cao, sức mua xã hội được duy trì và cải thiện, tăng cường tính linh hoạt và thích ứng với nền kinh tế, tạo điều kiện cho một sự phát triển ổn định và bền vững trong nền kinh tế
Thứ sáu, đóng góp nguồn thu cho ngân sách nhà nước (NSNN) Ở
nước ta, đóng góp vào nguồn thu NSNN của DNNVV cũng đang có xu hướng tăng lên, từ khoảng 6,4% năm 2001 lên hơn 10,2% năm 2008 Năm 2008 tăng 5,9% so với năm 2007, đạt 40.618 tỷ đồng, chiếm 19,8% tổng thu nội địa và 10,2% tổng thu cân đối ngân sách So với Ngân sách Trung ương, đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân (chủ yếu là DNNVV) trong nguồn thu của ngân sách địa phương lớn hơn nhiều
Tóm lại, DNNVV có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước và vai trò này ngày càng được tăng lên cùng với quá trình CNH, HĐH, bởi DNNVV đang là động lực cho phát triển kinh tế,
Trang 20tạo công ăn việc làm, thu hút vốn và các nguồn lực khác, chuyển dịch cơ cấu kinh tế… Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của mình, DNNVV vẫn gặp không ít khó khăn, vướng mắc cần tiếp tục phải tháo gỡ nhìn từ phía nỗ lực của doanh nghiệp và sự hỗ trợ phù hợp của chính phủ
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng và yêu cầu đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở việt nam
1.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Sự hình thành và phát triển của DNNVV chịu tác động của rất nhiều các yếu tố tùy theo điều kiện hiện có về tự nhiên, kinh tế - xã hội và lịch sử của từng quốc gia và vùng lãnh thổ Ở Việt Nam hiện nay, các nhân tố chủ yếu đang có tác động lớn đến sự phát triển của DNNVV bao gồm:
- Trình độ phát triển của phân công lao động xã hội trên cơ sở ứng
dụng tiến bộ khoa học – công nghệ trong nền kinh tế thị trường
Sự phát triển của phân công lao động xã hội thể hiện thông qua quá trình hình thành và phát triển những ngành, nghề mới Dưới tác động của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, hàng loạt những ngành, nghề mới được hình thành, đặc biệt là các ngành dịch vụ mà hoạt động trong những ngành này có thể thực hiện với quy mô nhỏ và vừa về vốn cũng như lao động Đây cũng là một trong những nguyên nhân phát triển nhanh của các DNNVV tại các nước phát triển và đóng góp của chúng đối với sự phát triển của các ngành dịch vụ
Sự phát triển của phân công lao động xã hội trong cơ chế thị trường còn thể hiện thông qua quá trình phân tách các chức năng trong sản xuất, kinh doanh từng sản phẩm hoàn chỉnh thành những chức năng riêng biệt của từng chủ thể kinh doanh tương đối độc lập Đó là quá trình phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ trong trong sản xuất công nghiệp cũng như quá trình phát triển của hệ thống lưu thông phân phối, mà chủ thể của các ngành này thường
Trang 21là các DNNVV Do đó, phân công lao động xã hội dưới tác động của cơ chế thị trường và cách mạng khoa học công nghệ không những tạo điều kiện cho
sự hình thành và phát triển nhanh của DNNVV, mà còn kích thích quá trình liên kết cùng kinh doanh giữa các DN lớn với các DNNVV
Tuy nhiên, tác động của phân công lao động tới sự phát triển của DNNVV lớn hay nhỏ còn phụ thuộc vào nhiều tình hình như trình độ phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, hệ thống thị trường, thể chế và chính sách kinh tế Tại Việt Nam, sự phát triển của phân công lao động
xã hội trong thời gian qua dưới tác động của cách mạng khoa học và công nghệ và cơ chế thị trường cùng sự hoàn thiện, nâng cấp của hệ thống kết cấu
hạ tầng như giao thông vận tải, thông tin liên lạc, các khu, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và những đổi mới về thể chế, chính sách kinh tế đã tạo nhiều thuận lợi cho sự phát triển của các DNNVV Tuy nhiên,
để tăng cường tác động của phân công lao động tới sự phát triển của DNNVV vẫn còn rất nhiều việc phải làm nhằm tiếp tục tạo thuận lợi cho DNNVV có thể giảm được chi phí nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Trình độ phát triển của hệ thống thị trường
Với tư cách là chủ thể của nền kinh tế thị trường, hoạt động của các DNNVV luôn dựa vào thị trường và phải chịu tác động của các quy luật giá trị, giá cả, cung cầu trên theo cơ chế cạnh tranh Để hoạt động kinh doanh của các DNNVV có thể diễn ra thuận lợi cần có một hệ thống thị trường hoàn thiện, thống nhất và đồng bộ, bao gồm thị trường các yếu tố đầu vào như thị trường vốn, thị trường tư liệu sản xuất, thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học công nghệ và thị trường đầu ra
Sự phát triển của hệ thống thị trường đầu vào và đầu ra của sản xuất có vai trò cung cấp một cách ổn định các yếu tố đầu vào cho DNNVV, là điều kiện cho quá trình tuần hoàn vốn của DNNVV có thể thực hiện liên tục, chu
Trang 22chuyển vốn nhanh, tạo cơ sở cho việc đảm bảo và nâng cao hiệu quả kinh doanh của DNNVV Đồng thời, trình độ phát triển và mức độ đồng bộ của hệ thống thị trường cũng giúp cho DNNVV có được hệ thống thông tin về tình hình cung, cầu, cạnh tranh tốt hơn để có thể xây dựng và thực hiện các chiến lược kinh doanh có hiệu quả Ngoài ra, áp lực cạnh tranh trên thị thường không những là thách thức lớn đối với sự tồn tại và phát triển của DNNVV,
mà còn có tác dụng tích cực, buộc các DNNVV phải không ngừng tự hoàn thiện để nâng cao sức cạnh tranh và vươn lên
- Trình độ phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật
Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật bao gồm tổng thể các ngành, các loại hình hoạt động, các yếu tố, các phương tiện vật chất kỹ thuật, các thiết bị và các công trình đóng vai trò là điều kiện chung phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh như hệ thống đường giao thông, hệ thống cung cấp điện, cung cấp nước, hệ thống thông tin liên lạc Kết cấu hạ tầng phát triển là điều kiện quan trọng đảm bảo cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể kinh tế nói chung và các DNNVV nói riêng có thể thực hiện một cách
ổn định và bền vững Sự phát triển của hệ thống đường giao thông và thông tin liên lạc sẽ tạo thuận lợi cho các hoạt động giao lưu kinh tế giữa các chủ thể kinh tế, các vùng miền và quốc gia Sự ổn định của hệ thống cung cấp điện, nước là điều kiện đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh có thể diễn ra
ổn định, thông suốt và hiệu quả
Trong những năm qua, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật của Việt Nam đã từng bước được phát triển, trở thành nhân tố làm tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư Tuy nhiên, sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật mới chỉ được thực hiện chủ yếu tại các trung tâm kinh
tế lớn, các vùng kinh tế trọng điểm, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu phát triển của các DNNVV, đặc biệt tại các vùng núi, vùng sâu, vùng xa
Trang 23- Hệ thống quan điểm, cơ chế chính sách của Nhà nước
Trong cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh là tất yếu Cạnh tranh tự do, như V I Lênin đã chỉ ra, tất yếu sẽ dẫn tới độc quyền,
do đó sẽ làm cho các DNNVV đã yếu lại càng yếu hơn trước sức mạnh của các tổ chức độc quyền, đặc biệt là các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia, từ
đó khả năng thất bại, phá sản của DNNVV trong nền kinh tế thị trường là rất lớn Với vị trí vai trò đặc biệt quan trọng của DNNVV trong phát triển kinh tế
- xã hội, tại mọi quốc gia ngày nay đều phải thiết lập môi trường thể chế thuận lợi và thực hiện các chính sách hỗ trợ phù hợp nhằm giảm bớt rủi ro đối với hoạt động kinh doanh của DNNVV
Tuy vậy, hệ thống chính sách kể trên cũng còn những Biểu hiện bất cập, thiếu đồng bộ, chồng chéo: trong khi khẳng định quan điểm bình đẳng trong kinh doanh nhưng thực tế vẫn còn sự phân biệt đối xử giữa các DN thuộc các thành phần kinh tế khác nhau; chưa có một tổ chức xúc tiến việc liên kết DN lớn với các DNNVV; chưa có tổ chức quần chúng thực sự đủ mạnh để lên tiếng nói bảo vệ lợi ích của người lao động trong các DN đặc biệt
là DN có vốn FDI Từ đó đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện các chính sách đó nhằm hướng tới một mội trường bình đẳng hơn, thiết thực hơn trong quá trình đổi mới và hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới
Chính quyền địa phương là một bộ phận trực thuộc Chính phủ, vừa có chức năng quản lý nhà nước đối với khu vực dân cư thuộc địa phận của mình lại vừa trực tiếp quản lý DN nên có vai trò lớn đối với hoạt động của DN tại địa phương nhìn từ góc độ quản lý và cơ chế:
Thứ nhất, thực hiện các chế định do Nhà nước ban hành để tạo môi
trường kinh doanh tối ưu, định hướng, hỗ trợ DN phát triển đúng định hướng kinh doanh và tuân thủ luật pháp
Trang 24Thứ hai, kiểm tra và điều chỉnh môi trường kinh doanh đã được thiết
lập Thông qua việc kiểm tra để tiến hành đối chiếu, so sánh với các tiêu chuẩn nhằm xác định mức độ phù hợp của chính sách với yêu cầu của thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh
Thứ ba, phân bổ nguồn lực có hạn của địa phương theo hướng có lợi
nhất vì mục tiêu tăng trưởng và tiến bộ xã hội, như: tài nguyên rừng, biển, đất đai, vốn, nguồn nhân lực…
Thứ tư, thực hiện chính sách phân phối thu nhập công bằng tại địa
phương, đảm bảo phúc lợi xã hội và không ngừng nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho đại bộ phân dân cư
- Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Toàn hoá kinh tế ngày nay là xu hướng khách quan, lôi cuốn các nước tham gia, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế, tạo
ra cơ hội lớn cho các quốc gia tranh thủ phát triển rút ngắn, đồng thời cũng tạo ra những thách thức không nhỏ đối với các nền kinh tế hội nhập Hội nhập kinh tế quốc tế thể hiện sự tham gia, gắn kết nền kinh tế của một nước vào các nền kinh tế khu vực và toàn cầu, đã và đang đặt chủ thể kinh tế trong nước, trong đó có các DNNVV vào môi trường hoạt động mới
Hội nhập tạo thuận lợi mở ra thị trường mới, thị trường nước ngoài,
từ đó có tác động mở rộng phạm vi hoạt động cho DNNVV, tạo cơ hội cho DNNVV của Việt Nam có thể thâm nhập vào các thị trường các nước khác, đổi mới công nghệ và không ngừng lớn mạnh Thực tế cho thấy, kể từ khi thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, các hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam không ngừng được mở rộng, DNNVV ngày càng gắn với thị trường nước ngoài, không ít DNNVV đã lớn lên nhờ hoạt động xuất nhập khẩu Tuy nhiên, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế đã và đang đặt ra
Trang 25nhiều thách thức rất lớn đối với các DNNVV của Việt Nam DNNVV không những phải cạnh tranh với các đối thủ trong nước, mà còn phải đối mặt với những đối thủ cạnh tranh nước ngoài, không những tại các thị trường nước ngoài mà cả ngay tại các thị trường trong nước
Trong bối cảnh đó các DNNVV cần phải tự phấn đấu vươn lên để vượt qua thách thức Sức ép từ cạnh tranh quốc tế đòi hỏi DNNVV phải không ngừng nâng cao sức cạnh tranh Để làm được điều đó, DNNVV nước ta không những phải nhanh chóng nghiên cứu nắm vững hệ thống thông lệ, luật pháp thương mại quốc tế, mà còn phải không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chú trọng tới công tác nghiên cứu dự báo nhu cầu thị trường, cung ứng hàng hoá và dịch vụ với chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, hoàn thiện phong cách phục vụ hiện đại, quan tâm phát triển các dịch vụ sau bán hàng…
1.2.2 Yêu cầu đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Tham gia tích cực vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế
Với tư cách là chủ thể đang chiếm tỷ trọng áp đảo trong nền kinh tế nước ta hiện nay và để phát huy vai trò to lớn trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội, DNNVV cần phải đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước Để góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, DNNVV phải là chủ thể tích cực của quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh
tế quốc tế Trong điều kiện trình độ phát triển kinh tế còn thấp, để đẩy mạnh CNH, HĐH nhằm nhanh chóng tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cho chủ nghĩa xã hội cần huy động và khai thác mọi nguồn lực từ các tầng lớp dân cư, thành phần kinh tế, phát huy mạnh mẽ nội lực đi đôi với tranh thủ tối đa, có hiệu quả các nguồn ngoại lực Chính vì lẽ đó mà Đảng ta đã xác định CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó có
Trang 26DNNVV Với tỷ trọng lớn về số lượng, phân bố rộng khắp theo ngành, theo vùng, sự tham gia tích cực của DNNVV vào quá trình mở rộng và phát triển các ngành nghề kinh doanh là điều kiện quan trọng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng của nông nghiệp và tăng dần tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ Đồng thời, sự phát triển của DNNVV cũng tạo môi trường cho quá trình thực hiện cách mạng khoa học – công nghệ theo những hình thức và bước đi phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay Chính sự tồn tại và phát triển của DNNVV là điều kiện để thực hiện sự kết hợp sử dụng công nghệ nhiều trình độ với những quy mô thích hợp, thực hiện kết hợp giữa công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, cho phép tận dụng khai thác những lợi thế phát triển hiện có theo chiều rộng, tạo cơ sở cho
sự phát triển theo chiều sâu Do đó, để đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nhằm đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp về cơ bản vào năm 2020, cần phải có sự đóng góp to lớn, chủ động tích cực của DNNVV
Đối với quốc gia với tỷ trọng dân số nông thôn lao động nông nghiệp lớn, hoạt động của DNNVV phải thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, vừa đưa tư duy làm ăn hiệu quả vào cuộc sống, thay đổi tác phong cũng như suy nghĩ tiểu nông của một bộ phận cư dân nông thôn nước ta, vừa góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp tại nông thôn
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, DNNVV phải trở thành lực lượng nòng cốt tại các khu công nghiệp, khu chế xuất Sự tham gia tích cực vào sản xuất kinh doanh với các mô hình hoạt động hết sức phong phú, đa dạng về ngành nghề, về thành phần kinh tế khác nhau, là điều kiện để phát huy những lợi thế tuyệt đối và so sánh của đất nước nói chung và từng địa phương nói riêng để hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả Hệ thống các DNNVV cần tạo ra cầu nối giữa thị trường trong nước với các thị trường quốc
Trang 27tế, vừa góp phần khai thác có hiệu quả các nguồn lực về lao động, tài nguyên thiên nhiên, vừa góp phần tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp truyền thống của các địa phương để đẩy mạnh xuất khẩu Sự phát triển của DNNVV còn phải hướng vào các ngành công nghiệp phụ trợ, tạo điều kiện nâng cao tính hấp dẫn của môi trường thu hút vốn đầu tư nước ngoài để tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý hiện đại và thị trường rộng lớn ngoài nước
- Tham gia sản xuất hàng hóa và dịch vụ phục vụ nhu cầu dân sinh
Số lượng lớn và phạm vi hoạt động rộng khắp trong nhiều ngành, nghề, vùng, miền khác nhau của nền kinh tế, hệ thống DNNVV cần phải không ngừng tăng số lượng, chủng loại và nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường Việc gia tăng số lượng các sản phẩm cung ứng trên thị trường có tác dụng thúc đẩy cầu trên thị trường hàng hoá và dịch vụ Các yếu tố đầu vào của sản xuất gia tăng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, qua đó góp phần nâng cao đời sống của người dân Trong những năm qua, sự phát triển nhanh chóng của DNNVV đã tạo ra lượng hàng hóa và dịch vụ ngày càng lớn để phục vụ các nhu cầu dân sinh, đặc biệt là những nhu cầu tại chỗ cho các địa phương Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng về số lượng hàng hóa và dịch vụ do các DNNVV sản xuất ra chưa thực sự tương xứng với những yêu cầu ngày càng cao của dân cư về chất lượng hàng hóa và dịch vụ, do đó bên cạnh yêu cầu tích cực tham gia sản xuất các mặt hàng thay thế nhập khẩu, DNNVV phải không ngừng nâng cao chất lượng hàng hóa và dịch vụ phù hợp với xu thế mở rộng và ngày càng khó tính của các nhu cầu xã hội Trong bối cảnh đó, DNNVV không những phải trở thành cầu nối các khâu sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng trong các khu vực của nền kinh tế, mà còn phải trở thành chủ thể không ngừng nâng cao chất lượng hàng hóa và dịch vụ Đối với khu vực nông thôn, để nâng cao chất lượng hàng hóa nông sản, DNNVV phải trở thành mô hình thúc đẩy sợi dây liên kết trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay
Trang 28- Không ngừng nâng cao sức cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập
Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ, để trở thành chủ thể của quá trình CNH, HĐH, chủ thể chủ yếu cung cấp hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước, DNNVV phải không ngừng nâng cao sức cạnh tranh
Nâng cao sức cạnh tranh là nội dung chủ yếu trong chương trình hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ của DNNVV, mà còn của cả nền kinh tế Việt Nam Nội dung này đến nay vẫn còn khá nặng nề cần sự cố gắng nỗ lực của đội ngũ doanh nhân và các cấp chính quyền trong một thời gian dài Yêu cầu hội nhập là một tất yếu nhưng hội nhập thành công lại là điều không hề dễ dàng gì, thậm chí chúng ta có thể “thua” ngay trên “sân nhà” với các sản phẩm dù là có thế mạnh trong nhiều năm Điều này đặt ra đối với DNNVV một bài toán khó, nhưng phải giải quyết trong một khoảng thời gian ngắn vì hội nhập kinh tế quốc tế không có thời gian để chờ đợi bất kỳ ai Thành công của hội nhập kinh tế quốc tế đối với một quốc gia phụ thuộc vào sự thành công trong hội nhập kinh tế quốc tế của các
DN nói chung và DNNVV nói riêng
1.3 Kinh nghiệm nước ngoài và một số địa phương trong nước về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Mô hình phát triển các DNNVV ở các nước trên thế giới hết sức đa dạng và phong phú vì mỗi quốc gia đều có lịch sử kinh tế cũng như thói quen, văn hóa riêng của mình Vai trò của hệ thống DNNVV trong các nền kinh tế
dù phát triển hay đang phát triển cũng hết sức quan trọng và luôn nhận được
sự quan tâm, tạo điều kiện, hỗ trợ từ phía chính phủ ở các góc độ khác nhau Đối với các nước thuộc tổ chức OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế), khoảng 60% GDP do DNNVV đóng góp Vì thế, tham khảo kinh nghiệm
từ các nước trên thế giới trong việc quan tâm, hỗ trợ dưới góc nhìn chính sách
Trang 29sẽ có tác dụng tốt đối với quá trình vận động của DNNVV ở Việt Nam nói chung và tại tỉnh Hòa Bình nói riêng
1.3.1.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Ở Nhật Bản, DNNVV chiếm khoảng 90% tổng số DN hiện có; 80% lao động và 50% giá trị sản xuất công nghiệp hàng năm Các chính sách hỗ trợ
phát triển DNNVV của Nhật Bản gồm hai nhóm chính:
- Một là, hỗ trợ để tăng cường năng lực kinh doanh của DNNVV thông
qua cho vay vốn tín dụng của Nhà nước, cải thiện về vốn qua các công ty cổ phần, định thuế ưu đãi,…
- Hai là, hỗ trợ thay đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh, bao gồm các biện
pháp hỗ trợ cho việc tạo ra kinh doanh mới, hỗ trợ phát triển kỹ thuật…
Luật cơ bản về doanh nghiệp nhỏ của Nhật Bản năm 1993 quy định những vấn đề có tính nguyên tắc để hỗ trợ cho các DN nhỏ hoạt động như là nhà cung cấp bộ phận cấu kiện cho các DN lớn hoặc thực hiện hoạt động gia công cho các DN lớn Một biện pháp quan trọng để hỗ trợ phát triển DNNVV
là khuyến khích mở rộng đầu tư Để thực hiện biện pháp này, Chính phủ Nhật
và các hiệp hội đã giành một khoản kinh phí lớn để thực hiện chương trình hiện đại hoá DNNVV Kinh phí này tăng dần qua các năm và nguồn tài trợ được tập trung vào bốn lĩnh vực sau:
- Xúc tiến hiện đại hoá DNNVV
- Hiện đại hoá các thể chế quản lý DNNVV
- Các hoạt động tư vấn cho DNNVV
- Các giải pháp tài chính đối với DNNVV
Về tổ chức, Nhật Bản thiết lập “Hội đồng các doanh nghiệp nhỏ”, đây
là tổ chức tư vấn trực thuộc Thủ tướng Chính phủ, chuyên hoạt động cho các DNNVV
Trang 301.3.1.2 Kinh nghiệm của Singapo
Định hướng phát triển DNNVV của Singapore là hình thành nhóm DNNVV năng động có tiềm năng phát triển trong tất cả các ngành công nghiệp Nhờ vào việc khai thác lợi thế cạnh tranh theo quy mô, các DNNVV không những đóng góp đáng kể vào GDP mà còn còn là động lực thúc đẩy các DNNVV khác phát triển mạnh mẽ Chính phủ Singapore thông qua hàng loạt chương trình hỗ trợ hấp dẫn nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hệ thống
DN này trên thị trường trong và ngoài nước Ba trong số các chương trình này là: Chương trình nâng cấp công nghiệp địa phương; tài trợ huấn luyện cho DNNVV; tập hợp thành thừng nhóm kinh tế trong DNNVV
Bốn nguyên tắc cơ bản trong kế hoạch của Chính phủ Singapore nhằm trợ giúp DNNVV là:
Một, giúp cho DNNVV để họ tự giúp mình
Hai, chỉ giúp cho DNNVV chứ không bảo hộ họ
Ba, đưa DNNVV vào guồng máy phát triển kinh tế chung
Bốn, duy trì môi trường kinh doanh thân thiện trong hệ thống
Mặt khác, “Trung tâm một cửa” đã được thành lập nhằm phối hợp sự trợ giúp DNNVV Quan điểm “trung tâm - vệ tinh” được quán triệt sâu sắc nhằm nối liền DNNVV với nguồn kinh nghiệm chuyên ngành Trung tâm một cửa có ba vai trò chủ yếu:
- Cung cấp ”một cửa” thuận tiện cho các DNNVV địa phương cần sự giúp đỡ
- Phối hợp các nỗ lực của Chính phủ nhằm giúp đỡ khu công nghiệp địa phương phát triển
- Thu thập thông tin để giúp đỡ, đáp ứng các nhu cầu nâng cấp và cơ cấu lại của các DN trên địa bàn
Trang 31Trung tâm này làm việc với các cơ quan trực thuộc Chính phủ như: Cục phát triển kinh tế, Cục phát triển thương mại, Cục khoa học và công nghệ Quốc gia để giúp DNNVV tiếp cận công nghệ, tài chính, thông tin, thị trường
và phát triển nguồn nhân lực
1.3.1.3 Kinh nghiệm của Đài Loan
Đài Loan được coi là vương quốc của các DNNVV Với vai trò rất quan trọng về việc làm và xuất khẩu trong nền kinh tế, các DNNVV ở Đài Loan luôn nhận được sự quan tâm hỗ trợ từ phía Chính phủ để phát triển Những chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV của Đài Loan được duy trì liên tục với tính hệ thống và kế thừa rất cao Hệ thống chính sách và biện pháp trợ giúp DNNVV tương đối toàn diện và có tính ổn định cao, được thể chế bằng văn bản ”Đại cương các chính sách và biện pháp nhằm vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa” do Cục quản lý DNNVV ban hành, trong đó tập trung vào ba nhóm lớn, đó là:
- Xây dựng môi trường kinh doanh tối ưu
- Thúc đẩy sự hợp tác giữa các DNNVV và giữa DNNVV với DN lớn
- Thúc đẩy sự tăng trưởng độc lập của các DNNVV
Mỗi chính sách lớn trên đều được thực hiện bởi nhiều biện pháp cụ thể Dưới đây là một số biện pháp nổi bật được Chính phủ Đài Loan thực hiện để trợ giúp DNNVV phát triển:
+ Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý trợ giúp cho sự phát triển của DNNVV Trong những năm gần đây, Đài Loan xúc tiến sửa đổi một số luật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của DNNVV, trong đó có kể đến việc sửa đổi Luật Lao động vào năm 1998 nhằm mở rộng việc thuê mướn lao động nước ngoài; sửa đổi Luật Qui chế phát triển DNNVV vào năm 1999; Sửa đổi luật Đất đai; sửa đổi các văn bản pháp lý về bảo vệ môi trường
Trang 32+ Để tạo nguồn vốn, Đài Loan đã thành lập “quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa” để giúp các DN này cải thiện môi trường kinh doanh, đẩy mạnh hợp tác với nhau, đồng thời hướng dẫn cho quỹ tự phát triển nhằm thúc đẩy các DNNVV phát triển lành mạnh Quỹ này cấp tín dụng cho các DNNVV với lãi suất thấp hơn lãi suất bình thường của ngân hàng nhằm hướng các DN phát triển theo chuyên ngành hoặc chuyển hướng ngành nghề của các DN
+ Hình thành hệ thống tư vấn dành cho các DNNVV, bao gồm: Hệ thống hướng dẫn tài chính và tín dụng, hệ thống hướng dẫn quản lý
Trong báo cáo “Sự thần kỳ Đông Á” của Ngân hàng Thế giới đã đánh giá chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV của Đài Loan là tốt nhất trong khu vực
1.3.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước
1.3.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương
Bình Dương là một trong những tỉnh có tăng trưởng kinh tế cao vào loại bậc nhất của cả nước Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 1996
- 2000 là 13,5%, 2005 - 2010 là 15,4% Những thành tựu mà Bình Dương đạt được là nhờ vào sự đóng góp đáng kể của loại hình DNNVV (chiếm 97% tổng số doanh nghiệp của cả tỉnh)
Nhận thức được tầm quan trọng cũng như những khó khăn mà các DNNVV gặp phải, lãnh đạo tỉnh Bình Dương đã có sự quan tâm thích đáng đối với sự phát triển của DNNVV:
- Công tác đăng ký kinh doanh ngày càng được cải tiến và hoàn thiện hơn, thời gian xử lý hồ sơ và cấp đăng ký kinh doanh cũng được rút ngắn hợp
lý hơn
- Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã có nhiều chủ trương
và chính sách thông thoáng nhằm phát huy nội lực, thu hút ngoại lực để phục
Trang 33vụ chiến lược phát triển của tỉnh với khẩu hiệu ”Trải thảm đỏ mời khách đầu tư” như xây dựng các khu công nghiệp tập trung để kêu gọi đầu tư; tiến hành cải cách thủ tục hành chính theo mô hình ”một cửa”, tập trung đầu mối xét và cấp giấy phép đầu tư cho Sở Kế hoạch và Đầu tư với thủ tục nhanh gọn; tạo điều kiện thuận lợi để các DN tiếp xúc dễ dàng với các nhà lãnh đạo chủ chốt của tỉnh để trình bày các khó khăn trong quá trình đầu tư và nhờ đó khó khăn được tháo gỡ kịp thời
- Từ những quan điểm chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, các sở, ban ngành đã cụ thể hoá nội dung quản lý của mình để thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển DNNVV thông qua các chính sách đất đai, tín dụng, khoa học công nghệ, Thực hiện chủ trương ”đổi đất lấy kết cấu hạ tầng” vừa thu hút được vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, vừa sử dụng đất
có hiệu quả Hoạt động tín dụng thực hiện nhiều biện pháp tích cực để thu hút tiền gửi của tổ chức kinh tế và của dân cư, kịp thời cung cấp vốn cho các thành phần kinh tế để phát triển sản xuất kinh doanh
Bên cạnh đó hệ thống ngân hàng hướng vào phục vụ hoạt động kinh doanh của các DN, trong đó có DNNVV; quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển ưu tiên cho vay DNNVV ở nông thôn để sản xuất gốm, sứ, hàng mỹ nghệ, cho vay dự
án sản xuất hàng xuất khẩu, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, hỗ trợ di dời các DN ra khỏi khu dân cư; hoạt động của ngành thuế với mục tiêu không chỉ tăng nguồn thu ngân sách Nhà nước mà quan trọng hơn là kích thích phát triển kinh doanh của các DN, đặc biệt là các DNNVV
- Hỗ trợ về kỹ thuật công nghệ theo hướng khuyến khích các DNNVV chú trọng đổi mới công nghệ thông qua các nguồn vốn với lãi suất ưu đãi; tạo điều kiện và tài trợ một phần vốn để các DNNVV đủ điều kiện triển khai chương trình quản lý chất lượng theo ISO; phổ biến và hỗ trợ thông tin cho
Trang 34các DN Đặc biệt là hình thành các đầu mối cung cấp thông tin ổn định, phát huy vai trò của hiệp hội công thương, các hiệp hội, chi hội nghề nghiệp
1.3.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh là một tỉnh nằm cạnh Hà Nội, có điều kiện về tự nhiên, kết cấu hạ tầng, có thể khai thác các mối liên hệ kinh tế với địa phương khác, đặc biệt là Thủ
đô Hà Nội Điều kiện hết sức thuận lợi để các DNNVV ở Bắc Ninh phát triển là
sự phát triển rất mạnh của các làng nghề truyền thống Đây là một tỉnh có làng nghề nhiều nhất cả nước Ví dụ: làng nghề Đồng Kỵ có hàng chục DN tham gia vào sản xuất các đồ gia dụng, hàng mỹ nghệ; làng giấy Phong Khê có hơn 100
DN tham gia sản xuất giấy, bao bì đóng gói; làng nghề Tiên Sơn, Yên Phong; đúc đồng ở Đại Bái, Gia Bình; nghề sắt ở Đa Hộ
Cũng như nhiều địa phương khác, DNNVV ở tỉnh Bắc Ninh chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số DN của tỉnh, gần 97% số DN và công ty tư nhân, 93% DNNN ở địa phương, 100% hợp tác xã thuộc loại DNNVV và có mặt trong nhiều ngành nghề khác nhau
Trên cơ sở nhận thức đúng vai trò của các DNNVV trong nền kinh tế của tỉnh, trong những năm qua các cấp chính quyền của tỉnh Bắc Ninh đã có nhiều nỗ lực tạo điều kiện cho các DN nói chung, đặc biệt các DNNVV khắc phục khó khăn và phát triển Những nỗ lực đó thể hiện ở nhiều mặt:
+ Từ luật và chính sách có liên quan đến các doanh nghiệp nói chung, DNNVV nói riêng như: chính sách đất đai, chính sách vốn tín dụng, chính sách thuế các cơ quan chức năng của tỉnh đã thực hiện tốt việc tạo điều kiện,
cơ hội thuận lợi nhất cho các DN phát triển
Chẳng hạn, tạo điều kiện để các DN tiếp cận dễ dàng hơn với nguồn vốn, đất đai, mặt bằng sản xuất như cấp đất và cho thuê đất một cách thuận lợi cho các doanh nghiệp, xây dựng các khu công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, xây dựng các khu tập trung cho các làng nghề, thực hiện cơ chế giá cả đền bù
Trang 35và cho thuê đất tương đối thông thoáng, thực hiện phương châm” đền bù thì
áp dụng giá cao, cho thuê thì áp dụng giá tối thiểu”, hỗ trợ về vốn cho các doanh nghiệp dưới nhiều hình thức
+ Đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ DNNVV của Hội đồng liên minh Hợp tác xã; hình thành trung tâm tư vấn cung cấp thông tin và dịch vụ tư vấn cho các DN, đào tạo nghề cho các DN, tổ chức hội thảo, tổ chức các đoàn đi nghiên cứu kinh nghiệm và tìm kiếm thị trường
+ Tăng cường đào tạo kiến thức về quản trị kinh doanh cho các chủ doanh nghiệp
1.3.2.3 Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng
Để DNNVV phát triển và khẳng định vị trí trong nền kinh tế, Thành phố Đà Nẵng đã triển khai một số giải pháp cụ thể sau:
- Giúp đỡ các DNNVV tiếp cận các nguồn vốn tín dụng Thành lập” Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Đà Nẵng” Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong các quan hệ tín dụng đối với các DN
- Căn cứ vào quy hoạch chung để giải quyết nhanh nhu cầu về mặt bằng cho các DN có dự án, phương án kinh doanh hiệu quả theo phương thức cho thuê hoặc chuyển quyền sử dụng đất
- Thành phố hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo nghề, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ quản lý DN, cán bộ kế toán, thống kê Hỗ trợ duy trì và phát triển các làng nghề truyền thống, nghệ nhân, thợ cả
- Hỗ trợ về thuế, công khai tạo điều kiện để các DN được hưởng các ưu đãi về vốn, hỗ trợ lãi suất, hỗ trợ xuất khẩu, hỗ trợ phát triển thị trường…
- Tăng cường quản lý của Nhà nước đối với DNNVV Đảm bảo cho
DN kinh doanh đúng pháp luật, hướng dẫn theo dõi hoạt động của DN đúng nội qui đăng ký kinh doanh, giải quyết hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết những khó khăn vướng mắc của DN
Trang 361.3.3 Bài học về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh Hòa Bình
Từ những kinh nghiệm của các nước trên thế giới và thực tiễn quý báu của các địa phương, có thể rút ra những bài học cho phát triển DNNVV ở tỉnh Hoà Bình như sau:
Thứ nhất, Cần nhận thức sâu sắc về vai trò của DNNVV trong cộng
đồng các doanh nghiệp và đối với nền kinh tế quốc dân Phải có chiến lược trong phát triển hệ thống DNNVV gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội địa phương và từng ngành
Thứ hai, xây dựng cơ chế quản lý kinh tế thống nhất giữa các ngành và
địa phương đối với DNNVV
Thứ ba, giải quyết tốt các mối quan hệ giữa DNNVV với các DN lớn
theo hướng:
- Hiệp tác trên cơ sở chuyên môn hoá giữa DNNVV với DN lớn sao cho có hiệu quả, DNNVV có thể vừa cung cấp các yếu tố đầu vào và tiêu thụ sản phẩm trên đầu ra cho các DN lớn
- DN lớn hỗ trợ DNNVV về giao công nghệ sản xuất và kinh nghiệm quản trị doanh nghiệp, giúp huấn luyện tay nghề, trao đổi thông tin trên nguyên tắc thị trường và cùng có lợi
- DN lớn có thể giao thầu từng phần hoặc bộ phận cho các DNNVV trên cơ sở ký kết các hợp đồng kinh tế
Thứ tư, xác định nhóm DNNVV thuộc ngành hàng mà Chính phủ có
định hướng ưu tiên không phân biệt thành phần kinh tế
Thứ năm, quan tâm bồi dưỡng năng lực nội tại của bản thân DNNVV
Nếu DNNVV không tự lực cánh sinh, không tự mình nâng cao sức cạnh tranh thì mọi sự trợ giúp từ phía Nhà nước ở mọi cấp chính quyền cũng không mang lại hiệu quả thiết thực, thậm chí còn tạo đà cho sự phân biệt và đố kỵ
Thứ sáu, đa dạng hóa các hình thức hỗ trợ cho DNNVV phù hợp với điều
kiện cụ thể của địa phương và từng ngành, lĩnh vực
Trang 37Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Đề xuất được các giải pháp góp phần phát triển loại hình doanh nghiệp
nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa được những vấn đề lý luận cơ bản về DNNVV
- Đánh giá được thực trạng phát triển loại hình doanh nghiệp nhỏ và
vừa trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
- Đề xuất được các giải pháp phát triển loại hình doanh nghiệp nhỏ và
vừa trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tình hình phát triển loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Loại hình DNNVV thuộc khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài trong các ngành nghề kinh tế trên địa bàn tỉnh
Hòa Bình từ năm 2006-2010
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Khái quát và hệ thống hóa những vấn đề lý luận chủ yếu về DNNVV + Khái niệm, đặc điểm
+ Vai trò của DNNVV
+ Các nhân tố ảnh hưởng và yêu cầu đối với DNNVV
Trang 38+Kinh nghiệm phát triển DNNVV của một số nước và một số địa phương trong nước
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng DNNVV ở tỉnh Hòa Bình từ năm 2006–
2010, tìm ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân của những kết quả đó
+ Sự phát triển về số lượng, loại hình, quy mô vốn và lao động của DNNVV ở Hoà Bình
+ Sự phân bổ DNNVV theo vùng và ngành
+ Trình độ công nghệ và chất lơựng nguồn nhân lực
+ Kết quả SXKD và đóng góp cho ngân sách
+ Chính sách phát triển DNNVV của tỉnh Hoà Bình
+ Đánh giá chung tình hình phát triển DNNVV ở Hoà Bình
- Nêu quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển DNNVV trên địa bàn Hòa Bình trong giai đoạn hiện nay
+ Quan điểm phát triển DNNVV
+ Một số giải pháp
2.4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Kế thừa các công trình, tài liệu đã công bố về vấn đề có liên quan + Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
+ Các số liệu thống kê có liên quan trong lĩnh vực nghiên cứu
+ Kết quả một số công trình nghiên cứu có liên quan đến lĩnh vực
nghiên cứu
+ Các văn bản pháp luật, Nghị định, thông tư và Quyết định của Chỉnh phủ và Bộ ngành liên quan; các nghiên cứu có liên quan đến đề tài; các báo cáo, bài báo…
- Phỏng vấn chuyên gia, cán bộ quản lý nhà nước và các DNNVV để thu thập và chia sẻ thông tin
Trang 392.4.2 Phương pháp xử lý số liệu
- Phương pháp thống kê kinh tế để tổng hợp, tính toán số liệu:
+ Xác định tỷ trọng các chỉ tiêu nghiên cứu
Gi: Giá trị của chi tiêu thứ i + Tính tốc độ phát triển bình quân của các chỉ tiêu nghiên cứu
y1, yn: mức độ tuyệt đối ở thời gian đầu và thời gian n
Tn: tốc độ phát triển định gốc thời gian n so với thời gian đầu của dãy số và có thể biểu hiện bằng lần hoặc %
ti: tốc độ phát triển liên hoàn thời gian i so với thời gian i-1
và có thể biểu hiện bằng lần hoặc % ti được tính theo công thức:
yi, yi-1: mức độ tuyệt đối ở thời gian i và i-1
- Phương pháp phân tích để nhận xét đánh giá
+ Phương pháp so sánh
+ Phương pháp đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân + Từ đó, đưa ra những giải pháp phát triển loại hình DNNVV trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội tác động đến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh hòa bình
3.1.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Hòa Bình
Về vị trí địa lý: Hoà Bình là tỉnh miền núi, cách trung tâm Thủ đô Hà
Nội 76 km về phía Tây Nam, phía Bắc giáp Phú Thọ, phía Nam giáp Ninh Bình và Thanh Hoá, phía Đông giáp Hà Nội và Hà Nam, phía Tây giáp Sơn
La Đó là vị trí cửa ngõ của vùng núi Tây Bắc, nằm trên tuyến hành lang kinh
tế Tây Bắc (Hòa Bình - Sơn La - Điện Biên - Lai Châu), rất thuận lợi cho giao lưu kinh tế thương mại đối với các chủ thể sản xuất kinh doanh nói chung và DNNVV của tỉnh nói riêng
Về tài nguyên thiên nhiên: Hòa Bình có nhiều nguồn tài nguyên thiên
nhiên đa dạng và phong phú:
- Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh xấp xỉ 4.662
km2, đất có rừng trên 173 ngàn ha, chiếm 37% diện tích, đất nông nghiệp trên
65 ngàn ha, chiếm 14% diện tích Đất chưa sử dụng trên 170 ngàn ha
- Tài nguyên khoáng sản: Hoà Bình có nhiều loại khoáng sản, trong đó
một số loại đã được khai thác như: amiăng, than, nước khoáng, đá vôi… Đáng lưu ý nhất là đá, nước khoáng, đất sét có trữ lượng lớn
+ Đá gabrodiaba trữ lượng 2,2 triệu m3; đá granít trữ lượng 8,1 triệu
m3; đặc biệt đá vôi có trữ lượng rất lớn trên 700 triệu tấn, Đôllômit, barit, cao lanh cũng có trữ lượng lớn, trong đó có một số mỏ còn chưa được xác định rõ
về trữ lượng