1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tác động của chính sách giao đất lâm nghiệp đến phát triển kinh tế lâm nghiệp tại huyện lộc bình, tỉnh lạng sơn

111 308 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất tại địa phương đang công tác tôi xây dựng Luận văn “Đánh giá tác động của chính sách giao đất lâm nghiệp đến phát triển kinh tế Lâm ng

Trang 1

-

HOÀNG HÙNG CƯỜNG

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP

ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ LÂM NGHIỆP TẠI HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Trang 2

HOÀNG HÙNG CƯỜNG

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP

ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ LÂM NGHIỆP TẠI HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp

Mã số: 60.31.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS LÊ MINH CHÍNH

Hà Nội, 2011

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt đối với nông lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng

Chính vì vậy việc đất phải được dựa trên cơ sở tiềm năng đất đai, các điều kiện tự nhiên Xây dựng và ban hành các chính sách theo thẩm quyền và xây dựng

kế hoạch sử dụng đất để có kế hoạch và phương án đầu tư sử dụng thích hợp các loại đất theo các giai đoạn phát triển kinh tế xã hội là cần thiết Tránh tình trạng chồng chéo, nhằm phân bổ sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Kết hợp với hướng phát triển của các ngành đề ra định hướng sử dụng đất cho các mục đích sử dụng cần phải khai thác sử dụng theo khả năng thích hợp để trong tương lai sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả, theo quy hoạch, tạo cảnh quan môi trường hợp lý

Giao đất Lâm nghiệp là chính sách đúng đắn góp phần nâng cao ý thức của người dân trong việc quản lý, phát triển tài nguyên rừng, góp phần nâng cao đời sống xã hội người dân nông thôn, đặc biệt là nông thôn miền núi

Trong những năm qua nước ta đã giao được hàng chục triệu hec ta rừng, đất rừng cho hơn một triệu hộ gia đình Hàng loạt các chương trình trồng rừng quy mô lớn như 327, 661… Nhưng cộng đồng vùng sâu, vùng xa vẫn đang còn đói nghèo chiếm tỷ lệ rất lớn mặc dù đã làm chủ của những diện tích rừng, đất rừng lớn Vậy làm thế nào để rừng và đất rừng phát huy được hết tác dụng của nó, góp phần xóa đói, giảm nghèo và từng bước làm giầu từ rừng Muốn làm được điều đó đầu tiên chúng ta phải kiểm tra, xem xét và đánh giá lại hiện trạng của quá trình giao đất lâm nghiệp, đánh giá những tác động, ảnh hưởng của chính sách đến thu nhập, đến đời sống kinh tế xã hội của các chủ rừng và đóng góp vào kinh tế địa phương, khu vực

Trang 4

tự nhiên 1.000, 95km2 Toàn huyện 27 xã, 2 thị trấn; có 78.501 nhân khẩu với 06 dân tộc chủ yếu (Tày, Nùng, Kinh, Dao, Sán chỉ, Hoa…) chung sống

Trong những năm trở lại đây cùng sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung Chính sách giao đất, giao rừng và dự án trồng mới 5 triệu ha rừng trong cả nước cũng phát triển mạnh mẽ Công tác phát triển lâm nghiệp của tỉnh Lạng Sơn và của huyện Lộc Bình cũng không ngừng được tăng lên cả về chất cũng như lượng Để áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất tại địa phương đang công tác tôi xây

dựng Luận văn “Đánh giá tác động của chính sách giao đất lâm nghiệp đến phát

triển kinh tế Lâm nghiệp tại huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn” nhằm mục đích

thấy được những khó khăn, thuận lợi và tìm ra những giải pháp, kiến nghị cơ quan chức năng để tạo điều kiện kinh tế Lâm nghiệp trên địa bàn phát triển

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Chính sách

1.1.1 Nhận diện chính sách

- Chính sách có vai trò rất quan trọng trong phát triển; có chính sách đúng đắn và phù hợp cho một ngành, một lĩnh vực thì ngành đó, lĩnh vực đó có thể đạt được những thành tựu và ngược lại, những chính sách không phù hợp sẽ ngăn cản

sự phát triển của ngành hay lĩnh vực đó

- Chính sách công là những quyết sách của nhà nước, của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để dẫn dắt sự phát triển của xã hội; có các chính sách chi phối chung, có những chính sách chi phối cụ thể đối với từng ngành, từng lĩnh vực của đời sống xã hội

- Chính sách thường được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật, trong các đạo luật do Quốc hội ban hành, trong các Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ, các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành, HĐND và UBND các địa phương

- Các chính sách thường được hình thành từ yêu cầu của thực tiễn cuộc sống, được kiểm nghiệm trong cuộc sống và luôn được điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển của xã hội Những thất bại từ việc áp dụng các cơ chế, chính sách cụ thể nào đó chính là những bài học cho việc ra đời những chính sách tốt hơn sau đó Chính sách tốt có được là nhờ có sự am hiểu đầy đủ về đối tượng mà chính sách tác động, về những quy luật tồn tại và phát triển của đối tượng đó

- Việc tổ chức thực hiện các chính sách có ý nghĩa rất quan trọng; có chính sách tốt, nhưng nếu chậm tổ chức thực hiện, thực hiện không đầy đủ các chính sách cũng có thể có tác dụng ngược lại

Trang 6

1.1.2 Chính sách lâm nghiệp

- Lâm nghiệp là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù; đối tượng chính của hoạt động lâm nghiệp là rừng với những quy luật tự nhiên và những tác động rất lớn của

xã hội loài người tới nó

Trong quá trình phát triển vừa qua, ngành lâm nghiệp đã có nhiều đóng góp cho đất nước và đạt được những thành tựu quan trọng; đồng hành với sự phát triển của ngành là những cơ chế chính sách phù hợp với từng thời kỳ phát triển

- Chính sách lâm nghiệp được thể hiện cụ thể trên một số nội dung, như: Cơ chế quản lý rừng với những mục đích sử dụng cụ thể (3 loại rừng và những mục đích cụ thể của từng loại rừng, của từng khu rừng); các chính sách về giao đất, giao rừng; về khai thác, sử dụng rừng, các cơ chế hưởng lợi từ rừng; về chính sách phát triển rừng

- Có nhiều các chính sách chung tác động đến rừng và ngành lâm nghiệp, như: Đất đai, tài chính tín dụng, cơ chế kế hoạch, tổ chức quản lý và kinh doanh Ngành lâm nghiệp cũng như nhiều ngành kinh tế xã hội khác hoặc phải thích ứng với nó, hoặc phải đề nghị những sửa đổi các chính sách đó cho phù hợp với sự phát triển của ngành

- Trong thời gian qua, chính sách lâm nghiệp Việt Nam đã luôn được các đối tác lâm nghiệp cả trong nước và quốc tế quan tâm; đối thoại chính sách đã trở thành

nề nếp trong hoạt động của đối tác lâm nghiệp, qua đó nhiều chính sách lâm nghiệp

đã được điều chỉnh, góp phần vào sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng của đất nước

1.1.2.1 Những định hướng phát triển lâm nghiệp ở Việt Nam

a) Định hướng chung

- Định hướng quy hoạch 3 loại rừng và đất lâm nghiệp

+ Đối với rừng phòng hộ

+ Đối với rừng đặc dụng

Trang 7

+ Đối với rừng sản xuất

- Định hướng quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng

1.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp

1.2.1 Tình hình quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp một số nước trên thế giới

* Ấn Độ: Vào những năm 1970 Ấn Độ đã phát triển lâm nghiệp xã hội và

hoàn thành mục tiêu vào năm 1986 giữa các bang khác nhau Ấn Độ coi cộng đồng

là đối tác quản lý rừng cho Chính phủ và cho phép các cộng đồng được sử dụng tất

cả các sản phẩm không phải là gỗ, còn việc phân chia quyền lợi về gỗ thì có sự khác nhau giữa các bang (CRES, 1997) Tại Ấn Độ, người ta nghiên cứu một số biện pháp nhằm tạo ra hoặc tăng thêm các tổ chức địa phương có hiệu lực lâu dài cho quản lý rừng cộng đồng

Những điểm nổi bật trong chính sách quản lý rừng ở Ấn Độ đó là duy trì mối quan hệ thực chất giữa rừng với người dân các bộ tộc và những người nghèo sống ở trong rừng và gần rừng, bảo vệ quyền lợi, nhận rừng và hưởng lợi về rừng lâu dài

* Nepal: Trong thời gian qua Nepal được đánh giá là một trong những nước

đi đầu trong việc phát triển lâm nghiệp cộng đồng ở Châu Á [35] và được tổng hợp như sau:

Trang 8

các đồn điền, đã xảy ra quá trình chuyển từ đất có rừng sang làm nông nghiệp Người dân địa phương tỏ ra không quan tâm đến việc bảo vệ các khu rừng do Chính phủ quản lý và kết quả là một nửa triệu ha rừng đã bị tàn phá

- Từ năm 1978 chính sách lâm nghiệp cộng đồng ra đời, trong đó quy định cộng đồng được quyền quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong vị trí lãnh thổ của họ nhằm đáp ứng các nhu cầu của cộng đồng, lâm nghiệp cộng đồng và lâm nghiệp tư nhân được xác định là quan trọng và ưu tiên phát triển

- Năm 1992 chính sách mới nhấn mạnh hơn về lâm nghiệp cộng đồng và hỗ trợ mạnh mẽ các nhóm sử dụng, để mở rộng các hoạt động lâm nghiệp cộng động Chính sách này có nhiều thay đổi cho phù hợp và đã đạt hiệu quả cao

* Nhật Bản: Có 3 hình thức sở hữu đất lâm nghiệp đó là sở hữu Nhà nước,

sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân Nhà nước sở hữu 7,84 triệu ha chiếm 31,16% rừng và đất rừng cả nước Những diện tích này chủ yếu ở những nơi xa xôi hẻo lánh, địa hình hiểm trở… Thuộc quyền quản lý của Cục Lâm nghiệp – Bộ Nông lâm thủy sản Các tổ chức chính quyền địa phương sở hữu trên 2,7 triệu ha chiếm 10,74% Các công ty tư nhân và các hộ gia đình sở hữu 14,6 triệu ha chiếm 58,10%

Chủ rừng là các hộ tư nhân chiếm 88% Trong đó 89% số hộ có diện tích từ 0,1-5ha đất lâm nghiệp, 10,7% số hộ có từ 5-50ha đất lâm nghiệp, số 0,4% còn lại

là hộ có trên 50 ha đất lâm nghiệp Do phần lớn chủ rừng là người sở hữu dưới 5 ha đất lâm nghiệp nên các chủ rừng này đã liên kết với nhau thành các Hội Hiện nay

ở Nhật Bản có 1.430 Hội chủ rừng với 1.718.000 thành viên

Để nhằm thúc đẩy công tác xây dựng và phát triển, Chính phủ có chương trình trợ cấp nhằm hỗ trợ cho các hoạt động lâm sinh, xây dựng đường lâm nghiệp thông qua Hội các chủ rừng, ngoài ra các chủ rừng còn được ưu tiên vay vốn để sản xuất kinh doanh với lãi xuất thấp, đồng thời còn được giảm thuế đất lâm nghiệp[36]

* Phillippin:

Từ những năm 1970 Chính phủ đã quan tâm đến phát triển lâm nghiệp xã hội

Trang 9

Nhà nước xây dựng các dự án lâm nghiệp xã hội tổng hợp giao Bộ Tài nguyên thiên nhiên chủ trì và phối kết hợp với các bộ có liên quan, phân chia thành từng vùng phát triển lâm nghiệp xã hội và xây dựng đến cấp huyện Trú trọng chuyển giao kỹ thuật nông lâm kết hợp và kỹ thuật canh tác trên đất dốc nói chung để người dân phát triển nông nghiệp

Năm 1982 Chính phủ xây dựng dự án phát triển lâm nghiệp xã hội quốc gia công nhận quyền sử dụng đất lâu dài cho cộng đồng và có hai dạng hợp đồng: Một

là hợp đồng thuê quản lý rừng (FLAM) được ký với các hộ gia đình, cộng đồng hoặc các nhóm, trong thời hạn hợp đồng chủ nhân (FLAM) được phép thu hoạch chế biến sản phẩm, bán hoặc các hình thức sử dụng khác; hai là hợp đồng cộng đồng công nhận quyền quản lý của các dân tộc thiểu số trên mảnh đất tổ tiên họ để lại, người dân được ký hợp đồng nhận rừng với Chính phủ trong 25 năm và có thể kéo dài trong 25 năm tiếp theo

* Thái Lan: Từ năm 1979 chương trình cấp giấy chứng nhận quyền hưởng

lợi trong rừng dự trữ quốc gia đã được thực hiện Theo đó mỗi mảnh đất đều được chia thành hai miền: Miền dưới nguồn nước dùng để canh tác nông nghiệp, còn miền trên nguồn nước thì hạn chế nhằm giữ rừng Đối với những miền đất phù hợp cho canh tác nông nghiệp mà trước đây người dân đã sử dụng (dưới 2,5ha) thì được cấp cho người dân giấy chứng nhận quyền hưởng lợi Mục đích của việc làm này là khuyến khích đầu tư vào đất, tạo ra tạo ra sản phẩm chất lượng cao, hạn chế sự xâm lấn vào rừng Từ khi chương trình này thực hiện đến năm 1986 đã có hơn 600.000

hộ nông dân không có đất được cấp giấy chứng nhận hưởng hoa lợi

Bên cạnh chương trình cấp giấy chứng nhận hưởng lợi, năm 1975 Cục Lâm nghiệp Hoàng gia Thái Lan còn thực hiện chương trình làng lâm nghiệp, với hi vọng giải quyết những người được chọn ở lại trên đất rừng Chương trình sau khi thực hiện đã đem lại trật tự cho những người nông dân đang sinh sống ở rừng và khuyến khích họ tham gia bảo vệ rừng quốc gia, qua đó phục hồi lại những diện tích rừng đã bị suy thoái do du canh Chương trình làng lâm nghiệp được thực hiện trên

Trang 10

những nguyên tắc sau:

- Mọi người sống ở rừng sẽ được tập trung lại thành từng nhóm trong những vùng không phải là nguồn nước gọi là làng Mỗi làng bầu ra một lãnh đạo và một hội đồng để quản lý

- Trong mỗi làng, Cục lâm nghiệp và Chính phủ sẽ cung cấp nhà ở phù hợp, nguồn nước, đường giao thông đi lại, trường học, trạm y tế, ngân hàng, dịch vụ, tiếp thị và đào tạo nghề nghiệp

- Chính phủ chia cho mỗi hộ gia đình nông dân từ 2 - 4 ha đất có giấy phép quyền sử dụng và được thừa kế nhưng không được bán, chuyển nhượng Việc làm này nhằm mục đích ngăn chặn những địa chủ đầu cơ mua bán toàn bộ diện tích đất của nông dân

* Trung Quốc: Theo Hiến pháp của Nhà nước vào đầu những năm 80, thế

kỷ XX chính quyền Nhà nước trung ương, tỉnh, huyện bắt đầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tất cả các chủ rừng là tất cả các tổ chức nhà nước, tập thể và

tư nhân Mỗi hộ nông dân được phân phối một diện tích rừng để sản xuất kinh doanh “Luật Lâm nghiệp quy định đơn vị tập thể và nông dân trồng cây trên đất mình làm chủ thì hoàn toàn được hưởng sản phẩm trên mảnh đất đó’’ Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Chính phủ đã áp dụng chính sách nhạy bén thúc đẩy phát triển trang trại rừng và kinh doanh đa dạng để có lợi ích trước mắt và lâu dài Đồng thời với việc cải cách mở cửa, ngành lâm nghiệp Trung Quốc đã được chuyển dịch từ chỗ chỉ thực hiện sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể sang thực hiện nhiều thành phần tham gia kinh doanh lâm nghiệp (nhà nước, tập thể, cá nhân, liên doanh, hợp tác…) Nhiều chính sách được thực hiện, đặc biệt là chính sách “Tam định”, trong đó định rõ ba vấn đề: Quyền sử dụng đất đồi núi, quyền sử dụng rừng

và quy hoạch đất, diện tích đất lâm nghiệp được để lại cho các hộ nông dân sử dụng Người dân được giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng

* Phần Lan: Sở hữu tư nhân về rừng và đất rừng ở Phần Lan mang tính

truyền thống, có tới hai phần ba diện tích rừng và đất rừng thuộc sở hữu tư nhân và

Trang 11

có khoảng 430.000 chủ rừng, bình quân môi chủ rừng sở hữu 33 ha

* Thủy Điển: Nhà nước quản lý 25% diện tích rừng và đất rừng, các công

ty lớn sở hữu 25% còn lại 50% diện tích rừng và đất rừng thuộc sở hữu các hộ gia đình

* Tóm lại: Các nước, vùng lãnh thổ đều có đặc điểm kinh tế, chính trị, xã

hội, điều kiện tự nhiên, lịch sử và phong tục tập quán riêng biệt Chính vì vậy nên hình thành nên hệ thống quản lý, sử dụng rừng và đất rừng khác nhau Nhưng có thể thấy những chuyển biến của quản lý, sử dụng được tóm tắt theo xu hướng chính là:

- Chuyển mục tiêu quản lý từ sử dụng rừng sản xuất gỗ là chính sang thực hiện mục tiêu sử dụng kết hợp 3 lợi ích: Kinh tế - sinh thái - xã hội

- Phân cấp quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp ( phi tập trung hóa),

xu hướng là chuyển giao dần trách nhiệm và quyền lực về quản lý rừng từ cấp trung ương xuống các cấp địa phương và cơ sở

- Xúc tiến giao đất giao rừng cho hộ gia đình và cộng động, giảm bớt can thiệp của nhà nước, thực hiện tư nhân hóa đất đai và các cơ sở sản xuất kinh doanh lâm nghiệp, để tạo điều kiện cho cho việc quản lý rừng năng động hơn, đem lại lợi nhuận nhiều hơn

- Thu hút sự tham gia của các nhóm dân cư được hưởng lợi trong quá trình xây dựng kế hoạch quản lý rừng, khuynh hướng chung là khi xây dựng kế hoạch quản lý rừng, chủ rừng rất quan tâm thu hút sự tham gia của các nhóm có liên quan đến quyền lợi từ rừng

- Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào công tác quản lý rừng, xu hướng là phát triển các hình thức tổ chức để thu hút các cộng đồng địa phương vào quản lý rừng như: Liên kết quản lý rừng, phát triển các chương trình lâm nghiệp cộng đồng, các công trình bảo tồn thiên nhiên theo từng quy mô cho phù hợp…

Trang 12

1.2.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp ở Việt Nam

1.2.2.1 Khái quát chung về chính sách giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam

Quan điểm về quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp: Ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân, người dân được giao quyền khai thác và sử dụng Luật Đất đai năm 1987,1993,1998, 2001, 2003 và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 1991 và 2004; năm 2007 Thủ tướng Chính phủ ban hành chiến lược phát triển Phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 Việc đẩy mạnh chính sách giao đất, giao rừng cho cá nhân, hộ gia đình và tổ chức là bằng chứng rõ ràng thể hiện quan điểm này

- Giai đoạn 1993 trở về trước: Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI

(1986), Nhà nước có chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, ngoài thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể, Nhà nước còn có chủ trương giao đất cho tư nhân,

vì vậy đã khuyến khích nhiều người nhận đất trống, đồi núi trọc và bỏ vốn gây trồng rừng

Thời kỳ này, giao đất lâm nghiệp trên cơ sở có quy hoạch sử dụng đất đai

Bộ Lâm nghiệp đã ban hành Quyết định số 1171/LN/QĐ ngày 30/12/1986 về quy chế quản lý 3 loại rừng: Rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất, tiến hành phân cấp quản lý rừng… chuyển dần từ cơ chế bao cấp sang tự chủ sản xuất kinh doanh và từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa Các chủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước có Nghị quyết số 10/NQTW, Nghị quyết số 22/NQTW về phát triển kinh tế xã hội miền núi và Quyết định số 72/HĐBT về thực hiện Nghị quyết 22/NQTW khẳng định phải thực hiện mạnh mẽ chủ trương giao đất lâm nghiệp cho các gia đình đồng bào dân tộc thiểu số, các gia đình cán bộ, công nhân người kinh sống ở miền núi, các hộ tư nhân ở miền xuôi lên, các đơn vị kinh tế

cơ sở, các cơ quan, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang Cùng với việc thực hiện các văn bản nói trên, cuối năm 1986 có Quy chế quản lý 3 loại rừng sau một thời gian tổ chức thực hiện có hiệu quả đã làm cơ sở xây dựng Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ban hành ngày 14/7/1991

Trang 13

Để hướng dẫn việc giao đất giao rừng, ngày 6/2/1991 Bộ Lâm nghiệp và Tổng cục Quản lý ruộng đất đã ban hành Thông tư liên Bộ số 01/TT/LB hướng dẫn việc giao rừng và đất để trồng rừng cho các tổ chức, cá nhân sự dụng vào mục đích lâm nghiệp Đồng thời Nhà nước cũng đã ban hành đồng bộ một số chính sách đầu

tư, hỗ trợ như Quyết định số 327/CT về một số chủ chương, chính sách sử dụng đất trống đồi núi trọc, rừng bãi bồi ven biển và mặt nước, trong đó ban hành chính sách đầu tư hỗ trợ khoảng 40% tổng vốn đầu tư dành cho các hộ gia đình vay theo nguyên tắc không lấy lãi Việc hoàn trả vốn vay thực hiện ngay sau khi bắt đầu có sản phẩm; Quyết định 264/CT về khuyến khích đầu tư phát triển rừng đã giải quyết khó khăn về vốn cho người dân trồng cây lâm nghiệp ở vùng định canh định cư

Có thể thấy rằng, việc tổ chức thực hiện chủ chương giao đất lâm nghiệp trong thời kỳ này của ngành Lâm nghiệp là nghiêm túc, cụ thể, có những bước đi cơ bản đã đạt được những thành tựu đáng kể Công tác giao đất rừng trong thời kỳ này

có những tiến bộ đáng kể đã mang lại sự khởi sắc cho nghề rừng ở nước ta [16], đã tạo động lực phát triển kinh tế nông lâm nghiệp ở miền núi, bước đầu đã hình thành nên thị trường ở trung du, miền núi

- Giai đoạn 1993 đến nay: Giai đoạn này Đảng và Nhà nước đã có những

thay đổi lớn trong quản lý rừng và đất rừng, nhà nước đã ban hành nhiều chủ chương, chính sách về đất đai nhằm thực hiện triệt để công tác giao khoán đất rừng

Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 14/7/1993 và

có hiệu lực ngày 15/10/1993 ( Luật này thay thế Luật đất đai năm 1987) Luật này

đã đánh dấu kết quả của một quá trình nghiên cứu, vận dụng thực tiễn để thể chế hóa các chính sách mới về đất đai, vừa đảm bảo phát huy quan hệ sở hữu toàn dân, vừa phù hợp với cách vận dụng mới của nền kinh tế hàng hóa, bắt đầu tiếp cận với

cơ chế thị trường hiện đại Qua hai lần sửa đổi, bổ sung vào năm 1998, năm 2001, Luật này thể hiện chủ chương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về đất đai, cụ thể hóa điều 17 và 18 Hiến pháp năm 1992 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 14

Nghiên cứu tổng quát những sửa đổi bổ sung về chính sách được thể chế trong Luật Đất đai, có những vấn đề nổi bật sau:

- Củng cố và tăng cường sở hữu toàn dân về đất đai, tăng cường vai trò quản

về đất khi bị thu hồi

- Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất đã được xác định tạo cơ sở pháp lý về những lợi ích cụ thể để người sử dụng đất thật sự làm chủ về sử dụng và kinh doanh trên đất được giao [4]

Cùng với sự ra đời của Luật Đất đai 1993, Chính phủ đã ban hành một số chính sách quan trọng như: Nghị định 02/CP ngày 15/1/1994 về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp [4] Quyết định số 202/TTg ngày 2/5/1994 về việc khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng Nghị định số 01/CP ngày 4/1/1995 về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước [5] Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp [7] Nghị định này thay thế cho Nghị định 02/CP(1994)

Sự ra đời của các chính sách này nhằm gắn lao động với đất đai, tạo thành động lực

để phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp ổn định tình hình kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng Để hướng dẫn việc giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp theo Nghị định số 163/NĐ-CP, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổng cục Địa chính đã ra Thông tư liên tịch số 62/2000/TTLT/BNN-TCĐC ngày 06/6/2000, đề ra những quy định về thủ tục giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp và tổ chức

Trang 15

thực hiện giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp [3] Để đảm bảo lợi ích hài hòa giữa Nhà nước với người trực tiếp bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng, Chính phủ

đã ban hành Quyết định 178/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 về quyền hưởng lợi và nghĩa

vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, cho thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp nhằm tạo động lực khuyến khích nhân dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng [9]

Nghiên cứu Nghị định số 02/CP, 01/CP, 163/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 62/2000/TTLT/BNN-TCĐC, Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 hướng dẫn thực hiện Luật Đất đai thấy nổi lên một số nội dung được quy định cụ thể như sau:

* Về giao đất lâm nghiệp

- Đối tượng được giao đất lâm nghiệp không thu tiền sử dụng đất để sử dụng

ổn định lâu dài bao gồm:

+ Hộ gia đình, cá nhân trược tiếp lao động lâm nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, làm muối mà nguồn sống chủ yếu là thu nhập có được từ các hoạt động sản xuất đó, được UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất lâm nghiệp xác nhận

+ Các tổ chức: Các Ban quản lý khu rừng phòng hộ, khu rừng đặc dụng; các doanh nghiệp Nhà nước về lâm nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp; các trạm, trại, xí nghiệp giống lâm nghiệp, trường học, trường dạy nghề; các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế khác; các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân

- Căn cứ để giao đất lâm nghiệp:

+ Giao đất lâm nghiệp căn cứ vào quỹ đất lâm nghiệp của từng địa phương + Hiện trạng quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân

+ Hạn mức giao đất lâm nghiệp đã được quy định: Hạn mức giao cho hộ gia đình do UBND cấp tỉnh quyết định nhưng không quá 30 ha ( tuy nhiên những trường hợp hộ gia đình đang sử dụng đất lâm nghiệp vượt hạn mức quy định tại

Trang 16

được tiếp tục sử dụng ổn định, lâu dài và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) hạn mức giao cho tổ chức theo dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

+ Nhu cầu sử dụng đất lâm nghiệp của tổ chức ghi trong dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; đơn xin giao đất lâm nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được UBND cấp xã nơi có đất lâm nghiệp xác nhận

- Thời hạn giao đất lâm nghiệp được quy định như sau:

+ Các tổ chức nhà nước, thời hạn giao theo dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

+ Các tổ chức thuộc thành phần kinh tế khác, thời hạn giao được quy định đến hết thời hạn được Nhà nước giao;

+ Thời hạn giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài là 50 năm Khi hết thời hạn, nếu người sử dụng đất lâm nghiệp có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất và trong quá trình sử dụng đất lâm nghiệp chấp hành đúng pháp luật

về đất đai, pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét giao đất đó để tiếp tục sử dụng Nếu trồng cây lâm nghiệp có chu kỳ trên 50 năm, khi hết thời hạn này vẫn được Nhà nước giao tiếp để sử dụng

* Về giao khoán đất lâm nghiệp

- Đối tượng để giao khoán đất lâm nghiệp: Đối tượng giao khoán đất (gắn liền vật nuôi, cây trồng) theo thứ tự ưu tiên: hộ gia đình, cá nhân là công nhân viên chức đang làm việc cho bên giao khoán; hộ gia đình, cá nhân làm việc cho doanh nghiệp, Ban quản lý nay đã nghỉ hưu; hộ gia đình, cá nhân cư trú hợp pháp tại địa phương được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở địa phương khác có vốn đầu tư vào sản xuất theo quy hoạch của bên giao

- Loại đất để giao khoán: Đất lâm nghiệp, Nhà nước đã giao cho các nông, lâm trường trực tiếp sản xuất nông lâm nghiệp; đất lâm nghiệp, Nhà nước giao cho các Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng…

Trang 17

- Căn cứ để giao khoán: Căn cứ vào quỹ đất đã được Nhà nước giao cho các

tổ chức của Nhà nước; dự án khả thi hoặc dự án đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; vốn lao động bên nhận khoán; các chính sách đầu tư hỗ trợ của nhà nước

và chính sách lao động - xã hội liên quan

- Thời hạn giao khoán: Rừng phòng hộ, rừng đặc dụng là 50 năm; rừng sản xuất theo chu kỳ kinh doanh

Đến năm 2003 Luật Đất đai mới ra đời (Luật bao gồm 7 chương và 146 điều luật khác nhau), được thông qua ngày 26/11/2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004 và Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 hướng dẫn thực hiện Luật Đất đai Nội dung chủ yếu là:

- Làm rõ nội dung về quyền sở hữu toàn dân về đất đai với những quyền định đoạt, hưởng lợi cụ thể và vai trò của nhà nước với tư các là người chủ sở hữu

- Hoàn chỉnh chính sách đất đai đối với khu vực nông nghiệp, phù hợp với nền kinh tế thị trường và tạo điều kiện đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn

- Thiết lập bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, xóa bỏ sự khác biệt giữa người Việt Nam với người nước ngoài

- Xóa bỏ bao cấp về đất đai trên cở sở coi đất đai là nguồn vốn, nguồn nội lực của đất nước và phải được định giá theo cơ chế thị trường

- Khuyến khích phát triển giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất, hạn chế sự can thiệp về hành chính không cần thiết, khắc phục những bất cập về chính sách, pháp luật trong bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc gia

- Đẩy mạnh lĩnh vực quản lý hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai bằng cách phân cấp toàn bộ quyền quyết định giao đất, cho thuê đất cho địa phương

Quy định với người sử dụng đất bao gồm: Các tổ chức cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội, lực lượng vũ trang, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư

Trang 18

quyền sử dụng đất Còn các tổ chức nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư thì được thuê đất

Trong Luật đất đai mới này cũng có những điều khoản quy định về việc giao, cho thuê và chuyển đổi mục đích sử dụng thời hạn và hạn mức sử dụng các loại đất rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng

1.2.2.2 Tình hình thực hiện chính sách giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam

- Giai đoạn 1993 trở về trước:

Từ năm 1968-1992 cả nước đã giao được tổng số hơn 11 triệu ha, trong đó 5,8 triệu ha cho khu vực quốc doanh, 3,7 triệu ha cho Hợp tác xã nông nghiệp và 1,53 triệu ha cho hộ gia đình

Việc tổ chức thực hiện giao đất lâm nghiệp trong giai đoạn này chủ yếu tập trung vào tập thể là chính, còn nhiều thiếu sót do nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của người dân trong kinh doanh, việc tổ chức thực hiện giao đất lâm nghiệp thiếu chặt chẽ, chưa có quy hoạch đất đai, chưa phân được 3 loại rừng và xác định giao đất lâm nghiệp cho từng đối tượng cụ thể Có thể thấy rằng, việc tổ chức thực hiện chủ chương giao đất lâm nghiệp trong thời kỳ này của Ngành lâm nghiệp là nghiêm túc, cụ thể, có những bước đi cơ bản và đạt được những thành tựu đáng kể [11] Công tác giao đất giao rừng thời kỳ này có những tiến bộ đáng kể đã mang lại sự khởi sắc cho nghề rừng nước ta [16], đã tạo động lực phát triển kinh tế nông lâm nghiệp ở miền núi, bước đầu đã hình thành nên thị trường ở trung du miền núi

- Giai đoạn 1993 đến nay:

Sau khi Luật Đất đai năm 1993 ra đời, Chính phủ ban hành Nghị định số 02/CP, Nghị định số 01/CP, Nghị định số 163/NĐ-CP…Sự ra đời của các chính sách này nhằm gắn lao động với đất đai, tạo thành động lực để phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, công tác giao đất lâm nghiệp được thực hiện theo những nguyên tắc và quy định mới

Theo báo cáo của Cục Kiểm lâm, tính đến hết năm 2008, đã có 77,5% tổng

Trang 19

diện tích đất lâm nghiệp cả nước được giao Trong quá trình thực hiện giao đất lâm nghiệp theo Nghị định 02/CP, có một số tỉnh làm tốt công tác này điển hình như tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện việc giao đất lâm nghiệp theo đúng các văn bản quy phạm, pháp luật về giao đất lâm nghiệp mà trọng tâm là giao tới hộ gia đình, giao đến đâu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngay đến đó, hồ sơ giao đất được lưu trữ trong máy vi tính Tỉnh Bắc Thái đã chủ động cấp kinh phí để thực hiện việc giao đất lâm nghiệp, sử dụng lực lượng các đội điều tra quy hoạch rừng ở Trung ương làm các thủ tục giao đất, có hệ thống thống kê lưu trữ hồ sơ từ Chi cục Kiểm lâm-Hạt Kiểm lâm- xã, phường và thị trấn [6]

Chính sách giao rừng cùng với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước trong thời gian qua đã tạo điều kiện khai thác tiềm năng, lao động, tiền vốn tại chỗ Tình trạng chặt phá rừng bị hạn chế, rừng trồng đạt tỷ lệ sống cao, đã xuất hiện nhiều mô hình trang trại nông lâm nghiệp, mô hình kinh tế hộ gia đinh có hiệu quả kinh tế cao, tạo công ăn việc làm nâng cao thu nhập cải thiện đời sống người dân, một bộ phận người dân đã giàu lên từ sản xuất kinh doanh trên đất được giao, mở hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường tiêu thụ ở nhiều nơi, góp phần xóa đói giảm nghèo, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi

1 3 Những nghiên cứu về giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam

Trong những năm qua, đã có những dự án, những công trình nghiên cứu đều

có những cách tiếp cận riêng đối với tác động của chính sách này đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở mỗi vùng

Dự án “ Đổi mới chiến lược ngành lâm nghiệp” đây là dự án xuất phát từ yêu cầu cấp bách của nước ta sau khi ban hành Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991

Dự án đã góp phần xây dựng phương pháp mới về giao đất lâm nghiệp, trên cở sở học tập kinh nghiệm của các năm trước và dựa vào các văn bản pháp quy liên quan đến Luật đất đai, Luật bảo vệ và phát triển rừng

Đề tài “ Định hướng và giải pháp thúc đây phát triển kinh tế xã hội nông thôn miền núi” của tác giả Trần Thanh Bình, đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm

Trang 20

góp phần ổn định và phát triển kinh tế xã hội nông thôn miền núi

Đề tài “ Những định hướng và giải pháp bước đầu nhằm đổi mới việc giao đất, giao rừng ở miền núi” của Nguyễn Đình Tư đã xem xét tình hình giao đất từ năm 1968-1992, đánh giá được thực trạng sau khi nhận đất, nhận rừng, đề tài cũng

đã chỉ ra được những định hướng và những giải pháp cơ bản nhằm đổi mới công tác giao đất lâm nghiệp ở miền núi [26]

Công trình “ Tăng cường công tác giao đất lâm nghiệp và khuyến khích trồng rừng trên đất được giao”, của tác giả Đoàn Diễm đã đưa ra những tồn tại trong việc quy hoạch sử dụng và giao đất lâm nghiệp, đưa ra những kiến nghị đẩy nhanh tiến độ quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp trong thời gian tới

Đề tài “Tìm hiểu tác động của giao đất giao rừng đến phát triển kinh tế - xã hội- môi trường tại xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”, của nhóm tác giả trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên ( Đặng Kim Vui, Lý Văn Trọng, Lê Sỹ Trung) đã tiến hành đánh giá hiệu quả của việc thực hiện chính sách giao đất lâm nghiệp trên phạm vi ở một xã miền núi[30]

Báo cáo “ Người nông dân mong muốn được lợi ích gì trên đất được giao đề trồng rừng”, của Phạm Sinh đã đề xuất một số quan điểm có liên quan đến lợi ích của người trồng rừng và nêu lên một số mong muốn của họ khi nhận đất rừng để sản xuât kinh doanh [25]

Hội thảo với chủ đề “ Chủ rừng và lợi ích của chủ rừng trong kinh doanh trồng rừng”, do Vụ Chính sách, Vụ Hợp tác quốc tế, Cục Phát triển Lân nghiệp- Bộ Nông nghiệp và PTNT phối hợp tổ chức tại thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, từ ngày 13 đến 15/7/1998 đã xem xét nghiên cứu khuôn khổ pháp lý đang tồn tại đối với từng loại chủ rừng

Hội thảo quốc gia với chủ đề “ Chính sách và thực tiễn phục hồi rừng ở Việt Nam” do Cục Phát triển lâm nghiệp phối hợp với một số tổ chức quốc tế IUCN, GTZ, WWF tổ chức năm 1999 tại Hòa Bình đã phân tích những nguyên nhân mất

và suy thoái rừng đồng thời chỉ ra những tồn tại trong quá trình giao đất lâm nghiệp:

Trang 21

quá trình diễn ra tương đối chậm chạp và chưa mang lại cảm giác thoải mái về quyền sở hữu cho các hộ gia đình và các cộng đồng địa phương Có hai nguyên nhân chính đó là khả năng có hạn của cơ quan được giao nhiệm vụ để thực hiện quá trình giao đất một cách hữu hiệu, cũng như thời hạn và điều kiện hạn chế đi kèm với quá trình giao đất [8]

Đề tài “ Đánh giá hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp Nhà nước giao cho hộ gia đình” của tác giả Nguyễn Thị Lai- Viện Khoa học lâm nghiệp đã tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ gia đình đã thực hiện trên đất lâm nghiệp trên cơ sở đó

đề ra những khuyến nghị thiết thực với mục đích nân cao hiệu quả sử dụng đất tại huyện Yên Bình, tỉnh Bắc Thái, đề tài đã tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế của việc canh tác các mô hình sản xuất chính trên đất lâm nghiệp được giao của các hộ [15]

Lê Trọng Hùng (2009) trong nghiên cứu đánh giá tác động của chính sách giao đất lâm nghiệp đến nông hộ ở quy mô cấp xã đã chỉ ra rằng, giao đất giao rừng

có tác động tích cực đến sinh kế của người dân tuy nhiên hiệu quả chưa cao do nhiều nguyên nhân từ quá trình giao đất đến các chính sách hỗ trợ

Đặng Kim Sơn ( 2009) khi nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách ở tầm vĩ

mô cũng cho rằng việc giao đất lâm nghiệp đã bước đầu khuyến khích người dân đầu tư sử dụng đất có hiệu quả hơn, nhưng tác động còn rất hạn chế đối với các hộ nghèo ở vùng sâu, vùng xa do thiếu các chính sách hỗ trợ cả từ lĩnh vực tín dụng, kỹ thuật, thị trường và thông tin

Trang 22

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu, đánh giá tác động của chính sách giao đất lâm nghiệp kể từ Nghị định 02/CP ngày 15/1/1994 của Thủ tướng Chính phủ trở lại đây, tác động đến phát triển kinh tế lâm nghiệp trên địa bàn huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn

2.2 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hiện trạng quản lý rừng và đất trước khi Nghị định 02/CP năm 1994 ra đời

- Diện tích giao đất lâm nghiệp, kết quả trồng mới và bảo vệ rừng từ khi chính sách ra đời đến nay Tạo việc làm cho người lao động tham gia thực hiện chính sách trên địa bàn huyện

- Giá trị sản xuất trên địa bàn huyện Cơ cấu các ngành kinh tế Tỷ trọng kinh

tế lâm nghiệp trong nội ngành nông, lâm nghiệp

Trang 23

- Điều tra tình hình phát triển kinh tế của một số hộ được giao đất lâm nghiệp tại 3 xã đại diện trên địa bàn huyện Lộc Bình

2.2.2 Giới hạn

- Phạm vi không gian nghiên cứu: Nghiên cứu những tác động chính sách giao đất lâm nghiệp đối với phát triển kinh tế lâm nghiệp tại huyện Lộc Bình

- Phạm vi thời gian: Số liệu khảo sát và phân tích tính 16 năm (1995 – 2010)

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu kết quả giao đất, giao rừng tại huyện Lộc Bình từ năm 1995 trở lại đây

- Nghiên cứu tình hình trồng rừng, khoanh nuôi, tái sinh và quản lý bảo vệ rừng từ năm 1995 trở lại đây

- Nghiên cứu phát triển kinh tế của huyện, tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp

so các ngành khác Tỷ trọng ngành lâm nghiệp trong nội ngành nông, lâm nghiệp

- Đánh giá những tác động từ chính sách giao đất đến thu hút vốn đầu tư của các dự án lâm nghiệp trên địa bàn

- Những tồn tại khi thực hiện chính sách tại địa bàn

- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế lâm nghiệp trên địa bàn phát triển

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Quan điểm và phương pháp tiếp cận

Ở nước ta, đất đai kể cả đất lâm nghiệp thuộc sở hữu toàn dân, người dân được giao quyền sử dụng Vấn đề giao đất lâm nghiệp đã được Đảng và Nhà nước quan tâm từ những năm đầu của thập kỷ 80 thế kỷ XX như Chỉ thị 29-CT/TW ngày 12/11/1983 của Ban Bí thư, Luật Đất đai 1987,1993, 2001và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 1991 và 2004 Gần đây nhà nước đã chủ chương thực hiện xã hôi hóa

Trang 24

2004 và Chiến lược phát triển lâm nghiệp đến năm 2020 Việc đẩy mạnh vấn đề giao đất giao rừng cho các nhân, hộ nông dân, cộng đồng dân cư và các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh là bằng chứng rõ ràng thể hiện quan điểm của Nhà nước Hiện nay có khoảng trên 24 triệu người dân sống ở miền núi với rất nhiều thành phần dân tộc khác nhau, Nhà nước có chủ trương giao đất để góp phần cải thiện sinh kế bằng nghề rừng, góp phần bảo vệ và phát triển rừng Gần đây Chính phủ cũng hoàn thiện khung pháp lý để cho người nước ngoài, các công ty nước ngoài thuê rừng để kinh doanh Như vậy có thể nói quan điểm xã hội hóa lâm nghiệp với nhiều thành phần tham gia của nhà nước là rõ và khá thông thoáng

Có thể nói tất cả các địa phương miền núi trong cả nước đã thực hiện tương đối tốt chủ trương giao đất giao rừng và đã thu lại những kết quả đáng kể Tuy nhiện thực tế khi thực hiện chính sách nhiều nơi còn nhiều bất cập, do các nguyên nhân chủ quan và khách quan đem lại Vì vậy nghiên cứu tác động của chính sách giao đất giao rừng cũng cần xem xét theo từng thời kỳ, thời điểm để phù hợp với thực tế khách quan

Đánh giá tác động thực hiện chính sách đến kinh tế lâm nghiệp của luận văn được tiến hành thông qua một số chỉ tiêu đánh giá gồm chỉ tiêu định lượng và một

số chỉ tiêu định tính và các mặt kinh tế, xã hội

Quá trình nghiên cứu của luận văn được khái quát hóa theo sơ đồ sau:

Trang 25

Xác định mục tiêu nghiên cứu

Chính sách giao đất lâm nghiệp tại huyện Lộc Bình

Tình hình phát triển lâm nghiệp tại huyện Lộc Bình

Điều tra, phỏng vấn tại 3

xã đại diện trên địa bàn huyện Lộc Bình

Xử lý thông tin, phân tích, đánh giá

Những đóng góp của chính sách đối Kinh tế, Văn hóa,

Xã hội và

MT huyện Lộc Bình

Tình hình thực hiện chính sách giao đất lâm nghiệp huyện Lộc Bình

Tác động cơ cấu chi phí và thu nhập của hộ gia đình

Đánh giá tác động của chính sách về tài nguyên đất, tài nguyên nước và tài nguyên rừng của khu vực đại diện

Đề xuất giải pháp

Trang 26

Hình 2.1: Sơ đồ tóm tắt quá trình nghiên cứu

2.4.2 Phương pháp phân tích chính sách và các giai đoạn phân tích

2.4.2.1 Phương pháp

a Phương pháp kinh tế vĩ mô

Phương pháp này được sử dụng với mục đích nhằm xác định cơ sở khoa học cho việc bố trí các nguồn lực vào các mục tiêu phát triển kinh tế sao cho có hiệu quả cao nhất Phương pháp phân tích vĩ mô cho phép xác định, đánh giá sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường như thế nào?, tích cực hay tiêu cực, từ đó gợi mở phương thức can thiệp của Nhà nước vào thị trường như thế nào thì phù hợp và mang lại hiệu quả cao nhất Ngoài ra phân tích kinh tế vĩ mô còn cho phép đánh giá

sự hưởng lợi của các đối tượng điều chỉnh của chính sách, từ đó xem xét được những đối tượng hưởng lợi nhiều và những đối tượng hưởng lợi ít, và bộ phận không được hưởng lợi từ chính sách, do những thất bại của thị trường hay thất bại của chính sự can thiệp của chính sách

Phương pháp phân tích kinh tế học vĩ mô cho phép đánh giá tính như hiệu quả kinh tế - xã hội và công bằng trong sự phát triển của kinh tế - xã hội dưới tác động của can thiệp chính sách nhà nước

b Phương pháp kinh tế vi mô

Phương pháp kinh tế vi mô có mục đích phân tích các hành vi của các chủ thể kinh tế trong Nông nghiệp, nông thôn trước những tác động, ảnh hưởng của các nhân tố thị trường như: sự thay đổi của các loại giá đầu vào đầu ra của sản xuất, chế biến và tiêu thụ hàng hóa nông sản

Phương pháp phân tích kinh tế học vi mô đóng vai trò là công cụ để phân tích

sự can thiệp của Chính phủ vào thị trường, nơi gặp nhau của người sản xuất và người tiêu dùng

Phương pháp vi mô cho phép chúng ta xem xét thái độ và cách ứng xử của người sản xuất và người tiêu dùng trong quan hệ kinh tế thị trường Từ đó cho phép quyết định lựa chọn chính sách nên tác động vào khâu nào, tác nhân nào để điều chỉnh các quan hệ thị trường giữa bên cung và bên cầu đạt tới sự hữu dụng cao nhất

Trang 27

cho cả hai bên và bền vững Phương pháp này đòi hỏi phải vận dụng các kiến thức, các khái niệm và công cụ của kinh tế học vi mô và một trong những phương pháp thường được ứng dụng là phương pháp phân tích ngành sản phẩm

c Phương pháp phân tích ngành sản phẩm (chuỗi giá trị nông sản)

Phương pháp phân tích ngành sản phẩm là phương pháp phân tích kinh tế học

vi mô, dựa trên nguyên tắc miêu tả, làm rõ toàn bộ những hoạt động và hành vi của các tác nhân tham gia sản xuất và chế biến và tiêu thụ một sản phẩm nào đó Để làm được điều này, các nhà kinh tế chia hoạt động sản xuất một sản phẩm nào đó thành một chuỗi các khâu (công đoạn) từ điểm xuất phát tới điểm cuối cùng của sản phẩm, tạo thành chuỗi giá trị của ngành sản phẩm, trong đó có sự tham gia của nhiều tác nhân khác nhau, với vai trò và lợi ích riêng

Phương pháp này cho phép xác định được mức độ tham gia về vật chất và giá trị của các tác nhân trong từng công đoạn cụ thể, từ đó phác thảo các tài khoản kinh tế tương ứng đối với từng tác nhân, thể hiện sự tham gia của chúng vào ngành sản phẩm (chuỗi giá trị)

Thông qua phân tích ngành sản phẩm có thể biết được sự phân bổ thu nhập giữa các tác nhân trong chuỗi, xác định được tính hợp lý và chưa hợp lý trong tham gia và phân phối lợi ích chung tạo ra từ toàn chuỗi, từ đó đưa ra cơ sở để thiết kế các giải pháp tác động, nhằm điều chỉnh lại sự tham gia và phân phối lợi ích giữa các công đoạn (khâu) trong toàn chuỗi hợp lý hơn Với ý nghĩa đó phương pháp phân tích ngành sản phẩm có ý nghĩa quan trọng trong phân tích chính sách nông nghiệp nông thôn Tuy nhiên phương pháp này chưa được ứng dụng thường xuyên trong công tác phân tích và hoạch định chính sách, mà đang còn dừng lại ở nghiên cứu và thử nghiệm

2.4.2.2 Các giai đoạn của quá trình phân tích

a Chuẩn đoán: Là khâu khởi đầu của quá trình phân tích chính sách, bao gồm các hoạt động: thu thập thông tin, điều tra khảo sát, xử lý các thông tin thứ cấp và tổng hợp tình hình (hiện trạng) để rút ra những thông tin cần thiết về đối tượng chịu điều chỉnh (hưởng lợi) của chính sách Quá trình này phải được tiến hành một cách

Trang 28

tỷ mỷ, cẩn thận giúp cho sự xem xét, chuẩn đoán tình trạng của đối tượng điều chỉnh của chính sách được chính xác nhất

b Đánh giá những ảnh hưởng, tác động : Hoạt động này bao gồm những phân tích định tính và định lượng để làm rõ các sự ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến sự vận động, hành vi của đối tượng điều chỉnh (hưởng lợi) của chính sách

Trong thực tế có rất nhiều vấn đề liên quan, ảnh hưởng tới hành vi của đối tượng điều chỉnh như: thay đổi cung - cầu đối với sản phẩm do các đối tượng điều chỉnh làm ra; biến động của giá cả thị trường; thay đổi cơ chế tổ chức và những quan hệ hành chính-xã hội nơi đối tượng điều chỉnh của chính sách hoạt động Vì vậy trong đánh giá ảnh hưởng cần tiếp cận theo các nhóm nhân tố tác động để đánh giá Cụ thể

- Thuộc lĩnh vực sản xuất nông nghiệp: Bao gồm các nhân tố kĩ thuật như: sinh thái và sản xuất cơ bản, xã hội nhân chủng học, hệ thống sản xuất… Phân tích này có ý nghĩa cơ bản nhằm đánh giá tiềm năng, tìm ra thuận lợi, khó khăn thông qua tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tìm ra nhân tố để phát triển nông nghiệp Sự can thiệp của Nhà nước thông qua chính sách như thế nào?

- Thuộc lĩnh vực môi trường kinh tế - xã hội của khu vực sản xuất nông nghiệp bao gồm: giá cả thị trường, cơ chế tổ chức…

c Rút ra các kết luận về mặt thành công và hạn chế: Quá trình phân tích chính sách sẽ kết thúc khi đưa ra được những kết luận về ảnh hưởng, tác động tích cực và chưa tích cực (hạn chế) của chính sách cụ thể theo những mục tiêu đề ra

2.4.2.3 Các công cụ sử dụng trong phân tích, đánh giá chính sách

Có nhiều công cụ khác nhau để phục vụ cho công tác đánh giá chính sách (tác động của chính sách), đó là các công cụ định tính và định lượng khác nhau Những công cụ phổ biến thường được sử dụng trong đánh giá chính sách là:

- Về định tính bao gồm: Thực hiện so sánh các kết quả của cùng một chính sách trong triển khai ở các địa bàn khác nhau; thực hiện đánh giá đối tượng điều chỉnh của chính sách trong trường hợp thực thi chính sách và trong trường hợp không triển khai chính sách; đánh giá đối tượng điều chỉnh của chính sách bằng

Trang 29

công cụ SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức); Phân tích định tính về phản ứng của đối tượng điều chỉnh về những nội dung, chế độ của chính sách khi triển khai nó vào thực tiễn…

- Về định lượng bao gồm: Đánh giá ảnh hưởng của chính sách thông qua tính toán mức hưởng lợi và chi phí giao dịch mà đối tượng điều chỉnh phải bỏ ra để tiếp cận chính sách; sử dụng các mô hình kinh tế lượng phù hợp để đánh giá mức độ tác động cụ thể của chính sách đối với từng đối tượng cụ thể Nhìn chung các công cụ định lượng còn ít được sử dụng do đòi hỏi chuyên gia có trình độ và chuyên môn cao va hệ thống số liệu tương đối đầy đủ, phù hợp, đôi khi phải là dãy số liệu mang tính hệ thống theo thời gian

Trang 30

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Lộc Bình

3.1.1.2 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý: Huyện Lộc Bình nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Lạng Sơn, nằm trên trục đường QL 4B, cách thành phố Lạng Sơn 22 km, cách thị trấn Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh 79 km Diện tích tự nhiên 1.000,95 km2

+ Phía Bắc giáp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

+ Phía Đông giáp huyện Đình Lập

+ Phía Tây giáp huyện Cao Lộc

+ Phía Nam giáp huyện Chi Lăng và tỉnh Bắc Giang

Lộc Bình là huyện biên giới của tỉnh Lạng Sơn có chiều dài đường biên giới với Trung Quốc là 31,69 km Huyện có 29 đơn vị hành chính gồm: 2 thị trấn và 27

xã, 290 thôn bản, khu phố

- Tọa độ địa lý: Từ 21029’37’’ đến 21051’46’’ vĩ độ Bắc và từ 106045’04’’ đến 107040’42’’ kinh độ Đông

- Địa hình: Địa hình vùng núi thấp, chia cắt bởi suối, khe phức tạp Độ cao trung bình 260 m so với mặt biển, đỉnh núi cao nhất 1.541m; độ dốc trung bình 220, rất thuận lợi cho việc tổ chức sản xuất lâm nghiệp

- Khí hậu, thủy văn

+ Đặc điểm khí hậu: Khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt : Mùa mưa

từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô lạnh từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau

Trang 31

-> Nhiệt độ không khí bình quân 21,40C, lượng mưa bình quân năm 1.349mm (trên 70% lượng mưa tập trung vào mùa mưa), độ ẩm không khí bình quân 83% Tổng tích ôn bình quân hàng năm 7.7000C

->Đặc điểm sương muối thường xuất hiện vào mùa đông (tháng 12, 1), số ngày xuất hiện bình quân 3 - 4 ngày/năm, cần có biện pháp bảo vệ cây giống trong vườn ươm

+ Đặc điểm thủy văn: Có 2 sông chính chảy qua là sông Kỳ Cùng và sông Lục Nam, có 25 hồ chứa lớn nhỏ ( tiêu biểu như hồ Tà Keo 15 triệu mét khối, Nà Cáy 7 triệu, Bản Chành 4 triệu mét khối nước…) ngoài ra còn một hệ thống suối lớn nhỏ phân bố tương đối đều, tạo độ ẩm cho cây trồng phát triển

3.1.1.3 Các nguồn tài nguyên

- Tài nguyên đất: Có một số nhóm chính như sau đất đỏ vàng trên đá phiến thạch (Fs) 53.271ha; Đất vàng nhạt trên cát (Fq) 33.541ha; Đất nâu vàng trên phù

xa cổ ( Fp) 2.672ha; Đất đỏ vàng trên mác ma axit (Fa) 2.539ha; Đất dốc tụ(D) 2.200ha…

Đất trồng rừng là đất Feralit phát triển trên đá sa thạch và phiến sa, đất có độ sâu từ trung bình đến sâu, thành phần cơ giới nhẹ (trên đá sa thạch) trung bình (trên

đá phiến sa) Qua tài liệu điều tra khảo sát tổng hợp lập địa tại vùng sinh thái Lộc Bình tháng 12/2000 của Viện điều tra quy hoạch rừng đã kết luận đất ở Lộc Bình phù hợp với cây thông, keo, bạch đàn sinh trưởng phát triển

- Khoáng sản: Mỏ than Na Dương có trữ lượng 100 triệu tấn, vàng xa khoáng (Mẫu Sơn, Đông Quan, Xuân Dương), đất sét trắng – cao lanh ( Đông Quan-Na Dương)

- Tài nguyên nước: 0,88km/km2

- Tài nguyên rừng 42.311,65 ha.Trong đó: Rừng tự nhiên 15.721,4 ha; rừng trồng 26.590,25 ha

Trang 32

3.1.2 Hiện trạng sử dụng đất

Tổng diện tự nhiên: 100.094,98 ha

- Đất nông nghiệp: 79.659,98ha

- Đất phi nông nghiệp: 5.683,23 ha

- Đất chưa sử dụng: 14.751,77 ha (trong đó đất đồi núi chưa sử dụng 14.682,42 ha)

Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất huyện Lộc Bình

STT Mục đích sử dụng đất Mã Diện tích

( ha)

Tỷ lệ (%) Ghi chú Tổng diện tích tự nhiên 100.094,98 100,00

Trang 33

2.1.2 Đất ở tại đô thị ODT 125,80 0,13

2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 95,17 0,10

2.5 Đất sông suối và mặt nước

3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng DCS 14.682,42 14,67

3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

- Đường quốc lộ: Đường quốc lộ 4B từ thành phố Lạng Sơn đi Quảng Ninh chạy qua địa phận của huyện từ km 12 đến km 39 với tổng chiều dài 27km qua các

Trang 34

xã Xuân Lễ, Bằng Khánh, Đồng Bục, Tú Đoạn, Quan Bản, Đông Quan, Lợi Bác, thị trấn Lộc Bình, thị trấn Na Dương Hiện nay, toàn tuyến đã được nâng cấp theo tiêu chuẩn đường cấp IV miền núi (mặt đường rộng 8 - 10 m), đoạn qua nội thị được thiết kế theo tiêu chuẩn đường đô thị hai làn xe

- Đường tỉnh lộ: Theo quyết định số 1853/QĐ-UB ngày 02/10/2001 của UBND tỉnh Lạng Sơn, trên địa bàn huyện Lộc Bình có 6 tuyến đường tỉnh với tổng chiều dài 131,3 km

- Đường huyện: Theo quyết định số 1853/QĐ-UB ngày 02/10/2001 của UBND tỉnh Lạng Sơn, trên địa bàn huyện Lộc Bình có 6 tuyến đường huyện với tổng chiều dài 70 Km

Nhìn chung, tất cả các đường huyện đều thông xe tốt vào mùa khô, vào mùa mưa thì xe bị tắc tại các vị trí ngầm tự nhiên Các tuyến đường vẫn chưa xây dựng mặt đường (mặt đường đất) Các công trình thoát nước vẫn chưa được xây dựng nhiều

b) Hệ thống cấp điện

Toàn huyện có 45 Km lưới điện 35 KV trên tuyến, với các trạm biến áp trung gian 35 KV/10 và 35 KV/6 Tổng dung lượng 3400KVA Tổng dung lượng các trạm biến áp phụ tải là 1740 KVA Ngoài ra lưới điện 10 KV có chiều dài 2 Km để phục vụ khu vực UBND huyện và dân cư thị trấn

c) Hệ thống thủy lợi, và thoát nước

- Hệ thống thuỷ lợi

Toàn huyện hiện có 14 hồ vừa và lớn, 21 đập dâng, 3 trạm bơm điện, ngoài

ra còn có rất phai nhỏ phân bố ở các cánh đồng các xã trong huyện Công trình tiêu biểu sau:

+ Hồ Tà Keo là 14 triệu m3 nước, có 45 km kênh mương, đã bê tông hoá được 17km

Trang 35

+ Hồ Nà Cáy là 6 triệu m3 nước, có 16 km kênh mương, đã bê tông hoá được

4 km

- Hệ thống thoát nước

Về nước thải sinh hoạt: Hiện chưa có trạm xử lý nước thải, nước bẩn không

xử lý tự thấm xuống đất hoặc chảy tự nhiên trên nền đất xuống ruộng trũng ra suối

và chảy ra sông Kỳ Cùng, do đó các chỉ tiêu phân tích chất lượng nước thải khu dân

cư tại thị trấn đều vượt giới hạn cho phép theo quy định đối với nước thải đô thị

Nước thải bệnh viện: Tại bệnh viện huyện khi đầu tư xây dựng đều có hệ thống xử lý nước thải được xử lý đơn giản bằng bể lắng trước khi xả vào hệ thống thoát nước chung của thị trấn

d) Bưu chính - viễn thông

Hệ thống bưu chính viễn thông phát triển mạnh, các xã trên địa bàn được được phủ sóng di động, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Đã có 29/29 xã, thị trấn có điện thoại bàn, với số máy điện thoại đã được lắp đặt lên đến trên 8.968 chiếc, ước trên địa bàn có trên 15.500 thuê bao điện thoại di động, 17/29 xã, thị trấn có điểm bưu điện văn hoá Bưu tá xã được

bố trí đều 29/29 xã, thị trấn có báo đọc trong ngày

3.1.3.2 Dân số, lao động và thu nhập

- Dân số: Năm 2010, dân số của huyện Lộc Bình là 78.501 người, trong đó: nam là 39.293 người (chiếm 50,05%), dân số thành thị 15.060 người (chiếm 19,18%), dân số nông thôn là 63.441 người

Tỷ lệ dân số giữa thành thị và nông thôn ít biến động (năm 2001: Thành thị 14.883, nông thôn 61.196; năm 2010: Thành thị 15.060, nông thôn 63.441 người) chứng tỏ tốc độ đô thị hoá của huyện còn chậm

- Lao động: Tổng số lao động trong độ tuổi huyện Lộc Bình có khả năng lao động năm 2010 là 42.101 người, chiếm 53,63% dân số, đa số là lao động trẻ, khỏe,

Trang 36

Bình Nhưng sự phân bố nguồn lực, trình độ người lao động còn nhiều hạn chế, tỷ

lệ lao động đã qua đào tạo có việc làm mới đạt 25,6%, số lao động có trình độ cao

đẳng, đại học chỉ chiếm 0,43% trong tổng số lao động

- Mức sống dân cư: Thể hiện qua các chỉ tiêu về thụ hưởng các dịch vụ

Trong những năm qua các chỉ tiêu về tỷ lệ dùng điện, dùng nước sạch, nghe nhìn

các phương tiện thông tin đại chúng đều tăng rất nhanh Bằng nhiều biện pháp, Nhà

nước và nhân dân cùng làm, đường giao thông nông thôn đã khá hoàn thiện đến tận

các xã, tạo điều kiện thuận lợi trong giao lưu kinh tế và văn hoá

3.1.3.3 Thực trạng phát triển kinh tế giai đoạn nghiên cứu (1996-2010)

a) Phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Bảng 3.2: Giá trị sản xuất Đơn vị tính: Triệu đồng

Trang 37

( Nguồn Niên giám thống kê huyện Lộc Bình)

Giá trị sản xuất trên các nhóm ngành kinh tế trên địa bàn huyện được khái quát theo hình sau:

157.707,26 187.839,00

295.300,00

476.121,00

100.000,00

25.103,00 16%

30.301,00 19%

Năm 2000

118.453,00 63%

23.742,00 13%

45.644,00 24%

Trang 38

Năm 2005

140.429,00 47%

67.244,00 23%

157.940,00 33%

147.729,00 31%

- Giai đoạn 2000 - 2005: Tổng giá trị từ 187.839 triệu đồng lên 295.300 triệu đồng, tăng 57,21%

Nền kinh tế huyện Lộc Bình có tốc độ phát triển khá >5% Tổng giá trị bình quân hàng năm tăng 9,47%; trong đó: Ngành nông, lâm nghiệp tăng 3,46%; ngành công nghiệp – xây dựng tăng 23,15%; ngành thương mại, dịch vụ tăng 13,93%

Ở giai đoạn này tốc độ phát triển nền kinh tế khá Có sự hoán đổi vị trí giữa ngành thương mại và dịch vụ với ngành công nghiệp- xây dựng Riêng ngành nông, lâm nghiệp giữ mức tăng trưởng trung bình

- Giai đoạn 2005 - 2010: Tổng giá trị từ 295.300 triệu đồng lên 476.121 triệu đồng, tăng 61,23%

Nền kinh tế huyện Lộc Bình có tốc độ phát triển tốt Tổng giá trị bình quân hàng năm tăng 10,025%; trong đó: Ngành nông, lâm nghiệp tăng 3,95%; ngành công nghiệp – xây dựng tăng 18,62%; ngành thương mại, dịch vụ tăng 11,01%

Trang 39

Ở giai đoạn này tốc độ phát triển nền kinh tế là khá tốt >10% Ngành công nghiệp - xây dựng giữ được tốc độ tăng và đứng đầu; ngành dịch vụ có tốc độ tăng hơn độ tăng thời kỳ trước; ngành nông lâm nghiệp duy trì đều tốc độ và vấn là ngành chủ lực, chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế của huyện

Chỉ số phát triển cả giai đoạn năm sau đều cao hơn năm trước cơ bản đạt hai

và gần hai con số

* Nhận xét: Cơ cấu kinh tế của huyện Lộc Bình đang chuyển dịch đúng

hướng giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp và tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp

và dịch vụ Có thể thấy ngành nông nghiệp từ chiếm cơ cấu 65% năm 1996 giảm xuống còn 33% năm 2010; công nghiệp từ 16% năm 1996 tăng lên chiếm 33% vào năm 2010; ngành thương mại cũng tương tự ngành công nghiệp

Về cơ cấu ngành nông nghiệp có giảm tỷ trọng nhưng giá trị vẫn tăng từ 102.303,26 triệu đồng năm 1996 lên 170.452 triệu đồng năm 2010 tăng 66,61%

Trang 40

Sản xuất nông nghiệp những năm vừa qua vẫn là ngành kinh tế chủ yếu của huyện và đã đạt được những kết quả rất quan trọng, có bước chuyển biến tích cực

về thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi

Tổng giá trị sản xuất của ngành năm 1996 đạt 102.303,26 tỷ đồng, tăng lên 140.429 tỷ đồng năm 2005 và đạt 170.452 tỷ đồng vào năm 2010, phát triển đầu kỳ

so với cuối kỳ tăng 66,62% Tốc độ phát triển bình quân hàng năm 3,89%

Trồng trọt:

- Tổng diện tích cây trồng hàng năm, năm 2010 được 13.450 ha, bình quân hàng năm ổn định ở mức 12,5 – 13 nghìn ha Cây trồng chính như lúa, ngô, khoai tây đều tăng lên cả về diện tích lẫn năng suất, sản lượng

- Trong trồng trọt, diện tích cây lương thực có hạt (lúa, ngô) chiếm tỷ trọng lớn Năm 2010 diện tích gieo, trồng 9.285 ha chiếm 63,03% tổng diện tích gieo trồng

- Sản lượng lương thực có hạt năm 2005 đạt 38.011 tấn; năm 2010 đạt 39.992 tấn, tăng 5,21% so năm 2005, tăng bình quân hàng năm 1,02%

- Lương thực bình quân đầu người năm 1996 đạt 335 kg/người/năm; năm

2000 đạt 354 kg ; năm 2005 đạt 489 kg và đạt 509 kg vào năm 2010

- Diện tích cây màu hàng năm đạt 2.164 năm 2005; 2.281 ha năm 2010

Cây công nghiệp hàng năm chủ yếu là cây thuốc lá, với diện tích hàng năm khoảng > 500 ha

Chăn nuôi:

- Tổng đàn trâu năm 2005 có 21.113 con; năm 2010 còn 17.548 con Từ năm 2005-2010 giảm bình quan hàng năm – 3,63% Đàn trâu giảm do nguyên nhân chủ yếu là hộ nông dân thay thế sức kéo bằng trâu sang cơ giới hóa, mặt khác do phát triển trồng rừng làm thu hẹp diện tích đồng cỏ và một phần bị chết rét do đợt rét đậm, rét hại kéo dài năm 2008

Ngày đăng: 20/09/2017, 14:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (1997), Đề án đẩy mạnh trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tiến tới đóng cửa rừng tự nhiên, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án đẩy mạnh trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tiến tới đóng cửa rừng tự nhiên
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Năm: 1997
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1998), Chủ rừng và lợi ích của chủ rừng trong kinh doanh rừng trồng, Nxb Nông nghiệp, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ rừng và lợi ích của chủ rừng trong kinh doanh rừng trồng
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
8. Cục Phát triển lâm nghiệp ( 1999), Chính sách và thực tiễn phục hồi rừng ở Việt Nam, Hội thảo quốc gia tại Hòa Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách và thực tiễn phục hồi rừng ở Việt Nam
10. Cục Phát triển Lâm nghiệp (2003), Giao rừng tự nhiên và quản lý rừng cộng đồng. Hội thảo Quốc gia tại Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao rừng tự nhiên và quản lý rừng cộng đồng
Tác giả: Cục Phát triển Lâm nghiệp
Năm: 2003
14. Trần Văn Lực ( 1999), Đánh giá tác động của giao đất lâm nghiệp đến phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường tại xã Bằng Lẵng, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động của giao đất lâm nghiệp đến phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường tại xã Bằng Lẵng, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
15. Nguyễn Thị Lai ( 2001), Báo cáo đề tài “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp Nhà nước giao cho hộ gia đình”, Viện Khoa học lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đề tài “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp Nhà nước giao cho hộ gia đình”
18. Nguyễn Bá Ngãi (2005), Báo cáo quốc gia về lâm nghiệp cộng đồng,Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quốc gia về lâm nghiệp cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Bá Ngãi
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
20. Lê Du Phong và Tô Đình Mai ( 2007) góp phần nghiên cứu chính sách lâm nghiệp ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa. Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: góp phần nghiên cứu chính sách lâm nghiệp ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
3. Bộ Nông nghiệp và PTNT- Tổng cục Địa chính (2000), Thông tư liên tịch số 62/2000/TTLT/BNN-TCĐC ngày 06/6/2000, hướng dẫn giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp Khác
4. Chính phủ (1994), Nghị định số 02/CP về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Khác
5. Chính phủ (1995), Nghị định số 01/CP về việc giao đất sử dụng mục đích nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp Nhà nước Khác
6. Cục Kiểm lâm (1996), Báo cáo sơ kết thực hiện Nghị định 02/CP về giao đất lâm nghiệp Khác
7. Chính phủ (1999), Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Khác
9. Chính phủ (2001) Quyết định 178/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 về quyền hưởng lợi và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, cho thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp Khác
11. Cẩm nang lâm nghiệp ( 2004), Phân loại sử dụng, lập quy hoạch và giao đất lâm nghiệp Khác
12. Chi cục Thống kê huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn (năm 2000, 2005, 2010), Niên giám thống kê Khác
13. Cục thống kê tỉnh Lạng Sơn ( năm 2010), Niên giám thống kê Khác
16. Vũ Văn Mễ (1993) Tài liệu giao đất, giao và khoán rừng áp dụng thí điểm tại xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình Khác
17. Nhà xuất bản Nông nghiệp (1995), Sổ tay điều tra quy hoạch rừng Khác
19. Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w