1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Truyền thuyết về vua và tướng lĩnh nhà trần trong cuộc kháng chiến chống nguyên mông ở quảng ninh

136 381 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỖ KIM DUNG TRUYỀN THUYẾT VỀ VUA VÀ TƯỚNG LĨNH NHÀ TRẦN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG NGUYÊN - MÔNG Ở QUẢNG NINH Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã ngành: 60.22.01.21 LUẬN VĂN THẠC SĨ N

Trang 1

ĐỖ KIM DUNG

TRUYỀN THUYẾT VỀ VUA VÀ TƯỚNG LĨNH NHÀ TRẦN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG NGUYÊN - MÔNG Ở QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

ĐỖ KIM DUNG

TRUYỀN THUYẾT VỀ VUA VÀ TƯỚNG LĨNH NHÀ TRẦN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG NGUYÊN - MÔNG Ở QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã ngành: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Huế

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài: Truyền thuyết về vua và tướng lĩnh nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông ở Quảng Ninh là công trình

nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu sử dụng tham khảo đều được trích nguồn đầy

đủ và chính xác

Quảng Ninh, tháng 5 năm 2017

Tác giả luận văn

Đỗ Kim Dung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Huế, người thầy đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Ngữ văn, Đại học Khoa học, các thành viên của Thư viện tỉnh Quảng Ninh, Hội Văn nghệ dân gian tỉnh Quảng Ninh và những bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Quảng Ninh, ngày…….tháng……năm 2017

Người viết luận văn

Đỗ Kim Dung

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 5

5 Phạm vi nghiên cứu 6

6 Cấu trúc luận văn 6

7 Những đóng góp của luận văn 6

Chương 1 QUẢNG NINH VỚI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG XÂM LƯỢC NGUYÊN - MÔNG 7

1.1 Vài nét về điều kiện địa lý, lịch sử, xã hội tỉnh Quảng Ninh 7

1.1.1 Vị trí địa lý tỉnh Quảng Ninh 7

1.1.2 Vài nét về kinh tế, lịch sử, văn hóa Quảng Ninh 7

1.2 Vài nét về cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỉ XIII của quân dân nhà Trần 12

1.2.1 Cuộc kháng chiến lần thứ nhất 12

1.2.2 Cuộc kháng chiến lần thứ hai 13

1.2.3 Cuộc kháng chiến lần thứ ba 16

1.3 Quảng Ninh với cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỉ XIII 17

Tiểu kết chương 1 24

Chương 2 TRUYỀN THUYẾT VÀ HỆ THỐNG TRUYỀN THUYẾT CHỐNG XÂM LƯỢC NGUYÊN - MÔNG Ở QUẢNG NINH 25

2.1 Khái niệm truyền thuyết và việc phân loại truyền thuyết 25

Trang 6

2.1.1 Khái niệm truyền thuyết 25

2.1.2 Phân loại truyền thuyết 26

2.1.3 Đặc điểm nghệ thuật của truyền thuyết 27

2.1.4 Đặc điểm tư tưởng - thẩm mĩ của truyền thuyết 28

2.1.5 Nhân vật truyền thuyết 28

2.2 Hệ thống truyền thuyết chống Nguyên - Mông ở Quảng Ninh 29

2.2.1 Phân loại truyền thuyết chống Nguyên - Mông ở Quảng Ninh 30

2.2.2 Nội dung của truyền thuyết chống Nguyên - Mông ở Quảng Ninh 32

2.2.3 Vài nét về nghệ thuật của truyền thuyết chống Nguyên - Mông ở Quảng Ninh 50

Tiểu kết chương 2 54

Chương 3 VUA VÀ TƯỚNG LĨNH NHÀ TRẦN TRONG TRUYỀN THUYẾT CHỐNG NGUYÊN - MÔNG Ở QUẢNG NINH 55

3.1 Truyền thuyết về vua Trần Nhân Tông 55

3.1.1 Thân thế, sự nghiệp của Trần Nhân Tông 55

3.1.2 Truyền thuyết về vua Trần Nhân Tông và con người Trần Nhân Tông qua truyền thuyết 56

3.1.3 Kết cấu cốt truyện và nghệ thuật xây dựng nhân vật 63

3.2 Truyền thuyết về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn 67

3.2.1 Thân thế sự nghiệp của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn 67

3.2.2 Truyền thuyết về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và con người Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn qua truyền thuyết 68

3.2.3 Kết cấu cốt truyện và nghệ thuật xây dựng nhân vật 74

3.3 Truyền thuyết về Trần Quốc Tảng 79

3.3.1 Thân thế sự nghiệp của Trần Quốc Tảng 79

3.3.2 Truyền thuyết về Trần Quốc Tảng và con người Trần Quốc Tảng qua truyền thuyết 80 3.3.3 Kết cấu cốt truyện và nghệ thuật xây dựng nhân vật 88

Tiểu kết chương 3 94

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Phân loại truyền thuyết chống Nguyên Mông ở Quảng Ninh 31

Bảng 3.1 Truyền thuyết về vua Trần Nhân Tông 56

Bảng 3.2 Truyền thuyết về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn 68

Bảng 3.3 Truyền thuyết về Trần Quốc Tảng 80

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc có lịch sử được dựng trên đầu ngọn giáo Có thể nói đó là lịch sử của những cuộc chiến bảo vệ và giữ gìn độc lập dân tộc Điều đó

đã mang lại một đặc trưng nổi bật của dân tộc ta: một dân tộc anh dũng, đoàn kết, giàu

ý chí đấu tranh chống kẻ thù Dân tộc ấy đã sinh ra biết bao nhiêu thế hệ những người anh hùng chống giặc ngoại xâm bảo về độc lập dân tộc Đó là Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi Để ghi nhớ công ơn của họ, nhân dân ta đã tạo nên những truyền thuyết Từ quan niệm "sinh vi tướng, tử vi thần", nhân dân đã thờ phụng họ trước khi nhà nước phong kiến phong thần cho họ và hàng năm tổ chức lễ hội

để ôn lại truyền thống Chính điều đó đã làm cho hình tượng người anh hùng luôn tỏa sáng và sống mãi trong tâm thức nhiều thế hệ, đồng thời góp phần bảo lưu, gìn giữ và phát triển vẻ đẹp của vốn văn hóa truyền thống của dân tộc

Trong lịch sử dân tộc ta, cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỉ XIII của quân và dân nhà Trần là một trang vừa khốc liệt vừa rất đỗi hào hùng Nó tiêu biểu cho tinh thần đoàn kết dân tộc, cho sức mạnh cũng như ý chí kiên cường của một dân tộc tuy nhỏ bé nhưng anh hùng Chưa bao giờ người ta thấy một dân tộc nhỏ bé như Việt Nam lại từng ba lần đánh thắng một cách giòn giã một

kẻ thù sừng sỏ nhất của thế giới thời bấy giờ là giặc Nguyên - Mông Thời đại ấy đã lưu tên những con người ưu tú vào lịch sử dân tộc và trong lòng nhân dân

Hệ thống truyền thuyết lịch sử về cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên

- Mông có một số lượng lớn trải dài từ Lạng Sơn, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương vào đến Thái Bình, Nam Định Đặc biệt ở khu vực Quảng Ninh ngày nay - nơi diễn ra trận đại thắng Bạch Đằng (1288), đập tan ý đồ xâm lược Đại Việt của tập đoàn phong kiến Mông Cổ - những truyền thuyết xoay quanh cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông còn lưu truyền đến ngày nay có một số giá trị nổi bật Trong hệ thống truyền thuyết chống Nguyên - Mông ở Quảng Ninh phải kể đến những truyền thuyết về các vị vua và tướng lĩnh nhà Trần Đó là các truyền thuyết

về Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Tảng

Trang 10

Trần Nhân Tông là vị vua sáng của lịch sử Việt Nam Ông là vị vua kế vị thứ

ba của triều Trần, từ 1279 đến 1293 Làm vua trong thời gian có hai cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần hai (1285) và lần ba (1288), nhà vua anh minh biết trọng dụng hiền tài đã cùng toàn dân tộc làm thành ngọn sóng khổng lồ nhấn chìm bè

lũ cướp nước và bán nước, tạo thiên anh hùng ca, hào khí Đông A mà lịch sử và nhân loại đời đời ghi nhớ Khi đất nước thái bình, nhà vua lại xuất gia lên Yên Tử tu hành, vượt qua mọi sự quyến rũ của giàu sang nhung lụa, của tình cảm cha - con, quân - thần đầy lưu luyến với mục đích củng cố, duy trì triều đại và ngăn ngừa mối lo nước ngoài xâm phạm

Nhân vật thứ hai cần nhắc tới là thiên tài quân sự lỗi lạc, anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn Có thể coi ông chính là linh hồn của một trong những cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Từ Bắc chí Nam, đâu đâu nhân dân ta cũng

kể chuyện Đức Thánh Trần và đền thờ của Người cũng ở khắp mọi nơi

Góp phần vào chiến thắng còn là một tập thể trong đó có những người con của Trần Quốc Tuấn Trong số đó, Trần Quốc Tảng - người con trai thứ ba của Hưng Đạo Vương - là một dũng tướng tài ba, đã có nhiều công lớn trong chiến thắng của dân tộc với giặc Nguyên - Mông Chiến công của ông đặc biệt gắn bó chặt chẽ với vùng Đông Bắc của Tổ Quốc và nhân dân nơi đây đã tôn vinh ông là Thánh Tảng, lập đền thờ và hàng năm tổ chức lễ hội để tưởng niệm công đức của vị anh hùng

Bên cạnh đó, cơ cấu xã hội của Việt Nam cổ truyền là nhà - làng - nước đã kéo theo vai trò của địa phương, dòng họ trong chiến tranh giữ nước Do đó, truyền thuyết địa phương có vai trò quan trọng không thể phủ nhận Tính đến nay số lượng công trình nghiên cứu, sưu tầm truyền thuyết đã có khá nhiều song mảng truyền thuyết địa phương còn ít được quan tâm Trong tình hình chung ấy, truyền thuyết về cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông ở Quảng Ninh cho đến nay vẫn chưa có nhà nghiên cứu nào có công trình khảo cứu một cách hệ thống

Vì những lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài Truyền thuyết về vua và tướng lĩnh nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông ở Quảng Ninh để

nghiên cứu với hi vọng có thể đưa thêm một minh chứng sinh động cho truyền thống hào hùng hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Đối với

Trang 11

người viết, đi sâu vào đề tài này còn là một cách thể hiện tình cảm với Quảng Ninh, cũng là một dịp để hiểu thêm về lịch sử và văn hóa của vùng đất mình sinh sống, từ

đó hiểu thêm về văn hóa, văn học dân gian Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Số lượng công trình sưu tầm, nghiên cứu về truyền thuyết với tư cách là

một thể loại truyện kể dân gian đã có khá nhiều Song, như đã nói ở trên, số lượng

ấy vẫn còn ít so với thực tế, đặc biệt ở mảng truyền thuyết địa phương Trong tình hình ấy, truyền thuyết về vua và tướng lĩnh đời Trần chưa được nghiên cứu riêng biệt và toàn diện trong một công trình quy mô tương xứng

Các công trình sưu tầm sớm nhất thì có hai tập truyện cổ nhất ở nước ta xuất

hiện từ đời Trần là Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái đã có ghi chép về Trần Hưng Đạo và về các gia tướng nhà Trần Các truyện Trần Triều Hưng Đạo Đại

Vương (trong Việt điện u linh); Truyện người dị nhân làng Hạ Bì (trong Lĩnh Nam chích quái) là những ví dụ

Năm 1987, Nguyễn Khắc Thuần (chủ biên) đã cho ra mắt độc giả cuốn sách

Truyền thuyết và sự nghiệp Trần Hưng Đạo Tác giả đã sưu tầm được mười bốn truyền

thuyết trong dân gian và kể lại một cách sinh động, có hệ thống

Năm 2000, tác giả Hồ Đức Thọ có Trần Triều Hưng Đạo Đại Vương trong

tâm thức dân tộc Việt [54] Đến năm 2002, tác giả có thêm Hoàng đế triều Trần cội nguồn - ấn tượng dân gian Trong hai cuốn sách này, tác giả chủ yếu nói về quê

hương, sự nghiệp của các vua Trần và Trần Hưng Đạo từ đó khẳng định vị trí của

đế triều trong tâm thức dân gian biểu hiện qua đền thờ, lễ hội, tín ngưỡng dân gian

Ngoài ra còn có một số công trình như Danh tướng Việt Nam (năm 1996),

Tìm hiểu danh tướng nhà Trần (2003), Nhà Trần và con người thời Trần (2004)

Đặc biệt trong Việt sử giai thoại [55], tác giả Nguyễn Khắc Thuần đã sưu tầm, biên

soạn được 71 giai thoại thời Trần

2.2 Truyền thuyết ở Quảng Ninh về cuộc kháng chiến chống xâm lược

Nguyên - Mông nhìn chung chưa được nghiên cứu nhiều Nó mới chỉ được nhắc

đến một cách lẻ tẻ trong một số công trình nghiên cứu tổng hợp như: Địa chí Quảng

Ninh [34] (phần Văn học dân gian) do UBND tỉnh Quảng Ninh xuất bản, Di tích và

Trang 12

danh thắng Quảng Ninh [32] (Ban quản lý di tích thắng cảnh Quảng Ninh) Một số

sách nghiên cứu lịch sử hoặc nghiên cứu văn hóa cũng có đưa ra một số mẩu truyền

thuyết ở Quảng Ninh thời kì này như Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên -

Mông thế kỉ XIII [50] (Hà Văn Tấn - Đặng Thị Tâm), Đền miếu Việt Nam [20]

(Vũ Ngọc Khánh), Những lễ hội Việt Nam tiêu biểu [7] (Ngô Thị Kim Doan)

Năm 2005, trong luận văn tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư

phạm Hà Nội, tác giả Trần Hương Giang đã có đề tài Truyền thuyết và lễ hội về

Trần Quốc Tảng ở Cửa Ông - Cẩm Phả - Quảng Ninh [11] Trong công trình này,

tác giả đã tìm hiểu và phân tích, đánh giá các giá trị tư tưởng thẩm mĩ của các truyền thuyết về Trần Quốc Tảng trên hai phương diện: giá trị tư tưởng qua nội dung phản ánh của các truyền thuyết và lễ hội về Trần Quốc Tảng ở đền Cửa Ông - Cẩm Phả - Quảng Ninh

Bản thân người viết, năm 2004, trong khóa luận tốt nghiệp khoa Ngữ văn

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã chọn đề tài Thiên nhiên - đất nước - con người

Việt Nam qua nhóm truyền thuyết ở Quảng Ninh về cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỉ XIII của quân dân nhà Trần để nghiên cứu tìm hiểu

Trong đó, người viết đã phác họa diện mạo chung của truyền thuyết về cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông và tập trung phân tích về hình tượng thiên nhiên đất nước và con người Việt Nam qua hệ thống truyền thuyết này

Tiếp tục đi vào đề tài này, chúng tôi mong có thể tiếp nối và tìm hiểu sâu hơn

về nhóm truyền thuyết về vua và các tướng lĩnh đời Trần để thấy được những đặc trưng của thể loại truyền thuyết và khẳng định giá trị của mảng truyền thuyết Quảng Ninh trong kho tàng văn học dân gian của dân tộc ta

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về các truyền thuyết chống Nguyên - Mông ở Quảng Ninh và các truyền thuyết xoay quanh cuộc đời, sự nghiệp và thân thế của vua Trần Nhân Tông và hai vị tướng lĩnh đời Trần - Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng được lưu truyền ở khu vực tỉnh

Quảng Ninh

Trang 13

3.2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn đi vào tìm hiểu sâu về nhóm truyền thuyết về vua và các tướng lĩnh đời Trần để thấy được những đặc trưng của thể loại truyền thuyết và khẳng định giá trị của mảng truyền thuyết Quảng Ninh trong kho tàng văn học dân gian của dân tộc ta

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Giới thiệu khái quát vùng đất Quảng Ninh, trên cơ sở đó khẳng định Quảng Ninh là một vùng văn hóa lịch sử còn lưu giữ nhiều dấu ấn của cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông và chiến công gắn với tên tuổi dòng họ Trần

Nhận diện một cách hệ thống về các truyền thuyết chống Nguyên - Mông ở trên vùng đất Quảng Ninh

Khảo sát đặc điểm nội dung tư tưởng và nghệ thuật khắc họa nhân vật truyền thuyết ở nhóm truyền thuyết về vua Trần Nhân Tông và hai vị tướng lĩnh Trần Quốc Tuấn và Trần Quốc Tảng

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp để triển khai các vấn đề như sau:

- Phương pháp sưu tầm, điền dã: tiến hành sưu tầm, khảo sát các tư liệu

truyện kể đã công bố, tiến hành điền dã, quan sát, phỏng vấn tại các địa phương của Quảng Ninh

- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: Phương pháp này được sử

dụng trong quá trình khảo sát để phân nhóm truyền thuyết, các mô típ nhằm nhận diện hệ thống truyền thuyết chống Nguyên - Mông ở Quảng Ninh

- Phương pháp phân tích ngữ văn: Phương pháp này sử dụng để phân tích,

tìm hiểu nội dung phản ánh và nghệ thuật thể hiện của truyện dân gian Quảng Ninh

- Phương pháp so sánh loại hình: Phương pháp này cho phép tiến hành việc

nghiên cứu theo các kiểu truyện (type), các mô típ tiểu biểu, từ đó hướng tới việc chỉ ra nét tương đồng cũng như nét đặc trưng của hệ thống truyền thuyết Quảng Ninh về vua và các tướng lĩnh nhà Trần

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Là phương pháp kết hợp các phương

pháp nghiên cứu của các ngành khác nhau có liên quan như văn hóa học, dân tộc học, nhân học, xã hội học, để có những lí giải, khám phá mới cho việc tìm hiểu đối tượng nghiên cứu

Trang 14

5 Phạm vi nghiên cứu

5.1 Phạm vi địa lý: Các địa phương của tỉnh Quảng Ninh

5.2 Phạm vi đối tượng nghiên cứu: Các truyền thuyết chống Nguyên - Mông thời

Trần và các truyền thuyết về vua và các vị tướng nhà Trần ở Quảng Ninh

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, nội dung chính của luận văn được chia thành

ba chương:

Chương 1: Quảng Ninh với cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông Chương 2: Truyền thuyết và hệ thống truyền thuyết chống Nguyên - Mông ở

Quảng Ninh

Chương 3: Vua và tướng lĩnh nhà Trần trong truyền thuyết chống Nguyên -

Mông ở Quảng Ninh

7 Những đóng góp của luận văn

Trong khuôn khổ của một luận văn, với sự kế thừa một cách trân trọng thành tựu của người đi trước, chúng tôi dự kiến luận văn có những đóng góp sau đây:

- Đặc điểm của nhân vật truyền thuyết về vua và các tướng lĩnh nhà Trần được tìm hiểu, đánh giá một cách cụ thể

- Đóng góp vào nhiệm vụ bảo lưu vốn văn hóa dân gian cổ truyền nói chung

và văn học dân gian thời nhà Trần trên vùng đất Quảng Ninh nói riêng

Trang 15

Chương 1 QUẢNG NINH VỚI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG XÂM LƯỢC NGUYÊN - MÔNG

1.1 Vài nét về điều kiện địa lý, lịch sử, xã hội tỉnh Quảng Ninh

1.1.1 Vị trí địa lý tỉnh Quảng Ninh

Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu phía Đông Bắc Việt Nam Vùng đất này có dáng một hình chữ nhật lệch nằm chếch chéo theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Phía Tây tựa lưng vào núi rừng trùng điệp Phía Đông nghiêng xuống nửa phần đầu vịnh Bắc Bộ với bờ biển khúc khủy nhiều cửa sông và bãi triều, bên ngoài là nhiều hòn đảo lớn nhỏ

Địa giới Quảng Ninh trải rộng từ 106026’ đến 108031’ kinh độ đông và từ

20040’ đến 22040’ vĩ độ bắc Bề ngang từ đông sang tây, khoảng dài nhất là 195 km;

bề dọc từ bắc xuống nam, khoảng dài nhất là 102 km Điểm cực bắc liên tiếp những núi cao ở phía tây bắc là bản Trình Tường, thôn Mỏ Tồng, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu Cực nam ở mũi phía nam đảo Hạ Mai, xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn Cực Tây là sông Vàng Chua ở phía tây huyện Đông Triều Điểm cực đông trên đất liền là mũi Gót ở đông bắc phường Trà Cổ, thị xã Móng Cái

Quảng Ninh có biên giới quốc gia và hải phận giáp giới nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Với các tỉnh trong nước, Quảng Ninh có hơn 300 km giáp Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương và Hải Phòng

Với vị trí địa lý như vậy, từ xưa Quảng Ninh đã luôn là một khu vực phát triển kinh tế sôi động, một trong những cái nôi văn hóa của dân tộc ta Đặc biệt truyền thống đánh giặc giữ nước như một nét đặc trưng riêng đã thấm vào từng ngọn núi, con sông, từng con người nơi vùng đất này

1.1.2 Vài nét về kinh tế, lịch sử, văn hóa Quảng Ninh

Những nghiên cứu khảo cổ học gần đây đã cho thấy, Quảng Ninh là một vùng đất có văn hóa phát triển mạnh và sớm Vào thời kì văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn cách nay từ 7.000 - 8.000 năm đến trên dưới 10.000 năm (hậu kì đá cũ, sơ kì đá mới), nơi đây đã là một đồng bằng cổ Ở đây đã tồn tại một cộng đồng dân cư tiền

Trang 16

sử lớn, họ sống trong các hang động đá vôi, trên một địa bàn độc lập so với cư dân Hòa Bình - Bắc Sơn cùng thời, và đã sáng tạo ra một nền văn hóa song song tồn tại với các văn hóa Hòa Bình - Bắc Sơn Đó là văn hóa Soi Nhụ Tiếp đến, vào hậu kỳ

đá mới (cách nay từ 3.000 đến 5.000 năm), nơi đây có nền văn hóa Hạ Long phát triển mạnh với đặc trưng tiêu biểu của vùng biển là phương thức sống ngư nghiệp Đặc biệt, gần đây với những phát hiện các di tích thuộc loại hình Bồ Chuyến tại Hoành Bồ, loại hình Bãi Bến tại Cát Bà và Đầu Rằm tại Yên Hưng thì khu vực này thực sự được coi là một vùng văn hóa phát triển mạnh, trong đó Đầu Rằm là một loại hình văn hóa Đông Sơn ven biển điển hình của nước ta

Thời phong kiến độc lập tự chủ, Quảng Ninh lại được coi là một trong những trung tâm văn hóa quan trọng nhất, thâm trầm nhất trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc Thiền phái Trúc Lâm, với Trúc Lâm Tam Tổ và Yên Tử, đã trở thành trung tâm Phật giáo lớn nhất cả nước

Bắt đầu từ thời Pháp thuộc, vùng mỏ Quảng Ninh lại là một trong những địa phương có sự hình thành giai cấp công nhân sớm và sống tập trung nhất Đi liền với

sự hình thành của giai cấp công nhân là sự truyền bá, thâm nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào đời sống văn hóa tinh thần của người dân khu mỏ Có thể nói, Quảng Ninh là một trong những môi trường cách mạng phát triển sớm nhất ở nước ta

Cho đến ngày nay, Quảng Ninh vẫn luôn là một khu vực phát triển văn hóa theo đúng định hướng của Đảng và nhà nước, vừa giao lưu, học tập thế giới, vừa đậm đà bản sắc dân tộc

Không chỉ là cái nôi phát triển văn hóa của đất nước, vùng đất Quảng Ninh với vị trí đặc biệt, với nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá, từ lâu đã luôn là khu vực phát triển kinh tế sôi động của đất nước

Vùng biển Quảng Ninh từ xưa đã nổi tiếng với vị trí đặc biệt quan trọng nằm trên con đường giao thông từ Bắc xuống Nam "Con đường gốm sứ" và "con đường

tơ lụa" từ Trung Quốc vào đồng bằng sông Hồng và từ Trung Quốc xuống các nước phía nam đều đặt trạm nghỉ ở vùng Ninh Hải, Lục Châu với hai cảng lớn là Vạn Ninh và Vân Đồn Ngày nay nơi đây có cảng Cái Lân là cảng nước sâu duy nhất ở miền Bắc

Trang 17

Với đặc trưng ven biển, Quảng Ninh chủ yếu phát triển ngành kinh tế ngư nghiệp, kinh tế nông nghiệp ít phát triển (ngoại trừ khu vực Đông Triều) Trong cuốn

Dư địa chí, Nguyễn Trãi đã viết: "Ở vùng ấy, đất thì đen, mềm, ruộng thì vào hạng hạ

hạ (nghĩa là xấu nhất), bờ biển có trầm ngư cùng nhiều thứ"

Quảng Ninh còn là khu vực có nguồn lợi về than đá lớn nhất cả nước Ngay

từ thời Minh Mạng, nhà Nguyễn đã biết đến và cho khai thác loại khoáng sản này Đến thời Pháp thuộc, khu mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả phải chịu sự bóc lột của tư bản Pháp với sự ra đời của một loạt công ty mỏ Ngày nay, ngành công nghiệp khai thác than vẫn là ngành kinh tế chính của Quảng Ninh

Bên cạnh ngành công nghiệp khai thác than, ngành du lịch cũng là một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh với vịnh Hạ Long, di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận ngày 17/12/1994 và tiếp đó, ngày 29/11/2000 lại được công nhận là di sản thế giới về giá trị địa chất, địa mạo

Với vị trí địa lý là cửa ngõ của đất nước, vùng đất Quảng Ninh luôn có vai trò quan trọng không chỉ về văn hóa, kinh tế mà còn có vai trò vô cùng quan trọng trong công cuộc giữ gìn, bảo vệ chủ quyền độc lập của dân tộc ta - một dân tộc mà lịch sử được dựng ở trên đầu ngọn giáo Điều này đã làm nên một đặc điểm nổi bật, một nét truyền thống riêng biệt của vùng đất này: hai nhiệm vụ, hai sự nghiệp chống ngoại xâm và xây dựng phát triển luôn đi liền với nhau

Thời Hùng Vương (2879 TCN - 258 SCN), Quảng Ninh thuộc bộ Ninh Hải, nước Văn Lang Trải qua các thời kỳ phát triển liên tục của đất nước ta, vùng đất Quảng Ninh ngày nay đã nhiều lần được thay đổi tên gọi, được sáp nhập vào các lộ, các trấn khác nhau Đến thời điểm hiện nay, tỉnh Quảng Ninh thuộc nước CHXHCN Việt Nam gồm mười huyện (Ba Chẽ, Bình Liêu, Cô Tô, Đầm Hà, Đông Triều, Hải Hà, Hoành Bồ, Tiên Yên, Vân Đồn, Yên Hưng); và bốn thành phố (Hạ Long, Cẩm Phả, Móng Cái, Uông Bí)

Quảng Ninh cũng là một vùng đất có nhiều thành phần dân tộc cùng cư trú Dân số của tỉnh năm 1999 là 1.004.453 người (theo cuốn Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999 - kết quả điều tra mẫu của ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương Nxb Thế Giới Hà Nội 2000) Trong đó, dân tộc Việt chiếm

Trang 18

89,23% dân số, dân tộc Dao 4,45%, Tày 2,84%, Sán Dìu 1,8%, Sán Chay 1,11%, Hoa 0,43% Ngoài ra còn một số dân tộc có dân số từ vài trăm đến vài chục người như: Nùng, Mường, Thái, Thổ và Khơ me Các dân tộc trên đất Quảng Ninh từ xưa

đã có truyền thống đoàn kết, bảo vệ và xây dựng quê hương

Trong suốt thời kì dài hơn 1000 năm chống ách thống trị của phong kiến phương Bắc (179 TCN - 938 SCN), nhân dân khu vực Ninh Hải, Lục Châu luôn luôn không ngừng nổi dậy đấu tranh chống ách đô hộ, giải phóng đất nước dưới nhiều hình thức khác nhau Trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (tháng 3 năm 40 SCN), vùng đất Quảng Ninh đã sản sinh, đóng góp những người con anh hùng như

nữ tướng Lê Chân, nữ tướng Vĩnh Huy, ba anh em họ Trương, nữ tướng Thánh Thiên Tiếp sau cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, nơi đây lại liên tiếp xảy ra những cuộc đấu tranh chống quân xâm lược Hán giành độc lập dân tộc, tạo nên một không khí chống đối bọn đô hộ luôn âm ỉ tại vùng đất này Trong một bức thư trình lên vua nhà Tấn, viên quan mục Đào Hoàng có viết: "Ngày nay bốn biển hợp nhất, đâu đâu cũng thuần phục cả nhưng người châu này lại không thích yên vui, ưa làm

những sự khởi loạn" (Theo Việt sử thông giám cương mục)

Năm 938, chúa Nam Hán đã xuất quân tiến đánh nước ta theo đường biển qua Ninh Hải, Hạ Long Ngô Quyền đã cắm cọc gỗ ở sông Bạch Đằng, làm nên trận đại thắng Bạch Đằng, mở đầu kỉ nguyên độc lập tự chủ của dân tộc ta Nhân dân Hải Đông đã đóng góp một phần công sức không nhỏ, hoàn thành trận địa cọc và tham gia đánh giặc "Trai tráng các làng Lâm Động, Đằng Châu, người mang vũ khí, kẻ mang thuyền chiến tìm đến cửa quân xin giết giặc Hùng khí của toàn dân lộ

Hải Đông lúc đó thật ngút trời" (Hồng Nam - Những trang sử vẻ vang của dân tộc

Việt Nam [27, tr.197]

Năm 981, đạo quân xâm lược Tống lại dong buồm theo vùng biển Đông Bắc vào tiến đánh nước ta nhưng vừa đến cửa sông Bạch Đằng thì đã bị quân ta, do Lê Hoàn chỉ huy, dùng trận địa cọc chặn đánh phải vội vàng rút lui Chiến thắng này đã cùng với chiến thắng ở chiến trường Lạng Sơn làm nên thắng lợi vẻ vang chống Tống của dân tộc, "không những bảo vệ được nền độc lập của nước nhà, mà còn đem lại cho nhân dân Quảng Ninh cũng như nhân dân cả nước niềm tự hào, niềm

tin vững chắc ở sức mạnh của mình" (Hồng Nam - Những trang sử vẻ vang của dân

tộc Việt Nam [27, tr.235]

Trang 19

Tháng 12 năm 1076, đoàn chiến thuyền của quân Tống rời Khâm Châu men theo bờ biển Đông Bắc Đại Việt, tiến về cửa sông Bạch Đằng với ý đồ xâm lược nước ta Tại đây, Lý Thường Kiệt đã cho quân yểm sẵn, tập kích địch mười trận Địch thất điên bát đảo phải tháo chạy Ta đã phá tan kế hoạch phối hợp tác chiến của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho quân ta giành thắng lợi cuối cùng với bộ binh địch trên sông Như Nguyệt

Tiếp đến, vào giữa thế kỷ XIII, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông, vùng đất Hải Đông lại một lần nữa chứng tỏ vị trí chiến lược của mình Những năm 1258, 1285, sau khi bị thua đau ở Đông Bộ Đầu, Chương Dương, Hàm

Tử, quân Mông - Nguyên đã phải tháo chạy tơi tả Lần xâm lược thứ ba (1287 - 1288) của bọn xâm lược lại tiếp tục bị kết thúc trong thế thua nhục nhã với các trận đại thắng Bạch Đằng của quân dân nhà Trần trên vùng biển Đông Bắc

Đến thời Lê - Mạc, Lê - Trịnh, Tây Sơn, triều Nguyễn, vùng đất Quảng Ninh xưa vẫn luôn được coi là vị trí phòng thủ quân sự hiểm yếu, là chỗ "cổ họng" của nước ta trong quá trình chống lại sự xâm lược từ bên ngoài Các triều vua vẫn luôn xây dựng những hệ thống phòng thủ vững vàng nơi vùng biển Đông Bắc xa xôi Điều đó càng chứng tỏ vị trí và vai trò quan trọng của vùng Đông Bắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong thời phong kiến độc lập tự chủ

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng Một trang sử mới chống xâm lược trên đất nước ta bắt đầu Và đúng 25 năm sau, vào ngày 12 tháng 3 năm 1883, 500 tên lính Pháp do đích thân Hăng-ri Ri-vi-e, tổng chỉ huy cuộc xâm lược Bắc Kỳ lần thứ hai cầm đầu đã đánh chiếm khu mỏ Quảng Ninh Từ đó, khu

mỏ Quảng Ninh đã cùng toàn thể dân tộc ta chịu chung ách thống trị và bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp Với sự mở rộng của công nghiệp khai thác than, Quảng Ninh đã trở thành cái nôi của giai cấp công nhân, trường rèn luyện và giác ngộ ý thức giai cấp cho giai cấp công nhân Tháng 10 năm 1930, Đặc khu Hòn Gai được thành lập tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh Cách mạng ở khu mỏ ngày càng phát triển mạnh mẽ Từ đó, toàn dân vùng mỏ tiến tới cùng cả nước tổng khởi nghĩa giành chính quyền mùa thu năm 1945, rồi tiếp đến là tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ Cho đến nay, trong hoàn cảnh cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, vùng đất Quảng Ninh lại tích cực vận động góp sức mình vào sự phát triển giầu mạnh của đất nước

Trang 20

1.2 Vài nét về cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỉ XIII của quân dân nhà Trần

Năm 1206, nhà nước phong kiến quân sự độc tài tập quyền Mông Cổ ra đời mu-Jin được giai cấp quý tộc nô-y-an cử làm Trin-ghit Khan (Thành Cát Tư Hãn) Ngay sau đó, Trin-ghit Khan và tập đoàn phong kiến đã đem tất cả tinh lực của bộ tộc Mông Cổ vừa hình thành dốc vào cuộc chiến tranh xâm lược và nô dịch các dân tộc khác Trong vòng nửa thế kỷ, bọn phong kiến Mông Cổ đã kéo thế giới vào một cuộc chiến tranh khủng khiếp Một đế quốc rộng mênh mông được thiết lập từ bờ Hắc Hải đến Thái Bình Dương Nhưng đội quân Mông Cổ hùng mạnh đó, một lần tấn công vào Chiêm Thành, ba lần tấn công vào Đại Việt đều bị thất bại nhục nhã Nhân dân Việt Nam thế kỷ XIII đã ghi vào lịch sử dân tộc những trang sáng chói

Tê-1.2.1 Cuộc kháng chiến lần thứ nhất

Năm 1257, chúa Mông Cổ Mông-ke tế cờ trên bờ sông Kê-ru-len rồi xuất quân đánh Tống Quân Mông Cổ tấn công vào đất Tống từ bốn mặt Cánh quân của U-ry-ang-kha-đai được lệnh từ Đại Lý (Vân Nam) đánh xuống Đại Việt, rồi từ đó đánh vào đất Tống Như vậy, việc tiến quân xâm lược Đại Việt là nằm trong kế hoạch thâm độc của tên chúa Mông Cổ muốn dùng Đại Việt làm bàn đạp để tấn công Tống từ phía sau lưng

Đội quân của U-ry-ang-kha-đai tiến vào Đại Việt gồm khoảng hai vạn rưỡi người Ngày 12 tháng Chạp (tức ngày 17/01/1258), U-ry-ang-kha-đai kéo quân đến Bình Lệ Nguyên Trần Thái Tông liền ra trận trực tiếp chỉ huy chiến đấu Mặc dù quân Mông Cổ tấn công ào ạt, quân ta vẫn dũng cảm không rời bỏ vị trí Nhưng trước sức tấn công của giặc, quân ta chưa thể đương đầu ngay được nên đã tạm rút lui về Phù Lỗ,

từ Phù Lỗ về Thăng Long, rồi tiếp đến lại rút khỏi Thăng Long để bảo toàn lực lượng,

bỏ lại cho giặc một tòa thành trống Trong khi đó, ở khu vực Thiên Mạc, triều đình lại tích cực củng cố lực lượng quân ngũ Về phía quân Mông Cổ, chúng đã bắt đầu khổ sở

và lúng túng vì thiếu lương thực Với điều kiện chủ quan và khách quan thuận lợi như vậy, vua Trần Thái Tông và thái tử Trần Hoảng đã mở một cuộc phản công, phá tan giặc ở Đông Bộ Đầu, chiếm lại kinh thành (ngày hăm tư tháng Chạp năm Nguyên phong thứ 7 - tức ngày 29 tháng 01 năm 1258) Bị đánh bật khỏi Thăng Long, quân Mông Cổ quay đầu chạy dài về Vân Nam

Trang 21

Như vậy, viên tướng "bách chiến bách thắng" U-ry-ang-kha-đai đã thất bại thảm hại Mưu đồ của bọn xâm lược Mông Cổ "vào Giao Chỉ định kế ở lâu dài" đã không thực hiện được Quân và dân Đại Việt đã giáng cho bọn xâm lược một đòn trí mạng Quân và dân ta, dưới sự lãnh đạo của vương triều Trần, chẳng những đã phá tan mưu đồ chiếm đóng Đại Việt của Mông Cổ mà còn bẻ gãy gọng kìm của chúng tấn công vào mặt Nam của Nam Tống

Thăng Long đã được giải phóng Nhưng cuộc đấu tranh của nhân dân Đại Việt không phải đã kết thúc Nước Đại Việt bước vào một thời kỳ đấu tranh mới: thời kỳ đấu tranh ngoại giao 1258 - 1284 Để đương đầu với đế quốc Mông Cổ hùng mạnh đang chiến thắng khắp nơi trên thế giới, vương triều Trần đã phải áp dụng một chính sách ngoại giao hết sức khôn khéo: vừa mềm dẻo vừa cương quyết Trong suốt thời gian đó, bọn phong kiến Mông Cổ không ngừng đưa các yêu sách nhằm thực hiện dã tâm xâm lược của mình nhưng vua Trần vẫn quyết tâm không thực hiện những điều ảnh hưởng đến sự tồn vong của dân tộc ta

Về phía quân Mông Cổ, sau khi thất bại ở Chiêm Thành, Hốt Tất Liệt đã quyết định tấn công xâm lược Đại Việt Cuộc đấu tranh ngoại giao gay go và phức tạp của vương triều Trần trong hơn hai mươi lăm năm đến đây đã kết thúc Cả nước lại sẵn sàng bước vào cuộc chiến mới, chống lại kẻ thù bằng vũ khí

1.2.2 Cuộc kháng chiến lần thứ hai

Tháng 8 năm 1284 (dương lịch), Hốt Tất Liệt (lúc này lên thay Thành Cát Tư Hãn) đã đưa quân đi đánh Đại Việt Do thất bại nặng nề ở Đại Việt năm 1258 và ở Chiêm Thành năm 1283 nên lần này đi đánh Đại Việt, Hốt Tất Liệt đã huy động một lực lượng rất lớn, có đến hàng chục vạn quân Để chỉ huy đội quân khổng lồ đó, vua Nguyên đã chọn những tên tướng giỏi, từng lập nhiều chiến công Thái tử Nguyên là Thoát - Hoan cùng A-ric Kha-y-a được cử cầm đầu đạo quân viễn chinh này Bên cạnh đó, nhà Nguyên còn chuẩn bị chu đáo mọi điều kiện về lương thực, thuốc men, thầy thuốc cho đạo quân của mình Làm như vậy, chúng tưởng có thể dễ dàng biến nước ta thành một tỉnh của đế quốc Nguyên Mông Nhưng nhân dân Đại Việt đứng đầu là vương triều Trần quyết không chịu khoanh tay ngồi nhìn mà đã xúc tiến một loạt những biến pháp để chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng chiến đấu

Trang 22

Tháng mười năm Nhâm Ngọ (từ ngày 02/11 đến ngày 01/12/1282), vua Trần

đã ra Bình Than mở hội nghị vương hầu bách quan để bàn kế đánh giặc Tại đây, chủ trương kháng chiến đã chiếm ưu thế tuyệt đối Tiếp đó, vào tháng Chạp năm Giáp Thân, niên hiệu Thiệu - Bảo thứ sáu (khoảng từ ngày07/5 đến ngày 05/02/1285), Thượng hoàng Thánh Tông đã triệu tập phụ lão trong nước về điện Diên Hồng để hỏi kế đánh giặc Ở đây, tinh thần quyết chiến cũng chiếm vị thế tuyệt đối

Triều đình nhà Trần gấp rút thực hiện kế hoạch phòng thủ chu đáo, chia quân đóng giữ những nơi hiểm yếu Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn được phong làm Quốc công tiết chế thống lĩnh tất cả các lực lượng quân sự trong nước

Ngày hăm mốt tháng Chạp năm Giáp Thân (tức ngày 27/01/1285), quân Nguyên chia làm hai cánh cùng tiến đánh vào nước ta Ngày hăm bảy tháng Chạp (tức ngày 02/02/1285), giặc đã bố trí một cuộc tấn công lớn vào ải Nội Bàng Trước thế giặc ồ ạt, quân Trần đã bị tổn thất lớn Đồng thời cánh quân phía Tây của địch cũng chiếm được ải Chi Lăng Trong tình hình đó, Trần Quốc Tuấn đã quyết định rút lui về Vạn Kiếp Ở đây, ông tiếp tục tập hợp được một lực lượng quân đông đảo,

bố trí phòng tuyến để ngăn chặn bước tiến của quân thù Do thế giặc còn mạnh nên quân ta phải lần lượt rút lui khỏi các vị trí Vạn Kiếp, Phả Lại, Bình Than, Vũ Ninh, Đông Ngàn Quân ta chỉ tổ chức một số trận đánh nhằm cản bước tiến của địch để bảo vệ cho hoàng gia và quân dân rút ra khỏi Thăng Long an toàn Sau khi đoàn binh thuyền của ta rút về xuôi, quân giặc mới vượt qua được sông và đóng lại dưới chân thành Thăng Long rồi sau đó lại rút ra đóng ở bờ Bắc sông Hồng

Trong khi đó, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật đã chiến đấu với cánh quân Nguyên từ Vân Nam xuống rồi rút lui an toàn về chỗ vua Trần đóng quân Lúc này, quân ta đã lui hẳn về vùng Thiên Trường, Trường Yên, tiếp tục tập hợp binh lực, chuẩn bị tiến lên phản công kẻ thù Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đem hơn 1.000 chiến thuyền tiến lên đóng ở Vạn Kiếp, tạo một gọng kìm tấn công vào phía Bắc của quân Thoát Hoan, phối hợp với cánh quân tiến từ Thiên Trường lên đồng thời chặn đường rút lui của địch Trong tình thế đó, quân Thoát Hoan một mặt xin tăng viện, một mặt tập trung binh lực đánh xuống Thiên Trường Ngày 10/3/1285,

Trang 23

quân ta giao chiến với địch ở sông Đại Hoàng Trong lần giao chiến này, quân ta lại rút lui do phải dồn lực lượng cho việc chống giữ cánh quân của Toa Đô từ Chiêm Thành đánh ra Ở khu vực Thanh - Nghệ, quân ta không đương nổi với địch đã phải rút lui, Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải đã ra Bắc gặp vua Trần Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn thì từ sau khi thấy cánh quân ngược sông Hồng chưa thể tiến được cũng rút quân từ Vạn Kiếp về chỗ vua Trần Trong hoàn cảnh bị ép vào hai cánh quân của địch, nhà Trần đã quyết định rút lui về các lộ phía đông giáp bờ biển (vùng Hải Phòng, Quảng Ninh ngày nay), đợi cho cánh quân của Toa Đô rút hết ra Bắc rồi lại vòng trở vào Thanh Hóa, củng cố lực lượng đợi thời cơ phản công địch

Về phía giặc, chúng gặp phải nhiều khó khăn về lương thực, bệnh dịch Bên cạnh đó, phong trào đánh giặc của nhân dân nổi lên mạnh mẽ gây cho địch nhiều khó khăn, tổn thất Thời cơ phản công đã đến Tháng tư năm Ất Dậu (tức từ 6-5 đến 4-6-1285), Hưng Đạo Vương cùng các tướng Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật đã đem binh thuyền vượt ra Bắc, cắt đôi lực lượng kẻ thù, chiếm các cứ điểm của địch đóng ở dọc sông Hồng chảy qua vùng Hưng Yên Sau các trận thắng ở A - lỗ, Tây - kết, Hàm - tử, quân ta tiếp tục bao vây và tấn công thành Thăng Long Địch phải vượt qua sông Hồng tháo chạy Trên đường tháo chạy, đội quân của Thoát Hoan liên tục bị quân ta chặn đánh Đến Vĩnh Bình, quân Thoát Hoan đã gặp quân phục kích, bọn tướng phải giấu Thoát Hoan vào ống đồng để chạy trốn Trong khi đó, một cánh quân Nguyên khác cũng đang tìm đường tẩu thoát về Vân Nam Khi qua huyện Phù Ninh chúng đã bị nhân dân các dân tộc thiểu số dưới sự lãnh đạo của Hà Đặc, Hà Chương đánh chạy tan tác

Trong khi đó, ở phía Nam, sau chiến thắng ở Trường Yên, hai vua Trần cũng

đã tiến quân ra Ngày 20 tháng 5 (tức ngày 24/6/1285), vua Trần tiến quân đánh Toa

Đô, chém đầu Toa Đô ở Tây Kết, quân giặc chết và bị thương rất nhiều

Như vậy, qua hai tháng phản công, sau những chiến thắng liên tiếp, quân dân Đại Việt đã quét sạch kẻ thù ra khỏi bờ cõi Cuộc kháng chiến đã kết thúc thắng lợi Ngày 6 tháng 6 năm Ất Dậu (tức 09/7/1285), hai vua Trần cùng triều đình, tướng tá

và quân dân trở về Thăng Long

Trang 24

1.2.3 Cuộc kháng chiến lần thứ ba

Trong khi quân dân Đại Việt hân hoan mừng chiến thắng thì tên chúa Nguyên nổi giận, căm tức vì thất bại nặng nề Nóng lòng vì cần một căn cứ cho cuộc xâm lược phương Nam, Hốt Tất Liệt mở một cuộc chiến tranh mới đánh vào Đại Việt để báo thù Ngày 21/8/1285, khu mật viện nhà Nguyên đã đề nghị cử Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a làm Tiết Chế Quân đi đánh Đại Việt

Số quân Hốt Tất Liệt điều động lần này có khoảng 10 vạn người Thoát Hoan làm tổng chỉ huy, phần lớn các tướng là những tên đã đi xâm lược Đại Việt 1284 -

1285 Lần này, quân Nguyên tải lương bằng đường biển, gồm 70 thuyền vận tải do Trương Văn Hổ chỉ huy Bên cạnh đó, nhà Nguyên còn huy động 500 thuyền chiến tiến vào Đại Việt Ngày 3 tháng 9 năm Đinh Hợi (tức ngày 11/10/1287), quân Nguyên dưới quyền chỉ huy của Thoát Hoan và A-gu-ruc-chi xuất phát từ Châu Ngạc, đến Lai Tân, chúng tách quân thủy - bộ, Thoát Hoan đi với quân bộ Đến Đồng Châu, Thoát Hoan chia quân làm hai cánh tiến xuống theo cong đường phía Đông và phía Tây Ngày hai tám tháng một (tức ngày 02/01/1288) đã đến Vạn Kiếp Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn chỉ cho tướng sĩ đánh kìm chân giặc ở một số cửa

ải để bảo toàn lực lượng

Cánh quân Vân Nam do tên Hữ Thừa A- ric chỉ huy cũng tiến vào đến cửa quan Phú Lương (19/12/1287) Trong khi các cánh quân bộ của địch ào ạt tiến vào Đại Việt thì thủy quân cũng lên đường Ngày 17/12/1287 chiến thuyền của bọn Ô

Mã Nhi tiến trước, đến cửa Ngọc Sơn, bị quân ta chặn đánh nhưng chúng vượt qua

và tiếp tục tiến vào cửa An Bang, rồi theo sông Bạch Đằng tiến vào Vạn Kiếp Đoàn chiến thuyền của Ô Mã Nhi đã đi qua, nhưng đoàn thuyền do Trương Văn Hổ chỉ huy đã bị ta tập kích ở Vân Đồn - Cửa Lục Quân giặc đại bại, Trương Văn Hổ bỏ chạy ra biển

Về phía quân bộ của địch, Thoát Hoan lấy Vạn Kiếp để lập căn cứ, xây dựng các cứ điểm trên các ngọn núi dọc hai bên sông Trong khi đó, quân ta đã rút khỏi

hệ thống phòng thủ này, lui về giữ vùng sông Đuống để ngăn giặc tiến về Thăng Long Ngày 02/02/1288, Thoát Hoan cho quân vượt sông Hồng tiến về Thăng Long Cũng như hai cuộc chiến tranh trước, quân dân Trần đã rút khỏi kinh thành Thoát

Trang 25

Hoan đã sai Ô Mã Nhi đem thủy quân đuổi theo quân Trần Không đuổi kịp, ngày 06/02/1288 chúng mang quân trở lại Thăng Long Ở đây quân giặc lâm vào tình trạng lúng túng vì thiếu lương thực, tướng sĩ bị khí chướng hoành hành mệt mỏi Trong khi đó, quân ta đang chiến đấu mạnh mẽ khắp nơi, địch rơi vào tình thế bị động phải rút về Vạn Kiếp (05/3/1288) Quân ta đẩy mạnh chiến tranh du kích tiêu hao lực lượng địch khiến tinh thần của chúng tan rã hoàn toàn Thoát Hoan đành phải rút quân về theo hai đạo thủy và bộ Tuy nhiên, trên khắp các ngả đường mà quân Nguyên có thể chạy qua, quân Đại Việt đều đã được lệnh bố trí để chờ chặn đánh

Ngày 30/3/1288, Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đem thủy quân về Đến sông Giá thì bị quân ta chặn đánh, phải theo sông Đá Bạch tiến xuống sông Bạch Đằng Hưng Đạo Vương đã cho đóng cọc gỗ ở lòng sông Bạch Đằng, bố trí một trận phục kích lớn Quân giặc tiến vào sông Bạch Đằng đã bị quân ta tập kích, thuyền giặc vỡ, đắm hàng loạt, thủy binh địch chết rất nhiều

Trong khi đó, cánh quân bộ của Thoát Hoan cũng khốn đốn trên đường chạy khỏi biên giới Đại Việt Ngày 08/4/1288, từ Vạn Kiếp, Thoát Hoan nhằm hướng Lạng Sơn rút lui Địch liên tục bị quân ta chặn đánh ở Hãm Nê, Nội Bàng, Nữ Nhi, Khưu Cấp Bọn giặc thương vong rất nhiều Cuối cùng quân Nguyên về được đến

Tư Minh ngày 19/4/1288

Ngày 28/4/1288, Thượng hoàng và vua Trần Nhân Tông cùng triều đình đã trở

về kinh đô Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông của dân tộc ta đã hoàn toàn thắng lợi Từ đây, bọn phong kiến Nguyên Mông không còn có thể âm mưu đánh chiếm nước ta để làm căn cứ cho chúng mở rộng lãnh thổ về phía Nam nữa

Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thế kỉ XIII đã viết nên những trang sáng ngời niềm tự hào của lịch sử dân tộc Ở đó, tinh thần dân tộc quật cường của vua tôi nhà Trần, của nhân dân, của những dũng tướng tài ba mãi được người sau cảm phục

1.3 Quảng Ninh với cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỉ XIII

Với vị trí địa lý đặc biệt ở biên giới phía Đông Bắc của Tổ quốc, tỉnh Quảng Ninh luôn giữ vai trò quan trọng trong các cuộc chiến tranh giữ nước từ thời kì đấu tranh chống ách thống trị của phong kiến phương Bắc (179 TCN - 928 SCN), đến

Trang 26

thời phong kiến độc lập tự chủ (TK X-XIX), rồi hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ Đặc biệt, trong quá trình đấu tranh lâu dài và gian khổ chống lại các âm mưu thôn tính của các triều đại phong kiến phương Bắc, Quảng Ninh với vị trí đặc biệt càng có vai trò quan trọng

Trong suốt mười thế kỉ phong kiến độc lập tự chủ (X-XIX), Quảng Ninh luôn là một chiến trường hào hùng, một khu vực phát triển kinh tế đầy sôi động, một cái nôi văn hóa của dân tộc ta.Trong đó ba lần chiến thắng trên sông Bạch Đằng đã in đậm dấu ấn miền địa đầu Đông Bắc của tổ quốc: Ngô Quyền thắng quân Nam Hán năm 938, Lê Hoàn thắng Tống năm 981, đặc biệt là chiến thắng chống quân Nguyên Mông năm 1288 của Trần Quốc Tuấn

Giữa thế kỉ XIII, nước Đại Việt phải chống trả quyết liệt những cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mông Nguyên Những năm 1258 - 1285 với những chiến thắng oanh liệt ở Đông Bộ Đầu, Chương Dương, Hàm Tử, chúng ta đã khiến quân Nguyên Mông phải tháo chạy tơi tả Nhưng kẻ địch qua cơn khiếp sợ lại càng quyết chí phục thù, thề tiêu diệt nhà Trần và thôn tính bằng được nước Đại Việt Đây là lần thứ ba đại quân Nguyên Mông xâm lược nước ta Lần này chúng huy động nhiều tướng, đông quân và tiến xuống bằng cả đường thủy và đường bộ Quân dân ta vẫn dưới sự chỉ huy của vị tướng kiệt xuất Trần Hưng Đạo đã sẵn sàng đợi giặc Và lần này lịch sử lại chọn vùng biển Đông Bắc để kết thúc số phân bọn giặc hùng mạnh nhất thế giới đương thời

Một số trận đánh lớn đã diễn ra ở Quảng Ninh và ý nghĩa to lớn của chúng:

* Trận Mũi Ngọc năm 1287:

Vào cuối tháng một năm Đinh Hợi (tức tháng 12- 1287), binh thuyền Ô Mã Nhi bắt đầu xuất phát, cả đạo thủy quân địch gấp rút tiến về phương nam Thủy quân ta dưới quyền chỉ huy của Trần Toàn đã đặt phục binh từ trước Vì tương quan lực lượng còn rất chênh lệch, quân địch khí thế đang hăng nên đạo quân của Trần Toàn theo kế hoạch bố trí trước, có nhiệm vụ đột kích đoàn thuyền đi sau của chúng Chiến thuyền được giấu ở Mũi Ngọc, ở các đảo xung quanh Tất cả đã sẵn sàng chờ địch đến

Trang 27

Ngày Tân Sửu mười lăm tháng một (tức ngày 20/12/1287), binh thuyền Ô

Mã Nhi tiến vào cửa Vạn Ninh Thủy quân ta từ các ngả xông ra chiến đấu Bị đánh dồn dập, thuyền giặc đắm rất nhiều, một số tên giặc bị bắt sống, đa số bị chết đuối Trận Mũi Ngọc quân ta đã thu được thắng lợi lớn Mấy ngày sau, ngày hăm tám tháng một (tức ngày 02/01/1288), Nhân Đức Toàn đem bốn mươi tên giặc, nhiều khí giới dâng lên vua Trần báo công chiến thắng

* Trận Vân Đồn - Cửa Lục 1288:

Vân Đồn là một vùng đảo ở địa đầu tổ quốc ta, có địa thế hiểm trở, hùng vĩ

Từ Mũi Ngọc (Móng Cái) đến Cửa Lục (Hòn Gai), đảo chen nhau từng cụm chạy dọc theo ven biển Cửa Lục là một eo biển ăn sâu vào đất liền, sóng vỗ vào chân núi Sát eo Cửa Lục có núi Bài Thơ - tấm bình phong chắn gió bão, làm cao điểm có

vị trí cảnh giới quan trọng

Sau trận Mũi Ngọc, hậu quân địch tuy có bị tổn thất nhưng đạo binh thuyền của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp vẫn tiến tới Chúng qua Vân Đồn, hướng tới An Bang Tại đây, dưới sự chỉ huy của Trần Khánh Dư, quân ta có giao chiến với giặc nhưng không chặn được bước tiến của chúng Ô Mã Nhi vượt sông Bạch Đằng rồi tiến vào Vạn Kiếp, hội quân với Thoát Hoan

Từ nhiều nguồn tin truyền đến, Trần Khánh Dư được biết, theo sau đội binh thuyền của Ô Mã Nhi còn có đoàn thuyền lương của giặc và đoán chắc chúng sẽ phải qua Vân Đồn Ông lại khẩn trương chuẩn bị trận địa phục kích mới Chiến thuyền của ta được bố trí gấp rút tập trung ở Vân Đồn, cho thuyền nhẹ ra khiêu khích rồi nhử giặc tiến sâu vào Cửa Lục để tiêu diệt

Đầu tháng chạp (tức cuối tháng 01/1288), đoàn thuyền lương do Trương Văn

Hổ chỉ huy nặng nề tiến vào trận địa của ta Một số thuyền chiến của ta từ Vân Hải xông ra đón đánh Chúng kháng cự lại và cố sức tiến Đến Cửa Lục, chúng liền bị quân ta đón đánh quyết liệt Quân địch bị bắt sống một số lớn, còn hầu hết bị chết đuối Trương Văn Hổ lấy thuyền nhẹ chạy tháo thân về Quỳnh Châu Quân ta đại thắng, bắt được quân lương khí giới, tù binh rất đông

Trang 28

Chiến thắng Vân Đồn - Cửa Lục có ý nghĩa vô cùng quan trọng, làm chấn động đến toàn bộ lực lượng địch trên đất nước ta Đòn choáng váng đánh vào cổ họng, vào dạ dày quân địch đã khiến cho quân Nguyên Mông rã rời, thực lực suy yếu, chỉ còn mong rút lui dù số quân chưa bị hao tổn nhiều Chiến thắng Vân Đồn - Cửa Lục, với công lao to lớn của quân dân vùng Đông Bắc do Trần Khánh Dư lãnh đạo đã góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ tổ quốc

* Trận đại thắng Bạch Đằng năm 1288:

Không thể trụ lâu hơn ở Đại Việt trong hoàn cảnh thiếu thốn lương thực, đại binh Nguyên Mông chỉ còn cách rút quân về nước Chúng vẫn chia hai ngả: Thoát Hoan dẫn quân bộ ngược đường Lạng Sơn; Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ lại theo đường thủy ra sông Bạch Đằng

Trước đó, Trần Quốc Tuấn đã về hạ lưu sông Bạch Đằng (trại Yên Hưng) để tìm hiểu về sông lạch, mực nước thủy triều và bờ bãi xa gần để lập nên một trận địa phục kích tiêu diệt chiến lược có qui mô lớn

Như vậy, một lần nữa sông Bạch Đằng lại thành trận địa và vẫn là trận địa cọc Việc bố trí trận địa cọc được tiến hành khẩn cấp vào những ngày tháng ba còn giá lạnh Quân dân Đại Việt đã đem hết sức mình bí mật và nhanh chóng chuyển những cây gỗ lim to lớn tập trung về ba cửa chi lưu Quân sĩ và nhân dân miền Đông Bắc đã về đây khẩn trương hạ hàng ngàn cây lim và chặt đẽo theo kích thước quy định

Sát cánh cùng quân chính quy của triều đình còn có nhân dân địa phương cùng chiến đấu Tại Phả Lễ, Phục Lễ (Thủy Nguyên - Hải Phòng) có hai anh em Trần Hộ, Trần Độ đã cùng dân làng tổ chức ngày đêm luyện tập trên sông Tộc phả

họ Vũ Đình tại Minh Tân (Thủy Nguyên - Hải Phòng) ghi rõ, ông Hoàng tôn Trần Quốc Bảo bố trí mai phục ở dãy núi đá ven sông Nhiều người dân làng Tràng Kênh tham gia làm liên lạc cho quân đội Câu chuyện ông Lủi, bà Lủi làm liên lạc cho quân đội vẫn còn truyền đến ngày nay Dân gian còn ghi nhớ dân làng dọc sông Giá

và sông Bạch Đằng, từ bến Đụn đến Điền Công, Yên Giang, nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi của Trần Quốc Tuấn, đã tích cực ủng hộ lương thực và các phương tiện chiến đấu, là lực lượng hậu cần tại chỗ của quân đội Nhân dân ta đã lấy bè nứa, thuyền nan của mình chất đầy củi khô, dầu trám làm chất đốt chuẩn bị cho đợt tấn công quân thù bằng hỏa công

Trang 29

Cuộc chiến trên sông Bạch Đằng được mở đầu bằng trận đánh kị binh địch tại Đông Triều ngày 04/4/1288 Như vậy là vào đầu tháng tư, đội kị binh hộ tống binh thuyền Ô Mã Nhi lên đường Cầu bị phá, đường bị chặn từng đoạn, lại bị đón đánh nên chúng hành quân rất khó khăn, chậm chạp Ngày mồng một đến chợ Đông Triều, không qua được sông, chúng sợ quân ta tập kích liền quay trở lại Bọn chúng

đã tìm đường khác bỏ chạy để mặc đoàn thuyền Ô Mã Nhi đang khốn đốn Ngày ba mươi tháng ba năm Mậu Tý, đạo binh thuyền Ô Mã Nhi từ Vạn Kiếp rút quân Cuộc rút lui của chúng rất chật vật Dọc đường từ Vạn Kiếp qua sông Kinh Thầy chúng lại bị quân ta mai phục đánh nhiều trận tiêu hao Hai vua Trần chỉ huy một cánh quân phối hợp với dân binh mai phục ở vùng Hiệp Sơn, mở đầu trận đánh kìm bước tiến của địch, sau đó đánh dồn xuống trận địa chính ở sông Bạch Đằng

Mờ sáng ngày mùng 9 tháng Tư âm lịch, đoàn binh thuyền giặc xuôi sông Đá Bạch Đôi do thám do Phàn Tiếp chỉ huy đi trước Nước triều còn mênh mông và thuyền của chúng tiến chậm Quân dân ta lặng lẽ mai phục Chờ cho lúc nước triều xuống mạnh và đạo binh thuyền Ô Mã Nhi qua sông Đá Bạch vào sông Bạch Đằng, đúng đoạn từ Tràng Kênh đến ghềnh Cốc, mới đổ ra quyết chiến Thủy quân ta từ Tràng Kênh ép vào, đằng sau xông tới, cắt ngang sông chặn lại, bắn tên như mưa, dồn địch về bên tả ngạn Ô Mã Nhi vẫn cho thuyền tiến lên, hướng về các cửa sông Chanh, sông Kênh, sông Rút tìm đường tháo chạy Bị nước ào ào đẩy xuôi, lại bị đánh gấp sau lưng, thuyền giặc lớp trước lớp sau bị dồn vào trận địa cọc Thuyền giặc bị kẹt trước cửa sông Chanh, một số bị đâm thủng, một số bị va vào ghềnh Cốc, một số bị dồn vào trước cửa sông Chanh, sông Rút Phàn Tiếp bị thương, nhảy xuống nước, bị quân ta lấy câu liêm móc lên Thuyền quân ta chiếm vùng giữa sông, đánh ép quân địch vào bãi cọc Nơi đây ngày nay vẫn còn truyền tụng câu ca:

"Đánh giặc thì đánh giữa sông, Chớ đánh vào bãi phải chông mà chìm"

Phía tả ngạn sông Bạch Đằng, trận chiến đấu diễn ra càng ác liệt Từng trận mưa tên tẩm thuốc độc trùm lên đầu bọn giặc Rồi các chiến sĩ xông vào đánh gần, chém giết vô số quân giặc Biết trước kẻ địch thế nào cũng có bộ phận chạy lên bờ, quân ta đã phục sẵn đổ ra nhằm các toán bại quân xông tới Trận chiến trên bộ lại

Trang 30

bồi thêm cho chúng những đòng chí tử Dân đảo Hà Nam, Yên Hưng đến nay vẫn còn truyền tụng rằng chính vị tổng tư lệnh Trần Quốc Tuấn đã chỉ huy đánh địch trên bộ Người anh hùng ấy cưỡi ngựa, đứng trên gò đất cao giữa cánh đồng làng Trung Bản cầm kiếm chỉ huy ba quân Dưới quyền chỉ huy của Người, quân ta đã tiêu diệt và bắt sống hết bọn chúng Thây giặc nằm ngổn ngang Cho đến ngày nay, nhân dân đảo Hà Nam (Yên Hưng) còn lưu truyền câu ca dao nói về cuộc chiến này:

"Bạch Đằng giang là sông cửa ải Tổng Hà Nam là bãi chiến trường"

Sau này làng Trung Bản tôn Trần Quốc Tuấn làm Thành Hoàng làng Dân làng vẫn kể: Chính nơi xây đình, Trần Hưng Đạo đã xõa tóc gội đầu Trong đình Trung Bản còn bức tượng Trần Quốc Tuấn tóc xõa ngang lưng

Như vậy cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỉ XIII của dân tộc ta hoàn toàn thắng lợi Trong thắng lợi đó có sự góp sức không nhỏ của miền đất Quảng Ninh hiểm trở, của nhân dân Đông Bắc dũng cảm, giàu tinh thần dân tộc

Và với lòng tự hào, người dân miền Đông Bắc vẫn đời đời truyền đến ngày nay qua những câu ca, những truyện kể dân gian, những đình miếu thờ người có công Những câu ca, truyện kể ấy như những ngọn lửa nhỏ được nhen nhóm trong dân gian để giữ mãi sức nóng của lòng yêu nước nồng nàn, niềm tự hào dân tộc, lòng biết ơn với những con người thuở trước đã giữ gìn mảnh đất này Ngày nay trên khắp dải đất Quảng Ninh vẫn còn rất nhiều đình, miếu ghi lại những dấu tích của cuộc chiến xưa, của những con người ưu tú ngày ấy: đền Cửa Ông thờ Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, đền thờ Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn ở Hòn Gai, các đền thờ Trần Hưng Đạo, thờ những người dân có công giúp triều đình đánh giặc giữ nước Đi liền với "chứng tích vật chất" là những "chứng tích tinh thần" bao gồm những câu chuyện kể, những thần tích có yếu tố li kì, huyền ảo nhưng mang cái lõi là sự thật lịch sử, là những câu hát hàm chứa lòng tin yêu của nhân dân với những người con anh hùng của dân tộc Chúng thể hiện một cách sinh động và mộc mạc tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, nhiệt tình đánh giặc giữ nước của người dân thời ấy Trên miền đất Quảng Ninh ngày nay, nhân dân vẫn thường xuyên tổ chức các lễ hội để tưởng nhớ người xưa, diễn lại những chiến công xưa Phải chăng, đấy cũng là một cách tồn tại của lịch sử dân tộc trong lòng văn hóa dân gian, giúp cho vốn văn hóa dân gian của dân tộc mãi vững bền

Trang 31

Có thể nói, cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII là một chiến thắng lẫy lừng, sáng chói của dân tộc ta Nó là minh chứng hào hùng cho tinh thần yêu nước, đoàn kết chống giặc của dân tộc ta Nó chứng minh vị thế riêng của dân tộc ta - một dân tộc có văn hiến, có truyền thống vững mạnh không gì có thể khuất phục Và dấu ấn của chiến thắng ấy đến nay vẫn được nhân dân nơi đây gìn giữ với lòng tự hào và biết ơn

Trang 32

Tiểu kết chương 1

Thông qua việc tìm hiểu về điều kiện địa lý, lịch sử, xã hội đã cho thấy Quảng Ninh là một vùng đất có vị trí địa lý, văn hóa lịch sử quan trọng của Việt Nam Sống ở vị trí cửa ngõ của đất nước, nhân dân Quảng Ninh đã sớm có ý thức tham gia tích cực vào công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Trên mảnh đất này, rất nhiểu tên tuổi của những người anh hùng đã được lưu giữ

Chương viết cũng đã giới thiệu vài nét về cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỉ XIII của quân dân nhà Trần, qua đó thấy được một thời kì rực lửa trong lịch sử dân tộc mà ở đó, tinh thần dân tộc quật cường của vua tôi nhà

Trần, của nhân dân, của những dũng tướng tài ba mãi được người đời sau cảm phục

Chương viết cũng khắc họa vai trò của vùng đất Quảng Ninh với cuộc kháng chiến này để thấy được mảnh đất Quảng Ninh xưa đã góp sức mình một cách tích cực trong chiến thắng chung của cả dân tộc Và cho đến nay nhân dân nơi đây vẫn lưu giữ mãi niềm tự hào ấy bằng cả những chứng tích vật chất và tinh thần mang đậm dấu ấn riêng của một thời kì lịch sử cũng như dấu ấn riêng của địa phương

Tìm hiểu truyền thuyết về vua và tướng lĩnh nhà Trần, chúng tôi đã đặt những truyền thuyết ấy trong không gian, thời gian của mảnh đất Quảng Ninh và trong cuộc kháng chiến vẻ vang của dân tộc ở thế kỉ XIII, để có thể thấy được ý nghĩa và giá trị đẹp đẽ của chúng đối với vùng đất và cũng như đối với toàn dân tộc

Trang 33

Chương 2 TRUYỀN THUYẾT VÀ HỆ THỐNG TRUYỀN THUYẾT

CHỐNG XÂM LƯỢC NGUYÊN - MÔNG Ở QUẢNG NINH

2.1 Khái niệm truyền thuyết và việc phân loại truyền thuyết

2.1.1 Khái niệm truyền thuyết

Là một bộ phận của văn học dân gian, truyền thuyết đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu Họ đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về thể loại này

Các tác giả nhóm Lê Quý Đôn trong công trình Lược thảo lịch sử văn học

Việt Nam đã định nghĩa truyền thuyết "là tất cả những chuyện lưu hành trong dân

gian có thật xảy ra hay không thì không có gì bảo đảm Như vậy có những truyền thuyết lịch sử mà cũng có những truyền thuyết khác, hoặc dính dáng về một đặc điểm địa lí (Chuyện nàng Tô Thị, Chuyện núi Vọng Phu, ), hoặc kể lại gốc tích một

sự vật gì (Chuyện Trầu Cau, ), hoặc giải thích những phong tục tập quán, hoặc nói

về sự tích các nghệ nghiệp, và tất cả những chuyện kì lạ khác" (Dẫn theo Kiều Thu

Hoạch, [15, tr.22])

Nguyễn Đổng Chi trong công trình Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam thì cho

rằng "Truyền thuyết là những truyện lịch sử, và truyện lịch sử chỉ có thể có khi con

người đã có ý thức về lịch sử của mình" (Dẫn theo Kiều Thu Hoạch, [15, tr.22])

Tác giả Tầm Vu trong bài viết Tư tưởng chủ yếu của người Việt thời cổ qua

những truyện đứng đầu trong thần thoại và truyền thuyết (Tạp chí Văn học, số 3,

1967) thì cho rằng "Truyền thuyết nặng về đề tài lịch sử hơn là thần thoại" Còn Phan Trần trong Tinh thần dân tộc qua các truyền thuyết lịch sử (Tạp chí Văn học,

số 3, 1967) thì có nhận xét " truyền thuyết là những sáng tác dân gian, những câu

chuyện dân gian có dựa trên cơ sở những sự kiện lịch sử nào đó " (Dẫn theo Kiều

Thu Hoạch, [15, tr.24])

Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn

học có viết: "Truyền thuyết là một thể loại truyện dân gian mà chức năng chủ yếu là phản ánh và lí giải các nhân vật và sự kiện lịch sử có ảnh hưởng quan trọng đối với một thời kì, một bộ tộc, một dân tộc, một quốc gia hay một địa phương" [12, tr.367]

Trang 34

Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ trong giáo trình Văn học

dân gian Việt Nam đưa ra khái niệm: "Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình

tự sự dân gian, phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa hay nhân vật tôn giáo hay di tích cảnh vật địa phương thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kì" [43, tr.47]

Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về truyền thuyết từ các nhà nghiên cứu nhưng hầu hết đều thống nhất cho rằng truyền thuyết đã mượn cốt lõi là sự thực lịch sử, nhưng truyền thuyết không phải là lịch sử vì các sự kiện được phản ánh không hoàn toàn có thật như chính sử mà là lịch sử đã được tái tạo theo quan niệm của nhân dân thông qua nghệ thuật hư cấu

2.1.2 Phân loại truyền thuyết

Cho đến nay, có thể nói rằng vấn đề phân loại truyền thuyết chưa hoàn toàn

có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu

Đỗ Bình Trị đưa ra hai cách phân loại truyền thuyết Cách thứ nhất vừa căn

cứ vào lịch sử, vừa căn cứ vào phạm vi những sự kiện và nhân vật lịch sử được

nhân dân quan tâm, tác giả đã chia truyền thuyết thành hai bộ phận lớn: Những

truyền thuyết về thời các vua Hùng; Những truyền thuyết về sau thời các Vua Hùng

Cách thứ hai không căn cứ theo lịch sử mà căn cứ một mặt vào những đặc trưng chung của cả thể loại, một mặt căn cứ vào sự khác biệt của đối tượng được kể đến,

tác giả lại chia truyền thuyết thành ba loại: Truyền thuyết địa danh; truyền thuyết

phổ hệ; truyền thuyết về nhân vật và sự kiện lịch sử (Dẫn theo Kiều Thu Hoạch,

[15, tr.31]

Lê Chí Quế trong Giáo trình Văn học dân gian lại chia truyền thuyết thành

ba loại, bao gồm: Truyền thuyết lịch sử; truyền thuyết anh hùng; truyền thuyết về

các danh nhân văn hóa (Dẫn theo Kiều Thu Hoạch, [15, tr.30])

Một cách phân loại khác là của Kiều Thu Hoạch, ông đã phân loại truyền

thuyết thành ba loại: Truyền thuyết nhân vật; truyền thuyết địa đanh; truyền thuyết

phong vật [15, tr.35]

Trang 35

Nhìn chung, với mỗi cách phân loại các nhà nghiên cứu đều chỉ ra được những

cơ sở khoa học cho sự phân loại đó Tuy nhiên, nói như Kiều Thu Hoạch thì mỗi cách

phân loại đều "không tránh khỏi còn một phân số truyền thuyết phải đặt ra ngoài

những ô phân loại đã định" và "đó cũng là lẽ bình thường, tất yếu của vấn đề phân loại khoa học nói chung, phân loại các thể loại của văn học dân gian nói riêng" Đồng thời

ông cũng khẳng định "chung quy thì loại truyền thuyết nhân vật mà trong đó có tiểu

loại truyền thuyết anh hùng chống xâm lược vẫn là biến thể nổi bật nhất, và cũng chiếm số lượng nhiều nhất trong kho tàng truyền thuyết người Việt" [15, tr.37]

Những quan điểm trên đây là cơ sở cho chúng tôi trong việc tìm hiểu nhóm truyền thuyết về vua và tướng lĩnh nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông ở luận văn này

2.1.3 Đặc điểm nghệ thuật của truyền thuyết

Theo Kiều Thu Hoạch trong cuốn Truyền thuyết dân gian người Việt [15] thì

thể loại truyền thuyết có một số đặc điểm nghệ thuật cơ bản

Thứ nhất là tính hư cấu lịch sử Theo tác giả thì tính lịch sử, yếu tố lịch sử trong thể loại này phải được hiểu như là một biện pháp nghệ thuật, bởi xét cho cùng thì cái lõi lịch sử trong truyền thuyết chính là do hư cấu nghệ thuật, do lịch sử hóa mà có

Gắn liền với tính hư cấu lịch sử là tính cố định, cụ thể trong nội dung phản ánh của truyền thuyết Câu chuyện được kể trong truyền thuyết bao giờ cũng phải xảy ra trong một hoàn cảnh cụ thể, cố định Nhân vật, sự kiện, địa điểm, thời đại đều phải cố định, cụ thể Tuy nhiên cũng cần lưu ý là tính cố định, cụ thể không đồng nghĩa với tính xác thực, bởi truyền thuyết không phải là lịch sử mà chỉ lấy lịch

sử làm nền cho sự hư cấu Đó là cách mà tác giả dân gian tạo cho mọi người một niềm tin đối với nội dung truyện

Bên cạnh đó, tính chất hư ảo, thần kì cũng là một đặc điểm nghệ thuật có tầm quan trọng đặc biệt trong hình thức biểu hiện của truyền thuyết Nhờ đặc điểm nghệ thuật này mà truyền thuyết đã có thêm đôi cánh thơ và mộng

Trang 36

2.1.4 Đặc điểm tư tưởng - thẩm mĩ của truyền thuyết

Cũng theo Kiểu Thu Hoạch [15] thì thể loại truyền thuyết có một số giá trị nội dung nổi bật:

Truyền thuyết thể hiện ý chí quyết chiến quyết thắng và tinh thần quật cường dân tộc mạnh mẽ của nhân dân ta mà tiêu biểu là các anh hùng chống ngoại xâm

Truyền thuyết cho thấy tinh thần đoàn kết chiến đấu mà biểu hiện cụ thể là chủ nghĩa anh hùng tập thể và truyền thống toàn dân đánh giặc

Truyền thuyết thể hiện sức mạnh của truyền thống anh hùng của dân tộc Việt Nam là một sức mạnh thần kì, bất khả xâm phạm, đã đập tan mọi âm mưu thâm độc

và tham vọng điên cuồng của bọn xâm lược ngoại bang

2.1.5 Nhân vật truyền thuyết

Theo Kiều Thu Hoạch thì khi sáng tạo hình tượng nhân vật, nhất là hình tượng nhân vật anh hùng chống ngoại xâm, tác giả dân gian thường sử dụng ba mô

tip: sinh nở thần kì, chiến công phi thường và hóa thân

Về mô típ sinh nở thần kì thì các nhân vật truyền thuyết thường có xuất xứ lạ

kì, là sự hòa hợp giữa tự nhiên và con người Mô típ này thường có hai biến dạng Dạng thứ nhất là việc kể trực tiếp, dạng thứ hai là kể việc thụ thai thông qua một giấc mơ của các bà mẹ

Mô típ chiến công phi thường là mô típ trung tâm của tiểu loại truyền thuyết

anh hùng chống ngoại xâm Mô típ này được trình bày thành hai biểu hiện: sức mạnh phi thường tự thân của nhân vật và sự phù trợ của vật thiêng, phép lạ

Khi sáng tạo hình tượng nhân vật truyền thuyết, tác giả dân gian dường như

đã gặp một nghịch lí trong quan niệm về người anh hùng: một mặt họ nhìn thấy tính chu kì của thời gian đời người, mặt khác họ không muốn tin người anh hùng phải

chết Để giải quyết nghịch lí này, tác giả truyền thuyết sử dụng mô típ hóa thân để

chỉ sự bất tử của người anh hùng Người anh hùng được xây dựng để vượt qua sự hữu hạn của một cá nhân, trở thành bất tử

Trang 37

Bên cạnh đó, nhân vật còn được miêu tả theo dạng kết cấu chuỗi, nhất là trong nhóm truyền thuyết anh hùng chống ngoại xâm

Việc tìm hiểu những vấn đề lí luận chung về thể loại truyền thuyết trên đây chính là một sự định hướng cho chúng tôi trong việc tìm hiểu những giá trị nhiều

mặt của hệ thống truyền thuyết Quảng Ninh thời kì chống Nguyên Mông nói chung

và truyền thuyết về vua và tướng lĩnh nhà Trần nói riêng

2.2 Hệ thống truyền thuyết chống Nguyên - Mông ở Quảng Ninh

Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII, vòng hào quang sáng chói của dân tộc, đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử muôn đời sau của đất nước Dấu ấn ấy không chỉ tìm thấy trong những trang sử vẻ vang của đất nước ta

ở thời đại nhà Trần mà còn được bảo tồn ở trong tâm thức của mỗi con người Việt Nam - những con người vốn mang trong mình dòng máu nóng của tình yêu nước, lòng tự hào dân tộc Có thể nói, cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông chỉ thực sự sống với những chi tiết sinh động, cụ thể trong những câu chuyện kể dân gian, những thần tích, những câu chuyện răn dạy truyền thống cha ông của nhân dân

ta Truyền thuyết về cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông ở nước ta nói chung khá phong phú cả về số lượng, loại hình, tiểu loại, về nhân vật cũng như hệ thống sự kiện Nó thể hiện dư âm của cả một thời đại anh hùng - thời đại hào khí Đông A của dân tộc vẫn còn truyền sức nóng đến ngày nay

Trên nền chung của truyền thuyết về cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông trải rộng ở nhiều miền trên đất nước ta, khu vực tỉnh Quảng Ninh

có thể coi là một khu vực tập trung khá nhiều câu chuyện, nhiều truyền thuyết xoay quanh sự kiện lịch sử này Có được điều đó là do nơi đây đã diễn ra nhiều trận đánh quan trọng, đặc biệt là trận đại thắng Bạch Đằng năm 1288 đã làm cho quân Nguyên - Mông hoàn toàn khiếp sợ Ngày nay, trên vùng đất Quảng Ninh có thể nói không ngoa rằng đi đến đâu ta cũng có thể gặp một dấu ấn, một kỉ niệm, cùng sự xuất hiện đậm đặc các di tích của triều đại này cả trong thời chiến cũng như thời bình Đây là một nét đặc trưng khá nổi bật trong tổng quan văn hóa, văn học của vùng đất này về thời đại nhà Trần nói chung và cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông nói riêng

Trang 38

Đến với vùng đất Đông Triều - quê hương, gốc gác của triều Trần, ta bắt gặp khu đền An Sinh - khu lăng mộ của tám vị vua triều Trần, cụm di tích chùa Yên Tử

- nơi hình thành nên cả một hệ tư tưởng Phật giáo lớn nhất nước ta Đến với thị xã Uông Bí ta lại gặp di tích Hang Son- nơi tương truyền Trần Hưng Đạo đã dừng lại đây và khấn cầu thần hang phù hộ Đến thành phố Hạ Long ta lại thấy dấu ấn thời kì hào hùng này với ngôi đền thờ Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn - vị tướng trấn thủ miền Đông Bắc của Tổ Quốc Tiếp theo con đường tỉnh lộ đến Cẩm Phả, Vân Đồn ta lại gặp khu đền Cửa Ông - thờ Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, nghè thờ Trần Khánh Dư và một loạt đền thờ những người dân đã tham gia đánh giặc Đặc biệt ở khu vực huyện Yên Hưng - sông Bạch Đằng, dấu ấn của chiến thắng này được ghi lại một cách đậm đặc và sinh động, phong phú Có thể nói, mỗi khu vực trên vùng đất Đông Bắc này đều có những đền thờ tưởng niệm, kèm theo đó là những mẩu truyền thuyết mà điều làm nên sức sống cho lời kể dân gian là lòng tin yêu, sự cảm phục, niềm tự hào của mỗi người con Quảng Ninh về truyền thống của quê hương mình Được nuôi dưỡng trong cái nôi của đời sống văn hóa dân gian, thời kì lịch sử ấy như vẫn sống một cách mạnh mẽ như xưa kia nó từng tỏa sáng, từng là niềm tự hào của dân tộc ta

2.2.1 Phân loại truyền thuyết chống Nguyên - Mông ở Quảng Ninh

Thông qua các nguồn sách vở, đặc biệt là những cuốn sách của các tác giả địa phương, và trên cơ sở điền dã, chúng tôi đã sưu tầm được 35 bản kể truyền thuyết được lưu truyền ở vùng Quảng Ninh Có thể nói đây là một số lượng lớn cho thấy dấu ấn mạnh mẽ và sâu đậm của thời đại nhà Trần đối với vùng đất này

Trong quá trình sưu tầm, thu thập và nghiên cứu hệ thống truyền thuyết Quảng Ninh thời kì kháng chiến chống Nguyên Mông, dựa trên cách phân loại truyền thuyết của một số nhà nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy có thể chia thành ba nhóm chính

Trang 39

Bảng 2.1 Phân loại truyền thuyết chống Nguyên Mông ở Quảng Ninh

Phân loại truyền thuyết

Nơi phân bố

Sự kiện lịch sử

Địa danh

Nhân vật lịch sử

Trang 40

Qua bảng khảo sát trên có thể thấy, nhóm truyền thuyết liên quan tới địa danh ở Quảng Ninh và truyền thuyết liên quan tới nhân vật lịch sử (vua và tướng lĩnh), nhân vật anh hùng chiếm một số lượng lớn

Tuy nhiên, việc phân nhóm truyền thuyết chống Nguyên - Mông ở Quảng Ninh, cũng giống như việc phân loại truyền thuyết nói chung chỉ mang tính chất tương đối, bởi có những truyện có liên quan tới cả các sự kiện lịch sử, đồng thời có

giá trị định danh như các truyện Bà Quán, Sự tích đình Đền Công, Sự tích đền Cửa

Ông Đồng thời hầu hết các truyện gắn với sự kiện lịch sử hay định danh thì đều có

giá trị khắc họa nhân vật lịch sử Tuy vậy thì việc phân nhóm này sẽ giúp chúng tôi trong việc xác định được những nội dung biểu hiện cơ bản của hệ thống truyền thuyết này

2.2.2 Nội dung của truyền thuyết chống Nguyên - Mông ở Quảng Ninh

2.2.2.1 Phản ánh những sự kiện quan trọng liên quan đến lịch sử và cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông ở Quảng Ninh

Hệ thống truyền thuyết Quảng Ninh về cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông có một số lượng phong phú, được phân bố cả trên diện rộng trong toàn tỉnh, vừa có sự tập trung (chủ yếu ở khu vực huyện Yên Hưng) và mang những giá trị lớn Hệ thống truyền thuyết chống Nguyên - Mông ở Quảng Ninh đã phản ánh được những sự kiện lịch sử, những nhân vật lịch sử liên quan đến cuộc chiến Những huyền thoại và những truyền thuyết qua lời kể của nhân dân, tuy có những yếu tố li kì, hoang đường, nhìn chung vẫn chứa đựng cái lõi chân thực của lịch sử, phản ánh những sự kiện quan trọng, những chi tiết sinh động cụ thể về những thắng lợi vũ bão cũng như những khó khăn, nguy nan của cuộc chiến

Đó là truyền thuyết Bà hàng nước đã kể lại chi tiết cụ thể về việc tìm nơi

cắm cọc, về việc bày binh bố trận trong trận đại chiến trên sông Bạch Đằng (1288):

"Hưng Đạo Vương đi thị sát địa hình sông Bạch Đằng để tìm nơi cắm cọc gỗ, bày

binh bố trận để tiêu diệt đoàn thuyền chiến xâm lược của Ô Mã Nhi Ông dừng lại ở Bến Đò Rừng để hỏi bà hàng nước Bà liền cung cấp tỉ mỉ cho Trần Hưng Đạo lịch con nước triều và địa thế lòng sông Bà còn mách bảo Trại An Hưng có nhiều cỏ cây dễ cháy hãy làm bè mảng mà thiêu đốt thuyền giặc Cảm tạ bà hàng nước, Trần

Ngày đăng: 21/09/2017, 09:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w