1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện nội dung chính sách, quy trình áp dụng chính sách thuế tài nguyên đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch trên địa bàn tỉnh hòa bình

98 278 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 769,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quy định tại Điều 7, Luật Quản lý thuế thì Doanh nghiệp khai thác khoáng sản phải thực hiện những nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội, đó là: - Một là: Đăng ký thuế, sử dụng mã số t

Trang 1

PHẠM THỊ THÙY LINH

HOÀN THIỆN NỘI DUNG CHÍNH SÁCH, QUY TRÌNH ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH THUẾ TÀI NGUYÊN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP KHAI THÁC KHOÁNG SẢN VÀNG, CÁT, ĐÁ, SỎI, ĐẤT LÀM GẠCH

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HOÀ BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

-

PHẠM THỊ THÙY LINH

HOÀN THIỆN NỘI DUNG CHÍNH SÁCH, QUY TRÌNH ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH THUẾ TÀI NGUYÊN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP KHAI THÁC KHOÁNG SẢN VÀNG, CÁT, ĐÁ, SỎI, ĐẤT LÀM GẠCH

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HOÀ BÌNH

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 60.31.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Chu Tiến Quang

HÀ NỘI - 2011

Trang 3

Tài nguyên thiên nhiên là những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của xã hội loài người Hầu hết các loại tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn và không có khả năng tái sinh Khi tài nguyên bị cạn kiệt thì sản xuất và đời sống của con người sẽ rất khó khăn Vì vậy, việc quản lý bền vững các loại tài nguyên này

là yêu cầu bức thiết đối với con người trên hành tinh này

Tài nguyên thiên nhiên được chia thành 2 loại: tài nguyên tái tạo được và tài nguyên không tái tạo Tài nguyên tái tạo gồm những tài nguyên có thể hình thành lại sau quá trình khai thác, sử dụng, đó là: đất đai, rừng, nước ngọt, nước mặn, cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp Tài nguyên không tái tạo gồm các loại kim loại: vàng, bạc, sắt, đồng, nhôm, chì, kẽm, ti tan và khoáng sản phi kim loại như: dầu mỏ, khí đốt, than đá, đá, cát, sỏi, cao lanh, phốt phát, nước khoáng

Ở Việt Nam, luật pháp quy định các nguồn tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước sử dụng thuế để điều tiết hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên vừa để tạo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, vừa thực hiện định hướng cho việc khai thác, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm các nguồn tài nguyên, nhất là các tài nguyên không tái tạo để phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội lâu dài, đảm bảo công bằng trong sử dụng tài nguyên giữa các thế hệ

Việt Nam đã phát hiện hơn 5.000 mỏ và điểm quặng có khoảng 60 loại khoáng sản khác nhau Một số khoáng sản đã được phát hiện và khai thác từ rất lâu như vàng, thiếc, chì, kẽm, than đá và các loại vật liệu xây dựng; số khác mới được phát hiện và khai thác như dầu khí, sắt, đồng… Một số nơi, có những mỏ

Trang 4

nằm tập trung như than ở Quảng Ninh, bôxit ở Tây Nguyên và apatit, đất hiếm ở miền núi phía Bắc Những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của cả nước, các hoạt động khai thác khoáng sản đã và đang góp phần to lớn vào công cuộc đổi mới đất nước Ngành công nghiệp khai thác mỏ đã và đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam

Trên địa bàn tỉnh Hòa Bình hiện nay, bên cạnh các doanh nghiệp được cấp phép khai thác khoáng sản, nạn khai thác trái phép, khai thác quá mức tài nguyên khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch của các tổ chức, cá nhân cũng đang có chiều hướng gia tăng mặc dù số thu thuế tài nguyên từ hoạt động khai thác trên tăng không tương xứng Như vậy có thể thấy rằng, bên cạnh lợi ích kinh tế tạo ra, các hoạt động khai thác khoáng sản vàng, cát, sỏi, đất làm gạch đã và đang gây tác động tiêu cực tới môi trường như làm thay đổi cảnh quan và mất cân bằng sinh thái, tích tụ hoặc phát tán các chất thải rắn làm ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất; ảnh hưởng đến đa dạng sinh học; gây tiếng ồn và chấn động; tác động xấu đến ngành công nghiệp nói riêng và đến kinh tế - xã hội nói chung, gây bất bình và bức xúc trong xã hội Mặt khác, vấn đề về chính sách và quy trình thực hiện chính sách thu thuế tài nguyên đang có nhiều bất cập, chưa đóng vai trò là công

cụ hữu hiệu điều chỉnh các hoạt động khai thác tài nguyên đảm bảo bền vững

Là cán bộ của Cục thuế tỉnh Hòa Bình và là học viên cao học trường Đại học Lâm nghiệp, Xuân Mai, Hà Nội, tôi mong muốn được đóng góp vào hoàn thiện quản lý nhà nước đối với công tác thu thuế tài nguyên khai thác khoáng sản

trên địa bàn tỉnh Hòa Bình Với lý do đó, Tôi lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện nội dung chính sách, quy trình áp dụng chính sách thuế tài nguyên đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch trên địa bàn tỉnh Hoà Bình” làm đề tài cho Luận văn tốt nghiệp trình độ Thạc sỹ kinh tế của bản

thân trong chương trình đào tạo tại trường Đại học Lâm nghiệp Xuân Mai Hà Nội

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH THUẾ TÀI NGUYÊN ĐỐI VỚI

KHAI THÁC KHOÁNG SẢN 1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến luận văn

Đối với mỗi quốc gia, tài nguyên khoáng sản có vai trò rất quan trọng trong

sự phát triển kinh tế xã hội và được xem là nguồn nội lực cũng như lợi thế so sánh Trên thực tế, các quốc gia có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú cũng đồng nghĩa với những đất nước giàu có, tuy nhiên cũng có những quốc gia nghèo về tài nguyên, nhưng lại rất thành công trong phát triển kinh tế do biết biến các nguồn tài nguyên ở các nước khác thành thành nguồn tài nguyên của mình

Tuy nhiên câu chuyện khai thác tài nguyên khoáng sản trên thế giới trong một vài thập niên gần đây đã và đang trở nên nóng bỏng hơn khi mà những tác động khôn lường về môi trường của quá trình khai thác khoáng sản ngày càng tăng lên và dẫn đến những hậu quả to lớn cho xã hội Không chỉ vậy, một vấn đề lớn đã nổi lên là, nhiều quốc gia rất giàu tài nguyên khoáng sản song ngành công nghiệp khai thác sau nhiều thập kỷ được đầu tư lớn, nhưng đã không mang lại sự thịnh vượng cho đất nước của họ Càng khai thác tài nguyên để xuất khẩu thì sự phân hóa và bất công xã hội ngày càng tăng, bên cạnh đó là môi trường tự nhiên ngày càng bị tàn phá và ô nhiễm nghiêm trọng Khoa học trên thế giới đã gọi rằng đây chính là “Lời nguyền tài nguyên”, sự trả giá cho việc đi theo con đường bóc lột thiên nhiên để phục vụ mục tiêu thịnh vượng mà không đạt được

1.1.1 Trên thế giới

Thực tế đã chứng minh tại Hà Lan trong thập kỷ 70 của thế kỷ trước, khi ngành chế tạo và sản xuất đột ngột sụt giảm trước việc bùng nổ khai thác tài nguyên tại vùng Groningen, Biển Bắc Kết quả là nhà nước thu được một lượng

Trang 6

nguồn thu và ngoại tệ dồi dào thông qua thuế tài nguyên và xuất khẩu, tuy nhiên bội thu này lại có hại cho các ngành sản xuất, chế tạo và nông nghiệp do chi phí đầu vào của các ngành này tăng lên Đồng nội tệ sẽ tăng giá so với ngoại tệ và làm khó khăn cho các ngành sản xuất và chế tạo vì khả năng cạnh tranh quốc tế về giá giảm xuống do ngành này lệ thuộc vào xuất khẩu Căn bệnh “Hà Lan” đặc biệt trở nên nghiêm trọng khi ngành khai thác tài nguyên đột ngột giảm do giá tài nguyên giảm hay nguồn tài nguyên bị cạn kiệt

Nhà nghiên cứu Michael Lewin Ross cho rằng khi mà các chính phủ chủ yếu dựa vào nguồn thu từ việc khai thác tài nguyên thiên nhiên hơn là thuế thu nhập, các chính phủ này sẽ khó giải trình với các công dân của mình về thuế thu nhập dân cư với thuế tài nguyên Ông cũng chỉ ra rằng sự giàu có về dầu mỏ và khoáng sản đã thúc đẩy chính phủ đầu tư nhiều vào an ninh nội địa, chi tiêu nhiều hơn vào bộ máy chính phủ và xây dựng cơ sở hạ tầng, làm gia tăng nguy cơ tham nhũng khi năng lực quản trị của bộ máy yếu kém

Không giống như Hà Lan, Indonesia là quốc gia đã tránh được “Lời nguyền tài nguyên” bằng những quy định, chính sách rõ ràng Indonesia đã quản

lý chặt chẽ các hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên phù hợp cho tăng trưởng kinh tế từ những năm 1970 Chính phủ Indonesia đã thực hiện cân đối thu chi giữa các ngành, đầu tư hợp lý vào kết cấu hạ tầng, dịch vụ xã hội, nông nghiệp

và công nghiệp Trong đó, nguồn thu từ khoáng sản được ưu tiên đầu tư nhiều hơn cho phát triển nông nghiệp

Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF) cũng phát hiện ra “hiệu ứng tham lam” của việc khai thác tài nguyên tới chất lượng công quyền Họ lập luận rằng lợi nhuận cao thu được từ khai thác tài nguyên thiên nhiên sẽ cổ vũ cho thói quan liêu và tham lam, dẫn tới tình trạng tham nhũng ngày càng rộng và lớn hơn trong Chính phủ và

xã hội

Trang 7

1.1.2 Ở Việt Nam

Theo báo chí, bộ trưởng bộ Tài nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên cho rằng nước ta có 7 loại khoáng sản giầu vào loại nhất nhì thế giới Trong khi đó chủ tịch tổng hội Địa chất Việt Nam, phó giáo sư tiến sỹ Nguyễn Khắc Vinh lại đưa ra một cách nhìn khác về tiềm năng khoáng sản nước ta: Cái thế giới cần, ta

có ít; cái ta có cần, ta có không nhiều (nguồn internet)

Theo số liệu thống kê năm 2008, toàn bộ thuế tài nguyên thu được từ khai thác khoáng sản kim loại hàng năm tính toán sơ bộ khoảng 0,01% GDP, có khoảng 186,7 nghìn người làm việc trong các ngành này, chiếm khoảng 0,42% lao động cả nước Nhưng các ngành khai thác khoáng sản đang chiếm dụng đất đai, tác động phá hoại môi trường như thế nào, làm thiệt hại đến các ngành kinh tế khác hay cản trở các ngành kinh tế khác ra sao, tổng đầu tư cả nước cho khai thác khoáng sản là bao nhiêu? giá trị gia tăng làm ra? so sánh với các ngành kinh tế khác Nguồn thuế tài nguyên ít ỏi thu được phân bổ vào đâu, ai được hưởng lợi? đang là những câu hỏi lớn chưa có lời giải đáp thỏa đáng

Hàng năm quốc gia đang mất đi một khối lượng khoáng sản lớn do các hoạt động xuất khẩu lậu, cái lợi thu được là gì? cũng là những vấn đề cần phải được phân tích và nhìn nhận cho đúng Nên chăng Nhà nước phải thực hiện duy trì các chính sách tài khóa chặt chẽ trong các thời kỳ bùng nổ tài nguyên, đặc biệt khi các tài nguyên thiên nhiên này chiếm một phần chủ yếu của kinh tế địa phương Mặt khác phải sử dụng có hiệu quả và minh bạch các nguồn thu từ khai thác tài nguyên để kiểm soát chi tiêu, thực hiện tái đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng để tăng cường năng lực cho các ngành kinh tế

Cần cải thiện tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các tổ chức quản

lý khai thác tài nguyên khoáng sản vì đó là cơ chế cần thiết để hạn chế tham nhũng và những hành vi tàn phá tài nguyên Cơ chế bày cũng cần được triển khai

ở tất cả các cấp các ngành, các doanh nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản

Trang 8

Kinh nghiệm quốc tế có thể giúp chính phủ và các ngành công nghiệp khai khoáng ứng dụng và mở rộng cơ chế này

1.2 Một số vấn đề lý luận về thuế tài nguyên và chính sách thuế tài nguyên

đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản

1.2.1 Khái niệm

Thuế tài nguyên là một trong những công cụ quản lý của Nhà nước đối với hoạt động khai thác tài nguyên dưới hình thức là một khoản thu tài chính (bằng tiền) trên giá trị của tài nguyên đã khai thác Ở Việt Nam thuế tài nguyên được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động khai thác tài nguyên

Thuế tài nguyên là khoản thu của Ngân sách nhà nước đối với giá trị tài nguyên đã được khai thác và sử dụng, thông qua điều tiết một phần giá trị khai thác tài nguyên thiên nhiên của tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động khai thác tài nguyên hợp pháp trên lãnh thổ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, tạo nguồn thu Ngân sách nhà nước, thực hiện quyền quản lý nhà nước đối với sử dụng các nguồn tài nguyên quốc gia

- Đối tượng nộp thuế tài nguyên là tổ chức, cá nhân tiến hành khai thác tài nguyên thiên nhiên, không phụ thuộc mục đích sử dụng

Trang 9

1.2.3 Vai trò của thuế tài nguyên

- Thứ nhất: Thể hiện quyền sở hữu của Nhà nước đối với các nguồn tài nguyên quốc gia

Tài nguyên được phân bố rộng khắp trên trái đất, vùng lãnh thổ Mỗi một quốc gia độc lập có quyền sở hữu, khai thác, sử dụng các loại tài nguyên thuộc phạm vi chủ quyền về lãnh thổ và Nhà nước của quốc gia đó

- Thứ hai: Là công cụ hạn chế hành vi khai thác làm cạn kiệt tài nguyên Nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu về tài nguyên ngày càng tăng, dẫn đến nguy cơ cạn kiệt các nguồn tài nguyên, nhất là đối với các loại nguyên không

có khả năng tái tạo được Do vậy, yêu cầu đặt ra là phải khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên và có biện pháp nuôi dưỡng, bảo vệ, phát triển các nguồn tài nguyên tái sinh và sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên không tái sinh

Nhà nước với vai trò quản lý các nguồn tài nguyên quốc gia phải đưa ra nhiều biện pháp quản lý khác nhau, trong đó có biện pháp kinh tế là thu thuế tài nguyên để điều chỉnh các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, đảm bảo duy trì, bảo vệ, tái tạo và phát triển các nguồn tài nguyên mới

- Thứ ba: Tạo nguồn thu tài chính cho ngân sách

Thông qua công cụ thuế, nhà nước thu lại một phần giá trị tài nguyên đã được khai thác để đưa vào ngân sách, đầu tư trở lại vào nền kinh tế

- Thứ tư: Là công cụ của quản lý nhà nước đối với duy trì, bảo vệ và phát triển các nguồn tài nguyên quốc gia

Thông qua thuế, Nhà nước thực hiện vai trò quản lý việc duy trì, bảo vệ và phát triển các nguồn tài nguyên quốc gia: cho phép hay không cho phép khai thác bằng công cụ hành chính (cấm, hạn chế) và công cụ kinh tế là đánh thuế với mức cao hay thấp để điều chỉnh hoạt động khai thác theo hướng khuyến khích tăng lên hay hạn chế giảm xuống

Trang 10

1.3 Chính sách thuế tài nguyên, quy trình áp dụng chính sách thuế tài nguyên đối với DN khai thác khoáng sản: vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch

1.3.1 Vai trò của DN khai thác khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch

Doanh nghiệp khai thác khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch là doanh nghiệp đăng ký kinh doanh khai thác khoáng sản theo quy định của các luật: Luật doanh nghiệp, Luật khoáng sản và các luật khác có liên quan

Cũng như doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác, doanh nghiệp khai thác khoáng sản là “tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch

ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” trong lĩnh vực khai thác khoáng sản Doanh nghiệp khai thác khoáng sản bao gồm: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và các hợp tác xã Có thể khái quát vai trò của doanh nghiệp trên một số mặt sau:

- Một là: Tạo ra sự phát triển của nền kinh tế, do các doanh nghiệp là những chủ thể tạo ra sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ, mang lại thu nhập cho nền kinh tế;

- Hai là: Huy động tiền vốn nhàn rỗi trong xã hội vào sản xuất kinh doanh, không để các nguồn vốn bị “chết”, không tạo ra giá trị gia tăng mới cho xã hội;

- Ba là: Tạo ra việc làm, thu nhập cho lao động trong xã hội;

- Bốn là: Biến các tín hiệu thị trường thành hiện thực và phát triển công nghệ sản xuất và phương pháp quản lý

1.3.2 Nghĩa vụ của doanh nghiệp khai thác khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch đối với thuế tài nguyên

Theo quy định tại Điều 7, Luật Quản lý thuế thì Doanh nghiệp khai thác khoáng sản phải thực hiện những nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội, đó là:

- Một là: Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định của pháp luật

- Hai là: Khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, đầy đủ của hồ sơ thuế

- Ba là: Nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm

- Bốn là: Chấp hành chế độ kế toán, thống kê và quản lý, sử dụng hoá đơn chứng từ theo quy định của pháp luật

Trang 11

- Năm là: Ghi chép chính xác, trung thực, đầy đủ những hoạt động phát sinh từ: nghĩa vụ thuế, khấu trừ thuế và kê khai thông tin về thuế

- Sáu là: Lập và giao hoá đơn, chứng từ cho người mua theo đúng số lượng, chủng loại, giá trị thực thanh toán khi bán hàng, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật

- Bảy là: Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế, số hiệu, nội dung giao dịch của tài khoản mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế

- Tám là: Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật

- Chín là: Chịu trách nhiệm về nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật trong trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo uỷ quyền thay mặt người nộp thuế thực hiện thủ tục về thuế sai quy định

1.3.3 Chính sách thuế tài nguyên đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch

Theo quy định của pháp luật về thuế hiện hành thì nội dung của chính sách thuế tài nguyên đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản gồm các quy định về:

Một là: Danh mục tài nguyên chịu thuế, quy định tên tài nguyên khoáng sản chịu thuế tài nguyên

Hai là: Người nộp thuế, quy định trách nhiệm nộp thuế tài nguyên thuộc về ai

Ba là: Sản lượng tài nguyên tính thuế, quy định sản lượng tài nguyên phải

sử dụng để tính thuế tài nguyên phải nộp trong kỳ

Bốn là: Giá tính thuế, quy định giá tính thuế sử dụng tính thuế tài nguyên phải nộp trong kỳ

Năm là: Thuế suất, quy định tỷ lệ phần trăm (%) giá trị đối với từng loại tài nguyên cụ thể, được sử dụng để tính thuế tài nguyên phải nộp trong kỳ

Trang 12

1.3.4 Quy trình áp dụng thuế tài nguyên đối với DN khai thác khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch

Quy trình áp dụng quản lý thuế tài nguyên đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản được quy định trong Luật Quản lý thuế được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ 10 ngày 22 tháng 11 năm 2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 và các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Quy trình áp dụng thuế tài nguyên mô tả trình tự các bước công việc của quá trình quản lý thuế tài nguyên, bao gồm: Tuyên truyền và hỗ trợ NNT; đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế; miễn thuế, giảm thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; quản lý thu nợ thuế, cưỡng chế nộp thuế nợ đọng; các quy chế phối hợp

1.3.4.1 Tuyên truyền và hỗ trợ NNT

Quy trình Tuyên truyền - Hỗ trợ NNT thực hiện cơ chế tự khai - tự nộp thuế được ban hành kèm theo Quyết định số 1188/QĐ-TCT ngày 03/11/2005 của Tổng cục thuế, trong đó có quy định và hướng dẫn thực hiện các hình thức tuyên truyền phù hợp đối với từng đối tượng như việc hướng dẫn xây dựng chuyên mục

“thuế và cuộc sống”; phát tin, bài trên truyền hình, báo; lắp đặt panô tuyên truyền; tuyên truyền qua hình thức loa lưu động ở các tổ dân phố, thôn, xóm; tổ chức hội nghị tập huấn chính sách thuế mới, hội nghị đối thoại để giải quyết các vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách thuế của NNT Đi kèm với Quy trình Tuyên truyền - Hỗ trợ NNT là Quy chế hướng dẫn, giải đáp vướng mắc về chính sách thuế, quản lý thuế và giải quyết các thủ tục hành chính thuế của NNT theo cơ chế

"một cửa" ban hành kèm theo Quyết định số 78/2007/QĐ-BTC ngày 18/9/2007 của Bộ Tài chính Quy chế hướng dẫn, giải đáp vướng mắc về chính sách thuế, quản lý thuế và giải quyết các thủ tục hành chính thuế của NNT theo cơ chế “một cửa” nhằm đảm bảo việc tiếp nhận và giải quyết các yêu cầu hướng dẫn, giải đáp các vướng mắc về chính sách thuế, quản lý thuế, tiếp nhận và giải quyết các thủ tục hành chính thuế của NNT được thuận lợi nhất, đồng thời đảm bảo giám sát

Trang 13

được công chức thuế trong việc thực hiện giải quyết các yêu cầu, thủ tục hành chính thuế của NNT

1.3.4.2 Đối với đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế

a Công việc đăng ký thuế được quy định tại Quyết định số 443/QĐ-TCT ban hành ngày 29/4/2009 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Trong đó đăng ký thuế là việc Doanh nghiệp khai thác khoáng sản phải kê khai những thông tin theo mẫu quy định và nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập, hoạt động hoặc giấy chứng nhận đầu tư để thực hiện nghĩa vụ về thuế với Nhà nước theo qui định của pháp luật Tổng cục thuế là cơ quan nhà nước có

trách nhiệm quản lý về đăng ký thuế và cấp mã số thuế

Cơ quan quản lý thuế thực hiện quản lý doanh nghiệp khai thác vàng, cát,

đá, sỏi, đất làm gạch thông qua việc đăng ký thuế Mỗi một doanh nghiệp sau khi thành lập phải làm thủ tục hồ sơ đăng ký thuế, cơ quan quản lý thuế thực hiện cấp

“Giấy chứng nhận đăng ký thuế” Các chỉ tiêu trên giấy chứng nhận đăng ký thuế bao gồm: Tên người nộp thuế; mã số thuế; số, ngày, tháng, năm của giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép hoạt động hoặc giấy chứng nhận đầu tư đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh; số, ngày, tháng, năm của quyết định thành lập đối với tổ chức không kinh doanh; số ngày, tháng, năm và nơi cấp của giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu đối với cá nhân không kinh doanh; cơ quan thuế quản lý trực tiếp; ngày cấp mã số thuế Các thông tin chi tiết liên quan tới NNT thuế như tên cơ sở kinh doanh, trụ sở giao dịch, địa điểm nhận thông báo thuế, tên giám đốc, kế toán trưởng, số tài khoản ngân hàng, phương pháp tính thế, các loại tờ khai thuế phải nộp…được quản lý thống nhất tại ứng dụng quản lý thông tin về NNT trên phạm vi toàn quốc Bất cứ ai cũng có thể tìm hiểu thông tin

về một mã số thuế có liên quan thông qua việc tra cứu thông tin trên trang web của ngành thuế

Trang 14

b Công việc khai thuế, tính thuế được thực hiện theo Điều 13 Thông tư

số 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một

số điều của Luật Quản lý thuế, hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 và Nghị định số 106/2010/NĐ-CP ngày 28/10/2010 của Chính phủ (gọi tắt là Thông tư 28/2011/TT-BTC) Doanh nghiệp khai thác khoáng sản nộp hồ sơ khai thuế tài nguyên cho cơ quan quản lý thuế trực tiếp Trường hợp doanh nghiệp khai thác khoáng sản tại các mỏ trên địa bàn nhiều huyện trong cùng một tỉnh thì nộp hồ sơ khai thuế tài nguyên cho Cục thuế nơi có tài nguyên khai thác

Khai thuế tài nguyên đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản vàng, cát,

đá, sỏi, đất làm gạch là việc người nộp thuế thực hiện tính toán số thuế tài nguyên phải nộp dựa trên sản lượng tài nguyên thực tế khai thác và giá bán tài nguyên trong kỳ Kế toán doanh nghiệp sau khi tính toán cụ thể sẽ đưa số liệu vào phần mềm hỗ trợ kê khai thuế do cơ quan thuế cấp phát miễn phí để in ra tờ khai thuế

mã vạch và nộp cho cơ quan thuế Khai thuế vừa là quyền lợi cũng vừa là nghĩa

vụ của NNT, trường hợp NNT khai chính xác sẽ tạo thuận lợi cho quá trình quản

lý của cơ quan thuế, ngược lại sẽ gây mất thời gian để kiểm tra, xử lý

c Nộp thuế tài nguyên đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch là việc NNT sau khi lập và nộp tờ khai thuế cho cơ quan thuế sẽ tự giác nộp số tiền thuế tài nguyên phát sinh theo hồ sơ khai thuế vào ngân sách nhà nước thông qua kho bạc nhà nước, các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng…Có 02 trường hợp là NNT nộp thuế đúng hạn và NNT chậm nộp tiền thuế Đối với trường hợp NNT chậm nộp tiền thuế, ngoài nguyên nhân do khó khăn về tài chính, một số doanh nghiệp thường xuyên cố tình chậm nộp tiền thuế

để chiếm dụng vốn, chỉ nghiêm túc thực hiện khi cơ quan thuế áp dụng các biện pháp đôn đốc thu nợ hoặc cưỡng chế nợ thuế

d Khác với thuế giá trị gia tăng, thuế tài nguyên đối với khai thác khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch phải thực hiện quyết toán thuế theo năm Điều này tạo cơ hội cho NNT được tính toán chính xác lại số thuế tài nguyên thực tế đã

Trang 15

khai, nộp tại các kỳ khai thuế trong năm do trong năm mới chỉ tạm tính vì chưa xác định được sản lượng hoặc giá bán chính xác Sau quyết toán thuế, NNT có thể xin hoàn lại phần thuế đã nộp thừa hoặc đề nghị bù trừ với số thuế tài nguyên phát sinh trong kỳ tính thuế mới, hoặc có thể phải nộp thêm nếu có chênh lệch tăng sau quyết toán

1.3.4.3 Đối với miễn thuế, giảm thuế

Quy trình miễn, giảm thuế được thực hiện theo Quyết định số TCT ban hành ngày 29/5/2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế DN khai thác khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch được xét miễn, giảm thuế trong trường hợp gặp thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ gây tổn thất đến tài nguyên đã kê khai, nộp thuế Trường hợp đã nộp thuế thì được hoàn trả số thuế đã nộp hoặc trừ vào

598/QĐ-số thuế tài nguyên phải nộp của kỳ sau

Hồ sơ miễn, giảm thuế tài nguyên gồm: Văn bản đề nghị miễn, giảm thuế;

tờ khai thuế tài nguyên tháng; tờ khai quyết toán thuế tài nguyên; các tài liệu liên quan đến việc miễn, giảm thuế tài nguyên kèm theo

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, thủ trưởng cơ quan thuế quản lý trực tiếp ra quyết định miễn thuế, giảm thuế hoặc thông báo cho người nộp thuế lý do không thuộc diện được miễn thuế, giảm thuế Trường hợp cần kiểm tra thực tế để có đủ căn cứ giải quyết hồ sơ thì thời hạn ra quyết định miễn thuế, giảm thuế là sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ

Mặc dù là chính sách thuế, nhưng chính sách thuế tài nguyên cũng lồng ghép một phần chính sách xã hội, đó là quy định miễn, giảm thuế tài nguyên phải nộp đối với khai thác vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch đối với trường hợp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ gây tổn thất tới tài nguyên đã kê khai nộp thuế, điều này thể hiện quan điểm của nhà nước xã hội chủ nghĩa do dân và vì nhân dân

1.3.4.4 Đối với kiểm tra thuế, thanh tra thuế

a Kiểm tra thuế

Trang 16

Quy trình kiểm tra thuế được thực hiện theo Quyết định số 528/QĐ-TCT ngày 29 tháng 5 năm 2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Công việc kiểm tra thuế có thể thực hiện tại trụ sở cơ quan thuế và tại trụ sở của NNT Đối với từng trường hợp thực hiện như sau:

- Nếu kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế thì cán bộ thuế thực hiện kiểm tra, đối chiếu nội dung kê khai trong hồ sơ khai thuế với cơ sở dữ liệu của NNT và tài liệu có liên quan về NNT, so sánh với dữ liệu của NNT cùng ngành nghề, mặt hàng kinh doanh để phân tích, đánh giá tính tuân thủ của NNT

Đối với hồ sơ khai đầy đủ nội dung và đảm bảo tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế, không có dấu hiệu vi phạm thì chấp nhận

hồ sơ Đối với hồ sơ chưa rõ thì ghi nội dung để kiểm tra tiếp Trường hợp phát hiện trong hồ sơ chưa đủ tài liệu hoặc khai chưa đầy đủ các chỉ tiêu theo quy định thì cơ quan thuế thông báo cho NNT biết để bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ Trường hợp thấy có nội dung khai chưa đúng, số liệu khai không chính xác hoặc có những nội dung cần xác minh thì cơ quan thuế ra Thông báo bằng văn bản đề nghị NNT giải trình hoặc bổ sung thông tin, tài liệu

Trường hợp NNT không giải trình được, cơ quan thuế ban hành quyết định kiểm tra tại trụ sở NNT để làm rõ vi phạm hoặc thực hiện ấn định ngay số thuế phải nộp nếu có đủ căn cứ

- Nếu kiểm tra được thực hiện tại trụ sở của NNT thì quy trình như sau: Bước 1: Ban hành quyết định kiểm tra:

Thủ trưởng cơ quan thuế ra quyết định kiểm tra đối với trường hợp phải kiểm tra tại trụ sở của NNT Thời hạn gửi quyết định cho NNT chậm nhất là 03 ngày làm việc kể từ ngày ký quyết định

Bước 2: Tiến hành kiểm tra: Trưởng đoàn kiểm tra thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, lập biên bản công bố và giải thích nội dung Quyết định kiểm tra để đối tượng kiểm tra hiểu và chấp hành Đối tượng kiểm tra có nghĩa vụ cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu theo yêu cầu của đoàn kiểm tra

Trang 17

Bước 3: Lập biên bản kiểm tra: Biên bản kiểm tra thuế phải được lập theo mẫu số 04/KTTT ban hành kèm theo Thông tư số 28/2011/TT-BTC và được ký trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc kiểm tra

Bước 4: Xử lý kết quả kiểm tra thuế: Trưởng đoàn kiểm tra báo cáo lãnh đạo bộ phận kiểm tra để trình người ban hành Quyết định kiểm tra về kết quả kiểm tra Trường hợp kiểm tra cho kết quả phải xử lý thuế, xử phạt vi phạm hành chính, thì Thủ trưởng cơ quan thuế ban hành Quyết định xử lý thuế, xử phạt vi phạm hành chính Trường hợp qua kiểm tra thuế mà phát hiện hành vi vi phạm về thuế có dấu hiệu trốn thuế, gian lận về thuế thì trong thời hạn 10 ngày làm việc kể

từ ngày kết thúc kiểm tra, đoàn kiểm tra báo cáo thủ trưởng cơ quan thuế để ban hành quyết định xử lý sau kiểm tra hoặc chuyển hồ sơ sang bộ phận thanh tra hoặc xem xét xử lý theo quy định của pháp luật

b Thanh tra thuế Quy trình thanh tra thuế được thực hiện theo Quyết định

số 460/QĐ-TCT ngày 05 tháng 5 năm 2009 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Việc thanh tra NNT bao gồm các bước cơ bản sau:

Bước 1: Lập kế hoạch thanh tra: Việc thanh tra thuế được thực hiện căn cứ vào kế hoạch thanh tra hàng năm và đột xuất Thanh tra theo kế hoạch được tiến hành thường kỳ theo kế hoạch đã phê duyệt Thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế, nhằm giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính

Bước 2: Ban hành quyết định thanh tra thuế: Thủ trưởng cơ quan thuế ký ban hành Quyết định thanh tra theo mẫu số 03/KTTT ban hành kèm theo Thông

tư số 28/2011/TT-BTC

Bước 3: Tiến hành thanh tra theo trình tự:

- Công bố quyết định thanh tra: Quyết định thanh tra phải được lập theo mẫu số 05/KTTT theo quy định tại Thông tư 28/2011/TT-BTC Trưởng đoàn thanh tra thông báo với NNT được thanh tra về thời gian, thành phần

Trang 18

tham dự, giải thích nội dung Quyết định thanh tra để người nộp thuế hiểu rõ

và có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh

- Thực hiện thanh tra: Đoàn thanh tra thực hiện việc kiểm tra, đối chiếu thông tin trong hồ sơ khai thuế với sổ sách, chứng từ kế toán, báo cáo tài chính và các tài liệu có liên quan…hình thành các hồ sơ gốc

- Lập biên bản thanh tra thuế: Biên bản thanh tra thuế được lập theo mẫu số 04/KTTT ban hành kèm theo Thông tư 28/2011/TT-BTC và công bố công khai trước đoàn thanh tra, NNT Biên bản thanh tra phải được trưởng đoàn thanh tra và NNT (hoặc đại diện hợp pháp của người nộp thuế) ký vào từng trang, đóng dấu của NNT nếu NNT là tổ chức có con dấu riêng

Bước 4 Xử lý kết quả thanh tra thuế: Trưởng đoàn thanh tra báo cáo kết quả thanh tra với lãnh đạo bộ phận thanh tra để trình người ban hành Quyết định thanh tra và Quyết định xử lý về thuế, xử phạt vi phạm hành chính (nếu có) Trường hợp phát hiện hành vi trốn thuế có dấu hiệu tội phạm, đoàn thanh tra có trách nhiệm báo cáo lãnh đạo bộ phận thanh tra để trình người ban hành quyết định thanh tra xem xét theo quy định của pháp luật

Kiểm tra, thanh tra thuế là một khâu vô cùng quan trọng trong quá trình quản lý thuế tài nguyên đối với khai thác khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch Nếu như quy trình tuyên truyền - hỗ trợ NNT là công cụ để hướng dẫn, trợ giúp NNT thực hiện các thủ tục hành chính thuế một cách chính xác, thuận lợi thì thanh tra, kiểm tra lại là nhiệm vụ buộc cán bộ thuế phải trực tiếp thực hiện để giám sát, đánh giá lại kết quả thực hiện quy định của chính sách cũng như nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước của NNT

Trang 19

1.3.4.5 Đối với Quản lý thu nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế

a Quy trình quản lý thu nợ thuế được thực hiện theo Quyết định số 477/QĐ-TCT ngày 15 tháng 5 năm 2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế Nội dung của quy trình bao gồm:

- Lập chương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý thu nợ

Căn cứ vào hướng dẫn của Tổng cục Thuế và tình hình thực tế nợ thuế ở địa phương, Cục thuế tỉnh xây dựng chương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý thu

nợ thuế hàng năm của các doanh nghiệp trên địa bàn

Căn cứ vào chỉ đạo, hướng dẫn của Cục thuế tỉnh, Chi cục thuế các huyện, thành phố xây dựng chương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý nợ thuế và báo cáo Cục thuế trước ngày 30 tháng 12 hàng năm

- Thực hiện quản lý thu nợ và xử lý nợ

Công chức quản lý thu nợ thực hiện rà soát các trường hợp nợ của từng doanh nghiệp nợ thuế tháng trước chuyển sang và nợ mới phát sinh trong tháng theo nguyên nhân, tình trạng và tuổi nợ để phân loại các khoản nợ thành:

+ Nợ khó thu: Bao gồm nợ của NNT lâm vào tình trạng giải thể, phá sản;

nợ của NNT bỏ trốn, mất tích; nợ của NNT bị khởi tố; nợ của NNT ngừng và tạm ngừng hoạt động kinh doanh; nợ đang chờ giải quyết theo Luật Phá sản

+ Nợ chờ xử lý: Bao gồm nợ đang chờ điều chỉnh; nợ đang xử lý miễn, giảm, xoá nợ; nợ được gia hạn nợ, khoanh nợ, giãn nợ; nợ chờ xử lý bù trừ với tiền hoàn thuế

+ Nợ có khả năng thu: Là số tiền nợ thuế của NNT được xác định phải nộp vào Ngân sách Nhà nước nhưng đã hết hạn nộp theo quy định của pháp luật về thuế mà chưa nộp, bao gồm: Nợ thuế chậm nộp dưới 30 ngày; nợ thuế chậm nộp

từ 30 ngày đến 90 ngày; nợ thuế quá 90 ngày

- Quản lý nợ và xử lý thu nợ đối với nhóm nợ khó thu:

+ Đối với nợ khó thu do các nguyên nhân người nợ thuế lâm vào tình trạng giải thể, phá sản, nhưng chưa tuyên bố giải thể, phá sản: trong trường hợp này,

Trang 20

công chức quản lý nợ lập hồ sơ trình lãnh đạo cơ quan thuế yêu cầu doanh nghiệp

nợ thuế giải trình về việc chưa nộp tiền thuế, tiền phạt, đồng thời gửi thông báo tới các cơ quan chức năng liên quan về tình trạng nợ thuế để được xử lý theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật phá sản, kiến nghị các biện pháp cưỡng chế thu hồi nợ Nếu doanh nghiệp nợ thuế đã có quyết định giải thể hoặc tuyên bố phá sản thì công chức quản lý thu nợ phải thu thập thông tin, hồ sơ, chứng từ, thủ tục phá sản của doanh nghiệp nợ thuế Khi có quyết định của Toà án thì việc thu hồi, xử lý

nợ thực hiện theo quyết định của Toà án

+ Đối với nợ của chủ doanh nghiệp đã bỏ trốn, mất tích thì công chức quản

lý nợ lập hồ sơ trình lãnh đạo cơ quan thuế kiến nghị biện pháp thu nợ thuế, biện pháp cưỡng chế hoặc các biện pháp xử lý nợ khác

Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đã điều tra, xác minh được NNT còn tồn tại, có tài sản thì cơ quan thuế lập hồ sơ tiến hành cưỡng chế thu hồi nợ theo quy định Nếu không tìm được người nợ thuế hoặc người nợ thuế không có tài sản để thực hiện cưỡng chế thu nợ thì lập hồ sơ khoanh nợ, theo dõi riêng Sau này khi tìm được người nợ thuế hoặc nguồn tài sản thì lập hồ sơ tiến hành cưỡng chế thu hồi nợ hoặc xử lý nợ theo quy định

+ Đối với nợ thuế của chủ DN đang bị khởi tố hoặc đang chấp hành án phạt

tù thì công chức quản lý nợ lập hồ sơ trình lãnh đạo cơ quan thuế tình trạng nợ thuế của doanh nghiệp, đồng thời gửi các cơ quan chức năng liên quan để thông báo về tình trạng nợ thuế để xử lý khi có kết luận của cơ quan pháp luật hoặc theo bản án của Toà án Công chức quản lý nợ lập hồ sơ khoanh nợ để theo dõi riêng Khi có kết luận của cơ quan điều tra, quyết định của Toà án thì thực hiện thủ tục thu hồi nợ thuế hoặc lập hồ sơ xoá nợ theo phán quyết của Tòa án

+ Đối với nợ của chủ doanh nghiệp nợ thuế đang ngừng hoặc tạm ngừng hoạt động kinh doanh thì, sau khi đã làm đầy đủ các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không thu hồi được nợ và xác định các khoản nợ đó không có khả năng thu hồi thì làm hồ sơ đề nghị xoá nợ

Trang 21

- Quản lý nợ và xử lý thu nợ đối với nhóm nợ chờ xử lý

Hàng tháng, công chức quản lý nợ rà soát hồ sơ của từng người nợ thuế, từng trường hợp nợ cụ thể, phối hợp với các bộ phận chức năng của cơ quan thuế

để đề xuất biện pháp xử lý đối với từng khoản nợ, người nợ thuế Đối với các trường hợp hồ sơ đầy đủ theo đúng quy định thì làm thủ tục trình cấp có thẩm quyền xử lý nợ với từng khoản nợ Các trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, chưa đúng theo quy định thì hướng dẫn người nợ thuế lập và hoàn chỉnh hồ sơ đảm bảo theo đúng quy định để làm thủ tục trình cấp có thẩm quyền xử lý nợ với từng khoản nợ

- Quản lý nợ và xử lý thu nợ đối với nhóm nợ có khả năng thu:

Đối với nợ thuế chậm nộp dưới 30 ngày, tiến hành đôn đốc nộp thuế bằng hình thức gọi điện thoại hoặc phát hành Thông báo nộp thuế

Đối với nợ thuế chậm nộp từ 30 ngày đến 90 ngày, lập thông báo tiền nợ thuế và tiền phạt chậm nộp gửi cho NNT Đối với khoản nợ chờ xử lý, nợ khó thu của NNT thì tạm thời chưa phát hành thông báo phạt chậm nộp, khi có kết quả xử

lý xác định chính xác số nợ thuế, NNT hoạt động kinh doanh trở lại sẽ phát hành thông báo nợ thuế và tiền phạt chậm nộp

Sau thời hạn 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp mà NNT chưa nộp tiền nợ thuế và tiền phạt chậm nộp hoặc nộp chưa đủ số thuế còn thiếu thì cơ quan thuế sẽ tiến hành các biện pháp cưỡng chế nợ thuế theo quy định của pháp luật

b) Quy trình cưỡng chế nợ thuế được thực hiện theo Quyết định số 490/QĐ-TCT ngày 08/5/2009 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế, quy định nội dung, trình tự, thủ tục cưỡng chế nợ thuế đối với các trường hợp là NNT còn nợ tiền thuế, tiền phạt về thuế đã quá 90 ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế, nộp tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế theo quy định; NNT nợ tiền thuế, tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế khi đã hết thời hạn gia hạn nộp tiền thuế và NNT còn nợ tiền thuế, tiền phạt có hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn Các biện pháp cưỡng chế bao gồm:

Trang 22

- Biện pháp trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, áp dụng đối với trường hợp đối tượng bị cưỡng chế

có tiền gửi tại Kho bạc Nhà nước, ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng khác Khi nhận được quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, Kho bạc Nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng nơi đối tượng bị cưỡng chế mở tài khoản có trách nhiệm trích số tiền ghi trong quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế

và chuyển sang tài khoản ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước, đồng thời thông báo bằng văn bản cho người ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế và đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế biết

- Biện pháp khấu trừ một phần tiền lương hoặc một phần thu nhập được áp dụng đối với NNT bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế đang làm việc theo biên chế hoặc hợp đồng từ sáu tháng trở lên hoặc đang được hưởng trợ cấp hưu trí, mất sức Cơ quan, tổ chức sử dụng lao động đang quản lý tiền lương hoặc thu nhập của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế có các trách nhiệm khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế và chuyển số tiền đã khấu trừ vào tài khoản ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước theo nội dung ghi trong quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, kể từ kỳ trả tiền lương hoặc thu nhập gần nhất cho đến khi khấu trừ đủ số tiền thuế, tiền phạt theo quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, đồng thời thông báo cho người ra quyết định cưỡng chế và đối tượng bị cưỡng chế biết

- Biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên được áp dụng trong

trường hợp cơ quan quản lý thuế không áp dụng được 02 biện pháp cưỡng chế thi

hành quyết định hành chính thuế như trên hoặc đã áp dụng nhưng vẫn chưa thu đủ

số tiền thuế nợ, tiền phạt thì được quyền áp dụng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên để thu tiền thuế nợ, tiền phạt vào ngân sách nhà nước

Trang 23

- Biện pháp thu tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ được áp dụng trong trường hợp cơ quan quản lý thuế không áp dụng được 03 biện pháp cưỡng chế như trên hoặc đã áp dụng nhưng vẫn chưa thu đủ số tiền thuế nợ, tiền phạt Cơ quan quản lý thuế có căn cứ xác định bên thứ ba đang có khoản nợ hoặc giữ tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế Nguyên tắc thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế từ bên thứ ba được quy định như sau:

Bên thứ ba có khoản nợ đến hạn phải trả cho đối tượng bị cưỡng chế hoặc giữ tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thì có trách nhiệm nộp tiền thuế

nợ, tiền phạt thay cho đối tượng bị cưỡng chế Số tiền bên thứ ba nộp vào ngân sách nhà nước thay cho đối tượng bị cưỡng chế được xác định là số tiền đã thanh toán cho đối tượng bị cưỡng chế Tổ chức, cá nhân đang có khoản nợ hoặc nắm giữ tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế không thực hiện nộp thay số tiền thuế bị cưỡng chế trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của cơ quan quản lý thuế thì bị coi là nợ tiền thuế của Nhà nước và bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định

- Biện pháp dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu được thực hiện khi cơ quan hải quan không áp dụng được hoặc đã áp dụng các biện pháp trích tiền từ tài khoản; kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên; biện pháp thu tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ nhưng vẫn chưa thu đủ số tiền thuế nợ, tiền phạt

- Biện pháp đình chỉ sử dụng hóa đơn

- Biện pháp thu hồi mã số thuế

- Biện pháp thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề

Cưỡng chế bằng biện pháp đình chỉ sử dụng hóa đơn, thu hồi mã số thuế, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt

Trang 24

động, giấy phép hành nghề được thực hiện khi cơ quan quản lý thuế đã áp dụng lần lượt 05 biện pháp cưỡng chế như trên nhưng vẫn chưa thu đủ số tiền thuế nợ, tiền phạt Khi thực hiện 03 biện pháp này, thủ trưởng cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm thông báo cho đối tượng bị cưỡng chế biết trong thời hạn ba ngày làm việc trước khi đình chỉ sử dụng hóa đơn, thu hồi mã số thuế hoặc gửi văn bản yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề đồng thời thực hiện thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng

Trên thực tế, công tác thu thuế thường gặp phải tình trạng doanh nghiệp khai thác vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch chậm nộp thuế, không nộp thuế Bên cạnh nguyên nhân khó khăn về tài chính còn có một nguyên nhân khác là do tính chây ỳ, cố tình vi phạm của NNT trong quy định về nộp thuế Do vậy quy trình quản lý thu nợ và cưỡng chế nộp thuế là công cụ để giúp cán bộ thuế xử lý tình trạng trên

1.3.4.6 Các quy chế phối hợp

Như chúng ta đã biết, đặc điểm của thuế là điều tiết thu nhập của dân cư, nhà nước không hoàn trả trực tiếp cho NNT mà chỉ hoàn trả gián tiếp thông qua việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cộng Nhà nước cần phải thu đúng, thu đủ

để đảm bảo chi cho các mục tiêu trên, còn NNT thường muốn nộp thuế càng ít càng tốt Do đó khi ý thức tự giác chấp hành pháp luật thuế của người dân chưa cao thì tình trạng trốn thuế, nợ thuế là điều không thể tránh khỏi Để công tác thuế thực sự phát huy hiệu quả đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân, nhiều cấp, nhiều ngành, tạo sự đồng thuận, phối hợp trong công tác thu ngân sách

Hiện nay, Tổng cục thuế đã ký quy chế phối hợp với nhiều Bộ, ngành, mà cụ thể ở các địa phương là quy chế phối hợp giữa Cục thuế, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Công an tỉnh, các cơ quan ngôn luận như báo, đài, Sở tư pháp, ban tuyên giáo…

Trang 25

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng, triển khai chính sách thu thuế tài nguyên đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản: vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch

Các nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng, triển khai chính sách thu thuế tài nguyên đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản là vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch có thể chia thành 02 nhóm gồm:

1.4.1 Nhóm nhân tố khách quan

Chính sách thuế tài nguyên là một trong những công cụ tài chính thể hiện quan điểm, đường lối của nhà nước trong khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên quốc gia phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng ở những giai đoạn nhất định Trong đầu những năm 90 của thế kỉ trước, đất nước Việt Nam cực kỳ khó khăn do thiếu vốn, thiếu công nghệ, mục tiêu của Nhà nước là tăng nguồn thu cho ngân sách để bù đắp các khoản chi tiêu cho xây dựng cơ bản, đầu tư trang thiết bị vật chất do vậy chính sách thuế tài nguyên đối với khai thác khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch trong giai đoạn này thể hiện quan điểm của nhà nước là khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước, các công ty có vốn đầu

tư nước ngoài tiến hành hoạt động khai thác và nộp thuế cho ngân sách Quan điểm này được thể hiện thông qua quy định thuế suất, sản lượng tính thuế và giá tính thuế thấp, thực hiện miễn giảm đối với dự án thuộc đối tượng ưu đãi đầu tư Tuy nhiên ở giai đoạn hiện nay, bên cạnh mục tiêu góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước, chính sách thuế tài nguyên hiện hành còn thể hiện ý chí của Nhà nước trong quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển bền vững kinh

tế - xã hội, nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của nguồn tài nguyên quốc gia Điều này được thể hiện ở những quy định chặt chẽ về đối tượng chịu thuế, người nộp thuế, sản lượng tài nguyên tính thuế, thuế suất thuế tài nguyên cũng như quy định bãi bỏ miễn giảm thuế đối với dự án thuộc đối tượng ưu đãi đầu tư sẽ được trình bày cụ thể ở Chương III

Trang 26

Ý thức tuân thủ pháp luật thuế của NNT cũng là một nhân tố khách quan ảnh hưởng tới việc triển khai thực hiện chính sách thu thuế tài nguyên đối với doanh nghiệp khai thác vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch Bên cạnh phần lớn bộ phận NNT tự giác tuân thủ pháp luật đã tạo nên những thắng lợi bước đầu của quá trình thực hiện Luật thuế tài nguyên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ NNT tìm mọi cách để trốn, tránh thuế nhằm kiếm lợi cho bản thân

1.4.2 Nhóm nhân tố chủ quan, bao gồm:

Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế là yếu

tố đầu tiên và có vai trò quyết định đến công tác quản lý thu thuế Một bộ máy gọn nhẹ, hiệu quả sẽ góp phần làm cho công tác thu thuế đạt kết quả cao và ngược lại, nếu bộ máy quá cồng kềnh, không phù hợp với cơ chế kinh tế thì sẽ không đem lại kết quả mà còn làm kìm hãm sự phát triển của sản xuất kinh doanh

Hệ thống chính sách văn bản pháp luật thuế Hệ thống chính sách văn bản pháp luật về thuế có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý thuế Một khi chính sách thuế rõ ràng, hợp lý sẽ tạo điều kiện cho người nộp thuế thực hiện tốt nghĩa

vụ của mình, cơ quan thuế cũng sẽ dễ dàng hơn khi thực hiện quản lý

Trang 27

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP VÀ

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN 2.1 Mục tiêu

- Đề xuất một số định hướng giải pháp hoàn thiện nội dung chính sách, quy trình áp dụng chính sách thuế tài nguyên đối với DN khai thác khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch trên địa bàn tỉnh Hoà Bình

2.2 Đối tượng

Các nội dung liên quan đến chính sách và quy trình triển khai chính sách thu thuế tài nguyên khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch

2.3 Phạm vi

- Không gian: tỉnh Hòa Bình

- Thời gian: từ 2006 đến nay

Trang 28

Phạm vi nghiên cứu về chính sách thuế tài nguyên cát, đá, sỏi, đất làm gạch bao gồm quy định về danh mục tài nguyên chịu thuế, người nộp thuế tài nguyên, căn cứ tính thuế tài nguyên, xác định sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế tài nguyên và thuế suất thuế tài nguyên

Phạm vi về quy trình triển khai chính sách thu thuế tài nguyên khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch bao gồm quy trình tuyên truyền và hỗ trợ NNT; đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế; miễn thuế, giảm thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; quản lý thu nợ thuế, cưỡng chế nộp thuế nợ đọng; các quy chế phối hợp

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

2.4.1 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Luận văn sử dụng các phương pháp sau:

- Nghiên cứu tại bàn (desk study)

Học viên sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn để thu thập, tìm hiểu các thông tin liên quan tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2011 - 2015 tại Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm giai đoạn 2011- 2015 ban hành chính thức tháng 7/2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hoà Bình Các thông tin liên quan tới thực trạng khai thác khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hoà Bình; Định hướng phát triển khai thác khoáng sản trên địa bàn tại Báo cáo tình hình hoạt động và kết quả sản xuất kinh doanh của các dự án khai thác chế biến khoáng sản kim loại, phi kim và than đá trên địa bàn tỉnh Hoà Bình; Báo cáo tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 01/3/1996 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược tài nguyên Khoáng sản và phát triển công nghiệp khai khoáng đến năm 2010 của Sở Tài nguyên

và Môi trường tỉnh Hoà Bình

Trang 29

- Phương pháp chuyên gia

Luận văn có sử dụng các quan điểm của các chuyên gia nước ngoài và Việt Nam tại hội thảo “Tài nguyên khoáng sản và phát triển bền vững ở Việt Nam” do liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với tổng hội Địa chất Việt Nam và Viện Tư vấn phát triển (Code) tổ chức tại Hà Nội tháng 5/2010 Đó là quan điểm của Ông Jason Morriss-Jung, Đại học California - Berkeley, Hoa Kỳ; Ông Trần Trung Kiên - Viện tư vấn phát triển - Code, ngài Richard Auty, nhà nghiên cứu Michael Lewin Ross, đại điện quỹ tiền tệ quốc tế IMF, TS Phạm Duy Hiển phát biểu tại hội thảo để đưa ra trong phần tổng quan của vấn đề nghiên cứu

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực địa

Luận văn sử dụng các phương pháp sau:

- Khảo sát thực tiễn các doanh nghiệp khai thác khoáng sản

Luận văn đã tiến hành khảo sát thực tiễn tại 40 doanh nghiệp khai thác vàng, cát đá, sỏi đất làm gạch đóng tại địa bàn 5 huyện, thành phố là Kim Bôi, Lương Sơn, Kỳ Sơn, Lạc Thuỷ và Hoà Bình nhằm tiếp cận và đánh giá thực trạng triển khai chính sách thuế tài nguyên tại DN, đồng thời cũng tiến hành khảo sát, đánh giá công tác quản lý thu thuế tài nguyên đối với 05 Chi cục thuế trực thuộc nói trên

- Phỏng vấn bằng bảng hỏi một số đối tượng liên quan

Thực hiện phát phiếu phỏng vấn đối với kế toán doanh nghiệp khai thác tài nguyên, phiếu phỏng vấn cán bộ thuế về 02 nội dung là đánh giá tính phù hợp/ không phù hợp của chính sách thuế tài nguyên hiện hành và các quy trình đang áp dụng quản lý thu thuế tài nguyên

Phiếu phỏng vấn kế toán doanh nghiệp, phỏng vấn cán bộ thuế đưa ra các nhận định của tác giả cũng như nhận định của các chuyên gia, các ý kiến tham khảo của các đối tượng có liên quan về danh mục tài nguyên chịu thuế, người nộp thuế tài nguyên, căn cứ tính thuế tài nguyên, sản lượng tài nguyên, giá tính thuế tài nguyên, thuế suất thuế tài nguyên của hoạt động

Trang 30

khai thác khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch; các nhận định, đánh giá về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thuế tài nguyên, công tác đăng ký thuế, khai thuế, tính thuế, nộp thuế, đôn đốc thu thuế chậm nộp, công tác quản lý hoá đơn, chứng từ thu thuế, công tác thanh tra, kiểm tra thuế, hiệu quả của việc thực hiện quy chế phối hợp để người được phỏng vấn đánh giá Phiếu phỏng vấn cũng đưa ra câu hỏi và các phương án trả lời tương ứng với các nội dung nêu trên để người được phỏng vấn lựa chọn

Thông qua các chuyến khảo sát tại trụ sở doanh nghiệp khai thác khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch, các chuyến công tác tại chi cục thuế các huyện, thành phố tác giả thực hiện phát phiếu phỏng vấn, thực hiện thu lại phiếu phỏng vấn hoặc đề nghị người được phỏng vấn gửi lại phiếu sau khi điền đầy đủ các thông tin cần thu thập

Số phiếu phỏng vấn phát ra đối với kế toán doanh nghiệp khai thác khoáng sản là 150 phiếu, số phiếu thu về là 134 phiếu Số phiếu phỏng vấn thực hiện đối với cán bộ thuế cả phát ra và thu về là 150 phiếu

2.4.3 Phương pháp phân tích, xây dựng báo cáo tổng hợp

Luận văn sử dụng các phương pháp sau:

- So sánh theo thời gian, theo chỉ tiêu:

Phương pháp so sánh theo thời gian, theo chỉ tiêu được sử dụng trong phân tích về tổng số thu thực hiện, số thu từ thuế tài nguyên, số thu thuế từ hoạt động khai thác khoáng sản, số thu từ hoạt động khai thác vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch

so với số thu thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Hoà Bình từ năm 2006-2010 nhằm tính toán, đánh giá kết quả thực thi chính sách thuế tài nguyên đối với DN khai thác khoáng sản

- Phân tích các điểm mạnh, yếu, cơ hội, thách thức (SWOT):

Nhằm, mô tả những điểm mạnh, yếu, cơ hội, thách thức trong áp dụng các nội dung của chính sách thuế tài nguyên đối với DN khai thác khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

- Phương pháp tổng hợp:

Trang 31

Nhằm tổng hợp các kết quả nghiên cứu từng nội dung thành báo cáo tổng

hợp luận văn

Tác giả luận văn đã thực hiện tuần tự các bước công việc từ thu thập các thông tin có liên quan tới đề tài, nội dung nghiên cứu tại các báo cáo, tài liệu, ý kiến của các chuyên gia, báo cáo của các sở ngành có liên quan để đưa ra nhìn nhận tại phần tổng quan, các vấn đề lý luận chung vế thuế tài nguyên, chính sách thuế tài nguyên, quy trình áp dụng chính sách thuế tài nguyên Sau đó tiến hành điều tra, khảo sát thực tế tại Chi cục thuế các huyện, thành phố, các doanh nghiệp khai thác vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch Trên cơ sở kết quả thu được, luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp để đánh giá, đối chiếu, so sánh các nhận định về những điểm thành công, những điểm còn tồn tại của chính sách thuế tài nguyên, quy trình áp dụng chính sách thuế tài nguyên đồng thời đưa ra những kiến nghị, giải pháp, các kết luận để hoàn thiện 02 nội dung chính đã đề cập tại phiếu phỏng vấn

Trang 32

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Những nội dung cơ bản của chính sách thuế tài nguyên đối với khai thác khoáng sản vàng, cát, đá , sỏi, đất làm gạch ở Việt Nam

3.1.1 Những văn bản về chính sách thuế tài nguyên đối với khai thác khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch ở Việt Nam đang có hiệu lực

- Luật thuế tài nguyên số 45/2009/QH12, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2010;

- Nghị quyết số 928/2010/UBTVQH10 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 19/4/2010 về việc ban hành Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên;

- Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ ban hành và Thông tư số 105/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 23/7/2010 của Bộ Tài chính

3.1.2 Những nội dung cơ bản của các văn bản trên về vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch bao gồm:

a Danh mục tài nguyên chịu thuế

Theo quy định tại Điều 2 Luật thuế tài nguyên số 45/2009/QH12 ngày 25/11/2009 (Luật thuế tài nguyên) và Điều 2 Thông tư 105/2010/TT-BTC ngày

23 tháng 7 năm 2010 của Bộ Tài chính (Thông tư 105) thì danh mục tài nguyên chịu thuế là các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm:

i Khoáng sản kim loại;

ii Khoáng sản không kim loại;

b Người nộp thuế tài nguyên

Theo quy định tại Điều 3 Luật thuế tài nguyên và Điều 3 Thông tư 105 thì NNT tài nguyên là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên

Trang 33

NNT tài nguyên trong một số trường hợp được quy định cụ thể như sau:

- DN khai thác tài nguyên được thành lập trên cơ sở liên doanh thì doanh nghiệp liên doanh là NNT;

- Bên Việt Nam và bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh khai thác tài nguyên thì trách nhiệm nộp thuế của các bên phải được xác định cụ thể trong hợp đồng hợp tác kinh doanh;

- Tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nhỏ, lẻ bán cho tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua và tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua cam kết chấp thuận bằng văn bản về việc kê khai, nộp thuế thay cho tổ chức, cá nhân khai thác thì tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua là NNT

c Căn cứ tính thuế tài nguyên

Theo quy định tại Điều 4 Luật thuế tài nguyên và Điều 4 Thông tư 105, căn

cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế đơn vị tài nguyên, thuế suất thuế tài nguyên, trong đó giá tính thuế đơn vị tài nguyên được

áp dụng tương ứng với loại tài nguyên chịu thuế của kỳ tính thuế

Số thuế tài nguyên phải nộp được tính như sau:

Giá tính thuế đơn

vị tài nguyên

x

Thuế suất thuế tài nguyên

Trường hợp được cơ quan nhà nước ấn định mức thuế tài nguyên phải nộp trên một đơn vị tài nguyên khai thác thì số thuế tài nguyên phải nộp được xác định như sau:

Trang 34

Việc ấn định thuế tài nguyên được thực hiện căn cứ vào cơ sở dữ liệu của

cơ quan thuế, phù hợp với các quy định về ấn định thuế đối với DN chưa thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ hoặc các quy định xử lý vi phạm về thuế và giá tính thuế do UBND cấp tỉnh quy định

d Xác định sản lượng tài nguyên để tính thuế

Sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng tài nguyên thực tế khai thác theo quy định tại Điều 5 Luật Thuế tài nguyên và được xác định như sau:

- Đối với tài nguyên khai thác xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thì sản lượng tài nguyên tính thuế là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của tài nguyên thực tế khai thác trong kỳ tính thuế

Đối với loại tài nguyên khai thác thu được sản phẩm tài nguyên có nhiều cấp độ, chất lượng, giá trị thương mại khác nhau thì sản lượng tính thuế được phân loại theo sản lượng tài nguyên có cùng cấp độ, chất lượng, giá trị thương mại như nhau hoặc quy đổi ra đơn vị sản lượng tài nguyên để làm căn cứ xác định sản lượng tính thuế cho toàn bộ sản lượng tài nguyên khai thác

- Đối với tài nguyên khai thác chưa xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác do chứa nhiều chất, tạp chất khác nhau thì sản lượng tài nguyên được xác định trong một số trường hợp như sau:

+ Đối với tài nguyên khai thác phải chuyển qua khâu sàng tuyển, phân loại mới bán thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định theo số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của từng chất thu được sau khi sàng tuyển, phân loại Tài nguyên qua sàng tuyển, phân loại vẫn ở trạng thái quặng, chưa thành sản phẩm khác Đối với đất, đá, phế thải, bã xít thu được qua sàng tuyển nếu bán ra thì xác định sản lượng tính thuế tài nguyên theo từng loại chất tương ứng

+ Đối với tài nguyên khai thác có chứa nhiều chất khác nhau nhưng không qua sàng, tuyển, phân loại và không xác định được sản lượng từng chất khi bán ra thì sản lượng tài nguyên tính thuế của từng chất được xác định theo sản lượng tài

Trang 35

nguyên thực tế khai thác và tỷ lệ của từng chất có trong tài nguyên đã được kiểm định theo mẫu quặng tài nguyên khai thác

- Đối với tài nguyên khai thác không bán ra mà đưa vào sản xuất sản phẩm khác nếu không trực tiếp xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định căn cứ vào sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ tính thuế và định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm

Định mức sử dụng tài nguyên phải tương ứng với tiêu chuẩn công nghệ sản xuất, chế biến sản phẩm đang ứng dụng và được người nộp thuế đăng ký với cơ quan thuế vào kỳ khai thuế đầu tiên Trường hợp mức tiêu hao tài nguyên để sản xuất một đơn vị sản phẩm cao hơn 5% so với tiêu chuẩn công nghệ thiết kế thì cơ quan thuế phối hợp với các cơ quan liên quan để thẩm định làm cơ sở ấn định sản lượng tài nguyên khai thác chịu thuế

- Đối với tài nguyên được khai thác thủ công, phân tán hoặc khai thác lưu động, không thường xuyên, sản lượng tài nguyên khai thác dự kiến trong một năm

có giá trị dưới 200.000.000 đồng thì thực hiện khoán sản lượng tài nguyên khai thác theo mùa vụ hoặc định kỳ để tính thuế Cơ quan thuế phối hợp với cơ quan có liên quan ở địa phương xác định sản lượng tài nguyên khai thác được khoán để tính thuế

Việc khoán thuế phải căn cứ vào tình hình khai thác thực tế, quy trình công nghệ sử dụng khai thác, sản xuất sản phẩm theo hồ sơ thiết kế, định mức tiêu chuẩn kỹ thuật ngành hoặc sản lượng khai thác sử dụng của tổ chức, cá nhân khác tương đương

Cơ quan thuế căn cứ hồ sơ đăng ký thuế tài nguyên, hồ sơ thiết kế kỹ thuật công nghệ khai thác tài nguyên, hồ sơ khai thuế tài nguyên, mức độ hạn chế về điều kiện khai thuế tài nguyên để phân tích, phối hợp với các cơ quan quản lý ngành liên quan xác định sản lượng và giá trị tài nguyên khai thác trong năm để xác định thuộc diện khoán sản lượng tài nguyên chịu thuế

Trang 36

- Trường hợp tổ chức, cá nhân ký hợp đồng mua tài nguyên từ các tổ chức,

cá nhân khai thác tài nguyên nhỏ lẻ và tổ chức, cá nhân đầu mối thu mua cam kết bằng văn bản chấp thuận kê khai nộp thuế thay thì sản lượng tài nguyên tính thuế

là sản lượng tài nguyên thực tế thu mua

đ Giá tính thuế tài nguyên

Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức,

cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 50/2010/NĐ-CP và phải được thể hiện trên chứng từ bán hàng, nhưng không được thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định; trường hợp giá bán tài nguyên khai thác thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh thì tính thuế tài nguyên theo giá do UBND cấp tỉnh quy định Giá tính thuế tài nguyên được xác định đối với từng trường hợp như sau:

- Trường hợp xác định được giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên

+ Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng (không phân biệt địa bàn tiêu thụ) và được áp dụng làm giá tính thuế cho toàn bộ sản lượng tài nguyên khai thác trong tháng có cùng phẩm cấp, chất lượng, không phân biệt một phần vận chuyển đi nơi khác tiêu thụ hoặc đưa vào sản xuất, chế biến, sàng tuyển, phân loại; giá bán của một đơn vị tài nguyên được tính bằng tổng doanh thu (chưa có thuế GTGT) của loại tài nguyên bán ra chia cho tổng sản lượng loại tài nguyên tương ứng bán ra trong tháng

- Trường hợp tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên cho Tập đoàn, Tổng công ty, Công ty để tập trung một đầu mối tiêu thụ theo hợp đồng thoả thuận giữa các bên thì áp dụng giá tính thuế đơn vị tài nguyên do UBND cấp tỉnh tại địa phương khai thác tài nguyên quy định

+ Trường hợp trong tháng có phát sinh sản lượng tài nguyên khai thác, nhưng không phát sinh doanh thu bán tài nguyên thì giá tính thuế đơn vị tài nguyên được xác định theo giá tính thuế đơn vị tài nguyên bình quân gia quyền

Trang 37

của tháng trước liền kề, nhưng nếu tính thuế bình quân gia quyền của tháng trước liền kề thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định thì thuế tài nguyên tính theo giá do UBND cấp tỉnh quy định

- Trường hợp tài nguyên chưa xác định được giá bán tài nguyên khai thác theo hướng dẫn thì giá tính thuế tài nguyên được xác định theo một trong những căn cứ sau:

+ Giá bán thực tế trên thị trường khu vực của đơn vị sản phẩm tài nguyên cùng loại, có giá trị tương đương, nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định

+ Trường hợp tài nguyên khai thác có chứa nhiều chất khác nhau thì giá tính thuế xác định theo giá bán đơn vị của từng chất và hàm lượng của từng chất trong tài nguyên khai thác, nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định

- Tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nhưng không bán ra; hoặc không thực hiện đầy đủ chế độ sổ sách kế toán, chứng từ kế toán theo chế độ quy định; tổ chức, cá nhân nộp thuế tài nguyên theo phương pháp ấn định hoặc trường hợp loại tài nguyên xác định được sản lượng ở khâu khai thác nhưng do mô hình tổ chức, khai thác, sàng tuyển, tiêu thụ qua nhiều khâu độc lập nên không có đủ căn cứ để xác định giá bán tài nguyên khai thác thì áp dụng giá bán đơn vị tài nguyên do UBND cấp tỉnh tại địa phương có khai thác tài nguyên quy định cho từng thời kỳ

để tính thuế tài nguyên

Căn cứ đặc điểm, yêu cầu về xây dựng giá tính thuế tài nguyên tại địa phương, UBND cấp tỉnh có văn bản chỉ đạo, giao Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Cục Thuế, Sở Tài nguyên và Môi trường xây dựng phương án giá tính thuế tài nguyên trình UBND cấp tỉnh quyết định

Việc xây dựng giá tính thuế tài nguyên phải đảm bảo phù hợp với hàm lượng, chất lượng, sản lượng của loại tài nguyên, tỷ lệ thu hồi tài nguyên, giá tài

Trang 38

nguyên bán ra trên thị trường địa phương có tài nguyên khai thác và tham khảo thêm giá bán tài nguyên trên thị trường của địa phương lân cận

Khi giá bán của loại tài nguyên có biến động tăng hoặc giảm 20% trở lên thì phải điều chỉnh giá tính thuế tài nguyên Sở Tài chính tỉnh, thành phố chủ trì phối hợp với Cục Thuế, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức khảo sát tình hình

về giá bán tài nguyên trên thị trường địa phương và lập phương án điều chỉnh giá tính thuế trình UBND cấp tỉnh quyết định và báo cáo về Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế)

Cơ quan thuế trực tiếp quản lý thu thuế tài nguyên niêm yết công khai giá tính thuế đơn vị tài nguyên tại trụ sở cơ quan thuế

e Thuế suất

Thuế suất thuế tài nguyên làm căn cứ tính thuế tài nguyên đối với từng loại tài nguyên khai thác được quy định tại Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên ban hành kèm theo Nghị quyết số 928/2010/UBTVQH12 ngày 19 tháng 4 năm 2010 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội (Phụ biểu 1)

3.2 Đánh giá những điểm phù hợp và chưa phù hợp của chính sách thuế tài nguyên đối với khai thác khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch

3.2.1 Những nội dung phù hợp

- Về danh mục tài nguyên chịu thuế

Trong tổng số 134 phiếu phỏng vấn kế toán doanh nghiệp khai thác khoáng sản và 150 phiếu phỏng vấn cán bộ thuế thu về, có 284 phiếu (bằng 100%) cho rằng chính sách thuế tài nguyên hiện hành về cơ bản đã quy định bao quát đối tượng chịu thuế tài nguyên khoáng sản, cụ thể là vàng, cát bao gồm cát và cát làm thuỷ tinh, đá sỏi để phân biệt với đá nung vôi và sản xuất xi măng, đất làm gạch để phân biệt với đất khai thác để san lấp, xây dựng công trình

- Về người nộp thuế

Trong tổng số 284 phiếu phỏng vấn thu về có 256 phiếu (bằng 90%) cho rằng, pháp luật thuế tài nguyên hiện hành đã quy định rõ ràng người nộp thuế tài

Trang 39

nguyên đối với hoạt động khai thác vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên đó Đối với một số trường hợp cụ thể như doanh nghiệp khai thác tài nguyên được thành lập trên cơ sở liên doanh, bên Việt Nam và bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh khai thác tài nguyên hay tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nhỏ, lẻ bán cho tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua, Luật thuế tài nguyên hiện hành cũng quy định chi tiết và đầy đủ

- Về sản lượng tài nguyên tính thuế

Kết quả khảo sát thông qua phiếu phỏng vấn thu về cho thấy có 284 phiếu (bằng 100%) cho rằng quy định về sản lượng tài nguyên tính thuế của vàng, cát,

đá, sỏi, đất làm gạch tại Luật thuế tài nguyên hiện hành là phù hợp Ngoài ra quy định của chính sách thuế tài nguyên về sản lượng tài nguyên tính thuế đối với các loại khoáng sản trên trong trường hợp xác định được hoặc chưa xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng khai thác; hoặc khai thác đưa vào sản xuất sản phẩm khác; hoặc được khai thác thủ công, phân tán hay khai thác lưu động, không thường xuyên cũng tương đối rõ ràng và đầy đủ

- Về giá tính thuế

Tổng số 150 phiếu phỏng vấn cán bộ thuế thu về (bằng 100%) đều cho rằng điểm mới cơ bản của Luật thuế tài nguyên là phù hợp Theo đó giá tính thuế tài nguyên khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch của tổ chức, cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng (Pháp lệnh thuế tài nguyên trước đây quy định giá tính thuế tài nguyên khoáng sản vàng, cát, đá, sỏi, đất làm gạch là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên tại nơi khai thác)

- Về thuế suất

Trong tổng số 150 phiếu phỏng vấn cán bộ thuế thu về có 135 phiếu (bằng 90%) cho rằng, thuế suất thuế tài nguyên quy định như hiện hành đối với khoáng sản kim loại là vàng, khoáng sản không kim loại bao gồm cát, đá, sỏi, đất làm

Trang 40

gạch là phù hợp Trong khi đó 81/134 phiếu phỏng vấn kế toán doanh nghiệp (bằng 60%) lại có ý kiến cho rằng quy định thuế suất như vậy là quá cao So với mức thuế suất thuế tài nguyên cũ thì thuế suất của nhóm khoáng sản kim loại tăng

từ 3 đến 6%, nhóm khoáng sản không kim loại tăng từ 1 đến 6%

3.2.2 Những nội dung chưa phù hợp

- Về danh mục tài nguyên chịu thuế

Trong tổng số 134 phiếu phỏng vấn kế toán doanh nghiệp thu về, có 130 phiếu (bằng 97%) cho rằng Luật thuế tài nguyên, các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành chưa quy định chi tiết về danh mục tài nguyên chịu thuế dẫn tới việc người thực hiện Luật, nhất là đối với các doanh nghiệp mới thành lập thường gặp lúng túng Cụ thể, Luật thuế tài nguyên ban hành ngày 25/11/2009 và

có hiệu lực thi hành từ 01/7/2010 Tuy nhiên danh mục tài nguyên chịu thuế đối với khoáng sản kim loại, khoáng sản không kim loại lại chỉ được quy định chi tiết tại Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên ban hành kèm theo Nghị quyết số 928/2010/UBTVQH ngày 19/4/2010 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội Ngày 14/5/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 50/2010/NĐ-CP quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế tài nguyên Sau khi Luật có hiệu lực được hơn 07 tháng, ngày 23 tháng 7 năm 2010, Bộ Tài chính mới ban hành Thông tư số 105 /2010/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên và hướng dẫn thi hành Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Thuế tài nguyên Tuy nhiên cả Luật, Nghị Định và Thông tư chỉ chia khoáng sản thành 02 loại là khoáng sản kim loại và không kim loại mà không đưa ra định nghĩa cũng như liệt kê cụ thể danh mục chi tiết

- Về Người nộp thuế

Tổng hợp kết quả trên 150 số phiếu phỏng vấn cán bộ thuế thu về cho thấy, 100% cán bộ thuế được hỏi cho rằng quy định người nộp thuế trong trường hợp

Ngày đăng: 21/09/2017, 09:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm