1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của các trang trại hiện có ở huyện lương sơn hòa bình

104 188 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành công của kinh tế trang trại không chỉ về mặt kinh tế - xã hội – môi trường, điều có ý nghĩa quan trọng là nó khẳng định một hướng đi đúng đắn, một triển vọng sáng sủa cho sự phát t

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách để phát triển kinh tế, đã tạo luồng sinh khí mới cho sự phát triển trên mọi mặt của đất nước nói chung và nông nghiệp, nông thôn miền núi nói riêng Một trong những kết quả đó là đã xuất hiện và phát triển một hình thức tổ chức sản xuất mới đó là kinh tế trang trại - Mô hình tổ chức sản xuất đi lên từ kinh tế hộ gia đình, đang được cả nước quan tâm, chú ý

Hiện nay, phát triển kinh tế trang trại được coi là một hướng đi đúng đắn trong quá trình tổ chức lại sản xuất trong nông nghiệp và nông thôn bước vào thế kỷ XXI Thành công của kinh tế trang trại không chỉ về mặt kinh tế - xã hội – môi trường, điều có ý nghĩa quan trọng là nó khẳng định một hướng đi đúng đắn, một triển vọng sáng sủa cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, khẳng định vai trò của mình trong sản xuất hàng hoá, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, góp phần quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của bất kỳ quốc gia nào cũng đặt ra yêu cầu khách quan là phải phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá dưới nhiều hình thức Trong đó có hình thức kinh tế trang trại được đặc biệt quan tâm nhằm tạo ra những vùng cung cấp nguyên liệu có chất lượng và số lượng ngày càng cao Sự hình thành và phát triển khá nhanh của mô hình kinh tế trang trại đã và đang góp phần thúc đẩy nông nghiệp và làm thay đổi diện mạo kinh tế, xã hội nông thôn nước ta Việc phát triển nhanh cả số lượng lẫn chất lượng trang trại đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn Trung du và miền núi nước ta chiếm 3/4 diện tích cả nước, thuộc đối tượng sản xuất nông lâm nghiệp, là nơi cư trú của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Nơi đây có địa hình chia cắt mạnh, giao thông đi lại khó khăn, kinh tế xã hội chậm phát triển Đời sống của một bộ phận không nhỏ đồng bào miền núi, vùng sâu vùng xa vẫn gặp rất nhiều khó khăn, trình

độ dân trí thấp, phương thức canh tác còn lạc hậu chủ yếu là hình thức du canh du cư Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến suy giảm tài nguyên rừng

Trang 2

và ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình kinh tế chính trị, xã hội và môi trường sinh thái

cả nước Những năm gần đây, thực hiện đường lối đổi mới nông thôn miền núi đã

có nhiều sự thay đổi mạnh mẽ và tiến bộ vượt bậc

Cùng với sự phát triển chung của cả nước, Hoà Bình là một tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Bắc có lợi thế về đất đai, lao động, thị trường tiêu thụ thuận tiện nên vài năm gần đây kinh tế trang trại ở Hoà Bình đã có những bước phát triển mạnh ở hầu hết các huyện, thị trong tỉnh Lương Sơn là 1 huyện của tỉnh Hoà Bình, nằm ở cửa ngõ nối vùng Trung tâm với các tỉnh vùng Tây Bắc, những năm qua kinh

tế trang trại đã được hình thành, đang có xu hướng phát triển mạnh cả về số lượng

và chất lượng, góp phần khai thác tiềm năng lao động tại chỗ, giải quyết công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của người dân địa phương

Kinh tế trang trại là một loại hình kinh tế tiến bộ, xuất hiện trong nền kinh tế nông nghiệp hàng hoá Sự phát triển này là đòi hỏi tất yếu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế nói chung và nền kinh tế nông nghiệp nông thôn nói riêng Trong thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu về kinh tế trang trại, một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế trang trại đã và đang dần dần được làm rõ Tuy nhiên, những nghiên cứu, đánh giá về hiệu quả của kinh tế trang trại cho đến nay vẫn chưa được đề cập đến một cách hệ thống, đồng bộ Ở địa phương trong thời gian qua cũng đã có một số đề tài nghiên cứu về kinh tế xã hội, đánh giá tổng kết tình hình phát triển kinh tế trang trại tuy nhiên vấn đề hiệu quả của kinh tế trang trại chưa được đề cập tới

Để góp phần đánh giá đúng vai trò, tác động của kinh tế trang trại đối với việc phát triển nông nghiệp và nông thôn, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả kinh tế của loại hình kinh tế này ở huyện Lương Sơn

tỉnh Hoà Bình, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của các trang trại hiện có ở huyện Lương Sơn, Hòa Bình.”

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Cơ sở lý luận về trang trại, kinh tế trang trại

1.1.1.1 Khái niệm về trang trại, kinh tế trang trại

Khái niệm về trang trại

“Trang trại” hay “nông trại” (farm, farm house) theo tư liệu nước ngoài thì

có thể hiểu đó là những khu đất tương đối lớn, ở đó sản xuất nông nghiệp được tiến hành có tổ chức dưới sự chỉ huy của một người chủ mà phần đông là chủ gia đình nông dân trong nông nghiệp đi vào sản xuất hàng hoá và từng bước gắn liền với kinh tế thị trường [11]

Theo tác giả Lê Trọng, trang trại là cơ sở, là doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp của một hoặc một nhóm nhà kinh doanh [27]

Tác giả Nguyễn Đình Hương khi nghiên cứu kinh nghiệm của thế giới cũng như thực tiễn kinh tế trang trại ở Việt Nam cho rằng: Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường [11]

Theo tác giả Hoàng Việt: Trang trại là một hình thức tổ chức cơ sở trong nước, có mục đích sản xuất chủ yếu là sản phẩm hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô diện tích ruộng đất và các yếu tố sản xuất tập trung đủ lớn, với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoặc tự chủ và luôn gắn với thị trường [30]

Như vậy, trang trại là nơi kết hợp các yếu tố vật chất của sản xuất và là chủ thể của các quan hệ kinh tế đó Nói đến trang trại, chúng ta nói đến một thực thể sản

Trang 4

xuất kinh doanh hàm chứa rất nhiều vấn đề như kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái gắn liền với trang trại

Phân loại trang trại

* Phân loại theo nguồn gốc hình thành: Có 3 con đường chính hình thành trang trại

- Trang trại được hình thành từ khu đất từ thời phong kiến: Đây là các trang trại hình thành từ các khu đất thuộc sở hữu tư nhân của tầng lớp quý tộc, địa chủ

- Trang trại phát triển từ kinh tế hộ gia đình: Quá trình sản xuất đã diễn ra sự phân hoá giữa các hộ Các hộ sản xuất thuận lợi sẽ phát triển cao hơn về quy mô và kết quả sản xuất mà hình thành các trang trại [40]

- Trang trại hình thành theo kiểu xí nghiệp tư bản chủ nghĩa: Các nhà tư bản đầu tư vốn vào sản xuất nông lâm nghiệp, họ bỏ tiền mua máy móc thiết bị, thuê đất đai và thuê lao động kinh doanh theo kiểu tư bản chủ nghĩa hình thành các trang trại

Hiện nay trang trại gia đình là loại hình trang trại phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới Trang trại theo kiểu xí nghiệp tư bản còn tồn tại nhưng giới hạn trong một số ngành có giá trị cao như chăn nuôi gia súc, đại gia súc theo huớng xuất khẩu

* Phân loại trang trại theo hình thức quản lý:

- Trang trại gia đình: Là loại trang trại độc lập tự sản xuất kinh doanh Mỗi gia đình có tư cách pháp nhân do một người trong gia đình làm chủ điều hành

- Trang trại liên doanh: Do vài trang trại hợp nhất để tăng nguồn lực tạo sức cạnh tranh và sự ưu đãi của nhà nước (ở Mỹ số lượng trang trại này chiếm 10% số lượng và 16% diện tích)

- Trang trại hợp doanh theo cổ phần: Trang trại loại này được tổ chức theo nguyên tắc công ty cổ phần (ở Mỹ trang trại loại này chiếm 2,7% và 13,7% diện tích đất đai

- Trang trại uỷ thác: Trang trại mà người chủ uỷ quyền cho người nhà, bạn

bè quản lý điều hành sản xuất (Đài loan thường có loại trang trại này)

Trang 5

* Phân loại trang trại theo phương hướng sản xuất:

- Trang trại kinh doanh tổng hợp: Trang trại này thường kết hợp sản xuất kinh doanh nông, lâm, ngư nghiệp kết hợp ngành nghề và dịch vụ

- Trang trại chuyên môn hoá: Phương hướng sản xuất chỉ phát triển một ngành hoặc một sản phẩm như sản xuất ngũ cốc, chăn nuôi gia súc

* Phân loại theo nguồn thu nhập:

- Nguồn thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp: Xu thế trang trại loại này đang giảm dần (năm 1985 Nhật Bản có 15% số trang trại thuộc loại này)

- Trang trại có thu nhập thêm từ bên ngoài trang trại, loại này thường kinh doanh tổng hợp và xu thế ngày càng tăng

* Các phương thức điều hành sản xuất:

- Chủ trang trại vừa điều hành vừa trực tiếp tham gia sản xuất: Loại trang trại này chủ hộ thường là nông dân, hiện nay hình thức này là phổ biến

- Chủ trang trại và gia đình không ở trang trại nhưng vẫn điều hành sản xuất: Hình thức này không nhiều nhưng đang có xu hướng phát triển ở các nước công nghiệp phát triển

- Chủ trang trại nhỏ có ít ruộng đất, không điều hành sản xuất mà uỷ quyền cho người thân quản lý trang trại của mình theo từng vụ hay nhiều năm

* Phân loại theo tiến trình hình thành và phát triển:

Sự phát triển của các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp đi từ bậc thấp lên bậc cao, từ nền sản xuất tự túc, tự cấp chuyển sang sản xuất hàng hoá mà hình thành các trang trại

- Hộ nông dân nhỏ: Quy mô sản xuất nhỏ, ruộng đất ít, sản xuất bằng công

cụ thô sơ, mục đích đảm bảo thức ăn cho cuộc sống gia đình

- Trang trại truyền thống: Đất đai được khai khẩn thêm về diện tích, bắt đầu

có sự tích tụ đất đai, lao động chủ yếu là lao động của gia đình Sản phẩm sản xuất

ra phần lớn dùng để tiêu dùng

- Trang trại sản xuất trồng trọt hoặc chăn nuôi nhỏ: Quy mô diện tích được tích tụ lớn hơn, sản xuất được phân định ra với vài loại cây trồng, vật nuôi chủ yếu,

Trang 6

sản xuất phần lớn là thủ công, một phần máy móc

- Trang trại sản xuất đa dạng hoá: Sản xuất thâm canh có tưới nước, lao động kết hợp thủ công và máy móc, sản phẩm đa dạng hoá nhằm đảm bảo thu nhập bền vững, chủ yếu là sản xuất sản phẩm hàng hóa

- Trang trại chuyên môn hoá: Sử dụng lao động gia đình và thuê ngoài, sản xuất thâm canh đạt hiệu quả cao chủ yếu là sản xuất sản phẩm hàng hoá

- Trang trại tự động hoá: Đang phát triển ở các nước phát triển trên thế giới trong ngành chăn nuôi, sản phẩm chủ yếu xuất khẩu

Khái niệm về kinh tế trang trại:

Cũng theo tác giả Lê Trọng, kinh tế trang trại là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở,

là doanh nghiệp trực tiếp tổ chức sản xuất ra nông sản hàng hoá dựa trên cơ sở hiệp tác

và phân công lao động xã hội, được chủ trang trại đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hết sức lao động và trang bị tư liệu sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường, được Nhà nước bảo hộ theo luật định [27]

Tác giả Trần Trác thì cho rằng: Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất và kinh doanh hàng hoá nông, lâm, thuỷ sản của hộ gia đình theo cơ chế thị trường [26]

Tác giả Trương Thị Minh Sâm, từ những kết quả nghiên cứu về mặt lý luận

và thực tiễn nhận định về thực chất của kinh tế trang trại: Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất ư kinh doanh nông nghiệp, được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế hộ gia đình nông dân có mức độ tích tụ và tập trung cao hơn về đất đai, vốn lao động, kỹ thuật Nhằm tạo ra khối lượng hàng hoá nông sản lớn hơn, với lợi nhuận cao hơn theo yêu cầu của kinh tế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa [23]

Nghị quyết 03/2000/NQ-CP về kinh tế trang trại ngày 02/02/2000 của Chính phủ đã chỉ rõ “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình ” [04]

Trang 7

Như vậy, kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất của sản xuất và các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của trang trại, nói đến kinh tế trang trại là nói mặt kinh tế của trang trại;

Từ các quan niệm, nhận thức trên cho thấy:

- Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở của nền kinh tế

- Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất hàng hoá và để thu lợi nhuận

- Tư liệu sản xuất chủ yếu của trang trại thuộc về một người chủ độc lập

- Quy mô sản xuất của trang trại phải đủ lớn

- Hoạt động của trang trại phải là độc lập, tự chủ

- Trang trại hoạt động gắn liền với thị trường

Ở đây cũng cần phân biệt khái niệm “trang trại” với khái niệm “kinh tế trang trại” Trong tiếng việt hiện nay hai thuật ngữ trên trong nhiều trường hợp được sử dụng như thuật ngữ đồng nghĩa, tức là được sử dụng một cách không phân biệt Về thực chất, 2 thuật ngữ trên không đồng nhất [35]

Như vậy có thể thấy khái niệm trang trại rộng hơn khái niệm kinh tế trang trại Tuy nhiên trong các mặt kinh tế, xã hội và môi trường của trang trại thì mặt kinh tế là mặt cơ bản chứa đựng những nội dung cốt lõi của trang trại Vì vậy, trong nhiều trường hợp khi nói đến kinh tế trang trại, tức là nói tới mặt kinh tế của trang trại, người ta thường gọi tắt là trang trại Trong luận văn này, chúng tôi cũng sử

dụng từ Trang trại và Kinh tế trang trại như những từ đồng nghĩa để chỉ các hoạt

động kinh tế và các mối quan hệ kinh tế của trang trại

1.1.1.2 Những đặc trưng chủ yếu và tiêu chí xác định kinh tế trang trại

Những đặc trưng chủ yếu của kinh tế trang trại:[34] thể hiện trên hình 1.1

- Mục đích của trang trại là sản xuất nông sản hàng hóa đáp ứng nhu cầu cầu của thị trường

- Hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại được tiến hành trên cơ sở các yếu tố sản xuất, trước hết là ruộng đất và tiền vốn được tập trung tới mô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hóa

- Trang trại có hình thức tổ chức và quản lý sản xuất tiến bộ trên cơ sở chuyên môn hóa sản xuất, thâm canh, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, hạch toán kinh doanh và thường xuyên tiếp cận thị trường

Trang 8

Hình 1.1: Sơ đồ đặc trưng cơ bản của trang trại

Chuyên môn hoá Thâm canh Hạch toán KD

Suất đầu tư

Nguồn nhân lực

Trang 9

- Chủ trang trại là người có ý chí, có năng lực tổ chức, quản lý, có kiến thức

và kinh nghiệm sản xuất, đồng thời có hiểu biết nhất định về kinh doanh theo cơ chế thị trường

- Về nguồn nhân lực: các trang trại tiến hành sản xuất kinh doanh thông qua việc thuê mướn lao động: thuê lao động thời vụ hoặc thuê lao động thường xuyên

- Quan hệ sở hữu của trang trại được thể hiện bằng hệ thống pháp luật và tạo

nên chế độ sở hữu

Tiêu chí xác định kinh tế trang trại

Thực hiện Nghị quyết số 03 ngày 2/2/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục Thống kê đã đưa ra Thông

tư số 74/2003/TT-BNN ngày 4 tháng 7 năm 2003 hướng dẫn tiêu chí định lượng để xác định kinh tế trang trại như sau [1]:

Một hộ sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác định là kinh

tế trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí định lượng sau:

1 Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm: Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên Đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên từ 50 triệu đồng trở lên

2 Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế

a Đối với trang trại trồng trọt

- Trang trại trồng cây hàng năm:

+ Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung

+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

- Trang trại trồng cây lâu năm:

+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung

+ Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

+ Trang trại trồng hồ tiêu 0,5 ha trở lên

- Trang trại lâm nghiệp: Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước

Trang 10

b Đối với trang trại chăn nuôi

- Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò…

+ Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên

+ Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên

- Chăn nuôi gia súc: lợn, dê…

+ Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với hơn 20 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên

+ Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 20 con trở lên (không kể lợn sữa),

dê thịt từ 200 con trở lên

- Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng v.v có thường xuyên từ 2.000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)

c Trang trại nuôi trồng thuỷ sản

- Diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)

d Đối với các loại sản phẩm nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có tính

chất đặc thù như: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thuỷ và đặc sản, thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hoá (tiêu chí 1)

1.1.1.3 Vai trò và xu hướng phát triển của kinh tế trang trại

Vai trò của kinh tế trang trại

Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất quan trọng trong nền nông nghiệp thế giới Ngày nay, trang trại gia đình là loại hình trang trại chủ yếu trong nông nghiệp các nước Ở nước ta, các trang trại nông lâm nghiệp ra đời đã đóng một vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, tạo ra những vùng sản xuất hàng hoá lớn, tập trung, gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến, từng bước thực hiện nội dung công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn nước ta

- Góp phần phát triển sản xuất hàng hoá và đẩy mạnh xuất khẩu, tạo ra những động lực mới cho sự nghiệp phát triển toàn diện kinh tế xã hội các vùng nông

Trang 11

thôn Góp phần đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu của xã hội về các sản phẩm nông lâm ngư nghiệp

- Góp phần thu hút vốn đầu tư từ các nguồn, các đối tượng khác nhau vào các lĩnh vực nông nghiệp thông qua việc xây dựng và phát triển các trang trại

- Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất, đặc biệt là hiệu quả sử dụng đất đai trong nông nghiệp và nông thôn

- Góp phần tạo thêm việc làm và thu nhập cho nông dân Các trang trại ra đời

đã góp phần đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh, thu hút thêm lao động vào các hoạt động sản xuất của mình, trên cơ sở đó tạo thêm việc làm và thu nhập cho nông dân

- Góp phần hình thành một tầng lớp con người mới, những người chủ mới trong nông nghiệp và nông thôn có đủ bản lĩnh và trình độ để quản lý nền nông nghiệp nước ta phát triển trong điều kiện phát triển mới của đất nước

Xu hướng phát triển của kinh tế trang trại ở nước ta

Các trang trại hình thành đang và sẽ phát triển theo các xu hướng sau:

- Tích tụ và tập trung sản xuất Sau khi hình thành, nhìn chung các trang trại vẫn diễn ra quá trình tích tụ và tập trung sản xuất Tích tụ và tập trung sản xuất trong phát triển trang trại lúc này là nhằm mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh để đứng vững và phát triển trong cơ chế thị trường Tích tụ

và tập trung trong các trang trại chủ yếu là tích tụ vốn và ở những nơi có điều kiện thì bao gồm cả việc tập trung ruộng đất mở rộng diện tích để phát triển sản xuất Ở nước ta, mở rộng diện tích ruộng đất thường được thực hiện thông qua việc tiếp tục khai phá đất hoang hoá, nhận thầu sử dụng đất, nhận chuyển nhượng, thuê đất để sản xuất v.v

Đây là một xu hướng phát triển của trang trại, tuỳ theo điều kiện cụ thể ở từng nơi cần có chính sách và biện pháp tác động và điều tiết phù hợp nhằm thức đẩy kinh tế trang trại phát triển

- Chuyên môn hoá sản xuất: sản xuất ngày càng đi vào chuyên môn hoá là xu hướng tất yếu trong phát triển kinh tế trang trại vì muốn sản xuất hàng hoá phải đi

Trang 12

vào chuyên môn hoá sản xuất, nhưng do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp mà chuyên môn hoá trong các trang trại phải kết hợp với sản xuất đa dạng một cách hợp lý mới có thể khai thác có hiệu quả các nguồn lực đất đai, khí hậu, cơ sở vật chất và kỹ thuật, sức lao động, đồng thời hạn chế những rủi ro về thiên tai và biến động của thị trường

- Nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh

Quá trình tích tụ, tập trung và mở rộng quy mô sản xuất đòi hỏi các trang trại phải nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh sản xuất Xu hướng nâng cao trình độ

kỹ thuật và thâm canh sản xuất trong các trang trại là xu hướng tất yếu và gắn liền với việc nâng cao năng suất lao động, năng suất cây trồng vật nuôi Để làm được điều đó các trang trại phải đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật đặc biệt là công nghệ sinh học Mặt khác, phải kết hợp xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trong từng trang trại với phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật trên địa bàn của vùng Có

sự kết hợp giữa trang trại và sự hỗ trợ nhất định của Nhà nước khi xây dựng cơ sở

hạ tầng

- Hợp tác và cạnh tranh Các trang trại muốn sản xuất hàng hoá phải hợp tác

và liên kết với nhau và với những đơn vị, tổ chức kinh tế khác Đi đôi với hợp tác, các trang trại còn phải cạnh tranh với các tổ chức và đơn vị kinh tế khác để có thể tiêu thụ sản phẩm làm ra với giá cả hợp lý để có tích luỹ, tái sản xuất mở rộng Muốn vậy phải tăng năng suất sản lượng cây trồng vật nuôi và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm Có như vậy sản phẩm của trang trại mới có khả năng cạnh tranh trên thị trường

1.1.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế

1.1.2.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế

Hiệu quả là một phạm trù trọng tâm cơ bản của khoa học kinh tế và khoa học quản lý Hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được kết quả nhất định Song việc phân tích, đánh giá nâng cao hiệu quả là một vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp mà nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn chưa giải quyết tốt

Trang 13

Hiệu quả kinh tế (HQKT) là một phạm trù phản ánh chất lượng của các hoạt động kinh tế Theo ngành thống kê định nghĩa thì HQKT là phạm trù kinh tế, biểu hiện của sự tập trung phát triển theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và sự chi phí các nguồn lực trong quá trình sản xuất Nâng cao HQKT là một tất yếu của mọi nền sản xuất xã hội, yêu cầu của công tác quản lý kinh tế buộc phải nâng cao chất lượng các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù HQKT Nền kinh tế của mỗi quốc gia đều phát triển theo 2 chiều: chiều rộng và chiều sâu, phát triển theo chiều rộng là huy động mọi nguồn lực vào sản xuất, tăng đầu tư chi phí vật chất, lao động, kỹ thuật, mở mang thêm nhiều ngành nghề, xây dựng thêm nhiều nhà máy, xí nghiệp Phát triển theo chiều sâu là đẩy mạnh việc áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ sản xuất, tiến hành hiện đại hoá, tăng cường chuyên môn hoá, hợp tác hoá, nâng cao trình độ sử dụng các nguồn lực, chú trọng chất lượng sản phẩm và dịch vụ Phát triển theo chiều sâu là nhằm nâng cao HQKT HQKT là tiêu chuẩn cao nhất của sự lựa chọn kinh tế của các tổ chức kinh tế trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

Khái niệm HQKT đã được các tác giả Đỗ Kim Chung, Phạm Vân Đình… bàn đến Các tác giả này đều thống nhất cần phân rõ 3 khái niệm cơ bản về hiệu quả: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bố các nguồn lực, hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng cho sản xuất trong điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng và nông nghiệp Hiệu quả kỹ thuật được áp dụng phổ biến trong kinh tế vĩ mô để xem xét tình hình sử dụng các nguồn lực cụ thể Hiệu quả này thương được phản ánh trong quan hệ các hàm sản xuất

Hiệu quả phân bố là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên 1 đơn vị chi phí tăng thêm về đầu vào hay nguồn lực Thực chất của hiệu quả phân bố là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá của đầu vào và giá của đầu ra

Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bố Có nghĩa là cả 2 yếu tố hiện vật và giá trị phải tính đến

Trang 14

khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả hai chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế

Như vậy: HQKT là những chỉ tiêu đánh giá kết quả của các quá trình sử dụng các nguồn lực tự nhiên và con người trong sản xuất kinh doanh của bất kỳ một loại hình sản xuất nào Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất hàng hoá luôn luôn quan tâm làm gì và làm như thế nào để sản phẩm hàng hoá làm ra có giá thành

hạ, lợi nhuận thu về tối đa, chiếm lĩnh thị trường một cách nhanh nhất

1.1.2.2 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế

Từ các góc độ nghiên cứu kinh tế khác nhau mà các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều quan điểm về hiệu quả

- Quan điểm 1: HQKT là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế là do doanh thu trong tiêu thụ hàng hóa Quan điểm này ngày nay không phù hợp bởi vì nếu cùng một kết quả sản xuất nhưng hai mức chi phí khác nhau thì hiệu quả cũng khác nhau [22]

- Quan điểm 2: HQKT được xác định bằng nhịp độ tăng tổng sản phẩm xã hội hoặc tổng sản phẩm quốc dân Hiệu quả sẽ cao khi nhịp độ tăng của các chỉ tiêu

đó cao Quan điểm này không thỏa mãn vì trên thực tế những yếu tố bên trong và bên ngoài của nền kinh tế có những ảnh hưởng khác nhau [22]

- Quan điểm 3: HQKT là thước đo độ hữu ích của sản phẩm được sản xuất

ra, tức là thước do giá trị sử dụng chứ không phải là giá trị Quan điểm này không thuyết phục bởi vì giá trị sử dụng của mỗi sản phẩm tùy thuộc vào công dụng sản phẩm và nhu cầu của người sử dụng đối với sản phẩm đó, mặt khác không thể so sánh được các sản phẩm khác nhau nếu chỉ căn cứ vào giá trị của sản phẩm [22]

- Quan điểm 4: HQKT là mức độ thỏa mãn yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội, cho rằng quỹ tiêu dùng với tính cách là chỉ tiêu đại diện cho mức sống nhân dân, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của nền sản xuất xã hội, quan điểm này có ưu điểm là bám sát mục tiêu của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa ,là

Trang 15

không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Song khó khăn

ở đây là phương tiện đo lường thể hiện tư tưởng định hướng đó [22]

- Quan điểm 5: HQKT là một chỉ tiêu biểu hiện mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng khối lượng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong cùng một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích xã hội của nền kinh tế quốc dân Quan điểm này đã gắn kết quả với chi phí, coi hiệu quả là sự phản ánh trình độ sử dụng chi phí, nhưng lại chưa rõ ràng và thiếu tính khả thi ở phương diện ấn định và tính toán [22]

Như vậy có nhiều quan điểm về hiệu quả, do đó việc xác định bản chất và khái niệm hiệu quả cần xuất phát từ quan điểm triết học Mác và những luận điểm của lý thuyết hệ thống để có cách nhìn nhận và đánh giá đúng

- Theo quan điểm triết học Mác: Bản chất của hiệu quả kinh tế là thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, biểu hiện trình độ sử dụng các nguồn lực

xã hội Quy luật tiết kiệm thời gian là một quy luật có tầm quan trọng đặc biệt, tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất, mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật đó, nó quyết định động lực phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện nâng cao đời sống của con người và phát triển văn minh nhân loại [22]

- Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã hội là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất Bởi vì, hệ thống sản xuất xã hội bao gồm trong nó các quá trình sản xuất mà mục tiêu khái quát của nó là sản xuất các phương tiện bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội Việc bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội, đáp ứng các nhu cầu xã hội, nhu cầu của con người là những yêu cầu khách quan phản ánh mối liên hệ nhất định của con người với môi trường bên ngoài, đó là quá trình trao đổi vật chất, năng lượng giữa sản xuất xã hội và môi trường [22]

- Hiệu quả là một phạm trù phản ánh yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, quy luật này hoạt động trong nhiều phương thức sản xuất, vì vậy phạm trù này cũng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất Ở đâu và lúc nào con người cũng muốn hoạt động có hiệu quả nhất Trong kinh tế, hiệu quả là mục tiêu, không phải là mục

Trang 16

tiêu cuối cùng mà là mục tiêu phương tiện, xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế Trong

kế hoạch hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu ra và đầu vào, là lợi ích lớn nhất thu được với một chi phí nhất định hoặc một kết quả nhất định với chi phí nhỏ nhất Trong phân tích kinh tế hiệu quả kinh tế được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế kỹ thuật xác định bằng cách so sánh giữa đầu vào và đầu ra của hệ thống sản xuất xã hội, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực vào việc tạo ra các lợi ích nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội

Quan điểm hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải thỏa mãn các vấn đề về tiết kiệm thời gian lao động xã hội, tài nguyên, nguồn lực trong sản xuất mang lại lợi ích xã hội và bảo vệ môi trường Vì vậy hiệu quả của một quá trình nào đó cần được đánh giá hoàn thiện ở cả 3 khía cạnh: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường

Từ những quan điểm và lý luận trên cho thấy, quá trình sản xuất là sự liên hệ mật thiết giữa các yếu tố nguồn lực đầu vào và lượng sản phẩm đầu ra, kết quả của mối quan hệ này thể hiện tính hiệu quả của sản xuất Với cách xem xét này, hiện nay có nhiều ý kiến thống nhất với nhau Như vậy, HQKT ở trong phương thức sản xuất khác nhau, ở các nền sản xuất khác nhau thì khác nhau, tùy từng trường hợp cụ thể mà lựa chọn các chỉ tiêu phản ánh khác nhau

1.1.2.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế nghĩa là tăng cường trình độ lợi dụng các nguồn lực sẵn có trong hoạt động kinh tế Đây là một đòi hỏi khách quan của nền sản xuất xã hội

Khi xã hội càng phát triển, công nghệ ngày càng cao, việc nâng cao hiệu quả

sẽ gặp nhiều thuận lợi Nâng cao hiệu quả sẽ làm cả xã hội có lợi hơn, lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng ngày càng được tăng lên Nâng cao hiệu quả kinh

tế là động lực làm tăng lợi nhuận, tích luỹ vốn để tiếp tục đầu tư tái sản xuất mở rộng Nâng cao hiệu quả kinh tế sẽ làm cho thu nhập của người lao động được cải

Trang 17

thiện Vì vậy, nâng cao hiệu quả kinh tế là tất yếu, cần thiết, quan trọng của sự phát triển nền sản xuất xã hội

Có thể nói nhiệm vụ trung tâm của công tác quản lý kinh tế là sử dụng một cách có lợi nhất, phân phối hợp lý nhất các nguồn lực lao động và tài nguyên Đối với sản xuất nông, lâm nghiệp điều này lại càng quan trọng, bởi vì nguồn lực là có hạn, vì vậy muốn nâng cao hiệu quả kinh tế thì phải tiết kiệm nguồn lực Song, việc nâng cao hiệu quả kinh tế phải đặt trong mối quan hệ phát triển bền vững, phải gắn việc nâng cao hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội, môi trường sinh thái trước mắt

và lâu dài

1.1.2.4 Bản chất của hiệu quả kinh tế

Thực chất của hiệu quả kinh tế là vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực sản xuất kinh doanh và tiết kiệm chi phí các nguồn lực đó Hay bản chất của hiệu quả kinh tế là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội, hai mặt này có mối quan hệ mật thiết, gắn liền với hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội, là quy luật tăng năng suất lao động và quy luật tiết kiệm nguồn lực tài nguyên

Cần phân biệt rõ sự khác nhau giữa kết quả và hiệu quả:

Kết quả phản ánh về mặt định lượng, mục tiêu đạt được bằng chỉ tiêu kế hoạch đề ra, không đề cập đến cách thức, chi phí bỏ ra để đạt được mục tiêu đó Bản thân kết quả không thể hiện chất lượng

Hiệu quả thể hiện một cách toàn diện trên mặt định lượng và định tính Về định lượng, hiệu quả thể hiện rõ mối tương quan giữa chi phí (đầu vào) và kết quả (đầu ra) Về mặt định tính, hiệu quả không chỉ thể hiện các con số cụ thể mà còn thể hiện các nguyên nhân mang tính định tính để đạt được con số đó, phản ánh sự nhất trí và khả năng đóng góp của các mục tiêu trên thành phần và mục tiêu chung

Như vậy bản chất của hiệu quả chính là hiệu quả của lao động xã hội và được xác định bằng tương quan so sánh giữa lượng kết quả hữu ích thu được với lượng hao phí lao động xã hội Thước đo hiệu quả là sự tiết kiệm hao phí lao động xã hội, còn tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hoá kết quả và tối thiểu hoá chi phí trong

Trang 18

điều kiện nguồn tài lực nhất định

HQKT phản ánh trình độ thực hiện các nhu cầu của xã hội còn mục đích cuối cùng của sản xuất là đáp ứng những nhu cầu vật chất, tinh thần cho xã hội, do đó, hiệu quả không phải là mục đích cuối cùng của sản xuất, vì vậy việc nghiên cứu HQKT không những để đánh giá mà còn là cơ sở để tìm ra các giải pháp phát triển sản xuất với trình độ cao hơn

1.1.2.5 Phân loại hiệu quả

Căn cứ vào nội dung và bản chất của hiệu quả:

- Hiệu quả kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa kết quả đạt được về mặt kinh tế

và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó, là khâu trung tâm của tất cả các loại hiệu quả, có vai trò quyết định đối với các loại hiệu quả khác

- Hiệu quả xã hội thể hiện mục tiêu hoạt động của con người, phản ánh trình

độ lợi dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu về mặt xã hội nhất định Hiệu quả xã hội thường khó lượng hóa được rõ ràng mà chỉ đánh giá mang tính chất định tính như các mục tiêu trên

- Hiệu quả môi trường là hiệu quả của việc thay đổi môi trường do các tác nhân kinh tế gây ra Hiệu quả môi trường chủ yếu cũng chỉ đánh giá mang tính chất định tính như: phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chống ô nhiễm đất đai, nước, không khí, đảm bảo vệ sinh môi trường

Căn cứ vào phạm vi và đối tượng các hoạt động kinh tế phân thành:

- Hiệu quả kinh tế quốc dân: là HQKT tính chung trên phạm vi quy mô toàn

bộ nền kinh tế

- Hiệu quả kinh tế ngành: là HQKT xác định riêng đối với trong ngành sản xuất vật chất như: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nông thôn, nông nghiệp thương mại, dịch vụ…

- Hiệu quả kinh tế theo vùng, lãnh thổ là HQKT được tính toán, xem xét và phân tích theo từng vùng, từng địa phương riêng biệt…

- Hiệu quả kinh tế theo đơn vị sản xuất được tính toán cho các doanh nghiệp, công ty, trang trại, hộ nông dân…

Trang 19

Căn cứ vào yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và phương thức tác động vào sản xuất phân thành:

- Hiệu quả sử dụng vốn

- Hiệu quả sử dụng lao động

- Hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị

- Hiệu quả sử dụng đất đai

- Hiệu quả ứng dụng khoa học công nghệ, quản lý tiến bộ vào sản xuất kinh doanh

1.1.2.6 Hệ thống chỉ tiêu và phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế

Kết quả của nền sản xuất xã hội gồm nhiều chỉ tiêu và đầu vào của nó cũng

có nhiều chỉ tiêu Vì vậy, hiệu quả kinh tế được xác định bằng một hệ thống các chỉ tiêu Hệ thống các chỉ tiêu hiệu quả phải đảm bảo các yêu cầu sau [22]:

- Tính so sánh được giữa các chỉ tiêu hiệu quả

- Tính hệ thống của các chỉ tiêu

- Tính thống nhất trong phương pháp xác định tính toán các chỉ tiêu

- Tính thiết thực trong nhận thức đời sống kinh tế xã hội và quản lý nền sản xuất xã hội cũng như các bộ phận cấu thành nó

- Phù hợp với trình độ tính toán thống kê trong các giai đoạn phát triển nhất định, đảm bảo tính chất lịch sử cụ thể

Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế bắt nguồn từ bản chất của hiệu quả Về nguyên tắc xây dựng chỉ tiêu, cứ mỗi chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất so sánh với một chỉ tiêu phản ánh chi phí, nguồn hoặc yếu tố trung gian sẽ tạo thành một chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế Tuỳ từng mục đích nghiên cứu cụ thể, người ta có thể chọn từ đó những chỉ tiêu thích hợp Có thể thể hiện chỉ tiêu hiệu quả theo công thức cơ bản sau:

Trang 20

Q: là kết quả đạt được C: là hao phí nguồn lực cần thiết gắn với kết quả đó Công thức này cho thấy hiệu quả sử dụng các nguồn lực sản xuất

Công thức 3: Hiệu quả = Giá trị tăng thêm - Chi phí tăng thêm

Những chỉ tiêu chủ yếu liên quan đến tính toán hiệu quả kinh tế

- Giá trị sản xuất (GO - Gross Ouput): Là toàn bộ của cải vật chất và dịch

vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định, thường là 1 năm

Công thức tính: GO = n i

i

i P Q

1

Trong đó: Qi: Là khối lượng sản phẩm i

Pi: Là đơn giá sản phẩm loại i

- Chi phí trung gian (IC - Intermediate): là toàn bộ các khoản chi phí vật

chất thường xuyên (trừ khấu hao tài sản cố định) và dich vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất và dịch vụ khác trong một thời kỳ sản xuất

Công thức tính: IC =

m

j j C

1

Trang 21

- Giá trị gia tăng (VA - Value Added): Là giá trị sản phẩm vật chất và dịch

vụ do các ngành sản xuất sáng tạo ra trong một năm hay một chu kỳ sản xuất

Được tính: VA = GO - IC

- Thu nhập hỗn hợp (MI - Mix Income): Là phần thu nhập thuần tuý của

người sản xuất bao gồm phần trả công lao động và phần lợi nhuận mà họ có thể nhận được trong một chu kỳ sản xuất

- Tỷ suất giá trị tăng thêm theo chi phí trung gian (TVA): Chỉ tiêu này thể hiện hiệu quả của chi phí trung gian trong sản xuất

TVA =

IC VA

- Tỷ suất thu nhập hỗn hợp theo chi phí trung gian (TMI): Phản ánh số lần thu nhập hỗn hợp thu được so với chi phí trung gian cho sản xuất

MI: là thu nhập hỗn hợp (lãi gộp)

TMI =

IC MI

- Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí (TPr): Chỉ tiêu này phản ánh số lần giá trị lợi

nhuận thu được so với chi phí trung gian cho sản xuất

TGO =

IC

Pr

Trang 22

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Kinh tế trang trại ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1.1 Trên thế giới

Kinh tế trang trại ở một số nước công nghiệp phát triển:

Cuộc cách mạng công nghiệp đã diễn ra ở châu Âu từ thế kỷ XVIII và ở đây cũng là nơi đầu tiên xuất hiện hình thức tổ chức trang trại trong nông nghiệp sản xuất hàng hoá thay thế cho hình thức sản xuất tiểu nông của những người nông dân

tự canh và hình thức điền trang của các thế lực phong kiến quý tộc [10] Trong quá trình hình thành và phát triển, tuỳ vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, kinh tế trang trại ở các nước có sự khác biệt nhất định về quy mô, số lượng, phương pháp điều hành sản xuất

- Vương quốc Anh: Cho rằng nông nghiệp cũng phải xây dựng các xí nghiệp

lớn như trong công nghiệp Vì vậy từ đầu thế kỷ XIX họ đã thúc đẩy tập trung ruộng đất để lập các xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn Giữa thế kỷ XIX các trang trại gia đình quy mô nhỏ chiếm tỷ lệ cao Cuối thế kỷ XIX loại hình này phát triển mạnh Thời kỳ tiếp theo trang trại gia đình giảm về số lượng nhưng diện tích đất đai lại tăng lên Năm 1950 nước Anh có 453.000 trang trại, đến năm 1987 giảm xuống 254.000 trang trại Tốc độ giảm bình quân hàng năm là 2,1% [10]

- Pháp: Nước Cộng hoà Pháp, sau khi cuộc cách mạng tư sản triệt để vào

năm 1789 đã xuất hiện những chủ trang trại mới trong nông nghiệp Từ cuối thế kỷ thứ XIX (giai đoạn đầu của công nghiệp hoá), số trang trại ở Pháp tăng từ 5 triệu lên 5,6 triệu với quy mô với quy mô về đất đai bình quân mỗi trang trại là 11 ha Cuối thế kỷ XX, khi nước Pháp đã có nền công nghiệp hiện đại, số trang trại giảm xuống còn 980 nghìn, song quy mô của mỗi trang trại đã lớn hơn nhiều so với trước đây, khoảng từ 25-30 ha/trang trại Kinh tế trang trại ở Pháp đã đem lại những thành tựu to lớn trong sản xuất nông nghiệp, góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế đất nước Chỉ gần 1 triệu trang trại đã sản xuất ra số lượng nông sản thực phẩm gấp 2,2 lần nhu cầu trong nước, tỷ suất hàng hoá về hạt ngũ cốc là 95%, thịt sữa là 70-80% và rau quả trên 70% [10]

Trang 23

- Ở các nước châu Âu khác như Italia, Hà lan trang trại cũng phát triển theo

xu thế chung là: thời kỳ bước vào công nghiệp hoá trang trại phát triển rất mạnh, sau đó cùng với sự phát triển của công nghiệp số lượng trang trại giảm dần và quy

mô lớn lên tương ứng [10]

- Mỹ: Tình hình phát triển trang trại ở Mỹ cũng theo xu thế các nước châu Âu

nhưng chậm hơn 3-4 thập kỷ Năm 1900 số lượng trang trại ở Mỹ là 5.737.000 cơ

sở, năm 1950 là 2.548.000 cơ sở, năm 1990 là 2.140.000 cơ sở [10]

Kinh tế trang trại ở một số nước châu á

Ở châu á, nhiều nước thuộc vùng Đông bắc á như Nhật bản, Hàn Quốc, Đài Loan, đã đi tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước và cũng chính ở các nước này kinh tế trang trại đã sớm hình thành và ngày càng phát triển cao Quy

mô trang trại ở các nước này rất khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm tự nhiên, thiên nhiên và kinh tế xã hội và nó được phân loại chủ yếu dựa vào diện tích đất đai

- Nhật Bản: Năm 1950 có 6.176.000 trang trại, năm 1993 là 3.691.000 trang

trại Số lượng trang trại giảm bình quân hàng năm là 1,2% Diện tích trang trại bình quân năm 1950 là 0,8 ha, năm 1993 là 1,38 ha Tốc độ tăng diện tích bình quân là 1,3% [10]

- Hàn Quốc: Năm 1953 có 2.249.000 trang trại, năm 1979 giảm xuống

1.172.000 trang trại Số lượng trang trại giảm bình quân hàng năm 0,7% Diện tích bình quân của trang trại năm 1953 là 0,86 ha, năm 1979 là 1,2 ha Diện tích bình quân trang trại tăng 0,9% hàng năm [10]

- Đài Loan: Trong thời kỳ 1952-1970 (thời kỳ đầu công nghiệp hoá), trang

trại ở Đài Loan cũng phát triển theo quy luật chung của các nước phát triển, đó là số lượng tăng lên liên tục, còn quy mô mỗi trang trại thì nhỏ Khi công nghiệp đã phát triển thì ngược lại, số lượng trang trại giảm và quy mô diện tích của một trang trại tăng Năm 1952 số lượng trang trại ở Đài Loan là 679.000 trang trại, quy mô 1,29 ha/trang trại, năm 1960 có 714.000 trang trại với quy mô 1,12 ha/trang trại, năm

1988 có 739.000 trang trại với quy mô 1,2 ha/trang trại [10]

Trang 24

- Thái Lan: ở Thái Lan số lượng trang trại và bình quân diện tích mỗi trang

trại đều lớn hơn ở Đài Loan Năm 1963 có 3.214.000 trang trại, diện tích bình quân 3,5 ha/trang trại, năm 1988 có 5.245.000 trang trại, diện tích bình quân 4,52 ha/trang trại Bình quân sử dụng lao động ở Thái Lan là 3,7 người/trang trại Sự đóng góp to lớn của các trang trại được thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực sản xuất hàng nông sản, Thái lan đã trở thành một trong những nước xuất khẩu trái cây đứng đầu thế giới và hàng năm xuất khẩu 5-6 triệu tấn gạo [10]

* Một số nhận xét về tình hình phát triển kinh tế trang trại trên thế giới:

Kinh tế trang trại ở nhiều nước trên thế giới đã trải qua quá trình phát triển hàng trăm năm với đặc điểm khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, chính trị truyền thống ở từng nước Có thể rút ra một số nhận xét chung:

- Quá trình phát triển trang trại ở hầu hết các nước trên thế giới đều có xu hướng chung là: thời kỳ công nghiệp hoá, số lượng trang trại nhiều, quy mô nhỏ Khi công nghiệp phát triển đạt trình độ cao thì số lượng giảm, quy mô tăng Trang trại là loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp gắn liền với quá trình công nghiệp hoá từ thấp đến cao Kinh tế trang trại là sự phát triển tất yếu của nền nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá Kinh tế trang trại là kết quả tất yếu của kinh tế hộ gắn với sản xuất hàng hoá là bước tiến bộ mới về tổ chức sản xuất của nhân loại

- Kinh tế trang trại có thể phát triển với nhiều hình thức đa dạng khác nhau (tư bản tư nhân, cổ phần, liên doanh, uỷ thác ) nhưng trang trại gia đình là loại hình thích hợp, phổ biến nhất Trên thế giới, trang trại gia đình chiếm khoảng 80 - 90% tổng số trang trại [10]

- Hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại không hoàn toàn phụ thuộc vào quy mô đất đai, lao động vì năng suất, chất lượng sản phẩm còn chịu ảnh hưởng rất lớn của việc áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới cũng như trình độ tổ chức quản lý của chủ trang trại

- Sự phát triển của kinh tế trang trại gắn liền với công nghiệp hoá, với sự phát triển của kinh tế thị trường Trong giai đoạn đầu, việc hình thành và phát triển

Trang 25

thị trường tiêu thụ nông sản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với kinh tế trang trai

- Công nghiệp chế biến và dịch vụ cho trang trại là điều kiện hết sức quan trọng để thúc đẩy trang trại hoạt động có hiệu quả

- Vai trò của Chính phủ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại thông qua các chủ trương, chính sách vĩ mô

1.2.1.2 Ở Việt Nam

Các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về kinh tế trang trại đều khẳng định trang trại ở nước ta đã xuất hiện nhiều thế kỷ Trải qua trong thời kỳ lịch sử của đất nước, quá trình hình thành và phát triển của trang trại cũng có sự khác nhau

• Thời Lý - Trần

Các nghiên cứu cho thấy rằng trang trại đã có mầm mống hình thành từ thời Lý - Trần [18] Trang trại ở thời kỳ này có các hình thức sau: thái ấp, điền trang, đồn điền

• Thời kỳ Pháp đô hộ

Số đồn điền trại ấp (trang trại) khắp các miền Bắc - Trung - Nam được chúng thành lập tăng cả về số lượng và quy mô.Tính đến năm 1930 diện tích chiếm đoạt lập đồn điền là 1.200.000 ha bằng 1/4 tổng diện tích canh tác của nước ta lúc bấy giờ với số lượng trên dưới 4.000 đồn điền, trang trại [10]

• Thời kỳ 1945 đến 1975

- Ở miền Nam: các loại đồn điền tư bản, thực dân ở những vùng địch tạm chiếm vẫn tồn tại và phát triển

- Ở miền Bắc: Nhà nước tiến hành tịch thu các đồn điền của thực dân Pháp

và địa chủ phản động đem chia cho nông dân không ruộng và chuyển một số thành

cơ sở sản xuất nông nghiệp của Nhà nước

• Thời kỳ 1975 - 1986

Đặc điểm trong thời kỳ này là kinh tế hợp tác, kinh tế quốc doanh phát triển nhanh chóng, kinh tế đồn điền thực dân và điền trang, trang trại của địa chủ, phú nông, tư sản nông hôn và của cả trung nông lớp trên không còn Quản lý kinh tế hợp tác gắn liền với cơ chế tập trung bao cấp Kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác đã làm mất

Trang 26

đi vai trò kinh tế hộ, biến kinh tế hộ thành kinh tế tập thể, kinh tế hộ sản xuất hàng hoá (kinh tế trang trại) bị xoá bỏ dần Có thể nói trong giai đoạn này kinh tế trang trại không tồn tại [10]

• Từ năm 1986 đến nay

Sau đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng, đường lối đổi mới toàn diện và sự vận dụng sáng tạo của các địa phương đã tạo ra những chuyển động mới trong nông nghiệp và nông thôn Các hộ gia đình hoạt động theo cơ chế thị trường, tự hạch toán, tự trang trải, lấy thu bù chi làm ăn có lãi, đây chính là động lực cho các hộ gia đình hoạt động theo phương thức sản xuất hàng hoá để trở thành

“các trang trại gia đình” Kinh tế trang trại đã có chỗ đứng và luôn phát triển một

cách tích cực, góp phần giải quyết việc làm ở nông thôn, nâng cao năng suất lao động xã hội, góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, khai phá những vùng đất hoang hoá ở nông thôn tạo ra ngày càng nhiều nông sản hàng hoá có chất lượng cao cho xã hội

- Về số lượng: Theo tổng cục thống kê, năm 2010 trên phạm vi cả nước có 145.880 trang trại Gồm các loại trang trại trồng cây hàng năm (chiếm 29,2%), trang trại trồng cây lâu năm (17,6%), trang trại nuôi trồng thuỷ sản (25,5%), các trang trại chăn nuôi, trang trại lâm nghiệp, trang trại kinh doanh tổng hợp tỷ lệ còn thấp

- Về quy mô: Tuỳ theo điều kiện, đặc điểm và hoàn cảnh cụ thể trong vùng, quy mô trang trại từ vài ha đến vài trăm ha Ở vùng núi phía Bắc, bình quân mỗi trang trại thường từ 6-10 ha, còn trên 30 ha chiếm tỷ lệ thấp (8%) Vùng khu Bốn cũ trung bình từ 2-5 ha, trên 30 ha hầu như rất thấp (4%) Vùng Duyên hải miền Trung

từ 5-8 ha Vùng Tây nguyên từ 2-5 ha còn trên 30 ha chiếm tỷ lệ 12% Miền Đông Nam bộ phần lớn từ 5-10 ha, còn trên 30 ha chiếm 10% Vùng Đồng Bằng Nam bộ 15-18 ha và trên 30 ha chiếm tỷ lệ lớn 18% Tuy nhiên ở mỗi vùng vẫn có những trang trại cá biệt có quy mô lớn hàng trăm ha như một số trang trại ở vùng Tây Nguyên, Yên Bái, Bình Phước, miền Đông Nam bộ [12]

- Về lao động: Hầu hết các lao động sử dụng lao động trong gia đình là chủ yếu, một số loại hình trang trại do quy mô và tính chất sản xuất phải thường xuyên

Trang 27

thuê mướn lao động, hoặc thuê thời vụ để đáp ứng yêu cầu của sản xuất kinh doanh

- Vốn đầu tư: Tổng số vốn đầu tư cho trang trại (7/2002) là 8.821.400.000 đồng [34] Bình quân vốn đầu tư cho trồng trọt từ 15-50 triệu đồng cho 1 trang trại, nuôi trồng thuỷ sản thì cần từ 50-1000 triệu đồng, ở khu vực nam Bộ vốn đầu tư thường lớn hơn từ 300 triệu - 1 tỷ đồng

- Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các trang trại: Bình quân mỗi trang trại có giá trị sản xuất đạt hơn 88 triệu đồng, giá trị sản phẩm hàng hoá đạt gần 82 triệu đồng và thu nhập đạt 31,4 triệu đồng/năm Các trang trại đã tạo ra một khối lượng sản phẩm đạt giá trị 5.361 tỷ đồng chiếm gần 4% tổng giá trị sản xuất nông lâm nghiệp của cả nước, mặc dầu số trang trại chỉ chiếm số lượng khoảng 0,44% tổng số hộ nông dân với khoảng 369.567 ha đất sử dụng cho sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản chiếm 1,77% diện tích đất nông lâm nghiệp đang được sử dụng của cả nước [34] Khối lượng sản phẩm tuy chưa nhiều nhưng chỉ với một số ít trang trại, bằng những nguồn tài nguyên đất đai, lao động sẵn có, sản xuất

có hiệu quả đã thể hiện xu thế và vai trò vị trí trang trại trong sản xuất nông lâm nghiệp Điều đặc biệt là tỷ suất hàng hoá các trang trại chiếm tỷ lệ cao, bình quân đạt 91,8%

Kinh tế trang trại ở nước ta mới phát triển, việc thu thập các số liệu và đánh giá về nó còn nhiều hạn chế cho nên chưa thể đánh giá hết tác dụng của nó đối với

sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tuy nhiên, chúng ta đều nhận thấy rằng ở những nơi kinh tế trang trại phát triển thì ở đó bộ mặt nông thôn ngày càng thay đổi theo chiều hướng tốt, đời sống vật chất, tinh thần của nông dân được nâng cao

Trong cả nước, số hộ làm ăn giỏi, giàu có ngày càng tăng lên, số hộ nghèo đói ngày càng giảm Rõ ràng sự phát triển của nền sản xuất nông nghiệp trong đó có

sự đóng góp quan trọng của các trang trại đã biến Việt Nam trở thành nước đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo và là một trong những nước đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu các mặt hàng nông sản: cà phê, chè, cao su.v.v.[31]

Từ thực tế trên có thể rút ra một số kết luận:

- Lịch sử tạo lập trang trại ở nước ta đã có rải rác từ lâu ở nhiều nơi, nhưng

Trang 28

mới chỉ được phát triển “tự phát” từ khi có chủ trương đổi mới về tổ chức và quản

lý nền kinh tế theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (12/1996) và được phát triển nhanh, mạnh từ 1993 đến nay

- Tốc độ và quy mô phát triển của trang trại theo hướng “tự phát” của cơ chế thị trường nhưng không đồng đều giữa các vùng, miền trên phạm vi cả nước

- Quy mô về đất đai kinh doanh: Tuỳ điều kiện từng vùng, tuỳ vào hướng kinh doanh mà các trang trại có quy mô diện tích đất đai khác nhau, có thể trên dưới

2 ha, phổ biến từ 5-10 ha, hoặc có những trang trại hàng trăm, nghìn ha

- Trong quá trình phát triển, bên cạnh những kết quả đạt được nó vẫn còn những tồn tại cả trong lĩnh vực nhận thức lý luận và thực tiễn cần được nghiên cứu, rút ra những bài học cần thiết để có giải pháp phát triển và quản lý tốt hơn

1.2.1.3 Quan điểm và chính sách phát triển kinh tế trang trại của Đảng và Nhà nước ta

Thực hiện đường lối của Đảng, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp, bắt đầu từ Nghị quyết Trung ương 6 (khoá IV), Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (khoá V), Nghị quyết Trung ương khoá 5 (khoá VII), Luật đất đai 1993, Nghị quyết Trung ương 4 và Nghị quyết Trung ương 6 (lần I) khoá VIII đã là cơ sở quan trọng cho kinh tế trang trại ở nước ta hình thành và phát triển

Tác dụng to lớn nhất, bao trùm nhất của Nghị quyết 10 đã thực sự giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp mà lực lượng cơ bản là kinh tế hộ nông dân, đã tạo

ra sự tăng trưởng ngoạn mục hơn 15 năm liền từ năm 1988 đến nay, bước đầu tạo ra

sự chuyển dịch từ kinh tế tiểu nông tự túc lên sản xuất hàng hoá theo mô hình kinh

tế trang trại Sau Nghị quyết 10 là Nghị quyết TW5 khoá VII, năm 1993 đã đề ra chủ trương: “Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các loại giống nuôi có hiệu quả kinh tế cao, khai thác đồi núi trọc, bãi bồi ven biển, nuôi trồng thuỷ sản, đánh bắt ngoài khơi, xây dựng các nông lâm ngư trại thích hợp” [33] Nghị quyết TW4 (khoá VIII, 1997) đã viết: “Kinh tế trang trại với các hình thức sở hữu khác nhau (Nhà nước, tập thể, tư nhân) được phát triển chủ yếu để trồng cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc ở những nơi có nhiều ruộng đất, khuyến khích việc

Trang 29

khai phá đất hoang vào mục đích này”

Ở Hội nghị TW6 (lần 1, khoá VIII) Bộ Chính trị đã có quan điểm cụ thể về kinh tế trang trại: “Nhà nước khuyến khích phát triển kinh tế trang trại gia đình, riêng trang trại tư nhân (kể cả tư nhân ở nơi khác hoặc thành phố) được khuyến khích phát triển theo quy định của Pháp luật để khai thác đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá ở trung du, miền núi và vùng ven biển, còn ở vùng đồng bằng, chủ yếu chỉ hướng vào việc xây dựng các trang trại chăn nuôi hoặc công nghiệp chế biến”

Để triển khai các Nghị quyết của Đảng về nông nghiệp, Chính phủ đã ban hành các văn bản pháp lý: Nghị định, nghị quyết hướng dẫn việc thi hành Nghị quyết 03/2000/NQ-CP từ ngày 15/06/2000 về một số chủ trương và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

Tinh thần các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta thể hiện rõ trong các chính sách cụ thể sau:

- Chính sách ruộng đất:

Chính sách ruộng đất của Nhà nước ta được thể hiện rõ nhất trong luật đất đai năm 2003 Luật quy định và cụ thể hoá quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp quyền sử dụng đất trong thời hạn giao đất đúng mục đích

sử dụng đất được giao Từ sau ban hành Luật đến nay, Nhà nước đã ban hành 70 văn bản thi hành Luật đất đai, trong đó có 6 văn bản thuộc thẩm quyền Quốc hội, hơn 30 văn bản của Chính phủ còn lại của Bộ ngành liên quan

Chính sách đất đai đối với kinh tế trang trại được nêu lên cụ thể trong Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/2/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại: Hộ gia đình có nhu cầu và khả năng sử dụng đất để phát triển trang trại được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Nghị định 85/1999/NĐ-CP và Nghị định số 163/1999/NĐ-CP Hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản sống tại địa phương có nhu cầu và khả năng để mở rộng sản xuất thì ngoài phần đất đã được giao trong hạn mức của địa phương còn được Uỷ ban nhân dân xã xét cho thuê đất để phát triển trang trại

Trang 30

Nhìn chung, chính sách đất đai của Nhà nước ta ngày càng thông thoáng, đã tạo ra môi trường và cơ sở pháp lý thuận lợi để kinh tế trang trại phát triển Tuy nhiên, vẫn còn những mặt hạn chế của chính sách chưa đáp ứng kịp thời những yêu cầu diễn ra trong thực tiễn

- Chính sách thuế:

Thuế là một trong những công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế, để khuyến khích

và tạo điều kiện hộ gia đình, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế trang trại, Nghị quyết

số 03/2000/NQ-CP đã chỉ rõ “… ở những vùng đất trống, đồi núi trọc, bãi bồi, đầm phá ven biển, thực hiện miễn thuế thu nhập cho trang trại với thời gian tối đa theo Nghị định số 51/1999/NĐ-CP ngày 8/12/1999 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư khuyến khích đầu tư trong nước” Thực chất việc ưu đãi này là tạo điều kiện để các trang trại đảm bảo nguồn vốn đủ lớn nhằm đầu tư tái sản xuất

mở rộng quy mô kinh doanh Hay nói cách khác, Nhà nước hỗ trợ đầu tư một cách gián tiếp vào khu vực kinh tế trang trại với mục đích phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá theo quy mô lớn

- Chính sách, đầu tư tín dụng:

Đầu tư cho tăng trưởng và phát triển kinh tế là vấn đề hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế nói chung và kinh tế trang trại nói riêng Trong đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay luôn dành sự ưu tiên để phát triển kinh tế nông nghiệp, đã thực hiện chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn trên các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn như: giao thông, điện, thuỷ lợi … để khuyến khích các hộ gia đình phát triển kinh tế trang trại sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/1999/NĐ-CP ngày 29/6/1999 cho phép các trang trại được vay vốn từ Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển của Nhà nước Ngoài ra đã Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg ngày 30/3/1999 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách tín dụng ngân hàng phát triển nông nghiệp và nông thôn, chủ trang trại được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm tiền vay theo quy định tại Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về đảm bảo tiền vay của các tổ chức tín dụng Trên tinh

Trang 31

thần của Nghị định số 03/2000/NQ-CP, Bộ Tài chính đã ban hành thông tư số 82/2000/TT-BTC ngày 14/08/2000 hướng dẫn chính sách tài chính nhằm phát triển kinh tế trang trại

- Chính sách lao động

Theo tinh thần Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP về trang trại có nhấn mạnh: nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ để các chủ trang trại mở rộng quy

mô sản xuất kinh doanh, tạo được nhiều việc làm cho lao động nông thôn, ưu tiên

sử dụng lao động của hộ nông dân không đất, thiếu đất sản xuất nông nghiệp, hộ nghèo thiếu việc làm Các chế độ đối với người lao động như bảo hộ lao động, bảo hiểm rủi ro, đào tạo bồi dưỡng nghề cho người lao động Thông tư số 23/2000/TT-BLĐTBXH ngày 28/09/2000 đã hướng dẫn cụ thể một số chế độ đối với người lao động làm việc trong các trang trại Các chính sách về lao động đã tạo cơ sở pháp lý

để các chủ trang trại chủ động thuê mướn sử dụng lao động

- Chính sách khoa học, công nghệ, môi trường

Chính sách khoa học, công nghệ, môi trường để tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế trang trại phát triển chiếm một vị trí quan trọng vì so với nông hộ thì kinh tế trang trại là cơ sở có nhiều điều kiện để ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật hơn nhằm nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá Nhận biết vị trí vai trò đó, Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP đã giao trách nhiệm cho

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và UBND trực thuộc các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương quy hoạch phát triển các vườn ươm giống cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp, và các cơ sở sản xuất con giống hoặc hỗ trợ một số trang trại có điều kiện sản xuất giống để đảm bảo đủ giống tốt, giống có chất lượng cao cung cấp cho các trang trại Trên tinh thần đó các Bộ ngành có liên quan đã hướng dẫn cụ thể chính sách về phát triển giống cây trồng vật nuôi, đặc biệt Bộ Thuỷ sản đã cố thông

tư số 04/2000/TT-BTS ngày 03/11/2000 chính sách khuyến khích phát triển giống thuỷ sản

- Chính sách thị trường

Trang 32

Một trong những vấn đề vướng mắc hiện nay là giải quyết thị trường nông sản hàng hoá Kinh tế trang trại khác với kinh tế hộ là sản xuất ra sản phẩm hàng hoá với khối lượng lớn Vì vậy, khâu tiêu thụ hàng hoá là vấn đề quan trọng Để tháo gỡ những khó khăn đó Nghị quyết 03/2000/NQ-CP đã quy định phẩm quyền cho các Bộ ngành liên quan tổ chức thông tin về thị trường, khuyến cáo khoa học kỹ thuật, giúp trang trại định hướng sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước Bên cạnh đó khuyến khích xây dựng mới các cơ sở chế biến và phát triển chợ nông thôn, tạo điều kiện để các trang trại tiếp cận và tham gia các chương trình, dự án hợp tác, hội chợ triển lãm trong và ngoài nước Cũng như các chủ đề kinh doanh nông nghiệp khác kinh tế trang trại được chi phối bởi Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP về chủ trương và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế

và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

Có thể nói trong những năm qua, Nhà nước đã có những chính sách thông thoáng nhằm khuyến khích phát triển kinh tế trang trại Tuy nhiên, những chính sách này vẫn còn nhiều bất cập và chưa đồng bộ nên đôi lúc, đôi nơi vận dụng vào thực tiễn ở một số địa phương chưa đem lại hiệu quả cao, làm cho quá trình phát triển kinh tế trang trại còn chậm, chưa tương xứng với những tiềm năng và các

nguồn lực kinh tế ở mỗi địa phương

1.2.2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

1.2.2.1 Nghiên cứu trong nước

Cho đến nay đã có nhiều tác giả và tổ chức trong nước nghiên cứu về kinh tế trang trại ở Việt Nam

Tác giả Lê Trọng nghiên cứu về phát triển và quản lý trang trại trong nền kinh tế thị trường Tác giả đưa ra cơ sở khoa học về phát triển trang trại, những vấn

đề cơ bản về quản lý trang trại trong nền kinh tế thị trường, những bài học kinh nghiệm về phát triển và quản lý trang trại và đưa ra phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát triển và quản lý trang trại trong thời gian tới

KS Trần Hữu Quang cho rằng trang trại là hình thức sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở lao động và đất đai của hộ gia đình là chủ yếu, có tư cách pháp nhân,

Trang 33

tự chủ sản xuất kinh doanh và bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, có chức năng chủ yếu là sản xuất nông sản hàng hóa, tạo ra nguồn lao động chính cho gia đình và đáp ứng nhu cầu xã hội

Công trình nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đình Hương cùng các cộng sự đã hệ thống hoá và làm rõ những lý luận cơ bản về kinh tế trang trại, những đặc trưng cơ bản và tiêu chí nhận dạng trang trại, các điều kiện để hình thành và phát triển kinh tế trang trại trong nền kinh tế thị trường Trên cơ sở điều tra 3044 trang trại ở 15 tỉnh thành phố đại diện cho 7 vùng kinh tế sinh thái trong cả nước Cuốn sách đã phân tích, đánh giá thực trạng kinh tế trang trại ở nước

ta hiện nay như các yếu tố sản xuất của trang trại, tổ chức hoạt động sản xuất của trang trại, kết quả và hiệu quả sản xuất của các trang trại

Trần Văn Lợi nghiên cứu về kinh tế trang trại tỉnh Bình Dương thực trạng và giải pháp

Nguyễn Sinh Cúc nghiên cứu kinh tế trang trại ở những địa bàn thuộc chương trình 135 vùng miền núi phía Bắc

Nguyễn Đức Thịnh nghiên cứu về kinh tế trang trại các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc

Trương Thị Minh Sâm nghiên cứu về kinh tế trang trại ở khu vực Nam bộ thực trạng và giải pháp

TS Nguyễn Văn Tuấn, chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu hiện trạng kinh tế trang trại ở các tỉnh miền núi phía Bắc, đề xuất một số kiến nghị về định hướng chính sách nhằm khuyến khích phát triển trang trại lâm nghiệp ở nước ta hiện nay” Tác giả đã nghiên cứu thực trạng và tình hình sản xuất kinh doanh của các trang trại lâm nghiệp ở 5 tỉnh miền núi phía Bắc, từ đó đã đưa ra một số giải pháp thiết thực cho

sự phát triển kinh tế trang trại tại các tỉnh ở phía Bắc hiện nay

Các tác giả đã làm rõ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn về sự phát triển kinh tế trang trại, thực trạng và xu hướng phát triển kinh tế trang trại ở các vùng của đất nước đưa ra một số giải pháp thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển

Trang 34

Các vấn đề trên đã được công bố rộng rãi trên các tạp chí kinh tế xã hội, các tài liệu khoa học và các sách tham khảo của các tác giả Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã thu được kết quả nhất định trên các mặt:

- Nghiên cứu tổng quan: Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã có những đóng góp to lớn trong việc hệ thống hoá những vấn đề lý luận về trang trại, kinh tế trang trại, đưa ra những thông tin quan trọng về kinh tế trang trại trên thế giới, trong khu vực và ở nước ta qua các thời kỳ, những định hướng, giải pháp quan trọng thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển Song bên cạnh đó vẫn còn nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ như các vấn đề liên quan đến khái niệm trang trại, kinh tế trang trại, cũng như một số vấn đề lý luận khác

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại trên các vùng miền của đất nước, từ đó đưa ra các giải pháp để phát triển kinh tế trang trại cho từng vùng Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc thu thập các thông tin ban đầu, tổng hợp từ các đề tài nghiên cứu mang tính báo cáo chưa đưa ra được các tiêu chí cụ thể thống nhất để đánh giá kinh tế trang trại Việc đánh giá hiệu quả của kinh tế trang trại chưa được nhiều tác giả đề cập đến, hoặc mới chỉ ở mức

độ chung chung, định tính, chưa cụ thể

1.2.2.2 Nghiên cứu trong vùng

Lương Sơn là một huyện miền núi với diện 37.468,6 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tới 26,4%, đất nông nghiệp chiếm 21,4% có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế trang trại, đặc biệt là các trang trại nông lâm nghiệp Kinh tế trang trại ở địa phương được hình thành từ chủ trương chính sách đổi mới kinh tế của Đảng, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế đồi rừng, chính sách giao đất giao rừng cùng với những chính sách đầu tư, hỗ trợ vốn của nhà nước

Trên thực tế những năm qua ở địa phương đã có một số đề tài nghiên cứu về kinh tế xã hội, hàng năm một số cơ quan, ban ngành địa phương như Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng Địa chính & Nông nghiệp, phòng Thống kê của huyện đã tiến hành thống kê, điều tra, tìm hiểu về tình hình phát triển kinh tế trang trại ở địa phương Song các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc thống kê khảo

Trang 35

sát số lượng, diện tích, vốn của trang trại với mục đích tổng kết, báo cáo tình hình Cho tới nay, hiện chưa có một công trình nào nghiên cứu, đánh giá về hiệu quả của kinh tế trang trại trong vùng

Trên cơ sở kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu đã được công bố, để góp phần đánh giá đúng vai trò và tác động của kinh tế trang trại đối với việc phát triển nông nghiệp và nông thôn, chúng tôi tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại hình trang trại ở huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của các trang trại trong giai đoạn 2011 - 2015

Trang 36

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

+ Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại nhằm phát hiện ra các yếu

tố trở ngại và những tiềm năng để phát triển kinh tế trang trại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình

+ Phân tích hiệu quả kinh tế trong trang trại ở huyện Lương Sơn, từ đó tìm ra được những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng đến kết quả sản xuất và hiệu quả kinh tế của trang trại

+ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của các trang trại, góp phần thúc đẩy trang trại ở địa phương phát triển

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả kinh tế của các trang trại thuộc huyện Lương Sơn

Trang 37

2.3 Nội dung nghiên cứu

Để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu đã nêu, đề tài đặt ra nhiệm vụ giải quyết các nội dung sau:

- Hệ thống hóa các kiến thức lý luận về trang trại, kinh tế trang trại, hiệu quả kinh tế trang trại

- Nghiên cứu các đặc điểm cơ bản tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình

- Đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế trang trại tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình

- Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại trên địa bàn nghiên cứu

2.4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

* Thu thập tài liệu thứ cấp: Những số liệu, thông tin liên quan trực tiếp và gián tiếp đến quá trình nghiên cứu đã được công bố chính thức của cơ quan thống

kê các cấp, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu; thông tin trên internet, các báo cáo chuyên đề, các tài liệu, xuất bản phẩm của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

* Thu thập các dữ liệu trực tiếp thông qua điều tra, khảo sát: Điều tra trực tiếp qua phỏng vấn các chủ trang trại để lấy thông tin theo nội dung phiếu điều tra

đã được chuẩn bị Tác giả là người trực tiếp thực hiện công việc này, bởi số trang trại ở huyện Lương Sơn không lớn và hơn nữa là thông tin được đầy đủ và tin cậy hơn Bao gồm các công việc sau đây:

+ Xây dựng mục tiêu, lĩnh vực điều tra và đối tượng điều tra, từ đó lập phiếu điều tra để tiến hành điều tra;

+ Điều tra tổng thể các trang trại hiện có trong tỉnh tại thời điểm điều tra; + Xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin sơ cấp bằng hệ thống bảng tính Excel phục vụ cho việc phân tích, đánh giá

* Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn - RRA (Rapid Rural Appraisal): Dựa trên các thông tin được thu thập từ trước, quan sát trực tiếp và phỏng vấn khi cần thiết các đối tượng khác ngoài chủ trang trại với câu hỏi không được chuẩn bị

Trang 38

trước Phương pháp này chủ yếu để kiểm chứng lại thông tin điều tra chủ trang trại

* Phương pháp phỏng vấn chuyên gia

+ Phỏng vấn lãnh đạo thôn, xã, huyện để biết được tình hình, những thuận lợi, khó khăn trong việc phát triển KTTT ở địa phương

+ Phỏng vấn chủ trang trại để nắm được tình hình cụ thể của các trang trại nông lâm nghiệp ở địa phương theo nội dung của mẫu phiếu điều tra

Từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá chung về vấn đề đang nghiên cứu, giúp cho quá trình phân tích được chính xác hơn, không mang tính chủ quan của người làm luận văn

* Phương pháp thống kê, mô tả: Lập danh sách và sắp xếp theo trình tự riêng biệt các yếu tố kinh tế, xã hội môi trường; đặc tính giống nhau, tiêu biểu, chung, phổ biến của các trang trại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình; cập nhật, hệ thống hoá những thông tin, vấn đề phục vụ cho nội dung nghiên cứu của đề tài Phương pháp thống kê, mô tả được sử dụng chủ yếu trong phần phân tích tiềm năng và đánh giá thực trạng

* Phương pháp phân tổ thống kê đối tượng nghiên cứu: Phân tổ các trang trại thành những nhóm loại hình sản xuất kinh doanh trên cơ sở tiêu chí trang trại hiện hành và diễn tả bằng các biểu thống kê Việc phân tổ theo tiêu chí như vậy sẽ đảm bảo tính thống nhất từ quá trình nghiên cứu đến công tác quản lý nhà nước về kinh

tế trang trại

* Phương pháp phân tích, tính toán những chỉ số thống kê, những đại lượng trung bình và hệ số tương đối tính hiệu quả, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả sản xuất của trang trại (vốn, đất đai, lao động), so sánh kết quả các loại hình trang trại, dự báo xu hướng phát triển của trang trại

* Phương pháp xử lý số liệu

- Số liệu được tổng hợp, xử lý trên máy tính chương trình Microsoft Excel

- Đề tài sử dụng các bảng thống kê mô tả, biểu đồ để phân tích số liệu

* Phương pháp phân tích SWOT (Strength Weakness Opportunity Threat) để phát hiện vấn đề cơ bản phát triển kinh tế trang trại Phương pháp sử dụng mô hình

Trang 39

SWOT phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức

Phân tích SWOT được sử dụng để hiểu được điểm mạnh (Strenghs), điểm yếu (Weakensses) của kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Lương Sơn cũng như các

cơ hội (Opportunities) và thách thức (Threat) mà hoạt động của các trang trại trên

địa bàn huyện Lương Sơn – Hòa Bình gặp phải

Điểm yếu

(W)

Nắm bắt cơ hội để khắc phục mặt yếu (O/W)

Giảm thiểu mặt yếu để ngăn chặn nguy cơ (W/T)

Trang 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Lương Sơn

3.1.1.1 Vị trí địa lý và địa hình

Huyện Lương Sơn nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Hòa Bình, phía Bắc giáp huyện Quốc Oai và Thạch Thất, phía Đông giáp huyện Mỹ Đức, Chương Mỹ (Hà Nội), phía Nam giáp huyện Kim Bôi, phía Tây giáp huyện Kỳ Sơn (Hòa Bình) Dựa trên yếu tố địa hình kết hợp với vị trí địa lý, Lương Sơn có thể chia thành 4 tiểu vùng:

(1) Tiểu vùng phía Bắc huyện bao gồm thị trấn Lương Sơn và các xã: Lâm Sơn, Hòa Sơn, Tân Vinh, Nhuận Trạch: có địa hình cao nhất, gồm những dãy núi cao xen kẽ đồi thấp hình bát úp, ở giữa là thung lũng rộng bằng phẳng Vùng này có

vị trí địa lý thuận lợi, gần Hà Nội, có đường QL6 chạy qua, là đầu mối giao thông quan trọng của tỉnh Hòa Bình và vùng Tây Bắc với vùng Hà Nội

(2) Tiểu vùng Đông Nam huyện, bao gồm các xã: Thành Lập, Trung Sơn, Liên Sơn, Tiến Sơn, Cao Thắng, Cao Dương, Thanh Lương: địa hình cao, có nhiều núi đá vôi, núi đất, xen kẽ hang động nhũ đá; vị trí địa lý giáp Hà Nội, có trục đường QL21A (nay là đường Hồ Chí Minh) chạy dài men theo các xã

(3) Vùng Tây Nam huyện bao gồm 4 xã: Trường Sơn, Cao Răm,Cư Yên, Hợp Hòa: địa hình cao, nhiều đồi núi thấp; đây thuộc vùng sâu, vùng xa của huyện,

hệ thống giao thông không thuận lợi Không những thế, phía cuối vùng (Cao Răm, Trường Sơn) gần như bị “chặn” do bị che chắn bởi hệ thống núi đất

(4) Vùng phía Nam huyện bao gồm các xã: Tân Thanh, Hợp Châu, Long Sơn

và Hợp Thanh: vùng đất thấp, đồng bằng; đây là vùng có vị trí địa lý quan trọng về

an ninh quốc phòng

Lương Sơn là một huyện vùng thấp bán sơn địa của tỉnh Hoà Bình, có địa hình phổ biến là núi thấp và đồng bằng Độ cao trung bình của toàn huyện so với mực nước biển là 251 m, có địa thế nghiêng đều theo chiều từ Tây Bắc xuống Đông Nam, là nơi tiếp giáp giữa đồng bằng châu thổ sông Hồng và miền núi Tây Bắc Bắc

Bộ Đặc điểm nổi bật của địa hình nơi đây là có những dãy núi thấp chạy dài xen kẽ

Ngày đăng: 20/09/2017, 15:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2000), Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP "ngày 02/02/2000 "của Chính phủ về kinh tế trang trại
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2000
3. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật đất đai, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đất đai
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2003
4. Tô Đức Hạnh, Phạm Văn Linh (2000), Phát triển kinh tế hàng hoá trong nông thôn các tỉnh vùng núi phía Bắc Việt Nam thực trạng và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế hàng hoá trong nông thôn các tỉnh vùng núi phía Bắc Việt Nam thực trạng và giải pháp
Tác giả: Tô Đức Hạnh, Phạm Văn Linh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
5. Trần Thị Thu Hằng (2003), “Đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình rừng trồng”, Tạp chí NN & PTNT (số 4) trang 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình rừng trồng”
Tác giả: Trần Thị Thu Hằng
Năm: 2003
6. Nguyễn Đình Hương (2000), Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Hương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
1. Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (2003), Thông tư của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn số 74/2003/TT-BNN ngày 4/7/2003 về việc sửa đổi, bổ sung mục III của thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 hướng dẫn tiêu chí xác định kinh tế trang trại Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w