1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại cục thuế tỉnh thanh hóa

113 268 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 889,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ đó, luận văn về: "Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại cục thuế tỉnh Thanh Hóa" sẽ giúp cho cơ quan thuế có những căn cứ và đị

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực, chính xác và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, các thông tin trích dẫn sử dụng trong luận văn đãđược chỉ rõ nguồn gốc

Trang 2

xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cô giáo PGS.TS Phan Thị Minh Lý là

người trực tiếp hướng dẫn khoa học và đã dày công giúp đỡ tôi trong suốt quá trìnhnghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến Ban lãnh đạo; cán bộ Cục thuế tỉnhThanh Hóa đã giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện luận văn cũng như trong công tác

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân luôn đứng bên cạnhtôi động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi nhữngkhiếm khuyết, tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy, cô giáo; đồngnghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Đức Anh

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 3

TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SI KHOA HỌC KINH TẾ

Họ và tên học viên: NGUYỄN ĐỨC ANH

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Niên khóa: 2014-2016

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHAN THỊ MINH LÝ

Tên đề tài: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI CỤC THUẾ TỈNH THANH HÓA.

Chính phủ đánh giá vai trò của doanh nghiệp FDI là rất quan trọng đối vớinền kinh tế, tuy nhiên cũng không thể phủ nhận thực tế rằng các doanh nghiệp FDIkhông chỉ có tác động tích cực, mà nó còn có tác động ngược chiều đối với nền kinh

tế nước ta Với tư cách là công cụ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước kiểm trathuế chính là việc xem xét tại chỗ việc làm của các doanh nghiệp này có đúng quyđịnh chính sách pháp luật về thuế hay không, từ đó sử dụng các biện pháp chế tàithích hợp nhằm ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật của các đối tượng này Tuynhiên, trên thực tế rất khó xác định chính xác doanh thu và chi phí thực sự củadoanh nghiệp FDI, dẫn đến hiện tượng chuyển giá của các doanh nghiệp này diễn rakhá phổ biến Đây là một trong những trở ngại lớn nhất cho vấn đề kiểm tra thuế đốivới doanh nghiệp FDI, đòi hỏi phải có nghiên cứu hoàn thiện công tác kiểm tra thuếđối với loại hình doanh nghiệp này

Xuất phát từ đó, luận văn về: "Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại cục thuế tỉnh Thanh Hóa" sẽ giúp

cho cơ quan thuế có những căn cứ và định hướng trong công tác kiểm tra thuếdoanh nghiệp FDI

Luận văn đi sâu phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiêncứu; đánh giá thực trạng về công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp FDI tạiCục thuế tỉnh Thanh Hoá, chủ yếu tập trung phân tích các mặt như: bộ máy,nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và quy trình thực hiện kiểm tra thuế doanh nghiệpFDI tại Cục thuế tỉnh Thanh Hoá Ngoài ra, luận văn đã đi sâu khảo sát các cán

bộ kiểm tra thuế và các doanh nghiệp FDI nhằm đánh giá chất lượng của côngtác kiểm tra thuế doanh nghiệp FDI, từ đó, rút ra những khó khăn và tồn tại cầnphải tháo gỡ để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng công tác kiểm tra thuếdoanh nghiệp FDI trong giai đoạn mới

Luận văn đã kiến nghị, đề xuất một số giải pháp vừa mang tính tổng thể, toàndiện, đồng thời đã xác định những giải pháp có tính cấp bách nhằm hoàn thiện côngtác kiểm tra thuế doanh nghiệp FDI do cục thuế tỉnh Thanh Hóa quản lý

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SI KHOA HỌC KINH TẾ iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC SƠ ĐỒ x

DANH MỤC BIỂU ĐỒ xi

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 6

1.1 Cơ sở lý luận về công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 6

1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 6

1.1.2 Một số vấn đề cơ bản về công tác kiểm tra thuế 9

1.1.3 Vai trò của hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 12

1.1.4 Nội dung và quy trình kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 14

1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 19

1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 23

1.2.1 Thực trạng về công tác kiểm tra thuế của một số nước trên thế giới 23

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 5

1.2.2 Thực trạng về công tác kiểm tra thuế doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở

việt Nam 26

1.2.3 Một số bài học kinh nghiệm rút ra 29

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN 32

ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA 32

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32

2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 32

2.1.2 Đặc điểm điều kiện kinh tế - xã hội 32

2.1.3 Khái quát tình hình các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá 34

2.1.4 Giới thiệu về Cục thuế tỉnh Thanh Hóa 34

2.2 Thực trạng công tác kiểm tra thuế doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Cục thuế tỉnh Thanh Hóa 39

2.2.1 Thực trạng bộ máy tổ chức, nguồn nhân lực và cơ sở vật chất phục vụ công tác kiểm tra thuế doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Cục thuế tỉnh Thanh Hóa 39

2.2.2 Thực trạng công tác kiểm tra thuế doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Cục thuế tỉnh Thanh Hóa 45

2.3 Đánh giá thực trạng công tác kiểm tra thuế doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Cục thuế tỉnh Thanh Hóa 54

2.3.1 Tổng quan về mẫu điều tra 55

2.3.2 Đánh giá thực trạng công tác kiểm tra thuế doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Cục thuế tỉnh Thanh Hóa 58

2.3.3 Những khó khăn và tồn tại trong quá trình triển khai công tác kiểm thuế doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Cục thuế tỉnh Thanh Hóa 62

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN HIỆN CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA .67

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 6

3.1 Định hướng hoàn thiện công tác kiểm tra thuế doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 67

3.1.1 Chuyển từ cơ chế kiểm tra nhằm vào tất cả các đối tượng nộp thuế sang cơ chế kiểm tra theo kỹ thuật quản lý rủi ro 67

3.1.2 Chuyển từ kiểm tra toàn diện sang kiểm tra các nội dung theo chuyên đề 68

3.1.3 Chuyển từ kiểm tra chủ yếu tại cơ sở kinh doanh sang kiểm tra chủ yếu tiến hành tại cơ quan thuế 69

3.1.4 Tập trung xây dựng đội ngũ kiểm tra viên từ kiểm tra tổng hợp sang kiểm tra chuyên sâu, chuyên nghiệp về từng lĩnh vực, ngành nghề 70

3.2 Một số giải pháp tổ chức thực hiện nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra thuế doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 70

3.2.1 Cơ sở hình thành các giải pháp 70

3.2.2 Các giải pháp 71

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79

1 Kết luận 79

2 Kiến nghị 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 BIÊN BẢN HỘI ĐỒNG

NHẬN XÉT PHẢN BIỆN 1+ 2

BẢN GIẢI TRÌNH

XÁC NHẬN HOÀN THIỆN LUẬN VĂN

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tổng hợp kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế tại Cục thuế tỉnh

Bảng 2.2 Kết quả kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế 37

Bảng 2.3 Số lượng cán bộ làm công tác kiểm tra tại cục thuế tỉnh Thanh

Bảng 2.4 Chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công tác kiểm tra thuế

doanh nghiệp FDI tại cục thuế tỉnh Thanh Hóa 42

Bảng 2.5 Chất lượng cơ sở vật chất phục vụ công tác kiểm tra thuế doanh

nghiệp FDI tại cục thuế tỉnh Thanh Hóa 44

Bảng 2.6 Tình hình lập kế hoạch kiểm tra hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế

đối với doanh nghiệp FDI từ 2013 - 2015 46

Bảng 2.7 Tình hình kiểm tra hồ sơ thuế các doanh nghiệp FDI tại trụ sở

Bảng 2.8 Tình hình tổ chức thực hiện kiểm tra tại trụ sở các doanh nghiệp

Bảng 2.9 Tình hình kiểm tra hồ sơ hoàn thuế các doanh nghiệp FDI từ

Bảng 2.10 Tình hình kiểm tra công tác quản lý và sử dụng hóa đơn các

Bảng 2.11 Thông tin mẫu điều tra cán bộ làm công tác kiểm tra 55Bảng 2.12 Thông tin mẫu điều tra doanh nghiệp FDI 56

Bảng 2.13

Mức điểm trung bình đánh giá chung về thực trạng bộ máy tổchức nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và kết quả kiểm tra thuếdoanh nghiệp FDI

57

Bảng 2.14

Ý kiến đánh giá của cán bộ kiểm tra thuế về bộ máy tổ chức, cơ

sở vật chất, nguồn nhân lực và kết quả kiểm tra doanh nghiệpFDI

58

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 9

Bảng 2.15 Ý kiến đánh giá của doanh nghiệp FDI về bộ máy tổ chức cơ sở

vật chất, nguồn nhân lực và kết quả kiểm tra thuế 59

Bảng 2.16 Mức điểm trung bình đánh giá về thực trạng công tác kiểm tra

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 10

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Mô hình cơ cấu tổ chức bộ máy tại Cục thuế tỉnh Thanh

Sơ đồ 2.2 Hệ thống bộ máy kiểm tra của Cục thuế tỉnh Thanh Hóa 40

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Mức độ rủi ro về thuế đối với các doanh nghiệp FDI theo

Biểu đồ 3.2 Mô hình chóp mô tả sự chuyển đổi 67

Biểu đồ 3.3 Mô hình chuyển từ kiểm tra toàn diện sang kiểm tra các

Biểu đồ 3.4 Mô hình chuyển từ kiểm tra chủ yếu tại doanh nghiệp sang

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, là một hình thức độngviên bắt buộc của nhà nước theo luật định, thuộc phạm trù phân phối, nhằm tậptrung một bộ phận thu nhập của các thể nhân và pháp nhân vào ngân sách nhà nước

để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của nhà nước và phục vụ lợi ích công cộng

Nền kinh tế nước ta hiện nay đã và đang hội nhập ngày càng sâu rộng vớinền kinh tế khu vực và thế giới Dòng vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) vào trongnước ngày càng tăng mạnh, trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDI) đã đóng góp một phần không nhỏ cho ngân sách nhà nước dưới hìnhthức nộp thuế Hoạt động của các doanh nghiệp này đã góp phần vào sự phát triểncủa nền kinh tế Việt Nam nói chung, tỉnh Thanh Hoá nói riêng trong quá trìnhchuyển dịch từ một nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường

Tuy nhiên cùng với những thành tựu mà nhà đầu tư nước ngoài mang lạicho nền kinh tế trong quá trình đầu tư tại Việt Nam, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đềbất cập đó là tình trạng lợi dụng kẽ hở của các chính sách, chế độ, luật thuế hoặcdựa vào tính chất phức tạp trong hoạt động kinh doanh, khó kiểm soát để khaiman, trốn lậu thuế, chây ì, chậm nộp thuế Chính vì vậy để vừa tạo ra một môitrường đầu tư thật hấp dẫn thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời đảmbảo nguồn thu ngân sách nhà nước, yêu cầu quản lý ngày càng trở nên cấp thiết,trong đó tăng cường kiểm tra thuế là nhiệm vụ trung tâm không thể thiếu đượctrong công tác quản lý thuế

Kiểm tra thuế là một trong những hoạt động hết sức quan trọng, mang tínhchất đặc thù Công tác kiểm tra thuế không những là một chức năng thiết yếu của cơquan quản lý thuế mà còn là một đòi hỏi khách quan trong quá trình quản lý thuthuế nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời cho NSNN, đảm bảo công bằngtrong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội Tínhhiệu quả của kiểm tra thuế có ảnh hưởng chi phối đến hiệu quả của quản lý thuế

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 13

Tuy nhiên, trên thực tế rất khó xác định chính xác doanh thu và chi phí thực

sự của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, dẫn đến hiện tượng chuyển giá củacác doanh nghiệp này diễn ra khá phổ biến Đây là một trong những trở ngại lớnnhất cho vấn đề kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đòihỏi phải có nghiên cứu hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với loại hình doanhnghiệp này

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kiểm tra thuế đối với các doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tác giả chọn đề tài: "Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại cục thuế tỉnh Thanh Hóa" làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu chung

Trên cơ sở phân tích, đánh gíá đúng đắn thực trạng công tác kiểm tra thuếđối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Cục thuế tỉnh Thanh Hoá vàcác nguyên nhân của thực trạng đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công táckiểm tra thuế đối với loại hình doanh nghiệp này

- Đề xuất định hướng cùng những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm trathuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại cục thuế tỉnh Thanh Hóa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu Luận văn chọn đối tượng nghiên cứu là những vấn

đề lý luận và thực tiễn về công tác kiểm tra thuế Đối tượng điều tra là các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong phạm vi Cục thuế tỉnh Thanh Hoá

Trang 14

+ Về không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá mà cụ thể làtại Cục thuế tỉnh Thanh Hoá

+ Về mặt thời gian: Luận văn giới hạn nghiên cứu thực trạng trong giai đoạn2013-2015 và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2018-2020

4 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp tiếp cận

Tiếp cận hệ thống các yếu tố liên quan đến công tác kiểm tra thuế Trên cơ

sở đó xác định rõ thực trạng hoạt động kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa và đưa ra các giải pháp nhằm hoànthiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài củaCục thuế tỉnh Thanh Hóa thời gian tới

* Phương pháp thu thập tài liệu

- Nguồn tài liệu thứ cấp: Thu thập từ sách, báo, tạp chí, các văn bản củaChính phủ và các tài liệu do Cục thuế tỉnh Thanh Hóa, Cục thống kê tỉnh ThanhHóa cung cấp có liên quan đến đề tài như báo cáo tổng kết và các số liệu khác

- Nguồn tài liệu sơ cấp: Để tiến hành phân tích đánh giá thực trạng công táckiểm tra thuế doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá,

đề tài sử dụng nguồn số liệu sơ cấp được thu thập bằng bảng hỏi đáp

* Phương pháp xử lý tài liệu

Các số liệu sau khi thu thập được từ việc phỏng vấn trực tiếp với doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và cán bộ kiểm tra bằng bảng hỏi được tổng hợp

và xử lý thông qua phương pháp phân tổ thống kê, công cụ xử lý là máy vi tính, cụthể là phần mềm EXCEL

* Phương pháp phân tích

Thống kê mô tả: Phương pháp này dùng để mô tả mức độ của hiện tượng qua sốtuyệt đối, số tương đối và số bình quân mô tả tình hình biến động (chủ yếu qua dãy số thờigian) và mô tả các mối quan hệ

Thống kê so sánh: Phương pháp này dùng để so sánh thực hiện với kế hoạch,

so sánh theo thời gian và so sánh theo không gian để thấy được mức độ biến động

và phát triển của hiện tượng ở những địa điểm khác nhau

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 15

Ngoài phương pháp thống kê là các phương pháp chủ yếu nêu trên, trongluận văn còn áp dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu đánh giá có sự tham gia của cán bộ làm công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Phương pháp nghiên

cứu có sự tham gia nhằm mục đích đánh giá mức độ tham gia của cán bộ làm côngkiểm tra thuế đối với doanh nghiệp FDI của Cục thuế tỉnh Thanh Hóa, trên cơ sở đóđánh giá về chất lượng hoạt động kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài tại Cục thuế tỉnh Thanh Hóa

- Phương pháp chuyên gia: Được sử dụng để đánh giá những vấn đề có tính

ước định Đặc biệt là tận dụng những kinh nghiệm và tri thức chuyên sâu của cácchuyên gia để làm sáng tỏ các vấn đề có tính phức tạp Các chuyên gia mà tác giảđược gặp gỡ, trao đổi gồm: Cục trưởng cục thuế tỉnh Thanh Hóa; Cục phó Cục thuếtỉnh Thanh Hóa, các đồng chí Trưởng, Phó phòng kiểm tra và các phòng liên quan,Các đồng chí Chi cục trưởng các Chi cục thuế huyện thị

- Phương pháp đánh giá cho điểm: Nghiên cứu sử dụng phương pháp đánh

giá cho điểm để đánh giá chất lượng hoạt động kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài tại Cục thuế tỉnh Thanh Hóa

5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

a Nhóm chỉ tiêu phản ánh số lượng, chất lượng nguồn nhân lực phục vụ hoạt động kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Cục thuế tỉnh Thanh Hóa

- Số lượng cán bộ làm công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài tại Cục thuế tỉnh Thanh Hóa

- Tỷ lệ cán bộ trực tiếp làm công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp FDI/ Số cán bộ kiểm tra

- Số lượng và tỷ lệ cán bộ làm công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệpFDI có trình độ trên đại học, đại học, cao đẳng, trung cấp/Tổng số cán bộ

b Nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp FDI

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 16

- Tỷ lệ các cuộc kiểm tra/kế hoạch, kiểm tra doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài

- Số lượng các cuộc, kiểm tra; Các cuộc đã xử lý sau kiểm tra

- Số cuộc kiểm tra và tỷ lệ thuế truy thu, truy hoàn, giảm lỗ, giảm khấu trừtrong kiểm tra/kế hoạch

- Số cuộc kiểm tra và tỷ lệ số tiền phạt vi phạm hành chính, phạt trốn lậu thuế,phạt kê khai sai và phạt chậm nộp thuế / Tổng thu về ngân sách nhà nước

- Số HS và tỷ lệ số tiền thuế tăng thu do kiểm tra hồ sơ khai thuế tại CQT/Tổng thu về ngân sách nhà nước

- Số HS và tỷ lệ số tiền thuế tăng thu do kiểm tra hoàn thuế/ Tổng thu về ngânsách nhà nước

- Số HS và tỷ lệ số tiền phạt VPHC do kiểm tra hóa đơn/ Tổng thu về ngânsách nhà nước

5 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần kết luận và phần chính của luậnvăn gồm ba chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác kiểm tra thuế đối với doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Chương 2: Thực trạng về công tác kiểm tra thuế doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Chương 3: Giải pháp hoàn hiện công tác kiểm tra thuế doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 17

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA

THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN

ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

1.1 Cơ sở lý luận về công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

a Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hay còn gọi là doanh nghiệp có vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc viết tắt là doanh nghiệp FDI

Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau đề cập đến khái niệm doanhnghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tất cả đều cố gắng khai thác một hoặcmột vài khía cạnh của vấn đề nhằm khái quát hóa bản chất, nội dung, hình thức củaloại hình doanh nghiệp này

Để hiểu về khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trướchết ta phải tìm hiểu khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign DirectInvestment, viết tắt là FDI) Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1996) đã nêu: đầu

tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằngtiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luậtnày” [3, tr.8]

Khoản 6 Điều 3 của Luật Đầu tư định nghĩa: Doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiệnhoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoàimua cổ phần, sáp nhập, mua lại

Có thể hiểu: “Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (hay còn gọi

là doanh nghiệp FDI) là một loại hình tổ chức kinh doanh, trong đó có một hay

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 18

nhiều chủ đầu tư cùng góp vốn, cùng quản lý cơ sở kinh tế đó vì mục tiêu lợi nhuận,hoạt động sản xuất kinh doanh, phù hợp với các quy định luật pháp của nước sở tại

và thông lệ quốc tế”

b Đặc điểm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

+ Tìm kiếm lợi nhuận: Có thể thấy rằng, mục đích ưu tiên hàng đầu của cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là lợi nhuận, do đó các nước nhận đầu tư,nhất là các nước đang phát triển như nước ta hiện nay cần lưu ý đến điều này khitiến hành thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phải xây dựng cho mình một hành langpháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hướng FDI vào phục vụcho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của nước mình, tránh tình trạng đầu tưnước ngoài chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư

+ Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên tham gia, cũng như lợi nhuận và rủi ro đượcphân chia theo tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định

+ Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứkhông phải lợi tức

+ Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp nhận đượccông nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý… là những mục tiêu màcác hình thức đầu tư khác không giải quyết được

+ Một đặc điểm quan trọng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

đó là rất khó xác định chính xác doanh thu và chi phí thực sự của loại hìnhdoanh nghiệp này, được thể hiện qua hình thức chuyển giá (tính chi phí muacác yếu tố đầu vào với giá cao, nhất là từ công ty mẹ, trong khi tính giá thấpcho sản phẩm tiêu thụ cho các công ty nước ngoài có quan hệ thân thuộc nhằmmục đích giảm doanh thu tính thuế)

c Vai trò doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp đáng kể cho sự pháttriển của nền kinh tế Việt Nam nói chung, tỉnh Thanh Hoá nói riêng trong quá trìnhchuyển dịch từ một nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường Đó là:

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 19

+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp tích cực cho sự tăngtrưởng và phát triển của nền kinh tế

+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp nguồn vốn bổ sung quantrọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển toàn xã hội và tăng trưởngkinh tế đất nước

+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp, kích thích lĩnh vực dịch vụ Việt Namnâng cao chất lượng và phát triển nhanh hơn, nhất là trong các ngành viễn thông, dulịch, kinh doanh bất động sản, giao thông vận tải, tài chính, ngân hàng…

+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy chuyển giaocông nghệ tiên tiến vào Việt Nam, phát triển một số ngành kinh tế quan trọng củađất nước như viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo,điện tử, tin học… Nhìn chung, trình độ công nghệ của khu vực đầu tư nước ngoàicao hơn hoặc bằng các thiết bị tiên tiến đã có trong nước và tương đương các nướctrong khu vực Hầu hết các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài áp dụng phươngthức quản lý tiên tiến, được kết nối và chịu ảnh hưởng của hệ thống quản lý hiện đạicủa công ty mẹ

+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có tác động lan toả đến các thànhphần kinh tế khác trong nền kinh tế Thông qua sự liên kết giữa doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước, công nghệ và năng lựckinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đến cácthành phần khác của nền kinh tế Sự lan toả này có thể theo hàng dọc giữa cácdoanh nghiệp trong ngành dọc hoặc theo hàng ngang giữa các doanh nghiệp hoạtđộng cùng ngành

+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp đáng kể vào ngân sáchnhà nước và các cân đối vĩ mô, đồng thời góp phần quan trọng trong tạo ra việc làmcho người lao động Cùng với sự phát triển các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài tại Việt Nam, mức đóng góp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoàivào ngân sách ngày càng tăng Ngoài ra, đầu tư nước ngoài cũng tác động tích cực

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 20

đến các cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãnglai, cán cân thanh toán quốc tế thông qua việc chuyển vốn vào Việt Nam và mởrộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua khách quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua máymóc, nguyên vật liệu…

+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài góp phần giúp Việt Nam tiếp cận

và mở rộng thị trường quốc tế, nâng cao năng lực xuất khẩu Tốc độ tăng kim ngạchxuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài tăng nhanh, cao hơn mức bình quânchung của cả nước, đóng góp quan trọng vào việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu của

cả nước

+ Đầu tư nước ngoài góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hộinhập kinh tế với khu vực và thế giới của Việt Nam Đầu tư nước ngoài đã góp phầnquan trọng và tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo hướng đa phươnghoá và đa dạng hoá, thúc đẩy Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thếgiới, đẩy mạnh tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư Đến nay, Việt Nam làthành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM, WTO và TTP Đồng thời, đã kýkết 54 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, trong đó có Hiệp định thương mạiViệt Nam - Hoa Kỳ (BTA), Hiệp định tự do hoá, khuyến khích và bảo hộ đầu tư vớiNhật Bản Thông qua tiếng nói và sự ủng hộ của các nhà đầu tư nước ngoài, hìnhảnh và vị thế của Việt Nam không ngừng được cải thiện

1.1.2 Một số vấn đề cơ bản về công tác kiểm tra thuế

1.1.2.1 Khái niệm về công tác kiểm tra thuế

Kiểm tra thuế là hoạt động xem xét tình hình thực tế của đối tượng đượckiểm tra để đánh giá, nhận xét và xử lý của CQT đối với việc thực hiện pháp luậtthuế của người nộp thuế và công tác quản lý, hành thu, kiểm tra của cán bộ thuế

Kiểm tra thuế là hoạt động thường niên của cơ quan thuế trong việc quản lýthuế, xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chứcnăng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét,đánh giá về tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của người nộp thuế

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 21

Công tác kiểm tra thuế không chỉ có vai trò quan trọng đối với hoạt động củangành thuế mà còn có ý nghĩa lớn đối với hoạt động của toàn bộ nền kinh tế

1.1.2.2 Mục tiêu của công tác kiểm tra

- Phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về thuế: Đây là mục tiêu chủ

yếu, trực tiếp của hoạt động kiểm tra thuế Kiểm tra thuế là hoạt động thường xuyêncủa cơ quan quản lý Nhà nước nhằm đảm bảo cho các quyết định quản lý được chấphành, bảo đảm mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân tuân thủ theo đúng quyđịnh của pháp luật Tính chất thường xuyên của hoạt động kiểm tra có tác dụngphòng ngừa các vi phạm pháp luật Nghị quyết 26-HĐBT ngày 15/02/1984 củaHĐBT nêu rõ kiểm tra là "nhằm mục đích phát huy mặt đúng, ngăn ngừa sửa chữacái sai, làm cho chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước được chấphành nghiêm chỉnh và có hiệu quả thiết thực”

- Phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật: Định hướng xã hội Nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặt ra yêu cầu phải tăng cường tính pháp chế, kỷcương pháp luật trong mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức và trong cách thức hành

xử của mỗi công dân Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải phát hiện nhanhchóng và xử lý nghiêm minh Hoạt động kiểm tra thuế là xem xét việc thực hiệnpháp luật về thuế của cơ quan, tổ chức, cá nhân, từ đó tìm ra những hành vi saiphạm, người vi phạm, đánh giá tính chất, mức độ vi phạm, kiến nghị cơ quan nhànước có thẩm quyền xử lý

Hiện nay, khi hành vi vi phạm về thuế còn diễn ra phổ biến thì phát hiện các

vi phạm để xử lý là một trong những nhiệm vụ hàng đầu và là mục đích quan trọngcủa hoạt động kiểm tra thuế

- Phát hiện những sơ hở, hạn chế chưa đồng bộ trong cơ chế quản lý và chính sách thuế để kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kịp thời sửa đổi bổ sung:

Hoạt động kiểm tra không chỉ nhằm phát hiện và xử lý những vi phạm pháp luật,

mà còn giúp cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá lại bản thân cơ chế, chính sách, cácquy định của pháp luật, các quyết định quản lý của mình đã phù hợp với thực tiễncuộc sống chưa, có khiếm khuyết, sơ hở gì dễ dẫn đến sự vi phạm để kịp thời sửađổi, bổ sung nhằm khắc phục các sơ hở, khiếm khuyết đó

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 22

- Phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện chính sách pháp luật về thuế: Đây là những mục đích

có tính chất gián tiếp nhưng cũng không kém phần quan trọng của hoạt động kiểmtra, nhất là việc “Phát huy nhân tố tích cực’ qua hoạt động kiểm tra Nhân tố tíchcực ở đây được hiểu là những việc làm hay, mạnh dạn thể hiện một tư duy mới, một

tư cách suy nghĩ và hành động mới phù hợp với quan điểm và chủ trương đổi mớitoàn diện đất nước của Đảng ta, nhất là trong lĩnh vực thuế Mặt khác, kiểm tra thuếkhông chỉ xem xét, đánh giá sự việc đúng, sai và còn phải đấu tranh bảo vệ lợi íchcủa nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế Thông qua hoạt độngkiểm tra thuế cần kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tham nhũng, nhũngnhiễu gây tổn thất tài sản xã hội chủ nghĩa và xâm phạm đến quyền và lợi ích hợppháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Đây không chỉ là yêu cầu của nhà nước mà còn

là yêu cầu của nhân dân đối với ngành thuế

1.1.2.3 Nguyên tắc của công tác kiểm tra

Nguyên tắc kiểm tra thuế là tập hợp các quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩnhành động mà các cơ quan quản lý, các tổ chức kiểm tra, các kiểm tra viên và cácđối tượng kiểm tra phải tuân theo trong quá trình hoạt động kiểm tra Hoạt độngkiểm tra thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:

- Tuân thủ pháp luật.

Không được làm trái pháp luật là nguyên tắc quan trọng đối với cán bộ kiểmtra khi thi hành công vụ Việc tuân theo pháp luật được thể hiện trong quá trìnhkiểm tra phải đúng những quy định văn bản pháp luật, bảo đảm tính độc lập,nghiêm túc khi thực hiện những thủ tục cần thiết trong phạm vi thẩm quyền chophép

- Tuân thủ quy trình, quy phạm của hoạt động kiểm tra do ngành thuế quy định Theo nguyên tắc này, muốn tiến hành kiểm tra, trước hết phải có quyết định

kiểm tra do người có thẩm quyền ban hành Nội dung quyết định kiểm tra phải bảođảm tính pháp lý Người thực hiện quyết định là Đoàn kiểm tra hoặc kiểm tra viênđược giao nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định pháp luật Kết thúc cuộc kiểm tra

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 23

phải có kết luận, kiến nghị, quyết định về nội dung đã được kiểm tra và phải chịutrách nhiệm trước pháp luật về các kết luận, kiến nghị các quyết định đó.

- Bảo đảm chính xác, khách quan, công khai, dân chủ, kịp thời

Tính chính xác đòi hỏi chủ thể kiểm tra thuế phải nhận thức đúng vấn đề, nộidung kiểm tra Tính chính xác của kết quả kiểm tra bảo đảm công tác kiểm tra thuếđạt hiệu quả cao

Tính khách quan bảo đảm phản ánh đúng sự vật, hiện tượng như nó vốn có,không được lồng ý kiến chủ quan khi mô tả sự vật, hiện tượng, không thiên lệch vàbóp méo sự thật

Tính công khai thể hiện ở chỗ chủ thể kiểm tra thuế phải thông báo đầy đủ,công khai từ nội dung, kế hoạch, quyết định kiểm tra đến kết luận kiểm tra để các tổchức, các nhân liên quan biết, giám sát và phối hợp thực hiện

Tính dân chủ trong hoạt động kiểm tra thuế tạo cơ hội cho đối tượng kiểm trađược trình bày ý kiến, quan điểm về nội dung, kết luận kiểm tra cũng như về hoạtđộng của đoàn kiểm tra

Tính kịp thời trong hoạt động kiểm tra thuế: Kiểm tra thuế kịp thời giúp chođối tượng kiểm tra nhận rõ sai phạm để khắc phục sửa chữa ngay, tránh vi phạmkéo dài

- Không làm cản trở hoạt động bình thường của người nộp thuế

Nguyên tắc này nhằm hạn chế tối đa những cuộc kiểm tra chồng chéo củacác cơ quan quản lý, đảm bảo hoạt động bình thường của người nộp thuế Trongmột năm người nộp thuế chỉ bị kiểm tra một lần cùng một nội dung Cùng với việcthực hiện tốt nguyên tắc kịp thời, nguyên tắc này nhằm bảo vệ quyền lợi chính đángcủa người nộp thuế

1.1.3 Vai trò của hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

1.1.3.1 Vai trò của hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 24

- Công tác kiểm tra thuế góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Xác định vai trò quan trọng của

nguồn vốn FDI đối với nền kinh tế, bên cạnh việc chú trọng hiệu lực quản lý Nhànước trong chức năng kiểm tra, giám sát, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật,Chính phủ định hướng việc sửa đổi, điều chỉnh chính sách, pháp luật đầu tư nướcngoài phải đảm bảo nguyên tắc không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, ngàycàng thuận lợi hơn

Công tác kiểm tra thuế các doanh nghiệp FDI giúp phát hiện điểm bất hợp lý,sai trái trong tổ chức thực hiện để kịp thời điều chỉnh hoặc kiến nghị việc điều chỉnhpháp luật, chính sách về đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật

Trong các quy định hiện hành việc yêu cầu kê khai giao dịch liên kết đối vớicông ty đa quốc gia vẫn còn lỏng lẻo Xuất phát từ quyền tự do thỏa thuận giá giaodịch, các bên có thể đưa ra giá thấp hơn hoặc cao hơn giá thị trường Điều này nhắmđến việc điều tiết nghĩa vụ thuế từ nơi có mức thuế suất cao sang nơi có mức thuếsuất thấp, làm giảm tổng nghĩa vụ thuế và tăng lợi nhuận sau thuế của các bên

Chính vì vậy, kiểm tra thuế các doanh nghiệp FDI là nơi cung cấp các căn

cứ, bằng chứng cụ thể phản ánh một cách chân thực sống động các hoạt động củadoanh nghiệp FDI để phục vụ cho việc hoàn thiện bổ sung các chính sách pháp luậtcho phù hợp, đặc biệt là chính sách chống chuyển giá

- Công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là phương tiện phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm nảy sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp FDI tại Việt nam

Chính phủ đánh giá vai trò của doanh nghiệp FDI là rất quan trọng đối vớinền kinh tế, tuy nhiên cũng không thể phủ nhận thực tế rằng các doanh nghiệp FDIkhông chỉ có tác động tích cực, mà nó còn có tác động ngược chiều (mặt trái) đốivới nền kinh tế nước ta, do đó nếu thiếu sự quản lý của nhà nước, hoặc nhà nướcquản lý kém hiệu quả thì những mặt trái sẽ bùng phát

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 25

Với tư cách là công cụ thực hiện chức năng quản lý nhà nước kiểm tra thuếchính là việc xem xét tại chỗ việc làm của các doanh nghiệp này có đúng quy địnhchính sách pháp luật về thuế hay không, từ đó sử dụng các biện pháp chế tài thíchhợp nhằm ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật của các đối tượng này.

- Công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong cải cách thủ tục hành chính.

Thông qua công tác kiểm tra thuế giúp giảm tối đa các thủ tục hành chính,quy chế không cần thiết gây phiền hà đến doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệpFDI nói riêng

1.1.4 Nội dung và quy trình kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Kiểm tra thuế doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng và kiểm trathuế nói chung đều có nội dung và tuân theo quy trình kiểm tra đối tượng nộp thuếđược quy định trong Luật quản lý thuế

1.1.4.1 Nội dung kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp FDI

Nội dung xuyên suốt của kiểm tra thuế là kiểm tra việc chấp hành pháp luậtthuế của NNT, trong đó bao gồm các nội dung cụ thể sau:

Một là, kiểm tra hồ sơ pháp lý, tính trung thực của các tài liệu của NNT có

liên quan tới pháp luật thuế như: Giấy chứng nhận mã số doanh nghiệp-mã số thuế(ngành nghề kinh doanh, vốn, địa điểm, thời gian thực tế kinh doanh)…nhằm pháthiện và xử lý những gian lận trong kê khai đăng ký thuế Cần coi trọng việc kiểm tranội dung ghi trong đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế vì đây là khâu đầu tiên trongquy trình quản lý thu thuế để tránh bỏ sót đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, bỏsót nguồn thu Việc kiểm tra tính pháp lý của các tờ khai thuế gốc, các báo cáo tàichính, các hợp đồng kinh tế gốc, hồ sơ tài liệu đã đủ chữ ký của người có thẩmquyền hay chưa, sổ sách, chứng từ, hóa đơn có đủ tính chất pháp lý hay không,nhằm đảm bảo hồ sơ kiểm tra là đủ cơ sở pháp lý để kiểm tra, đảm bảo nguyên tắc

an toàn, hợp pháp khi kiểm tra

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 26

Hai là, kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, sổ sách, hoá đơn, chứng từ.

Việc thực hiện chế độ kế toán, sổ sách, hóa đơn, chứng từ có liên quan chặt chẽ đếnviệc tính thuế, khai thuế và nộp thuế của NNT Kiểm tra nội dung này bao gồm: kiểmtra việc tổ chức thực hiện luật kế toán, chuẩn mực kế toán của người nộp thuế, “kiểmtra việc mở sổ sách kế toán; việc quản lý và sử dụng các loại chứng từ, hóa đơn theochế độ quy định; hình thức hạch toán, chế độ ghi chép cập nhật sổ sách…” Xác địnhtính hợp lý, trung thực của từng loại chứng từ, hóa đơn có liên quan như: hóa đơn bánhàng, phiếu xuất kho, chứng từ thu, chi… nhằm đảm bảo chính xác các căn cứ tínhthuế, ngăn chặn việc hạch toán sai để trốn - tránh thuế Do đó, đây là một nội dungkiểm tra quan trọng, đòi hỏi cán bộ kiểm tra phải am hiểu Luật kế toán, chuẩn mực kếtoán, đồng thời tốn nhiều thời gian, công sức Thực hiện tốt nội dung kiểm tra này sẽtạo tiền đề cho nội dung kiểm tra việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế

Ba là, kiểm tra việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế Kiểm tra

căn cứ tính thuế nhằm mục đích xác định đúng số thuế phải nộp, số thuế đã nộp, sốthuế nợ, số thuế được miễn giảm, số thuế được hoàn trong kỳ của người nộp thuế

Trong thực tế, người nộp thuế có nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh phứctạp, cần phải kiểm tra để xác định đúng đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuếđúng với quy định của từng sắc thuế là bước quan trọng để xác định mức thuế phảinộp, tránh bỏ sót nguồn thu

Kiểm tra căn cứ tính thuế thực hiện thông qua việc xem xét, đối chiếu các sổsách kế toán, chứng từ hóa đơn và các tài liệu có liên quan: tờ khai, bảng kê muavào bán ra, tờ khai tự quyết toán, … Người nộp thuế tự tính so với các quy địnhhiện hành và thực tế sản xuất kinh doanh để phát hiện số thuế đơn vị khai thiếu, sốthuế ẩn lậu…” Đây là một khâu rất quan trọng trong quy trình kiểm tra thuế, đòi hỏicán bộ thuế phải nắm vững nội dung quy định của các sắc thuế, các văn bản hướngdẫn thực hiện, đồng thời cần thông thạo nghiệp vụ kế toán

Tóm lại, nội dung kiểm tra thuế rất quan trọng, là cơ sở để CQT tiến hànhkiểm tra người nộp thuế Tùy theo tính chất, yêu cầu quản lý thuế theo từng thời kỳ

và tùy thuộc vào nguồn lực mà CQT (bộ phận kiểm tra) đặt giới hạn, trọng tâm nội

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 27

dung kiểm tra cho phù hợp Nội dung kiểm tra cũng có thể chỉ tập trung vào nhữngchuyên đề hẹp như: đôn đốc nợ đọng, sử dụng hóa đơn, hoặc chỉ là quyết toán mộtsắc thuế: giá trị gia tăng (GTGT), thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thu nhập cá nhân(TNCN)…) Hoặc trong cùng một CQT có thể mỗi đoàn kiểm tra lựa chọn một nộidung kiểm tra thuế riêng, theo loại hình doanh nghiệp hoặc theo lĩnh vực sản xuấtkinh doanh…để có thể hoàn thành hiệu quả nhất nhiệm vụ, nhưng tất cả phải dựatrên cơ sở phân tích rủi ro để xác định trọng tâm nội dung kiểm tra.

1.1.4.2 Quy trình kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp FDI

Để thực hiện nhiệm vụ kiểm tra thuế của hệ thống thu thuế Nhà nước cần ápdụng các biện pháp kiểm tra hữu hiệu đúng trình tự các bước công việc có liên quanđến nhau Việc tiến hành kiểm tra về thuế được thực hiện theo những bước côngviệc nhất định Hệ thống những bước công việc đó được coi là quy trình kiểm tra.Tổng Cục thuế đã ban hành Quyết định 746/QĐ-TCT ngày 20 tháng 4 năm 2015 Vềviệc ban hành quy trình kiểm tra thuế

Kiểm tra thuế bao gồm :

- Kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan Thuế

- Kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế

Quy trình kiểm tra người nộp thuế chung bao gồm 3 bước:

* Chuẩn bị kiểm tra: Chuẩn bị kiểm tra là khảo sát nắm tình hình về đối tượng

kiểm tra, xác định mục tiêu, khối lượng công việc, thời gian bắt đầu và kết thúccuộc kiểm tra chuẩn bị các thủ tục hành chính cho cuộc kiểm tra

Nội dung chủ yếu của bước chuẩn bị kiểm tra bao gồm:

- Xác định đối tượng, mục đích, yêu cầu của cuộc kiểm tra

- Tổ chức nghiên cứu, nắm vững thông tin cần thiết đối với cuộc kiểm tra

- Xây dựng kế hoạch kiểm tra

- Tổ chức lực lượng kiểm tra

- Hoàn thành các thủ tục pháp lý cho cuộc kiểm tra

* Tiến hành kiểm tra: Tiếp xúc với lãnh đạo đơn vị được kiểm tra để thông

báo quyết định kiểm tra và kế hoạch kiểm tra Công bố quyết định kiểm tra Tiếnhành kiểm tra các nội dung theo quyết định

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 28

* Kết thúc kiểm tra: Yêu cầu của bước này phải dựa vào quy định của cơ

quan, quản lý, dựa vào chứng cứ và phân tích sâu sắc các nhân tố ảnh hưởng để cókết luận chính xác và có kiến nghị xử lý đúng đắn thiết thực

Những công việc chính cần làm: Lập biên bản kiểm tra hoặc lập báo cáokiểm tra Tổ chức công bố, thông qua số liệu biên bản kiểm tra Báo cáo kết quảkiểm tra với lãnh đạo và trình xử lý với người ký quyết định kiểm tra Ra quyết định

xử lý sau kiểm tra và thông báo với DN

Sau khi kết thúc mỗi cuộc kiểm tra, mỗi thành viên đoàn kiểm tra đều phải

có nhật ký kiểm tra và được đóng vào hồ sơ lưu tại cơ quan thuế

Sơ đồ 1.1 Quy trình kiểm tra thuế

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 29

1.1.4.3 Tổ chức kiểm tra thuế trong hệ thống tự khai tự nộp

Hệ thống kiểm tra thuế được tổ chức theo hệ thống dọc gắn với mô hình tổchức CQT Hoạt động kiểm tra thuế được phân cấp theo mô hình tổ chức cấp trungương và địa phương (Cục thuế vùng, tỉnh) Được phân cấp từ thanh tra Tổng cụcThuế đến các phòng kiểm tra thuộc Cục thuế các tỉnh, các đội kiểm tra ở các Chicục Thuế thành phố, thị xã, huyện thị

Trong quản lý thuế, trên thế giới có hai phương thức chủ yếu là kiểm tra trướckhi chấp nhận và tự khai tự nộp:

- Kiểm tra trước khi chấp nhận là phương thức mà trong đó tờ khai thuế phảiđược kiểm tra soát xét ở một mức độ nhất định trước khi thông báo chính thức sốthuế phải nộp của NNT

- Tự khai tự nộp là phương thức mà trong đó tờ khai thuế được chấp nhận ngay(ngoại trừ trường hợp có những sai sót về tính toán hoặc trình bày) Sau đó các tờkhai thuế sẽ được chọn mẫu để kiểm tra Mặc dù còn những tranh luận nhất định,phương thức tự khai tự nộp được xem là một phương thức có nhiều ưu điểm hơn vàđược áp dụng ngày càng rộng rãi với mục đích cải thiện tính tuân thủ và tính thôngqua việc thu được tiền thuế sớm hơn, thực hiện một chương trình kiểm tra có trọngtâm Hệ thống tự khai tự nộp nhấn mạnh đến sự tự giác tuân thủ của NNT nhưng nóphải đi kèm với một hệ thống kiểm tra thuế chặt chẽ và các hình phạt nghiêm khắccho các hành vi vi phạm Do đó, một trong những vấn đề cốt lõi để bảo đảm tínhtuân thủ hệ thống tự khai tự nộp là việc kiểm tra thuế có hữu hiệu hay không Việckiểm tra thuế trong hệ thống tự khai tự nộp nhằm thỏa mãn các mục tiêu sau:

- Phát hiện các hành vi ẩn lậu thuế và thu hồi số thuế bị ẩn lậu

- Thúc đẩy sự tự giác tuân thủ Bởi lẽ khi NNT hiểu rằng nếu sai phạm trongviệc khai thuế thì sẽ bị phát giác và bị phạt, họ sẽ quyết định lựa chọn việc tuân thủluật thuế

- Thu thập thông tin cho việc hoàn thiện hệ thống Với các dữ liệu thu thậpđược qua quá trình kiểm tra thuế sẽ hình thành được một thống cơ sở dữ liệu phục

vụ cho việc phát triển các công cụ đánh giá rủi ro sai lệch thuế, đồng thời điều chỉnhnhững điểm chưa rõ ràng trong luật định Kiểm tra thuế trong hệ thống tự khai tự

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 30

nộp, việc lựa đối tượng kiểm tra là một vấn đề hết sức quan trọng Nó quyết định sựthành công của các mục tiêu đề ra cho hoạt động kiểm tra thuế Cụ thể là:

- Nếu chọn các đối tượng có rủi ro sai lệch thuế thấp để kiểm tra sẽ tốn kémthời gian nhưng không phát hiện được các trường hợp ẩn lậu thuế, không thu hồiđược các khoản thuế bị ẩn lậu

- Nếu các đối tượng được chọn để kiểm tra theo một khuôn mẫu có định, một

số NNT có thể không bao giờ được chọn để kiểm tra, đều này sẽ không khuyếnkhích được sự tuân thủ

- Việc thu thập thông tin để đánh giá mức độ tuân thủ luật thuế, xây dựng cơ

sở dự liệu chuẩn cũng như phát triển các công cụ đánh giá rủi ro theo luật định vàhoàn thiện các quy định thuế đòi hỏi cách thức lựa chọn các đối tượng kiểm tra phảitính toán để có được các kết quả phù hợp

1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- Hệ thống chính sách và pháp luật

Hệ thống pháp luật về thuế là nền tảng cho hoạt động quản lý thuế của cơquan thuế và thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế Một hệ thống văn bản quyphạm pháp luật về thuế đơn giản, đồng bộ, phù hợp với tình hình kinh tế xã hội củađất nước sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng trước hết giúp người nộp thuế hiểu và thựchiện đúng nghĩa vụ thuế Đồng thời, đó cũng là cơ sở pháp lý để hoạt động kiểm trathuế đi vào khuôn khổ, tuân theo đúng những chuẩn mực, quy trình, nhiệm vụ,quyền hạn và trách nhiệm mà pháp luật thuế quy định

Nếu nội dung của các sắc thuế quá phức tạp, qui định không rõ ràng, thủ tụchành chính về thuế rườm rà sẽ khó khăn cho cả cán bộ thuế và người nộp thuế đặcbiệt người nộp thuế là các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài

Bên cạnh đó, tính ổn định của hệ thống văn bản pháp luật về thuế cũng tácđộng rất lớn đến việc chấp hành pháp luật thuế của cả cơ quan thuế và người nộpthuế Hệ thống văn bản liên tục thay đổi, sửa đổi, bổ sung có thể phù hợp với tìnhhình kinh tế xã hội, với các chính sách vĩ mô của Nhà nước nhưng lại có mặt trái là

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 31

dễ gây chồng chéo, phức tạp, khó nắm bắt Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến khảnăng tuân thủ của người nộp thuế và gây khó khăn cho công tác quản lý thuế nóichung và kiểm tra thuế nói riêng.

- Cơ chế kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Để quản lý thu thuế, người ta thường áp dụng một trong hai cơ chế: Cơ quanthuế tính và ra thông báo nộp thuế hoặc cơ sở kinh doanh tự khai tự nộp thuế

+ Cơ chế cơ quan thuế tính và ra thông báo nộp thuế

Trước đây, Việt Nam đã thực hiện quản lý thu thuế theo cơ chế này Theo

cơ chế này, cơ quan thuế căn cứ vào tờ khai thuế do người nộp thuế kê khai để kiểmtra và tính thuế, sau đó thông báo số thuế phải nộp cho người nộp thuế Người nộpthuế có trách nhiệm nộp đầy đủ tiền thuế theo thông báo trong thời gian quy định

Cơ chế này đảm bảo việc tính toán chính xác số thuế phải nộp vào ngân sách nhànước của người nộp thuế Tuy nhiên cơ chế này tạo nên gánh nặng về nghiệp vụ cho

cơ quan thuế, dễ xảy ra hiện tượng tiêu cực giữa cán bộ kiểm tra thuế và người nộpthuế làm thất thu ngân sách nhà nước, mang tính áp đặt và không phát huy đượctrách nhiệm và nghĩa vụ của người nộp thuế Do vậy, công tác kiểm tra thuế gặpnhiều khó khăn, hiệu quả thu thuế thấp

Nhằm khắc phục những hạn chế đó, nước ta đã chuyển sang cơ chế tự kêkhai, tự nộp thuế

+ Cơ chế người nộp thuế tự khai tự nộp thuế

Theo đó, người nộp thuế căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh và cácnghiệp vụ phát sinh của mình để tự kê khai, tự tính toán số thuế phải nộp và chủđộng nộp thuế theo đúng thời hạn quy định của pháp luật thuế Cơ quan thuế khôngcan thiệp vào quá trình kê khai nộp thuế trừ khi phát hiện các sai sót và các dấu hiệu

vi phạm của người nộp thuế Cơ quan thuế có trách nhiệm tuyên truyền, hỗ trợ,hướng dẫn để người nộp thuế hiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thờigiám sát chặt chẽ việc tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế Thông qua côngtác kiểm tra để phát hiện, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm của người nộp thuế

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 32

Thực hiện cơ chế tự khai tự nộp thuế, bộ máy quản lý thuế được tổ chức tậptrung theo các chức năng: tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế; xử lý tờ khai và kếtoán thuế, thu nợ và cưỡng chế thuế, kiểm tra thuế Trong đó chức năng kiểm trathuế là chức năng trọng tâm.

Chỉ khi người nộp thuế nhận thức rằng cơ quan thuế đang thực hiện cácchương trình kiểm tra thuế và nếu có gian lận về thuế, họ sẽ bị cơ quan thuế pháthiện và xử lý, người nộp thuế mới có ý thức hơn trong việc thực hiện đúng nghĩa vụthuế Trong cơ chế tự khai tự nộp, công tác kiểm tra không phải để tăng số thu thuế

mà mục tiêu chính là nhằm ngăn ngừa, phát hiện kịp thời những vi phạm về thuế

Cơ chế này tạo nên sự thông suốt cũng như phát huy được tính tương tác hai chiềugiữa cơ quan quản lý thuế và người nộp thuế

Trên thực tế các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phần lớn khi đầu tưvào Việt Nam đều thuê các công ty tư vấn về pháp luật, đặc biệt là Luật thuế củaViệt nam vì thế khi cơ chế và chính sách pháp luật của Việt Nam không minh bạch,chính xác thì hoạt động kiểm tra thuế sẽ không nhận được sự hợp tác từ các đốitượng nộp thuế là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, điều này dẫn đến khókhăn trong việc thực hiện tổ chức kiểm tra tại trụ sở NNT

- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ làm công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Để phù hợp với yêu cầu quản lý thuế hiện đại và tính chất phong phú, phứctạp, nhiều loại hình của người nộp thuế cũng như tình hình phát triển kinh tế hiệnnay, trình độ chuyên môn của cán bộ kiểm tra thuế là yếu tố vô cùng quan trọng,ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác kiểm tra Cán bộ kiểm tra phải được đàotạo, bồi dưỡng thường xuyên để đáp ứng yêu cầu của tình hình về chính sách thuế,nghiệp vụ kiểm tra các sắc thuế Ngoài ra, để có thể lựa chọn đúng người nộp thuếđưa vào kế hoạch kiểm tra hàng năm cũng như để phân tích chính xác thông tinngười nộp thuế trong quá trình kiểm tra tại doanh nghiệp thì kỹ năng phân tích,đánh giá rủi ro, trình độ tin học của cán bộ kiểm tra cũng là một yêu cầu bắt buộc

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 33

Bên cạnh đó, thái độ và phong cách ứng xử của cán bộ thuế thật tận tụy, công tâm,khách quan giữa quyền lợi của Nhà nước với quyền lợi của đối tượng nộp thuế, làngười bạn đồng hành đáng tin cậy của các đối tượng nộp thuế trong việc thực hiệncác luật thuế Phẩm chất cán bộ kiểm tra, đạo đức nghề nghiệp phải được rèn luyện,

tu dưỡng thường xuyên để không bắt tay với đối tượng vi phạm luật thuế

Số lượng cán bộ kiểm tra thuế cũng ảnh hưởng lớn đến kết quả kiểm tra thuế.Với số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh phức tạp,các thủ đoạn luồn lách trốn thuế ngày càng tinh vi thì việc kiểm tra thuế cần đảm bảomột tần suất nhất định Nếu nguồn lực kiểm tra thiếu thì không thể đạt hiệu quả kiểmtra cao Nhưng nếu bộ máy kiểm tra cồng kềnh sẽ gây lãng phí nguồn nhân lực, trởthành gánh nặng cho công tác quản lý cũng như ngân sách nhà nước Do vậy, tổ chức

bộ máy cán bộ công chức thuế nói chung và bộ máy kiểm tra thuế nói riêng có ýnghĩa quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến công tác kiểm tra thuế

Điểm đặc biệt của các doanh nghiệp FDI là phần lớn các doanh nghiệp này

có ông chủ là người nước ngoài hoặc kế toán trưởng người nước ngoài nên việcgiao tiếp cũng trở thành một trở ngại trong công tác kiểm tra Chính vì vậy, cán bộlàm công tác kiểm tra trong lĩnh vực này cũng đòi hỏi phải có trình độ về ngoại ngữ,như là một công cụ để phục vụ công tác kiểm tra

- Ý thức tự giác của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Ngày nay, với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế xã hội trong giaiđoạn hội nhập kinh tế quốc tế, trình độ dân trí của người dân ngày càng được nângcao Khi người dân thực sự hiểu biết pháp luật về thuế, có ý thức tự giác chấp hànhnghĩa vụ nộp thuế thì hiệu quả của công tác quản lý thuế sẽ rất cao Ngược lại, ngườidân sẽ không có thái độ rõ ràng trước các hành vi trốn thuế, gian lận về thuế, thậm chícòn thờ ơ, khuyến khích, đồng tình, và trong việc kê khai, tính thuế, tự giác nộp thuếcủa mỗi ngưòi dân sẽ không đảm bảo tính chính xác, đầy đủ, kịp thời , sẽ dẫn đếnhậu quả là thất thu thuế, không đảm bảo tính công bằng giữa các đối tượng nộp thuế,công tác quản lý thuế kém hiệu quả

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 34

Trình độ dân trí càng cao, sự hiểu biết về pháp luật thuế càng cao thì khảnăng trốn thuế cũng như các thủ đoạn trốn thuế, ẩn lậu thuế của người nộp thuếcũng ngày càng tinh vi hơn, phức tạp hơn Do vậy công tác kiểm tra thuế càng phảisát sao, kịp thời hơn để nhanh chóng phát hiện các gian lận, nâng cao hiệu quả kiểmtra thuế và quản lý thuế.

Có thể nói, phần lớn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều đến từcác nước phát triển hoặc đang phát triển, vì vậy trình độ của các ông chủ ngườinước ngoài trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều rất cao Điều nàydẫn đến các thủ đoạn trốn thuế, ẩn lậu thuế của các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài cũng tinh vi, phức tạp hơn nhiều so với các doanh nghiệp trong nướckhiến cho công tác kiểm tra thuế đối với đối tượng này trở nên khó khăn hơn

- Môi trường kinh tế- xã hội

Môi trường kinh tế xã hội bao gồm: Tổ chức, cá nhân kinh doanh và ngườitiêu dùng ngày càng gia tăng về số lượng (dân số tăng), mặt bằng dân trí, ý thức tựgiác của người dân, trang thiết bị hiện đại, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiệntương thích với quốc tế, xu hướng hội nhập… Tất cả những vấn đề trên của môitrường kinh tế- xã hội đều tác động tới hiệu quả công tác kiểm tra thuế

Cùng với việc mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, sự gia tăng về số lượng tổchức, cá nhân kinh doanh và người tiêu dùng có yếu tố nước ngoài sẽ dẫn theo sự

đa dạng hóa loại hình doanh nghiệp, hình thức kinh doanh…kèm theo đó là sự phứctạp, tinh vi hơn về thủ đoạn trốn tránh, gian lận thuế, gây khó khăn trong việc pháthiện và xử lý kịp thời các vụ gian lận, ẩn lậu thuế, gây thất thu cho ngân sách nhànước Do đó số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng sẽ làmột thách thức đối với công tác kiểm tra thuế các đối tượng này

1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài

1.2.1 Thực trạng về công tác kiểm tra thuế của một số nước trên thế giới

Để có thể tổ chức hoạt động kiểm tra thuế hiệu quả, các nước chú trọng vàomột số nội dung sau:

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 35

Về mô hình tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm tra thuế Hầu hết các

nước đều có hệ thống kiểm tra thuế được tổ chức theo hệ thống ngành dọc gắn với môhình tổ chức CQT (Malaysia, Indonesia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Anh) Tại Mỹ và Úc,chức năng kiểm tra do các Ban nghiệp vụ (Mỹ) hoặc các Vụ, Cục (Úc) thực hiện,không tổ chức bộ phận kiểm tra riêng tại cấp trung ương

Các nước có tổ chức Ban quản lý đối tượng nộp thuế lớn đều thành lập riêng

bộ phận kiểm tra đối tượng nộp thuế (nằm trong Ban quản lý đối tượng nộp thuếlớn) như Australia, Pháp, Hà Lan, New Zealand, Anh, Mỹ, Canada, Thái Lan,Indonesia, Philippines, Singapore và Hàn Quốc

Hầu hết CQT các nước đều có thẩm quyền điều tra trốn thuế và bộ phậnđiều tra trốn thuế thường được tập trung tại cấp trung ương Riêng Nhật Bản cấpvùng cũng có thẩm quyền điều tra trốn thuế Mỹ là quốc gia có thẩm quyền điều trarộng nhất: Ban điều tra của Mỹ là lực lượng bán vũ trang, chịu trách nhiệm điều tracác vi phạm thuế mang tính hình sự, kể cả các tội phạm liên quan đến rửa tiền vàbuôn bán ma túy và có các chi nhánh ở trong nước và nước ngoài

Tỷ trọng viên chức làm công tác kiểm tra ở các nước chiếm khoảng trêndưới 30% tổng số cán bộ (Nhật Bản: 28%, Anh: 31%, Cục Thuế Thượng Hải-TrungQuốc trên 30%)

Về lựa chọn đối tượng kiểm tra Ở các nước phát triển, công tác xây dựng kế

hoạch kiểm tra hàng năm được tập trung, thống nhất theo chỉ đạo cấp trung ương.Hàng năm, cấp trung ương căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ hướng dẫn việc xây dựng

kế hoạch kiểm tra tập trung vào đối tượng, ngành, nghề nhất định, phê duyệt, điềuchỉnh tỷ lệ đối tượng kiểm tra giữa các ngành nghề Theo kinh nghiệm của CQTAnh thông thường kế hoạch kiểm tra thuế được xây dựng theo cơ cấu: 40% do CQTtrung ương xây dựng; 10% do lựa chọn ngẫu nhiên; 50% do Cục Thuế và Chi cụcThuế xây dựng

Về các cách thức tiến hành kiểm tra.

Ở các nước phát triển, hiện đang áp dụng các hình thức kiểm tra sau:

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 36

- Kiểm tra thuế trên cơ sở phân tích rủi ro:

Kiểm tra tại trụ sở CQT: Là hình thức kiểm tra các rủi ro không nghiêmtrọng và có giá trị truy thu không trọng yếu

Kiểm tra tại cơ sở: Thường là các vụ việc có rủi ro nghiêm trọng, khôngthuộc phạm vi kiểm tra tại trụ sở CQT

- Kiểm tra ngẫu nhiên: Là loại hình kiểm tra mang tính chất chọn lựa xácsuất nhằm kiểm tra, đánh giá tình hình chung về việc tuân thủ pháp luật Kiểm trangẫu nhiên có thể được xác định theo chủ đề

Về thời gian kiểm tra.

Hầu hết các nước đều quy định thời gian kiểm tra tương đối dài, từ một vàitháng đến một vài năm, tuỳ theo tính chất, quy mô cuộc kiểm tra, điều tra thuế.Thời gian kiểm tra tại cơ sở kinh doanh là 02 tháng và có thể kéo dài 08 tháng nếuđược Lãnh đạo CQT cho phép kiểm tra tại trụ sở CQT thì thời gian là 01 tháng, cóthể kéo dài 02 tháng (Indonesia); Thời gian thu thập tài liệu phân tích thông tin (kiểm tra tại trụ sở CQT) từ 30 ngày đến 45 ngày; Thời gian kiểm tra đối tượng nhỏkhoảng 6 tháng; đối tượng lớn là một năm và điều tra thuế là 2 năm (Anh)

Về kiểm soát chất lượng kiểm tra.

Các nước đều xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm tra để kiểm soát chấtlượng kiểm tra Hệ thống chuẩn mực từng nước có sự khác biệt nhất định nhưng đềubao gồm các nhóm chuẩn mực sau: Chuẩn mực 1: Kế hoạch kiểm tra; Chuẩn mực 2:Bằng chứng kiểm tra và thu thập bằng chứng kiểm tra; Chuẩn mực 3: Kết luận, kiếnnghị kiểm tra; Chuẩn mực 4: Tài liệu làm việc và Báo cáo kiểm tra

Về ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra thuế.

Nhóm các nước phát triển có trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trongkiểm tra thuế cao và tại cấp trung ương thường thành lập bộ phận “Kiểm tra máytính” Theo kinh nghiệm các nước (Australia, New Zealand, Nhật bản, Hồng Kông,Trung quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan ) hiện tại dotính hiệu quả kiểm tra máy tính chỉ nên áp dụng đối với những NNT lớn, có hoạtđộng đa dạng, đa quốc gia

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 37

Công tác tuyển chọn và đào tạo cán bộ kiểm tra.

Những tiêu chuẩn cơ bản kiểm tra viên cần phải có gồm: Có kiến thứcchuyên sâu về luật thuế; Có kiến thức về kế toán theo chuẩn mực trong nước vàquốc tế và mối liên kết giữa các yêu cầu về kế toán tài chính và kế toán cho mụcđích thuế; Có kỹ năng kiểm tra, phân tích kinh tế; Có tính nhạy bén, làm việc độclập và chịu được áp lực công việc; Có kiến thức thành thạo về sử dụng máy vi tính(bao gồm kiến thức cơ bản về hệ điều hành, mô hình lưu trữ dữ liệu, các ứng dụng

cơ sở và ứng dụng chuyên ngành sử dụng cho kiểm tra); Có khả năng giao tiếp bằngngoại ngữ

Các nước đều chú trọng công tác đào tạo và bồi dưỡng viên chức thuế Một

số Tổng cục Thuế các nước có trung tâm đào tạo riêng Nhiều trung tâm được đầu

tư hiện đại xếp hạng quốc tế hoặc khu vực như Trung tâm đào của Nhật Bản,Malaysia, Pháp Kiểm tra viên khi mới được tuyển dụng đều được dự các khoá bồidưỡng nghiệp vụ và đào tạo cơ bản

Về hiện đại hóa kiểm tra thuế nâng cao hiệu quả quản lý thuế.

Trong quá trình tiến hành cải cách và hiện đại hoá công tác quản lý thuế, cácquốc gia đều đặt trọng tâm vào việc hiện đại hoá công tác kiểm tra thuế với mụctiêu là nâng cao hiệu quả kiểm tra thuế dựa trên cơ sở phân tích rủi ro, đổi mới nộidung, phương pháp và tổ chức hoạt động kiểm tra, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật ởmức độ cao, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra thuế

Nói chung hiện đại hoá công tác kiểm tra thuế là khuynh hướng phổ biếntrên thế giới bởi nó mang lại những lợi ích to lớn cho đối tượng nộp thuế, giảmmạnh những chi phí tuân thủ pháp luật về thuế cho NNT, giảm chi phí hànhchính, nguồn lực; tăng chất lượng, hiệu quả và hiệu lực công tác kiểm tra thuếcho Nhà nước, đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng về thuế, phù hợp vớithông lệ quốc tế, nâng cao khả năng hội nhập kinh tế quốc tế và tăng thu choNSNN

1.2.2 Thực trạng về công tác kiểm tra thuế doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở việt Nam

- Kinh nghiệm của Cục thuế Hà Nội

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 38

Cơ chế tự khai tự nộp được thí điểm tại 09 Cục thuế theo quyết định số197/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã đem lại thành công nhất định Cơchế tự khai tự nộp đã được luật hoá và áp dụng trên phạm vi toàn quốc theo Luậtquản lý thuế từ ngày 01/07/2007 theo đúng lộ trình tại quyết định số 201/2004/QĐ-TTg ngày 06/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ, đã góp phần quan trọng đóng gópvào thành công chung của công tác kiểm tra người nộp thuế Tại Cục thuế thànhphố Hà Nội, quá trình thí điểm cơ chế tự khai tự nộp được áp dụng cho khối doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Do vậy, khi Luật quản lý thuế ra đời, doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Hà Nội đã trải qua giai đoạn thí điểmnên có nhiều thuận lợi hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác khi tiếp cận với

cơ chế quản lý mới

Qua kiểm tra thuế phát hiện nhiều sai phạm trong xác định nghĩa vụ thuế của doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: ví dụ như hiện tượng trốn thuế thông qua chuyển giá vàxác định sai nghĩa vụ thuế ở thuế thu nhập cá nhân cũng như thuế nhà thầu

+ Chuyển giá là vấn đề nhạy cảm đòi hỏi trình độ chuyên môn cao và việcxác định hành vi vi phạm về thuế thông qua chuyển giá rất phức tạp nên các đoànkiểm tra thường không kiểm tra sâu sát lĩnh vực này

+ Thu nhập và phúc lợi của cá nhân làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài tương đối cao so với mặt bằng thu nhập chung tại các khối doanh nghiệpkhác Do đó, các sai phạm về thuế thu nhập cá nhân (TNCN) trong các doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài cũng cao hơn Từ năm 2009, Luật thuế TNCN mới được ápdụng nhưng do tính chất phức tạp của Luật mới nên sai phạm về thuế TNCN càngnhiều, đòi hỏi công tác kiểm tra thuế càng sát sao hơn

+ Những vi phạm trong lĩnh vực thuế nhà thầu Do thuế nhà thầu là loại thuếđặc thù chỉ phát sinh trong một số trường hợp giao dịch với công ty ở nước ngoàinên hiểu biết của kế toán cũng như nhà quản trị doanh nghiệp về lĩnh vực này cònhạn chế Đặc biệt, không phải cán bộ kiểm tra nào cũng nắm vững nghiệp vụ nàynên thất thoát thuế nhà thầu hiện nay tương đối phổ biến

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 39

- Kinh nghiệm của Cục thuế Bình Dương

Tính đến tháng 8/2014, Cục Thuế Bình Dương đã tiến hành kiểm tra 73.109lượt hồ sơ thuế, đạt 85,09 % kế hoạch cả năm Số doanh nghiệp được kiểm tra lầnlượt cũng đạt khoảng 62,59% và 55% so với kế hoạch đề ra, với tổng số tiền thuếtruy thu, thu hồi, phạt vi phạm hành chính là 244.258 triệu đồng, trong đó số đã nộpNSNN đạt 67,2%, tương đương 164.158 triệu đồng Đây là kết quả khá cao so vớimức bình quân chung của toàn ngành, xét cả về tiến độ thực hiện kế hoạch kiểm tra

và số thuế thu hồi, động viên vào NSNN

Cục Thuế tỉnh Bình Dương cho biết, đã tập trung kiểm tra rất nhiều lĩnh vựcnhư: chuyên đề kiểm tra đối với nhà thầu nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam theohình thức xuất nhập khẩu tại chỗ; thuế đối với nhà thầu nước ngoài cung cấp máymóc thiết bị có kèm theo dịch vụ bảo hành tại Việt Nam; thuế đối với nhà thầu nướcngoài liên kết thực hiện dịch vụ đào tạo tại Việt Nam Bằng việc quán triệt thựchiện nghiêm túc các quy trình kiểm tra cơ bản, kết hợp với kinh nghiệm quản lý vàkhả năng nhạy bén, sáng tạo trong xử lý tình huống, công tác kiểm tra, Cục ThuếBình Dương đã ghi nhận những kết quả khả quan

Xác định việc triển khai nhiệm vụ kiểm tra sẽ phải đối mặt với rất nhiềuthách thức, trong những năm tiếp theo, Cục thuế Bình Dương tiếp tục tranh thủ sựlãnh đạo của cấp uỷ, chỉ đạo của UBND các cấp trong tổ chức chỉ đạo điều hànhcông tác thuế tại địa phương; tăng cường sự phối hợp với các ban, ngành trongtriển khai các biện pháp tổ chức quản lý thuế, kiểm tra chống thất thu ngân sáchtrên từng địa bàn Cục thuế các cấp tập trung lực lượng tăng cường công tác kiểmtra, phân tích tình trạng kê khai, quyết toán thuế làm cơ sở cho việc xây dựng đềcương kiểm tra chống thất thu thuế, quyết toán thuế, kiểm tra sau hoàn thuế gắnvới việc đối chiếu xác minh hoá đơn để kịp thời phát hiện, xử lý các trường hợpgian lận về thuế

- Kinh nghiệm của Cục thuế TPHCM

Theo báo cáo của Cục Thuế TP Hồ Chí Minh về kết quả kinh doanh năm

2015 của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn cho thấy, gần 60% sốdoanh nghiệp báo cáo thua lỗ Không nhiều người ngạc nhiên về điều này bởi ngay

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 40

trong năm 2014 vẫn có gần 70% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kêu lỗ.Năm sau đó, 2013, tỷ lệ này cũng chiếm tới hơn 61% Điều này lý giải vì sao tỷ lệđóng góp cho ngân sách quốc gia của khối FDI (không kể dầu thô) khá thấp, daođộng 9-10% tổng thu ngân sách của quốc gia trong giai đoạn 2014-2016 Riêng năm

2015, phần đóng góp của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 11,2% sovới kế hoạch

Tăng cường công tác kiểm thuế, đặc biệt là công tác chống chuyển giá đốivới các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn, Cục thuế TPHCM đãbước đầu đạt dược những kết quả như sau: Giá trị giảm lỗ lớn, với số lỗ giảm là 362

tỷ đồng, số thuế truy thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển giá vớihơn 15 tỷ đồng Tại TP.Hồ Chí Minh, hiện tượng báo lỗ phổ biến nhất là ở cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, gia cônghàng xuất khẩu Hiện, địa bàn này có 3.281 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàiđang hoạt động thì trên 50% số doanh nghiệp kê khai thua lỗ nhưng vẫn tăng trưởngdoanh thu, tập trung vào các ngành: dệt, may, da giày, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh,chế biến và bảo quản nông sản, lâm sản, thuỷ sản Cùng với việc thường xuyên kêkhai thua lỗ, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài này còn thường xuyên đềnghị hoàn thuế và không ngừng đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh Trong khi đó,cũng hoạt động trong cùng điều kiện môi trường sản xuất kinh doanh như vậy, cácdoanh nghiệp độc lập khác trong nước vẫn kê khai có lãi và nộp thuế TNDN

Tình trạng chuyển giá ngày càng gia tăng, phức tạp và với mức độ lớn,làm thất thu cho NSNN Nhất là trong bối cảnh số thu NSNN ngày càng khókhăn Vì vậy, một mặt tạo mọi điều kiện tốt nhất cho cộng đồng doanh nghiệpnộp thuế, mặt khác thời gian tới ngành thuế TPHCM sẽ tiến hành kiểm tra liêntục với những doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm chính sách thuế, xử lý nghiêmcác trường hợp trốn thuế, gian lận thuế

1.2.3 Một số bài học kinh nghiệm rút ra

Để áp dụng được các kinh nghiệm tiên tiến của các nước trên thế giới vào

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Ngày đăng: 20/09/2017, 15:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w