Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đề tài tiến hành khảo sát sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN trong tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận qua hai phương thức chuyển nghĩa
Trang 1VIỆN HẦN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HIỀN
SỰ PHÁT TRIỂN NGỮ NGHĨA CỦA NHÓM TỪ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS: Nguyễn Văn Hiệp
Phản biện 1: GS.TS Lê Quang Thiêm
Phản biện 2: GS.TS Nguyễn Thiện Giáp
Phản biện 3: PGS.TS Phạm Hùng Việt
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
vào hồi…giờ…phút, ngày…tháng…năm 201
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong ngôn ngữ học, nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người (BPCTN) luôn thu hút sự chú ý đặc biệt của các nhà ngôn ngữ thuộc nhiều khuynh hướng khác Cho đến nay, đã có nhiều công trình sách, báo, bài viết ở trong và ngoài nước trình bày nhiều nghiên cứu thú vị về nhóm từ này Tuy nhiên, các tác giả chủ yếu tiếp cận nhóm từ này hoặc trên phương diện ngữ nghĩa đơn thuần, hoặc ở góc độ ngôn ngữ tri nhận nhưng các kết quả nghiên cứu còn tương đối đơn lẻ, rời rạc và chưa mang tính chất hệ thống Cách tiếp cận như vậy chưa đạt tới bề sâu của vấn đề, chưa trả lời được nhiều câu hỏi mang tính chất tri nhận Vì vậy, trong luận án này, chúng tôi đặc biệt chú ý tới cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận về hiện tượng phát triển ngữ nghĩa, đặc biệt quan tâm đến cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận về ẩn dụ và hoán dụ - hai phương thức tri nhận cơ bản, cũng là hai con đường phát triển ngữ nghĩa cơ bản của nhóm từ này
Từ những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Sự phát triển ngữ
nghĩa của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận” với mong muốn đem đến một cái nhìn đa chiều về con đường phát triển
ngữ nghĩa và những chiều kích tâm lí, văn hóa dân tộc gắn với quá trình nghiệm thân liên quan đến sự phát triển ngữ nghĩa Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần củng cố lí thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, làm rõ thêm một số vấn đề
ẩn dụ, hoán dụ tri nhận Luận án cũng mong muốn góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu khuynh hướng lí thuyết về ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam, chứng minh ẩn
dụ, hoán dụ tri nhận không chỉ là hình thái tu từ của thi ca mà còn là vấn đề của
tư duy, là một cơ chế cực kì quan trọng để con người nhận thức thế giới
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này, mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ đặc điểm chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN trong tiếng Việt dưới ánh sáng của lí thuyết Ngôn ngữ học tri nhận Qua đó, luận án góp phần xác định đặc điểm tri nhận, đặc trưng văn hóa dân tộc qua sự chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN trong tiếng Việt
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về nghĩa và sự phát triển nghĩa của từ; tình hình nghiên cứu về nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt
- Làm rõ các khái niệm liên quan đến đề tài: khái niệm nghĩa của từ, sự phát triển ngữ nghĩa của từ, các vấn đề lí thuyết thuộc Ngôn ngữ học tri nhận, các vấn đề lí thuyết hữu quan giữa chuyển nghĩa và ngôn ngữ học tri nhận
- Tìm hiểu phương thức chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN trong tiếng Việt theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận thông qua những việc làm cụ thể sau:
Trang 4+ Thông qua tổ chức ý niệm của miền “BPCTN” xác định ý niệm điển mẫu của miền Nhận dạng sự phát triển nghĩa của từ qua mô hình tỏa tia của điển mẫu
và hệ thống ánh xạ từ miền nguồn “BPCTN” sang các miền đích khác
+ Thống kê, phân loại, phân tích các ẩn dụ ý niệm, hoán dụ ý niệm liên quan “BPCTN” để làm rõ cơ sở chuyển nghĩa và đặc trưng chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN trong tiếng Việt
- So sánh, đối chiếu với tiếng Anh, và một số ngôn ngữ khác trong trường hợp giá trị tri nhận tương đương nhưng khác biệt về phương thức, hoặc phương thức tri nhận tương đương nhưng khác biệt về ý nghĩa
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tiến hành khảo sát sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN trong tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận qua hai phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ Nguồn Ngữ liệu khảo sát: Để tìm hiểu quá trình chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN trong tiếng Việt dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, luận án khảo sát các biểu thức ẩn dụ và hoán dụ ý niệm trong các tác phẩm văn học (luận án khảo sát khoảng 70 truyện ngắn, tiểu thuyết đương đại và
150 truyện cổ tích; 7.000 câu tục ngữ; 2129 câu ca dao; 1.620 câu đố thuộc nhiều chủ đề khác nhau); các báo (Thể thao, dân trí, phụ nữ…); các truyện ngắn trên các tạp chí văn học như Văn nghệ Quân đội, tạp chí Hội Nhà văn, tạp chí Văn nghệ,… Từ điển tiếng Việt và nguồn ngữ liệu sinh động trong lời ăn tiếng nói hằng ngày Ngữ liệu tiếng Anh dùng để đối chiếu trong luận án được trích xuất từ kho Ngôn ngữ khối liệu Anh (British National Corpus), một công cụ tra cứu văn bản tại website http://www.natcorp.ox.ac.uk/
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp phân tích, miêu tả
Đây là một trong những phương pháp chính để giải quyết các vấn đề của luận án Từ những nguồn ngữ liệu đã thu thập, chúng tôi tiến hành phân tích miêu
tả đặc điểm ngữ nghĩa và sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN trong tiếng Việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận
4.2 Phương pháp phân tích nghĩa tố
Phương pháp phân tích nghĩa tố phân xuất ý nghĩa của từ thành các nghĩa
tố, từ đó nhận diện về sự biến đổi ý nghĩa cơ chế chuyển nghĩa, từ đó xác định mô hình tỏa tia cơ của từ chỉ BPCTN trong tiếng Việt Phương pháp này cũng là
phương pháp nghiên cứu chính trong luận án
4.3 Phương pháp phân tích ý niệm
Phương pháp này được sử dụng để phân tích các ý niệm miền BPCTN
trong tiếng Việt, từ đó tìm ra đặc trưng riêng trong cách ý niệm hóa miền BPCTN
trong tiếng Việt
4.4 Phương pháp so sánh
Phương pháp này được sử dụng trong chương 2 và chương 3 nhằm mục đích so sánh những điểm tương đồng và khác biệt về chuyển nghĩa thông qua quá trình ý niệm hóa các từ chỉ BPCTN của cộng đồng người bản ngữ nói tiếng Việt
và một số ngôn ngữ khác như tiếng Anh, Mĩ, Với phương pháp này, sự phát
Trang 5triển nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN được nhìn nhận một cách đa chiều và được bộc lộ rõ nét hơn
4.5 Thủ pháp thống kê, phân loại
Luận án sử dụng thủ pháp này để thống kê, phân loại, hệ thống hóa các ẩn
dụ, hoán dụ ý niệm miền BPCTN trong tiếng Việt Dựa trên kết quả đó, luận án
có thể rút ra một số nhận xét về đặc điểm chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN trong tiếng Việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận và xây dựng bức tranh ngôn ngữ qua ý niệm BPCTN Danh sách 1087 biểu thức ẩn dụ và hoán dụ ý niệm được nhập vào máy trên chương trình Microsofl Excel với các thông tin:
STT Từ chỉ BPCTN Loại (ẩn/ hoán) Văn cảnh Xuất xứ
1 xx xx xx xx Những thông tin này đảm bảo tính chính xác về mặt xuất xứ cũng như sự
rõ ràng về mặt ngữ nghĩa
Ngoài phương pháp miêu tả, phương pháp phân tích nghĩa tố, phương pháp phân tích ý niệm, phương pháp so sánh, đối chiếu và thủ pháp thống kê, chúng tôi còn áp dụng các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học khác như: phương pháp phân tích ngữ cảnh, phương pháp nghiên cứu trường hợp để giải quyết các vấn đề cụ thể của luận án
5 Đóng góp mới của luận án
Luận án có thể được xem là công trình nghiên cứu mới nhất về sự chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN nhìn từ bình diện ngôn ngữ học tri nhận Luận án chỉ ra cơ chế chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, từ đó, tìm ra đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện qua sự phát triển nghĩa của nhóm từ này trong tiếng Việt Các nghiên cứu trước đã tập trung nghiên cứu sự chuyển nghĩa của nhóm từ này dưới ánh sáng của văn hóa nhưng các nghiên cứu đó mới chủ yếu tập trung ở một vài thành tố đơn lẻ mà chưa có tính hệ thống Dưới ánh sáng của lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận, luận án khảo sát hệ thống các ẩn dụ và hoán dụ ý niệm qua ngữ liệu để chứng minh tính phổ quát và đặc trưng riêng về sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN trong tiếng Việt
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
6.1 Về lí luận
Luận án tập trung nghiên cứu chi tiết, toàn diện và hệ thống về sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận Thực hiện được những nhiệm vụ đã đề ra, luận án sẽ có đóng góp nhất định vào việc phân tích các đặc điểm chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN trên cơ sở mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và tri nhận, cung cấp thêm những nhận xét, những ngữ liệu về hiện tượng chuyển nghĩa này trên cơ sở lí luận mới của ngôn ngữ học tri nhận và trên ngữ liệu của các từ chỉ BPCTN Luận án có thể góp phần cung cấp tư liệu để làm phong phú thêm cho lí thuyết về ngôn ngữ học đối chiếu và bổ sung thêm tư liệu cho việc nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận Luận án sẽ góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu khuynh hướng lí thuyết về ngôn ngữ học tri nhận
ở Việt Nam, góp phần chứng minh ẩn dụ, hoán dụ tri nhận không chỉ là hình thái
tu từ của thi ca mà còn là vấn đề của tư duy, là một công cụ quan trọng để con
Trang 6người nhận thức thế giới
6.2 Về thực tiễn
Luận án là công trình vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận vào thực tiễn tiếng Việt, là những lí giải cụ thể về những hiện tượng ngôn ngữ có liên quan đến ẩn dụ, hoán dụ ý niệm BPCTN trong thực tiễn giao tiếp Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp cho người bản ngữ có cái nhìn cụ thể hơn khi sử dụng nhóm
từ này trong ngôn cảnh, sử dụng chúng tốt hơn, đa dạng hơn, tinh tế hơn, đạt hiệu quả giao tiếp cao Mặt khác, các kết quả này có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu hay giảng dạy tiếng Việt trong nhà trường cũng như góp phần vào việc nghiên cứu, giới thiệu văn hóa Việt Nam Tóm lại: Luận án là công trình nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu
về sự phát triển nghĩa của từ chỉ BPCTN theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận Trong khuôn khổ một luận án, chúng tôi cố gắng thực hiện triệt để mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, hi vọng đóng góp vào quá trình phát triển Ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục, danh mục tài liệu tham
khảo và nguồn tư liệu trích dẫn, luận án gồm ba chương sau đây:
Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết
Chương 2 Phương thức chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận
Chương 3 Đặc trưng tri nhận của người Việt qua sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
Nghĩa của từ nói chung, sự chuyển nghĩa của từ nói riêng là một trong những vấn đề trung tâm cơ bản của nghiên cứu ngôn ngữ Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình đề cập đến nội dung này theo các góc độ khác nhau Vì vậy, trong chương này, luận án điểm lại một số công trình nghiên cứu có liên quan đến
đề tài, từ đó xác định cơ sở lí luận có tính đường hướng cho đề tài
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về nghĩa và sự phát triển ngữ nghĩa của từ từ góc
độ ngôn ngữ học cấu trúc
Luận án đã trình bày khái quát quá trình hình thành và phát triển lý thuyết
về nghĩa của từ, chuyển nghĩa của từ Xuất phát từ những bài viết có tên
Semasiologi (ngữ nghĩa học) của tác giả người Đức Reizing Berary, các nghiên
cứu của tác giả Benjamin, tác phẩm Metaphisical Etymology của tác giả Horne Tooke, tiếp đó là công trình nghiên cứu Science des significations của tác giả
người Pháp Michel Bréal - được coi là công trình đầu tiên xác lập ngữ nghĩa như
một bộ môm khoa học nhân văn
Về sự chuyển nghĩa từ vựng, có thể kể đến một số công trình điển hình như:
Language change: Progress or Decay của Aitchison, An introduction to Historical Linguistics của tác giả Crowley, hoặc Undersanding Language Change của tác giả
Trang 7Mc Mahon, An introduction to Language của tác giả Fromkin Qua các tác phẩm
này, các tác giả đã tập hợp và hệ thống hóa những nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi
ngôn ngữ
Ở trong nước phải kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả: các
công trình của tác giả Đỗ Hữu Châu: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng và Từ vựng
ngữ nghĩa tiếng Việt, Các công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thiện Giáp với cơ sở ngôn ngữ, từ vựng học tiếng Việt; Tác giả Lý Toàn thắng với Mấy vấn
đề Việt Ngữ học và ngôn ngữ học đại cương, Dạy học tiếng Việt như một ngoại ngữ: nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận và ngôn ngữ văn hóa,; Tác giả Nguyễn
Đức Tồn với cuốn Đặc trưng văn hóa của ngôn ngữ và tư duy Cùng hướng
nghiên cứu này, còn có các bài viết của các tác giả Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Đức
Dân, Hồ Lê, Cù Đình Tú và một số luận án như: Luận án tiến sĩ Những đặc
trưng văn hóa của hiện tượng chuyển nghĩa trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Nga) của tác giả Lê Thị Thanh Tâm, luận án Đặc điểm định danh và hiện tượng chuyển nghĩa trong trường từ vựng tên gọi bộ phận cơ thể người trong tiếng Lào
của tác giả Chăm Phommavông, Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi động
vật của Nguyễn Thúy Khanh …
Tóm lại, theo quan sát của chúng tôi, “ nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ” là một trong những vấn đề trung tâm của ngôn ngữ học cấu trúc Hiện tượng này được đề cập trong rất nhiều công trình nghiên cứu Trong phạm vi của luận án, chúng
tôi chỉ đề cập những vấn đề có liên quan đến đề tài luận án
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về nghĩa và sự phát triển ngữ nghĩa của từ từ góc
độ ngôn ngữ học tri nhận
Trên thế giới, những nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm xuất hiện cùng với sự
hình thành của Ngôn ngữ học tri nhận những năm 70 của thế kỉ XX Công trình
đầu tiên đánh dấu khuynh hướng này chính là Metaphors We Live By (Chúng ta sống
trong ẩn dụ) [125] của G Lakoff và M Johnson xuất bản năm 1980 Những năm
qua, Ngôn ngữ học tri nhận thế giới nói chung, nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm nói riêng đã ghi danh tên tuổi G Lakoff, M Johnson, Z Kovecses, G Fauconnier, M Turner, C Fillmore, J.E Grady, M Green… Các tác giả đã đưa ra một số lí thuyết, khái niệm mới như nghiệm thân, khung tri nhận, ẩn dụ ý niệm, ánh xạ, miền ý niệm, không gian tinh thần, pha trộn ý niệm…
Ở Việt Nam, Ngôn ngữ học tri nhận chính thức được quan tâm trong các
công trình nghiên cứu của các học giả Lý Toàn Thắng; Trần Văn Cơ; Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Văn Hiệp,…
Các nghiên cứu về ngôn ngữ tri nhận đã dành một khoảng khá lớn cho ẩn
dụ ý niệm Một hướng đi khác là các luận án vận dụng Ngôn ngữ học tri nhận dành một phần tương đối quan trọng cho nghĩa của từ nói chung và hiện tượng chuyển nghĩa của từ nói riêng, có thể kể tên các công trình của các tác giả của Võ Thị Dung [16], Nguyễn Ngọc Vũ [105], Phan Thế Hưng [44] Lê Thị Thanh Tâm [72],
và một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành của tác giả Trần Trọng Hiếu [33]; Nguyễn Thị Hạnh Phương [68] Tạ Thanh Tân [73]…
Có thể nói, bức tranh toàn cảnh về Ngôn ngữ học tri nhận nói chung, nghĩa
và chuyển nghĩa dưới góc độ ngôn ngữ tri nhận nói riêng nói riêng ở Việt Nam và
Trang 8trên thế giới ngày càng được mở rộng Trong khuôn khổ và mục tiêu của luận án, chúng tôi chỉ trình bày dưới đây vấn đề có liên quan trực tiếp nhất tới đề tài nghiên cứu
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người
Các công trình và tác giả tiêu biểu, trước hết phải kể đến một số nghiên cứu về chuyển nghĩa của một số bộ phận cơ thể con người trong tiếng Trung
Quốc của Ning Yu như “Body and emotion” (bộ phận cơ thể người và cảm xúc),
Metaphor, body, and culture: The Chinese under - standing of gallbladder and courage (Ẩn dụ, thân thể và văn hóa: mối quan hệ giữa “gan” và “sự can đảm”, The eye for sight and mind (Mắt để nhìn và để nhận thức); một số nghiên cứu của
Tomita Kenji về các từ chỉ bộ phận cơ thể người của tiếng Nhật và tiếng Việt trong tương quan so sánh [dt 54, tr.34]
Nhóm từ chỉ BPCTN cũng được đề cập trong các công trình nghiên cứu của các tác giả Trong các công trình nghiên cứu của tác giả Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán, Nguyễn Đức Tồn, Lý Toàn thắng [74], [75] [77] Tiếp tục hướng nghiên cứu đó, Chăn Phôm Ma Vông với
“Đặc điểm định danh và hiện tượng chuyển nghĩa của trường từ vựng tên gọi bộ phận cơ thể người tiếng Lào” [4], Đặng Đức Hoàng trong luận án tiến sĩ “Đối chiếu tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện chuyển đổi ngữ nghĩa”[39], tác giả
Nguyễn Văn Hải với luận án “Các từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt
và các từ tương đương trong tiếng Anh”, tác giả Trần Thị Minh với luận văn thạc
sĩ “Hiện tượng chuyển nghĩa từ vựng trong tiếng Anh và tiếng Việt (trường nghĩa:
người, thực vật)” [53], tác giả Trịnh Thị Thanh Huệ (2012) [41] đã chỉ ra sự
tương đồng và khác biệt trong cách tư duy của hai dân tộc Việt - Hán qua đề tài
“Nghiên cứu so sánh đối chiếu ẩn dụ trong tiếng Việt và tiếng Hán từ góc độ
ngôn ngữ học tri nhận (trên tư liệu bộ phận cơ thể người)”; luận văn thạc sĩ của
Nguyễn Hoàng Linh (2013) với đề tài “Đặc trưng tri nhận văn hóa của người
Việt (Qua nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người” [51]); tác giả Lê Thị Khánh Hòa
với luận văn thạc sĩ (2011) “Về cấu trúc vị từ + tên gọi BPCTN (kiểu như Mát
tay, lên mặt, nóng ruột)” [37]; một số bài nghiên cứu được đăng trên các tạp chí
của tác giả Lê Thị Diên Anh [2], tác giả Nguyễn Ngọc Vũ [105]… Hầu hết các
nghiên cứu này chủ yếu khai thác miền ý niệm là BPCTN, lí giải cơ chế tri nhận của một số ẩn dụ và hoán dụ, có tham chiếu đến những yếu tố văn hóa, điều kiện địa lí cũng như cách thức tư duy của từng dân tộc
Như vậy, cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về nhóm từ chỉ
“bộ phận cơ thể người” theo những cách tiếp cận khác nhau Qua đó, có thể nhận thấy một số điểm như sau:
Một là, các từ chỉ BPCTN là một phần quan trọng và rất lí thú trong vốn từ vựng của mỗi ngôn ngữ
Hai là, các từ chỉ BPCTN được nghiên cứu không đồng đều, có những từ được khảo sát rất sâu, có những từ mới chỉ được đề cập ở mức độ khái quát
Ba là, nhóm từ chỉ BPCTN đã được nghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau: có thể được nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ học truyền thống, có tính đến các nhân tố văn hoá, hoặc từ góc độ văn hoá học; hoặc theo hướng ngôn ngữ học
Trang 9tri nhận; hoặc tiếp cận theo kiểu tâm lí ngôn ngữ dân tộc, hoặc từ góc nhìn của ngôn ngữ văn hoá Tuy nhiên, dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, sự phát triển nghĩa của nhóm từ này diễn ra như thế nào? Theo những con đường nào? Đặc điểm tri nhận của người bản ngữ qua sự chuyển nghĩa của nhóm từ này được thể hiện như thế nào, thì chưa có công trình nào đề cập được một cách chi tiết và
hệ thống
1.2 Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài
1.2.1 Một số lí thuyết cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận
Ngôn ngữ học tri nhận là một hướng nghiên cứu đặt ngôn ngữ trong mối quan hệ với tâm lí Trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi chỉ trình bày những vấn đề lí thuyết là cơ sở trực tiếp cho quá trình nghiên cứu, các vấn đề khái quát căn bản, được coi là hệ thống tri thức nền của khoa học tri nhận nói chung, Ngôn ngữ học tri nhận nói riêng sẽ không được đề cập ở đây
1.2.1.1 Tính nghiệm thân (Embodiment)
Nguyên lí cốt lõi của Ngôn ngữ học tri nhận là “Dĩ nhân vi trung”, tính nghiệm thân là giả thuyết được nhiều tác giả quan tâm như Lakoff và Johnson (1980), Margaret Wilson (2002), Tim Rohrer (2007), Lawrence Sapiro (2011) Một cách khái quát, thân thể con người là yếu tố ảnh hưởng đến kinh nghiệm, là
cơ sở kích hoạt các ý niệm tạo thành ẩn dụ; mặt khác các kinh nghiệm đã có cũng chi phối cách nhận thức thế giới, chế biến các kinh nghiệm mới của con người
1.2.1.2 Ý niệm, ẩn dụ và hoán dụ ý niệm
a Ý niệm
Ý niệm (concept) là đơn vị cơ bản của Ngôn ngữ học tri nhận, có đặc trưng miêu tả, đặc trưng tình cảm, ý chí và hình tượng Hệ thống ý niệm không có ranh giới rõ rệt, cấu trúc ý niệm là cấu trúc trường-chức năng gồm có trung tâm
và ngoại vi Ý nghĩa của ý niệm là tổng hòa hình bóng-hình nền Có bốn kiểu mô hình tri nhận thường gặp trong quá trình ý niệm hóa: mô hình mệnh đề, mô hình
sơ đồ hình ảnh, mô hình ẩn dụ, mô hình hoán dụ
b Ẩn dụ ý niệm
Ẩn dụ ý niệm là sự ý niệm hóa một miền tinh thần qua một miền tinh thần khác, được gọi là sự ánh xạ (mapping) có hệ thống từ một miền nguồn sang một miền đích nhằm tạo nên một mô hình tri nhận (mô hình ẩn dụ) giúp lĩnh hội miền đích cụ thể, hiệu quả hơn Ngôn ngữ học tri nhận phân biệt ẩn dụ ý niệm và ẩn dụ ngôn ngữ (chỉ là hình thức của ẩn dụ ý niệm); và coi so sánh là thể yếu của ẩn dụ
Ẩn dụ được phân loại thành: ẩn dụ cấu trúc; ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định hướng
c Hoán dụ ý niệm
“Hoán dụ là một quá trình tri nhận trong đó một thực thể ý niệm (phương tiện)cung cấp sự tiếp nhận tinh thần đến một thực thể ý niệm khác (đích) trong cùng một miền hoặc cùng một mô hình tri nhận lí tưởng” [123, tr.145] Có nhiều
cách phân loại, luận án vận dụng cách phân loại hoán dụ theo quan điểm của Seto
d Phân biệt ẩn dụ và hoán dụ ý niệm
Điểm giống nhau: Ẩn dụ và hoán dụ đều là công cụ nhận thức; Ẩn dụ
và hoán dụ đều là phép chiếu; Ẩn dụ và hoán dụ đều có thể qui ước hoá; Trong cả
Trang 10hai trường hợp ẩn dụ và hoán dụ, những diễn đạt ngôn ngữ xác định các yếu tố nguồn trong phép chiếu cũng định ra các yếu tố đích
Khác biệt giữa ẩn dụ và hoán dụ: - Số lượng miền, Khác chức năng Quan hệ giữa ẩn dụ và hoán dụ: 1) hoán dụ là một phần trong ẩn dụ (hoán
dụ là một yếu tố, là động cơ hay cơ sở của ẩn dụ); 2) ẩn dụ thuần túy và hoán dụ thuần túy ở hai đầu và giữa là các trường
1.2.1.3 Miền, miền nguồn, miền đích
a Miền
Miền hay miền ý niệm là bộ tập hợp các ý niệm gần gũi về nội dung tinh thần như các thực thể tri nhận, các thuộc tính, các quan hệ Mỗi miền ý niệm cũng gồm nhiều nhóm ý niệm thuộc các phạm trù khác nhau và tồn tại các điển dạng
b Miền nguồn, miền đích
Miền nguồn (source domain) và miền đích (target domain) là thuật ngữ quy chiếu tới các miền ý niệm trong cấu trúc ẩn dụ ý niệm Miền nguồn thường
cụ thể, trực quan, dễ nhận biết; miền đích có xu hướng trừu tượng, khó xác định, mới mẻ với nhận thức hoặc kinh nghiệm Miền ý niệm có tính độc lập tương đối, còn miền nguồn-đích gắn chặt với ẩn dụ ý niệm
1.2.1.4 Ánh xạ
Ánh xạ (mapping) là sự phóng chiếu giữa những yếu tố của miền nguồn và những yếu tố tương ứng của miền đích Bản chất của ánh xạ là cố định, đơn tuyến
và cục bộ Cơ chế của ánh xạ là được kích hoạt căn cứ vào cơ thể, kinh nghiệm
và tri thức Thuyết pha trộn ý niệm là một cách nhìn khác hơn về ánh xạ Đó là sự tích hợp của bốn không gian tinh thần với quan hệ ánh xạ đa chiều
1.2.1.5 Điển mẫu
Điển mẫu (prototype) là khái niệm gắn với phạm trù tri nhận và sự phạm trù hóa Đó là thành viên điển hình, ở vị trí trung tâm của phạm trù, đó là thí dụ tốt nhất, nổi bật nhất
1.2.2 Sự phát triển ngữ nghĩa của từ từ góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận
1.2.2.1 Nghĩa của từ và sự phát triển ngữ nghĩa của từ từ góc độ cấu trúc luận
a Quan niệm về nghĩa của từ
Luận án đưa ra một số quan niệm về nghĩa của từ của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, nhìn chung các ý kiến bàn về nghĩa của từ đồng quy ở hai
nội dung: Nghĩa của từ là một bản thể nào đó (đối tượng, khái niệm hay sự phản
ánh và Nghĩa của từ là một quan hệ nào đó (quan hệ của từ đối với đối tượng hoặc quan hệ của từ đối với khái niệm )
Trang 11Luận án thừa nhận quan điểm “Nói tóm lại, nghĩa của từ nói chung: a/ là
một tập hợp những nét nghĩa có quan hệ quy định lẫn nhau; b/ Giá trị của nét nghĩa không như nhau (giữa các nét nghĩa có quan hệ cấp bậc) biểu hiện ở khả năng tham gia khác nhau vào việc thực hiện chức năng thông báo; c/ Các nét nghĩa
có tính độc lập tương đối…” [66, tr.15]
b Nét nghĩa và cấu trúc nghĩa của từ
Nét nghĩa được hiểu là một dấu hiệu logic ứng với một thuộc tính chung của
sự vật, hiện tượng (biểu vật) được đưa vào nghĩa biểu niệm ” [10, tr.172]
c Hiện tượng nhiều nghĩa và sự chuyển biến ý nghĩa của từ
Hiện tượng nhiều nghĩa của từ gắn liền với hiện tượng chuyển nghĩa của từ Quá trình chuyển nghĩa của từ là quá trình chuyển đổi ý nghĩa từ nghĩa này sang nghĩa khác hoặc từ một nghĩa sang nhiều nghĩa Các nhà ngôn ngữ thừa nhận trong quá trình chuyển nghĩa, các nghĩa cũ và nghĩa mới của từ có mối quan hệ với nhau theo cách nào đó
1.2.2.2 Hiện tượng chuyển nghĩa nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận
Dưới góc nhìn tri nhận, hiện tượng chuyển nghĩa của từ không chỉ là sự thay đổi tên gọi một cách đơn thuần mà nó còn là hiện tượng mang tính ý niệm, gắn với quá trình ý niệm hóa, là sự phóng chiếu từ miền ý niệm này sang miền ý niệm khác
1.2.2.3 Chuyển nghĩa xét trong mối quan hệ bộ ba: ngôn ngữ - tri nhận - văn hóa
Bộ ba ngôn ngữ - tư duy, ý thức (hay rộng hơn: tri nhận) - văn hóa có mối quan
hệ hết sức chặt chẽ Ngôn ngữ tồn tại không độc lập hoàn tòn với văn hóa và tư duy, trái lại chúng có ảnh hưởng và tác động qua lại
1.2.3 Khái quát về nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người
1.2.3.1 Số lượng tên gọi từ chỉ bộ phận cơ thể
Số lượng bộ phận cơ thể con người đã được tiếng Việt chia cắt định danh là
289 Để định danh 289 BPCTN, tiếng Việt đã sử dụng 397 tên gọi (gồm cả tên gọi biến thể) Trong số 397 tên gọi BPCTN có 263 tên gọi thuần Việt và 134 tên gọi vay mượn Các tên gọi BPCTN không phải thuần Việt chủ yếu được vay mượn từ tiếng Hán (132/134 từ) Số tên gọi được vay mượn từ ngôn ngữ Ấn - Âu trong tiếng Việt không đáng kể (2 từ)
1.2.3.2 Phân lập tên gọi bộ phận cơ thể người
- Trường nghĩa chỉ các bộ phận thuộc phần đầu: Mặt, tóc, râu, ria, lòng,
môi, miệng, mồm, má, hàm, lợi, răng, lưỡi, cổ họng, cằm, mép, mũi, lỗ mĩ, sống mũi, mắt, khóe mắt, mí, mày, khóe môi, cổ, yết hầu, họng, gáy, đỉnh, thóp, trốc, chỏm, mai, mái, tái dương, mang tai, tai, chầm, trán, con ngươi, óc, não,đầu, sỏ, sọ
- Trường nghĩa chỉ các bộ phận thuộc phần nội tạng: Tim, lòng, dạ/ mề,
phổi, cật, thận, bụng, gan…
- Trường nghĩa chỉ các bộ phận thuộc phần còn lại: Thân, mình, eo, tay, khuỷu, cùi, cánh tay, bắp, cẳng, cổ tay, ngón, đốt, móng, bàn, mu, vai, bả vai, sườn, lườn, lưng, sống lưng, cật, thận, ngực, nách, vú, thắt lưng, hông, mông, đít, bẹn, hang, mu, rốn, trôn, khớp Đùi, cẳng, chân, giò, bắp, vế, đầu gối, cổ chân, bàn chân, móng, ngón, đốt, gót, mu, ống, khoeo, bánh chè…
Trang 121.2.3.3 Đặc điểm cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa của các từ thuộc trường nghĩa chỉ bộ phận cơ thể người
Kết quả nghiên cứu trong công trình nghiên cứu “Đặc trưng Văn hóa - Dân tộc của ngôn ngữ và tư duy” [92], tác giả đã chỉ ra:
Về đặc điểm cấu tạo của từ chỉ BPCTN: Trong trường từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt có gần 27% (108/309) tên gọi BPCTN là từ đơn tiết, được cấu tạo trên
cơ sở sử dụng một tổ hợp âm tố biểu thị đặc trưng nào đó được chọn lựa từ trong
số các đặc trưng của BPCT
Về đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN: chúng tôi nhận thấy, trong từ điển giải thích, về cơ bản các soạn giả đã áp dụng cách tường giải nghĩa của nhóm từ này theo lối miêu tả, một số ít tên gọi còn lại được giải thích bằng cách dùng từ đồng nghĩa Trong cấu trúc nghĩa biểu niệm của nhóm từ này
thường chứa các nét nghĩa (semantic feature) về hình dáng, vị trí, chức năng, kích
thước, thuộc tính vật lí, màu sắc thời gian , cấu trúc, tính sở thuộc, trong đó, có
những nét nghĩa hạt nhân hình dáng, vị trí, chức năng và các nét nghĩa ngoại vi như kích thước, màu sắc, tính sở thuộc…
Tiểu kết
Nghiên cứu về nghĩa của từ nói chung, và chuyển nghĩa của từ nói riêng là vấn đề vô cùng phức tạp Cho đến nay, đã tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về nghĩa của từ Các uqn điểm này xaoay quanh hai nội dung: nghĩa của từ đồng quy
ở hai nội dung: Nghĩa của từ là một bản thể nào đó (đối tượng, khái niệm hay sự
phản ánh; hoặc nghĩa của từ là một quan hệ nào đó (quan hệ của từ đối với đối tượng hoặc quan hệ của từ đối với khái niệm )
Sự phát triển ngữ nghĩa của từ là hiện tượng mang tính phổ quát ở mọi ngôn ngữ Theo quan niệm của ngôn ngữ học truyền thống thì phát triển nghĩa của từ là cách biến đổi từ nghĩa ban đầu, nghĩa gốc sang nghĩa mới, nghĩa chuyển dựa trên hai phương thức chuyển nghĩa cơ bản đó là ẩn dụ và hoán dụ Theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận, phát triển nghĩa không chỉ là vấn đề của ngôn ngữ mà còn là hiện tượng mang tính ý niệm Khả năng tri nhận chủ yếu của con người là sự ý niệm hóa kinh nghiệm để giao tiếp và sự ý niệm hóa các tri thức
ngôn ngữ mà chúng ta có nên cần phải nghiên cứu tất cả các phương diện của cấu
trúc ý niệm cũng như quá trình ý niệm hóa ở các hiện tượng từ vựng ngữ nghĩa như đa nghĩa, sự chuyển nghĩa, các phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ Ngôn ngữ học tri nhận tiếp cận ngôn ngữ dựa trên kinh nghiệm và cách thức con người tri giác, ý niệm hóa về thế giới Đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất của ngôn ngữ học tri nhận đó là ý niệm, đó là đơn vị của ý thức bao hàm cả nôi dung tri thức của khái niệm và các kinh nghiệm Ý niệm được hình thành trên một vùng tri nhận là kết quả của quá trình ý niệm hóa
Ẩn dụ, hoán dụ ý niệm là sự ý niệm hóa một miền tinh thần qua một miền tinh thần khác được gọi là sự ánh xạ (mapping) có hệ thống từ một miền nguồn sang một miền đích nhằm tạo nên một mô hình tri nhận Các khái niệm miền nguồn - đích, ánh xạ là chìa khóa để nghiên cứu sự chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN dưới góc độ tri nhận
Trong sự đối sánh với hoán dụ ý niệm, ẩn dụ có nét tương đồng cũng như
Trang 13khác biệt Ẩn dụ và hoán dụ đều là phương thức tri nhận, liên quan đến các thực thể khác nhau nhưng ẩn dụ kết nối hai miền ý niệm khác biệt còn hoán dụ chỉ liên quan tới một miền Cơ chế của ẩn dụ là kinh nghiệm còn hoán dụ chịu chi phối mạnh của hiệu lực điển mẫu Tuy không phải là một, nhưng trong nhiều trường hợp, sự phân biệt ẩn dụ và hoán dụ là tương đối phức tạp Hơn thế, do quá trình ý niệm hóa nhiều lần, số lượng các khung tri nhận hòa trộn tăng lên, dẫn tới hiện tượng một mô hình tri nhận là sản phẩm của cả ẩn dụ và hoán dụ
Luận án vận dụng lí thuyết về nghĩa của từ, sự chuyển nghĩa của từ và những vấn đề có liên quan khác của ngôn ngữ học tri nhận để nghiên cứu sự chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN ở các chương tiếp theo
Chương 2 PHƯƠNG THỨC CHUYỂN NGHĨA CỦA NHÓM TỪ
CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG TIẾNG VIỆT
2.1 Tổ chức ý niệm của miền “bộ phận cơ thể người”
2.1.1 Ý niệm “bộ phận cơ thể người”
2.1.1.1 Khái niệm hạt nhân của ý niệm “BPCTN
Hạt nhân của ý niệm này gồm 397 thành viên (tên gọi các BPCTN) như:
Đầu, mình, chân, tay, miệng, mũi, mắt , chân, lưng, bụng, mình, thân…
2.1.1.2 Các giá trị ngoại vi của ý niệm “bộ phận cơ thể người”
Ý niệm có cấu trúc trường - chức năng được tổ chức theo mô hình trung tâm và ngoại vi Nếu như ở trung tâm là khái niệm hạt nhân thì ở ngoại vi là một dải các yếu tố văn hóa thống nhất với nhau tạo thành trường giá trị của ý niệm, gồm: Văn hóa dân tộc, Văn hóa nhóm xã hội, Văn hóa cá nhân, Văn hóa vùng, Văn hóa tộc người
2.1.2 Các nhóm ý niệm của miền ý niệm “bộ phận cơ thể người” và điển mẫu
2.1.2.1 Các nhóm ý niệm của miền ý niệm “bộ phận cơ thể người”
Trên cơ sở các căn cứ đã phân tích về thành tố của ý niệm “bộ phận cơ thể người”, để thu được kết quả khách quan phục vụ mục đích của luận án, như đã có dịp nói trong phần Mở đầu, chúng tôi đã lựa chọn các ngữ liệu để khảo sát thuộc nhiều thể loại khác nhau: tiểu thuyết, truyện hiện đại, truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ, câu đố, các loại báo (Văn nghệ quân đội, Thể thao, Tuổi trẻ…)
Kết quả khảo sát, chúng tôi thu được 1807 biểu thức chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN, cụ thể về số lượng:
Bảng 2.1 Thống kê ý niệm thuộc miền “bộ phận cơ thể người” trong tiếng Việt