1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp phát triển làng nghề đúc đồng truyền thống trên địa bàn thành phố huế

127 297 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾNGUYỄN THỊ HỒNG MINH GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

NGUYỄN THỊ HỒNG MINH

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HUẾ

CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRỊNH VĂN SƠN

HUẾ, 2016

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Nguyễn Thị Hồng Minh, xin cam đoan: Luận văn “Gi ải

pháp phát tri ển làng nghề đúc đồng truyền thống trên địa bàn

Thành ph ố Huế” là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn đều có nguồngốc rõ ràng, trung thực và chưa từng được công bố tại bất kỳ côngtrình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyền Thị Hồng Minh

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 3

Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡcủa nhiều tập thể và cá nhân Trước hết, tôi xin kính gửi lời cảm ơn trântrọng và chân thành nhất đến PGS.TS Trịnh Văn Sơn, người đã trực tiếphướng dẫn, tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, phòngKhoa học Công nghệ - Hợp tác quốc tế - Đào tạo Sau Đại học, các Khoa

và Bộ môn trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế; xin chân thành cảm ơnquý Thầy Cô giáo đã quan tâm, nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôitrong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Chân thành cảm ơn Chi cục thống kê thành phố Huế, Phòng thống

kê thành phố Huế, Phòng Kinh tế thành phố Huế, UBND Phường Đúc,UBND phường Thủy Xuân, Hội nghề Đúc truyền thống Huế, cùng toànthể các đơn vị, cá nhân sản xuất kinh doanh trong ngành nghề đúc đồngtrên địa bàn thành phố Huế đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quátrình nghiên cứu và thu thập tài liệu

Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ những tình cảm yêu mến nhất đếngia đình, những người thân của tôi và bạn bè đã tạo điều kiện, động viêntôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hồng Minh

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 4

TÓM LƯỢC LUẬN VĂN

Họ và tên học viên: Nguyễn Thị Hồng Minh

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế, Niên khóa: 2014 - 2016

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Văn Sơn

Tên đề tài: “Gi ải pháp phát triển làng nghề đúc đồng truyền thống trên địa

bàn Thành ph ố Huế”

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hòa trong dòng chảy chung của cả nước, Thành phố Huế đã và đang triển khaimục tiêu xây dựng Thành phố Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương theo

hướng “Di sản, văn hóa, sinh thái, cảnh quan, thân thiện với môi trường” Tuy vậy,

quá trình đô thị hóa ở Thành phố Huế đã dẫn đến sự biến mất của nhiều làngnghề hoặc có làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một, có làng nghề vẫn tồntại nhưng năng suất, chất lượng hiệu quả và sức cạnh tranh chưa cao, cần phải thayđổi cơ bản về quy trình sản xuất, mẫu mã Làng nghề đúc đồng Thành phố Huếcũng không nằm ngoài hệ lụy đó, mặc dù với lịch sử hơn 500 năm hình thành vàphát triển, có tới hơn 60 lò đúc với khoảng hơn 200 nghệ nhân.Trước những vấn đềtrên, nên tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp phát triển làng nghề đúc đồng truyền thốngtrên địa bàn Thành phố Huế” làm luận văn thạc sỹ kinh tế của mình Đây là đề tài

có giá trị cấp bách về cả lý luận và thức tiễn

2 Phương pháp nghiên cứu

Quá trình thực hiện đề tài đã sử dụng các phương pháp sau: i) Phương phápbiện chứng duy vật lịch sử, ii) Phương pháp điều tra, tổng hợp và phân tích số liệu,iii) Phương pháp toán kinh tế, iv) Phương pháp chuyên gia và chuyên khảo

3 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp của luận văn

Kết quả nghiên cứu đã đánh giá đúng thực trạng phát triển làng nghề đúcđồng truyền thống Phân tích và chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng lớn đến quy mô

và hiệu quả hoạt động sản xuất của các cơ sở đúc đồng trên địa bàn Thành phố Huế

Đóng góp khoa học quan trọng nhất của luận văn đã chỉ ra được những giảipháp cho hoạt động sản xuất ở làng nghề đúc đồng bền vững trên địa bàn Thànhphố Huế

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 5

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 6

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Tóm lược luận văn iii

Danh mục các chữ viết tắt iv

Mục lục v

Danh mục các bảng biểu ix

Danh mục các biểu đồ xi

Danh mục các sơ đồ xii

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Kết cấu luận văn 6

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ, LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG 7

1.1 KHÁI QUÁT VỀ LÀNG NGHỀ, LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG 7

1.1.1 Khái niệm về làng nghề và làng nghề đúc đồng truyền thống 7

1.1.2 Phát triển làng nghề truyền thống 10

1.2 VAI TRÒ CỦA NGÀNH NGHỀ ĐÚC ĐỒNG VÀ LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 11

1.2.1 Giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống lâu đời, độc đáo của từng địa phương 11

1.2.2 Góp phần giải quyết việc làm 12 Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 7

1.2.3 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công

nghiệp hóa 12

1.2.4 Góp phần tạo ra nguồn sản phẩm phong phú cho xã hội, hướng vào xuất khẩu trực tiếp góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước 13

1.2.5 Góp phần phát triển theo hướng liên kết cùng ngành du lịch 13

1.2.6 Góp phần phát triển khối doanh nghiệp, định hình nên một đội ngũ thương nhân mới 14

1.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG 15

1.3.1 Tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp 15

1.3.2 Sản phẩm làng nghề đúc đồng truyền thống có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sặc văn hóa dân tộc 15

1.3.3 Làng nghề đúc đồng truyền thống là sản phẩm của tổ chức nông thôn truyền thống, theo địa bàn cư trú và có tính gia truyền 16

1.3.4 Làng nghề đúc đồng truyền thống là một làng nghề đặc trưng của làng nghề truyền thống, ra đời trên cơ sở kỹ thuật thủ công truyền thống Gần đây do tiến bộ khoa học - công nghệ, một số công đoạn được sử dụng máy móc 16 1.4 NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH NGHỀ ĐÚC ĐỒNG VÀ LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG 17

1.4.1 Sự biến động của thị trường 17

1.4.2 Trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật 17

1.4.3 Kết cấu hạ tầng 18

1.4.4 Nguồn vốn cho phát triển sản xuất - kinh doanh 18

1.4.5 Nguồn nguyên vật liệu phục vụ sản xuất 18

1.4.6 Số lượng và chất lượng đội ngũ lao động 19

1.4.7 Môi trường lao động trong làng nghề 19

1.4.8 Truyền thống của làng nghề 20

1.4.9 Mặt bằng cho sản xuất 21

1.4.10 Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước 21 Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 8

1.5 CÁC CHỈ TIÊU SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU 22

1.6 THỰC TIỄN VÀ KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG 23

1.6.1 Kinh nghiệm phát triển làng nghề đúc đồng truyền thống một số nước ở Châu Á 23

1.6.2 Kinh nghiệm phát triển làng nghề đúc đồng truyền thống một số tỉnh ở Việt Nam 26

1.6.3 Bài học rút ra cho Thành phố Huế 28

1.7 TÓM KẾT CHƯƠNG 1 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ 30

2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 30

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của Thành phố Huế 30

2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội của Thành phố Huế 31

2.1.3 Cơ sở hạ tầng 37

2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG Ở THÀNH PHỐ HUẾ 38

2.2.1 Đánh giá chung về sự phát triển của làng nghề đúc đồng truyền thống38 2.2.2 Đánh giá thực trạng phát triển của làng nghề đúc đồng truyền thống trên địa bàn Thành phố Huế giai đoạn 2013-2015 41

2.3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ ĐỨC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG QUA SỐ LIỆU ĐIỀU TRA 51

2.3.1 Khái quát về các mẫu điều tra 51

2.3.2 Đặc điểm mẫu điều tra của các cơ sở đúc đồng truyền thống 52

2.3.3 Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đầu vào đến thu nhập của cơ sở điều tra theo phương pháp phân tổ 64

2.3.4 Đánh giá thị trường đầu ra của làng nghề đúc đồng truyền thống Thành phố Huế 67

2.3.5 Đánh giá về ảnh hưởng của làng nghề đúc đồng đến môi trường 71 Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 9

2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ

ĐÚC ĐỒNG Ở THÀNH PHỐ HUẾ 73

2.4.1 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn 73

2.4.2 Đánh giá những kết quả đạt được và hạn chế 75

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁT PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ 78

3.1 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ PHÁT TRIỂN CỦA LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TẠI THÀNH PHỐ HUẾ 78

3.1.1 Về vốn và công nghệ 78

3.1.2 Về thị trường tiêu thụ 78

3.1.3 Về nguồn lao động 79

3.1.4 Về hình thức sở hữu và loại hình sản xuất 79

3.1.5 Về chính sách thuế và các chính sách hỗ trợ đối với sự phát triển đúc đồng của các cấp chính quyền 80

3.1.6 Về vấn đề ô nhiễm môi trường 80

3.1.7 Công tác giới thiệu, quảng bá sản phẩm 81

3.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ 81

3.2.1 Định hướng quan điểm phát triển làng nghề và làng nghề đúc đồng truyền thống 81

3.2.2 Mục tiêu phát triển làng nghề đúc đồng truyền thống 83

3.3 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ 84

3.3.1 Giải pháp chung 85

3.3.2 Giải pháp cụ thể 89

PHẦN 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Nhóm ngành hoạt động làng nghề 9

Bảng 1.2: Các chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu luận văn 22

Bảng 2.1: Dân số và lao động trên địa bàn Thành phố Huế 32

Bảng 2.2: Quy mô và cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế ở Thành phố Huế giai đoạn 2012 - 2014 33

Bảng 2.3: Chỉ tiêu kinh tế - xã hội - môi trường của Thành phố Huế giai đoạn 2012 - 2014 34

Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội Thành phố Huế đạt được năm 2015 35

Bảng 2.5: Sự phân bố làng nghề đúc đồng truyền thống trên địa bàn Thành phố Huế năm 2015 41

Bảng 2.6: Số lượng sản phẩm kinh doanh của làng nghề đúc đồng trên địa bàn Thành phố Huế 42

Bảng 2.7: Vốn đầu tư trang thiết bị sản xuất làng nghề đúc đồng trên địa bàn Thành phố Huế giai đoạn 2013 - 2015 43

Bảng 2.8: Tình hình nguồn vốn, vốn vay của làng nghề đúc đồng trên địa bàn Thành phố Huế giai đoạn 2013 - 2015 44

Bảng 2.9: Tình hình nguồn lao động của làng nghề đúc đồng trên địa bàn Thành phố Huế giai đoạn 2013 - 2015 46

Bảng 2.10: Tình hình giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động ở các cơ sở đúc đồng trên địa bàn Thành phố Huế 2013 - 2015 48

Bảng 2.11: Kết quả kinh doanh của 61 cơ sở đúc đồng trên địa bàn Thành phố Huế năm 2015 50

Bảng 2.13: Đặc điểm của chủ đơn vị điều tra 53

Bảng 2.14: Trình độ văn hóa, chuyên môn của chủ đơn vị điều tra 54

Bảng 2.15: Lao động của 50 cơ sở điều tra 55

Bảng 2.16: Cơ cấu lao động chính của các cơ sở điều tra năm 2015 56

Bảng 2.17: Tình hình hoạt động của 50 cơ sở đúc đồng Thành phố Huế 57 Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 11

Bảng 2.18: Tình hình vốn SXKD của 50 cơ sở điều tra 58Bảng 2.19: Vốn và cơ cấu sử dụng vốn của các cơ sở SXKD năm 2015 59Bảng 2.20: Tình hình trang thiết bị và cơ sở vật chất hạ tầng của các cơ sở điều tra

năm 2015 61Bảng 2.21: Tình hình cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất đúc đồng của các cơ sở

điều tra năm 2015 62Bảng 2.22: Ảnh hưởng của vốn SXKD đến thu nhập của 50 cơ sở sản xuất đúc đồng

năm 2015 64Bảng 2.23: Ảnh hưởng của lao động đến thu nhập của 50 cơ sở sản xuất đúc đồng

năm 2015 65Bảng 2.24: Hồi quy ước lượng hàm sản xuất các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập

hỗn hợp của cơ sở sản xuất 66Bảng 2.25: Tình hình tiêu thụ sản phẩm đúc đồng năm 2015 70Bảng 2.26: Ý kiến đánh giá của người dân về môi trường của làng nghề đúc đồng

Thành phố Huế 71Bảng 2.27: Ý kiến đánh giá của 50 cơ sở về mức độ xử lý những chất gây ra ô

nhiễm tại Thành phố Huế 72

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 13

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ chủng loại sản phẩm 68

Sơ đồ 2.2: Kênh tiêu thụ sản phẩm 69

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Làng nghề truyền thống (LNTT) là loại hình sản xuất có mặt hầu hết ở mọiđịa phương, gắn bó và có vai trò rất quan trọng trong đời sống sinh hoạt, lao độngcủa người dân Làng nghề đã góp phần vào sự phát triển của kinh tế - xã hội (KT -XH), giải quyết việc làm cho nhiều lao động, sản xuất ra nhiều sản phẩm có giá trị.Những năm gần đây, làng nghề với các lĩnh vực hoạt động đã được khơi dậy và đónggóp tích cực vào mức tăng trưởng của nền kinh tế, trong đó phải kể đến sự đóng gópcủa hoạt động ngành nghề ở khu vực nông thôn

Hòa trong dòng chảy chung của cả nước, Thành phố Huế đã và đang triển khaimục tiêu xây dựng Thành phố Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương theo

hướng “Di sản, văn hóa, sinh thái, cảnh quan, thân thiện với môi trường” Với xu

thế đó, trong những năm qua, tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và Thành phố Huế nóiriêng do tập trung đầu tư, đổi mới nền KT - XH của tỉnh, thành phố đã chuyển đổitheo hướng tích cực, tốc độ tăng trưởng kinh tế đã tăng dần qua các năm Tuy vậy,trong thực tế lĩnh vực kinh tế vẫn còn nhiều hạn chế, quy mô nền kinh tế vẫn cònnhỏ; tốc độ tăng trưởng vẫn còn thấp; năng suất, chất lượng hiệu quả và sức cạnhtranh chưa cao Ngành du lịch - dịch vụ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng thếmạnh, ngành nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (TTCN) còn phát triển chậm,hoạt động làng nghề, nghề truyền thống còn nhiều mặt hạn chế

Quá trình đô thị hóa nông thôn ở Thành phố Huế đã dẫn đến những hệ quảtất yếu, ảnh hưởng đến phát triển của LNTT, đó là sự biến mất của nhiều làngnghề hoặc có làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một, có làng nghề vẫn tồntại nhưng phải thay đổi cơ bản về quy trình sản xuất, mẫu mã Làng nghề đúcđồng Phường Đúc, phường Thủy Xuân thuộc Thành phố Huế cũng không nằmngoài hệ lụy đó, mặc dù với lịch sử hơn 500 năm hình thành và phát triển, phường

có tới hơn 60 lò đúc với khoảng hơn 200 người làm nghề này

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

Ngoài các sản phẩm thông thường như đúc Đại hồng chung (chuông đồng cỡlớn), lư hương, các mặt hàng mỹ nghệ, các cơ sở đúc đồng ở Phường đúc còn có thểsản xuất những chi tiết máy dùng trong công nghiệp và những linh kiện có tínhchính xác cao Các sản phẩm đồng mỹ nghệ, từ khâu lên khuôn, nung chảy và rótđồng đều chủ yếu bằng tay, làng nghề có những nghệ nhân với đôi tay tài hoa,những kĩ năng, kĩ xảo để làm nên những chiếc chuông, chiêng rộn rã âm thanh.

Tuy nhiên, hoạt động sản xuất - kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN)

và làng nghề trên địa bàn Thành phố Huế còn yếu, chưa tạo được những chuyểnbiến lớn nhằm tăng tốc sự phát triển của ngành, giá trị sản xuất (GTSX) vẫn chưacao so với các tỉnh, thành phố khác Số lượng cơ sở làm hàng lưu niệm, hàng đúcđồng vẫn chưa nhiều, phần lớn các đơn vị chỉ duy trì sản xuất ở quy mô nhỏ, mẫu

mã chưa phong phú, chưa đáp ứng tốt thị hiếu khách tiêu dùng, năng suất thấp, giátrị lao động thủ công trong một đơn vị sản phẩm còn quá lớn nên giá thành cao, bao

bì thẩm mỹ kém, công tác tuyên truyền, tiếp thị quảng cáo ít được chú trọng, trình

độ quản lý của chủ cơ sở còn hạn chế

Trong các làng nghề thủ công truyền thống (TCTT), làng nghề đúc đồng làmột trong những nhóm ngành có thế mạnh xuất khẩu Huế là thành phố du lịch nên

có thể tận dụng ưu thế này để xuất khẩu tại chỗ thông qua các cửa hàng bán hànglưu niệm, tổ chức các siêu thị hàng TCMN đúc đồng, tổ chức các làng nghề mangtính biểu diễn thu hút khách du lịch và có thể bán hàng trực tiếp Thị trường tiêu thụ

có điều kiện để phát triển, nhưng sản phẩm hàng lưu niệm tại địa phương lại khôngphong phú, thua kém so với các tỉnh khác như Thanh Hóa (làng Trà Đông), BắcNinh (làng nghề Đại Bái)… Đối với thị trường xuất khẩu trực tiếp, Huế vẫn chưakhai thác được do sản phẩm chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường thế giới,thua kém trong cạnh tranh về mẫu mã sản phẩm, giá thành, kinh nghiệm thươngtrường, chưa có các thương nhân lớn hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh hàng đúcđồng truyền thống Trước những vấn đề trên, yêu cầu được đặt ra là làm thế nào đểlàng nghề đúc đồng truyền thống ở Huế (chủ yếu Phường Đúc, phường Thủy Xuân)tồn tại và phát triển trong cơ chế cạnh tranh khốc liệt của thị trường mà vẫn giữđược những nét văn hóa truyền thống lâu đời

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 16

Yêu cầu được đặt ra là làm thế nào để phát huy tiềm năng của làng nghề đúcđồng trên địa bàn Thành phố Huế Đây là yêu cầu vừa cấp thiết, vừa lâu dài cầnđược nghiên cứu nhằm tìm ra những căn cứ lý luận và thực trạng làm cơ sở cho việc

đề xuất các giải pháp phát triển phù hợp Xuất phát từ đó, tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp phát triển làng nghề đúc đồng truyền thống trên địa bàn Thành phố Huế.” làm luận văn thạc sỹ kinh tế của mình.

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2.1 M ục tiêu chung

Luận văn tập trung đánh giá thực trạng phát triển làng nghề đúc đồng truyềnthống trên địa bàn Thành phố Huế, nhận định kết quả đạt được, những hạn chếnguyên nhân để có giải pháp nhằm phát triển làng nghề, làng nghề đúc đồng truyềnthống của Thành phố

2.2 M ục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về lý luận làng nghề, ngành nghề đúcđồng truyền thống và thực tiễn phát triển làng nghề, ngành nghề đúc đồng truyềnthống ở Việt Nam

- Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề đúc đồng truyền thống trên địabàn Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2013 đến năm 2015

- Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển ngành nghề và làng nghề đúcđồng bền vững trên địa bàn Thành phố Huế trong thời gian tới

3 ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phát triển làng nghề đúc đồng truyềnthống; hoạt động sản xuất nghề đúc đồng của các cơ sở trong làng nghề đúc đồngtrên địa bàn Thành phố Huế; tỉnh Thừa Thiên Huế

3.2 Ph ạm vi nghiên cứu

a Về nội dung:

Lý luận về làng nghề đúc đồng và thực tiễn

Tình hình phát triển làng nghề đúc đồng ở Thành phố Huế

Tình hình sản xuất, kinh doanh và xã hội ở địa bàn nghiên cứu

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 17

b Về không gian:

Đề tài nghiên cứu ngành nghề đúc đồng, làng nghề đúc đồng truyền thốngthuộc 2 phường, Phường Đúc và phường Thủy Xuân trên địa bàn Thành phố Huế,tỉnh Thừa Thiên Huế

c Về thời gian:

Đánh giá thực trạng qua số liệu thứ cấp từ năm 2013 - 2015

Số liệu điều tra sơ cấp năm 2015

Giải pháp đề xuất đến năm 2020

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Phương pháp tiếp cận

Quá trình phát triển của một hiện tượng KT - XH nói chung và các ngànhnghề tiểu thủ công nói riêng chịu tác động bởi nhiều yếu tố Mặt khác, nó còn chịuảnh hưởng rất lớn của các chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước Giữacác yếu tố đó lại có mối quan hệ tác động hỗ trợ lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng pháttriển đồng thời được xem xét và đánh giá dựa trên cơ sở của phương pháp biệnchứng duy vật lịch sử Do đó, biện pháp chung được sử dụng trong nghiên cứu của

đề tài này cũng chính là phương pháp biện chứng duy vật lịch sử

Phương pháp biện chứng duy vật lịch sử là một phương pháp tốt trong nhậnthức bản chất của các sự vật, hiện tượng trong KT - XH Phương pháp này còn chophép chúng ta nghiên cứu hiện tượng không phải trong trạng thái riêng lẻ, cô lập màphải đặt chúng trong tổng hòa của các mối quan hệ hữu cơ với nhau, trong sự biếnđổi từ chất đến lượng, từ thấp đến cao, từ quá khứ đến hiện tại và đánh giá sự vậttrong trạng thái động

4.2 Phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Phương pháp điều tra, tổng hợp và phân tích số liệu

Việc tiến hành khảo điều tra thu thập số liệu phục vụ cho thực hiện luận vănđược tiến hành đồng thời ở hai cấp độ, có tính chất hỗ trợ và bổ sung cho nhautrong quá trình nghiên cứu [15]

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 18

Cấp độ thứ nhất là khảo sát các nguồn tài liệu thứ cấp, bao gồm:

1 Xem xét các văn bản, chính sách, các báo cáo tổng kết và các nguồn sốliệu thống kê từ niên giám thống kê, số liệu từ Phòng Kinh tế, Niên giám các báocáo quy hoạch, phát triển công nghiệp - TTCN, phát triển làng nghề đúc đồngtruyền thống về kết quả và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của các

hộ gia đình có tham gia sản xuất đúc đồng ở địa bàn Thành phố Huế

2 Tổng kết các tư liệu nghiên cứu hiện có về ngành nghề đúc đồng ở Châu

Á, ở Việt Nam, ở miền Trung được đăng tải trên các báo, tạp chí, mạng Internet, kể

cả các báo cáo tổng kết hội nghị, hội thảo, kết quả các đợt phỏng vấn v.v…

3 Thu nhận ý kiến từ các nhà quản lý tại địa phương được điều tra số liệu

Cấp độ thứ hai giữ vai trò quan trọng nhất là số liệu sơ cấp điều tra tại

Phường Đúc và phường Thủy Xuân thuộc Thành phố Huế, thông qua phiếu điều trađược soạn sẵn theo yêu cầu của đề tài (phiếu điều tra được đính kèm ở phần phụlục) Những thông tin cần thu thập từ các đơn vị điều tra: các yếu tố đầu vào, kếtquả và hiệu quả sản xuất, quy trình sản xuất, lực lượng lao động, trình độ ngườiquản lý, thị trường tiêu thụ sản phẩm v.v… Sau một quá trình nghiên cứu, trao đổi ýkiến với lãnh đạo Phòng Kinh tế Thành phố Huế, các nghệ nhân và các lao độngchính có kinh nghiệm trong ngành, các đơn vị đã nhiều năm kinh nghiệm SXKDtrong làng nghề đúc đồng truyền thống cũng như sự quan sát chủ quan của mình,chúng tôi quyết định tập trung điều tra, nghiên cứu làng nghề đúc đồng truyền thống

cụ thể: 50 trong tổng số 61 cơ sở sản xuất Phương pháp điều tra số liệu là tiếp cậntrực tiếp với các hộ gia đình trên địa bàn, sau đó tiến hành phỏng vấn và lấy thôngtin cần thiết có sẵn theo phiếu điều tra

Sau khi thu thập số liệu thứ cấp, sơ cấp, chúng tôi tiến hành tổng hợp theocác tiêu chí, chỉ tiêu và sử dụng các công cụ hỗ trợ Excel và SPSS để đánh giáphân tích

4.2.2 Phương pháp toán kinh tế

Phương pháp này được áp dụng trong nghiên cứu của luận văn là dạng hàmsản xuất Cobb - Douglas Hàm có dạng tổng quát như sau:

Q = f ( K, L, Z )Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 19

Trong đó: - Q là thu nhập hỗn hợp của chủ cơ sở sản xuất

- L là số lao động

- K là vốn sản xuất

- EDU là thời gian đi học và đào tạo chuyên môn

- EXP là kinh nghiệm của cơ sở sản xuất

4.2.3 Phương pháp chuyên gia và chuyên khảo

Để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như các vấn đề về kinh tế; kỹthuật phức tạp, trong quá trình thực hiện đề tài tôi còn sử dụng phương pháp thuthập thông tin từ các chuyên gia; chuyên viên; các nhà quản lý; các nhà kỹ thuật củachính các hộ gia đình hoặc các chuyên viên Sở NN&PTNT để rút ra những kết luận

có tính thực tiễn cao, có căn cứ khoa học, từ đó có đề xuất phù hợp với thực tiễn củađịa phương

5 KẾT CẤU LUẬN VĂN

Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, kếtcấu của Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển làng nghề đúc

đồng truyền thống

Chương 2: Thực trạng phát triển làng nghề đúc đồng truyền thống trên địa bàn

Thành phố Huế

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển làng nghề đúc đồng truyền

thống trên địa bàn Thành phố Huế

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN

LÀNG NGHỀ, LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG

1.1 KHÁI QUÁT VỀ LÀNG NGHỀ, LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG

1.1.1 Khái niệm về làng nghề và làng nghề đúc đồng truyền thống

1.1.1.1 Làng

Trong lịch sử hình thành và phát triển, đến nay Việt Nam vẫn là một nướcnông nghiệp Do vậy, làng, xã có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất cũng nhưđời sống của cư dân Làng, xã Việt Nam phát triển từ lâu đời, gắn bó với nôngnghiệp và kinh tế nông thôn Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học:

“Làng là một khối dân cư nông thôn làm thành một đơn vị, có đời sống riêng vềnhiều mặt” [20]

Theo tác giả Bùi Xuân Đính: “ Làng là một từ Nôm (từ Việt cổ) dùng để chỉđơn vị tụ cư truyền thống của người Việt ở nông thôn, có địa vực riêng (địa giới xácđịnh); cấu trúc vật chất riêng (đường làng, ngõ xóm, các công trình thờ cúng); cơcấu tổ chức, lệ tục, tiếng nói của làng riêng (thể hiện ở âm hay giọng); tính cáchriêng, hoàn chỉnh và tương đối ổn định qua quá trình lịch sử ” [20]

1.1.1.2 Ngh ề

Theo Từ điển tiếng Việt: “Nghề là công việc làm theo sự phân công lao độngcủa xã hội hay nghề khái niệm chỉ hoạt động SXKD” [5] Từ khái niệm trên có thểhiểu, nghề chính là sự chuyên môn hóa về một lĩnh vực nhất định, có thể sản xuấtcác sản phẩm theo chất liệu khác nhau và kinh doanh các mặt hàng đó trên thịtrường nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng ở mọi thời đại

Theo quan điểm chung, các hoạt động sản xuất TTCN ở địa phương nào đóđược gọi là nghề khi nào phải tạo ra được một khối lượng sản phẩm chiếm lĩnh thịTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 21

trường thường xuyên và những người sản xuất, hoặc cơ sở sản xuất đó lấy nghềđang hành làm nguồn thu chủ yếu thì mới được xem là có nghề.

1.1.1.3 Khái ni ệm và phân loại làng nghề

“Làng nghề thủ công là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ cácnghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu đời, có

sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thốngdoanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng Tổ nghề, và các thành viên luôn ý thức tuân thủnhững ước chế xã hội và gia tộc Sự liên kết hỗ trợ nhau về nghề, kinh tế, kỹ thuật,đào tạo thợ trẻ giữa các gia đình cùng dòng tộc, cùng phường nghề trong quá trìnhlịch sử hình thành, phát triển nghề nghiệp đã hình thành làng nghề ngay trên đơn vị

cư trú, làng xóm truyền thống của họ” [30]

Theo Dương Bá Phượng, làng nghề là một thiết chế gồm hai bộ phận cấu thành là

“làng” và “nghề”… Là làng ở nông thôn có một (hoặc một số) nghề thủ công nghiệptách hẳn ra khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập [13] Bách khoa toàn thư Việt Namthì khái quát: “Làng nghề là những làng sống bằng hoặc chủ yếu nghề thủ công ở nôngthôn Việt Nam” [7]

Theo Thông tư số 116/2006/TT - Bộ NN&PTNT ngày 18/2/2000 về việc:Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ - CP ngày07/7/2006 của Chính phủ về phát triển NNNT, định nghĩa: “Làng nghề là một cụmhoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản , làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân

cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động NNNT, sản xuất ra mộthoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”

Cũng theo Thông tư trên, “Được coi là làng nghề, nếu các hộ gia đình laođộng trong làng làm nghề tối thiểu chiến từ 30% trở lên; hoạt động SXKD ổn địnhtối thiểu 2 năm tính đến thời điểm công nhận”

Như vậy, làng nghề là một thiết chế gồm hai yếu tố cấu thành là làng và nghề.Trong đó nghề trong làng đã tách ra khỏi sản xuất nông nghiệp thành ngành kinhdoanh độc lập nên đã phù hợp với điều kiện mới Đồng thời trong cơ cấu kinh tế củalàng còn có các hoạt động phi nông nghiệp khác Quá trình chuyên môn hóa trong sảnTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 22

xuất của làng nghề cũng như sự phân công lao động trong các làng nghề đã làm xuấthiện các ngành dịch vụ đi kèm, từ đó đã xuất hiện các làng nghề buôn bán dịch vụ.Tuy nhiên, không phải bất cứ quy mô nào của nghề cũng được gọi là làng nghề Làngđược là làng nghề khi các hoạt động của ngành nghề phi nông nghiệp đạt đến quy mônào đó mang tính ổn định Vì vậy, khái niệm làng nghề phải thể hiện được cả địnhtính và định lượng.

Căn cứ vào tiêu chí, mục tiêu khác nhau mà có những cách phân loại làngnghề khác nhau Phân loại làng nghề theo số lượng và thời gian, làm nghề gồm cólàng một nghề, làng nhiều nghề, LNTT và làng nghề mới

Mỗi cách phân loại trên có những đặc thù riêng và tùy theo mục đích mà cóthể lựa chọn cách phân loại phù hợp Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sảnxuất, sản phẩm, thị trường NVL và tiêu thụ sản phẩm thì nước ta gồm 6 nhómngành hoạt động làng nghề

Bảng 1.1: Nhóm ngành hoạt động làng nghề

1 Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ 20

3 Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá 5

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn [19]

Như vậy, các tiêu chí để phân loại làng nghề chỉ mang tính tương đối, đanxen, bao hàm lẫn nhau, làng nghề TCMN đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với làngnghề TCTT, làng nghề TCMN là làng nghề TCTT trong đó TCMN là nghề chínhhoặc chiếm ưu thế so với các nghề chủ công khác

1.1.1.4 Khái ni ệm làng nghề đúc đồng truyền thống

Làng nghề đúc đồng truyền thống là một bộ phận quan trọng của LNTT nóiriêng, và của nền kinh tế đất nước nói chung Trong làng nghề đúc đồng truyềnTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 23

thống thường có đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền hoặc một vài dòng họchuyên làm nghề theo kiểu cha truyền con nối, nghĩa là việc dạy nghề được thựchiện bằng phương pháp truyền nghề Song sự truyền nghề này luôn có sự tiếp thucải tiến, sáng tạo làm cho sản phẩm của mình có những nét độc đáo riêng so với sảnphẩm của người khác, làng khác.

Qua khái niệm nghề và làng nghề được trình bày ở trên thì làng nghề đúcđồng truyền thống trước hết là làng nghề được tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch

sử, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ giađình chuyên làm nghề đúc đồng truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợnhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thànhviên luôn ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc

1.1.2 Phát triển làng nghề truyền thống

1.1.2.1 Khái ni ệm phát triển làng nghề truyền thống

Phát triển là sự chuyển biến từ trạng thái thấp sang trạng thái cao hơn, vớitrình độ và chất lượng cao hơn Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặtcủa nền kinh tế trong một giai đoạn nhất định, bao gồm cả sự tăng lên về lượng và

sự thay đổi tiến bộ về chất Nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiệncủa hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia Phát triển là một quá trình lâu dài

và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định, khái quát thông qua sự gia tăngcủa tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân đầungười, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế và sự biến đổi ngày càng tốthơn các vấn đề xã hội

Do vậy, phát triển làng nghề là sự tăng lên về cả số lượng, chất lượng, cơ cấu

tổ chức của làng nghề từ mức độ thấp lên đến mức độ cao thể hiện ở việc mở rộng

về quy mô sản xuất, sự gia tăng về mức đóng góp nhân sách và thu thập bình quânđầu người, việc đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường làng nghề

1.1.2.2 Tiêu chí đánh giá phát triển làng nghề truyền thống

Phát triển làng nghề được thể hiện trong Quyết định số 153/2004/QĐ-TTgngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ với nội dung “Định hướng chiến lược phátTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 24

triển bền vững ở Việt Nam” và chỉ rõ “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăngtrưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”.Phát triển làng nghề biểu hiện về phát triển số lượng làng nghề, về quy mô làng nghề

và cơ cấu sản phẩm làng nghề dựa trên đặc thủ của từng làng nghề Đối với làng nghềTCMN, việc đánh giá sự phát triển thể hiện ở một số nội dung sau: [8]

+ Các tiêu chí về lĩnh vực kinh tế: Quy mô sản xuất (doanh thu bình quân);trình độ công nghệ; quy mô nguồn nhiên liệu; hoạt động thương mại (các kênh tiêuthụ); hoạt động du lịch

+ Các tiêu chí về lĩnh vực xã hội: Số việc làm; hình thức tham gia nghề; thunhập của người lao động; đào tạo cho người lao động; an toàn lao động

+ Các tiêu chí về môi trường: Các chỉ tiêu kỹ thuật; nhận thức của người dân

về ô nhiễm môi trường

1.2 VAI TRÒ CỦA NGÀNH NGHỀ ĐÚC ĐỒNG VÀ LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN

1.2.1 Giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống lâu đời, độc đáo của từng địa phương

Giá trị văn hóa của LNTT thể hiện qua sản phẩm, cơ cấu của làng, lối sống,phong tục tập quán của cộng đồng Những sản phẩm TCTT hầu hết là những sảnphẩm hàng hóa mang tính nghệ thuật, nó là sản phẩm văn hóa vật thể vừa chứađựng những giá trị văn hóa phi vật thể Những sản phẩm thủ công thể hiện sự ứng

xử của con người trước nguyên liệu, trước thiên nhiên Từ nguyên liệu thô sơ, quabàn tay tài hoa, tâm huyết của người thợ đã thở thành những sản phẩm xinh xắn,duyên dáng vì sản phẩm là nơi gửi gắm tâm hồn, tài năng, thể hiện khiếu thẩm mỹlao động, sự thông minh sáng tạo, tinh thần lao động của người thợ - nghệ nhân.Mỗi làng nghề thực sự là một địa chỉ văn hóa, phản ánh nét văn hóa độc đáo củatừng địa phương, từng vùng LNTT từ lâu đã trở thành một bộ phận hữu cơ khôngthể thiếu của văn hóa dân gian Những giá trị văn hóa chứa đựng trong các LNTT

đã tạo nên những nét riêng độc đáo đa dạng nhưng cũng mang bản sắc chung củavăn hóa dân tộc Việt Nam Làng nghề là nơi cộng đồng dân cư có lối sống vănTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 25

hóa: sống yêu lao động; sống cần cù, giản dị, tiết kiệm; sống đùm bọc, giúp nhaucùng rèn luyện tay nghề.

1.2.2 Góp phần giải quyết việc làm

Làng nghề Việt Nam hàng năm góp phần giải quyết số lượng lớn lao độngnông thôn nhàn rỗi Lao động ở khu vực nông thôn hiện nay đang chiếm một tỉ lệrất lớn trong tổng số lao động của cả nước Phát triển làng nghề giải quyết đượcviệc làm tại chỗ cho người lao động, thể hiện được chủ trương lớn của Đảng và Nhànước là xoá đói giảm nghèo, tạo cơ hội làm giàu ngay tại địa phương Thu hút đượcmột lực lượng lớn lao động dôi dư và lao động thời vụ tại các địa phương, góp phầnlàm giảm bớt thời gian lao động nông nhàn không những ở gia đình mình làng xómmình mà còn thu hút lao động ở các địa phương khác, do đó góp phần giải quyết laođộng dư thừa trên diện rộng

Làng nghề TCTT ngoài việc tạo việc làm cho người tại chỗ, còn cung cấpviệc làm cho một số người làm dịch vụ cung cấp nguyên liệu, dịch vụ hoàn chỉnh vàdịch vụ tiêu thụ sản phẩm

1.2.3 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa

Mục tiêu cơ bản của CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn là tạo ra một cơcấu kinh tế mới phù hợp và hiện đại ở nông thôn Trong quá trình vận động và pháttriển các làng nghề đã có vai trò tích cực trong việc tăng trưởng tỷ trọng của côngnghiệp, TTCN và du lịch dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng của nông nghiệp Sự phát triểnlan toả của làng nghề đã mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất, thu hút nhiều laođộng đồng thời nó còn đóng vai trò tích cực trong việc thay đổi tập quán sản xuất từsản xuất nhỏ, độc canh, mang tính tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá, hoặc tiếpnhận công nghệ mới làng thuần nông

Sự phát triển của các làng nghề trong những năm qua đã thực sự góp phầnthúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng cơ cấungành công nghiệp dịch vụ, giảm cơ cấu ngành nông lâm ngư nghiệp, góp phần

bố trí lực lượng lao động hợp lý theo hướng "ly nông bất ly hương" Đặc biệt, sựphát triển của những làng nghề mới đã phá thế thuần nông, tạo đà cho côngnghiệp phát triển, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở nông thôn

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 26

1.2.4 Góp phần tạo ra nguồn sản phẩm phong phú cho xã hội, hướng vào xuất khẩu trực tiếp góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước

Hoạt động của các làng nghề đã tạo ra một khối lượng hàng hoá đa dạng vàphong phú, phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đóng góp cho nền kinh

tế quốc dân nói chung và cho từng địa phương nói riêng, là nhân tố quan trọng thúcđẩy phát triển hàng hoá ở nông thôn Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam

là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và các nước đang phát triển Châu Á Đây là yếu

tố thuận lợi để Việt Nam đẩy mạnh công tác xuất khẩu của mình để góp phần vào

sự tăng trưởng chung của kinh tế đất nước Tầm nhìn chiến lược phát triển ngànhTCMN đến năm 2020 của Việt Nam là xây dựng, tổ chức chặt chẽ và hợp tác hiệuquả giữa các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu hàng TCMN Mục tiêu quan trọngtrong chiến lược xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn này là chuyển dịch cơ cấu xuấtkhẩu theo hướng đầy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao Trong

đó nhóm hàng TCMN được xem là nhóm có nhiều tiềm năng và lợi thế xuất khẩu

1.2.5 Góp phần phát triển theo hướng liên kết cùng ngành du lịch

Hệ thống làng nghề là một trong những nguồn tài nguyên du lịch quan trọngcủa nước ta Phát triển du lịch làng nghề không chỉ mang lại lợi nhuận kinh tế màcòn là cơ hội để quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam Ngoài nhữnglợi thế như cảnh quan thiên nhiên, vị trí địa lý, nét văn hóa đặc sắc, các làng nghềTCMN còn có sức hút đặc biệt bởi mỗi làng thường gắn với một vùng văn hóa haymột hệ thống di tích Chính điều này đã tạo nên sức hấp dẫn riêng của các làngnghề, PGS.TS Phạm Trung Lương, Viện nghiên cứu phát triển du lịch làng nghềnhận định: “LNTT được xem như một dạng tài nguyên du lịch nhân văn có ý nghĩađặc biệt quan trọng Bởi các sản phẩm du lịch làng nghề luôn bao hàm trong nó có

cả những giá trị vật thể và phi vật thể” [1]

Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, du lịch cơ bảntrở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất

kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng,

có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nướctrong khu vực và thế giới Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia cóTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 27

ngành du lịch phát triển Năm 2015, Việt Nam đón 7 - 7,5 triệu lượt khách du lịchquốc tế và 36 - 37 triệu lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 10 -

11 tỷ USD, đóng góp 5,5 - 6% vào GDP cả nước

Du lịch làng nghề, tức vừa làm du lịch vừa sản xuất làng nghề, xuất khẩu tạichỗ các sản phẩm làng nghề, nên hiệu quả kinh tế cao hơn Do đó, có thể thấy rằngphát triển thị trường hàng TCMN phục vụ khách du lịch có ý nghĩa đặc biệt quantrọng “Chương trình hành động Hà Nội” tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN đã đưa

ra sáng kiến “Hành lang Đông Tây”, đó là phát triển các làng nghề dọc hành langĐông - Tây nhằm tăng cường hợp tác kinh tế giữa các nước: Campuchia, Lào,Myanmar, Việt Nam và Thái Lan Đây được xem là một phương pháp góp phần cảithiện mức sống và tạo việc làm cho người dân địa phương

1.2.6 Góp phần phát triển khối doanh nghiệp, định hình nên một đội ngũ thương nhân mới

Doanh nghiệp là một nhân tố hết sức quan trọng trong tiến trình hội nhậpkinh tế quốc tế, nhất là khi VN chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thươngmại thế giới Hiện nay, hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh phổ biến trong cácLNTT là hộ gia đình Mô hình này hạn chế rất nhiều đến khả năng phát triển, mỗigia đình không đủ sức nhận hợp đồng lớn, không mạnh dạn cải tiến sản phẩm,không đủ tầm để định hướng phát triển và vạch ra chiến lược kinh doanh Cácdoanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần được phát triển từ một số tổchức sản xuất hoặc một số hộ gia đình sản xuất - kinh doanh khá đã bắt đầu hìnhthành ở nhiều làng nghề Hình thức tổ chức này tuy chưa chiếm tỷ trọng lớn ở một

số làng nghề hiện nay nhưng lại đóng vai trò trung tâm liên kết mà các hộ gia đình

là các vệ tinh, thực hiện các hợp đồng đặt hàng với các hộ gia đình, giải quyết đầuvào, đầu ra của các làng nghề với các thị trường tiêu thụ khác nhau

Như vậy, đội ngũ doanh nghiệp đóng vai trò động lực thúc đẩy sự phát triển

từ bên trong các làng nghề Bên cạnh quá trình tự thân vận động của chính cácdoanh nghiệp, cần có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, chính quyền địa phương để cácnghệ nhân, thợ cả, nghệ sỹ tạo hình đang hoạt động trong ngành nghề TCMN cóđiều kiện phát huy năng lực vươn lên thành các doanh nghiệp giỏi Chính khả năngTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 28

nghề nghiệp của họ cộng với năng lực tổ chức, quản lý sản xuất và tài năng kinhdoanh của các nhà doanh nghiệp trong ngành TCMN đã tạo nên sức sống mới củanhiều LNTT hiện nay trên toàn quốc, không ít nghệ nhân, doanh nghiệp TCMN đãtrở thành tỷ phú, tạo cơ hội có công ăn việc làm ổn định cho nhiều người lao động ởkhu vực nông thôn và thành thị, góp phần tích cực, có hiệu quả vào công cuộc pháttriển kinh tế và ổn định xã hội.

1.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG 1.3.1 Tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp

Làng nghề Việt Nam có lịch sử lâu đời, phát triển đa dạng, phong phú, mangbản sắc văn hóa của làng Việt Vì vậy, sự ra đời và phát triển của làng nghề khôngtách rời sự phát triển, phong tục, tập quán, văn hóa, tư duy của làng xã nông thônViệt Nam

Các làng nghề đúc đồng truyền thống ở nước ta đều ra đời và tách dần từ nôngnghiệp Ban đầu, người lao động ở nông thôn do nhu cầu cuộc sống và việc làm đãlàm một số nghề thủ công bên cạnh nghề nông Khi lực lượng sản xuất phát triển,nghề đúc đồng tách ra nghề độc lập, vươn lên thành một nghề chính trong làng Song

để đảm bảo cuộc sống, người dân thường làm thêm nghề nông, buôn bán hay làmthêm nhiều nghề khác Sự kết hợp đa nghề thường thể hiện trong một làng hay giađình Bởi người thợ thủ công cũng chính là người làm nông nghiệp Do vậy, nhữngđặc tính của người nông dân đều được thể hiện trong đặc tính của người thợ thủ công,mang những nét văn hóa làng xã

1.3.2 Sản phẩm làng nghề đúc đồng truyền thống có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sặc văn hóa dân tộc

Các sản phẩm làng nghề đúc đồng truyền thống vừa có giá trị sử dụng, vừa

có giá trị thẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa

là vật trang trí trong nhà, đền chùa, công sở Nhà nước Các sản phẩm đều là sự kếtgiao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật Tất cả đềumang vóc dáng dân tộc, quê hương, chứa đựng ảnh hưởng về văn hoá tinh thần,quan niệm về nhân văn tín ngưỡng và tôn giáo của dân tộc

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 29

1.3.3 Làng nghề đúc đồng truyền thống là sản phẩm của tổ chức nông thôn truyền thống, theo địa bàn cư trú và có tính gia truyền

Làng nghề đúc đồng truyền thống nói riêng và làng nghề Việt Nam nóichung là kết quả của quá trình phát triển của xã hội loài người Làng xã Việt Nam

có tổ chức chặt chẽ Đó chính là môi trường sống, là tập thể cộng đồng chủ yếu củangười Việt Nam, là kết quả của nền nông nghiệp tự cấp, tự túc, ít nhu cầu trao đổihàng hóa, nền sản xuất nông nghiệp không phát triển Trong các làng nghề đúc đồngtruyền thống, các sản phẩm đúc đồng thường được sản xuất ngay trong làng, thậmchí ngay trong từng nhà ở những thời kỳ nông nhàn Nghề đúc đồng trong các làngnghề mang tính gia truyền, theo hình thức cha truyền con nối Mô hình đó, đến nayvẫn còn thích hợp với làng nghề này

1.3.4 Làng nghề đúc đồng truyền thống là một làng nghề đặc trưng của làng nghề truyền thống, ra đời trên cơ sở kỹ thuật thủ công truyền thống Gần đây

do tiến bộ khoa học - công nghệ, một số công đoạn được sử dụng máy móc

Ngành nghề đúc đồng truyền thống kết tinh những truyền thống, tinh hoa củadân tộc, tạo nên đặc thù phản ánh thói quen của nhân dân bao đời nay Nhưng chođến nay chủ yếu vẫn là kỹ thuật thủ công Trong đó, nổi bật là thói quen sử dụngnguyên liệu, công cụ lao động, tạo hình, trang trí hình ảnh, màu sắc và thể hiện tínhnăng, kỹ xảo trong các thao tác Sản phẩm đúc đồng truyền thống không phải sảnxuất hàng loạt, mà mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc dântộc, vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ Sản phẩm nhờ vào kỹ thuật khéoléo, tinh xảo của đôi bàn tay, vào đầu óc thẩm mỹ và sáng tạo của người thợ, của cácnghệ nhân Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, việc ứng dụngkhoa học - công nghệ mới vào nhiều công đoạn trong sản xuất đã giảm bớt đượclượng lao động thủ công, giản đơn Tuy nhiên, một số loại sản phẩm còn có một sốcông đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động thủ công tinhxảo Việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong các giađình từ đời này sang đời khác Sau hoà bình lặp lại, nhiều cơ sở quốc doanh và hợptác xã (HTX) làm nghề TCTT ra đời, làm cho phương thức truyền nghề và dạy nghề

đã có nhiều thay đổi, mang tính đa dạng và phong phú hơn

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 30

1.4 NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH NGHỀ ĐÚC ĐỒNG VÀ LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG 1.4.1 Sự biến động của thị trường

Sự tồn tại và phát triển của LNTT phụ thuộc rất lớn vào thị trường và sựbiến động của nó Sản xuất càng phát triển càng thể hiện rõ sự chi phối của quan

hệ cung - cầu và quy luật cạnh tranh Những làng nghề có khả năng thích ứng với

sự thay đổi của nhu cầu thị trường thường có tốc độ phát triển nhanh Đó là nhữnglàng nghề mà sản phẩm của nó có đủ sức cạnh tranh trên thị trường và luôn đổimới cho phù hợp với nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng của xã hội Điều này đượcchứng minh ở sự phát triển mạnh của một số LNTT Ngược lại một số làng nghềkhông phát triển được, ngày càng mai một, thậm chí có nguy cơ mất đi vì những

lý do: Không đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe của thị trường hoặc nhu cầucủa thị trường không cần đến loại sản phẩm đó nữa Như vậy, rõ ràng thị trường

và sự phát triển của thị trường đã tác động mạnh tới phương hướng phát triển,cách thức tổ chức sản xuất, cơ cấu sản phẩm, và là động lực thúc đẩy sản xuất củaLNTT phát triển Tuy nhiên, nếu thị trường không ổn định sẽ gây ra những khókhăn và bấp bênh cho sản xuất

1.4.2 Trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật

Công nghệ là nhân tố quan trọng chi phối các hoạt động sản xuất Trong cácLNTT bao giờ cũng có thợ cả, nghệ nhân có trình độ tay nghề cao, có kinh nghiệmsản xuất, tâm huyết với nghề, là những hạt nhân để duy trì những nét độc đáo củalàng nghề, đó là sự khác biệt của các sản phẩm làng nghề

Sự cạnh tranh trong cơ chế thị trường ngày càng gay gắt, sản phẩm sản xuất

ra chịu sự cạnh tranh về năng suất, chất lượng, giá cả cùng loại trong nước cũng nhưnhập khẩu Vì vậy, đòi hỏi các sản phẩm phải đa dạng, phong phú hơn, chất lượngđược nâng cao hơn Để được như vậy, các làng nghề phải không ngừng đổi mớitrang thiết bị, công nghệ tiên tiến và hoạt động SXKD Đặc biệt trong giai đoạn hộinhập kinh tế quốc tế như hiện nay, giao lưu thương mại mang tính toàn cầu thì việcứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ càng có tác động to lớn đến khả năngcạnh tranh, tăng năng suất lao động và chất lượng của sản phẩm

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 31

1.4.3 Kết cấu hạ tầng

Kết cấu hạ tầng bao gồm hệ thống các đường giao thông, điện, cấp thoátnước, bưu chính viễn thông Thực tế ngày càng thấy rõ LNTT chỉ có thể phát triểnmạnh ở những nơi có kết cấu hạ tầng đảm bảo và đồng bộ Đây là yếu tố có tácdụng tạo điều kiện, tiền đề cho sự ra đời và phát triển của các cơ sở sản xuất, tạođiều kiện khai thác và phát huy tiềm năng sẵn có của làng nghề Sự phát triển củayếu tố này đảm bảo vận chuyển và cung ứng NVL, tiêu thụ sản phẩm, mở rộnggiao lưu hàng hóa, đưa nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ mới vào sản xuất,đồng thời làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường Hệ thống thông tin liên lạc, bưuchính viễn thông đã giúp các doanh nghiệp nắm bắt thông tin thị trường để cónhững ứng xử kịp thời

1.4.4 Nguồn vốn cho phát triển sản xuất - kinh doanh

Nguồn vốn là nguồn lực quan trọng của quá trình SXKD Để đầu tư sản xuất,phát triển cơ sở sản xuất, đầu tư trang thiết bị, đổi mới công nghệ đều cần đếnnguồn vốn Số lượng vốn do nhu cầu quy mô, đặc điểm sản xuất sản phẩm của từngngành nghề Trước đây, vốn của các cơ sở sản xuất - kinh doanh trong các làngnghề rất nhỏ, thường là vốn tự có của từng gia đình hoặc vay mượn của bà con họhàng, láng giềng nên quy mô sản xuất không mở rộng được Ngày nay, trong điềukiện của nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt, nhu cầu về vốn rất lớn, đòi hỏicác cơ sở SXKD trong các làng nghề phải có đủ lượng vốn để đầu tư cải tiến côngnghệ, đưa thiết bị, máy móc tiên tiến vào một số khâu, công đoạn, nhằm nâng caonăng suất lao động, chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của thị trường, nângcao hiệu quả kinh doanh

1.4.5 Nguồn nguyên vật liệu phục vụ sản xuất

Đây là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất của cácLNTT Trong những giai đoạn trước đây, gần nguồn NVL được coi là một trongnhững điều kiện tạo nên sự hình thành và phát triển của LNTT Song hiện nay, vấn

đề này trở nên không quan trọng đối với sự phát triển của các làng nghề bởi việc hỗtrợ tích cực của các phương tiện giao thông và phương tiện kỹ thuật Tuy nhiên, vấnTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 32

đề khối lượng, chất lượng, chủng loại và khoảng cách của các nguồn NVL này vẫn

có những ảnh hưởng nhất định tới chất lượng và giá cả sản phẩm, hàng hóa sản xuất

ra Chất lượng sản phẩm tốt được bảo đảm, càng thu hút được người tiêu dùng vànâng cao được thị phần sản phẩm của các làng nghề trên thị trường

1.4.6 Số lượng và chất lượng đội ngũ lao động

Tại các làng nghề, những nghệ nhân, chủ cơ sở SXKD, thợ lành nghề có vaitrò đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển làng nghề Họ là nhữngngười truyền nghề, dạy nghề đồng thời là người sáng tạo ra các sản phẩm độc đáo,mang nét riêng của làng nghề Thực tế để tạo ra được những sản phẩm tinh xảo thìngoài năng khiếu bẩm sinh, người lao động cần trải qua một thời gian đào tạo lâudài, mà nhiều khi họ không đủ kiên nhẫn để theo đuổi đến cùng Bên cạnh đó, vớiphương thức đào tạo theo kiểu nghề truyền thống như hiện nay, những kỹ năng bíquyết nghề nghiệp nhiều khi chỉ truyền lại cho gia đình Chính điều này đã làm cho

số lượng thợ cả, nghệ nhân mới ngày càng hạn chế trong khi đó những nghệ nhân

cũ ngày càng mất đi, như vậy những tinh hoa của làng nghề ngày càng bị mai một

Ngày nay, việc phát triển sản xuất theo hướng hiện đại, hội nhập, tínhcạnh tranh cao đòi hỏi nguồn nhân lực phải có chất lượng cao Đây chính là yếu

tố quan trọng để đưa làng nghề phát triển và đáp ứng được đòi hỏi của xu thếmới Khi làng nghề tồn tại trong nền kinh tế thị trường thì ngoài kỹ năng, bíquyết riêng của người thợ, sự phát triển của làng nghề đòi hỏi người sản xuất,nhất là các chủ cơ sở phải có những kiến thức về kinh doanh như quản lý sảnxuất, tổ chức tiêu thụ sản phẩm Tuy nhiên, về trình độ học vấn và năng lực quản

lý của các chủ cơ sở nhìn chung vẫn còn những hạn chế Vấn đề đào tạo nângcao trình độ kỹ thuật và chất lượng nguồn lao động chưa cao, trình độ chuyênmôn và văn hóa thấp, nhất là đối với các chủ doanh nghiệp trong việc đáp ứngnhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước cũng như quốc tế

1.4.7 Môi trường lao động trong làng nghề

Môi trường lao động ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý, sức khỏe bệnh tật củangười lao động Với điều kiện thời tiết khí hậu nhiệt đới nóng ẩm của nước ta, lạiTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 33

cộng thêm tác động của các yếu tố độc hại phát sinh trong quá trình sản xuất nhưhơi khí độc, cường độ ồn, cường độ rừng, bụi…sẽ có ảnh hưởng không tốt đến sứckhỏe của người lao động Trong những điều kiện như thế, người lao động sẽ bị ảnhhưởng về thần kinh, tâm lý và dẫn đến rối loạn sinh lý, suy giảm sức khỏe, giảmkhả năng lao động, tăng ốm đau, bệnh tật, bệnh nghề nghiệp Tất cả những điều đó

sẽ ảnh hưởng đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Mặt khác, ô nhiễmmôi trường lao động cũng sẽ lan tỏa gây ô nhiễm các khu vực lân cận, ảnh hưởngđến đời sống của người dân

Làng nghề càng phát triển thì nguy cơ ô nhiễm làng nghề càng gia tăng,người lao động trong làng nghề chịu ít nhất là 3 tác động tiêu cực trong môi trườnglao động Đó là nhiệt độ cao, bụi và tiếng ồn Nếu làm việc trong môi trường độchại, nhiều nguy hiểm, người lao động sẽ chịu hậu quả là làm giảm năng suất laođộng, suy giảm về sức khỏe, tăng nguy cơ mắc bệnh tật, điều này sẽ làm tăng chiphí khám chữa bệnh, giảm thu nhập của người lao động, đồng thời lan tỏa ảnhhưởng đến phát triển KT - XH của địa phương

1.4.8 Truyền thống của làng nghề

Yếu tố truyền thống là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao vị thế và khả năngcạnh tranh của sản phẩm truyền thống Yếu tố truyền thống có tác dụng bảo tồn nhữngnét đặc trưng văn hóa của từng làng nghề, của dân tộc, làm cho sản phẩm làng nghề cótính độc đáo và có giá trị cao Những người thợ cả, những nghệ nhân, các truyền thốngtốt đẹp là tài sản của quốc gia Những quy ước và ràng buộc trong các làng nghề, lệlàng đề ra những tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp, đòi hỏi người thợ phải sản xuất -kinh doanh một cách trung thực, bảo đảm chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, do sự thayđổi của nền kinh tế, sự phát triển của công nghệ khoa học trong nền kinh tế thị trườngđòi hỏi phải có những con người có đầu óc kinh doanh năng động, sáng tạo Điều đónhiều khi yếu tố truyền thống, những kinh nghiệm chủ nghĩa lại cản trờ sự phát triểncủa nền kinh tế nói chung, của làng nghề nói riêng Đồng thời, những quy định ngặtnghèo, hạn chế trong luật nghề, lệ làng đã làm cản trở không nhỏ tới việc mở rộng sảnxuất - kinh doanh của làng nghề Trong điều kiện kinh tế thị trường không thể chỉ cóTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 34

kinh ngiệm mà phải có khoa học công nghệ kết hợp Tóm lại, nếu có thể đưa đượcnhững tiến bộ của khoa học - công nghệ hiện đại vào, nhưng vẫn giữ được những yếu

tố truyền thống mang đậm đà bản sắc dân tộc và những sản phẩm đó của các làng nghềphải được tiếp nhận trong thị trường của xã hội hiện đại

1.4.9 Mặt bằng cho sản xuất

Mặt bằng, nhà xưởng đang là vấn đề nóng ở hầu hết các làng nghề Do lịch

sử phát triển của làng nghề, nên không gian sản xuất gắn liền với không gian sinhhoạt, cư trú của chủ nhân các cơ sở sản xuất Vì vậy, trải qua nhiều thập kỷ, thậmchí hàng thế kỷ, việc cải tạo cũng như quy hoạch lại mặt bằng nhà xưởng là hết sứckhó khăn Việc quy hoạch các cụm công nghiệp làng nghề với mặt bằng, nhà xưởngtốt hứa hẹn sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi cho phát triển làng nghề Tuy nhiên,việc quy hoạch và thực hiện giải phóng mặt bằng đang gặp rất nhiều khó khăn và cóthể sẽ kéo dài nhiều năm

1.4.10 Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước

Các làng nghề TCTT, trên thực tế bao giờ cũng hoạt động trong một môitrường thể chế Nói cách khác môi trường thể chế luôn tác động trực tiếp đến hoạtđộng SXKD ở các làng nghề Môi trường thể chế bảo đảm cho làng nghề phát triểnbền vững, phát huy được giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội các giá trị đạo đức, tínnhiệm và lương tâm người thợ thông qua chất lượng sản phẩm được làm ra Môitrường thể chế gồm quy chế của làng và chính sách pháp luật của Nhà nước

Những quy định nghiêm ngặt trong các làng nghề là biện pháp giữ bí mật và bíquyết nghề nghiệp của những người thợ trong các làng nghề Điều đó có tác dụng tíchcực đối với việc duy trì lâu dài hoạt động sản xuất của mỗi làng nghề Tuy nhiên, sự độcquyền của các thế hệ thợ thủ công trong mỗi làng nghề như thế đã kìm hãm sự phát triểncủa nghề trong phạm vi cả nước Sau này, khi các trường dạy nghề mở ra, cùng với sựtiến bộ khoa học công nghệ thì những hạn chế trên thay đổi theo hướng tích cực hơn

Thời kỳ trước đổi mới, trong chính sách đối với các thành phần kinh tế, chúng

ta chỉ tập trung phát triển kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, không chấp nhận kinhTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 35

tế tư nhân, cá thể, nên các làng nghề theo nghĩa là đơn vị kinh tế độc lập đã chuyểnthành HTX, hoặc các tổ, đội ngành nghề phụ trong các HTX sản xuất nông nghiệp,làm cho các làng nghề không phát triển được Từ khi thực hiện công cuộc đổi mớiđến nay, khi hộ gia đình được công nhận là chủ thể kinh tế độc lập tự chủ trong nôngthôn, các doanh nghiệp tư nhân được phép phát triển chính thức thì các làng nghề đã

có điều kiện phục hồi và phát triển mạnh

1.5 CÁC CHỈ TIÊU SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU

Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả SXKD có thể được xâydựng dưới dạng thuận, bao gồm các chỉ tiêu cụ thể sau:

Bảng 1.2: Các chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu luận văn

Quy mô hiệu quả kinh tế HM= Q - C

Trong quá trình nghiên cứu luận văn, bản thân đã sử dụng những chỉ tiêu cơbản sau:

- Các chỉ tiêu đánh giá năng lực SXKD: Số lượng lao động, giá trị tài sản cốđịnh, giá trị tài sản lưu động, lực lượng quản lý của chủ hộ, vốn lưu động, côngnghệ, thiết bị sản xuất của các cơ sở

- Các chỉ tiêu đánh giá kết quả SXKD (Q): GTSX (GO), giá trị tăng thêm(VA), thu nhập hỗn hợp (MI) và lợi nhuận (M), chi phí trung gian (IC), vốn đầu tư(K), lao động (L)

- Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả SXKD: Hiệu quả chi phí, hiệu quả sử dụngvốn, hiệu quả sử dụng lao động

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 36

Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế là các chỉ tiêuquan trọng, phản ánh mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra củaquá trình sản xuất Do đó, căn cứ vào mục đích nghiên cứu và điều kiện thu nhập,tổng hợp thông tin cần thiết phải chi tiết hóa hệ thống các chỉ tiêu này nhằm giúpcho quá trình nghiên cứu thuận lợi, chính xác hơn.

1.6 THỰC TIỄN VÀ KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG

1.6.1 Kinh nghiệm phát triển làng nghề đúc đồng truyền thống một số nước ở Châu Á

Mặc dù nhiều nước ở Châu Á có trình độ phát triển công nghiệp đã ở tầmcao mới Cuộc sống của người dân ở đây cũng đã được nâng lên nhiều, hoạt độngsản xuất, kinh doanh phần lớn điều khiển bằng máy móc, nhưng những LNTT của

họ vẫn được bảo tồn, giữ gìn và nâng cao giá trị Chúng ta có thể tham khảo kinhnghiệm của một số nước

1.6.1.1 Trung Qu ốc

Có thể nói Trung Quốc là cái nôi của nhiều nghề, LNTT Nghề thủ công củaTrung Quốc ra đời từ rất sớm và nổi tiếng cho đến ngày nay Cách đây mấy ngàn năm,người Trung Quốc đã biết chế tác đồ gốm, sơn mài, dệt vải, làm giấy,… Từ khoảng thế

kỷ XVII đến thế kỷ thứ XI trước công nguyên, tại Trung Quốc đã xuất hiện nghề luyệnkim, chế tác đồng thau, thuộc da Từ lâu nghề gốm, sứ Giang Tây, nghề tơ lụa HàngChâu, Tô Châu đã nổi tiếng khắp trên thế giới Đầu thế kỷ XX, Trung Quốc đã có hơn

10 triệu thợ thủ công chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp làm việc trong các côngtrường thủ công và hộ gia đình, trong các phường, hội, làng nghề Đến năm 1954, các

hộ sản xuất được tổ chức vào các hợp tác xã Sau này phát triển thành các xí nghiệp vàtồn tại đến ngày nay Đặc trưng ở Trung Quốc là ngành nghề thủ công phát triển mạnh

ở các đô thị, bởi các đô thị có từ xa xưa và phát triển mạnh hơn đô thị của các nướcChâu Á khác Tuy nhiên, tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề cũng phát triển Từ khithực hiện “cải cách” năm 1978, nhiều hợp tác thủ công nghiệp Trung Quốc được biếnthành xí nghiệp “Hương Trấn” phát triển mạnh mẽ góp phần thay đổi bộ mặt nôngTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 37

thôn Những năm 80 của thế kỷ trước, các xí nghiệp tư nhân và làng nghề phát triểnnhanh, đóng góp tích cực trong việc tạo ra hơn 65% giá trị sản lượng công nghiệp nôngthôn Gần đây, Chính phủ Trung Quốc rất quan tâm đến việc phát triển làng nghề kếthợp với các điểm tham quan du lịch Để phát triển du lịch làng nghề, Chính phủ TrungQuốc chủ yếu phát triển mô hình Nhà nước và lấy đó làm chủ đạo với hai nội dungchính Một là Nhà nước và các địa phương dựa vào bộ máy hành chính quản lý du lịch

để chỉ đạo phương hướng, chính sách phát triển của các doanh nghiệp, tổ chức tuyêntruyền xúc tiến thị trường Hai là phát huy tính chủ động của chính quyền địa phương,đặc biệt là các Hiệp hội làng nghề nhằm phát triển mạnh du lịch làng nghề địa phương.Đặc biệt khuyến khích các làng nghề tạo ra những sản phẩm thủ công mỹ nghệ độcđáo, mang những nét văn hóa truyền thống của các địa phương Trung Quốc Nhờ vậy,hai lĩnh vực du lịch và làng nghề có tác động tương trợ lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùngphát triển

1.6.1.2 Ấn Độ

Ấn Độ là nước có dân số đứng thứ hai trên thế giới (sau Trung Quốc), Ấn Độ

có nền văn minh và văn hóa dân tộc lâu đời, được thể hiện rõ qua các nghề thủ công

cổ truyền đặc sắc Hàng chục triệu người Ấn Độ đến nay vẫn đang sinh sống bằngcác nghề thủ công Sản phẩm làm ra tiêu thụ ở thị trường trong nước và xuất khẩuvới doanh thu mỗi năm trên 1.000 tỷ rupi

Nói đến các nghề thủ công nổi tiếng ở Ấn Độ thì có các nghề như: In ấn hoavăn, nghệ thuận Rogan, nghề dệt và đúc chuông Làng Nirona có nhiều nghệ nhânsản xuất chuông đồng Họ sử dụng búa và đôi chân của mình để tạo hình cho khốisắt xấu xí thành những chiếc chuông gió nghệ thuật Những chiếc chuông đồng nàyđược đeo lên cổ của gia súc giúp họ theo dõi chúng Ngày nay, du khách đến đâymua chuông để trang trí nhà cửa và khu vườn Sản xuất chuông phải có sự hợp sứccủa toàn bộ gia đình Người cha cố gắng dùng sức để thay đổi hình dáng thanh kimloại, vợ và con gái thì kiểm tra tiếng của chuông Họ lắng nghe âm thanh chăm chú

và cuối cùng đưa ra quyết định, nó có được đem bán hay không Đây là một trongnhững đặc điểm độc đáo được chính phủ Ấn Độ đặc biệt quan tâm tới

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 38

Chính phủ Ấn Độ đặc biệt quan tâm và đề ra nhiều biện pháp và các chínhsách để bảo tồn và phát triển các nghề tiểu thủ công mỹ nghệ tinh hoa của dân tộc,tạo ra sự ưu thế vươn ra thị trường thế giới Chính phủ đã tổ chức các trung tâmphát triển công nghệ và thiết kế mẫu mã cho các mặt hàng thủ công mỹ nghệ ởnhiều nơi như Niuđêli, Cancutta, Mumbay, Bănggalo nhằm nghiên cứu, thiết kếmẫu mã và công nghệ, bảo tồn những nét đặc sắc của mặt hàng thủ công mỹ nghệ ở

Ấn Độ Các trung tâm còn nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới, tạo ra mẫu mã đadạng, hợp với thị hiếu của khách hàng trong và ngoài nước Riêng các trung tâm ởMumbay và Bănggalo còn tập trung nghiên cứu tạo dáng cho hàng mỹ nghệ của các

bộ lạc thiểu số và giới thượng lưu Không chỉ chú ý mẫu mã, ở Ấn Độ còn cókhoảng 400 trung tâm dạy nghề rãi rác ở các vùng trong nước, tập trung ở các bangUtta Prađét, Giamu, Casơmia, Biha đã đào tạo nghề cho các lao động thủ công mỹnghệ Cùng với đào tạo tay nghề cho thợ, Ấn Độ đặc biệt quan tâm đến đội ngũ thợlàng nghề, thợ cả có nhiều kinh nghiệm 13 trung tâm đào tạo có nhiệm vụ chuyên

lo việc nâng cao tay nghề cho thợ cả, nhằm giữ gìn, khôi phục các làng nghề thủcông cổ truyền đặc sắc có nguy cơ mai một, thất truyền và bồi dưỡng tay nghề chocác nghệ nhân đặc biệt tài ba đã hoạt động

Thợ cả, các nghệ nhân tài năng có tay nghề cao được coi như vốn quý củaquốc gia Ấn Độ, được nhà nước chú ý quan tâm về vật chất và tinh thần Từ năm

1950 đến nay, Chính phủ Ấn Độ đã đặt ra giải thưởng cấp nhà nước trao tặng các thợ

cả nghệ nhân xuất sắc một thẻ chứng nhận của Chính phủ, 10.000 rupi tiền thưởng vàmột bộ áo quần của Tổng thống ban tặng Từ năm 1973 - 1974, nhà nước chọn ra 15thợ cả nghệ nhân xuất sắc và cấp cho mỗi người một khoản trợ cấp hàng tháng 500rupi và cho đến nay hơn 227 nghệ nhân đã được hưởng khoản trợ cấp này

Ở Ấn Độ, Viện thủ công mỹ nghệ quốc gia là cơ quan nghiên cứu kinh tế kỹthuật phục vụ yêu cầu phát triển các ngành nghề cổ truyền, ngoài việc nghiên cứukhoa học, công nghệ, mẫu mã, mặt hàng, trong thời gian qua còn tổ chức 165 cuộctriển lãm - hội chợ hàng thủ công mỹ nghệ ở trong nước và nước ngoài, giới thiệucác mặt hàng đặc sắc của Ấn Độ, nghiên cứu thị trường và tiếp thị để mở rộng thịtrường xuất khẩu ra thế giới

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 39

1.6.2 Kinh nghiệm phát triển làng nghề đúc đồng truyền thống một số tỉnh ở Việt Nam

1.6.2.1 T ỉnh Nam Định

Hai làng đúc đồng Tống Xá và Vạn Điểm (thuộc huyện Ý Yên tỉnh NamĐịnh) được xem là một trong những cái nôi của nghề đúc đồng ở nước ta Ngàynay, sản phẩm đúc đồng ở Tống Xá và Vạn Điểm không chỉ làm giàu cho làng, màcòn trở thành niềm tự hào lớn của cả thành Nam nhờ nhiều năm qua, hàng chụccông trình, tác phẩm tượng tầm cỡ quốc gia đã được chính những nghệ nhân tronghai ngôi làng này thực hiện bằng chính hoa tay, tâm sức của họ Thuở xưa, hai làngTống Xá và Vạn Điểm chỉ đúc những mặt hàng đơn giản như đồ thở cúng, đỉnhđồng, lư hương Đến nay, sản phẩm của họ ngày càng đa dạng, tinh xảo hơn vớinhững bức tượng Phật, danh nhân, lãnh tụ dân tộc Đó là những công trình nặnghàng chục, hàng trăm tấn, thể hiện tinh thần, ý nghĩa lịch sử, tầm vóc thời đại

Cụm tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ cao 12,6m, nặng trên 200 tấn, chỉ

là một trong nhiều tác phẩm quy mô lớn của người Ý Yên Gần đây, các nghệ nhân ởTống Xá, Vạn Điểm cũng đã đúc rất thành công bức tượng Phật Tổ Như Lai, nặng 30tấn, hiện tọa lạc trên đỉnh núi Sóc Sơn (Hà Nội) và tượng Tam Thế đặt tại khu du lịchTràng An (Hoa Lư, Ninh Bình) Nhân dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội,cũng lại chính những nghệ nhân tài ba của Ý Yên được mời đúc bức tượng vua LýThái Tổ nặng trên 40 tấn

Hiện nay, ở Tống Xá có khoảng hơn 150 cơ sở sản xuất đồ đồng mỹ nghệ,thu hút hơn 1.500 công nhân địa phương và các vùng lân cận với mức thu nhập từ3-4 triệu đồng/người/tháng Doanh thu từ làng nghề đạt hơn 600 tỷ đồng/năm

Đặc biệt, hiện nay, ngoài những cơ sở sản xuất nhỏ, làng Tống Xá và VạnĐiểm đã xuất hiện nhiều doanh nghiệp tư nhân có quy mô sản xuất lớn, điển hìnhnhư các doanh nghiệp: Tân Tiến, Quang Hà, Dương Bá Phong, Dương Bá Tân…Việc ra đời các doanh nghiệp này đã góp phần thay đổi diện mạo sản xuất của mộtLNTT, chuyển từ phương thức sản xuất theo lối thủ công nhỏ lẻ sang phương thứcsản xuất công nghiệp theo hướng hiện đại, từ đó thúc đẩy môi trường hoạt động vànâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm của làng nghề

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 40

Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường trong và ngoài nước, tạihuyện Ý Yên đã hình thành khu công nghiệp cơ khí đúc Ý Yên, thu hút nhiều hộ giađình làm nghề đúc tham gia sản xuất Người dân làng nghề đã đầu tư máy móc giacông, nhiều doanh nhân, tư nhân đã mạnh dạn mở rộng thị trường, tìm kiếm bạnhàng để giới thiệu sản phẩm quê hương, giữ vững nghề của ông cha Đó là hướng đimới và cũng là tín hiệu đáng mừng của nghề đúc đồng Tống Xá, góp phần phát triểnkinh tế địa phương.

1.6.2.2 T ỉnh Quảng Nam

Làng đúc Phước Kiều, thuộc xã Điện Phương, Điện Bàn, Quảng Nam Theo

tư liệu gia phả của các tộc họ hiện còn lưu giữ, làng được thành lập từ buổi đầu thờicác chúa Nguyễn dựng nghiệp ở hai xứ Thuận - Quảng Đây vốn là vùng đất truyềnthống đúc đồng nổi tiếng, các ông tiền hiền của tộc Dương Ngọc và Nguyễn Bá đãtruyền dạy nghề đúc cho bà con đồng lộc, lập ra làng đúc Phước Kiều cho tới nay

Cũng như các làng nghề đúc đồng khác, để chế tác ra một sản phẩm đồnghoàn chỉnh, người thợ làng Phước Kiều phải tiến hành các công đoạn như: làmkhuôn, sơn khuôn, nấu đồng và đúc đồng Tuy nhiên, họ còn có bí quyết pha hợpkim riêng như: đồng đỏ, đồng thau (đồng pha thiếc), đồng xanh (đồng pha kẽm),đồng thoà (đồng pha vàng) Ngoài ra, các nghệ nhân Phước Kiểu phải có kỹ thuậtthẩm âm để tạo ra sản phẩm có tiếng vang, phù hợp với phong tục, tập quán và vănhóa tâm linh của từng tộc người Điều này đòi hỏi người thợ Phước Kiều phải cóđôi tai tinh nhạy, sự từng trải, am hiểu và kinh nghiệm cảm nhận âm thanh tinh tế

Trước đây, làng chỉ đúc những sản phẩm truyền thống như chiêng, chuông,thanh la, chân đèn, lư hương, đồ gia dụng Đặc biệt, sản phẩm cồng chiêng củaPhước Kiều đã có mặt ở hầu khắp các bản làng dân tộc thiểu số Tây Nguyên Hiệnnay, các nghệ nhân Phước Kiều còn chế tác đồ trang trí nội thất cho các khu du lịch,biệt thự hay khí nhạc theo yêu cầu Năm 2004, các nghệ nhân của làng đã đúc haikhẩu súng thần công bằng đồng và thiếc, theo đúng nguyên bản từ thời Nguyễn.Mỗi khẩu súng có trọng lượng 100kg, dài 1,2m, đường kính họng súng 25cm

Trường Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 20/09/2017, 15:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w