Để đạt được những thành tựu này, bên cạnh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế còn có phần đóng góp rất lớn từ các chính sách điều hành của chính quyền tỉnh t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
NGUYỄN PHƯỚC ANH TRÍ
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG
TỪ NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong luận văn là trung thực và được phép công bố, mọi trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc, đề tài không trùng với bất kỳ đề tài luận văn thạc sĩ nào
Ngày 11 tháng 7 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Phước Anh Trí
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được sự tận tình giúp đỡ của các cá nhân, các cơ quan cùng các cấp lãnh đạo Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới các tập thể và các cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo Trường Đại học Kinh tế Huế; Phòng Khoa học công nghệ - Hợp tác quốc tế - Đào tạo sau đại học; các Khoa, Phòng ban cùng tất cả các thầy cô giáo của trường Đại học Kinh tế Huế, là những người đã cung cấp cho tôi kiến thức chuyên ngành phong phú, bổ ích cũng như đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này Đồng thời, tôi cũng xin được cảm ơn thầy giáo PGS.TS Mai Văn Xuân - người
đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, góp ý và đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn vừa qua
Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các anh, chị công tác tại Sở Tài chính tỉnh Thừa Thiên Huế và các cơ quan ban ngành trong tỉnh đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo để tôi có được những thuận lợi trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Do đó, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Huế, ngày 11 tháng 7 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Phước Anh Trí
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 4TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
Họ và tên học viên: NGUYỄN PHƯỚC ANH TRÍ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế Niên khóa: 2014-2016
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS MAI VĂN XUÂN
Tên đề tài: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG TỪ
NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
1 Tính cấp thiết của đề tài: Trong những chính sách, công cụ điều hành quản
lý Nhà nước, đầu tư công chiếm vai trò vô cùng cần thiết vì đây công cụ khắc phục các hạn chế của nền kinh tế thị trường, là đòn bẫy kinh tế, tạo điều kiện cho đầu tư từ các khu vực còn lại phát huy hiệu quả Công tác quản lý đầu tư công của tỉnh Thừa Thiên Huế hiện đang được quan tâm và chú trọng đặc biệt là từ nguồn NSNN Các cấp chính quyền trong tỉnh nỗ lực trong việc triển khai thực hiện cơ chế chính sách chung, cải tiến quy trình, thủ tục và quản lý sử dụng, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra Kết quả đã góp phần quan trọng vào việc đầu tư đúng mục đích, đúng luật
và có hiệu quả cao Tuy nhiên, tình hình kinh tế cả nước nói chung và tỉnh nhà nói riêng đang đối diện với những khó khăn và thách thức Muốn vượt qua, tỉnh cần phải đẩy mạnh cải cách, đổi mới quản lý, thực hành tiết kiệm và chống lãng phí hơn nữa Việc tìm kiếm những giải pháp hoàn thiện quản lý đầu tư công từ NSNN là vấn đề
rất cấp thiết, đó cũng là lý do của việc lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện công ta ́ c quản
lý đầu tư công từ nguồn ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế”
2 Phương pháp nghiên cứu:
- Thu thập thông tin, số liệu: số liệu sơ cấp, số liệu thứ cấp;
- Tổng hợp và xử lý số liệu: sử dụng Excel, SPSS;
- Phương pháp phân tích: thống kê mô tả, nhân tố và phương pháp chuyên gia
3 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp của luận văn: Luận văn đã hệ
thống hóa lý luận cơ bản về công tác quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN Trên cơ
sở đó phân tích thực trạng công tác quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư công từ NSNN tại Thừa Thiên Huế đến năm 2020
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lới cam ơn ii
Tóm lược luận văn iii
Mục lục iv
Danh mục các từ viết tắt ix
Danh mục các bảng, biểu x
Danh mục các sơ đồ, hình vẽ, biểu đồ xii
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu: 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu: 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin, số liệu 3
4.1.1 Tài liệu thứ cấp 3
4.1.2 Tài liệu sơ cấp 4
4.2 Phương pháp phân tích 4
4.2.1 Phương pháp xử lý số liệu 4
4.2.2 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo 5
5 Cấu trúc của luận văn 5
PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG TỪ NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 6
1.1 Khái niệm đầu tư 6
1.2 Khái niệm đầu tư công 6
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 61.3 Vai trò của đầu tư công đối với phát triển kinh tế - xã hội 7
1.4 Nguồn vốn đầu tư công 8
1.4.1 Khái niê ̣m 8
1.4.2 Nguồn vồn đầu tư công từ NSNN 8
1.4.3 Công tác quản lý nguồn vốn NSNN trong đầu tư công 10
1.5 Quản lý đầu tư công 12
1.5.1 Khái niệm quản lý đầu tư công 12
1.5.2 Nội dung quản lý đầu tư công 13
1.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đầu tư công 17
1.7 Hiệu quả quản lý đầu tư công 19
1.8 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả đầu tư công 20
1.8.1 Đo lường hiệu quả đầu tư công ở tầm vi mô dự án 20
1.8.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý đầu tư công tầm vĩ mô 21
1.9 Cơ sở thực tiễn 21
1.9.1 Kinh nghiệm về quản lý đầu tư công của một số quốc gia trên thế giới và của một số tỉnh, thành phố trong nước, những bài học rút ra 23
1.9.2 Những bài học rút ra có thể áp dụng cho quá trình quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN tại tỉnh Thừa Thiên Huế 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG TỪ NGUỒN NSNN CỦA TỈNH THỪA THIÊN HUẾ GIAI ĐOẠN 2010-2015 31
2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến công tác quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN tại tỉnh Thừa Thiên Huế 31
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, vị trí địa lý 31
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế 33
2.2 Phân tích thực trạng quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN trên đi ̣a bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011-2015 37
2.2.1 Định hướng đầu tư, xây dựng dự án và sàng lọc bước đầu 37
2.2.2 Thẩm định dự án 40
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 72.2.3 Đánh giá độc lập đối với thẩm định dự án 44
2.2.4 Lựa chọn và lập ngân sách dự án 45
2.2.5 Triển khai dự án 47
2.2.6 Điều chỉnh dự án 51
2.2.7 Vận hành dự án 52
2.2.8 Đánh giá và quyết toán sau khi hoàn thành dự án 53
2.2.9 Tình hình sử dụng nguồn vốn ngân sách cho đầu tư công của tỉnh 55
2.2.10 Nhận xét, đánh giá các bước trong quy trình quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN của tỉnh Thừa Thiên Huế 58
2.3 Khảo sát đánh giá công tác quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN 60
2.3.1 Quy trình khảo sát 60
2.3.2 Kết quả khảo sát 62
2.4 Đánh giá chung về công tác quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN tỉnh giai đoạn 2011-2015 76
2.4.1 Đánh giá dựa trên kết quả khảo sát 76
2.4.2 Đánh giá hiệu quả dự án đầu tư công thông qua chỉ số vi mô 79
2.4.3 Đánh giá hiệu quả quản lý đầu tư công thông qua chỉ số vĩ mô 80
2.4.4 Nhận xét, đánh giá chung quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN của tỉnh Thừa Thiên Huế 81
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ GIAI ĐOẠN 2016-2020 86
3.1 Mục tiêu phát triển KT-XH tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2016-2020 86 3.1.1 Thuận lợi 86
3.1.2 Khó khăn 86
3.1.3 Mục tiêu 86
3.2 Định hướng phát triển 87
3.2.1 Định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực cụ thể 87
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 83.2.2 Đi ̣nh hướng lĩnh vực đầu tư công 88
3.3 Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN ta ̣i tỉnh Thừa Thiên Huế 89
3.3.1 Nâng cao chất lượng của quy hoạch, kế hoạch đề ra 90
3.3.2 Đầu tư nguồn vốn NSNN phù hợp với cơ cấu kinh tế và phù hợp với quy hoạch được duyệt 90
3.3.3 Về cơ chế quản lý các dự án đầu tư, quản lý chất lượng công trình 91
3.3.4 Công tác tư vấn, thẩm định, phê duyệt dự án, lập dự toán, triển khai thực hiê ̣n 92
3.3.5 Tăng cường kiểm soát việc điều chỉnh dự án 94
3.3.6 Kiểm toán và đánh giá sau khi dự án kết thúc 94
3.3.7 Tăng cường cải cách hành chính, chống tiêu cực, phiền hà ở các cơ quan nhà nước liên quan đến quá trình đầu tư công 94
3.3.8 Thực hiện cơ chế dân chủ, công khai, minh bạch trong đầu tư công 95
3.3.9 Chống tiêu cực, tham nhũng và lãng phí trong đầu tư công, đẩy ma ̣nh quản lý nguồn vốn NSNN 95
3.3.10 Chú trọng công tác đào tạo cán bộ quản lý đầu tư 96
3.3.11 Nâng cao chất lượng giải phóng mặt bằng, tái định cư 96
PHẦN 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
1 Kết luận 97
2 Kiến nghị 97
2.1 Kiến nghi ̣ đối với cấp tỉnh 97
2.1.1 Tăng cường năng lực cơ quan nhà nước thông qua các hoạt động kiểm tra, kiểm soát 97
2.1.2 Đẩy nhanh quá trình cải cách hành chính trong đầu tư xây dựng 98
2.1.3 Bắt buộc áp dụng phương pháp thẩm định phân tích lợi ích - chi phí đối với các dự án đầu tư công 99
2.1.4 Giảm bớt gánh nặng ngân sách thông qua hợp tác công - tư 99
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 92.2 Kiến nghị đối với cấp Trung ương 100
2.2.1 Đổi mới quy định khuyến khích, khen thưởng đối với cán bộ 100
2.2.2 Tiếp tục rà soát, điều chỉnh hoàn thiện các luật 100
2.2.3 Mở rộng ràng buộc về ngân sách chi cho đầu tư công 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 104
1 Biên bản của Hội đồng và 2 nhận xét của phản biện
2 Bản giải trình chỉnh sửa luận văn
3 Xác nhận hoàn thiện luận văn của Người hướng dẫn khoa học
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
NSNN : Ngân sách nhà nước
NSTW : Ngân sách trung ương
NSĐP : Ngân sách địa phương
HĐND : Hội đồng Nhân dân
UBND : Uỷ ban nhân dân
XDCB : Xây dựng cơ bản
CTMTQG : Chương trình mục tiêu quốc gia
CBĐT : Chuẩn bị đầu tư
VĐTC : Vốn đầu tư công
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế
giai đoạn 2011-2015 34
Bảng 2.2 Danh mục một số dự án được thẩm định và thực hiện điều chỉnh ngân sách từ nguồn NSNN trong giai đoạn 2011-2015 tại Thừa Thiên Huế 43
Bảng 2.3 Tình hình nợ đọng vốn đầu tư công từ NSNN tính đến thời điểm 31/12/2014 của tỉnh Thừa Thiên Huế 47
Bảng 2.4 Thống kê số gói thầu thực hiện lựa chọn nhà thầu từ 2011-2015 48
Bảng 2.5 Thống kê số dự án châ ̣m tiến đô ̣ giai đoa ̣n 2011-2015 49
Bảng 2.6 Thống kê số dự án đầu tư công phải điều chỉnh 2011-2015 52
Bảng 2.7 Thống kê dự án đầu tư công kết thúc và đưa vào hoạt động giai đoa ̣n 2011-2015 của tỉnh Thừa Thiên Huế 54
Bảng 2.8 Kết quả quyết toán dự án hoàn thành đầu tư từ NSNN tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011-2015 54
Bảng 2.9 Nguồn NSNN phân bổ cho các ngành kinh tế tại tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011-2015 58
Bảng 2.10 Một số thông tin của người được phỏng vấn 62
Bảng 2.11 Một số thông tin về dự án phỏng vấn 63
Bảng 2.12 Độ tin cậy thang đo của các biến quan sát 64
Bảng 2.13 Kiểm định KMO and Bartlett’s Test lần 1 66
Bảng 2.14 Kiểm định KMO and Bartlett’s Test lần 2 66
Bảng 2.15 Tổng biến được giải thích 66
Bảng 2.16 Ma trận nhân tố với phép xoay Varimax lần thứ 2 67
Bảng 2.17 Kiểm định KMO and Bartlett’s Test rút trích nhân tố 68
Bảng 2.18 Tổng biến được giải thích nhân tố đánh giá chung 69
Bảng 2.19 Hệ số tải của yếu tố ảnh hưởng hiệu quả quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN 69
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12Bảng 2.20 Kết quả phân tích tương quan các nhân tố ảnh hưởng 70Bảng 2.21 Hệ số tương quan 72Bảng 2.22 Phân tích ANOVA 72Bảng 2.23 Phân tích hồi quy các yếu tố tác động đến hiệu quả quản lý đầu tư
công từ nguồn NSNN 72Bảng 2.24 Thống kê các ý kiến về những tồn tại và vướng mắc trong quản lý
đầu tư công tại Thừa Thiên Huế 74Bảng 2.25 Bảng phân tích tài chính dự án trường THCS Nguyễn Tri Phương80Bảng 3.1 Dự báo nhu cầu và cân đối vốn đầu tư công nguồn NSNN
từ 2016-2020 88
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 13DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Sơ đồ 1.1 Các nội dung chủ yếu trong công tác quản lý đầu tư công 13
Sơ đồ 1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đầu tư công 17Biểu đồ 1.1 Vốn đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng theo giá thực tế 27Biểu đồ 2.1 Thống kê dự án được định hướng đầu tư, xây dựng dự án đầu tư từ
nguồn NSNN của tỉnh qua từng năm giai đoa ̣n 2011-2015 39Biểu đồ 2.2 Biểu đồ phân bổ vốn NSNN qua các năm 2011-2015 39Biểu đồ 2.3 NSNN chi đầu tư giai đoạn 2011-2015 của tỉnh Thừa Thiên Huế
56Biểu đồ 2.4 Cơ cấu tổng vốn đầu tư theo ngành kinh tế trong giai đoa ̣n 2011-
2015 tỉnh Thừa Thiên Huế 57Biểu đồ 2.5 Nhóm nhân tố chủ yếu tác động đến việc hiệu quả quản lý đầu tư
công từ nguồn vốn NSNN 76Biểu đồ 2.6 Đánh giá về các giai đoạn trong quản lý đầu tư công từ nguồn
NSNN tại Thừa Thiên Huế 78Biểu đồ 2.7 Tỉ lệ đầu tư công trên GDP 81Biểu đồ 3.1 So sánh nhu cầu và cân đối vốn đầu tư công từ NSNN giai đoạn
2011-2015 với dự báo giai đoạn 2016-2020 89
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011-2015 đã có chuyển biến tích cực: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực và phù hợp với những lợi thế so sánh của tỉnh về phát triển công nghiệp, du lịch, dịch vụ y tế, giáo dục ; Kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn; Giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ, các lĩnh vực văn hoá - xã hội, y tế có nhiều tiến bộ; đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội được bảo đảm
Để đạt được những thành tựu này, bên cạnh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế còn có phần đóng góp rất lớn từ các chính sách điều hành của chính quyền tỉnh thông qua các hoạt động quản lý Nhà nước của các cơ quan hành chính, hoạt động đầu tư bằng vốn ngân sách vào các lĩnh vực phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội Trong những chính sách, công cụ điều hành này, đầu tư công chiếm vai trò vô cùng cần thiết vì đây công cụ khắc phục các hạn chế của nền kinh tế thị trường, là đòn bẫy kinh tế, tạo điều kiện cho đầu tư từ các khu vực còn lại phát huy hiệu quả cao thông qua việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, đồng thời còn giúp phát triển các mặt về xã hội mà các thành phần kinh tế tư nhân thường ít tham gia Hiệu quả đầu tư công trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011-2015 đã cải thiện kết cấu hạ tầng tại địa phương, nhiều công trình quan trọng, chiến lược được xây dựng và phát huy hiệu quả như: 32km đê biển; cầu đường bộ Bạch Hổ qua sông Hương, đường La Sơn - Nam Đông, trường THCS chất lượng cao Nguyễn Tri Phương, bệnh viện đa khoa Thừa Thiên Huế; đường Điện Biên Phủ, Đống Đa; đầu
tư gần 420 tỷ đồng cho các dự án thuộc Đề án quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị
di tích Cố đô, và nhiều công trình khác Tiềm lực, vị thế tỉnh được nâng cao, công tác quản lý điều hành có nhiều tiến bộ, các thành phần kinh tế phát triển, quốc phòng an ninh và quan hệ đối ngoại được củng cố, tăng cường; đưa Thừa Thiên Huế trở thành một trong những trung tâm tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15Cũng như trong cả nước, việc quản lý đầu tư công của tỉnh Thừa Thiên Huế được quan tâm và chú trọng đặc biệt là từ nguồn NSNN Các cấp chính quyền trong tỉnh đã nỗ lực trong việc triển khai thực hiện cơ chế chính sách chung, cải tiến quy trình, thủ tục và quản lý sử dụng, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra Kết quả đã góp phần quan trọng vào việc đầu tư đúng mục đích, đúng luật và có hiệu quả cao; kịp thời phát hiện những dự án đầu tư công sai mục đích, sai nguyên tắc, vi phạm quy trình, sai định mức chi tiêu , góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả quản
lý đầu từ công theo đúng nhiệm vụ được giao
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, kinh tế cả nước nói chung và tỉnh nhà nói riêng đang đối diện với những khó khăn và thách thức như áp lực lạm phát, cơ sở hạ tầng không đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế, sức ép cạnh tranh của các nước khi
mở cửa nền kinh tế, trình độ phát triển kinh tế - xã hội nói chung còn thấp, chịu áp lực trả nợ từ việc đầu tư Muốn vượt qua được những thách thức này, tỉnh cần phải đẩy mạnh cải cách, đổi mới quản lý, thực hành tiết kiệm và chống thất thoát, lãng phí hơn nữa Việc tìm kiếm những giải pháp hoàn thiện quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN là vấn đề rất cấp thiết Đó cũng là lý do của việc lựa chọn đề tài:
“HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG TỪ NGUỒN NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích thực trạng công tác quản lý đầu tư công tâ ̣p trung chủ yếu từ nguồn NSNN trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế và những tác động đến sự phát triển kinh tế
xã hội tại địa phương
- Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN tại địa phương;
- Căn cứ các vấn đề đã phân tích, kiến nghị một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý đầu tư công tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn sắp đến
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 163 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Hệ thống quy định pháp luật liên quan đầu tư công; các cơ quan quản lý đầu tư công; các cơ quan quản lý nguồn vốn NSNN cho đầu tư công trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: đề tài thực hiện nghiên cứu tại tỉnh Thừa Thiên Huế
- Phạm vi thời gian: nghiên cứu giai đoạn từ 2011-2015 trong đó: Thông tin số liệu thứ cập được thu thập từ năm 2011-2015; thông tin sơ cấp được thu thập trong quá trình điều tra khảo sát tập trung vào đánh giá giai đoạn 2011-2015
- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung làm rõ thực trạng công tác quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN hiện nay của tỉnh Thừa Thiên Huế Căn cứ đề xuất các giải pháp chủ yếu để giải quyết trong thời gian 2016-2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình thực hiện luận văn tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:
4.1 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin, số liệu
Những thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu được thu thập từ nguồn tài liệu thứ cấp và sơ cấp
4.1.1 Tài liệu thứ cấp
- Xem xét các văn bản, chính sách, các báo cáo tổng kết của các cấp, các ngành
và các nguồn số liệu thống kê, niên giám thống kê các năm về đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và tình hình đầu tư công
- Những tài liệu lý luận chung về đầu tư công, hệ thống quy định pháp luật về đầu tư công của Nhà nước hiện hành, những kinh nghiệm của một số tỉnh khác đạt hiệu quả cao trong đầu tư công
- Ngoài ra còn tham khảo các đề tài, các báo cáo khoa học, các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước; qua các cổng thông tin điện tử, mạng Internet
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 174.1.2 Tài liệu sơ cấp
Điều tra nguồn số liệu sơ cấp trên cơ sở tiến hành khảo sát thực tế đơn vị quản
lý đầu tư công từ NSNN trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, thông qua phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp dùng bảng hỏi
- Phương pháp chọn mẫu: ngẫu nhiên không lặp Tiến hành chọn ngẫu nhiên, mỗi đơn vị tùy vào chức năng nhiệm vụ để chọn 2-5 cán bộ điều tra Các đơn vị lựa chọn gồm: các BQLDA chuyên ngành, BQLDA các cấp, BQL các sở, ban ngành; các
cơ quan quản lý nhà nước như Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, Sở Giao thông vận tải và Sở Tài chính; chọn một vài đơn vị thi công và một số chuyên gia trong lĩnh vực đầu tư công để thêm phần khái quát và mang tính chất đại diện
- Nội dung phiếu điều tra chủ yếu tập trung tìm hiểu:
Phần 1: Các thông tin về đối tượng điều tra
Phần 2: Nội dung đánh giá về các yếu tố tác động đến chất lượng công tác quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN tỉnh Thừa Thiên Huế
Phần 3: Nội dung đánh giá các bước trong quy trình quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN của tỉnh Thừa Thiên Huế
- Bảng hỏi dùng để điều tra bao gồm 20 câu hỏi chính đánh giá công tác quản
lý đầu tư công từ nguồn NSNN của tỉnh Tiến hành điều tra khảo sát trên 130 đối tượng và thu lại được 115 phiếu điều tra hợp lệ dùng để tiến hành xử lý số liệu
4.2 Phương pháp phân tích
4.2.1 Phương pháp xử lý số liệu
Đề tài sử dụng phần mềm SPSS 22 và Microsoft Excel 2013 để xử lý, phân tích
số liệu Dữ liệu sau khi mã hóa, làm sạch và tiến hành phân tích:
- Kiểm định độ tin cậy của thang đo: Sử dụng Cronbach’s Alpha để kiểm tra
độ tin cậy các tham số ước lượng trong tập dữ liệu theo từng nhóm yếu tố trong mô hình Những biến không đảm bảo độ tin cậy sẽ bị loại khỏi tập dữ liệu
- Thống kê mô tả: các kết quả thống kê mô tả sẽ được sử dụng để đưa ra các đặc điểm chung về đối tượng điều tra và các thông tin thống kê ban đầu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18- Tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA để rút trích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN
- Phân tích tương quan hồi quy tuyến tính để xác định các nhân tố thực sự có tác động đến hiệu quả của công tác quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN tỉnh
4.2.2 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Trong quá trình thực hiện luận văn, ngoài những phương pháp kể trên, bản thân
đã thu thập ý kiến của các chuyên gia và các nhà quản lý trong lĩnh vực đầu tư công như: Sở KH&ĐT, Tài chính, Xây dựng, Giao thông, Điện lực, KBNN, chuyên viên xây dựng cơ bản và đầu tư công của văn phòng UBND tỉnh để làm căn cứ cho việc đưa các kết luận một cách xác đáng, có căn cứ khoa học và thực tiễn; làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp có tính thực tiễn, có khả năng thực thi và có sức thuyết phục cao nhằm nâng cao việc quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần danh mục tài liệu tham khảo, lời mở đầu và phụ lục, luận văn gồm:
- Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN
- Chương 2: Thực trạng quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN của tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2010-2015
- Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách tại tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoa ̣n 2016-2020
- Phần kết luận và kiến nghị
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 19PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG TỪ
NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 Khái niệm đầu tư
Theo cách hiểu thông thường nhất trong xã hội, đầu tư là việc bỏ vốn ra bằng tiền hoặc các tài sản hữu hình (nhà xưởng, máy móc, ) hoặc tài sản vô hình (phát minh, sáng chế, thương hiệu, ) để kinh doanh nhằm đạt được lợi ích nào đó Còn theo kinh tế học vĩ mô thì đầu tư được hiểu là tăng vốn tư bản nhằm tăng cường sức sản xuất trong tương lai Có nghĩa là đầu tư là việc bỏ tư bản, bỏ vốn vào hoạt động nào đó để đạt được mục đích kinh tế, là hoạt động mang lại lợi nhuận cho chủ đầu tư Đầu tư còn được gọi là hình thành tư bản hoặc tích lũy tư bản Chỉ có tăng tư bản làm tăng năng lực sản xuất vật chất mới được tính là đầu tư, còn tăng tư bản trong lĩnh vực tài chính tiền tệ và kinh doanh bất động sản không được coi là đầu tư
1.2 Khái niệm đầu tư công
Đầu tư công là hình thức đầu tư vốn Nhà nước vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh
Với định nghĩa như trên, đối tượng sử dụng nguồn vốn Nhà nước trong đầu tư công rất đa dạng gồm: Chương trình mục tiêu, dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng, quốc phòng, an ninh đầu tư từ nguồn vốn thuộc phạm vi chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển…
Nguồn hình thành vốn đầu tư công được lấy từ ngân sách, thu ngân sách bao gồm các khoản sau:
- Thu nội địa: thu từ các khu vực kinh tế (thuế đánh lên các doanh nghiệp), thu
từ các khu vực khác (thuế nhà đất, thuế nông nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thu xổ
số kiến thiết, thu phí xăng dầu, thu phí, lệ phí…)
- Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu: thuế xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu, thu chênh lệch giá hàng nhập khẩu - thu viện trợ không hoàn lại Việc gia tăng tư bản tư nhân được gọi là đầu tư tư nhân, còn gia tăng tư bản xã hội được gọi là đầu tư công Việc làm gia tăng tư bản xã hội thuộc chức năng của Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20Chính phủ, vì vậy đầu tư công thường được đồng nhất với đầu tư do Chính phủ thực hiện Ở Việt Nam, thuật ngữ “đầu tư công” được sử dụng từ sau khi Nhà nước chuyển sang nền kinh tế thị trường Theo thống kê hiện nay, đầu tư công ở nước ta bao gồm:
- Đầu tư từ ngân sách (phân cho các Bộ ngành Trung ương và các địa phương);
- Đầu tư theo các chương trình hỗ trợ có mục tiêu (thường là các chương trình mục tiêu trung và ngắn hạn) được thông qua trong kế hoạch ngân sách hằng năm;
- Tín dụng đầu tư (vốn cho vay) của Nhà nước có mức độ ưu đãi nhất định;
- Đầu tư của các DNNN mà phần vốn quan trọng của doanh nghiệp có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước
Theo Luật Đầu tư công, Luật số 49/2014/QH13 [23], “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội” Theo cách hiểu này thì lĩnh vực đầu tư công sẽ bao gồm:
- Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
- Đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
- Đầu tư và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích
- Đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công tư Cách hiểu này là phổ biến, được luật hóa và đã phản ánh được đúng bản chất của đầu tư công và thể hiện được đầu tư công là đối tượng của chính sách đầu tư của Nhà nước hiện nay
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, khái niệm đầu tư công được lấy theo Luật Đầu tư Công là: Tác động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
1.3 Vai trò của đầu tư công đối với phát triển kinh tế - xã hội
Trong nền kinh tế, khu vực kinh tế tư nhân thường không muốn tham gia vào việc cung cấp các hàng hóa công do khó thu lợi Những hàng hóa công này thường là các công trình hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội như: đường sá, cầu cống, trường học, bệnh viện… Vai trò của những hàng hóa công này là vô cùng quan trọng Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21vì nếu không có hệ thống hạ tầng giao thông thì nền kinh tế không vận hành được, không có hệ thống công trình trường học, bệnh viện, nhà văn hóa phục vụ phát triển con người thì yêu cầu phát triển xã hội cũng không được đáp ứng… Hoạt động đầu
tư công của Nhà nước là nhằm cung cấp những hàng hóa công nên vai trò của hoạt động này đối với phát triển kinh tế - xã hội là không thể phủ nhận được Tác động của việc sản xuất những hàng hóa công không thể đo trực tiếp bằng các chỉ tiêu thông thường như đối với các hàng hóa do doanh nghiệp tư nhân kinh doanh mà phải thông qua ích lợi đem lại cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội Chính vì thế việc đánh giá kết quả của đầu tư công của một địa phương phải thông qua kết quả phát triển kinh tế -
xã hội của chính địa phương đó
1.4 Nguồn vốn đầu tư công
1.4.1 Kha ́ i niê ̣m
Vốn là toàn bộ giá trị của đầu tư để tạo ra các sản phẩm nhằm mục tiêu thu nhập trong tương lai Các nguồn lực được sử dụng cho hoạt động đầu tư được gọi là vốn đầu tư, nếu quy đổi ra thành tiền thì vốn đầu tư là toàn bộ chi phí đầu tư
Bất kỳ một quá trình tăng trưởng hoặc phát triển kinh tế nào muốn tiến hành được đều phải có VĐT, VĐT là nhân tố quyết định để kết hợp các yếu tố trong sản xuất kinh doanh Nó trở thành yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu đối với tất cả các
dự án đầu tư cho việc phát triển kinh tế đất nước
Theo đi ̣nh nghĩa được quy đi ̣nh Luâ ̣t đầu tư công [23] thì Vốn đầu tư công (VĐTC) gồm: Vốn ngân sách Nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách Nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư
1.4.2 Nguồn vồn đầu tư công tư ̀ NSNN
- Căn cứ vào phạm vi, tính chất và hình thức thu cụ thể, VĐTC từ NSNN được hình thành từ các nguồn sau:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22 Nguồn vốn thu trong nước (thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ bán, cho thuê tài sản, tài nguyên của đất nước…và các khoản thu khác)
Nguồn vốn từ nước ngoài (vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, nguồn viện trợ phi Chính phủ)
- Phân cấp quản lý ngân sách chia VĐTC từ NSNN gồm:
VĐTC của ngân sách trung ương được hình thành từ các khoản thu của ngân sách trung ương nhằm đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích quốc gia Nguồn vốn này được giao cho các bộ, ngành quản lý sử dụng
VĐTC của ngân sách địa phương được hình thành từ các khoản thu ngân sách địa phương nhằm đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích của từng địa phương đó Nguồn vốn này thường được giao cho các cấp chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) quản lý thực hiện
- Mức độ kế hoạch hóa, VĐT từ NSNN được phân thành:
VĐT xây dựng tập trung: nguồn vốn này được hình thành theo kế hoạch với tổng mức vốn và cơ cấu vốn do Thủ tướng Chính phủ quyết định giao cho từng bộ, ngành và từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
VĐTC từ nguồn thu được để lại theo Nghị quyết Quốc hội: thu từ thuế nông nghiệp, thu bán, cho thuê nhà của Nhà nước, thu cấp đất, chuyển quyền sử dụng đất…
VĐTC theo chương trình quốc gia
VĐTC thuộc NSNN nhưng được để lại tại đơn vị để đầu tư tăng cường cơ sở vật chất như: truyền hình, thu học phí…
Nguồn VĐTC từ NSNN phần lớn được sử dụng để đầu tư cho các dự án không
có khả năng thu hồi vốn trực tiếp, có vốn đầu tư lớn, có tác dụng chung cho nền
KT-XH mà các thành phần kinh tế khác không có khả năng hoặc không muốn tham gia đầu tư Nguồn vốn cấp phát không hoàn lại này từ NSNN có tính chất bao cấp nên dễ
bị thất thoát, lãng phí, đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ Tuy nhiên, trong nguồn vốn NSNN thì phải loại nguồn vốn không được đưa vào kế hoạch và cấp phát theo kế hoạch của Nhà nước (vốn để lại tại đơn vị), khả năng quản lý, kiểm soát của Nhà nước gặp khó khăn hơn Vốn ngoài nước thường phụ thuộc vào điều kiện nhà tài trợ Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23đặt ra, cũng làm cho việc quản lý bị chi phối Đối với viện trợ không hoàn lại thường
do phía nước ngoài điều hành nên giá thành cao
- VĐT từ ngân sách Nhà nước được đầu tư cho các dự án sau:
Các dự án kết cấu hạ tầng KT-XH, quốc phòng - an ninh không có khả năng thu hồi vốn và được quản lý sử dụng phân cấp chi NSNN cho đầu tư phát triển
Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của Nhà nước theo Quy định của pháp luật
Chi cho công tác điều tra, khảo sát lập quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH vùng, lãnh thổ; quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khi Chính phủ cho phép
1.4.3 Công tác quản lý nguồn vốn NSNN trong đầu tư công
1.4.3.1 Đặc điểm
- Quản lý nguồn NSNN trong lĩnh vực đầu tư công tuyệt đối phải tuân thủ theo những quy định của Luật NSNN, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư và các văn bản pháp quy trong hoạt động đầu tư công của Nhà nước Đặc điểm này bắt nguồn
từ đặc điểm vốn đầu tư công thuộc NSNN là nguồn vốn của nhân dân, do kết quả lao động của toàn dân tạo nên Nhân dân giao cho Nhà nước quản lý và sử dụng nguồn vốn đó vì lợi ích của toàn dân và của đất nước Vì vậy, Nhà nước phải có trách nhiệm quản lý chặt chẽ và phải được thể chế bằng hệ thống pháp luật
- Quản lý nguồn NSNN trong lĩnh vực đầu tư công luôn phải tuân thủ nghiêm ngặt theo quy trình thực hiện dự án đầu tư công Sản phẩm đầu tư công có thời gian sản xuất dài và nó hàm chứa nhiều yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội và kể cả yếu tố chính trị đồng thời chịu sự chi phối của các biến động tự nhiên Do đó, hoạt động đầu
tư công phải tuân thủ theo những quy trình nhất định Trong quản lý vốn đầu tư công nói chung và quản lý chi NSNN trong lĩnh vực đầu tư công nói riêng nếu không tuân thủ theo đúng quy trình thì có thể gây cản trở hoạt động đầu tư và có thể dẫn đến lãng phí lớn nguồn lực tài chính của đất nước
1.4.3.2 Nguyên tắc quản lý
- Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả cao: Trong quản lý vốn đầu tư công của
Nhà nước thì nguyên tắc tiết kiệm và đạt hiệu quả cao vừa là mục tiêu, vừa là phương Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24hướng, tiêu chuẩn để đánh giá trình độ, năng lực Nội dung của nguyên tắc này là quản lý sao cho với một đồng vốn đầu tư công của Nhà nước bỏ ra phải thu được lợi ích lớn nhất Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả phải được xem xét trên phạm vi toàn xã hội và trên tất cả các phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội…
- Nguyên tắc tập trung, dân chủ: Trong quản lý vốn đầu tư công nguyên tắc
này thể hiện toàn bộ vốn đầu tư công của Nhà nước phải được tập trung quản lý theo một cơ chế thống nhất của Nhà nước thông qua các tiêu chuẩn, định mức, các quy trình, quy phạm về kỹ thuật nhất quán và rành mạch Việc phân bổ vốn đầu tư công của Nhà nước phải theo một chiến lược, quy hoạch, kế hoạch tổng thể
Tính dân chủ trong quản lý vốn đầu tư công là đảm bảo cho mọi người cùng tham gia vào quản lý sử dụng vốn đầu tư công của Nhà nước Dân chủ đòi hỏi phải công khai cho mọi người biết, thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra Phát huy dân chủ sẽ tạo ra sự thi đua, nỗ lực, cạnh tranh lành mạnh trong việc quản sử dụng vốn đầu tư công của Nhà nước
- Nguyên tắc công khai minh bạch: Các dự án đầu tư công có sử dụng nguồn
vốn NSNN đều phải thực hiện công khai tài chính theo các nội dung sau: Công khai việc phân bổ vốn đầu tư hàng năm cho các dự án, công khai về tổng mức đầu tư, tổng
dự toán được duyệt của dự án đầu tư, công khai kết quả lựa chọn nhà thầu được cấp
có thẩm quyền phê duyệt, công khai số liệu quyết toán vốn đầu tư theo niên độ ngân sách hàng năm của dự án đầu tư, công khai số liệu quyết toán vốn đầu tư khi dự án đầu tư hoàn thành đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Các chủ đầu tư và các cơ quan cấp trên của chủ đầu tư chịu trách nhiệm thực hiện công khai tài chính việc phân bổ và sử dụng vốn đầu tư đối với các dự án đầu tư xây dựng có sử dụng nguồn vốn NSNN phải thực hiện công khai kịp thời, chính xác theo đúng thời gian quy định
- Nguyên tắc thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế: Về cơ bản và lâu dài,
chính trị và kinh tế thường thống nhất với nhau, hỗ trợ cho nhau Lãnh đạo chính trị cuối cùng cũng phải phấn đấu đạt được các mục tiêu kinh tế Ngược lại có ổn định Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 25chính trị mới tạo ra được môi trường tin cậy và thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, góp phần đem lại sự ổn định, tăng trưởng của kinh tế
Thực hiện nguyên tắc này, khi xây dựng kế hoạch vốn đầu tư công phải dựa vào chủ trương, đường lối của Đảng đã vạch ra trong từng thời kỳ Khi lựa chọn dự án đầu tư phải tính toán đầy đủ hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án
- Nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa các lợi ích: Quản lý vốn đầu tư công của
Nhà nước phải đảm bảo hài hòa giữa lợi ích Nhà nước, tập thể, doanh nghiệp và người lao động Theo nguyên tắc này, việc thanh toán cho các nhà thầu phải thực hiện kịp thời, tránh tình trạng xảy ra nợ đọng vốn đầu tư
- Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo vùng và theo
lãnh thổ: Quản lý vốn đầu tư công của Nhà nước theo ngành trước hết bằng các quy
định về tiêu chuẩn, định mức kỹ thuật do Bộ Xây dựng và các Bộ quản lý chuyên ngành ban hành
Ngoài những nguyên tắc đã trình bày ở trên thì trong quản lý vốn đầu tư công của Nhà nước còn phải tuân thủ các nguyên tắc như phải thực hiện đúng trình tự đầu
tư và xây dựng; phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước, chủ đầu tư, tổ chức tư vấn và nhà thầu trong quá trình đầu tư công…
1.5 Quản lý đầu tư công
1.5.1 Khái niệm quản lý đầu tư công
Quản lý đầu tư công là quá trình quản lý từ khâu phê duyệt chủ trương đầu tư, phê duyệt chương trình, dự án, lập kế hoạch đầu tư, xác định danh mục chương trình,
dự án đầu tư, triển khai thực hiện, theo dõi, kiểm tra đánh giá, thanh tra các chương trình, dự án đầu tư công và kế hoạch đầu tư công
Quản lý đầu tư công là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình đầu tư của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước nhằm
hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người đại diện
sở hữu Nhà nước trong thực hiện đầu tư các dự án công; ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực của các dự án; kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn Nhà nước nhằm thực hiện đúng mục đích, yêu cầu và chống tham Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26ô, tham nhũng, thất thoát, lãng phí ngân sách Nhà nước; đảm bảo hoạt động đầu tư công đạt được tốt nhất mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với chi phí thấp nhất
1.5.2 Nội dung quản lý đầu tư công
Nội dung quản lý đầu tư công là quy định một số nội dung về trình tự, thủ tục
và trách nhiệm của các cơ quan trong quản lý đầu tư và xây dựng đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình UBND các cấp thực hiện quản lý Nhà nước về đầu tư và xây dựng đối với các dự án phù hợp với quy định về phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quản lý đầu tư và xây dựng của Trung ương, của tỉnh
Tác giả Vũ Thành Tự Anh [1] qua nghiên cứu đã đưa ra quy trình quản lý đầu
tư công bao gồm tám nội dung và được tóm tắt như sau:
Sơ đồ 1.1 Các nội dung chủ yếu trong công tác quản lý đầu tư công
(Nguồn: Theo Ngân hàng Thế giới IMF)
Dự án đầu tư phải được quản lý theo quy hoạch, cân đối chung về kế hoạch đầu
tư phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, đảm bảo sử dụng hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước, phát huy các nguồn lực đầu tư xã hội; tuân thủ theo quy định của
1 Định hướng đầu tư, xây dựng dự án và sàng lọc bước đầu
8 Đánh giá và kiểm toán sau khi hoàn thành dự án
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27pháp luật về đầu tư, xây dựng và pháp luật liên quan; bảo đảm an ninh, an toàn, trật
tự xã hội và bảo vệ môi trường UBND các cấp xác định chủ trương đầu tư khi quyết định cho phép thực hiện chuẩn bị đầu tư dự án, quyết định đầu tư, quản lý quá trình thực hiện dự án đến khi nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng
và bố trí kế hoạch vốn để thực hiện
1.5.2.1 Định hướng đầu tư, xây dựng dự án và sàng lọc bước đầu
- Định hướng chiến lược đầu tư: Đây là xuất phát điểm của quy trình quản lý đầu tư công, được thể hiện qua chiến lược hay kế hoạch tổng thể do cấp quyết định cao nhất đề ra Định hướng này giúp cho hoạt động đầu tư công của phản ảnh được các ưu tiên của tỉnh, đồng thời cũng giúp cho việc xây dựng chương trình và ra quyết định đầu tư của các sở - ngành và của các huyện, thành phố
- Xây dựng dự án đầu tư: Căn cứ vào định hướng chiến lược đầu tư, các sở - ngành và của các huyện, thành phố xây dựng các hồ sơ dự án trong đó bao gồm các thông tin cơ bản như sự cần thiết, mục tiêu, các hoạt động, phân tích tài chính, ngân sách dự toán, tiến độ thực hiện, kết quả kỳ vọng… của dự án
- Sàng lọc dự án bước đầu: Mục đích của bước này là đảm bảo dự án do các
sở - ngành và của các huyện, thị xã và thành phố đề xuất đảm bảo thỏa mãn các điều kiện tối thiểu để có thể được xem xét ở các bước kế tiếp Các điều kiện tối thiểu này bao gồm sự cần thiết, tính nhất quán đối với các ưu tiên của chính phủ, và sự phù hợp
về tài khóa Sàng lọc tốt ở khâu này sẽ giúp tiết kiệm thời gian và nguồn lực ở những bước sau
1.5.2.2 Thẩm định dự án chính thức
- Đánh giá tiền khả thi: Mục đích của bước này là xác định nhanh tính khả thi của dự án (chẳng hạn như thông qua phân tích nhanh về chi phí và lợi ích cũng như khả năng thu xếp tài chính) và nhận diện một số lựa chọn thay thế cho dự án trước khi tiến hành đánh giá khả thi đầy đủ
- Đánh giá khả thi: Dự án sẽ phải qua một quy trình và quy chuẩn thẩm định đầy đủ và nghiêm ngặt Cụ thể là dự án sẽ được phân tích chi phí và lợi ích một cách chi tiết, được thẩm định tính khả thi về tài chính, kinh tế, và xã hội Bên cạnh đó, dự Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 28án cũng phải được đánh giá cẩn thận về những rủi ro tiềm tàng, về tính bền vững, cũng như về tác động môi trường và xã hội Chất lượng của đánh giá khả thi phụ thuộc vào động cơ, tính khách quan, năng lực, và chất lượng dữ liệu của tổ chức đánh giá
1.5.2.3 Đánh giá độc lập đối với thẩm định dự án
Sự lạc quan thái quá và thiếu khách quan đối với các dự án đầu tư công (do xác định chi phí quá thấp và lợi ích quá cao) là hiện tượng phổ biến ở các nước đang phát triển Chính vì vậy, luôn có nhu cầu kiểm tra tính chân thực và khách quan của hoạt động thẩm định dự án, đặc biệt là đối với những dự án lớn, hơn nữa lại do chính cơ quan thực hiện tự thẩm định Trong trường hợp có nguy cơ xung đột lợi ích nghiêm trọng thì thậm chí nên sử dụng tư vấn độc lập ngay từ khâu thẩm định dự án
- Kế hoạch mua sắm máy móc, vật tư;
- Theo dõi và quản lý chi phí;
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29- Quản lý các rủi ro phát sinh làm ảnh hưởng tới tiến độ và chi phí của dự án Bản thân từng nhiệm vụ này đều rất phức tạp, vì vậy phải có những hướng dẫn cần thiết cho việc triển khai dự án Về các mặt tổ chức, việc bố trí nhân sự, xây dựng
bộ máy quản lý, dự kiến tiến độ…, tất cả phải được chuẩn bị kỹ càng và thực tế Quy trình đấu thầu công khai, công bằng, và hiệu quả cũng cần được xây dựng và công
bố Cũng cần lường trước những cơ chế để ngăn chặn hoặc giảm thiểu nguy cơ tăng chi phí trong tương lai
1.5.2.6 Điều chỉnh dự án
Trong quá trình triển khai dự án, có thể xuất hiện những tình huống mới ảnh hưởng đến thiết kế, tiến độ, hay chi phí của dự án Vì vậy, hoạt động quản lý dự án cần có một sự linh hoạt nhất định để có thể ứng phó với những tình huống này Tuy nhiên, để tránh khả năng những điều chỉnh này bị lợi dụng cũng như để giảm chi phí điều chỉnh, cần thực hiện thật tốt các khâu ở phía trước, đặc biệt là các khâu thẩm định, lựa chọn, ký kết hợp đồng xây lắp, mua sắm, lập kế hoạch và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai dự án
Đồng thời, hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá định kỳ cũng cần được thực hiện để có được bức tranh cập nhật về tình hình triển khai dự án, đặc biệt là về chi phí và lợi ích Bên cạnh đó cũng cần có cơ chế để đình chỉ thậm chí hủy bỏ các dự án được phát hiện là kém hiệu quả và lãng phí
1.5.2.7 Vận hành dự án
Sau khi dự án đầu tư công hoàn tất, cần phải có một quá trình gồm: (1) bàn giao
dự án cho tổ chức vận hành; (2) vận hành dự án; (3) bảo trì, bảo dưỡng tài sản hình thành từ dự án; (4) hạch toán chính xác và kịp thời những thay đổi về giá trị tài sản;
(5) và đánh giá mức độ hữu dụng của dự án căn cứ vào chất lượng và số lượng dịch
vụ nó mang lại
1.5.2.8 Đánh giá và kiểm toán sau khi hoàn thành dự án
Đây là một khâu rất quan trọng nhưng lại hay bị bỏ qua Mục đích chính của khâu này là đánh giá xem dự án có được triển khai theo đúng thiết kế, tiến độ và ngân Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30sách dự toán, có chất lượng và kết quả đúng như kỳ vọng, và đạt được các mục tiêu
đề ra ban đầu hay không
Một mục đích nữa của khâu này là so sánh dự án đang xem xét với các dự án tương tự khác trong nước và quốc tế, để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho việc thiết kế và triển khai các dự án khác trong tương lai Bên cạnh việc đánh giá này, dự
án cũng có thể được kiểm toán (một cách chọn lọc) để đánh giá mức độ tuân thủ của
dự án đối với hệ thống luật định về đầu tư công
1.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đầu tư công
Đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước chỉ chiếm trên 30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, nhưng nó luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc thu hút các nguồn vốn đầu tư khác, thúc đẩy hoạt động đầu tư đối với nền kinh tế đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Vì vậy, để quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN có hiệu quả thì cần xem xét các nhân tố ảnh hưởng
Theo các tác giả [2] [26], Quản lý đầu tư công là một quá trình phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố từ khách quan đến chủ quan Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quản lý đầu tư công là:
Sơ đồ 1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đầu tư công
- Năng lực của cơ quan Nhà nước: Đây là yếu tố mang tính quyết định đến kết quả đạt được của dự án Để dự án đạt được kết quả mong muốn, các cơ quan thực
Quản lý đầu tư công
Bối cảnh thực tế
Công luận và thái độ của nhóm có liên quanTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31hiện đầu tư công và quản lý đầu tư công cần phải bảo đảm nguồn nhân lực về số lượng và chất lượng (sự hiểu biết, trình độ, năng lực) Phải đảm bảo những người phụ trách chính trong dự án có trình độ, năng lực quản lý đáp ứng yêu cầu của dự án
- Nguồn vốn: Đây là nhân tố không thể thiếu, khi muốn thực hiện công việc nhìn chung đều cần phải lên kế hoạch chuẩn bị bảo đảm đáp ứng đầy đủ kinh phí cho hoạt động đó Đối với hoạt động đầu tư công, do đây chủ yếu là những hoạt động đầu
tư xây dựng cơ bản quy mô lớn nên vấn đề kinh phí lại càng phải được quan tâm chặt chẽ Nguồn kinh phí đầu tư công chủ yếu là từ ngân sách Nhà nước Do nguồn ngân sách này còn phải chi đồng thời cho nhiều khoản chi khác nhau, nhiều dự án khác nhau nên việc bảo đảm đủ kinh phí cho hoạt động đầu tư diễn ra đúng tiến độ là vô cùng quan trọng Trong phạm vi đề tài, tác giả sẽ phân tích sự tác động của nhân tố nguồn vốn tập trung chủ yếu vào nguồn NSNN
- Thủ tục hành chính và các quy định pháp luật: Việc thực hiện đầu tư công liên quan đến một loạt các quy chế và thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý ngân sách Về nguyên tắc, các thủ tục hành chính cần tạo ra trình tự ổn định và rành mạnh cho hoạt động quản lý tối ưu, tạo điều kiện cho việc thực hiện dự án được thuận lợi Các quy định pháp luật cần rõ ràng, minh bạch, có cách hiểu thống nhất, bảo đảm định hướng hoạt động của dự án công đáp ứng đúng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
- Bối cảnh thực tế: Các yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị, tiến bộ khoa học - công nghệ… đều có ảnh hưởng đến hoạt động, kết quả đạt được của dự án đầu tư Những biến động này đôi khi phải dẫn đến việc điều chỉnh dự án, hoặc ngưng không thực hiện dự án nữa do không còn phù hợp
- Công luận và thái độ của các nhóm có liên quan: Sự ủng hộ hay phản đối của công luận có tác động không nhỏ đến việc thực hiện dự án Các dự án công bị người dân phản đối, ngăn chặn ngay từ khâu giải tỏa mặt bằng sẽ gặp rất nhiều khó khăn về sau Bên cạnh đó, mỗi dự án được thực hiện sẽ mang lại lợi ích và bất lợi cho những nhóm đối tượng khác nhau và do vậy cũng sẽ nhận được sự ủng hộ và phản đối của các nhóm đối tượng tương ứng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 321.7 Hiệu quả quản lý đầu tư công
Theo các nghiên cứu [4][13][14] để hiểu rõ khái niệm hiệu quả quản lý đầu tư công, ta thông qua việc tìm hiểu khái niệm hiệu quả và khái niệm hoạt động quản lý đầu tư công
- Hiệu quả là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của đơn vị cũng như của nền kinh tế để thực hiện tốt nhất các mục tiêu đề ra với mức chi phí thấp nhất và được lượng hóa bằng cách so sánh giữa kết quả đầu ra
và chi phí đầu vào
- Hoạt động quản lý đầu tư công là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người,
do các cơ quan trong hệ thống hành pháp và hành chính thực hiện nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người đại diện sở hữu Nhà nước trong các dự án công; ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực của các dự án; kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn Nhà nước nhằm tránh thất thoát, lãng phí ngân sách Nhà nước
Từ sự tổng hợp các khái niệm trên, ta có cách hiểu sau: Hiệu quả quản lý đầu tư công là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người đại diện sở hữu Nhà nước trong các dự án công; ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực của các dự án; kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn Nhà nước nhằm tránh thất thoát, lãng phí ngân sách Nhà nước; đảm bảo hoạt động đầu tư công đạt được tốt nhất mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với chi phí thấp nhất Chỉ khi đáp ứng được những yêu cầu này thì hoạt động quản lý đầu
tư công mới được coi là có hiệu quả
Do đó, hiệu quả công tác quản lý đầu tư công chịu sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng như: nguồn lực của vốn ngân sách địa phương, thủ tục hành chính, bối cảnh thực tế tại địa phương, năng lực Nhà nước, công luận thái độ nhóm liên quan Đây là những nhân tố để đánh giá công tác quản lý đầu tư công của địa phương Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 331.8 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả đầu tư công
1.8.1 Đo lường hiệu quả đầu tư công ở tầm vi mô dự án
Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả [2][13], để đo lường và đánh giá hiệu quả VĐT ở tầm vi mô là hiệu quả của từng dự án đầu tư, là trọng tâm của việc đo lường và đánh giá hiệu quả VĐT Các nhà kinh tế học hiện nay thường dùng một số chỉ tiêu sau:
- Giá trị hiện tại ròng (NPV): là toàn bộ thu nhập và chi phí của phương án
trong suốt thời kỳ phân tích được quy đổi thành một giá trị tương đương ở thời điểm hiện tại (ở năm cơ bản) Nếu NPV ≥ 0 thì đây là phương án đáng giá, khi so sánh 2 phương án thì phương án nào có NPV lớn hơn là phương án tốt hơn Chỉ tiêu này được tính bằng công thức sau:
NPV= (B0-C0) + (B1-C1)/(1+r)1 + (B2-C2)/(1+r)2 + + (Bn-Cn)/(1+r)n
Với: B0, B1, , Bn là lợi ích thu được qua các năm
C0, C1, , Cn là chi phí phải bỏ ra qua các năm
r là suất chiết khấu của dự án
Nếu dự án có NPV > 0 thì dự án khả thi về mặt tài chính
Nếu cần phải xem xét nhiều dự án đầu tư công đã khả thi về mặt tài chính nhưng loại trừ lẫn nhau thì phương án có NPV lớn nhất là phương án đánh giá về mặt tài chính Nếu các phương án của lợi ích dự án như nhau thì phương án có giá trị hiện tại của chi phí nhỏ nhất, phương án đó đánh giá nhất về mặt tài chính
Nhược điểm của chỉ tiêu này là phải đưa vào lãi suất chiết khấu được lựa chọn Lựa chọn lãi suất chiết khấu rất phức tạp vì có nhiều cách thức và mỗi cách thức kết quả khác nhau Thông thường lãi suất chiết khấu được xác định bằng lãi suất thu lợi tối thiểu có thể chấp nhận được (vốn dài hạn, vốn ngắn hạn, vốn cổ phần ) và lãi suất vay trên thị trường vốn
- Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR): là lãi suất chiết khấu làm cân bằng giá trị
hiện tại của các khoản chi với giá trị hiện tại của các khoản thu hay là lãi suất chiết khấu làm cho giá trị hiện tại ròng của dự án bằng không (thường được tính bằng phương pháp nội suy Nếu phương án có IRR ≥ suất chiết khấu thì đây là phương án Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34đáng giá, khi so sánh 2 phương án với nhau thì nên ưu tiên xem xét NPV trước khi xem xét IRR
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính này áp dụng để đánh giá các dự án đầu
tư bằng vốn NSNN cho loại dự án nhà nước đầu tư trong lĩnh vực có thu, hoặc dự án đầu tư một phần bằng NSNN trong những doanh nghiệp phát triển trọng điểm có tính đến giá trị hiện tại ròng, và tỷ suất hoàn vốn
1.8.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý đầu tư công tầm vĩ mô
- Theo nghiên cứu của các tác giả [2], [29] để đánh giá hiệu quả đầu tư công
có thể sử dụng tỷ lệ đầu tư công/GDP: chỉ tiêu này có ý nghĩa gần giống với chỉ tiêu B/C được dùng khi phân tích hiệu quả đầu tư của dự án đã nêu ở phần trên Chỉ tiêu này cho biết, với mỗi đồng đầu tư mới cho nền kinh tế có thể đạt được bao nhiêu đồng GDP Vốn đầu tư mới cho nền kinh tế nhằm mục đích duy trì tài sản hiện có và đầu
tư thêm tài sản để tăng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu này được tính
độ phát triển, nguyên tắc điều hành,… nên các kết quả nghiên cứu đạt được thường không phù hợp cho việc áp dụng vào quản lý kinh tế của tỉnh
Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận văn như:
Luận án Tiến sĩ của TS.Bùi Đại Dũng [12] về đề tài “Hiệu quả chi tiêu ngân
sách dưới sự tác động của vấn đề nhóm lợi ích ở một số nước trên thế giới'' Qua
phân tích thực tiễn chi tiêu ngân sách ở 75 nước trong 20 năm, và dựa trên bối cảnh Việt Nam, luận án đề xuất một số giải pháp: Áp dụng quy trình ngân sách MTEF (Khung khổ chi tiêu ngân sách trung hạn); đánh giá lại chức năng của chính phủ trong việc cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công; cắt giảm chức năng và nhiệm vụ mà Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 35Nhà nước làm thiếu hiệu quả; đổi mới mạnh mẽ phương thức cung cấp các hàng hóa
và dịch vụ công cho nhân dân; tách việc quản lý Nhà nước ra khỏi nhiệm vụ sản xuất
và cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công; tăng cường tính minh bạch của các hoạt động chi tiêu công quỹ, nhất là của các quỹ ngoài ngân sách; cải cách cơ chế bầu cử, tăng cường sự minh bạch về trách nhiệm của các đại biểu dân cử
Luận án Tiến sĩ của TS Nguyễn Đẩu [16] về đề tài “Huy động và sử dụng vốn
đầu tư phát triển kinh tế thành phố Đà Nẵng - thực trạng và giải pháp” Luận án
đã áp dụng một hệ thống mô hình, chỉ tiêu và phương pháp khoa học để đo lường và đánh giá hiệu quả quá trình vận động của đồng vốn đầu tư từ huy động đến sử dụng trong nền kinh tế thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 - 2003, chỉ ra những ưu điểm và nhược điểm trong quá trình huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển ở Đà Nẵng
Từ đó đề ra các giải pháp: phát huy và đa dạng hoá các phương thức và công cụ huy động vốn hiệu đại; xây dựng và phát triển thị trường giao dịch các loại chứng khoán dài hạn; xác định đúng các trọng điểm đầu tư; áp dụng mô hình, chỉ tiêu, phương pháp khoa học trong việc định hướng đầu tư thúc đẩy tiến bộ công nghệ, lựa chọn dự
án đầu tư công cộng, lựa chọn dự án đầu tư sản xuất kinh doanh… đảm bảo chuyển nền kinh tế Đà Nẵng từ phát triển dựa vào sự gia tăng đầu vào sang phát triển dựa vào tiến bộ kỹ thuật, chất lượng tri thức, năng suất lao động
Nhìn chung những công trình nghiên cứu này đã đánh giá, giải quyết các vấn đề liên quan đến tác động của đầu tư đối với tăng trưởng, mối quan hệ giữa chi tiêu ngân sách với việc phát triển xã hội, đưa ra các giải pháp cần thiết như tạo các điều kiện để
đa dạng hóa các nguồn đầu tư, tập trung nguồn lực của Nhà nước vào các lĩnh vực
cần thiết, nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội Riêng đối với công
tác quản lý đầu tư công, còn chưa có nhiều công trình đi sâu vào nghiên cứu một cách
cụ thể Đặc biệt là nghiên cứu từng địa phương đặc thù, do vậy việc nghiên cứu vấn
đề này có ý nghĩa hết sức cần thiết về cả mặt lý luận và thực tiễn đối với điều kiện địa phương Thừa Thiên Huế hiện nay
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 361.9.1 Kinh nghiệm về quản lý đầu tư công của một số quốc gia trên thế giới và của một số tỉnh, thành phố trong nước, những bài học rút ra
1.9.1.1 Kinh nghiệm quản lý hiệu quả đầu tư công trên thế giới
Đầu tư công là động lực chủ chốt thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của quốc gia, xây dựng nên cơ sở hạ tầng xã hội, hỗ trợ hoạt động của tất cả các thành phần kinh tế Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất của Chính phủ, với mục đích tạo ra lợi ích trong tương lai, đầu tư công thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng đầu tư, chi tiêu của xã hội Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, với mức độ phát triển và thể chế khác nhau, vai trò, lĩnh vực đầu tư công cũng như chính sách quản lý hình thức đầu tư này có những đặc điểm riêng biệt Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và một số quốc gia châu Âu, Mỹ Latin, cho thấy việc quản lý trong các giai đoạn của quá trình đầu tư tại các nước như sau:
a Về kế hoạch đầu tư và quy hoạch phát triển
Tại Hàn Quốc, hệ thống ngân sách được thực hiện và quản lý tập trung; trong
đó, Bộ Chiến lược và Tài chính giữ vai trò chủ đạo trong việc lập kế hoạch ngân sách cũng như chuẩn bị và thực hiện các chương trình, dự án đầu tư công Thông thường, các quyết định liên quan tới ngân sách sẽ được đưa ra sau khi có thỏa thuận giữa cơ quan có thẩm quyền và cơ quan có nhu cầu sử dụng vốn Chính phủ ban hành Khung chỉ tiêu trung hạn cùng với chính sách ngân sách từ trên xuống Việc phân bổ năm ngân sách bắt đầu bằng việc thảo luận về kế hoạch ngân sách đầu tư cho 5 năm
Tại Trung Quốc, tất cả các dự án đầu tư công đều phải nằm trong quy hoạch
đã được duyệt mới được chuẩn bị đầu tư Trung Quốc rất coi trọng khâu chủ trương đầu tư dự án Tất cả các dự án đầu tư công đều phải lập Báo cáo đề xuất dự án (kể cả các dự án đã có trong quy hoạch đã được phê duyệt) Việc điều chỉnh dự án (mục tiêu, quy mô, tổng mức đầu tư) nằm trong quy hoạch đã được phê duyệt phải được sự chấp thuận của cơ quan phê duyệt quy hoạch đó
b Về tổ chức quản lý đầu tư và thẩm định dự án
Tại Hàn Quốc, Trung tâm quản lý đầu tư hạ tầng công - tư (PIMAC) thuộc
Viện Phát triển Hàn Quốc là cơ quan chịu trách nhiệm tiến hành lập Báo cáo Nghiên Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 37cứu tiền khả thi đối với các dự án đầu tư công có quy mô lớn Bộ Chiến lược và Tài chính chịu trách nhiệm thẩm định, thông qua và quyết định việc loại bỏ hoặc chuyển sang giai đoạn nghiên cứu khả thi các dự án này Sau khi Bộ Chiến lược và Tài chính thẩm định, Báo cáo nghiên cứu khả thi các dự án nêu trên sẽ được trình ra Quốc hội Hàn Quốc xem xét, quyết định
Ở Trung Quốc, quản lý đầu tư công được phân quyền theo 04 cấp ngân sách:
Cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp thành phố và cấp huyện, trấn Cấp có thẩm quyền của từng cấp ngân sách có toàn quyền quyết định đầu tư các dự án sử dụng vốn từ ngân sách của cấp mình
Tại Nhật Bản, các cơ quan quản lý và điều hành đầu tư công ngoài Chính phủ
và các tập đoàn công cộng, cơ quan chính quyền quận, thành phố còn có sự tham gia của các tổ chức hợp tác đầu tư giữa Nhà nước và tư nhân
Ở Vương quốc Anh, các dự án đường bộ trị giá trên 500 triệu Bảng Anh (tương
đương 16.500 tỷ đồng) cần được Bộ Tài chính phê duyệt công khai, trong khi mức
độ tham gia của Bộ Tài chính vào quá trình rà soát thẩm định các dự án giao thông khác còn phụ thuộc vào quy mô và sự phức tạp của dự án
c Về điều chỉnh dự án đầu tư
Một số nước có hệ thống quản lý đầu tư công tương đối hiệu quả như Chi- lê, Ai-len, Hàn Quốc và Vương quốc Anh đều áp dụng cơ chế cụ thể để xúc tiến rà soát thực hiện dự án nếu có sự thay đổi cơ bản về chi phí, tiến độ, và lợi nhuận ước tính của dự án Ví dụ ở Hàn Quốc, các dự án tự động được thẩm định lại nếu chi phí thực
tế tăng thêm trên 20%; ở Chile, nếu giá bỏ thầu thấp nhất cao hơn giá dự toán từ 10% trở lên, dự án đó sẽ bị thẩm định lại
d Về ủy thác đầu tư
Ở Trung Quốc, doanh nghiệp Nhà nước không có cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên, được toàn quyền quyết định về tổ chức, nhân sự, hành chính và hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật Các cơ quan quản lý Nhà nước ở các cấp không trực tiếp quản lý các tổ chức sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ Phần tài sản, cổ phần của Nhà nước ở các doanh nghiệp được quản lý theo quy định Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 38của pháp luật và do cơ quan quản lý công sản ở các cấp chịu trách nhiệm quản lý Nói chung, các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có cổ phần của Nhà nước và các doanh nghiệp không có cổ phần của Nhà nước đều có quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm
và cơ hội tiếp cận các nguồn lực, sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ như nhau
e Về giám sát, kiểm tra, đánh giá đầu tư
Tại Vương quốc Anh, Hàn Quốc, Chi-lê, Ai-len…, việc kiểm tra, đánh giá hoàn thành dự án được thực hiện thông qua chính sách hậu kiểm Ở Chi-lê và Hàn Quốc, quan chức thường giữ vai trò lớn trong việc kiểm tra tài sản hoàn thành so với kế hoạch dự án Tại Ai-len và Vương quốc Anh, đánh giá hoàn thành dự án là đánh giá tác động của dự án đầu tư dựa trên kết quả đầu ra Tại bốn quốc gia này, các dự án đầu tư đều phải được kiểm toán Riêng Ai-len và Vương quốc Anh, cơ chế rà soát đặc biệt được thực hiện nhằm phát hiện những nhân tố mang tính hệ thống ảnh hưởng tới chi phí và chất lượng của dự án
Ở Trung Quốc, việc tổ chức giám sát các dự án đầu tư công được thực hiện thông qua nhiều cấp, nhiều vòng giám sát khác nhau Mục đích giám sát đầu tư của
cơ quan Chính phủ là đảm bảo đầu tư đúng mục đích, đúng dự án, đúng quy định và
có hiệu quả Cơ quan có dự án phải bố trí người thực hiện giám sát dự án thường xuyên theo quy định pháp luật
Như vậy, trong quá trình phát triển, các nước đều không ngừng nghiên cứu hoàn thiện cơ sở luật pháp, chính sách về sử dụng vốn Nhà nước đáp ứng yêu cầu quản lý
sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này phù hợp với hoàn cảnh trong từng giai đoạn phát triển Kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, cần thiết phải có một văn bản pháp lý đủ mạnh để quản lý quá trình đầu tư công một cách toàn diện và hiệu quả, vì việc sử dụng vốn Nhà nước, nhất là nguồn vốn ngân sách đầu tư công của Việt Nam chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tổng cân đối ngân sách Nhà nước hiện nay
1.9.1.2 Kinh nghiệm quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN tại một số tỉnh, thành phố của Việt Nam
Ở Việt Nam, đầu tư từ khu vực Nhà nước đã trở thành một động lực quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng và quá trình chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế thời gian Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 39qua, tạo ra các tác động lan tỏa lớn, nhất là các dự án phát triển kết cấu hạ tầng giao thông Đầu tư công từ Ngân sách Nhà nước đã phát huy vai trò đặc biệt quan trọng trong những giai đoạn kinh tế khó khăn, đầu tư từ các khu vực khác suy giảm
Cơ cấu đầu tư công đã có một số chuyển biến theo chiều hướng tích cực Đã tăng cường đầu tư cho cơ sở hạ tầng, góp phần tích cực cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xử lý bất hợp lý vùng miền; đã chú trọng đầu tư cho các ngành nghề có lợi thế cạnh tranh trong nền kinh tế Ngân sách Nhà nước cũng đã tập trung nhiều hơn cho đầu tư phát triển con người, nâng cao trình độ lực lượng lao động Cụ thể, trong tổng mức đầu tư phát triển từ NSNN, đầu tư cho phát triển cơ sở
hạ tầng chiếm một tỷ trọng khá lớn
Trong công tác quản lý đầu tư công đã hình thành được bộ khung pháp luật tương đối đồng bộ để điều chỉnh các hoạt động đầu tư nói chung và đầu tư Nhà nước nói riêng Hệ thống pháp luật liên quan đến đầu tư đến nay cơ bản đã bao quát được hầu hết hoạt động đầu tư từ khu vực Nhà nước Bên cạnh những mặt làm được, vẫn còn những hạn chế đó là:
- Mô hình tăng trưởng vẫn theo chiều rộng, chủ yếu dựa vào sự tăng vốn đầu
tư, sử dụng lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên và gia công hàng xuất khẩu
- Hiệu quả đầu tư công có xu hướng giảm dần Nguyên nhân cơ bản của tình trạng hiệu quả sử dụng vốn có xu hướng giảm là do tình trạng đầu tư còn dàn trải và tiến độ chậm của nhiều dự án lớn
- Tỷ trọng đầu tư công trong tổng đầu tư xã hội còn và có xu hướng giảm chậm
- Tình trạng đầu tư công thiếu quy hoạch, đầu tư phân tán, đầu tư thiếu đồng
bộ, đầu tư cùng lúc vào nhiều dự án vẫn còn xảy ra Một số dự án triển khai chậm, kéo dài tiến độ, làm tăng chi phí đầu tư và chậm đưa công trình vào sử dụng; thậm chí có công trình đã đưa vào sử dụng nhưng hiệu quả đầu tư không đạt như mong muốn và dự tính ban đầu
- Nguồn vốn đầu tư phát triển còn hạn chế trong khi nhu cầu đầu tư công lớn
và tăng nhanh nên việc bố trí đầu tư công còn dàn trải, làm giảm hiệu quả trong đầu
tư xây dựng cơ bản
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 40- Việc triển khai các phương thức đầu tư mới nhằm kêu gọi đầu tư tư nhân vào
cơ sở hạ tầng như hợp tác công tư, BOT, BTO, BT… chưa được quan tâm chú ý
- Các dự án đầu tư có tiến độ triển khai rất chậm, nhất là các dự án trọng điểm
do các nguyên nhân như giải phóng mặt bằng, thiếu vốn, nhà thầu năng lực kém và khả năng quản lý đầu tư công của tỉnh, thành phố còn kém hiệu quả
a Quản lý đầu tư công tại thành phố Đà Nẵng:
Đầu tư công ở Đà Nẵng đã có những đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố
Biểu đồ 1.1 Vốn đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng theo giá thực tế
(Nguồn: Thông tin tổng hợp từ Website http://www.danangtimes.vn)
Đầu tư công ở Đà Nẵng có một đặc điểm khá đặc biệt, đó là tỷ trọng của vốn đầu tư xây dựng cơ bản có nguồn gốc từ thu tiền sử dụng đất trong tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản là khá cao Để tạo nguồn cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, Đà Nẵng đã triển khai chủ trương “Khai thác quỹ đất phát triển hạ tầng giao thông, kinh
tế - xã hội”, do vậy đã làm cho tỷ trọng này của thành phố Đà Nẵng luôn ở mức khá cao, đạt mức cao nhất là 70,86% năm 2008 và thấp nhất là 49,35% năm 2010 Tuy nhiên, tỷ trọng này đang có xu hướng giảm dần khi mà quỹ đất của thành phố đang ngày càng thu hẹp
Để quản lý đầu tư công, thành phố Đà Nẵng cũng ban hành Quyết định số 04 /2010/QĐ-UBND, ngày 12 tháng 02 năm 2010 Quy định một số vấn đề về mua sắm, quản lý đầu tư và xây dựng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Văn bản này quy định
0 5.000.000