1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích chuỗi giá trị gỗ nguyên liệu giấy vùng trung du miến núi phía bắc việt nam

184 225 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 184
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

động thì việc nghiên cứu các tác nhân tham gia chuỗi, xác định các hoạt động kinh tế, lượng hóa và phân phối giá trị gia tăng được tạo ra trong chuỗi là hết sức cần thiết và có ý nghĩa t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :

TS NGUYỄN QUANG HÀ

Hà Nội, 2011

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong quá trình phát triển kinh tế, sự phụ thuộc và tương tác lẫn nhau giữa các hoạt động kinh doanh và các doanh nghiệp khác nhau đã ngày càng trở nên quan trọng Một mặt, toàn cầu hóa làm tăng áp lực cạnh tranh và áp lực về giá Mặt khác, khách hàng thành thị đang có nhu cầu ngày càng tăng về các sản phẩm có chất lượng cao và đổi mới Cả hai xu hướng này đều làm tăng mức độ hòa nhập và phụ thuộc Như vậy, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia không chỉ là vấn đề

về năng lực của các doanh nghiệp đơn lẻ mà còn là vấn đề về mức độ hợp tác có hiệu quả của các doanh nghiệp này với nhau để tạo thành “năng lực cạnh tranh hệ thống” của một chuỗi giá trị Chỉ khi năng lực này được cải thiện thì mới có thể đạt được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng vì người nghèo

Hiện nay, việc liên kết trong cùng một ngành hàng giữa nông dân với doanh nghiệp nói chung cũng như giữa nông dân với doanh nghiệp khai thác, chế biến, tiêu thụ các sản phẩm của ngành hàng gỗ nguyên liệu từ rừng trồng nguyên liệu nói riêng còn mờ nhạt và thiếu tính bền vững Tỷ lệ sản phẩm sản xuất và tiêu thụ thông qua cơ chế liên kết nông dân và doanh nghiệp còn quá thấp, đa phần vẫn hoạt động theo kiểu tự do Người nông dân không thực hiện đúng hợp đồng, từ đó bán sản phẩm cho tư thương hoặc các doanh nghiệp không qua ràng buộc về pháp lý, dẫn đến bị ép giá và làm mất tính bền vững trong tiêu thụ sản phẩm Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp cũng chưa tôn trọng lợi ích của người nông dân, không thực hiện đúng các điều khoản đã ký kết như cung ứng vật tư không đúng số lượng, tiêu chuẩn; đơn phương phá bỏ hợp đồng; hay không đầu tư cho vùng nguyên liệu Một

số doanh nghiệp lợi dụng thế độc quyền để ép giá dẫn đến nhiều thiệt thòi cho người sản xuất, sự liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp cũng bị phá vỡ, tính bền vững trong phát triển nguồn nguyên liệu không đảm bảo

Như vậy, hoàn thiện và phát triển bền vững chuỗi giá trị gỗ nguyên liệu nói chung và chuỗi giá trị gỗ nguyên liệu giấy từ rừng trồng nói riêng, đồng thời nhằm phân định rõ vị trí, vai trò của các tác nhân trong chuỗi và các chính sách kinh tế tác

Trang 3

động thì việc nghiên cứu các tác nhân tham gia chuỗi, xác định các hoạt động kinh

tế, lượng hóa và phân phối giá trị gia tăng được tạo ra trong chuỗi là hết sức cần

thiết và có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Việc xác định này nhằm trả lời được các câu

hỏi Giá trị gia tăng được tạo ra ở đâu? Giá trị gia tăng lớn nhất ở công đoạn

nào? Tác nhân nào tham gia chuỗi được hưởng lợi nhiều nhất? Các nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi? Các chính sách kinh tế cần thiết để tác động và điều tiết phát triển chuỗi?

Từ những lý do trên, tôi lựa chọn vấn đề nghiên cứu: “Phân tích chuỗi giá trị gỗ

nguyên liệu giấy vùng Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam”

Phân tích chuỗi giá trị giúp chúng ta lập sơ đồ một cách hệ thống các bên tham gia vào sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm; xác định sự phân phối lợi ích của những người tham gia trong chuỗi; xác định vai trò của việc nâng cấp và quản trị trong chuỗi giá trị Kết quả phân tích chuỗi giá trị là cơ sở cho việc hình thành các dự án, chương trình hỗ trợ phát triển chuỗi theo hướng ổn định, bền vững

Để đạt được những nội dung cơ bản, mục tiêu của luận văn là phân tích chuỗi giá trị gỗ nguyên liệu giấy nhằm xác định được chuỗi giá trị và giá trị gia tăng được tạo ra trong chuỗi; sự phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi; phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến sự phát triển chuỗi Từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện và phát triển chuỗi giá trị gỗ nguyên liệu giấy theo hướng

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ

1.1 Tổng luận các công trình đã công bố về chuỗi giá trị trong nông lâm nghiệp

Nghiên cứu chuỗi giá trị ngành hàng cho một sản phẩm về thực chất là nghiên cứu mối liên kết giá trị giữa các khâu, các công đoạn trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm tiêu dùng Đó chính là cách thức xem xét hoạt động kinh tế bằng cách chia nhỏ hoạt động này thành các bộ phận để phân tích giá trị gia tăng

được tạo thêm trong chuỗi Thuật ngữ “Chuỗi giá trị” đã được nhà kinh tế học Michael E.Porter đưa ra lần đầu tiên vào năm 1985 trong cuốn sách phân tích về Lợi thế cạnh tranh (Competitive Advantage) và cũng được đề cập đến trong nhiều công

trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước

1.1.1 Trên thế giới

Trên thế giới người ta đã áp dụng lý thuyết về chuỗi giá trị vào việc nghiên cứu các sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nhằm nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm và cải thiện giá trị gia tăng cho sản phẩm cũng như đem lại lợi nhuận nhiều hơn cho các bên tham gia Người ta nhận thấy tầm quan trọng của liên kết giữa các bên tham gia trong thương mại quốc tế như trường hợp thành công của

ô tô Nhật Bản vào những năm 1970 Trong thập niên 80 và 90 trên thế giới người ta quan tâm đến chuỗi giá trị, đặc biệt là quản lý chuỗi cung cấp, chuỗi giá trị quan tâm đến việc chia sẻ thông tin giữa các bên tham gia để giảm chi phí về mặt thời gian, giảm giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng và tăng giá trị của sản phẩm đó

 Fearne và Hughes cũng đã phân tích được ưu điểm và nhược điểm của việc

áp dụng chuỗi giá trị trong kinh doanh Về ưu điểm: giảm mức độ phức tạp trong mua và bán, giảm chi phí và tăng chất lượng sản phẩm, giá cả đầu vào ổn định, giảm thời gian tìm kiếm những nhà cung cấp mới, cùng nhau thực thi kế hoạch và chia sẻ thông tin dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau Bên cạnh đó, tác giả còn phát hiện

ra những nhược điểm khi áp dụng chuỗi giá trị là tăng sự phụ thuộc giữa các bên

Trang 5

tham gia chuỗi, giảm sự cạnh tranh giữa người mua và người bán, phát sinh chi phí mới trong chuỗi (Fearne, A.and D.Hughes, 1998)

 Tác giả Christopher L.Gilbert (2006) nghiên cứu về chuỗi giá trị ca cao và

cà phê qua công trình nghiên cứu: “Value chain analysis and market power in commodity processing with application to the cocoa and coffee sectors” Tác giả đã

đưa ra được chuỗi giá trị của ca cao và cà phê, đặc biệt lưu ý trong khâu chế biến

Từ đó, tác giả đã tìm ra được mối quan hệ mật thiết giữa việc phát triển chuỗi với nâng cao sức mạnh thị trường cho sản phẩm

 Các tác giả Martin Greijmans, Boualay Oudomvilay và Julio Banzon (2007)

với đề tài nghiên cứu: “Houaphanh Bamboo Value Chain Analysis” Đây là công

trình nghiên cứu nằm trong chương trình xác định các dịch vụ tư vấn tiềm năng SNV cho sự phát triển của chuỗi giá trị tre nứa của Tổ chức Phát triển Hà Lan – Danh mục đầu tư Bắc Các tác giả đã đưa ra được những định hướng cơ bản để phát triển chuỗi giá trị tre nứa nói riêng và cho sản phẩm lâm sản ngoài gỗ nói chung

 Simon R Bush (2010) với công trình nghiên cứu: “Upgrading holders in the Vietnamese Pangasius value chain” Tác giả đã nghiên cứu chuỗi giá

small-trị cá tra với mục tiêu nhằm nâng cao chất lượng và giá small-trị cá tra của Việt Nam, từ

đó góp phần gia tăng giá trị hưởng lợi cho chủ sở hữu

 “Cẩm nang ValueLinks” (2007) – Phương pháp luận để thúc đẩy chuỗi giá

trị Đây là một cuốn sách được biên soạn dựa trên kết quả nghiên cứu của nhiều công trình khoa học của GTZ (GTZ là một tổ chức hợp tác quốc tế hoạt động trên phạm vi toàn cầu hướng tới mục tiêu phát triển bền vững GTZ thuộc sở hữu của chính phủ liên bang Đức (GTZ – Deutsche Gesellschaft fur Technische Zusammenarbeit GmbH)) Đây là một cuốn sách tham khảo cho phương pháp luận ValueLinks ValueLinks là thuật ngữ để chỉ việc tập hợp có hệ thống các phương pháp thực tiễn nhằm theo dõi sự phát triển kinh tế từ quan điểm của chuỗi giá trị Cuốn sách cung cấp những kiến thức cơ bản về các cách thức nâng cao cơ hội việc làm và thu nhập từ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và các nông dân thông qua việc thúc đẩy chuỗi giá trị trong đó họ đang hoạt động

Trang 6

 Michael E.Porter (1985) với cuốn sách phân tích về “Lợi thế cạnh tranh”

(Competitive Advantage) Với công trình nghiên cứu này, chuỗi giá trị đã được sử dụng như một khung khái niệm mà các doanh nghiệp có thể dùng để tìm ra các nguồn lợi thế cạnh tranh thực tế và tiềm tàng của mình để dành lợi thế trên thị trường

Như vậy, trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị thuộc lĩnh vực nông nghiệp (chuỗi giá trị hạt điều cá tra) và các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ của ngành lâm nghiệp (chuỗi giá trị cà phê, tre nứa) mà hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào về chuỗi giá trị của cây gỗ trong ngành lâm nghiệp, đặc biệt là gỗ nguyên liệu giấy

1.1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, việc áp dụng chuỗi giá trị trong thực tế đã được nhiều tổ chức quốc tế như tổ chức GTZ, ACI, SNV, ICRAD, Ngân hàng phát triển Châu Á phối hợp cùng các cơ quan chính phủ Việt Nam tiến hành nghiên cứu, triển khai các dự

án hỗ trợ nhằm phát triển chuỗi

* Đối với lĩnh vực nông nghiệp:

Chuỗi giá trị ngành hàng được nghiên cứu khá phổ biến đối với các sản phẩm trong nông nghiệp với các công trình nghiên cứu điển hình như:

 Tổ chức SNV đã nghiên cứu chuỗi giá trị ngành cói của tỉnh Ninh Bình nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành cói qua phát triển chuỗi giá trị trình bày

ở Hội thảo “Ngành cói Việt Nam – Hợp tác để tăng trưởng” ngày 04/12/2008 tại Ninh Bình do Nico Janssen, cố vấn cao cấp – SNV Sau khi tiến hành nghiên cứu tổ chức SNV đã giúp chuyển giao kiến thức từ nhà nghiên cứu đến nông dân, nâng cao năng lực của nhóm kỹ thuật địa phương về cung cấp dịch vụ khuyến nông, hỗ trợ quá trình hoạch định chính sách liên quan đến ngành cói của tỉnh, hỗ trợ thành lập các nhóm đại diện như nông dân trồng và chế biến cói, hiệp hội cói, phát triển thị trường cho công nghệ sau thu hoạch, cải thiện việc tiếp cận thị trường… (SNV, 2009)

Trang 7

 Trung tâm Tin học Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (ICARD), Viện Nghiên cứu Chè Việt Nam (VTRI), Viện Nghiên cứu Rau quả Việt Nam (IFFAV)

và Công ty Tư vấn Nông sản Quốc tế (ACI) phối hợp thực hiện nghiên cứu về chuỗi giá trị chè dưới sự tài trợ của Ngân hàng Phát triển Châu Á Công trình nghiên cứu này nằm trong khuôn khổ dự án nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường cho người nghèo do Ngân hàng Phát triển Châu Á và Quỹ phát triển Quốc tế của Anh tài trợ

 Chương trình hợp tác phát triển doanh nghiệp nhỏ giữa Bộ Kế hoạch & Đầu

tư và Tổ chức hỗ trợ phát triển kỹ thuật Đức (GTZ) đã triển khai dự án “Phát triển chuỗi giá trị Bơ Đắc Lắc” từ tháng 3/2007 với sự tham gia của Công ty Fresh

Studio Innovation Asia Ltd, DOST, CSTA, WASI, AEC Mục đích của dự án là xây dựng chuỗi giá trị trái bơ nhằm khắc phục những điểm yếu trong chuỗi như nguồn cung không đồng đều, sản xuất và vận hành không chuyên nghiệp dẫn đến tỷ lệ hư hại cao, lợi nhuận cho các tác nhân tham gia thấp Trước đây ở Đắc Lắc, cây bơ chủ yếu được trồng để làm bóng mát và chắn gió xung quanh cánh đồng cà phê, lĩnh vực quả bơ ở Đắc Lắc chưa được các nhà hoạch định chính sách để ý Sau khi triển

khai dự án “Phát triển chuỗi giá trị Bơ Đắc Lắc” đã làm nâng cao nhận thức những

người lập chính sách ở tỉnh về tầm quan trọng kinh tế của quả bơ ở Đắc Lắc (MPI – GTZ SMEDP, 2007)

 Tại khu vực phía Bắc, chương trình GTZ cũng hỗ trợ triển khai dự án “Phân tích chuỗi giá trị rau cải ngọt tại tỉnh Hưng Yên” từ đầu năm 2008 với sự tham gia

của Công ty Fresh Studio Innovation Asia Ltd, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hưng Yên (DARD) Mục đích của dự án là cùng các bên liên quan đến chuỗi cải ngọt tạo ra phương hướng phát triển và lập kế hoạch can thiệp trên cơ sở yêu cầu thị trường nhằm thúc đẩy chuỗi giá trị rau cải ngọt thành công hơn, có khả năng cạnh tranh cao hơn, từ đó mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia

 Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) hỗ trợ về mặt tài chính để triển khai

hàng loạt các nghiên cứu nhằm “Nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo”

(M4P), với mục tiêu đánh giá các điều kiện để gia tăng sự tham gia của người

Trang 8

nghèo vào kênh ngành hàng sản phẩm thực phẩm, nông sản được điều phối bởi các siêu thị và các điểm bán hàng truyền thống Thúc đẩy sự phát triển chuỗi và tăng thêm giá trị gia tăng cho các sản phẩm nông nghiệp

 Lê Thị Phương Loan – Đại học Nông nghiệp Hà Nội (2008) thực hiện Luận

văn thạc sĩ “Nghiên cứu chuỗi giá trị ngành hàng rau bắp cải huyện Văn Lâm – Hưng Yên” (2008) Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là phân tích, đánh giá thực

trạng các tác nhân trong chuỗi giá trị ngành hàng rau cải bắp huyện Văn Lâm – tỉnh Hưng Yên Tác giả đã mô tả được chuỗi, xác định được giá trị gia tăng và sự phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi Tác giả cũng đã phân tích được các yếu

tố ảnh hưởng đến chuỗi và đề xuất được những giải pháp nhằm phát triển chuỗi

 Nguyễn Thị Bình (2010), luận văn thạc sĩ kinh tế: “Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng lợn thịt huyện Chương Mỹ - Hà Nội” Mục tiêu nghiên cứu của luận

văn là đưa ra các giải pháp nâng cao giá trị sản phẩm thịt lợn trong chuỗi từ việc phân tích thực trạng, mô tả sơ đồ chuỗi, phân tích giá trị gia tăng và các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị ngành hàng lợn thịt cho huyện Chương Mỹ - Hà Nội

 Phạm Thị Ngọc Anh với nghiên cứu: “Quan hệ giới và khả năng nâng cấp chuỗi giá trị tại các làng nghề gốm truyền thống” (2009) Nghiên cứu này nằm

trong trong Dự án Nuffic của Hà Lan Nghiên cứu này đã tìm hiểu khả năng phát triển của các làng nghề thủ công truyền thống trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế thông qua khả năng nâng cấp chuỗi giá trị, mối quan hệ giới trong sản xuất và kinh doanh

 Các tác giả Phạm Ngọc Trâm và Hoàng Đình Tú nghiên cứu về “Phát triển chuỗi giá trị - công cụ gia tăng giá trị cho sản xuất nông nghiệp” (2009) Nghiên

cứu này nằm trong chương trình nghiên cứu về chuỗi giá trị của GTZ Các tác giả

đã đưa ra được những luận cứ quan trọng khẳng định rằng chuỗi giá trị là công cụ thiết yếu để gia tăng giá trị cho sản xuất nông nghiệp

 Nguyễn Thị Phương Anh, nghiên cứu đề tài “Phân tích chuỗi giá trị ngành

cà phê Việt Nam, những giải pháp và chiến lược marketing phát triển thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước” (2008) Tác giả đã khảo sát, phân tích và đánh giá

Trang 9

thực trạng các tác nhân trong chuỗi giá trị ngành hàng cà phê Tác giả cũng đã đưa

ra được những giải pháp nhằm phát triển chuỗi giá trị ngành hàng cà phê theo hướng toàn cầu

 Các tác giả Lê Thanh Loan, Đặng Hải Phương và Võ Hùng (2006) với công

trình nghiên cứu: “Cashew nuts supply chains in Vietnam: A case study in Dak Nong and Binh Phuoc provinces, Vietnam” Đây là công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị

hạt điều tại tỉnh Đắc Nông và Bình Phước của Việt Nam Hạt điều là một trong những sản phẩm khá quan trọng của ngành nông nghiệp và có đóng góp đáng kể vào nền kinh tế quốc gia Nhóm tác giả cũng đã nêu ra được các tác nhân trong chuỗi, hoạt động của chuỗi cũng như những định hướng để phát triển chuỗi bền vững

 Phạm Xuân Hoa (2011) với khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu chuỗi giá trị rau tại xã Tiền Yên – Hoài Đức – Hà Nội” Tác giả đã đưa ra được cơ sở lý luận,

thực trạng và sơ đồ chuỗi giá trị rau cũng như những thuận lợi, khó khăn, các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi và các giải pháp phát triển chuỗi nhằm làm tăng giá trị cây rau, góp phần nâng cao đời sống cho các hộ nông dân trồng rau

 Các nghiên cứu về ngành hàng rau an toàn trên địa bàn Hà Nội, Thái Bình,

Hà Tây… của các tác giả Đào Thế Anh, Đào Đức Huấn, Ngô Sỹ Đạt, Đặng Đức Chiến, Lê Văn Phong thuộc Bộ môn Hệ thống Nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam

 Một số công trình nghiên cứu khác như: “Nghiên cứu chuỗi giá trị rau tại

xã Quang Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang” của Hoàng Văn Lâm (2011) hay “Nghiên cứu chuỗi giá trị miến dong của làng nghề miến dong thôn Lai Trạch – Yên Phú – Yên Mỹ - Hưng Yên” của tác giả Chu Thị Hiên (2011), Trường Đại học

Nông nghiệp Hà Nội

Như vậy, với một số minh chứng nêu trên, chứng tỏ rằng nghiên cứu chuỗi giá trị trong nông nghiệp ở Việt Nam đã được quan tâm ở cấp độ vĩ mô và vi mô, được tiến hành triển khai rộng rãi trên nhiều khu vực

Trang 10

* Đối với lĩnh vực lâm nghiệp:

Chuỗi giá trị có thể coi là vấn đề nghiên cứu khá mới đối với các sản phẩm của ngành lâm nghiệp, đặc biệt là đối với các sản phẩm từ gỗ Cho đến nay, chỉ có một vài công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị đối sản phẩm lâm sản ngoài gỗ của ngành lâm nghiệp, cụ thể như:

 Công trình nghiên cứu về “Chuỗi giá trị Song Mây tỉnh Quảng Nam”

(2005) của nhóm tác giả Thái Thanh Hà, Ninh Khắc Bản, Lê Thanh An và Đỗ Hoàng Chung Đây là nghiên cứu nằm trong Dự án nghiên cứu về chuỗi giá trị của GTZ Các tác giả đã đưa ra được những lý luận cơ bản về chuỗi giá trị lâm sản ngoài gỗ, đặc biệt là đối với Song Mây của tỉnh Quảng Nam Từ thực tiễn sản xuất, các tác giả đã đề xuất được những giải pháp để phát triển chuỗi theo hướng chuỗi giá trị toàn cầu

 Phạm Thị Ngọc Anh với đề tài nghiên cứu “Phân tích chuỗi giá trị ngành mây tre đan và mũ nón” Đây là một trong những vấn đề nghiên cứu thuộc Dự án

Nuffic Hà Lan Tác giả đã nghiên cứu chuỗi giá trị ngành mây tre đan và mũ nón ở hai làng nghề truyền thống tại tỉnh Hà Tây Với công trình nghiên cứu này, tác giả

đã nêu ra được những đặc điểm cơ bản của chuỗi, so sánh ưu điểm, nhược điểm của chuỗi và những giải pháp cần thiết để phát triển chuỗi

 Ngô Văn Nam (2010), luận văn thạc sĩ: “Nghiên cứu chuỗi giá trị của sản phẩm cây dược liệu làm thuốc tắm tại huyện Sa Pa – Lào Cai” Nghiên cứu này đã

góp phần bổ sung cơ sở lý luận cho nghiên cứu chuỗi giá trị với các sản phẩm có tính chất bản địa, sản phẩm lâm sản ngoài gỗ, sản phẩm cây dược liệu và dược liệu làm thuốc tắm Tác giả cũng đã đề xuất được các giải pháp phát triển chuỗi giá trị theo hướng toàn cầu

Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có một đề tài hay công trình nghiên cứu nào đánh giá một cách hệ thống thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển chuỗi giá

trị đối với các sản phẩm từ gỗ của ngành lâm nghiệp Vì vậy, nghiên cứu về “Chuỗi

giá trị gỗ nguyên liệu giấy vùng Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam” vừa có

tầm quan trọng lớn lao, vừa mang tính thời sự cấp thiết trong giai đoạn hiện nay

Trang 11

1.2 Cơ sở lý luận về chuỗi giá trị

1.2.1 Một số quan điểm về chuỗi giá trị

1.2.1.1 Quan điểm của Filière (Chuỗi – Mạch)

Luồng tư tưởng nghiên cứu này gồm các trường phái tư duy và truyền thống nghiên cứu khác nhau Khởi đầu phương pháp này được dùng để phân tích hệ thống nông nghiệp của các nước đang phát triển trong hệ thống thuộc địa của Pháp (Browne, J.Harhen, J&Shivinan…, 1996) Phân tích chủ yếu làm công cụ để nghiên cứu cách thức mà các hệ thống sản xuất nông nghiệp (đặc biệt là cao su, bông, cà phê và dừa) được tổ chức trong bối cảnh các nước phát triển (Eaton, C.and A.W.Shepherd, 2001)

Theo luồng nghiên cứu này, khung Filière chú trọng đặc biệt đến cách các hệ thống sản xuất địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và tiêu dùng cuối cùng (Fresh Studio Partnars, Marije Boomsma)

Do đó, khái niệm chuỗi (Filière) luôn bao hàm nhận thức kinh nghiệm thực

tế được sử dụng để lập sơ đồ dòng chuyển động của các hàng hóa và xác định những người tham gia vào hoạt động (Pagh, J.D&Cooper, M.C, 1998) Phương pháp chuỗi có 2 luồng, có vài điểm chung với phân tích chuỗi giá trị đó, gồm:

- Việc đánh giá chuỗi về mặt kinh tế và tài chính chú trọng vào vấn đề tạo thu nhập và phân phối lợi nhuận trong chuỗi hàng hóa, phân tích các chi phí và thu nhập giữa các thành phần kinh doanh nội địa và quốc tế để phân tích sự ảnh hưởng của chuỗi đến nền kinh tế quốc dân và sự đóng góp của nó vào GDP

- Phân tích có tính chú trọng và chiến lược của phương pháp chuỗi, được sử dụng nhiều nhất ở Trường Đại học Paris – Nanterre, một số tổ chức nghiên cứu như CIRAD và INRA và các tổ chức phi chính phủ làm về phát triển nông nghiệp đã nghiên cứu một cách có hệ thống sự tác động lẫn nhau của các mục tiêu, các cản trở

và kết quả của mỗi bên có liên quan trong chuỗi, các chiến lược cá nhân và tập thể, cũng như các hình thái quy định mà Hugon (1985) đã xác định là có bốn loại liên quan đến chuỗi hàng hóa ở Châu Phi được phân tích, gồm: Quy định trong nước; Quy định về thị trường; Quy định của nhà nước; Quy định kinh doanh của nông

Trang 12

nghiệp quốc tế Moustier và Leplaideur (1989) đã đưa ra một khung phân tích về tổ chức chuỗi hàng hóa (Lập sơ đồ, các chiến lược cá nhân và tập thể, hiệu suất về mặt giá cả và tạo thu nhập, có tính đến vấn đề chuyên môn hóa của nông dân và thương nhân ngành thực phẩm so với chiến lược đa dạng hóa)

1.2.1.2 Công trình nghiên cứu của Micheal Porter

Luồng nghiên cứu thứ hai liên quan đến công trình nghiên cứu của Micheal Porter (1985) về các lợi thế cạnh tranh Porter đã dùng khung phân tích chuỗi giá trị

để đánh giá xem một công ty nên tự định vị mình như thế nào trên thị trường và trong mối quan hệ với các nhà cung cấp, khách hàng và đối thủ cạnh tranh khác Ý tưởng về lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể được tóm tắt như sau: Một công ty có thể cung cấp cho khách hàng một mặt hàng hoặc một dịch vụ có giá trị tương đương với đối thủ cạnh tranh của mình như thế nào? Hay ta làm thế nào để một doanh nghiệp có thể sản xuất một mặt hàng mà khách hàng sẵn sàng mua với giá cao hơn, hoặc chiến lược tạo sự khác biệt trên thị trường

Trong bối cảnh này, chuỗi giá trị được sử dụng như một khung khái niệm mà các doanh nghiệp có thể dùng để tìm ra các nguồn lợi thế cạnh tranh thực tế và tiềm tàng của mình để dành lợi thế trên thị trường Hơn thế nữa, Porter lập luận rằng các nguồn lợi thế cạnh tranh không thể tìm ra nếu nhìn vào công ty như một tổng thể Một công ty cần được phân tách thành một loạt các hoạt động và có thể tìm thấy lợi thế cạnh tranh trong một (hoặc nhiều hơn) những hoạt động đó Porter phân biệt giữa các hoạt động sơ cấp, trực tiếp góp phần tăng thêm giá trị cho sản xuất hàng hóa (hoặc dịch vụ) và các hoạt động hỗ trợ có ảnh hưởng gián tiếp đến giá trị cuối cùng của sản phẩm

Trong khung phân tích của Porter, khái niệm về chuỗi giá trị không trùng với

ý tưởng về chuyển đổi vật chất Porter giới thiệu về ý tưởng theo đó tính cạnh tranh của một công ty không chỉ liên quan đến quy trình sản xuất Tính cạnh tranh của doanh nghiệp có thể phân tích bằng cách xem xét chuỗi giá trị bao gồm thiết kế sản phẩm, mua vật tư đầu vào, hậu cần, hậu cần bên ngoài, tiếp thị bán hàng và các dịch

Trang 13

vụ hậu mãi và dịch vụ hỗ trợ như lập kế hoạch chiến lược, quản lý nguồn nhân lực, hoạt động nghiên cứu…

Trong mô hình của Michael E.Porter “Chuỗi giá trị” được chia thành hai

mảng chính trong kinh doanh, đó là các hoạt động sơ cấp và các hoạt động hỗ trợ

Về cơ bản, chuỗi giá trị tổng quát có chín loại hoạt động tạo ra giá trị trong toàn chuỗi được thể hiện như sau:

Do vậy, trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị chỉ áp dụng trong kinh doanh Kết quả là phân tích chuỗi giá trị chủ yếu nhằm hỗ trợ các quyết định quản lý và chiến lược điều hành

Hình 1.2 Sơ đồ hệ thống giá trị của Porter (1985)

Chuỗi giá trị

của nhà cung cấp

Chuỗi giá trị của công ty

Chuỗi giá trị của người mua

Cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp Quản trị nguồn nhân lực Phát triển công nghệ

Logistics đầu ra (chuyển SP

ra bên ngoài)

Logistics đầu ra

Marketing

và bán hàng

Dịch vụ

Lợi nhuận

Các hoạt động sơ cấp Các hoạt động hỗ trợ

Hình 1.1 Sơ đồ chuỗi giá trị tổng quát

Trang 14

1.2.1.3 Quan điểm của GTZ Eschborn

Trong cuốn “Cẩm nang Value Links – Phương pháp luận để thúc đẩy chuỗi giá trị” của GTZ Eschborn, 2007 cho rằng “một chuỗi giá trị” là:

- Một loạt các hoạt động kinh doanh (hay chức năng) có quan hệ với nhau, từ việc cung cấp các đầu vào cụ thể cho một sản phẩm nào đó, đến sơ chế, chuyển đổi, marketing, đến việc cuối cùng là bán sản phẩm đó cho người tiêu dùng (đây là quan điểm theo chức năng đối với chuỗi giá trị)

- Một loạt các doanh nghiệp (nhà vận hành) thực hiện các chức năng này, có nghĩa là nhà sản xuất, nhà chế biến, nhà buôn bán và nhà phân phối một sản phẩm

cụ thể nào đó Các doanh nghiệp kết nối với nhau bằng một loạt các giao dịch kinh doanh trong đó sản phẩm được chuyển từ tay nhà sản xuất sơ chế đến tay người tiêu dùng cuối cùng Theo thứ tự các chức năng và các nhà vận hành, chuỗi giá trị sẽ bao gồm một loạt các đường dẫn trong chuỗi (hay còn gọi là khâu)

Người vận hành chuỗi là các doanh nghiệp thực hiện những chức năng cơ bản của chuỗi giá trị Những người vận hành điển hình là nông dân, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các công ty công nghiệp, các nhà xuất khẩu, các nhà bán buôn

và các nhà bán lẻ Họ có một điểm chung là tại một khâu nào đó trong chuỗi giá trị,

họ sẽ trở thành người chủ sở hữu của sản phẩm (nguyên liệu thô, bán thành phẩm hay thành phẩm) Do đó, nhà vận hành chuỗi và nhà cung cấp dịch vụ vận hành là hai khái niệm khác nhau Nhà cung cấp dịch vụ vận hành là nhà thầu phụ được các nhà vận hành thuê lại

Tuy nhiên trong một chuỗi giá trị dịch vụ, những người vận hành chuỗi lại bao gồm cả doanh nghiệp cung cấp sản phẩm dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng (dù đó là một khách hàng cá nhân hay là một công ty), cũng như các nhà cung cấp chuyên biệt khác chuyên cung cấp đầu vào và các dịch vụ (thứ cấp) ở những khâu đầu của chuỗi

Như vậy, theo quan điểm của GTZ, tác giả tóm tắt chuỗi giá trị theo hai hướng sau đây:

+ Hướng thứ nhất: dựa theo chức năng đối với chuỗi giá trị:

Trang 15

Hình 1.3 Sơ đồ chuỗi giá trị phân chia theo chức năng

+ Hướng thứ hai: dựa theo nhà vận hành chuỗi giá trị:

Hình 1.4 Sơ đồ chuỗi giá trị phân chia theo nhà vận hành

1.2.2 Một số khái niệm cơ bản

trong một đơn vị sản xuất để sản xuất ra một sản phẩm nhất định Tất cả các hoạt động này tạo thành một “chuỗi” kết nối người sản xuất với người tiêu dùng, mặt khác mỗi hoạt động lại bổ sung giá trị cho sản phẩm cuối cùng

Nếu hiểu chuỗi giá trị theo nghĩa rộng thì chuỗi giá trị là một phức hợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện để biến một nguyên liệu thô thành thành phẩm được bán lẻ Kết quả của chuỗi có được khi sản phẩm đã

được bán cho người tiêu dùng cuối cùng

Yếu tố

đầu vào sản phẩm Sản xuất Chuyển đổi SP thương mại Trao đổi Bán hàng

Cung cấp Trồng Phân loại Vận chuyển Tiêu dùng

- Thiết bị Thu hoạch Chế biến Phân phối

- Đầu vào Sấy khô Đóng gói Bán hàng

Nhà sản xuất chế biến Nhà bán buôn Nhà bán xỉ Nhà Người bán lẻ

Khâu sản xuất chế biến Khâu bán buôn Khâu bán xỉ Khâu Người bán lẻ

Nhà

cung cấp

Cung cấp

đầu vào

Trang 16

Cách tiếp cận theo nghĩa rộng không xem xét các hoạt động do một doanh nghiệp duy nhất tiến hành, mà nó xem xét cả mối liên kết ngược và xuôi cho đến khi nguyên liệu thô được sản xuất rồi kết nối với người tiêu dùng cuối cùng

Như vậy, khái niệm về chuỗi giá trị đã bao hàm cả tổ chức và điều phối, các chiến lược và quan hệ quyền lực của những người tham gia khác nhau trong chuỗi

1.2.2.2 Chuỗi cung ứng

Một chuỗi cung ứng được định nghĩa là một hệ thống các hoạt động vật chất

và các quyết định thực hiện liên tục gắn với dòng vật chất và dòng thông tin đi qua các tác nhân (Van der Vorst, 2000)

Theo Lambert và Cooper (2000), một chuỗi cung ứng có 4 đặc trưng cơ bản: + Thứ nhất, chuỗi cung ứng bao gồm nhiều công đoạn (bước) phối hợp bên trong các bộ phân, phối hợp giữa các bộ phận (tổ chức) và phối hợp dọc

+ Thứ hai, một chuỗi bao gồm nhiều doanh nghiệp độc lập nhau, do vậy cần thiết phải có mối quan hệ về mặt tổ chức

+ Thứ ba, một chuỗi cung ứng bao gồm dòng vật chất và dòng thông tin có định hướng, các hoạt động điều hành và quản lý

+ Thứ tư, các thành viên của chuỗi nỗ lực để đáp ứng mục tiêu là mang lại giá trị cao cho khách hàng thông qua việc sử dụng tối ưu nguồn lực của mình

tụ” (Fierre Fabre, 1994) Nói cách khác, “Ngành hàng là tập hợp những tác nhân kinh tế đóng góp trực tiếp vào sản xuất, tiếp đó là gia công sản phẩm, chế biến và

đi đến một thị trường hoàn tất của các sản phẩm”

Nói chung, ngành hàng bao gồm toàn bộ các hoạt động được gắn kết chặt chẽ với nhau trong một quá trình từ sản xuất, vận chuyển, chế biến đến phân phối

Trang 17

sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng Chúng ta thấy rằng ngành hàng là một chuỗi tác nghiệp, chuỗi các tác nhân và cũng là một chuỗi những thị trường, nó kéo theo những luồng vật chất và những bù đắp bằng giá trị tiền tệ

1.2.2.5 Sản phẩm

Theo Tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9000:2000 thì “sản phẩm là kết quả của một quá trình tập hợp các hoạt động có liên quan lẫn nhau hoặc tương tác với nhau để biến đổi đầu vào (input) thành đầu ra (output)”

Trong một ngành hàng, mỗi tác nhân đều tạo ra sản phẩm riêng của mình, trừ những sản phẩm bán lẻ cuối cùng Sản phẩm của mọi tác nhân khác chưa phải là sản phẩm cuối cùng của ngành hàng mà chỉ là kết quả hoạt động kinh tế, là đầu ra quá trình sản xuất của từng tác nhân Do tính chất phong phú về chủng loại sản phẩm nên trong phân tích ngành hàng thường chỉ phân tích sự vận hành của các sản phẩm chính Sản phẩm của ngành hàng thường lấy tên sản phẩm của tác nhân đầu tiên (Fierre Fabre, 1994)

1.2.3 Phương pháp phân tích chuỗi giá trị

Phân tích chuỗi giá trị có nhiều phương pháp khác nhau Tuy nhiên, theo GTZ chúng được nhóm vào ba bước cơ bản:

- Lập bản đồ chuỗi giá trị

- Lượng hóa và mô tả chi tiết các chuỗi giá trị

- Phân tích kinh tế đối với các chuỗi giá trị và so sánh đối chuẩn

Ngoài ra, nghiên cứu thị trường và phân tích trở ngại cũng là những nội dung

có liên quan chặt chẽ tới phân tích chuỗi giá trị Bởi vì việc lập bản đồ các kênh thị

Trang 18

trường cùng với các phân tích kinh tế là những đầu vào quan trọng trong nghiên cứu thị trường và phân tích trở ngại sẽ chuẩn bị cho việc xây dựng một chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị

1.2.3.1 Lập bản đồ chuỗi giá trị

Lập bản đồ chuỗi giá trị có nghĩa là xây dựng một sơ đồ có thể quan sát bằng mắt thường về hệ thống chuỗi giá trị Các bản đồ này có nhiệm vụ định dạng các hoạt động kinh doanh, các nhà vận hành chuỗi và những mối liên kết của họ, cũng như các nhà hỗ trợ chuỗi nằm trong chuỗi giá trị này Các bản đồ chuỗi là cốt lõi của bất kỳ phân tích chuỗi giá trị nào nên chúng là yếu tố không thể thiếu

Bản đồ chuỗi giá trị bao gồm nhiều loại bản đồ với các chức năng và mức độ chi tiết khác nhau, về cơ bản có các loại bản đồ sau đây:

* Bản đồ cơ sở (Bản đồ tổng thể):

Bản đồ cơ sở cung cấp cái nhìn tổng quan về toàn bộ chuỗi giá trị Bản đồ cơ

sở này cần mô tả các liên kết chính hay các phân đoạn của chuỗi giá trị với các nội dung:

- Các giai đoạn sản xuất và các chức năng marketing

- Các nhà vận hành chuỗi giá trị thực hiện những chức năng này

- Các liên kết kinh doanh dọc giữa các nhà vận hành

Ba yếu tố của bản đồ cơ sở đại diện cho cấp vi mô của chuỗi giá trị Ở cấp này, giá trị gia tăng sẽ được tạo ra Các nhà cung cấp dịch vụ và các nhà hỗ trợ cấp trung (các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ) cũng có thể nằm trong bản đồ chuỗi

Các bước xây dựng một bản đồ chuỗi giá trị tổng thể:

- Xác định sản phẩm cuối cùng

- Xác định thị trường cuối cùng/Nhóm khách hàng cuối cùng

- Lập danh sách các hoạt động/chức năng hiện đang được thực hiện để đưa sản phẩm cuối cùng ra thị trường Bắt đầu từ điểm bán cuối cùng (cửa hàng tiêu thụ/đại lý trên thị trường nội địa hoặc các nhà xuất khẩu), sau đó quay ngược lại với các hoạt động sản xuất và marketing cần thiết để bán sản phẩm trên thị trường

Trang 19

- Lập danh sách các hoạt động/chức năng từ cung cấp các đầu vào kỹ thuật đặc thù cho đến hoạt động bán hàng cuối cùng

- Xây dựng kênh chính bằng cách xác định các nhà vận hành thực hiện các chức năng của chuỗi

* Bản đồ tiểu chuỗi (các kênh):

Bản đồ tiểu chuỗi phản ánh cụ thể chuỗi giá trị tổng thể và bổ sung thêm nhiều chi tiết có liên quan nhưng chưa được phản ánh ở bản đồ tổng thể Bản đồ tổng thể có thể mô tả các “tiểu chuỗi” tương ứng với các sản phẩm cụ thể khác nhau

và các kênh phân phối khác nhau Nhưng bản đồ tiểu chuỗi còn mô tả thêm các kênh cung cấp thay thế và các thị trường mà các kênh này hướng tới

* Bản đồ các liên kết chuỗi và quản trị điều hành:

Quản trị chuỗi phản ánh cách thức phối hợp các nhà vận hành chuỗi trong tất

cả các giai đoạn của chuỗi Mối quan hệ giữa các nhà vận hành có thể là một trao đổi thị trường tự do hay các hợp đồng liên kết Loại hình liên kết phụ thuộc vào chất lượng và tính phức tạp của sản phẩm cuối cùng Các kiểu quan hệ khác nhau có thể được mô hình hóa một cách dễ dàng trên bản đồ chuỗi bằng các ký hiệu khác nhau

* Bản đồ các nhà hỗ trợ chuỗi (cấp trung):

Các chức năng cơ sở và các nhà vận hành chuỗi là thuộc cấp trung trong chuỗi giá trị, có nghĩa là các chủ thể trong thị trường tương ứng bao gồm cả các nhà cung cấp dịch vụ vận hành Ngoài cấp độ vi mô, các chuỗi giá trị còn có thể được

mô tả ở cấp trung, bao gồm cả các cơ quan và các tổ chức kinh doanh đại diện cho lợi ích chung của cộng đồng kinh doanh và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ

Các nhà hỗ trợ chuỗi bao gồm các hiệp hội kinh doanh, các hiệp hội công nghiệp, các cơ quan chuyên biệt của ngành, các vụ chuyên biệt, các đơn vị trong cơ quan nhà nước, các quỹ phát triển hoặc các chương trình phát triển

1.2.3.2 Lượng hóa và mô tả chi tiết các chuỗi giá trị

Các biến số trong chuỗi luôn biến động theo thời gian Do vậy, công tác lượng hóa sẽ giúp các nhà quản lý đánh giá, so sánh tình trạng hiện tại và dự báo tiềm năng của chuỗi trong tương lai

Trang 20

Lượng hóa và mô tả chi tiết các chuỗi giá trị bao gồm các con số kèm theo bản đồ chuỗi cơ sở như số lượng chủ thể, lượng sản xuất hay thị phần của các phân đoạn cụ thể trong chuỗi Tùy thuộc vào từng mối quan tâm cụ thể mà các phân tích chuỗi tập trung vào bất kỳ khía cạnh nào có liên quan như các đặc tính của chủ thể, các dịch vụ hay các điều kiện về chính trị, luật pháp và thể chế có tác dụng ngăn cản hoặc khuyến khích phát triển chuỗi

* Lượng hóa bản đồ chuỗi cơ sở:

Lượng hóa bản đồ chuỗi cơ sở có nghĩa là hoạt động bổ sung các con số về các thành tố của bản đồ chuỗi như:

- Số lượng các nhà vận hành (quy mô của các trang trại và doanh nghiệp)

- Số lượng việc làm và người lao động của mỗi nhóm nhà vận hành

- Số lượng các nhà vận hành là người nghèo trong từng giai đoạn

- Tỷ trọng các dòng sản phẩm của các tiểu chuỗi/các kênh phân phối khác nhau

- Thị phần của chuỗi giá trị (hoặc tiểu chuỗi giá trị) được tính bằng phần trăm giá trị bán ra trên toàn bộ thị trường

* Phóng to: Lập bản đồ các thành tố và phân đoạn trong chuỗi:

Các phân tích miêu tả có thể được xây dựng chi tiết hơn thông qua việc cụ thể hóa các phần trong bản đồ chuỗi cơ sở, từ đó tạo ra các bản đồ theo chủ điểm như mô tả các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ, mối quan hệ tương tác của các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ với các nhà vận hành trong chuỗi lớn

Lập bản đồ chi tiết là một kiểu phóng to theo tỷ lệ giống như các bản đồ địa lý, bản đồ chuỗi tổng thể có “tỷ lệ nhỏ”, trong khi các bản đồ chi tiết về các phân đoạn

cụ thể của chuỗi hoặc các kênh phân phối có tỷ lệ lớn Xây dựng bản đồ chi tiết của chuỗi sẽ có ích hơn là đề cập quá nhiều thông tin vào một bản đồ chuỗi duy nhất

* Các nghiên cứu chuỗi đặc biệt:

- Các phân tích liên kết kinh doanh và quản trị điều hành

Phân tích các liên kết kinh doanh bao gồm việc xác định mức độ và tính bền vững của hợp tác, sự có mặt của các công ty đầu mối, thái độ và cam kết của họ Ngoài ra còn phân tích các xung đột nảy sinh từ những khác biệt của các bên đàm

Trang 21

phán, các thông tin không cân xứng và sự cạnh tranh nguồn lực giữa các nhà vận hành chuỗi

Các nghiên cứu liên kết kinh doanh cũng bao gồm cả cấp độ tổ chức ngành, đặc biệt là năng lực của các hiệp hội kinh doanh thương mại

- Các phân tích thành phần tham gia

Mỗi nhóm nhà vận hành và nhà cung cấp dịch vụ thường có các đặc tính liên quan đến khả năng tham gia của họ vào một dự án nâng cấp chuỗi giá trị Một phân tích thành phần tham gia là đặc biệt quan trọng trong trường hợp các chủ thể tham gia thị trường là những người nghèo và có năng lực yếu kém Số lượng các nhà vận hành chuỗi được xếp thành ba mức “siêu nhỏ”, “nhỏ” hoặc “trung bình”

Phân tích thành phần tham gia bao gồm các nội dung về thu nhập, số lượng thành viên tham gia, chi phí, khả năng kỹ thuật, quản lý, marketing, tiếp cận thị trường, năng lực phối hợp theo chiều ngang và chiều dọc…

- Các điều kiện khung ở cấp vĩ mô

Việc đánh giá khung pháp luật và các điều kiện vĩ mô của phát triển chuỗi bao gồm nghiên cứu các chính sách thương mại quốc tế và các chính sách quốc gia

có liên quan, đồng thời nghiên cứu các điều luật hiện hành về thị trường đang đề cập đến Ngoài ra cũng cần nghiên cứu các yếu tố về xã hội và văn hóa quyết định hành vi kinh doanh

1.2.3.3 Phân tích kinh tế đối với chuỗi giá trị

Phân tích kinh tế đối với chuỗi giá trị là đánh giá năng lực hiệu suất kinh tế của chuỗi Hoạt động này bao gồm việc xác định giá trị gia tăng tại các giai đoạn trong chuỗi giá trị, chi phí sản xuất và thu nhập của các nhà vận hành Chi phí giao dịch được xác định là chi phí triển khai công việc kinh doanh, chi phí thu thập thông tin và thực hiện hợp đồng

Năng lực kinh tế của một chuỗi giá trị có thể được “so sánh đối chuẩn”, có nghĩa là các tham số quan trọng trong chuỗi có thể được so sánh với các tham số tương ứng trong các chuỗi cạnh tranh tại các quốc gia khác hoặc của các ngành công nghiệp tương đồng

Trang 22

Các phân tích kinh tế của chuỗi giá trị có vai trò vô cùng quan trọng vì nó là

cơ sở để quyết định các mục tiêu phát triển, chiến lược nâng cấp, giám sát và đánh giá hiệu quả của các nhà vận hành và nhà hỗ trợ chuỗi, đánh giá tiềm năng của giá trị gia tăng, các yếu tố quyết định chi phí và giá cả

Phân tích kinh tế bao gồm các đánh giá về:

- Toàn bộ giá trị gia tăng được sản sinh ra bởi chuỗi giá trị và tỷ trọng của các giai đoạn khác nhau

- Chi phí marketing và chi phí sản xuất tại mỗi giai đoạn trong chuỗi, cấu trúc của chi phí trong các giai đoạn của chuỗi

- Năng lực của các nhà vận hành về sản xuất, sản lượng và lợi nhuận

* Tính giá trị gia tăng:

Giá trị gia tăng là thước đo về giá trị được tạo ra trong nền kinh tế Khái niệm này tương đương với tổng giá trị được tạo ra (doanh thu của chuỗi) bởi những người vận hành chuỗi, có nghĩa là:

Doanh thu của chuỗi = giá bán cuối cùng * số lượng bán ra

Giá trị gia tăng trên một đơn vị sản phẩm là hiệu số giữa giá mà người vận hành chuỗi bán được trừ đi giá mà người vận hành chuỗi đó đã bỏ ra để mua những nguyên liệu đầu vào mà những người vận hành chuỗi ở công đoạn trước cung cấp,

và giá của những hàng trung gian mua từ những nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ không được coi là mắt xích trong chuỗi

Như vậy, “giá trị gia tăng chính là giá trị được cộng thêm vào hàng hóa hay dịch vụ tại mỗi khâu của quá trình sản xuất hay tiêu thụ mặt hàng đó”

(McCormick/Schmitz) Một phần của giá trị gia tăng được tạo ra được giữ lại trong chuỗi (giá trị được giữ lại), còn một phần khác thì được giữ lại bởi những nhà cung cấp nằm ngoài chuỗi

Giá trị được giữ lại là giá trị tăng thêm được tạo ra nhờ việc nâng cấp chuỗi giá trị, và giá trị này được giữ lại cùng với các nhà vận hành chuỗi

Giá trị gia tăng là cách đo lường mức độ thịnh vượng đã được tạo ra trong nền kinh tế Theo định nghĩa đã được sử dụng trong các hệ thống kế toán quốc gia

Trang 23

thì tổng giá trị gia tăng bằng với tổng giá trị thuần của tất cả các dịch vụ và sản phẩm được sản xuất ra trong nền kinh tế phục vụ cho tiêu dùng và đầu tư (GDP), sau lạm phát Để tính được giá trị gia tăng trong chuỗi thì các chi phí mua nguyên vật liệu, các bộ phận và dịch vụ phải được khấu trừ từ giá trị bán (doanh thu)

Doanh thu do chuỗi giá trị tạo ra được phân thành giá trị gia tăng được tạo ra bởi các nhà vận hành chuỗi với hàng hóa trung gian, các đầu vào và các dịch vụ vận hành được cung cấp bởi các nhà cung cấp không tham gia vào chuỗi chính của chuỗi giá trị

Nguyên tắc tính toán giá trị gia tăng được thể hiện như sau:

Hình 1.5 Sơ đồ nguyên tắc tính giá trị gia tăng

Nguyên tắc tính toán này có thể được áp dụng cho mỗi giai đoạn của chuỗi giá trị

* Phân phối giá trị gia tăng trong chuỗi:

Tổng giá trị trả cho và được tiêu thụ bởi khách hàng cuối cùng được chia ra giữa giá trị gia tăng và các hàng hóa trung gian Hàng hóa trung gian lại được phân chia cụ thể hơn thành bán thành phẩm (sản phẩm trung gian) và sản phẩm cuối cùng được cung cấp bởi các nhà vận hành trong phân đoạn trước đó trong cùng một chuỗi giá trị, và các đầu vào khác được cung cấp bởi các nhà cung cấp bên ngoài

Hàng hóa trung gian:

Nguyên liệu thô Đầu vào

Dịch vụ vận hành

Dùng để trả cho người sở hữu các yếu tố sản xuất (vốn, lao động, đất đai) và thuế

Dùng để chuyển cho nhà cung cấp hàng hóa trung gian

Các thành phần của tổng giá trị tạo ra do chuỗi giá trị:

Giá trị gia tăng = Tổng giá trị bán – Giá trị hàng hóa trung gian

Trang 24

Sơ đồ sau đây sẽ mô tả cách phân phối giá trị gia tăng giữa các giai đoạn trong chuỗi, giữa các nhà vận hành chuỗi và các nhà cung cấp bên ngoài

Hình 1.6 Sơ đồ phân phối giá trị gia tăng trong chuỗi

Tổng năm khối nhỏ có kẻ chéo thể hiện giá trị gia tăng được tính bằng tổng giá trị gia tăng được tiêu dùng Như vậy, thu nhập hay lợi nhuận chỉ là một phần của giá trị gia tăng Dù chúng chiếm tỷ lệ lớn trong giá trị gia tăng thì cũng không hoàn toàn phản ánh thu nhập cao

Tuy nhiên, theo quan điểm kinh tế vĩ mô thì giá trị gia tăng là một tham số quan trọng hơn so với thu nhập của các nhà vận hành chuỗi Như vậy, hiển nhiên là tăng trưởng trong các lĩnh vực dịch vụ cũng góp phần vào mục đích tăng trưởng vì người nghèo

Nhà SX sơ cấp Người tạo ra SP Thương nhân Người TD

Tổng giá trị tiêu dùng Đầu vào khác

GTGT

Sản phẩm trung gian GTGT

Đầu vào khác

Sản phẩm trung gian GTGT

Nhà cung cấp dịch vụ đầu vào

Nhà cung cấp dịch vụ đầu vào

GTGT GTGT GTGT

Trang 25

“Tạo ra giá trị” và “giữ lại giá trị” có mối quan hệ tương tác với nhau Giữ

lại giá trị do cải thiện hiệu suất sử dụng đầu vào thường làm tăng giá trị gia tăng của giai đoạn có liên quan trong chuỗi giá trị đó, nhưng lại làm giảm lượng mua đầu vào, và do đó, làm giảm giá trị gia tăng của các nhà cung cấp đầu vào Đồng thời, hiệu suất được cải thiện thường làm tăng năng lực cạnh tranh và do đó, làm tăng thị phần và tạo ra giá trị

Việc phân phối giữa giá trị gia tăng và các hàng hóa trung gian chỉ có thể xuất phát từ một tính toán chi phí trung bình của các nhà vận hành có liên quan

* Tính chi phí sản xuất trong chuỗi giá trị:

- Tính toán chi phí sản xuất và chi phí chế biến một cách rõ ràng sẽ mang lại lợi ích trực tiếp cho nâng cấp chuỗi vì chúng sẽ giúp xây dựng lòng tin giữa các đối tác trong chuỗi giá trị và cung cấp các số liệu tham khảo cho các cuộc đàm phán Tính chi phí sản xuất trong chuỗi giá trị phản ánh:

+ Chi phí tổng thể của doanh nghiệp trong một phân đoạn cụ thể để đạt được các chỉ số trung bình của chuỗi hoặc của toàn bộ ngành công nghiệp

+ Dữ liệu về các chức năng trong chuỗi giá trị Đó chính là dữ liệu của chuỗi sản xuất và các hoạt động marketing chứ không phải dữ liệu của doanh nghiệp

Tính toán chi phí đơn vị cho mỗi hoạt động bao gồm các chi phí trực tiếp như chi phí mua nguyên vật liệu và dịch vụ, chi phí tiêu thụ năng lượng, tiền lương, các biến số chi phí máy móc…

Chi phí cố định như lãi suất tiền vay hoặc các chi phí hành chính được tính cho toàn bộ các phân đoạn trong chuỗi Các tính toán chi phí được thực hiện trong suốt chuỗi giá trị

Các thành tố chi phí chính có thể được xác định bằng tiền hoặc bằng cách tính phân bổ chi phí theo phần trăm

- Các yếu tố quyết định chi phí được xác định thông qua phân tích chi tiết các thành phần chi phí quan trọng trong chuỗi

- Một loại chi phí thường liên quan đến phân tích chuỗi giá trị là “các chi phí giao dịch” Các chi phí giao dịch xuất phát từ các hoạt động để:

Trang 26

+ Tìm kiếm thông tin thị trường và xác định các cơ hội thị trường

So sánh chỉ số có thể liên quan tới chi phí sản xuất đơn vị, năng suất lao động, tốc độ tăng trưởng, đầu tư công nghệ, nghiên cứu hoặc đào tạo đội ngũ, các quy định thị trường, các chỉ số hiệu suất kỹ thuật…

Sự so sánh này giúp nhà quản lý xác định được các nhu cầu và tiềm năng nâng cấp chuỗi giá trị, đồng thời giúp định dạng các cơ hội thị trường mới

1.2.4 Nội dung phân tích chuỗi giá trị

Trong phân tích chuỗi giá trị có 8 nội dung dùng để phân tích Trong đó 4 nội dung đầu tiên được coi là “nội dung cốt yếu” cần thực hiện để đạt được phân tích tối thiểu về chuỗi giá trị Bốn nội dung tiếp theo là các “nội dung nâng cao” có thể tiến hành để có một bức tranh tổng thể hơn về một số mặt của chuỗi giá trị Nội dung phân tích chuỗi giá trị bao gồm:

* Thứ nhất: Lựa chọn các chuỗi giá trị ưu tiên để phân tích:

Trước khi tiến hành phân tích chuỗi giá trị, chúng ta cần phải quyết định xem

sẽ ưu tiên lựa chọn tiểu ngành nào, sản phẩm hay hàng hóa nào để phân tích Vì các nguồn lực dùng để phân tích thường hạn chế nên cần phải lập ra phương pháp lựa chọn một số nhất định các chuỗi giá trị ưu tiên để phân tích trong số nhiều lựa chọn chúng ta có thể đạt được

Trang 27

* Thứ hai: Lập sơ đồ chuỗi giá trị:

Để hiểu được chuỗi giá trị mà chúng ta muốn phân tích, cần thiết sử dụng các

mô hình, bảng, biểu đồ, số liệu và các hình thức khác để mô tả các tác nhân, đặc điểm và kết quả hoạt động của từng tác nhân Việc sử dụng các sơ đồ vẽ các chuỗi giá trị sẽ giúp chúng ta dễ nhận thấy và dễ hiểu hơn trong quá trình nghiên cứu (Fresh Studio Partnars, Marije Boomsma)

* Thứ ba: Xác định chi phí và lợi nhuận:

Sau khi đã lập được sơ đồ chuỗi giá trị, bước tiếp theo là nghiên cứu sâu một

số khía cạnh của chuỗi giá trị Có rất nhiều khía cạnh có thể lựa chọn để nghiên cứu tiếp, nhưng việc xác định chi phí và lợi nhuận, xác định số tiền mà một người tham gia trong chuỗi giá trị bỏ ra và số tiền mà một người tham gia trong chuỗi nhận được có ý nghĩa hơn cả (Fesh Studio Partnars, Marije Boomsma)

* Thứ tư: Phân tích công nghệ, kiến thức:

Công nghệ áp dụng trong sản xuất là nói đến công nghệ truyền thống (thường được tự phát triển bởi người sử dụng dựa trên kinh nghiệm), công nghệ cao (được hình thành thông qua nghiên cứu và phát triển mở rộng)

Phân tích công nghệ và kiến thức nhằm phân tích tính hiệu quả và hiệu lực của công nghệ, kiến thức dùng trong chuỗi giá trị Trên cơ sở xác định loại hình công nghệ đang áp dụng so với những đòi hỏi công nghệ, kiến thức của chuỗi giá trị

để thấy được mức độ hợp lý của công nghệ đang áp dụng Từ đó đưa ra những giải pháp cho sự lựa chọn cải tiến, nâng cấp công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu chất lượng sản phẩm đầu ra, tiết kiệm chi phí và nâng cao thu nhập cho chuỗi giá trị (Fesh Studio Partnars, Marije Boomsma)

* Thứ năm: Phân tích thu nhập:

Mục tiêu của phân tích thu nhập là phân tích tác động, phân bổ thu nhập trong và giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị theo cấp bậc Phân tích tác động của hệ thống quản trị chuỗi giá trị tới sự phân bổ thu nhập và giá sản phẩm cuối cùng Miêu tả sự đa dạng của thu nhập, rủi ro thường gặp và các tác động đến chuỗi giá trị

Trang 28

* Thứ sáu: Phân tích việc làm:

Mục tiêu của phân tích việc làm trong chuỗi giá trị nhằm: Phân tích tác động của chuỗi giá trị tới việc phân bổ việc làm giữa các tác nhân tham gia chuỗi Miêu

tả sự phân bổ việc làm theo chuỗi giá trị, miêu tả sự vận động của việc làm dọc theo chuỗi giá trị Phân tích tác động của hệ thống quản trị khác nhau của chuỗi giá trị đến sự phân bổ việc làm Phân tích sự tác động của các chiến lược khác nhau của chuỗi giá trị lên sự phân bổ việc làm

* Thứ bảy: Quản trị và các dịch vụ:

Việc phân tích quản trị và các dịch vụ nhằm: Phân tích các nhà tham gia trong chuỗi giá trị phối hợp với các hoạt động của họ như thế nào thông qua các nguyên tắc chính thức và không chính thức Sự tuân thủ nguyên tắc được giám sát như thế nào Phân tích những nhóm khác nhau của những người tham gia chuỗi giá trị nhận những hình thức hỗ trợ đầy đủ như thế nào để có thể giúp họ đạt được các tiêu chuẩn yêu cầu Đánh giá tác động của các nguyên tắc tới các nhóm khác nhau…

* Thứ tám: Phân tích sự liên kết giữa các tác nhân:

Trong nghiên cứu chuỗi giá trị cần thiết phân tích mối liên kết giữa những người tham gia trong chuỗi giá trị và mối liên kết của họ với các tác nhân ngoài chuỗi Phân tích những cam kết, trách nhiệm và lợi ích giữa những người tham gia,

sự áp dụng đối với sự phát triển chung của chuỗi

Trang 29

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Phân tích chuỗi giá trị gỗ nguyên liệu giấy nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện và phát triển chuỗi giá trị gỗ nguyên liệu vùng Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam

2.2 Đối tượng nghiên cứu

- Quy trình sản xuất gỗ nguyên liệu giấy và sản phẩm giấy cuộn

- Các tác nhân tham gia chuỗi: Người tạo rừng và Người chế biến

- Các hoạt động trong chuỗi giá trị:

+ Hoạt động cơ sở: Đầu vào, hoạt động SXKD, đầu ra, tiêu thụ, dịch vụ… + Hoạt động hỗ trợ: Chính sách, công nghệ, cơ sở hạ tầng, văn hóa xã hội…

2.3 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Luận văn nghiên cứu trên phạm vi vùng Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam, song một số nội dung chuyên sâu được khảo sát tại Công ty Lâm nghiệp Đoan Hùng và Tổng Công ty Giấy Việt Nam

- Về thời gian: Các thông tin phục vụ cho nghiên cứu này được thu thập từ năm 2010 trở về trước, các giải pháp đề xuất có thể áp dụng cho năm 2011-2015 và các năm tiếp theo

Trang 30

- Về nội dung:

+ Trong luận văn này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu tình hình sản xuất, cung ứng, chế biến gỗ nguyên liệu giấy từ rừng trồng là rừng sản xuất và rừng nghiên cứu là rừng thuần loài, đều tuổi, khai thác trắng ở cuối chu kỳ kinh doanh

+ Tập trung nghiên cứu và phân tích sâu ở hai khâu là tạo rừng gỗ nguyên liệu giấy và chế biến giấy cuộn với nguồn nguyên liệu có và không có chứng chỉ rừng

2.4 Nội dung nghiên cứu

- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị trong nông lâm nghiệp

- Thực trạng chuỗi giá trị gỗ nguyên liệu giấy và giấy cuộn vùng Trung tâm

- Các tác nhân tham gia chuỗi và các hoạt động trong chuỗi

- Giá trị gia tăng được tạo ra trong chuỗi

- Sự phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi

- Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi

- Một số giải pháp hoàn thiện và phát triển chuỗi

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp chọn điểm và chọn đối tượng nghiên cứu

Lập sơ đồ chuỗi và lựa chọn chuỗi giá trị ưu tiên để phân tích được thực hiện dựa trên các phương pháp sau đây:

* Chọn điểm đầu và điểm cuối:

Chuỗi giá trị gỗ nguyên liệu giấy được bắt đầu từ việc tạo rừng (trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ và khai thác rừng) nguyên liệu cho đến các công đoạn buôn bán

gỗ, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn với vấn

đề quan tâm chủ yếu là việc tạo ra giá trị và phân phối giá trị gia tăng diễn ra như thế nào trong hai khâu tạo rừng và chế biến

Khâu tạo rừng nguyên liệu, khâu chế biến ra các sản phẩm khác nhau như giấy cuộn, ván dăm, ván ghép thanh, hàng thủ công mỹ nghệ… trong đó giấy cuộn được coi là sản phẩm tiêu biểu với nguồn nguyên liệu chủ đạo để sản xuất là gỗ nguyên liệu từ rừng trồng Do vậy tôi đã lựa chọn điểm nghiên cứu của chuỗi với

Trang 31

điểm đầu là tạo cây con trong khâu tạo rừng và điểm cuối là sản phẩm giấy cuộn xuất kho chờ tiêu thụ

* Chọn địa điểm nghiên cứu:

+ Giấy cuộn được sản xuất ở hầu hết các nơi trên cả nước Song giấy cuộn của vùng Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam được sản xuất chủ yếu ở Tổng Công ty Giấy Việt Nam – Phong Châu – Phù Ninh – Phú Thọ Vì vậy, tôi chọn Tổng Công ty Giấy Việt Nam làm địa điểm nghiên cứu đầu tiên

+ Gỗ nguyên liệu giấy cung cấp cho Tổng Công ty Giấy Việt Nam nằm rải rác trên các tỉnh trong cả nước nhưng đa số là ở vùng Trung du miền núi phía Bắc, trong đó có các đơn vị chủ đạo như Công ty lâm nghiệp Đoan Hùng, Công ty Lâm nghiệp Yên Lập, Công ty Lâm nghiệp Xuân Đài, Công ty Lâm nghiệp Tam Sơn, Công ty Lâm nghiệp Cầu Ham, Công ty Lâm nghiệp Hàm Yên, Công ty Lâm nghiệp Tân Phong… Do hạn chế về mặt tài chính và thời gian, đồng thời để thuận tiện cho quá trình nghiên cứu nên tôi chọn Công ty Lâm nghiệp Đoan Hùng làm địa điểm nghiên cứu tiếp theo

* Chọn đối tượng nghiên cứu:

Rừng nguyên liệu được trồng ở vùng Trung du miền núi phía Bắc với những loài cây trồng chính như Keo tai tượng, Keo lai, Bạch đàn, Mỡ, Bồ đề… trong đó Keo tai tượng là loài cây được trồng phổ biến nhất do có sự phù hợp về đặc tính sinh học với điều kiện tự nhiên nơi trồng Do vậy tôi lựa chọn Keo tai tượng làm đối tượng nghiên cứu

2.5.2 Phương pháp lập sơ đồ chuỗi giá trị

Phương pháp này được áp dụng để lập sơ đồ chuỗi cần phân tích trong luận văn, nội dung của phương pháp gồm 3 bước:

- Bước 1: Lập sơ đồ chuỗi giá trị, có nghĩa là xây dựng một sơ đồ có thể

quan sát bằng mắt thường về hệ thống chuỗi giá trị Sơ đồ này có nhiệm vụ định dạng các hoạt động kinh doanh, các nhà vận hành chuỗi và những mối liên kết của

họ, cũng như các nhà hỗ trợ chuỗi nằm trong chuỗi giá trị này

Trang 32

- Bước 2: Lượng hóa và mô tả chi tiết chuỗi giá trị bao gồm các con số kèm

theo sơ đồ chuỗi cơ sở

- Bước 3: Phân tích kinh tế đối với chuỗi giá trị là đánh giá năng lực của

chuỗi Nó bao gồm việc xác định giá trị gia tăng tại các giai đoạn trong chuỗi giá trị, chi phí sản xuất và thu nhập của các nhà vận hành (trong phạm vi có thể)

2.5.3 Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu dùng để phân tích trong luận văn bao gồm 2 loại là số liệu thứ cấp và

số liệu sơ cấp Những số liệu này sau khi thu thập sẽ giúp chúng ta xác định được chi phí, thu nhập và lợi nhuận của chuỗi cũng như phân tích các nội dung về công nghệ, kiến thức, việc làm, quản trị, sự liên kết giữa các tác nhân và dịch vụ vận hành chuỗi

2.5.3.1 Số liệu thứ cấp

Trong luận văn này số liệu thứ cấp được thu thập tại Tổng Công ty Giấy Việt Nam và Công ty Lâm nghiệp Đoan Hùng thông qua các báo cáo tài chính, các sổ sách chứng từ ghi chép khác tại đơn vị nghiên cứu Ngoài ra, luận văn thu thập số liệu thứ cấp đã được công bố qua sách, báo, tạp chí, các báo cáo tổng kết khác có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

2.5.3.2 Số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp là số liệu liên quan đến quá trình tạo rừng và chế biến sản phẩm Chúng tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn và phương pháp tiếp cận chuỗi thị trường để thu thập số liệu sơ cấp

* Phỏng vấn:

Mẫu được phỏng vấn là người dân và cán bộ, nhân viên tại Công ty Lâm nghiệp Đoan Hùng và Tổng Công ty Giấy Việt Nam theo phương pháp phỏng vấn nhanh, quan sát thực tế sản xuất Phương pháp này được sử dụng nhằm tham vấn, trao đổi, thảo luận với các cán bộ giàu kinh nghiệm ở các điểm nghiên cứu nhằm bổ sung thông tin, hoàn thiện nội dung nghiên cứu cũng như kiểm chứng các kết quả nghiên cứu

Trang 33

* Phương pháp tiếp cận chuỗi thị trường:

Đây là phương pháp được sử dụng để mô tả các mối liên kết giữa các thành viên trong chuỗi và những giao dịch liên quan đến quá trình luân chuyển gỗ nguyên liệu từ nơi trồng đến nơi chế biến Phương pháp này giúp người nghiên cứu thu thập được các thông tin thông qua tiếp cận, phỏng vấn các tác nhân trong chuỗi

2.5.4 Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu sau khi thu thập được dùng để phân tích các nội dung liên quan đến chi phí, thu nhập, lợi nhuận và việc làm của chuỗi bằng phương pháp thống kê mô

tả, phương pháp so sánh và phương pháp phân tích kinh tế

Đối với các nội dung về công nghệ, kiến thức, quản trị, sự liên kết giữa các tác nhân và dịch vụ vận hành chuỗi chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích SWOT

* Phương pháp thống kê mô tả:

Sử dụng các chỉ tiêu số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân để tính toán và

mô tả thực trạng các hoạt động của chuỗi một cách khoa học Đồng thời, trên cơ sở

hệ thống chỉ tiêu thống kê có thể phản ánh một cách đầy đủ và khách quan về sự phát triển của chuỗi nghiên cứu thông qua các sơ đồ và biểu đồ

* Phương pháp so sánh:

Phương pháp này được sử dụng để so sánh sự khác nhau về giá cả, chi phí, lợi nhuận, phương thức trao đổi… giữa các tác nhân trong chuỗi

* Phương pháp phân tích ma trận SWOT (Strengths Weaknesses Opportunities Threats):

Ma trận SWOT là ma trận kết hợp giữa phân tích và dự báo bên trong với bên ngoài về hoạt động của chuỗi trên địa bàn nghiên cứu

Chúng tôi xây dựng ma trận thuận chiều với cách tiếp cận từ bên trong, có nghĩa là điểm khởi đầu của ma trận sẽ được bắt đầu bằng S (điểm mạnh) và W (điểm yếu), rồi mới đến các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài, cụ thể là O (cơ hội)

và T (nguy cơ)

Kết quả của quá trình phân tích tổng hợp là cơ sở để xây dựng phương hướng phát triển chuỗi giá trị gỗ nguyên liệu giấy

Trang 34

SWOT Cơ hội thực hiện (O) Thách thức/nguy cơ (T)

Mặt mạnh (S) Tận dụng cơ hội để phát huy thế

mạnh (S/O)

Tận dụng mặt mạnh để giảm thiểu nguy cơ (S/T)

Mặt yếu (W) Nắm bắt cơ hội để khắc phục

điểm yếu (W/O)

Giảm thiểu mặt yếu để ngăn chặn nguy cơ (W/T)

2.5.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm: các chỉ tiêu thể hiện kết quả sản xuất kinh doanh và các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả sản xuất kinh doanh

Các nội dung về chi phí, thu nhập, lợi nhuận và việc làm của chuỗi được thể hiện bằng các con số cụ thể trong hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

2.5.5.1 Các chỉ tiêu thể hiện kết quả sản xuất kinh doanh

Các chỉ tiêu tính kết quả sản xuất kinh doanh tại thời điểm nghiên cứu

* Doanh thu (TR – Total Revenue)

Doanh thu được tính bằng số lượng sản phẩm tiêu thụ nhân với giá bán

* Chi phí trung gian (IC – Intermediate Cost):

Chi phí trung gian là toàn bộ các khoản chi phí vật chất và dịch vụ thường xuyên được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh của từng tác nhân Chi phí trung gian được thể hiện bằng công thức:

Trang 35

Trong đó: Cj: Số lượng đầu vào thứ j

Gj: Đơn giá đầu vào thứ j

n: Loại đầu vào

Chi phí trung gian của từng tác nhân trong nghiên cứu chuỗi giá trị gỗ nguyên liệu giấy bao gồm các khoản mục sau:

+ Đối với người tạo rừng: chi phí trồng rừng, chăm sóc, quản lý bảo vệ và khai thác rừng

+ Đối với người chế biến: chi phí nguyên vật liệu chính phụ, chi phí nhiên liệu động lực, chi phí sửa chữa, chi phí về vật tư sản xuất, xăng dầu ô tô, chi phí chung và lãi vay vốn

* Giá trị gia tăng (VA – Value Add):

Giá trị gia tăng là phần giá trị tăng thêm của một quá trình sản xuất kinh doanh Giá trị gia tăng được thể hiện bằng công thức:

VA = TR – IC = GO – IC Các bộ phận của giá trị gia tăng bao gồm:

- Chi phí công lao động (W - Wage): W là một phần của giá trị gia tăng Sử dụng phương pháp phân tích kinh tế trong nghiên cứu luận văn chúng tôi sử dụng đơn giá tính ngày công lao động do Tổng Công ty Giấy Việt Nam cung cấp Đơn giá này được tính căn cứ vào mức lương tối thiểu nhà nước quy định, giá tiền công thực tế, chi phí để tái sản xuất, sức lao động và trượt giá tăng trưởng kinh tế

- Tiền lãi vay vốn (Lv): Vốn là một trong những yếu tố cần thiết để tiến hành sản xuất kinh doanh Trong kinh doanh nghề rừng, các đơn vị được vay vốn với lãi suất ưu đãi theo quy định của nhà nước cho nên tiền lãi vay vốn thường không lớn nhưng cũng có ảnh hưởng đến tổng chi phí và lợi nhuận trong khâu tạo rừng

- Khấu hao tài sản cố định (Kh): Trong thực tế, tính toán chi phí khấu hao TSCĐ (là các chi phí phân bổ cho từng loại sản phẩm) là rất khó vì một TSCĐ có

Trang 36

thể phục vụ cho sản xuất nhiều loại sản phẩm nên nó chỉ đạt mức chính xác tương đối, đặc biệt là trong lĩnh vực lâm nghiệp

Trong chuỗi giá trị nghiên cứu, tác nhân tạo rừng sử dụng các tài sản phục vụ sản xuất thường có giá trị không đủ lớn để tính khấu hao Còn các loại công cụ dụng

cụ nhỏ như cuốc, dao quắm… do giá trị của nó nhỏ nên không được trích khấu hao

và giá trị của nó được phân bổ thẳng vào sản xuất Loại chi phí này trong tác nhân người tạo rừng họ đã tính chung vào chi phí quản lý

- Thuế trực thu (Td – Tax Direct): Thuế trực thu là loại thuế thu trực tiếp vào khoản thu nhập, lợi ích thu được của các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân Thuế trực thu bao gồm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế lợi tức, thuế tài sản, thuế thừa kế, thuế sử dụng đất…

Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn, thuế trực thu bao gồm hai loại là thuế sử dụng đất và thuế thu nhập doanh nghiệp Hiện nay, tại địa bàn nghiên cứu (Công ty Lâm nghiệp Đoan Hùng) thuế sử dụng đất được miễn cho cả chu kỳ kinh doanh nên không thể hiện ở phần kết quả nghiên cứu Thuế thu nhập doanh nghiệp

là một trong những bộ phận cấu thành giá trị gia tăng cho chuỗi và được xác định dựa vào mức tính thuế và lợi nhuận của doanh nghiệp

- Lợi nhuận sau thuế (LNs): Lợi nhuận sau thuế là phần còn lại của doanh thu sau khi trừ đi tổng chi phí sản xuất (TC – Total Cost) và thuế thu nhập doanh nghiệp Công thức tính toán như sau:

LNs = TR – TC - Td Tổng chi phí sản xuất được xác định như sau: TC = IC + W + Lv + Kh

Trang 37

Các chỉ tiêu tính kết quả sản xuất kinh doanh áp dụng kỹ thuật chiết khấu

Xuất phát từ đặc điểm cơ bản của khâu tạo rừng trong chuỗi giá trị là có chu

kỳ kinh doanh dài, thời gian thu hồi vốn lâu, chịu ảnh hưởng nhiều của yếu tố thời gian Do vậy để đánh giá kết quả kinh tế trong khâu này người ta thường dùng kỹ thuật chiết khấu với các chỉ tiêu sau:

* Giá trị hiện tại của thu nhập (BPV – Benefit Present Value):

BPV là giá trị doanh thu quy đổi của các hoạt động sản xuất trong cả chu kỳ kinh doanh sau khi đã chiết khấu để quy về thời điểm gốc đã được lựa chọn

1 (1 )

BPV của phương án kinh doanh nào càng cao thì thể hiện đồng vốn đầu tư trong phương án kinh doanh đó có kết quả tốt

* Giá trị hiện tại của chi phí (CPV – Cost Present Value):

CPV là giá trị chi phí quy đổi của các hoạt động sản xuất trong cả chu kỳ kinh doanh sau khi đã chiết khấu để quy về thời điểm gốc đã được lựa chọn

1 (1 )

CPV của phương án kinh doanh nào càng thấp thì thể hiện việc quản lý đồng vốn đầu tư trong phương án kinh doanh đó có kết quả cao

2.5.5.2 Các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả sản xuất kinh doanh

Các chỉ tiêu tính hiệu quả sản xuất kinh doanh theo chi phí trung gian

Ngoài các chỉ tiêu ở phần trên, khi phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế trong chuỗi giá trị gỗ nguyên liệu giấy người ta thường dùng các chỉ tiêu dưới đây:

TTR là tỷ số giữa doanh thu thu được và chi phí trung gian tiêu tốn của quá trình sản xuất đó Công thức tính:

IC

TR

T TR  (lần) Đây là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh theo góc độ chi phí Qua chỉ tiêu này cho ta thấy, cứ bỏ ra 1 đồng chi phí trung gian sẽ thu được bao

Trang 38

nhiêu đồng giá trị sản phẩm Theo công thức trên, nếu TTR càng lớn thì sản xuất càng đạt hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, chỉ tiêu này chưa làm rõ được chất lượng đầu tư

* Tỷ suất giá trị gia tăng theo chi phí trung gian (T VA ):

Đây là chỉ tiêu đánh giá chất lượng của đầu tư trong sản xuất kinh doanh,

TVA được thể hiện bằng công thức:

IC

VA

T VA (lần) Qua chỉ tiêu này cho thấy, cứ bỏ ra 1 đồng vốn vào sản xuất kinh doanh thì

sẽ thu được bao nhiêu đồng GTGT TVA là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư về mặt chất lượng, TVA càng lớn thì sản xuất càng có hiệu quả kinh tế cao Đây là cơ sở rất quan trọng cho việc ra các quyết định đầu tư sản xuất kinh doanh

TGPr là chỉ tiêu phản ánh chất lượng đầu tư trong sản xuất kinh doanh TGPr

được tính như sau:

IC

G

T GPr  Pr (lần) Chỉ tiêu này cho biết, cứ 1 đồng chi phí trung gian sẽ thu được bao nhiêu đồng thu nhập thuần

Về phương pháp tính toán: giống như tính toán TVA, việc tính toán TGPr cũng thường được tính theo từng loại sản phẩm nhưng đã tính đến chi phí khấu hao TSCĐ, các chi phí phân bổ và thuế Do vậy, chúng ta có thể coi chỉ tiêu này là cơ sở tham khảo để ra các quyết định sản xuất kinh doanh

Chỉ tiêu tính hiệu quả sản xuất kinh doanh theo công lao động

Khi tính hiệu quả kinh tế theo công lao động người ta thường sử dụng chỉ tiêu

tỷ suất thu nhập thuần trên 1 công lao động (Tw) Chỉ tiêu này phản ánh mức độ giá trị 1 ngày công lao động với nguồn thu hiện tại và được thể hiện bằng công thức:

W G

Tw Pr (lần)

Trang 39

Trong kinh tế hộ gia đình, chỉ tiêu Tw rất quan trọng bởi vì nó phản ánh giá trị thực của lao động đã bỏ ra trong quá trình sản xuất Tuy nhiên, trong một chừng mực nào đó thì chỉ tiêu này chỉ có ý nghĩa tham khảo cho việc ra quyết định sản xuất kinh doanh bởi lẽ nó chưa phản ánh được quy mô thu hút sức lao động Trên thực tế, có những sản phẩm khi đưa vào sản xuất có thể đem lại giá trị ngày công lao động cao nhưng lại thu hút ít ngày công lao động, có những sản phẩm sản xuất tuy giá trị ngày công lao động có thấp hơn song lại thu hút được nhiều lao động, kết quả là tổng thu nhập thuần vẫn lớn hơn

Trang 40

Chương 3 PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ GỖ NGUYÊN LIỆU GIẤY

VÙNG TRUNG DU MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM

3.1 Những nét khái quát vùng cung cấp gỗ nguyên liệu giấy

3.1.1 Tổng Công ty Giấy Việt Nam

Tổng Công ty Giấy Việt Nam tiền thân là Công ty Giấy Bãi Bằng được thành lập từ năm 1982 trong sự kế thừa kết quả lao động sáng tạo không mệt mỏi của tập thể lãnh đạo, chuyên gia kỹ thuật, các kỹ sư và tập thể công nhân Việt Nam và Thụy Điển trong suốt 8 năm (từ 1974 đến 1982) bằng vốn viện trợ không hoàn lại, gần 2,7 tỷ cuaron của Chính phủ Vương quốc Thụy Điển

Theo Quyết định số 983/2010/QĐ-TTg ngày 25/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ quyết định chuyển Tổng Công ty Giấy Việt Nam (Công ty mẹ) thành Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu có trụ sở chính đóng tại 25A –

Lý Thường Kiệt – Hoàn Kiếm – Hà Nội và địa điểm kinh doanh chính ở Phong Châu – Phù Ninh – Phú Thọ với tổng diện tích khoảng 100ha

Tổng công ty gồm có 29 đơn vị hạch toán phụ thuộc, 3 đơn vị sự nghiệp, 1 công ty con, 12 công ty liên kết nằm trải dài từ Bắc vào Nam Công ty mẹ - Tổng Công ty Giấy Việt Nam với số lượng cán bộ công nhân viên gần 6.000 người là những cán bộ, kỹ sư có trình độ và công nhân lành nghề được tổ chức, điều hành theo phương thức quản lý Bắc Âu

Tổng công ty hiện đang sở hữu một công trình sản xuất khép kín từ khâu trồng rừng, chế biến nguyên liệu, sản xuất điện, hóa chất, sản xuất bột và giấy đến khâu bảo dưỡng, vận tải

Hiện nay, Tổng công ty đang tiến hành đầu tư mở rộng Giấy Bãi Bằng với tổng mức đầu tư là 5.059 tỷ đồng: Xây dựng một Nhà máy sản xuất bột giấy thương phẩm 250.000 tấn/năm và 150.000 tấn giấy/năm với chất lượng sản phẩm và môi trường đạt tiêu chuẩn quốc tế

a Lĩnh vực hoạt động chính của Tổng công ty

- Sản xuất và kinh doanh Giấy cuộn, Giấy in, Giấy viết và Giấy Tissue…

- Sản xuất và kinh doanh nguyên liệu giấy

Sản phẩm chính của Tổng công ty là bột giấy và các loại giấy thành phẩm phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống sinh hoạt

b Tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý của Tổng công ty

Cơ cấu tổ chức bộ máy sản xuất và sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Tổng công ty được thể hiện ở hình 3.1 và 3.2

Ngày đăng: 20/09/2017, 15:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w