1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế trang trại tại huyện nho quan, tỉnh ninh bình

99 242 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở các nước tư bản phát triển như Mỹ, Anh và một số vùng lãnh thổ ở Châu Á như: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc...quan niệm rằng: “Trang trại là loại hình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp của

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

BÙI NAM TIẾN

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TẠI HUYỆN NHO QUAN

TỈNH NINH BÌNH

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 60.31.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS LÊ TRỌNG HÙNG

Hà Nội, 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

BÙI NAM TIẾN

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TẠI HUYỆN NHO QUAN

TỈNH NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Hà Nội, 2011

Trang 3

sắc tới thày giáo hướng dẫn Tiến sỹ Lê Trọng Hùng - Phó vụ trưởng Vụ khoa học công nghệ, Bộ giáo dục và đào tạo; Các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Lâm nghiệp; Huyện uỷ - HĐND - UBND huyện Nho Quan; Các cơ quan, đơn vị có liên quan và các đồng nghiệp đã dành sự quan tâm, tạo điều kiện, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi cam đoan Luận văn được xây dựng trên cơ sở những nội dung,

số liệu thu thập đúng quy định, nghiên cứu độc lập và không sao chép

Bản luận văn trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành bản thân tôi

đã nỗ lực cố gắng, song không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm tham gia đóng góp ý kiến

Xin trân trọng cảm ơn!

Nho Quan - Ninh Bình, ngày 30 tháng 10 năm 2011

HỌC VIÊN

Bùi Nam Tiến

Trang 4

ii

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Danh mục các từ viết tắt iv

Danh mục các bảng v

Danh mục các biểu đồ v

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI 3

1.1 Những lý luận cơ bản về kinh tế trang trại 3

1.1.1 Sự hình thành và phát triển trang trại 3

1.1.2 Khái niệm phát triển 5

1.1.3 Khái niệm về kinh tế trang trại 6

1.1.4 Những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại 8

1.1.5 Vai trò của kinh tế trang trại 9

1.1.6 Khái quát về cơ chế chính sách trong phát triển kinh tế trang trại 11

1.1.7 Tiêu chí nhận dạng và đánh giá hiệu quả trang trại 18

1.2 Lịch sử phát triển kinh tế trang trại trên thế giới 22

1.3 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam, ở Ninh Bình 23

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯÚ 27

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 27

2.1.1 Mục tiêu chung 27

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 27

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 27

2.3 Nội dung nghiên cứu 28

2.4 Phương pháp nghiên cứu 28

Trang 5

iii

2.4.1 Kế thừa các số liệu và kết quả nghiên cứu đã có 28

2.4.2 Khảo sát hiện trường 28

2.4.3 Phương pháp chuyên gia 29

2.4.4 Xử lý số liệu 29

2.4.5 Phương pháp phân tích, so sánh 29

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Giới thiệu chung về huyện nho quan, tỉnh ninh bình 30

3.1.1 Đặc điểm cơ bản về tự nhiên 30

3.1.2 Cơ cấu sử dụng đất đai 33

3.1.3.Đặc điểm về kinh tế - xã hội 33

3.2.Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình 39

3.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở huyện Nho Quan 39

3.2.2 Cơ cấu trang trại theo ngành nghề sản xuất 43

3.2.3 Cơ cấu sử dụng đất đai của các trang trại 44

3.2.4 Cơ cấu vốn của các trang trại 45

3.2.5 Cơ cấu sử dụng lao động 46

3.2.6 Kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại 48

3.2.7 Những kết quả đạt được và hạn chế tồn tại trong phát triển kinh tế trang trại tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình 49

3.2.8 Kết quả khảo sát thực tế các loại hình trang trại 56

3.3 Phương hướng và một số giải pháp phát triển mô hình kinh tế trang trại trên địa bàn đến năm 2015 57

3.3.1 Phương hướng chung phát triển kinh tế trang trại đến năm 2015 57

3.3.2 Giải pháp thực hiện 65

3.3.3 Những kiến nghị đề xuất 78

KẾT LUẬN 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BQ: Bình quân CNH: Công nghiệp hoá,

HĐH: Hiện đại hoá GDP: Tổng thu nhập quấn dân

HTX: Hợp tác xã

NĐ/CP: Nghị định chính phủ

Nxb: Nhà xuất bản

NQ/TW: Nghị quyết trung ương

QĐ-UB: Quyết định uỷ ban

TTLT: Thông tư liên tịch

PGS.TS: Phó giáo sư, tiến sỹ

VAC: Vườn ao chuồng

VACR: Vườn ao chuồng rừng

Trang 7

3.6 Tình hình sử dụng lao động của trang trại 47 3.7 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại huyện Nho Quan 48 3.8 Biểu tổng hợp diện tích đất đai, lao động vốn đàu t- của 41

3.9 Tổng hợp doanh thu, thu nhập trước thuế năm 2010 của 41

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

3.1 Tỡnh hỡnh tăng, giảm số lượng trang trại ở huyện Nho Quan 42 3.2 Tỷ lệ loại hỡnh trang trại ở huyện Nho Quan 44 3.3 Cơ cấu vốn sản xuất kinh doanh của cỏc trang trại huyện

Nho quan

45

Trang 8

Với vai trò của kinh tế trang trại trong nền kinh tế, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra chủ trương về đổi mới tổ chức và quản lý nền kinh tế, trong đó có kinh tế trang trại; với nhiều chính sách phù hợp khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, kinh tế trang trại đã có bước phát triển nhất là trong những năm gần đây

Huyện Nho Quan- tỉnh Ninh Bình với điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế trang trại, với chính sách khuyến khích, ưu đãi của huyện, tỉnh, kinh tế trang trại của toàn huyện trong những năm gần đây đã được đầu tư phát triển, số lượng và nguồn thu từ các trang trại được tăng lên, từ đó đã khẳng định vai trò của kinh tế trang trại trong phát triển kinh

tế của huyện Nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới, chúng ta phải nghiên cứu lựa chọn các mô hình, đề ra những giải pháp phù hợp, hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp để phát huy tiềm năng, thế mạnh của huyện; Qua thực tế

Trang 9

“Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế trang trại tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình” từ đó đề ra những giải pháp nhằm

phát triển kinh tế trang trại của huyện, góp phần phát triển kinh tế của huyện mà nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXV đã đề ra

Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm:

Chương 1: Tổng quan về kinh tế trang trại

Chương 2: Mục tiêu, đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trang 10

3

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI

1.1 Những lý luận cơ bản về kinh tế trang trại

1.1.1 Sự hình thành và phát triển trang trại

Kinh tế trang trại có lịch sử phát triền lâu đời, các chuyên gia về sử học

và kinh tế học thế giới đã chứng minh từ thời đế quốc La Mã, các trang trại đã hình thành trong đó lực lượng sản xuất chủ yếu là các nô lệ Ở Trung Quốc trang trại có từ đời nhà Đường Với nước ta, trang trại hình thành và phát triển dưới thời nhà Trần với tên gọi chung là các “thái ấp” Trang trại trên thế giới bắt đầu phát triển mạnh khi chế độ tư bản chủ nghĩa ra đời Năm 1802 ở Pháp

có 5.672.000 trang trại, năm 1882 ở Tây Đức có 5.278.000, năm 1990 ở Mỹ

có 5.737.000, năm 1963 Thái Lan có 3.214.000 và Ấn Độ có hơn 44 triệu trang trại Quá trình phát triền công nghiệp, số lượng các trang trại giảm, nhưng quy mô về diện tích và quy mô về doanh thu tăng lên Hiện nay ở Mỹ

có 2,2 triệu trang trại, sản xuất mỗi năm 50% sản lượng đậu tương và ngô trên thế giới; ở Pháp có 0,98 triệu trang trại, sản xuất một lượng nông sản gấp 2,2 lần nhu cầu trong nước; 1.500 trang trại của Hà Lan mỗi năm sản xuất 7 tỷ bông hoa, 600 triệu chậu hoa; 4 triệu lao động trong các trang trại của Nhật Bản (chiếm 3,7% dân số cả nước) nhưng bảo đảm lương thực, thực phẩm cho hơn 100 triệu người Như vậy, trang trại là một mô hình tổ chức sản xuất phổ biến trong nông nghiệp, xu thế tất yếu của sản xuất nông nghiệp hàng hoá

Trải qua hàng mấy thế kỉ, đến nay kinh tế trang trại tiếp tục phát triển

ở những nước tư bản chủ nghĩa lâu đời cũng như các nước đang phát triển, các nước công nghiệp mới phát triển và những nước xã hội chủ nghĩa với cơ cấu và quy mô khác nhau

Tại Việt Nam kinh tế trang trại phát triển muộn, từ năm 1986 đến nay,

có thể xem là giai đoạn mà môi trường kinh tế - xã hội từng bước mở ra những điều kiện ngày càng thuận lợi để kinh tế nông hộ nói chung và kinh tế

Trang 11

4

trang trại gia đình nói riêng hình thành và phát triển mạnh mẽ Đại hội VI của Đảng ( tháng 12 năm 1986) với đường lối đổi mới toàn diện, đánh dấu một bước ngoặt trong đổi mới quản lý kinh tế, khẳng định đất nước ta xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Định hướng đổi mới quản lý kinh tế của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI là một tiền đề ban đầu

có tính quyết định để từng bước xây dựng môi trường kinh tế - xã hội để kinh

tế hộ, trang trại gia đình ra đời và phát triển Tiếp sau đó nhiều nghị quyết, chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm từng bước tổ chức thực hiện định hướng trên Trên mặt trận nông nghiệp, nông thôn, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, ban hành ngày 5/4/1988 đã tiếp tục mở rộng hơn nữa quyền tự chủ của hộ nông dân bằng cách thừa nhận quyền sở hữu của hộ nông dân về một số tư liệu sản xuất trong nông nghiệp

và khoán ổn định đất đai, sản lượng lâu dài hơn ( sản lượng khoán ổn định 5 năm, đất đai khoán ổn định 15 năm) Nghị quyết quyết hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế

xã hội nông thôn, ban hành ngày 10/6/1993 đã thừa nhận hộ là một đơn vị kinh tế tự chủ Nghị quyết đã chủ trương “ Thực hiện chính sách giao quyền

sử dụng ruộng đất lâu dài cho hộ nông dân, khuyến khích kinh tế cá thể, kinh

tế tư nhân, xây dựng các nông, lâm, ngư trại với quy mô thích hợp” Luật đất đai thừa nhận hộ có 5 quyền đối với đất đai: quyền sử dụng lâu dài, chuyển đổi chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp và gần đây là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX về nông nghiệp, nông dân, nông thôn cho thầy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với việc phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn Các chủ trương về sắp xếp và đổi mới quản lý các doanh nghiệp Nhà nước trong nông nghiệp, đổi mới về tổ chức và quản lý các hợp tác xã nông nghiệp, thực hiện chính sách tín dụng đối với hộ nông

Trang 12

5

dân, thực hiện công tác khuyến nông, đổi mới những chính sách vĩ mô đều hướng về phát triển kinh tế hộ nông thôn Những đổi mới nêu trên đã tác động rất mạnh mẽ và làm cho kinh tế trang trại hình thành và phát triển nhanh trong hơn 20 năm qua Đến nay trên phạm vi cả nước nói chung đã có trên 10 vạn trang trại

1.1.2 Khái niệm phát triển

Theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học phát triển: Phát triển kinh tế là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so với khái niệm tăng trưởng kinh tế Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ là

sự gia tăng thuần tuý về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: GNP, GNP/đầu người hay GDP, GDP/đầu người… thì phát triển kinh tế ngoài việc bao hàm quá trình gia tăng đó, còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về mặt chất của nền kinh tế - xã hội, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao mức sống toàn dân, trình độ phát triển văn minh xã hội thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như: thu nhập thực tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, trình độ dân trí, bảo vệ môi trường, và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật vào phát triển kinh tế - xã hội…Với nội hàm rộng lớn trên đây, về cơ bản khái niệm phát triển kinh tế đã đáp ứng được các nhu cầu đặt ra cho sự phát triển toàn diện nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội… Tuy nhiên như đã biết, trong khoảng hơn hai thập niên vừa qua, do xu hứớng hội nhập, khu vực hoá, toàn cầu hoá phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn nên đã nảy sinh nhiều vấn đề dù là ở phạm vi từng quốc gia, lãnh thổ riêng biệt, song lại có ảnh hưởng chung đến sự phát triển của cả khu vực và toàn thế giới, trong đó có những vấn đề cực kỳ phức tạp, nan giải đòi hỏi phải có sự chung sức của cả cộng đồng nhân loại, ví dụ như: môi trường sống, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, khủng bố… Từ đó đòi hỏi

Trang 13

1.1.3 Khái niệm về kinh tế trang trại

Theo quan điểm của C Mác về kinh tế trang trại: “ Người chủ trang trại bán ra thị trường hầu hết các sản phẩm làm ra, còn người tiểu nông thì dùng đại bộ phận sản phẩm sản xuất được, mua bán càng ít càng tốt” Quan điểm của C Mác khẳng định, điểm cơ bản của trang trại gia đình là sản xuất hàng hóa, khác với kinh tế tiểu nông là sản xuất tự cấp tự túc, nhưng có điểm giống nhau là lấy gia đình làm cơ sở làm nòng cốt Ở các nước tư bản phát triển như Mỹ, Anh và một số vùng lãnh thổ ở Châu Á như: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc quan niệm rằng: “Trang trại là loại hình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp của hộ gia đình nông dân sau khi phá vỡ vỏ bọc sản xuất tự cấp, tự túc khép kín của hộ tiểu nông, vươn lên sản xuất nhiều nông sản, hàng hóa, tiếp cận với thị trường, từng bước thích nghi với nền kinh tế cạnh tranh”

Nhìn chung, quan điểm trên đã nêu được bản chất của kinh tế trang trại

là hộ nông dân, nhưng chưa đề cập đến vị trí của chủ trang trại trong toàn bộ quá trình tái sản xuất sản phẩm của trang trại

Quan điểm của một số nhà khoa học trong nước nhận xét về kinh tê trang trại là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, dựa trên

cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, bao gồm một số người lao động nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh phù hợp với nền kinh tế thị trường

và được nhà nước bảo hộ Theo quan điểm này đã khẳng định kinh tế trang trại là một đơn vị sản xuất hàng hóa, cơ sở cho nền kinh tế thị trường và vai trò của người chủ trang trại trong quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chưa

Trang 14

độ đưa thành tự khoa học công nghệ mới kết tinh trong hàng hóa tạo ra sức cạnh tranh cao trên thị trường, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao Quan điểm nêu trên đã khẳng định kinh tế thị trường (nền kinh tế hàng hóa đã phát triển cao) là tiền đề chủ yếu cho việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại, đồng thời khẳng định vai trò vị trí của chủ trang trại trong quá trình quản

lý trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh của trang trại Tuy vậy, quan niệm trên cũng chưa thấy được vị trí, vai trò của kinh tế trang trại trong nền kinh tế thị trường và chưa thấy được vai trò của người chủ trang trại trong quá trình sản xuất kinh doanh

Từ các quan điểm trên cho chúng ta rút ra khái niệm chung về kinh tế trang trại: Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường

Qua khái niệm về kinh tế trang trại cho chúng ta phân biệt rõ được kinh

tế trang trại với kinh tế hộ nông dân là căn cứ vào mục tiêu sản xuất; Đối với

hộ nông dân mục tiêu sản xuất của họ là để tiêu dùng, sản xuất nhằm đáp ứng

Trang 15

8

nhu cầu đa dạng về lương thực, thực phẩm và các nhu cầu khác của họ Ngược lại, mục tiêu sản xuất của kinh tế trang trại là sản xuất hàng hóa lớn nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường về các loại sản phẩm hàng hóa nông, lâm, thủy sản, sản phẩm sản xuất ra là để bán C Mác đã nhấn mạnh: “ Kinh

tế trang trại bán đại bộ phận nông sản được sản xuất ra thị trường, các hộ nông dân thì bán ra mua cáng ít bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu” Như vậy, trình

độ phát triển của kinh tế hộ nông dân chỉ dừng lại ở sản xuất hàng hóa tự cung

tự cấp Để có nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn thì phải chuyển kinh tế

hộ nông dân sang phát triển kinh tế trang trại

1.1.4 Những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại

Xét về mục đích: sản xuất nông, lâm, thuỷ sản hàng hoá với quy mô lớn

là mục đích của kinh tế trang trại, đây là đặc trưng quan trọng của kinh tế trang trại, bởi vì mục đích sản xuất hàng hóa chi phối và ảnh hưởng rất lớn, thậm chí quyết định tới các đặc trưng khác của kinh tế trang trại Các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trước kinh tế thị trường dù sản xuất ra khối lượng nông sản phẩm lớn hơn so với hình thức sản xuất phân tán, song mục đích chủ yếu vẫn là nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của chủ nhân chúng Còn kinh tế trang trại thì ngay từ khi ra đời đã mang tính hàng hóa và càng ngày tính chất và trình độ sản xuất hàng hóa càng cao

Xét về quan hệ sở hữu: Tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập Người chủ độc lập ở đây là người hoàn toàn có quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhưng không phân biệt, tách rời khỏi các quan hệ liên kết và hợp tác với các chủ thể kinh tế khác

Xét về quan hệ tổ chức, quản lý: Kinh tế trang trại được tổ chức và quản lý tiến bộ dựa trên cơ sở chuyên môn hóa sản xuất, thâm canh, ứng dụng

Trang 16

9

tiến bộ kỹ thuật, thực hiện hạch toán, điều hành sản xuất hợp lý và thường xuyên tiếp cận thị trường Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, biết áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất; sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ

Xét về quy mô: các yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất và tiền vốn được tập trung tới quy mô nhất định của các yếu tố sản xuất nội lực và đặc điểm ngành nông nghiệp Mức độ tập trung hoá và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn (vượt trội) so với sản xuất của nông hộ, thể hiện ở quy mô sản xuất như: đất đai, đầu con gia súc, lao động, giá trị nông lâm thuỷ sản hàng hoá

1.1.5 Vai trò của kinh tế trang trại

- Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất có một tập thể lao động gọn nhẹ Tập thể ấy là các thành viên trong gia đình có quan hệ huyết thống nên rất thuận tiện trong việc quản lý điều hành, đem lại hiệu suất và hiệu quả sử dụng lao động cao hơn hình thức quản lý sử dụng lao động của các tổ chức sản xuất khác trong nông nghiệp

- Kinh tế trang trại có sức chịu đựng lớn trước những biến động của thị trường và môi trường thiên nhiên Kinh doanh nói chung và kinh doanh trong nông nghiệp nói riêng thường gặp rủi ro Khi thị trường và môi trường thiên nhiên biến động bất lợi làm cho giá bán bằng giá thành sản xuất nông phẩm (hoặc thấp hơn), trang trại gia đình vẫn có thu nhập theo cơ chế lấy công làm lãi Trang trại gia đình sử dụng chủ yếu sức lao động của mình, tự thuê mướn sức lao động của mình Vì thế, trong điều kiện ấy trang trại gia đình vẫn tồn tại được, trong khi đó các loại hình trang trại khác chủ yếu sử dụng sức lao động làm thuê sẽ bị phá sản

- Kinh tế trang trại đáp ứng được yêu cầu của nền nông nghiệp hiện đại

là sản xuất tập trung chuyên môn hoá trên cơ sở phát triển tổng hợp, đa dạng

Trang 17

10

để vừa vận dụng tối đa các yếu tố sản xuất, vừa bảo vệ môi trường sinh thái Các mô hình sản xuất tổng hợp VAC, VACR trên thực tế đã tỏ rõ hiệu quả kinh tế - xã hội và sinh thái của nó cao hơn so với các mô hình sản xuất chuyên môn hoá độc canh Một nền nông nghiệp tổng hợp đa dạng phát triển bền vững chỉ có thể có được khi mọi quá trình sản xuất sinh hoạt đều được kiểm soát chặt chẽ, tỉ mỉ Điều này chỉ có thể có được khi quy mô sản xuất trong một đơn vị không quá lớn mà nhờ tinh thần trách nhiệm cao của mỗi người lao động tham gia quá trình sản xuất sinh học đó Vì thế chỉ có trang trại kinh tế gia đình mới có thể đáp ứng yêu cầu trên

- Kinh tế trang trại có quy mô vừa phải, gọn nhẹ nên có khả năng điều chỉnh một cách linh hoạt quy mô và cơ cấu sản xuất, cơ cấu sản phẩm, đáp ứng kịp thời những thay đổi theo thị hiếu người tiêu dùng, tạo lợi thế cạnh tranh với những cơ sở nông nghiệp quy mô lớn Trang trại gia đình cũng có khả năng dung nạp nhiều quy mô sản xuất khác nhau: nhỏ, vừa, lớn, biến động linh hoạt

Mục tiêu hoạt động trang trại gia đình là tối đa hoá lợi nhuận Khi có điều kiện, trang trại gia đình sẽ mở rộng quy mô kinh doanh theo 2 cách: Mở rộng diện tích đất đai và nâng cao doanh thu trên một đơn vị diện tích bằng thâm canh, đầu tư chiều sâu, phát triển các loại sản phẩm có giá trị cao và cần

ít đất Quy mô kinh doanh và quy mô đất đai của trang trại gia đình bị giới hạn bởi khả năng kiểm soát các quá trình sản xuất sinh học của những người lao động trong gia đình mà trước hết là người chủ trang trại Nếu vượt quá giới hạn này, những ưu thế của trang trại gia đình sẽ không còn nữa Luật pháp có thể không cần hạn chế việc mở rộng quy mô đất đai của trang trại gia đình nhưng chính tất yếu kinh tế khách quan mới là giới hạn của việc mở rộng quy mô đất đai và quy mô kinh doanh của trang trại gia đình

- Kinh tế trang trại là một cơ sở sản xuất cá thể, nhưng không đối lập với kinh tế hợp tác và kinh tế Nhà nước, mà lại có tính chất rất mềm dẻo, có khả năng dung nạp các hình thức sở hữu khác thông qua các hoạt động kinh tế

Trang 18

1.1.6 Khái quát về cơ chế chính sách trong phát triển kinh tế trang trại

1.1.6.1 Một số chính sách lâu dài của Nhà nước đối với kinh tế trang trại

Nhà nước khuyến khích phát triển và bảo hộ kinh tế trang trại Các hộ gia đình, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế trang trại được Nhà nước giao đất, cho thuê đất,cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài theo pháp luật để sản xuất kinh doanh

Nhà nước đặc biệt khuyến khích việc đầu tư khai thác và sử dụng có hiệu quả đất trống, đồi núi trọc ở trung du, miền núi, biên giới, hải đảo, tận dụng khai thác các loại đất còn hoang hoá, ao, hồ, đầm, bãi bồi ven sông, ven biển, mặt nước eo vịnh, đầm phá để sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng chuyên canh với tỷ suất hàng hoá cao Đối với vùng đất hẹp, người đông, khuyến khích phát triển kinh tế trang trại sử dụng ít đất, nhiều lao động, thâm canh cao gắn với chế biến và thương mại, dịch vụ, làm ra nông sản có giá trị kinh tế lớn Ưu tiên giao đất, cho thuê đất đối với những hộ nông dân

có vốn, kinh nghiệm sản xuất,quản lý, có yêu cầu mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp hàng hoá và những hộ không có đất sản xuất nông nghiệp mà có nguyện vọng tạo dựng cơ nghiệp lâu dài trong nông nghiệp

Trang 19

12

Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát huy kinh tế tự chủ của

hộ nông dân,phát triển kinh tế trang trại đi đôi với chuyển đổi hợp tác xã cũ,

mở rộng các hình thức kinh tế hợp tác, liên kết sản xuất - kinh doanh giữa các

hộ nông dân,các trang trại, các nông, lâm trường quốc doanh, doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác để tạo động lực

và sức mạnh tổng hợp cho nông nghiệp, nông thôn phát triển

Nhà nước hỗ trợ về vốn, khoa học-công nghệ, chế biến, tiêu thụ sản phẩm, xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho các trang trại phát triển bền vững

Tăng cường công tác quản lý Nhà nước để các trang trại phát triển lành mạnh, có hiệu quả

Hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản sống tại địa phương có nhu cầu và khả năng sử dụng đất để mở rộng sản xuất thì ngoài phần đất đã được giao trong hạn mức của địa phương còn được

ủy ban nhân dân xã xét cho thuê đất để phát triển trang trại

Trang 20

13

Hộ gia đình phi nông nghiệp có nguyện vọng và khả năng tạo dựng cơ nghiệp lâu dài từ sản xuất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản được ủy ban nhân dân xã cho thuê đất để làm kinh tế trang trại

Hộ gia đình, cá nhân ở địa phương khác nếu có nguyện vọng lập nghiệp lâu dài, có vốn đầu tư để phát triển trang trại, được Ủy ban nhân dân xã sở tại cho thuê đất

Diện tích đất được giao, được thuê phụ thuộc vào quỹ đất của địa phương và khả năng sản xuất kinh doanh của chủ trang trại

Hộ gia đình, cá nhân được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuê hoặc thuê lại quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác để phát triển trang trại theo quy định của pháp luật Người nhận chuyển nhượng hoặc thuê quyền sử dụng đất hợp pháp có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luậtvề đất đai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Hộ gia đình, cá nhân đã được giao hoặc nhận chuyển nhượng, quyền sử dụng đất vượt quá hạn mức sử dụng đất trước ngày 01 tháng 01 năm 1999 để phát triển trang trại, thì được tiếp tục sử dụng và chuyển sang thuê phần diện tích đất vượt hạn mức, theo quy định của pháp luật về đất đai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nhưng chưa được giao, chưa được thuê, hoặc đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận trước ngày ban hành Nghị quyết này, nếu không có tranh chấp, sử dụng đất đúng mục đích, thì được xem xét để giao hoặc cho thuê đất

và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức tốt việc cung cấp thông tin thị trường,khuyến cáo khoa học kỹ thuật, giúp trang

Trang 21

14

trại định hướng sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của thị trường trong

và ngoài nước

Nhà nước hỗ trợ việc đầu tư nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các cơ

sở công nghiệp chế biến ở các vùng tập trung, chuyên canh; hướng dẫn việc

ký kết hợp đồng cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển công nghiệp chế biến nông sản và tiêu thụ nông sản hàng hoá của trang trại và nông dân trên địa bàn

Nhà nước khuyến khích phát triển chợ nông thôn, các trung tâm giao dịch mua bán nông sản và vật tư nông nghiệp Tạo điều kiện cho các chủ trang trại được tiếp cận và tham gia các chương trình, dự án hợp tác, hội chợ triển lãm trong và ngoài nuớc

Đẩy mạnh sự liên kết giữa các cơ sở sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản thuộc các thành phần kinh tế, đặc biệt là giữa các doanh nghiệp Nhà nước với hợp tác xã,chủ trang trại, hộ nông dân

Nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích chủ trang trại xuất khẩu trực tiếp sản phẩm của mình và sản phẩm mua gom của trang trại khác, của các hộ nông dân và nhập khẩu vật tư nông nghiệp

Chinh sách về thuế:

- Để khuyến khích và tạo điều kiện hộ gia đình, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế trang trại, nhất là ở những vùng đất trống đồi núi trọc, bãi bồi, đầm phá ven biển, thực hiện miễn thuế thu nhập cho trang trại với thời gian tối đa theo Nghị quyết số 51/1999/NQ-CP, ngày 8 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ về việc Quy định chi tiết thi hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH10

- Các trang trại được miễn giảm tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai khi thuê đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá để trồng rừng

Trang 22

+ Về đầu tư: Trung ương và tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế chính sách phát triển nông lâm ngư nghiệp có liên quan đến phát triển kinh tế trang trại :

- Chính phủ đã có nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 về kinh tế trang trại

- Bộ tài chính đã ban hành Thông tư số 82/2000/TT-BTC ngày 14/8/2000 Hướng dẫn chính sách tài chính nhằm phát triển kinh tế trang trại

+ Về tín dụng :

Chính phủ đã ban hành Nghị định 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn

Ngân hành Nhà nước ban hành quy định số 423/2000/QĐ-NHNN1, ngày 22/09/2000 của thống đốc ngân hàng nhà nước về chính sách tín dụng ngân hàng đối với knh tế trang trại ; Thông tư số 03/2003/TT- NHNN, ngày 24/02/2003 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Trang 23

16

Chính sách lao động:

Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ để các chủ trang trại

mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tạo được nhiều việc làm cho lao động nông thôn, ưu tiên sử dụng lao động của hộ nông dân không đất, thiếu đất sản xuất nông nghiệp, hộ nghèo thiếu việc làm Chủ trang trại được thuê lao động không hạn chế về số lượng; trả công lao động trên cơ sở thoả thuận với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động Chủ trang trại phải trang bị

đồ dùng bảo hộ lao động theo từng loại nghề cho người lao động và có trách nhiệm với người lao động khi gặp rủi ro, ốm đau trong thời gian làm việc theo hợp đồng lao động

Chủ trang trại, được thuê lao động với số lượng không hạn chế và không phân biệt địa bàn sinh sống của người lao động khuyến khích và ưu tiên chủ trang trại, chủ đầu tư phát triển kinh tế trang trại ký hợp đồng thuê lao động là người đồng bào dân tộc thiểu số tại chổ, người nghèo, lao động nữ

và người thiếu việc làm ở nông thôn

Các nội dung về hợp đông lao động, tiền công lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động và các nội dung khác có liên quan giữa chủ trang trại và người lao động thực hiện theo thông tư số 23/2000/TT-LĐTBXH ngày 28 tháng 9 năm 2000 của Bộ Lao Động, Thương Binh Và Xã Hội hưởng dẫn áp dụng một số chế độ đối với người lao động làm việc trong các trang trại

Chính sách khoa học, công nghệ, môi trường :

- Bộ Nông nghiệp và Phát triền nông thôn cùng với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy hoạch đầu tư phát triển các vườn ươm giống cây nông nghiệp, lâm nghiệp và các cơ sở sản xuất con giống (chăn nuôi, thuỷ sản) hoặc hỗ trợ một số trang trại có điều kiện sản xuất giống để bảo đảm đủ giống tốt, giống có chất lượng cao cung cấp cho các trang trại và hộ nông dân trong vùng

Trang 24

17

- Khuyến khích chủ trang trại góp vốn vào quỹ hỗ trợ phát triển khoa học, liên kết với cơ sở khoa học, đào tạo, chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật áp dụng vào trang trại và làm dịch vụ kỹ thuật cho nông dân trong vùng

Chính sách thị trường :

- Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 80/QĐ-TTg năm 2000

về việc mua bán nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng;

- Bộ Thương mại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức tốt việc cung cấp thông tin thị trường, khuyến cáo khoa học kỹ thuật, giúp trang trại định hướng sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước

- Nhà nước hỗ trợ việc đầu tư nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các

cơ sở công nghiệp chế biến ở các vùng tập trung, chuyên canh hướng dẫn việc

ký kết hợp đồng cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản hàng hoá của trang trại

và nông dân trên địa bàn

- Nhà nước khuyến khích phát triển chợ nông thôn, các trung tâm giao dịch mua bán nông sản và vật tư nông nghiệp Tạo điều kiện cho các chủ trang trại được tiếp cận và tham gia các chương trình dự án hợp tác, hội chợ triển lãm trong và ngoài nước

- Đẩy mạnh liên kết giữa các cơ sở sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản thuộc các thành phần kinh tế, đặc biệt là giữa các doanh nghiệp Nhà nước với hợp tác chủ trang trại, hộ nông dân

Nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích chủ trang trại xuất khẩu trực tiếp sản phẩm mua gom của trang trại khác, của các hộ nông dân và nhập khẩu vật tư nông nghiệp

Chính sách bảo hộ tài sản đã đầu tư của trang trại

Tải sản và vốn đầu tư hợp pháp của trang trại không bị quốc hữu hoá, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính Trong trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh, vì lợi ích quốc gia, Nhà nước cần thu hồi đất được giao, được

Trang 25

18

thuê của trang trại thì chủ trang trại được thanh toán hoặc bồi thường tại thời điểm công bố quyết định thu hồi

1.1.7 Tiêu chí nhận dạng và đánh giá hiệu quả trang trại

1.1.7.1 Tiêu chí nhận dạng kinh tế trang trại

Trước năm 2000, ở nước ta chưa có tiêu chí thống nhất để nhận dạng kinh tế trang trại Tiêu chí nhận dạng kinh tế trang trại phải hàm chứa được những đặc trưng cơ bản nhất của trang trại nhưng phải đơn giản và dễ vận dụng khi nhận dạng Tiêu chí gồm 2 mặt định tính và định lượng Mặt định tính hàm chứa những đặc trưng cơ bản nhất Mặt định lượng gồm những chỉ tiêu biểu hiện về mặt lượng của các đặc trưng đó Trên thực tế, mặt định tính

và định lượng có mối quan hệ biện chứng, hữu cơ, quy định lẫn nhau và phải trên cơ sở định lượng đủ lớn mới đạt tới tiêu chí định tính

Mặt định tính của kinh tế trang trại là trình độ sản xuất hàng hóa được biểu hiện bằng giá trị sản lượng hàng hóa và tỷ suất hàng hóa, trình độ khoa học - công nghệ và quản lý kinh doanh của trang trại những tiêu chí đó lại

do các tiêu chí định lượng quy định như quy mô ruộng đất, vốn, lao động đủ lớn mới có thể trở thể thành sản xuất hàng hóa Hơn nữa các tiêu chí định lượng lại rất khác nhau ở các vùng khác nhau, ở các loại trang trại khác nhau

và ở các giai đoạn kinh doanh khác nhau Vì vậy, trong thời gian Nhà nước chưa có quy định thống nhất về tiêu chí định lượng đối với trang trại, các địa phương đã tự đặt ra tiêu chí cho địa phương mình, nên các tiêu chí về mặt định lượng rất khác nhau Việc định lượng tiêu chí nhận dạng trang trại thường căn cứ vào các điểm sau:

Sản lượng hàng hóa là chỉ tiêu chủ yếu, các chỉ tiêu về quy mô là bổ sung, nhưng khi vận dụng các địa phương đã sử dụng một cách linh hoạt theo từng trường hợp cụ thể Đối với các trang trại đã định hình, đã ổn định sản xuất kinh doanh thì lấy chỉ tiêu sản lượng hàng hóa hoặc tỷ suất hàng hóa là chủ yếu, còn trường hợp đang trong thời kỳ xây dựng cơ bản, chưa có sản

Trang 26

Các chỉ tiêu phải được quy định theo vùng cụ thể: miền núi, đồng bằng, ven biển, ven đô và theo từng thời điểm nhất định

Sau khi Chính phủ có Nghị quyết 03/NQ/CP ngày 02/02/2000, Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổng cục Thống kê đã ban hành Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000, Thông tư liên tịch số 62/TTLT/BNN-TCTK ngày 20/5/2003 và Thông tư số 74/2003/TT- BNN ngày 04/7/2003 hướng dẫn tiêu chí xác định trang trại như sau:

- Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản được xác định là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hóa, dịch vụ bình quân 1 năm, hoặc về quy mô sản xuất của trang trại Đối với trang trại sản xuất tổng hợp là trang trại có nhiều loại sản phẩm hàng hóa của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hóa, dịch vụ bình quân 1 năm

- Tiêu chí định lượng về giá trị sản lượng hàng hóa, dịch vụ bình quân 1 năm và quy mô sản xuất của trang trại được quy định trong Thông tư hướng dẫn số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK, ngày 23/6/2000 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổng cục Thống kê, cụ thể là:

* Tiêu chí 1: Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm:

+ Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên

+ Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên

Trang 27

20

* Tiêu chí 2: Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với

kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế:

+ Đối với trang trại trồng trọt

- Trang trại trồng cây hàng năm: Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía

Bắc và Duyên hải miền Trung; Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

- Trang trại trồng cây lâu năm: Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía

Bắc và duyên hải miền Trung; Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên; Trang trại trồng hồ tiêu từ 0,5ha trở lên

- Trang trại lâm nghiệp: Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả

nước

+ Đối với trang trại chăn nuôi

- Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò vv: Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có

thường xuyên từ 10 con trở lên; Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên

- Chăn nuôi gia súc: lợn, dê, vv: Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên

đối với lợn 20 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên; Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên ( không kể lợn sữa) dê thịt từ 200 con trở lên

- Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng vv: Có thường xuyên từ

2.000 con trở lên ( không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)

+ Trang trại nuôi trồng thủy sản

Diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản có từ 2 ha trở lên ( riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)

+ Đối với các loại sản phẩm nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản có tính chất đặc thù như: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thủy

Trang 28

21

sản và thủy đặc sản, thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hóa ( tiêu chí 1)

1.1.7.2 Tiêu chí đánh giá hiệu quả

1.7.7.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh các yếu tố sản xuất

- Đất đai bình quân một trang trại

- Vốn sản xuất bình quân một trang trại

- Lao động bình quân một trang trại, cơ cấu lao động theo loại lao động (lao động gia đình và lao động thuê ngoài)

1.7.7.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả, chi phí, hiệu quả và tình hình sản xuất hàng hoá

* Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại

- Tổng đầu tư của trang trại là tổng giá trị tính bằng tiền của các loại sản phẩm sản xuất ra ở trang trại bao gồm phần giá trị để lại tiêu dùng (bao gồm tiêu dùng cho sinh hoạt và tiêu dùng cho tái sản xuất) + (sản phẩm bán ra trên thị trường)

- Tổng chi phí là toàn bộ các khoản chi phí vật chất bao gồm các khoản chi phí nguyên vật liệu, giống, phân bón, thuốc trừ sâu, lao động thuê ngoài và các khoản dịch vụ thuê ngoài, bảo vệ thực vật, dịch vụ thuỷ lợi

- Thu nhập: là giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cho các ngành sản xuất tạo ra trong một năm hay trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh

Lợi nhuận được tính theo công thức: TN = TR - TC

Trong đó:

TN : Thu nhập

TR : Tổng doanh thu

TC : Tổng chi phí

* Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế:

- Doanh thu/ tổng chi phí = Tổng doanh thu/Tổng chi phí

Trang 29

22

Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng chi phí bỏ ra cho sản xuất kinh doanh thì trang trại thu được bao nhiêu đồng doanh thu

- Lợi nhuận/Tổng chi phí = Tổng lợi nhuận/Tổng chi phí

Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng chi phí bỏ ra cho sản xuất kinh doanh thì trang trại thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận

- Doanh thu/lao động = Tổng doanh thu/Tổng lao động

Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 lao động tham gia sản xuất thì trang trại thu được bao nhiêu đồng doanh thu

- Doanh thu/Diện tích = Tổng doanh thu/Tổng Diện tích canh tác Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đơn vị diện tích canh tác thì trang trại thu được bao nhiêu đồng doanh thu

- Thu nhập/Diện tích = Tổng thu nhập/Tổng diện tích canh tác

Chỉ tiêu này cho biết 1 đơn vị diện tích canh tác thì trang trại thu được bao nhiêu đồng thu nhập

1.2 Lịch sử phát triển kinh tế trang trại trên thế giới

Trên thế giới kinh tế trang trại xuất hiện từ cuối thế kỷ thứ XVII đầu thế

kỷ XVIII, trải qua vài thế kỷ tồn tại và phát triển kinh tế trang trại được khẳng định là mô hình kinh tế phù hợp đạt hiệu quả cao trong sản xuất nông ngư nghiệp ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia đều có điều kiện tự nhiên khác nhau, phong tục tập quán khác nhau cho nên các mô hình trang trại khác nhau

Loại hình trang trại gia đình sử dụng sức lao động trong gia đình là chính, kết hợp thuê nhân công phụ theo mùa vụ, là mô hình sản xuất phổ biến trong nền nông nghiệp thế giới

Châu Âu cái nôi của cuộc cách mạng công nghiệp lần I đã xuất hiện hình thức tổ chức trang trại nông nghiệp sản xuất hàng hoá thay thế cho hình thức sản xuất tiểu nông và hình thức điền trang của các thế lực phong kiến quý tộc

Trang 30

23

Ở nước Anh đầu thế kỷ thứ XVII sự tập trung ruộng đất đã hình thành lên những xí nghiệp công nghiệp tư bản tập trung trên quy mô rộng lớn cùng với việc sử dụng lao động làm thuê Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp ở đây giống như mô hình hoạt động của các công xưởng công nghiệp, thực tế cho thấy, sản xuất nông nghiệp tập trung, quy mô và sử dụng nhiều lao động làm thuê đã không dễ ràng mang lại hiệu quả như mong muốn

Sang đầu thế kỷ XX, lao động nông nghiệp bắt đầu giảm, nhiều nông trại đã bắt đầu giảm lao động làm thuê Khi ấy thì 70-80% nông trại gia đình không thuê lao động Đây là thời kỳ thịnh vượng của nông trại gia đình, vì khi lao động nông nghiệp giảm thì sự phát triển của công nghiệp, dịch vụ đã thu hút lao động nhanh hơn độ tăng của lao động nông nghiệp

Tiếp theo nước Anh, các nước: Pháp, Ý, Hà Lan, Đan Mạch, Thuỵ Điển Sự xuất hiện và phát triển kinh tế trang trại gia đình ngày càng tạo ra nhiều nông sản hàng hoá đáp ứng nhu cầu của CNH Với vùng Bắc Mỹ xa xôi mới được tìm ra sau phát kiến địa lý vỹ đại, dòng người khẩu thực từ Châu

Âu vẫn tiếp tục chuyển đến Bắc Mỹ và chính công cuộc khẩu thực trên quy

mô rộng lớn đã mở đường cho kinh tế trang trại ở Bắc Mỹ phát triển

Ở Châu Á, chế độ phong kiến lâu dài kinh tế nông nghiệp sản xuất hàng hoá ra đời chậm hơn Tuy vậy vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX sự xâm nhập của tư bản phương tây vào các nước Châu Á, cùng việc thu nhập phương thức sản xuất kinh doanh tư bản chủ nghĩa đã làm nảy sinh hình thức kinh tế trang trại nông nghiệp Trong quá trình phát triển kinh tế trang trại ở các nước trên thế giới đã có sự biến động lớn về quy mô, số lượng và cơ cấu

1.3 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam, ở Ninh Bình

Thời kỳ đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp sau năm 1980, nền kinh tế nông nghiệp cả nước bị khủng hoảng nặng vào những năm 1979 - 1980 ngoài nguyên nhân chủ yếu do thiên tai mất mùa liên tiếp, không phải không có ảnh hưởng của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp Ngày 13/1/1981, Ban Bí thư

Trang 31

24

ra Chỉ thị 100 về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp, bước đầu đã nhận thấy, thừa nhận và tạo điều kiện để phát huy vai trò của hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp Chỉ thị 100 đã tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp phát triển dần trở lại sau khủng hoảng Trong giai đoạn này, cơ bản kinh tế hộ vẫn hoạt động chỉ trên đất 5% của kinh tế gia đình và 3 khâu hộ nhận khoán của hợp tác xã ( làm cỏ, chăm sóc, thu hoạch) Ở miền Nam một bộ phận các tập đoàn sản xuất nông nghiệp khoán trắng, khoán nguyên canh không điều chỉnh thì kinh tế hộ có môi trường hoạt động mạnh mẽ hơn, nhưng nhìn chung vẫn

bị trói buộc trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung của nền kinh tế phi thị trường Do đó, có thể nhận định trang trại gia đình chưa xuất hiện, có thể chỉ

có ở một số vùng cây ăn quả ở miền Nam, nhưng chắc chắn số lượng trang trại rất hạn chế ( chủ trương thời ấy không tiến hành tập thể hóa vườn cây lâu năm, nhưng môi trường kinh tế - xã hội lúc ấy không khuyến khích mở rộng

và thâm canh vườn cây lâu năm)

Từ năm 1986 đến nay, có thể xem là giai đoạn mà môi trường kinh tế -

xã hội từng bước mở ra những điều kiện ngày càng thuận lợi để kinh tế nông

hộ nói chung và kinh tế trang trại gia đình nói riêng hình thành và phát triển mạnh mẽ Đại hội VI của Đảng ( tháng 12 năm 1986) với đường lối đổi mới toàn diện, đánh dấu một bước ngoặt trong đổi mới quản lý kinh tế, khẳng định đất nước ta xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Định hướng đổi mới quản lý kinh tế của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI là một tiền đề ban đầu có tính quyết định để từng bước xây dựng môi trường kinh tế - xã hội để kinh tế hộ, trang trại gia đình ra đời và phát triển Tiếp sau đó nhiều nghị quyết, chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm từng bước tổ chức thực hiện định hướng trên Trên mặt trận nông nghiệp, nông

Trang 32

25

thôn, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, ban hành ngày 5/4/1988 đã tiếp tục mở rộng hơn nữa quyền tự chủ của hộ nông dân bằng cách thừa nhận quyền sở hữu của hộ nông dân về một số tư liệu sản xuất trong nông nghiệp và khoán ổn định đất đai, sản lượng lâu dài hơn ( sản lượng khoán ổn định 5 năm, đất đai khoán ổn định 15 năm) Nghị quyết quyết hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII

về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế xã hội nông thôn, ban hành ngày 10/6/1993 đã thừa nhận hộ là một đơn vị kinh tế tự chủ Nghị quyết đã chủ trương “ Thực hiện chính sách giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho hộ nông dân, khuyến khích kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân, xây dựng các nông, lâm, ngư trại với quy mô thích hợp” Luật đất đai thừa nhận hộ có 5 quyền đối với đất đai: quyền sử dụng lâu dài, chuyển đổi chuyển nhượng, cho thuê, thừa

kế và thế chấp và gần đây là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX về nông nghiệp, nông dân, nông thôn cho thầy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với việc phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn Các chủ trương về sắp xếp và đổi mới quản lý các doanh nghiệp Nhà nước trong nông nghiệp, đổi mới về tổ chức và quản lý các hợp tác xã nông nghiệp, thực hiện chính sách tín dụng đối với hộ nông dân, thực hiện công tác khuyến nông, đổi mới những chính sách vĩ mô đều hướng về phát triển kinh tế hộ nông thôn Những đổi mới nêu trên đã tác động rất mạnh mẽ và làm cho kinh tế trang trại hình thành và phát triển nhanh trong hơn 20 năm qua Đến nay trên phạm vi

cả nước nói chung đã có trên 10 vạn trang trại, ở Ninh Bình nói riêng có 744 trang trại với nhiều mô hình kinh doanh đa dạng và phong phú; trong đó huyện Nho Quan có 177 trang trại chủ yếu là trang trại gia đình Phần lớn các trang trại đều hình thành sau năm 1990, từ khi Đảng ta có chủ trương rõ ràng

về kinh tế hộ nông dân và bước đầu Nhà nước luật hoá những quy định cụ thể

để thực hiện chủ trương trên nhất là lĩnh vực đất đai chủ yếu Kinh tế trang

Trang 33

ở nông thôn và nâng cao dân trí, đời sống văn hóa ở nông thôn

Tóm lại kinh tế trang trại đã được hình thành và phát triển mạnh mẽ hơn 20 năm kể từ khi Đảng ta có chủ trương đổi mới quản lý kinh tế, đánh dấu bởi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng Trong quá trình đổi mới ấy những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước từng bước

mở rộng quyền tự chủ của hộ nông dân đi đến thừa nhận hộ nông dân là đơn

vị kinh tế tự chủ và tạo nhiều môi trường thuận lợi để kinh tế hộ nông dân phát triển Quá trình đổi mới ấy cũng chính là quá trình hình thành và phát triển tương ứng của kinh tế trang trại

Trang 34

27

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯÚ

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa được cơ sở lý luận cơ bản về phát triển kinh tế trang trại

- Đánh giá được thực trạng phát triển kinh tế trang trại, phát hiện những vấn đề cần giải quyết trong phát triển kinh tế trang trại ở huyện

- Đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại ở huyện

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của các trang trại nông - lâm nghiệp, trang trại tổng hợp, trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn thuộc phạm vi kinh tế trang trại Trong đó tập trung vào các vấn đề về tình hình sử dụng đất đai, lao động, vốn, thu nhập, bố trí sản xuất, cây trồng, vật nuôi, kinh doanh dịch vụ của các trang trại và phân tích một số chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả kinh tế của các trang trại trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

Đề tài được nghiên cứu quá trình phát triển kinh tế trang trại từ sau khi thực hiện Nghị quyết 03/NQ-CP của Chính phủ (năm 2000) đến nay, khảo sát thực trạng được tiến hành vào tháng 4-5/2011

Trang 35

28

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Luận giải và hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản mang tính khoa học về phát triển kinh tế trang trại

- Nêu lên bức tranh tổng thể về quá trình hình thành, phát triển và thực trạng của kinh tế trang trại miền núi huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

- Đề xuất quan điểm, phương hướng và một số giải pháp chủ yếu có

hệ thống để phát triển kinh tế trang trại ở huyện Nho Quan một cách có hiệu quả , phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Nho Quan, góp phần trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở tỉnh Ninh Bình

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Kế thừa các số liệu và kết quả nghiên cứu đã có

Kế thừa các số liệu và kết quả nghiên cứu được sử dụng để giải quuyết các vấn đề:

- Tham khảo các kết quả nghiên cứu về kinh tế trang trại ở Việt Nam

- Tham khảo báo cáo tình hình phát triển kinh tế trang trại ở huyện

và tỉnh

- Tham khảo số liệu về đất đai, tài nguyên, tình hình kinh tế xã hội của huyện Nho Quan và tỉnh Ninh Bình

2.4.2 Khảo sát hiện trường

Phương pháp khảo sát thực tiễn các trang trại trên địa bàn được thực hiện theo các bước:

- Nghiên cứu báo cáo tình hình phát triển kinh tế xã hội và kinh tế trang trại của địa phương

- Điều tra khảo sát sơ bộ các trang trại của huyện

- Điều tra theo mẫu chuẩn bị sẵn, ngoài ra còn quan sát, trao đổi và ghi chép những thông tin bổ sung phục vụ cho yêu cầu phân tích thông tin của đề tài

Trang 36

29

2.4.3 Phương pháp chuyên gia

Tham khảo ý kiến, trao đổi với cán bộ của Phòng Nông nghiệp huyện, Trạm khuyến nông huyện, cán bộ làm công tác khuyến nông cơ sở của địa bàn nghiên cứu; trao đổi thảo luận với các chủ trang trại có nhiều kinh nghiệm để từ đó góp phần hoàn thiện nội dung nghiên cứu cũng như kiểm chứng kết quả nghiên cứu

Phương pháp này được thực hiện như sau;

- Thông qua các hội nghị chuyên đề, các cuộc tiếp xúc làm việc trực tiếp, tiến hành trao đổi ý kiến với các nhà quản lý, các cán bộ có nhiều kinh nghiệm thực tế về lĩnh vực nghiên cứu kinh tế trang trại

- Tham gia các chương trình làm việc của Huyện, các hội thảo về vấn đề kinh tế trang trại để chia sẻ kinh nghiệm và thông tin với các Nhà nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế trang trại

2.4.4 Xử lý số liệu

Các số liệu thu thập được xử lý trên máy vi tính bằng chương trình

xử lý bảng tính Microsoft Office Excel

2.4.5 Phương pháp phân tích, so sánh

2.4.5.1 Phương pháp phân tổ thống kê

Phương pháp này để hệ thống hóa và phân tích các số liệu thu thập được từ điều tra, qua đó nhận biết tính quy luật của quá trình phát triển trang trại

2.4.5.2 Phương pháp tổng hợp và phân tích

Tiến hành phân tích thực trạng về phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện, từ đó có thể đề ra các giải pháp phù hợp cho từng mô hình trang trại trên địa bàn huyện

Phân tích so sánh giữa các trang trại để tìm ra nguyên nhân của các trang trại và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại

Trang 37

30

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Giới thiệu chung về huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

3.1.1 Đặc điểm cơ bản về tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Nho Quan là huyện miền núi, nằm ở phía tây Bắc của tỉnh Ninh Bình, cách tỉnh lỵ 30km, phía Nam tiếp giáp với tỉnh Thanh Hóa, phía Tây và Tây Bắc tiếp giáp với tỉnh Hòa Bình, phía Đông và Đông Bắc tiếp giáp với tỉnh

Hà Nam huyện có 27 đơn vị hành chính, gồm 1 thị trấn và 26 xã Huyện Nho Quan nằm trong khu vực tiếp giáp giữa vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Bắc trung bộ, địa hình của huyện khá phức tạp, mang đặc trưng của vùng núi cao và vùng bán sơn địa Theo số liệu niên giám thống kê năm 2009, tổng diện tích tự nhiên của huyện Nho Quan là 45.860 ha, chiếm 32,9% tổng diện tích toàn tỉnh Dân số 144.201 người, mật độ trung bình 314 người/km2

3.1.1.2 Điều kiện về khí hậu, địa hình

- Khí hậu: Huyện Nho Quan mang đầy đủ những đặc điểm cơ bản của

khí hậu miền Bắc nước ta, đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều Nhiệt độ trung bình năm khá cao và đồng đều ( trung bình 23,4o C) Mùa lạnh vào khoảng cuối tháng 11 đến giữa tháng 3, số ngày lạnh khoảng 50 đến 60 ngày Lượng mưa trung bình cả năm 1.900mm, phân hoá thành hai mùa, mùa mưa lượng mưa chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm, mùa khô lượng mưa chiếm khoảng 10 đến 20% tổng lượng mưa Nhìn chung, khí hậu ở Nho Quan cơ bản thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, tuy vậy ở một số khu vực sản xuất nông nghiệp vẫn phải phụ thuộc vào thời tiết nên chỉ có thể sản xuất 1 hoặc 2 vụ

- Địa hình: Có 3 dạng địa hình chính gồm: dạng địa hình đồi núi với

diện tích 29.158 ha, chiếm 63,6% diện tích tự nhiên; dạng địa hình bán sơn địa 11.725 ha chiếm 25,6% diện tích tự nhiên; dạng địa hình đồng chiêm trũng 4.945 ha

Trang 38

31

3.1.1.3 Các nguồn tài nguyên

- Tài nguyên nước:

+ Nước mặt: Nguồn nước mặt chủ yếu của huyện là hệ thống sông, hồ.Huyện Nho Quan chịu ảnh hưởng chế độ thủy văn của sông Lạng bắt nguồn

từ tỉnh Hòa Bình chảy vào Nho Quan ( qua xã Thạch Bình) và đổ ra sông Bôi (xã Đức Long) Đây là cong sông khá lớn, chảy cắt ngang huyện và là nguồn cung cấp nước ngọt chủ yếu cho các xã trong huyện Hiện nay hệ thống tưới bơm từ nguồn nước sông Lạng cung cấp tưới được khoảng 6.500 ha, chiếm chưa tới 41,2% tổng diện tích đất nông nghiệp của huyện

+ Nước ngầm: Do địa hình cattơ nên nguồn nước ngầm tại huyện Nho Quan khá phong phú, đa dạng, hiện nay đã được khai thác để sử dụng sinh hoạt và tưới cho khoảng 4.120 ha đất nông nghiệp

- Tài nguyên đất:

Theo kết quả điều tra đất, trong phạm vi huyện Nho Quan có 4 nhóm đất: Nhóm đất phù sa 1.243 ha (chiếm 1,2%); nhóm đất gley 4,751 ha (chiếm 4,4%); nhóm đất đen 2.907 ha (chiếm 2,7%); nhóm đất xám 72.682 ha (chiếm 67,7%); nhóm đất đỏ 7.643 ha (chiếm 7,1%); nhóm đất loang lổ 120 ha (chiếm 0,1%) Diện tích hồ ao 15.908 ha (chiếm 14,8%), sông suối 2.065 ha (chiếm 1,9%) So với các huyện khác trong tỉnh thì tài nguyên đất của huyện Nho Quan có nhiều hạn chế về độ dốc và tầng dày Nếu xét theo độ phì thì đất phù có độ phì cao nhất, thích hợp với nhiều loại cây trồng, kế đến là đất phát triển trên đá bazan, các loại đất còn lại có độ phì thấp Riêng đất có tầng dày dưới 30cm có độ phì thấp

- Tài nguyên khoáng sản:

Theo tài liệu của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Ninh Bình, huyện Nho Quan có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú, nhu: than đá, than bùn, đá xây dựng tự nhiên, sét gạch ngói, cát xây dựng, nguyên liệu phụ gia xi măng , nhưng trữ lượng lớn nhất là đá vôi và đá đôlomit

Trang 39

32

- Tài nguyên rừng:

Diện tích rừng của huyện Nho Quan khá lớn với 17.523 ha, chiếm 38,2% diện tích tự nhiên toàn huyện, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 11.427ha, rừng trồng 6.096ha Công tác chăm sóc, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng trong những năm qua được huyện chỉ đạo tổ chức thực hiện khá tốt, nhiều hộ gia đình đã nhận thầu khoán để chăm sóc, bảo vệ rừng, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động Năm 2008, được sự cho phép của Chính phủ, huyện Nho Quan đã thực hiện chuyển đổi được 200

ha rừng phòng hộ ít sung yếu sang rừng kinh tế

- Tài nguyên du lịch:

Điều kiện tự nhiên đã tạo cho Nho Quan có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển du lịch, như: vườn Quốc gia Cúc Phương, suối khoáng nóng Cúc Phương, hồ Đồng Chương, động Vân Trình có thể phát triển các loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, tâm linh, lễ hội, nghỉ dưỡng

3.1.1.4 Nguồn nhân lực

- Dân số:

Theo kết quả tổng điều tra nông thôn nông nghiệp và thuỷ sản năm

2009 trên địa bàn huyện Nho Quan, dân số toàn huyện là 144.201 người, trong đó có 137.265 nhân khẩu nông thôn nông nghiệp, chiếm 95,1% nhân khẩu toàn huyện Tổng số hộ nông thôn nông nghiệp là 32.825 hộ, chiếm 94%

số hộ toàn huyện, bình quân 4,2 nhân khẩu/hộ nông thôn nông nghiệp So với năm 2005, tỷ lệ tăng dân số toàn huyện là 1,004%

- Lao động:

Trong tổng số nhân khẩu nông thôn nông nghiệp, có 82.037 lao động, bình quân một hộ có 2,5 người trong độ tuổi lao động Nhìn chung chất lượng lao động còn nhiều hạn chế, tỷ lệ lao động được đào tạo và có trình độ kỹ thuật còn chiếm tỷ lệ rất thấp Đây là một trong những điểm yếu trong phát triển nguồn nhân lực của huyện

Trang 40

33

3.1.2 Cơ cấu sử dụng đất đai

Theo số liệu thống kê của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Nho Quan, hầu hết diện tích đất đã được sử dụng với cơ cấu như sau:

Bảng 3.1: Cơ cấu sử dụng đất

Trong đó:

3.1.3.Đặc điểm về kinh tế - xã hội

3.1.3.1 Về kinh tế :

Đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Nho Quan giai đoạn 2005 - 2010 cho thấy: thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXIV, Đảng bộ và nhân dân trong huyện đã đoàn kết, nỗ lực phấn đấu giành được kết quả quan trọng:

Ngày đăng: 20/09/2017, 14:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  3.1: Cơ cấu sử dụng đất - Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế trang trại tại huyện nho quan, tỉnh ninh bình
ng 3.1: Cơ cấu sử dụng đất (Trang 40)
Bảng 3.2. Số lượng trang trại thành lập qua các năm ở huyện Nho Quan - Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế trang trại tại huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 3.2. Số lượng trang trại thành lập qua các năm ở huyện Nho Quan (Trang 49)
Bảng 3.3. Số lượng và cơ cấu trang trại theo ngành nghề chính - Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế trang trại tại huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 3.3. Số lượng và cơ cấu trang trại theo ngành nghề chính (Trang 50)
Bảng 3.4. Quy mô đất trang trại - Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế trang trại tại huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 3.4. Quy mô đất trang trại (Trang 51)
Bảng 3.5: Vốn, nguồn vốn đầu tư của trang trại. - Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế trang trại tại huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 3.5 Vốn, nguồn vốn đầu tư của trang trại (Trang 53)
Bảng 3.6. Tình hình sử dụng lao động của trang trại - Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế trang trại tại huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 3.6. Tình hình sử dụng lao động của trang trại (Trang 54)
Bảng 3.8: Biểu tổng hợp diện tích đất đai, lao động, - Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế trang trại tại huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 3.8 Biểu tổng hợp diện tích đất đai, lao động, (Trang 63)
Bảng 3.9: Biểu tổng hợp doanh thu, thu nhập trước thuế năm 2010 - Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế trang trại tại huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 3.9 Biểu tổng hợp doanh thu, thu nhập trước thuế năm 2010 (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w